Davis 2005 cũng khẳng định vai trò của việc nghiên cứu loại nghĩa hàm ẩn này trong ngôn ngữ học: “Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.” Không ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ ĐÀO
GIẢI ĐOÁN HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KỂ CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC QUYẾT TÂM –
THÀNH PHỐ SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ ĐÀO
GIẢI ĐOÁN HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KỂ CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC QUYẾT TÂM –
THÀNH PHỐ SƠN LA
Chuyên ngành: Khoa học – Giáo dục
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Vũ Tiến Dũng
Sơn La, năm 2015
Trang 3đã ủng hộ em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Đào
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài khóa luận 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 5
5.1 Phương pháp nghiên cứu 5
5.2 Nguồn ngữ liệu 5
6 Ý nghĩa của khóa luận 5
6.1 Ý nghĩa lí luận 5
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
7 Cấu trúc của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Hành động ngôn ngữ 7
1.1.1.Khái niệm hành động ngôn ngữ 7
1.1.2 Các hành động ngôn ngữ 7
1.1.2.1 Hành động tạo lời 7
1.1.2.2 Hành động mượn lời 8
1.1.2.3 Hành động tại lời 8
1.1.3 Hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp 9
1.1.3.1 Hành động ngôn ngữ trực tiếp 9
1.1.3.2 Hành động ngôn ngữ gián tiếp 10
1.2 Lí thuyết hội thoại 14
1.2.1 Mở đầu 14
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu hội thoại 14
1.2.3 Nguyên tắc cộng tác hội thoại 16
1.3 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 18
1.3.1 Nghĩa tường minh 18
1.3.2 Nghĩa hàm ẩn 18
Trang 51.3.2.1 Tiền giả định 20
1.3.2.1.1 Định nghĩa và thuộc tính của tiền giả định 21
1.3.2.1.2 Về việc sử dụng tiền giả định 21
1.3.2.2 Hàm ý 23
1.3.2.2.2 Phân loại hàm ý 25
1.4 Hàm ý hội thoại 25
1.4.1 Khái niệm hàm ý hội thoại 25
1.4.2 Phân loại hàm ý hội thoại 27
1.4.2.1 Hàm ý hội thoại tổng quát 27
1.4.2.2 Hàm ý hội thoại đặc thù 28
1.4.3 Đặc điểm của hàm ý hội thoại 30
1.5 Điều kiện sử dụng hàm ý trong giao tiếp 30
1.5.1 Hoàn cảnh giao tiếp 30
1.5.2 Nhân vật giao tiếp 32
TIỂU KẾT 34
CHƯƠNG 2: HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG MỘT SỐ TRUYỆN KỂ LỚP 5 36
2.1 Thực trạng của việc giảng dạy môn kể chuyện ở trường Tiểu học Quyết Tâm 36
2.2 Giải đoán hàm ý trong một số truyện kể cho học sinh lớp 5 37
2.2.1 Giải đoán hàm ý của truyện “Trả lời vắn tắt” 37
2.2.2 Giải đoán hàm ý truyện “Khoe của” 39
2.2.3 Giải đoán hàm ý truyện “Đậu phụ cắn” 40
2.2.4 Giải đoán hàm ý truyện “Da mặt dày” 42
2.2.5 Giải đoán hàm ý truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày!” 43
TIỂU KẾT 45
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 46
3.1 Một số giáo án thực nghiệm 46
3.1.1 Giáo án kiểu bài nghe – kể lại câu chuyện vừa nghe thầy cô kể 46
3.1.2 Giáo án kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc 49
3.2 Thực nghiệm sư phạm 53
3.2.1 Mục đích nghiên cứu 53
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 53
3.2.3 Đối tượng thực nghiệm 53
Trang 63.2.4 Tổ chức thực nghiệm 53
3.2.5 Kết quả thực nghiệm 54
TIỂU KẾT……….55
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
TGĐ : tiền giả định SGK : sách giáo khoa SGV : sách giáo viên
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài khóa luận
Khái niệm hàm ý cùng lý thuyết hàm ngôn hội thoại của H.P Grice được đánh giá
là một bước tiến quan trọng của ngôn ngữ học, mới ra đời cách đây non nửa thế kỷ Tuy nhiên, việc sử dụng hàm ý để chuyển tải những thông tin mà vì một số lý do nhất định, người ta không tiện hoặc không nên nói thẳng ra là một hiện tượng bình thường trong thực tế, hẳn đã có ngay từ những cuộc giao tiếp đầu tiên trong xã hội văn minh Trong các công trình của mình, H.P Grice nhận xét: trong giao tiếp, nhiều khi chúng
ta “nói điều này nhưng thật ra muốn nói một điều khác” Đồng tình với ý kiến này, Hoàng Phê – người đầu tiên giới thiệu và vận dụng lý thuyết của H.P Grice vào nghiên cứu tiếng Việt, bổ sung: “Hằng ngày sử dụng ngôn ngữ, lắm khi chúng ta nói
một điều này, nhưng lại muốn cho người nghe từ đó hiểu ra một điều khác, hoặc hiểu
thêm một điều khác nữa” [14, 93] Thậm chí, ông cho rằng: “Khi một lời nói có hàm
ngôn thì ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí, có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn là ý chính” [14, 93] W.A Davis (2005) cũng khẳng định vai trò của việc nghiên cứu loại nghĩa hàm ẩn này trong ngôn ngữ học: “Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.”
Không chỉ có tác dụng trong giao tiếp hằng ngày, hàm ý còn có giá trị sử dụng rất lớn trong các hoạt động chính trị, ngoại giao và sáng tác văn học Bởi vậy, từ khi có những phát hiện của H.P Grice, đặc biệt là từ sau khi ông hoàn thiện và công bố
chúng trong tập bài giảng ở Đại học Harvard (1967), cuốn Logic và hội thoại (1975)
và bài báo Ghi chú thêm về logic và hội thoại (1978), giới nghiên cứu đã tập trung khai
thác rất nhiều vấn đề xung quanh khái niệm hàm ý, các loại hàm ý và phương thức biểu thị hàm ý Tuy nhiên, vấn đề phân loại hàm ý chưa đạt được sự thống nhất cao giữa các nhà nghiên cứu, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủ yếu giới hạn ở việc sử dụng một số biểu thức ngôn ngữ (tạo hàm ý ngôn ngữ) và một số biện pháp vi phạm phương châm giao tiếp (tạo hàm ý hội thoại) Đặc biệt, việc nghiên cứu hàm ý trong sáng tác văn học chưa được đầu tư thỏa đáng nên kết quả chưa có chiều sâu Phần lớn các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học mới dừng ở việc khai thác các chi tiết, hình tượng nghệ thuật từ kinh nghiệm cá nhân Ngược lại, phần lớn các nhà ngôn ngữ học tự bằng lòng giới hạn nghiên cứu của mình trong phạm vi ngôn ngữ học đơn thuần, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa những kiến giải của lý thuyết hàm ngôn hội thoại với lĩnh vực văn học
Trang 9Mặt khác, trong một số tác phẩm văn học dân gian được đưa vào giảng dạy trong chương trình Tiểu học thông qua các tiết kể chuyện, việc dùng hàm ý trong các cuộc thoại xuất hiện khá phổ biến Vì vậy, việc khám phá hàm ý của các cuộc hội thoại trong các câu chuyện đó vừa góp phần làm sáng tỏ đặc tính cơ bản của hàm ý hội thoại, vừa lí giải về thi pháp nghệ thuật trong câu chuyện Đây là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực, giúp học sinh tiểu học học tập tốt hơn
Từ lí do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Giải đoán hàm ý hội thoại trong truyện
kể cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Quyết Tâm - thành phố Sơn La”
2 Lịch sử vấn đề
Ngữ dụng học đã xuất hiện từ lâu Mãi đến thập niên 70 của thế kỉ XX, ngữ dụng học mới phát triển mạnh mẽ cả về lí thuyết lẫn nghiên cứu cụ thể Khi xuất hiện, ngữ dụng học đã cuốn hút rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Liên quan đến vấn đề hàm
ý, có các công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Khái niệm “hàm ngôn hội thoại” được Herbert Paul Grice “thai nghén” từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX rồi hoàn thiện trong phác thảo thuyết hàm ngôn mà ông đưa vào tập bài giảng William James khi đang giảng dạy tại Đại học Harvard năm
1967 Ngay từ đầu, các vấn đề về hàm ngôn trong tập bài giảng William James đã có
ảnh hưởng rất lớn nhưng có lẽ phải một thời gian, sau khi cuốn Logic và hội thoại (1975) và bài báo Ghi chú thêm về logic và hội thoại (1978) ra đời thì thuyết hàm ngôn
hội thoại của Grice mới thực sự trở thành “một trong những chuyên luận kinh điển” của ngữ dụng học
Phát hiện của Grice đã mở ra một trào lưu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ W.A Davis (2005) khẳng định: “Hàm ngôn hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học.”
Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học – tập 2 đã nêu ra cơ chế tạo ra hàm
ẩn không tự nhiên Ông đã gọi thuật ngữ hàm ý là hàm ngôn và phân chúng thành hai loại: hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn ngữ dụng
Còn Hồ Lê trong Cú pháp tiếng Việt – quyển 3, đã phân loại nghĩa hàm ẩn gồm
hàm nghĩa và hàm ý, trong hàm ý thì bao gồm ẩn ý, dụng ý và ngụ ý Mặc dù Hồ Lê có
sự phân loại khá chi tiết tuy nhiên để áp dụng nó vào việc xác định nghĩa hàm ẩn trong một phát ngôn cụ thể thì không phải dễ
Trang 10Logic ngôn ngữ học của Hoàng Phê tuy không phân loại nghĩa hàm ẩn một cách
rõ ràng như Hồ Lê, nhưng trong quá trình phân tích ý nghĩa hàm ẩn đã bàn khá kĩ các khái niệm thuộc ý nghĩa hàm ẩn như: hàm ý, ngụ ý mà đối lập với nó là tiền giả định
và hiển ngôn
Trong Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa của Cao Xuân Hạo
cũng có một phần nói về hàm ý (ông gọi là nghĩa hàm ẩn) Cao Xuân Hạo đã chia hàm
ý ra hai loại: hàm ý của từ và hàm ý trong câu Trong đó ông nêu ra một số quy tắc có liên quan đến sự hình thành của các hàm ý và kết quả của việc vi phạm quy tắc ấy
Trong Ngữ học trẻ 2000, Từ Thu Mai có khảo sát về hàm ý hội thoại trong truyện cười dân gian Việt Nam, với đề tài Nghĩa hàm ẩn hội thoại trong truyện cười dân gian
Việt Nam với sự vi phạm ngữ cảnh giao tiếp, Từ thu Mai đã khảo sát hàm ý hội thoại
thông qua một số mẩu truyện: Hai kiểu áo, Diệu kế, Anh hai vợ, Quan sắp đánh bố… Cho đến nay, có thể nói các công trình nghiên cứu ngữ dụng học đã đạt được quan niệm thống nhất về hàm ý như sau:
(1) Hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn (nghĩa hàm ngôn) không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng được suy ra từ nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn)
và hoàn cảnh giao tiếp
Quan niệm này không chỉ được thể hiện trong các tác phẩm của Grice mà còn được thể hiện rõ trong những tài liệu vận dụng lý thuyết của ông như các công trình của O Ducrot (1972), G Yule (1997), Hoàng Phê (1989), Nguyễn Đức Dân (1996),
Hồ Lê (1996), Cao Xuân Hạo (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Hữu Châu (2005),… Chẳng hạn, O Ducrot quan niệm: “Thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như không nói, nghĩa là nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự vô can trong im lặng” (Dẫn theo [14; 98 – 100]); Hồ Lê (1996) viết: “Hàm ý là tất cả những ý nghĩa, tình thái hàm ẩn
mà người phát ngôn ký thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa hiển hiện của phát ngôn, trong đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ mà hiển nghĩa của phát ngôn biểu thị” [13; 335]; Nguyễn Thiện Giáp (2000) thì giải thích: “Hàm ý chính là những gì người nghe phải tự suy ra qua phát ngôn, để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa của phát ngôn đó” [9; 136]
(2) Hàm ý là phần có giá trị thông tin thuộc nghĩa hàm ẩn, đối lập với tiền giả định (TGĐ) là phần không có giá trị thông tin
Trang 11H.P.Grice (1975) phân biệt nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning) với nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning) O Ducrot thống nhất với quan niệm của Grice nhưng thể hiện sự phân biệt đó bằng các thuật ngữ “hàm ngôn” và “tiền giả định” (TGĐ) Ông coi TGĐ là một hình thức hàm ngôn quan trọng, là hàm ngôn nằm trực tiếp trong bản thân “nghĩa từ ngữ” của lời (Dẫn theo [14; 98])
Mặc dù đã đạt được sự thống nhất cơ bản như trên, giữa các nhà nghiên cứu vẫn còn những khác biệt tương đối lớn và có thể coi đây là những điểm chưa rõ trong lý thuyết hàm ngôn hội thoại, cần được tiếp tục nghiên cứu thêm
Cùng với những khác biệt trong sử dụng thuật ngữ, các nhà nghiên cứu ngữ dụng học còn thể hiện quan niệm khác nhau về phạm vi của hàm ý Phần đông các tác giả có
xu hướng giới hạn hàm ý ở nghĩa miêu tả (nghĩa mệnh đề) [6]; [7]; [9]; [12]; [14], chỉ
có một số ít tác giả cho rằng nghĩa tình thái cũng có thể là hàm ý ([13])
H.P.Grice và nhiều tác giả nước ngoài theo học thuyết của ông như Horn (1989), Levinson (1983; 1987b; 2000), George Yule (1997),… hay một số tác giả theo lý thuyết
về tính quan yếu như D Sperber& D Wilson (1995), Carston (2002) và các nhà nghiên cứu ở Việt Nam như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân,… đều thống nhất dựa vào mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp để phân biệt hai loại hàm ý là hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại Bên cạnh đó, sự phân biệt hàm ý quy ước với hàm ý hội thoại tuy rất quan trọng nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ các khía cạnh rất phong phú của hiện tượng hàm ý trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người Một tác giả Việt
Nam là Hồ Lê đã đề xuất phân loại hàm ý theo khu vực tình thái mà người nói ký gửi vào
phát ngôn [13; 139 – 143], nhưng theo chúng tôi, ranh giới của các loại hàm ý trong
cách phân loại này rất mờ nhạt, khiến người học khó nhận diện đối tượng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
Khi nghiên cứu đề tài này, khóa luận hướng tới mục tiêu làm sáng tỏ hàm ý qua mỗi câu chuyện Từ đó thấy được bài học đạo đức mà tác giả muốn gửi gắm Qua đó,
hi vọng có thể đóng góp một phần tài liệu tham khảo hữu ích, phục vụ cho việc học tập của các bạn sinh viên và quá trình giảng dạy sau này của bản thân
Với mục tiêu đề ra như vậy tôi lập kế hoạch, nhiệm vụ cần nghiên cứu là khai thác hàm ý hội thoại trong một số truyện kể cho học sinh lớp 5
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hàm ý hội thoại trong một số truyện kể
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
Hàm ý hội thoại xuất hiện nhiều nhất trong đối thoại của những nhân vật tham gia giao tiếp Cho nên, đơn vị được chọn để tìm hiểu đối tượng nghiên cứu là các cuộc thoại (cuộc thương tác) Những truyện kể được lựa chọn bao gồm những truyện thuộc kiểu bài nghe – kể lại câu chuyện vừa nghe thầy cô kể và kể chuyện đã nghe, đã đọc có trong SGK Tiếng Việt 5 và cuốn Truyện đọc lớp 5
Những vấn đề chúng tôi đề cập trong khóa luận này không bao quát toàn bộ các vấn đề liên quan đến hàm ý hội thoại mà chỉ hi vọng góp thêm ý kiến vào việc nhận biết và phân tích hàm ý hội thoại qua một số cuộc thoại trong một số truyện kể cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Quyết Tâm - thành phố Sơn La
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để nhận biết, phân tích và làm sáng rõ nội dung nghĩa của các hàm ý hội thoại trong truyện kể cho học sinh tiểu học, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu
ở khóa luận này là phương pháp phân tích diễn ngôn luận Ngoài ra trong quá trình triển khai đề tài khóa luận, chúng tôi còn kết hợp các phương pháp khác như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp,…
5.2 Nguồn ngữ liệu
Triển khai đề tài khóa luận này, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số truyện trong
cuốn Truyện đọc lớp 5 của PGS TS Hoàng Hòa Bình và TS Trần Thị Hiền Lương
làm ngữ liệu khảo sát Bên cạnh đó, tôi sử dụng những đoạn thoại mô phỏng đối thoại trực tiếp ngoài đời thực, một số chi tiết của tác phẩm báo chí, văn chương Trong một
