1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông

204 368 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, có rất nhiều vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu từ bộ sử thi này như: vấn đề dịch thuật, vấn đề thể loại, ngay cả việc có nên gọi những sử thi Dăm Giông là chuỗi sử thi liên

Trang 1

1

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ năm 2001 đến năm 2007, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã tiến hành Dự

án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên

Kết quả là đã sưu tầm, biên dịch và xuất bản thành sách gồm 75 tác phẩm sử thi (in trong 62 tập) của các tộc ít người dưới hình thức song ngữ - tiếng dân tộc và tiếng phổ thông Trong số này, có 30 sử thi của người Bahnar trên địa bàn 02 tỉnh Kon Tum và Gia Lai Đặc biệt, trong 30 sử thi Bahnar nói trên, có đến 26 sử thi nói về kì tích của nhân vật mang tên Dăm Giông; Số lượng 26 sử thi Dăm Giông này chiếm 1/3 trong số hơn 100 sử thi về Dăm Giông đã sưu tầm được Hiện nay, những sử thi Dăm Giông vẫn đang tồn tại và lưu truyền trong cộng đồng người Bahnar ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum

Tiếc rằng đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về 26 sử thi về Dăm Giông nói trên Trong khi đó, có rất nhiều vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu từ bộ

sử thi này như: vấn đề dịch thuật, vấn đề thể loại, ngay cả việc có nên gọi những sử

thi Dăm Giông là chuỗi sử thi liên hoàn hay không và hệ thống nhân vật của nhóm

sử thi, nghệ thuật diễn xướng, mối liên hệ với các sử thi Bahnar và các sử thi Tây Nguyên khác như thế nào,… cần được làm rõ Ngoài ra, đặc điểm nội dung, nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông, đặc điểm nhân vật anh hùng Dăm Giông, mối liên hệ của nhóm sử thi Dăm Giông với các sử thi trong khu vực Đông Nam Á,… vẫn còn một khoảng trống cần được khảo sát Những vấn đề trên đã thúc đẩy chúng tôi tham gia tìm hiểu, hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu nhóm

sử thi này

Bản thân người thực hiện đề tài là người được sinh ra, lớn lên và có 26 năm công tác tại tỉnh Gia Lai và Kon Tum (quê hương của những sử thi Dăm Giông), đã dành nhiều năm theo đuổi việc sưu tầm, say mê nghiên cứu văn hóa, văn học địa phương Để chuẩn bị thực hiện đề tài này, tôi đã dành một năm để học tiếng Lào và khảo sát văn học Lào, Thái Lan, Campuchia với mong muốn mở rộng tìm xem mối

Trang 2

2

quan hệ giữa sử thi Tây Nguyên với nền văn học của các dân tộc khác trên dãy Trường Sơn và khu vực Tôi cũng đã cố gắng học tiếng Jrai và Bahnar để mong tiếp cận sâu sắc hơn với vốn văn hóa quý báu này

Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn tiến hành việc nghiên cứu đề tài: Đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu một cách có hệ thống 26 văn bản sử thi Dăm Giông và môi trường diễn xướng của nó nhằm xác định đặc điểm nghệ thuật của bộ sử thi Dăm Giông Qua đó, phát hiện những tương đồng và dị biệt của nhóm sử thi này với sử thi khu vực Đông Nam Á và sử thi thế giới

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này là văn bản của 26 sử thi Bahnar về

người anh hùng Dăm Giông trong Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên do Viện Khoa học Xã hội xuất bản từ năm

2005 đến năm 2007 (Phụ lục i)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát đặc điểm nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông, tập trung vào các yếu tố như: kết cấu nhóm sử thi, nhân vật trung tâm, hệ thống nhân vật tái xuất hiện, các yếu tố nghệ thuật chủ yếu (cốt truyện, các kiểu kết cấu, hệ thống motif, không gian nghệ thuật )

- Phạm vi điền dã: Hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, tập trung ở địa bàn dân tộc

Bahnar, vùng có 26 sử thi đang nghiên cứu Cụ thể là khu vực nội - ngoại ô thành phố Kon Tum và huyện Đak Hà, tỉnh Kon Tum; khu vực huyện Đak Pơ và Đak Đoa, tỉnh Gia Lai

4 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Cơ sở lí thuyết

Lí thuyết cơ bản mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu đề tài này là những lí luận