số trường hợp cần thiết (để so sánh, đối chiếu hoặc minh chứng cho quan điểm của tác giả), chúng tôi có mượn lại một số ví dụ đã dẫn trong các tài liệu nghiên cứu về ngữ dụng học trong và ngoài nước
6 Ý nghĩa của khóa luận
6.1 Ý nghĩa lí luận
Trên cơ sở trình bày lí thuyết ngữ dụng học (qua học tập và nghiên cứu tài liệu)
ở phương diện hàm ý hội thoại, phương châm hội thoại, khóa luận xác định cách phân tích và tìm hiểu ý nghĩa của hàm ý trong truyện kể cho học sinh lớp 5
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng
sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hằng ngày, có thể được sử dụng làm tư liệu cho việc
Trang 13giảng dạy phân môn Kể chuyện, phần nào đó giúp cho việc giảng dạy phân môn Kể chuyện trong nhà trường tiểu học theo phương pháp mới Đồng thời đây sẽ là một tư liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc của khóa luận gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Hàm ý hội thoại trong một số truyện kể lớp 5
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Hành động ngôn ngữ
1.1.1.Khái niệm hành động ngôn ngữ
Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Đó là hành động ngôn ngữ
Như chúng ta đã biết nói năng là hành động Hành động nói là hành động được thực
hiện bằng lời nói khi nói Khi gặp một người quen, ta nói: chào anh, chào chị, tức là chúng ta thực hiện hành động chào Khi ta cảm ơn, xin lỗi, sai khiến là chúng ta hành
động cảmơn, xin lỗi, sai khiến… Trong đời sống giao tiếp, chúng ta có nói (hoặc viết) nhằm những mụcđích nhấtđịnh: khuyên, hỏi, trần thuật, sai khiến, xin, hứa, mời, chào, xin lỗi, cảm ơn, giải thích, phàn nàn,…
1.1.2 Các hành động ngôn ngữ
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành động tạo lời (Locutinonary act), hành động tại lời (Illocutionary act) và hành động mượn lời (Perlocutionary act)
Hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy có một số cách dịch khác nhau Đáng chú ý
là các cách dịch cụm từ: Locutinonary act (hành vi tạo lời, hành động tại lời, hành động tạo ngôn); Illocutionary act (hành động ngoài lời, hành vi ở lời, hành động trong lời, hành động tại lời, hành động ngôn trung); Perlocutionary act (hành động mượn
lời, hành vi mượn lời, hành động sau lời, hành động xuyên ngôn) Giáo trình này không bình luận cách hiểu của các nhà khoa học mà chỉ dẫn ra để người đọc biết và tham khảo.)
1.1.2.1 Hành động tạo lời
Hiểu một cách đơn giản, hành động tạo ra lời nói bằng những âm (hay con chữ)
theo những quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ được gọi là hành động tạo lời Nói một cách rõ hơn, hành động tạo lời là hoạt động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ theo một quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu để tạo
ra một phát ngôn có nghĩa phù hợp về hình thức và nội dung của một cộng đồng ngôn ngữ nào đó Như vậy, với hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức ngôn ngữ có nghĩa Hiểu theo hướng này, nếu gặp khó khăn trong việc phát âm các từ ngữ nào đó (chẳng hạn người nói là người nước ngoài hoặc người nói bị ngắn lưỡi) hoặc không tìm ra từ thích hợp, hoặc không nắm vững các quan hệ cú pháp để tổ hợp
Trang 15từ ngữ thành câu mà nói rộng ra là tạo thành văn bản, thành diễn ngôn thì người nói không hoàn thành hành động tạo lời, không tạo ra các biểu thức có nghĩa để phục vụ cho hoạt động giao tiếp mà người nói có ý định đặt ra Ví dụ, có một người nước ngoài nói tiếng Việt:
(1) Xin lôi cac đông chi
thì như vậy chưa được coi là là hành động tạo lời (vì phát âm không đúng hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn tiếng Việt) mà người nói hoàn thành hành động tạo lời phải nói là:
Ví dụ:
Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn Có những hiệu quả mượn lời là đích cuả một hành động tại lời Hành
động vật lí: đóng cửa là hiệu quả mượn lời của hành động tại lời mệnh lệnh: Đóng cửa
lại nhưng có những hiệu quả không thuộc đích của hành động tại lời như khó chịu, bực
tức, càu nhàu, gắt gỏng khi nghe mệnh lệnh Đây cũng là hiệu quả thuộc về hành động mượn lời
1.1.2.3 Hành động tại lời
Hành động tại lời (hành động ngôn trung) là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nó nói (viết) ra Chính cái đích này phân biệt các hành động tại lời với nhau Đó là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hành động tại lời được thực hiện nhờ hiệu lực giao tiếp của phát ngôn Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Chẳng hạn, khi ta hỏi có đích là bày tỏ
Trang 16mong muốn được giải đáp điều mà ta chưa biết hoặc còn hoài nghi và mong được người nghe trả lời; khi ta chào thì người nghe sẽ có hành động tương ứng là
chào Thông thường, nó lập thành một cặp thoại tương ứng: Chào - chào, hỏi - trả lời,
cầu khiến - chấp thuận (hoặc từ chối) Còn khi người nói cam kết với ai một điều gì
đó tức là người nói đã tự ràng buộc mình vào một hành động sẽ được thực hiện trong tương lai
Đích của hành động tại lời được gọi là đích tại lời và nếu đích đó được thoả mãn thì ta có hiệu quả tại lời
Dấu hiệu của hiệu quả tại lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động tại lời, tức người nghe
Đặc điểm của hành động tại lời nói là có ý định (đích), có tính quy ước, có thể
chế mặc dù quy ước và thể chế không được diễn đạt hiển ngôn nhưng mọi người trong
cộng đồng ngôn ngữ vẫn tuân thủ một cách không tự giác Chẳng hạn, người Việt hỏi
là thể hiện sự quan tâm và dần dần một số câu hỏi được ước định trở thành lời chào giữa những người đã quen biết nhau Ví như khi ta gặp một người quen, ta biết họ đang trên đường đi chợ về, mang theo rau, thịt, cá , ta vẫn hỏi:
(5) - Đi chợ về đấy à? hoặc: Mua nhiều đồ ăn vậy?
Hình thức các phát ngôn ở ví dụ (5) là câu hỏi nhưng đích của các phát ngôn (5)
là lời chào Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, có một số lời mời mang tính xã giao của người Việt nhưng đích của các lời mời xã giao đó trong một hoàn cảnh giao tiếp
Trang 17hoạt động ngôn ngữ trực tiếp (direct speech act) Những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng là những phát ngôn có hành động ngôn ngữ trực tiếp Hay nói cách khác, hành động ngôn ngữ trực tiếp là hành động ngôn ngữ được
thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng
(8) Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
dụng là những hành động ngôn ngữ trực tiếp
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cùng một phát ngôn lại có những mục đích khác nhau trong những bối cảnh giao tiếp khác nhau thì lúc đó không phải là hoạt động ngôn ngữ trực tiếp nữa
1.1.3.2 Hành động ngôn ngữ gián tiếp
Hành động ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech act) là hành động ngôn ngữ có mối quan hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng
Ví dụ:
gian hiê ̣n ta ̣i và nó thực hiê ̣n mô ̣t hành đô ̣ng ngôn ngữ trực tiếp Còn lời nói của người
mẹ trong hoàn cảnh này được hiểu là một lời trách móc (Con đi học về muộn quá đấy!)
với mô ̣t thái đô ̣ không hài lòng thì nó hoa ̣t đô ̣ng với tư cách là hành động ngôn ngữ gián tiếp Giả định ta nghe một người nào đó hỏi:
Trang 18(11) Bạn có thể cho mình mượn quyển truyện này vài ngày được không ?
truyê ̣n (hành động ngôn ngữ trực tiếp ) và còn là lời đề nghị người nói muốn mượn quyển truyê ̣n (hành động ngôn ngữ gián tiếp)
Như vâ ̣y , hành động ngôn ngữ gián tiếp có thể được hiểu là hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành động tại lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành động lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp
Vấn đề đặt ra là làm như thế nào để người nói khi nói có hàm ý (ngụ ý) mà người nghe có thể giải đoán đúng được hàm ý của người nói có ý định nói ra Thông thường, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trong những trường hợp như vậy, người nghe phải dựa vào ngữ cảnh, dựa vào những kinh nghiệm ứng xử, dựa vào lẽ thường và đặc biệt là khả năng suy luận tinh tế của người tiếp nhận nữa
Ví dụ:
trình suy luận rất nhanh trong tình huống này diễn ra trong tư duy: “Mình rủ đi thăm
hành động ngôn ngữ gián tiếp
Trong giao tiếp, hành động trình bày còn được dùng để thực hiện các hành động tại lời gián tiếp
Điều khiển:
(13) Bố ơi, nhà mình hôm nay hết muối rồi (Có nghĩa là phải đi mua muối thôi)
Mong muốn, thỉnh cầu:
nước, mẹ cho con đi đi)
Trang 19Cảnh cáo:
(15) Bố đang ở nhà đấy! (Đừng có cãi nhau, chửi nhau như vậy, bố mà nghe
được thì liệu đấy)
Khuyên:
tráng lắm (Anh cũng nên tâ ̣p thể du ̣c thể thao để cơ thể khỏe ma ̣nh, cường tráng)
Hành động trực tiếp hỏi có thể dùng cho các hành động tại lời gián tiếp
Nhờ vả:
Đe dọa:
mô ̣t tuần nếu còn tiếp tu ̣c pha ̣m lỗi)
Khẳng định:
Phê phán:
(20) Những việc vô đạo đức như thế mà anh cũng làm được à?
Nhờ vả:
(21) Ôi, bài này khó quá! (Anh giải giúp em với)
Đòi hỏi:
Có rất nhiều hành động tại lời được dùng gián tiếp như vây Muốn xác định được hành động tại lời nào được dùng gián tiếp như vậy chúng ta cần phải dựa vào một số căn cứ sau:
Một là phải nhận biết hành động tại lời là hành động nào Điều này phải căn cứ vào các phương tiện chỉ dẫn hành động đặc thù cho từng hành động tại lời
Hai là phải căn cứ vào nội dung mệnh đề, tức là căn cứ vào cấu trúc quan hệ ngữ nghĩa của các thành tố tạo nên nội dung mệnh đề Thông thường, thành tố ngữ nghĩa tạo nên nội dung mệnh đề có quan hệ nào đấy với người tiếp nhận phát ngôn
Ba là phải căn cứ vào ngữ cảnh, căn cứ vào mối quan hệ nguyên nhân giữa người thực hiện hành động tại lời gián tiếp với người tiếp nhận thì mới xác định được đúng thực chất của hành động tại lời được dùng gián tiếp Thông thường, muốn xác
Trang 20định được hành động tại lời là hành động gián tiếp gì thì chúng ta phải dựa vào lời hồi đáp của người tiếp nhận Có thể khẳng định rằng việc xác định hành động tại lời gián tiếp chính là vấn đề quan hệ giữa phát ngôn với ngữ cảnh hay chính là sự kiện lời nói góp phần quan trọng để nhận diện hành động tại lời gián tiếp sau hành động tại lời trực tiếp
Tương tự như vâ ̣y, có thể khảo sát thêm các ví dụ sau:
gián tiếp phê bình
Trong giao tiếp tiếng Việt có một số biểu thức ngôn hành của một số hành động ngôn ngữ trực tiếp được dùng lặp đi lặp lại thành những công thức có tính ước định để biểu thị những hành động gián tiếp gần như cố định Đây là những biểu thức ngôn hành đã được cộng đồng người Việt quy ước thành những nghi thức giao tiếp Chẳng
hạn, một số câu hỏi được ước định dùng để chào nên người Việt mới có từ chào hỏi
Ví dụ:
(28) - Thầy lên lớp về đấy ạ?
- Bác đi chợ về đấy ạ?
- Em đi chơi à?
Trang 21Những câu hỏi này trong một ngữ cảnh cụ thể thường hỏi để mà hỏi, hỏi mà không quan tâm đến nội dung trả lời như thế nào và người được hỏi cũng không cần phải trả lời đúng với nội dung câu hỏi Đây là những phát ngôn hỏi trực tiếp mà hiệu lực gián tiếp là để chào
Hành động tại lời vừa có tính phổ quát cho mọi ngôn ngữ, vừa có tính đặc hữu của từng dân tộc và hàng loạt những vấn đề đang đặt ra mà trong khuôn khổ của khóa luận này không thể trình bày hết được
1.2 Lí thuyết hội thoại
1.2.1 Mở đầu
Giao tiếp là hoạt động liên cá nhân nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm, nhận thức giữa người này với người khác Có hai hình thức giao tiếp phổ biến trong xã hội: giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều Giao tiếp một chiều là giao tiếp chỉ có một bên nói, còn bên kia tiếp nhận Hình thức này thường gặp trong mệnh lệnh quân sự, trong diễn văn, trong lời của phát thanh viên truyền thanh, truyền hình… Đó là độc thoại trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và hồi đáp trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó
là hội thoại (conversation) Hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến nhất của ngôn ngữ trong xã hội là hội thoại
Hội thoại diễn ra có thể chỉ giữa hai người (A nói, B nghe và B nói, A nghe)
Đó là song thoại (dailogue) Hội thoại có thể có ba người tham gia, đó là tam thoại (trilogue) hoặc khi hội thoại có nhiều người tham gia, ta có đa thoại Chẳng hạn như lời đế từ ngoài vào trong hát chèo; hoặc cuộc tranh luận trên truyền hình của ba ứng viên tổng thống trong một cuộc tranh cử khi tranh luận công khai Cũng có thể đây là
đa thoại, vì thông qua cuộc tranh luận, các ứng viên đều hướng đến cử tri để giành giật phiếu bầu của cử tri…
Tuy nhiên trong các cuộc hội thoại thì song thoại là hình thức phổ biến nhất và
lí thuyết hội thoại chủ yếu là bàn về song thoại vì song thoại là hình thức hội thoại nguyên mẫu (prototype) của mọi cuộc hội thoại
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu hội thoại
Hội thoại chính là giao tiếp Hoạt động giao tiếp của con người bao giờ cũng phải diễn ra trong xã hội Vì vậy khi nghiên cứu hội thoại không thể bỏ qua những yếu
tố liên quan đến con người và xã hội như tâm lý, phong tục tập quán, văn hóa dân
Trang 22tộc… Chẳng hạn, khi gia đình người Việt có khách lúc đang ăn cơm thì chúng ta
thường chào khách bằng một lời mời, đại thể như: Mời bác vào xơi cơm với nhà cháu
ạ hoặc Anh vào ăn cơm với gia đình ạ…
Nhiều nhà nghiên cứu về hội thoại cho rằng phương pháp tiếp cận hội thoại hiện nay, chủ yếu là phương pháp xã hội – dân tộc học Nghiên cứu hội thoại theo phương pháp xã hội – dân tộc học, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các nội dung sau:
Người ta đề cập đến vấn đề gì trong cuộc hội thoại?
Những vấn đề đó được đặt ra như thế nào (công khai hay ngầm ẩn)?
Phương thức thể hiện sự ngầm ẩn ấy cũng như sự nhận biết đó ra sao?
Người ta tổ chức và chi phối cuộc thoại như thế nào để đạt được nội dung đề ra Chẳng hạn như cách thức xưng hô, các hành động cảm ơn, chào, xin lỗi… của những người tham gia hội thoại giữa các dân tộc không hoàn toàn giống nhau Chẳng hạn người Anh nói cảm ơn là lịch sự nhưng người Việt mà sử dụng quá nhiều lời cảm ơn trong giao tiếp sẽ bị nhìn nhận là khách sáo Tương tự, lời chào của người Anh, người Pháp có tính khuôn mẫu khá cao và thường chào theo thời gian; còn lời chào của người Việt có tính linh hoạt và uyển chuyển tùy theo ngữ cảnh và mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật giao tiếp
Ví dụ:
(29) Lời chào gặp mặt của người Anh:
Good morning! (Chào buổi sáng)
Good afternoon! (Chào buổi chiều)
Good evening! (Chào buổi tối)
(30) Lời chào chia tay (tạm biệt) của người Anh: Good bye hoặc bye!
Ngoài ra người Anh còn sử dụng các lời chào gặp mặt có tính khuôn mẫu khác như
hello, hi, how do you do
(31) Lời chào gặp mặt của người Việt:
Cháu chào ông (bà, cô, bác ) ạ!
Em chào thầy (cô) ạ!
Trang 23Ngoài ra, người Việt còn sử dụng rất nhiều cách thức chào hỏi khác nhau như hỏi để chào, mời để chào và các cách thức chào linh hoạt khác nữa
1.2.3 Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Trong giao tiếp, người nói luôn muốn truyền đạt nhiều hơn cái được nói Bao giờ cũng có những điều mà người ta thấy không cần phải nói ra, những điều mà vì một
lí do tế nhị nào đó không tiện nói ra, không tiện nói thẳng Với lại, không phải tất cả những gì người ta muốn biểu đạt đều có thể nói ra được cả Nhận thức của con người
vô cùng phong phú và phức tạp Làm cho người khác hiểu được đầy đủ và chính xác nhận thức của mình không phải là một điều dễ dàng Trong tác phẩm bút kí triết học V.I Lên nin viết: “Viết một cách thông minh có nghĩa là giả định người đọc cũng thông minh, là không nói hết, là để người đọc tự nói với mình những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn – chỉ với những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn này thì một câu mới có giá trị và có ý nghĩa” (dẫn theo [8, 90])
Vấn đề đặt ra là phải giải thích như thế nào để người nghe lĩnh hội được đúng ý định của người nói Grice tin rằng phải có một cơ chế chi phối việc sáng tạo và lĩnh hội những phát ngôn ấy Đó được gọi là nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) Nguyên tắc này do Grice nêu ra trong bài giảng của mình ở trường Đại học tổng hợp Harvard năm 1967 Đến năm 1975, nó được xuất bản thành một cuốn sách với nhan đề: Logic and conversation (Logic và hội thoại) Nguyên tắc này được phát biểu tổng quát như sau (theo cách dịch của Đỗ Hữu Châu – x.sđd): “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích, hay phương hướng của cuộc thoại mà anh tham gia vào”
Ví dụ, các nhân vật tham gia tổ chức một cuộc vũ hội vào buổi tối có một số công việc cần phải chuẩn bị đưa ra để mọi người tham gia vào bàn bạc, cụ thể như sau:
1 Mượn hội trường
Trang 24a Phương châm về lượng: phương châm này chia làm 2 vế:
b Phương châm về chất: phương châm này được phát triển tổng quát như sau:
hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:
c Phương châm quan hệ: (còn gọi là phương châm quan yếu) hãy làm cho phần
đóng góp của anh là quan yếu, tức có dính lứu đến câu chuyện đang diễn ra
d Phương châm cách thức: dạng tổng quát của phương châm này là: hãy nói cho
rõ ràng, đặc biệt là:
Tóm lại, các phương châm này đúng cho cuộc hội thoại chân thực, trong đó người hội thoại thật sự làm cho nó đạt kết quả một cách tường minh, trực tiếp Hạn chế của các phương châm này như chính tác giả đã nhận ra là chưa đề cập đến nội dung liên cá nhân của diễn ngôn Thứ hai, là các phương châm còn chồng chéo Chẳng hạn, phương châm về lượng “ đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi” trùng với phương châm quan yếu, bởi “ lớn hơn yêu cầu” là không quan yếu
Vế thứ ba của phương châm cách thức “ hãy nói cho ngắn gọn” cũng trùng với phương châm quan yếu và phương châm về lượng.Tuy nhiên trong nhiều cuộc thoại người ta nói với nhau một cách hàm ẩn và các phương châm này sẽ giải thích nghĩa hàm ẩn của hội thoại Chẳng hạn, câu chuyện về một viên thuyền phó của một tàu viễn dương có
thói hay say rượu Một hôm, ông thuyền trưởng phải ghi vào sổ nhật kí của tàu: Hôm
nay phó thuyền trưởng lại say rượu Hôm sau, đến phiên trực của mình, viên thuyền
phó đọc thấy câu này trong nhật kí của tàu, giận lắm, liền viết vào trang kia: Hôm nay
thuyền trưởng không say rượu (Dẫn theo [8, 92]) Rõ ràng, người đọc không khó khăn
lắm cũng suy ra được hàm ý của câu: Hôm nay, thuyền trưởng không say rượu có
nghĩa là các hôm khác thuyền trưởng say rượu, trong khi thuyền trưởng không hề uống
rượu bao giờ Hàm ý của câu này nằm trong ý nghĩa của từ hôm nay Chính từ hôm
Trang 25nay đã hạn chế phạm vi hiệu lực của thuyền trưởng không say rượu Nếu các phương
châm trên được tôn trọng thì cuộc hội thoại sẽ đạt được tính chất cộng tác giữa các
nhân vật hội thoại, đạt được tính quan yếu, có nghĩa là xoay quanh vấn đề được đưa ra trong hội thoại, đạt được tính chân thành, nghĩa là những người tham gia hội thoại thực sự muốn thành công, đạt được yêu cầu về lượng tin và đạt được yêu cầu triệt để,
có nghĩa là nói những điều mà hội thoại cho là quan yếu với vấn đề được đặt ra
1.3 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
1.3.1 Nghĩa tường minh
Nghĩa tường minh (nghĩa câu chữ, nghĩa hiển hiện, hiển nghĩa, hiển ngôn, explicit meaning) được các nhà ngôn ngữ học giải thích là “ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại” [3, 359] , “nghĩa được nói rõ trong mỗi câu” [6, 191], “nghĩa
có thể rút ra từ nghĩa nguyên văn (nghĩa đen và cả nghĩa bóng) của các từ ngữ có mặt trong câu và từ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy” [11, 115], “cái nghĩa biểu hiện rõ qua nguyên văn câu nói” [12, 112],…
Trong đề tài này, khái niệm nghĩa tường minh mà chúng tôi sử dụng tương ứng với các khái niệm nghĩa câu chữ, nghĩa hiển hiện, hiển ngôn,… của hầu hết các tác giả
khác Tuy nhiên, so với hệ thống quan niệm của tác giả Cao Xuân Hạo thì nó tương
ứng với hiển nghĩa, chứ không tương ứng với hiển ngôn, bởi vì chúng tôi không coi
tiền giả định (điều kiện tiên quyết để câu nói có thể đúng hoặc sai) là một bộ phận của hiển ngôn như quan niệm của tác giả (xem: [12, 112])
1.3.2 Nghĩa hàm ẩn
Nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn, implicit meaning) là thông tin không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng có thể nhận biết nhờ suy ý trên cơ sở hiển ngôn, hoàn cảnh phát ngôn và quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại,…
O Ducrot giải thích rằng thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như không nói, nghĩa là “nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa là vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có được sự vô can của im lặng.”(Dẫn theo [14, 100]) Còn theo Hoàng Phê, “khi một lời nói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn là ý chính” [14, 93]
Trang 26Herbert Paul Grice – người đầu tiên nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn, cho rằng nghĩa
hàm ẩn gồm hai thành phần là nghĩa hàm ẩn tự nhiên và nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (Dẫn theo [3]) Sau H.P Grice, O Ducrot phân biệt hai loại hàm ẩn là tiền giả định (tiền đề, presupposition, viết tắt: TGĐ) và hàm ngôn Ông cũng phân biệt loại hàm
ngôn là kết quả được rút ra từ sự suy luận của người nghe dựa vào nội dung khách
quan của lời (ví dụ, nói Trời đẹp là để thông báo “muốn đi chơi”) với loại hàm ngôn là
kết quả suy luận của người nghe từ hành vi nói năng (ví dụ, đang tiếp khách mà hỏi
Mấy giờ rồi? là muốn đề nghị khách ra về) (Dẫn theo [14, 100])
Khác với O Ducrot, C.J Fillmore đồng nhất TGĐ với hàm ngôn Ông viết:
“Trong ngữ nghĩa của câu, của lời nói có hai cấp bậc thông báo: cấp bậc hàm ngôn hay
là TGĐ và cấp bậc hiển ngôn.” (Dẫn theo [14, 98]) Tuy vậy, hầu hết các tài liệu nghiên cứu ngữ dụng sau này đều đề cập đến TGĐ và hàm ngôn như là hai khái niệm riêng biệt
Givón quan niệm: “TGĐ là các giả định về những điều mà theo người nói thì người nghe có thể chấp nhận không tranh cãi.” (Dẫn theo [19, 54]) Còn Stalnaker cho rằng: “TGĐ là cái mà người nói xem là cơ sở chung của những người cùng tham gia hội thoại.” (Dẫn theo [19, 312]) Dưới góc độ logic - ngôn ngữ học, Nguyễn Đức Dân giải thích: “Câu A có TGĐ là B nếu giá trị đúng của B là điều kiện cần cho A có giá trị đúng hoặc sai” và “A có một TGĐ ngữ dụng là B nếu: a) khi phát ngôn A thì người nói đã giả định rằng B và tin rằng người nghe cũng nghĩ là B; b) B đã được chấp nhận.” [6, 195 – 197] Ví dụ:
(33) Ngân chuẩn bị nghiệm thu đề tài cấp Bộ đấy
Phát ngôn này sẽ không được đánh giá là đúng hay sai nếu thiếu một trong các TGĐ sau:
- Có một người tên là Ngân
- Ngân là chủ nhiệm đề tài cấp Bộ
Hoàng Phê – người đầu tiên giới thiệu lý thuyết của Grice vào Việt Nam – cho rằng: “Nếu coi TGĐ là hàm ngôn thì sẽ không thấy được mối quan hệ có tính quy luật hết sức quan trọng giữa TGĐ, hiển ngôn và hàm ngôn, mối quan hệ chi phối nội dung của hàm ngôn.” [14, 99] Theo ông, hàm ngôn có hai lớp nghĩa hàm ẩn khác nhau về
mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh và độ tin cậy của suy ý Đó là hàm ý và ngụ ý
Trang 27Có quan điểm gần với Hoàng Phê, Cao Xuân Hạo (1999) coi TGĐ là một lớp nghĩa hiển ngôn; còn hàm ngôn, theo ông, bao gồm hàm nghĩa và ẩn ý
Phần lớn các nhà Việt ngữ khác như Đỗ Hữu Châu (2003), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000) đều xếp TGĐ vào lớp nghĩa hàm ngôn và phân loại các nghĩa hàm ngôn khác theo dấu hiệu phụ thuộc/không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp
Riêng Hồ Lê (1996) thì phân biệt hai lớp nghĩa hàm ẩn là hàm nghĩa và hàm ý
dựa theoquan hệ về nội dung đối với hiển ngôn: hàm ý (bao gồm: ngụ ý, ẩn ý, dụng ý) là
ý nghĩa hàm ẩn có nội dung khác với hiển ngôn; còn hàm nghĩa là ý nghĩa hàm ẩn bổ sung một phương diện nào đó cho hiển ngôn
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn đề cập đến thành phần thứ ba của nghĩa hàm
ẩn là dẫn ý (entailment) Dẫn ý vốn là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực logic học, biểu thị mối quan hệ kéo theo giữa các mệnh đề (p và q chẳng hạn) nếu trị đúng của q tất yếu nảy sinh từ trị đúng của p và trị sai của q tất yếu nảy sinh từ trị sai của p (tức p kéo theo q).Ví dụ:
(34) - A nhận B vào làm việc tại Công ty X (p)
- B là nhân viên của Công ty X (q)
sự thật thì q (B là nhân viên của Công ty X) tất yếu đúng sự thật Do “đặc tính kỹ thuật” của dẫn ý mà thuật ngữ này (entailment) được một số tác giả dịch là “kéo theo”
để biểu thị “những điều rút ra theo logic từ những cái được khẳng định trong phát ngôn” [11, 126]
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, trong khóa luận này, tôi quan niệm nghĩa hàm ẩn là những thông tin không được thể hiện trong ý nghĩa nguyên văn của từ ngữ và các mối quan hệ cú pháp của câu nhưng có thể nhận biết nhờ suy ý từ hiển ngôn, hoàn cảnh phát ngôn và quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại,… Nghĩa hàm ẩn gồm TGĐ và hàm ý
1.3.2.1 Tiền giả định
Khi bàn về tiền giả định, người ta thường nêu định nghĩa tiền giả định, thuộc tính của tiền giả định, và các kiểu tiền giả định Cách nhìn về các nội dung này có thể xê dịch ở những nhà nghiên cứu khác nhau Sau đây chúng tôi xin dẫn những cách nhìn
có nhiều điểm chung và sẽ được áp dụng vào việc học tập, nghiên cứu, khi cần thiết
Trang 28Tiền giả định (TGĐ) là hiện tượng được quan tâm khá tập trung trong giai đoạn đầu của việc lí giải ngĩa hàm ẩn của phát ngôn Từ những năm 90 (thế kỉ XX), về mặt nghiên cứu, cách hiểu về TGĐ đã khá thống nhất và nó không còn giữ địa vị quan trọng như trước nữa, người ta quan tâm nhiều hơn đến hàm ý, vì hàm ý gắn với chủ định của người nói, cái mà người nghe cần giải đoán để giao tiếp được thông thuận
1.3.2.1.1 Định nghĩa và thuộc tính của tiền giả định
TGĐ trong ngôn ngữ học được dùng để chỉ phần nội dung không cần được nêu ra
mà vẫn là một phần phải được tính đến của điều được thông báo, vì nếu TGĐ không được xác định thì thông báo sẽ trở nên vô nghĩa, mặc dù hình thức của câu không có gì sai trái Theo đó TGĐ là một thuật ngữ mang tính công nghệ, nó thuộc về sự phân tích lôgic xét trong mối quan hệ giữa nghĩa của câu với việc dùng câu, theo kiểu mối quan
hệ kéo theo giữa hai mệnh đề: khi nói ra một câu chứa mệnh đề p, người nói có một TGĐ dưới hình thức mệnh đề q
Vì TGĐ có vai trò quyết định tính đúng của câu, nó được coi là một thuộc tính của câu: “Một TGĐ là một thuộc tính của câu, thuộc tính này làm cho câu đó thích hợp với việc sử dụng trong một số ngữ cảnh này và không thích hợp với việc sử dụng trong những ngữ cảnh khác” (A presupposition is a property of a sentence, making that sentence fit for use in certain contexts and unfit for use in other contexts – P A M Sauren; dẫn theo)
Định nghĩa về TGĐ chung nhất có thể tìm thấy trong Hoàng Phê 1975: TGĐ “là điều giả định trước là đúng, điều phải được thừa nhận hoặc được chấp nhận là đúng thì một điều nói nào đó mới là có ý nghĩa” Để làm rõ hơn bằng cách diễn đạt giản dị dưới hình thức một danh từ đếm (không phải danh từ khối), có thể dẫn định nghĩa của G Yule 1996: “Một TGĐ là cái mà người nói cho là đúng trước khi thực hiện một phát ngôn” (dẫn theo) Nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban giải thích thêm: “vậy là người nói
có TGĐ chứ không phải câu có TGĐ”
Một thuộc tính quan trọng của TGĐ được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến là „tính bất biến khi phủ định‟, nói cách khác là khi câu nói chuyển từ hình thức khẳng định
sang hình thức phủ định thì TGĐ vẫn không biến đổi Chẳng hạn với hai câu Bạn Tí
ốm và Bạn Tí không ốm, thì cái TGĐ “tồn tại một bạn tên là Tí” vẫn không thay đổi
1.3.2.1.2 Về việc sử dụng tiền giả định
TGĐ như vừa nói là cái được giả định trước là đúng để cho câu nói có nghĩa, TGĐ không chân thực thì câu nói có thể trở thành vô nghĩa, mặc dù vẫn đúng ngữ pháp Trên thực tế, TGĐ được sử dụng quen thuộc đến mức người nói không hề có ý
Trang 29thức về nó khi nói ra lờ i Thế nhưng, TGĐ vẫn là cái mà người nói có , chứ không phải từ ngữ có Điều này có thể chứng minh được bằng cách mà con người sử dụng TGĐ
mô ̣t cách chủ đi ̣nh nhằm đa ̣t được mu ̣c đích của mình
TGĐ vốn không mang „cái mới ‟, không có „giá trị thông báo ‟, nhưng cách sử dụng chúng đôi khi có tác dụng tìm ra „cái mới‟ , cái có „giá trị thông báo‟ Có thể quan sát cách sử dụng TGĐ với mục đích vừa nêu qua hai trường hợp sau đây:
a Dùng TGĐ chưa chắc là chân thực để “bẫy” ngươ ̀ i
Người nói có thể cố tình dùng mô ̣t TGĐ do mình nghĩ ra và chưa biết có chân thực hay không để „cài bẫy‟ , trường hợp này người Việt gọi là „bắt nọn‟ Chẳng ha ̣n,
người nói 1 hỏi Hôm qua cậu nói gì về tôi với nó ?, câu hỏi này có tiền giả đi ̣nh là
“hôm qua câ ̣u đã nói chuyê ̣n về tôi với nó” Nếu người nói 2 trả lời Tôi không nói
chuyê ̣n về cậu với nó , thì tức là người nói 2 thừa nhâ ̣n phần “hôm qua câ ̣u đã nói
chuyê ̣n với nó”của tiền giả định, nhưng phủ định “về tôi” (tức là về người nói 1) trong tiền giả định của người hỏi Trong trường hợp đó, nếu người nói 1 không chứng minh được người nói 2 có nói về mình, thì phần tiền giả định “về tôi” trong lời người nói 1
là không chân thực Như vậy, tiền giả định mà người nói 1 đưa vào câu hỏi của mình chỉ chân thật ở phần “hôm qua cậu đã nói chuyện với nó” và phần đó không bị phủ định trong lời đáp của người nói 2, còn phần “về tôi” là không chân thực, người nói đưa ra với hi vọng nó sẽ là chân thực để có thể “bắt nọn” được người nghe, nhưng trong trường hợp này người hỏi đã thất bại
b Cách thức moi tin từ tiền giả định chân thực
Trường hợp thứ hai là người nói sử dụng tiền giả định chân thực (vốn không có giá trị thông báo), nhưng đối với người nghe nó lại là cái chứa nội dung thông báo cần tìm, mặc dù người nói không có ý định đưa ra thông báo đó Hiện tượng này có thể
nhận ra một cách gián tiếp qua việc phân tích truyện cười Mánh khóe
MÁNH KHÓE
Hai thầy lang ngồi nói chuyện với nhau Thầy nọ hỏi thầy kia:
- Bác đi thăm bệnh, sao bất cứ bệnh nào bác cũng hỏi bệnh nhân thường ăn những gì, như vậy nghĩa là làm sao?
Thầy kia cười đáp:
- Có gì đâu, chẳng qua hỏi xem họ ăn uống có sang trọng hay không để sau định tiền thuốc nhiều hay ít cho nó dễ!
Trang 30Từ truyện cười này hoàn toàn có thể khôi phục đoạn đối thoại giữa thầy lang 2 với các bệnh nhân của thầy như sau:
Thầy lang 2 hỏi bệnh nhân:
- Nhà ta thường ăn những gì?
Bệnh nhân đáp (một số ý giả định):
- Thưa thầy, nhà chúng tôi thường ăn các thứ A, B, C…
Về phía bệnh nhân, chắc hẳn bệnh nhân nào cũng cho rằng câu hỏi của thầy nhằm giúp cho việc “chẩn đoán” cho bệnh càng đúng càng tốt, cho nên không bệnh nhân nào lại khai không đúng sự thật Một lời khai đúng sự thật đối với câu hỏi như thế này cần được xây dựng trên một tiền giả định đúng với nội dung là các thức ăn thường được sử dụng
Trong lúc đó, về phía thầy lang 2, như chính thầy cho biết, tùy theo A, B, C… thầy sẽ biết được cái “tin” đưa ra trong tiền giả định là “giàu” hay “trung bình” hay
“nghèo”, để định tiền thuốc “cho dễ”, hiểu là “có lợi nhất cho thầy” Như vậy, đích ngôn trung của câu hỏi của thầy lang 2 là “tìm hiểu về khả năng kinh tế của con bệnh”, nhưng ông đã không trực tiếp nêu đề tài này để hỏi, mà kín đáo khai thác nó gián tiếp qua tiền giả định của bệnh nhântrong câu trả lời của người đó đưa ra
Nói gọn lại, thầy lang “giàu kinh nghiệm” kia đã khai thác rất “điệu nghệ” thông tin về tài sản của bệnh nhân qua tiền giả định đúng làm cơ sở cho câu trả lời của bệnh nhân đó
Nhìn lại các ví dụ vừa nêu, có thể thấy với ví dụ thứ nhất một tiền giả định “giả dối” đã được người nói đưa ra để “đánh bẫy” người nghe chưa có kinh nghiệm với hi vọng nhận được „cái mới‟ (hay „tin‟ – new), tức là biến tiền giả định giả dối thành tiền giả định chân thực, nếu bẫy thành công Còn trong ví dụ thứ hai, ngược lại, thầy lang 2 cũng “đánh bẫy” bằng cách khai thác “tin chính xác” một cách kín đáo, và cũng thông qua tiền giả định đúng, bằng một câu hỏi trong tình huống bắt buộc người bệnh phải trả lời chân thực bằng một câu có cơ sở trên tiền giả định đúng đó Các cách sử dụng tiền giả định như thế không những không làm sai lệch thực chất của tiền giả định trong vai trò cái làm cho một câu nói có nghĩa, mà còn có tác dụng làm rõ thêm vai trò đó
1.3.2.2 Hàm ý
Khi đánh giá sự đóng góp của J L Austin và P Grice trong Dụng học nói chung, nhà nghiên cứu J Thomas [ELL 1994] đã nêu một nhận xét khái quát thật xác đáng:
Trang 31“Austin đã thực hiện sự phân biệt giữa cái mà các người nói nói ra với cái ý nghĩa mà
họ đưa ra trong đó Lí thuyết của Grice cố gắng giải thích cách một người nghe có thể chuyển từ bậc của các ý nghĩa được diễn đạt đến bậc các ý nghĩa hàm ẩn.” (Austin made the distinction between what speakers say and what they mean Grice‟s theory tries to explain how a hearer might get from the level of expressed meaning to the level of implied meaning – Dẫn theo tài liệu dịch dùng riêng của nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban)
Phần lời bình phẩm về vai trò của lí thuyết của Grice cho thấy lí thuyết này là cơ
sở vững chắc cho việc khai thác hàm ý hội thoại, và như vậy nó rất thích hợp với việc giải thuyết các truyện cười dân gian Việt Nam, vì tuyệt đại bộ phận truyện cười được xây dựng theo cách tiếng cười nằm trong phần hàm ý hội thoại Truyện cười chứa
tiếng cười lộ liễu rất ít, vả lại chúng cũng giảm phần thú vị bởi tính lộ liễu ấy
1.3.2.2.1 Khái niệm hàm ý
Trong các công trình nghiên cứu về dụng học hàm ý được quan niệm như sau :
- Là phần có giá trị thông tin của nghĩa hàm ngôn đối lập với tiền giả định (TGĐ)
là thành phần không có giá trị thông tin
- Là ý nghĩa ngầm ẩn không thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng được suy ra từ nghĩa hiển ngôn (ý nghĩa tường minh) và ngữ cảnh
Chẳng hạn Hồ Lê cho rằng: Hàm ý là tất cả những ý nghĩa tình thái hàm ẩn mà
người phát ngôn ký thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa biểu hiện của phát ngôn nhưng trong đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ mà hiển nghĩa của phát ngôn biểu thị [13, 335], Nguyễn Hữu Cầu quan niệm: Hàm ý hội thoại
là ý nghĩa ngữ dụng (ý nghĩa phi vật thể), hoặc ý nghĩa chỉ được xác nhận trong quá trình giao tiếp, nó không hoàn toàn giống ý nghĩa mặt chữ” (Dẫn theo [8, 115]) Trần
Ngọc Thêm với quan niệm riêng: Hàm ý là bộ phận của thuật đề, cái mới không được
thể hiện tường minh trong sản phẩm ngôn ngữ” (Dẫn theo [8, 115])
Một số nhà ngữ dụng học O.Durot, H.P.Grice, Geogre Yule, Nguyễn Đức Dân,
Đỗ Hữu Châu trong các công trình của mình không trực tiếp trình bày định nghĩa về
hàm ý nhưng cũng gián tiếp thể hiện quan niệm của mình như nhận định: Thực chất
của hàm ngôn là nói mà coi như không nói, có nghĩa là nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự vô can trong im lặng (O.Durot, dẫn theo [3, 100]); “Hàm ngôn là tất cả những nội dung
Trang 32có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh (ý nghĩa câu chữ) cùng với tiền giả định của nó [3, 367]”
Như vậy điểm thống nhất trong quan niệm về hàm ý giữa các tác giả là : Hầu hết các tác giả đều đã tìm ra ranh giới và phân biệt nghĩa tường minh với nghĩa ngầm ẩn Trong nghĩa ngầm ẩn các tác giả phân biệt rõ giữa TGĐ và hàm ngôn
1.3.2.2.2 Phân loại hàm ý
Theo Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân, hàm ngôn có thể hình thành từ hai con đường khác nhau: Có thể suy ra từ ngôn ngữ (đặc biệt là cơ chế ngôn ngữ) hoặc có thể suy ý từ hiển ngôn và hoàn cảnh tồn tại của phát ngôn Ứng với mỗi con đường hình thành hàm ngôn là một loại hàm ngôn nhất định Loại hàm ngôn không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp là hàm ngôn ngữ học, loại hàm ngôn phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp là hàm ngôn dụng học
Cũng dựa vào mức độ phụ thuộc hoàn cảnh giao tiếp các tác giả H.P.Grice (dẫn theo [18, 381]), George Yule chia hàm ý thành hai loại:
- Hàm ý ngôn ngữ (tương ứng tên gọi hàm ý quy ước)
Đây là những loại hàm ý được suy ra từ nghĩa tường minh còn phát ngôn ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, thường được biểu thị bằng một số phương tiện ngôn ngữ đặc biệt
- Hàm ý ngữ dụng (tương ứng với tên hàm ý hội thoại)
Đây là loại hàm ý được hình thành từ sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng (quy tắc chiếu vật chỉ xuất, quy tắc hội thoại…) phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh giao tiếp
1.4 Hàm ý hội thoại
1.4.1 Khái niệm hàm ý hội thoại
Sự thống nhất cao trong quan niệm về hàm ý là một thực tế nhưng cũng có một
sự thật tồn tại là sự khác biệt về tên gọi Có nhóm tác giả gọi là hàm ngôn (trong thế đối lập với hiển ngôn), có một số tác giả gọi là hàm ý hội thoại trong thế đối lập với một bộ phận khác của hàm ngôn (như đã nêu ở trên) Đối tượng hướng tới của bài viết
là hàm ý ngữ dụng hay còn gọi là hàm ý hội thoại Theo đó thuật ngữ hàm ý được sử dụng và hiểu hẹp là hàm ý hội thoại
Giao tiếp là trao đổi những hiểu biết, tình cảm, thái độ, ý muốn, yêu cầu hành động giữa những người tham gia giao tiếp nhằm tác động lẫn nhau Sự trao đổi đó diễn
ra trực tiếp bằng những phương tiện ngôn ngữ được gọi là hội thoại Nói cách khác hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên phổ biến của ngôn ngữ
Trang 33Trong giao tiếp không phải bất cứ những tư tưởng, tình cảm, thái độ nào của người này muốn truyền đạt đến người kia đều có thể thực hiện được một cách rõ ràng (tường minh) qua phát ngôn cụ thể Nhiều khi muốn truyền đạt thông tin người nói phải căn cứ vào ngữ cảnh, vào nền tri thức, vào mối quan hệ giữa hai bên đối thoại và nhiều lí
do khác nữa để tạo lấy phát ngôn có chứa các tầng nghĩa khác nhau Một tầng nghĩa thể hiện trên bề mặt câu chữ gọi là nghĩa hiển ngôn, một tầng nghĩa khác ngầm ẩn đằng sau câu chữ, sau nghĩa hiển ngôn gọi là nghĩa hàm ẩn (như đã trình bày ở trên)
Các hàm ý trong hội thoại của các phát ngôn có giá trị thông tin, dùng để truyền đạt thông tin, là một bộ phận của cái được thông báo Cái quan trọng là không được nói ra, cho nên người nói có thể chối bỏ là họ không thông báo những ý nghĩ như vậy Các hàm ý hội thoại là có thể chối bỏ [4, 92] Như vậy, ngoài những lí do như đã phân tích ở trên, người nói còn tính đến khả năng chối bỏ, phủ nhận trách nhiệm đối với loại
ý nghĩa ngầm ẩn được tạo ra Loại ý nghĩa ngầm ẩn này tồn tại và gắn với ngữ cảnh nhất định Nếu thay đổi ngữ cảnh giao tiếp thì ý nghĩa này cũng thay đổi
Ví dụ :
(35) (Cô giáo đến thăm kí túc xá, hỏi một sinh viên):
B: Thưa cô, em tên là Minh Tâm ạ!
Trong ngữ cảnh này, người nghe dễ dàng nhận ra nội dung ngầm ẩn của phát ngôn mà không cần viện đến hiểu biết riêng biệt về một ngữ cảnh nào đó Nội dung
(36) B có việc phải vào cơ quan của A và B nhận thấy công việc trên bàn của A):
B: Trời ơi! Áo ai chọn cho cậu mà mặc trông già thế này?
A: Tớ chiều nay được đi công viên chơi đó
Câu trả lời của A có vẻ coi thường phương châm về tính thực dụng Để nghĩ rằng vẫn có cộng tác B sẽ nghĩ ra một lí do có tính chất cục bộ nào đó (chẳng hạn người mua áo có thể ở gần đấy) khiến cho A đưa ra phát ngôn hiển nhiên là không thích dụng Hàm ý ở đây là thực chất A không thể trả lời câu hỏi đó trong ngữ cảnh này Như vậy, nói về vấn đề a nhưng muốn người nghe hiểu thành vấn đề b thì ta dùng phát ngôn có hàm ý (khi biết rằng người nghe có khả năng nhận biết được) Người nghe khi tiếp nhận phát ngôn a phải dùng kinh nghiệm sống, ngôn ngữ, thực tiễn xã
Trang 34hội và đặc biệt là dựa vào ngữ cảnh để suy ra ý nghĩa b của phát ngôn Suy luận phải phù hợp giúp cho việc bảo tồn cộng tác và hiểu đúng ý nghĩa b, ý nghĩa b chính là hàm
ý của phát ngôn a
Như vậy, những ý nghĩa ngầm ẩn của phát ngôn gắn với một ngữ cảnh giao tiếp nhất định được người nghe giải đoán đúng như ý định gửi gắm của người nói là hàm ý
Vậy, hàm ý hội thoại là ý nghĩa ngầm ẩn thể hiện trong phát ngôn gắn với ngữ
cảnh giao tiếp cụ thể được người nghe tiếp nhận thông qua suy luận đúng như chủ đích người nói
Theo quan điểm này thì hàm ý được xác định bởi các tiêu chí sau:
- Là nội dung ngầm ẩn của các phát ngôn được suy ra từ câu nói trong một ngữ cảnh giao tiếp
- Nội dung ngầm ẩn này phải được người nghe giải đoán đúng như ý định của người nói thông qua suy ý
- Là chủ định của người nói mặc dù người nói có thể “rút lui ý kiến” hoặc phủ nhận trách nhiệm của mình về nội dung ngầm ẩn đó
1.4.2 Phân loại hàm ý hội thoại
Một số nhà ngôn ngữ học phân biệt hàm ý hội thoại tổng quát và hàm ý hôi thoại đặc thù
1.4.2.1 Hàm ý hội thoại tổng quát
Là hàm ý hội thoại có thể suy luận mà không đòi hỏi một tri thức nền nào
Ví dụ:
(37) A: Anh có nhắn với Tú và Thu chưa?
B: Anh nhắn với Tú rồi
Sau khi nghe B trả lời, A phải thừa nhận B có tinh thần hợp tác và không phỉa không biết nguển tắc về lượng Nhưng B không nhắc đến Thu Từ đó, A biết được rằng B đã chưa nhắc đến Thu (vì nếu có thì B đã nói rồi) Như vậy, B đã truyền đạt được nhiều hơn cái phát ngôn B nói Và sự suy luận này không đòi hỏi cần phải có một tri thức nền nào
Theo nguyên tắc về chất nếu tôi nói tôi có 3 con và hàm ý tôi chỉ có 3 con không hơn Khác với logic, khi có 4 con mà nói có 3 thì vẫn đúng, bởi vì mệnh đề tôi có 4
con đúng thì tôi có 3 con, tôi có 2 con, tôi có 1 con cũng đúng Chỉ có mệnh đề tôi không có con hoặc tôi có 5 contrở lên thì mới sai