Trang 3

3

cơ bản về folklore của các nhà nghiên cứu trên thế giới từ trước đến nay như V Propp, E M Meletinski,… Cụ thể chúng tôi vận dụng những quan điểm của V Propp về đặc trưng của folklore để làm cơ sở lí luận chung cho việc nghiên cứu Để làm rõ hơn từng đặc điểm nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông, chúng tôi kế thừa phương pháp phân tích cấu trúc văn bản hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu cấu trúc - loại hình của V Ia Propp trong việc nghiên cứu cấu trúc truyện cổ Bahnar, truyện cổ Tây Nguyên, hệ thống motif, các kiểu nhân vật trong nhóm sử thi Chúng tôi cũng học tập các quan điểm về thần thoại và sử thi của E M Meletinski để nghiên cứu các yếu tố huyền thoại trong các sử thi Dăm Giông, tìm xem vai trò yếu tố thần thoại trong việc xây dựng các nhân vật anh hùng, kiến tạo tác phẩm và quá trình diễn xướng sử thi Chúng tôi cũng vận dụng quan điểm của E

M Meletinski về thần thoại để giải mã việc xuất hiện nhiều đặc điểm của thần thoại trong sử thi Dăm Giông nói riêng, sử thi Bahnar, sử thi Tây Nguyên nói chung Chúng tôi cũng sử dụng lí luận và kiến thức liên ngành như triết học, lịch sử, văn hóa, folkore với những tác giả tiêu biểu như Karl Marx, F Angel, E B Tylor,

M O Kosven, James George Frazer,… để nghiên cứu lịch sử, thiết chế xã hội loài người thời nguyên thủy nhằm tìm hiểu đặc trưng xã hội nguyên thủy của người Tây Nguyên nói chung, người Bahnar nói riêng được chứa đựng trong các sử thi Dăm Giông Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng vận dụng lí luận về tự sự học của Tezvetan Todorov và lí thuyết về cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu M Lotman để so sánh, đối chiếu với các thể loại tương đồng nhằm phát hiện cấu trúc của kiểu sử thi liên hoàn của bộ sử thi Dăm Giông và sử thi Bahnar

Ngoài các lí thuyết cơ bản nêu trên, trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi còn học hỏi, kế thừa và vận dụng các lí thuyết và kết quả về folklore, phương pháp điền dã, dân tộc học, khảo cổ học của các bậc nghiên cứu tiền bối trong và ngoài nước như Pierre Douriboure, Paul Guilletminet, Jacques Dournes, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Từ Chi, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Tấn Đắc, Nguyễn Khắc Sử,…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp điền dã

Trong đề tài này, chúng tôi chú trọng công tác và phương pháp điền dã Chúng

Trang 4

Đặc biệt, chúng tôi bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu môi trường diễn xướng,

phương thức diễn xướng h’mon, một loại hình nghệ thuật đặc sắc làm nên đặc điểm

nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông Trong quá trình thực hiện luận án, ngoài việc nghiên cứu văn bản 26 sử thi Dăm Giông, chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với các nghệ nhân hát kể sử thi, các dịch giả của 26 sử thi Dăm Giông đang khảo sát để tìm hiểu tường tận các tình tiết, địa danh, tên các nhân vật, tiểu sử của các nghệ nhân, tham gia các lễ hội dân gian ở địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum

để hiểu sâu sắc về các nội dung, sự kiện, nhân vật trong tác phẩm và các đặc trưng nghệ thuật khác của nhóm sử thi Dăm Giông

4.2.2 Phương pháp thống kê, phân tích

Để tạo cho các lập luận, luận chứng, luận cứ thêm phần thuyết phục với một hệ thống số liệu chính xác, tin cậy, chúng tôi đã sử dụng phương pháp thống kê, phân tích để khảo sát 26 tác phẩm của nhóm sử thi Dăm Giông Chúng tôi lập các bảng thống kê như: tần suất xuất hiện của các nhân vật tái xuất hiện, yếu tố Kitô giáo, yếu tố kì ảo, hệ thống motif, mô hình hóa kết cấu, tóm tắt cốt truyện của 26 sử thi được khảo sát (Phụ lục ii, iii, iv và v) Từ các số liệu thống kê, chúng tôi sẽ phân tích, so sánh, đối chiếu để đúc kết, khái quát nên những đặc điểm nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông

4.2.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để nghiên cứu mối liên hệ giữa sử thi và truyện cổ dân gian Tây Nguyên nhằm làm rõ đặc trưng thể loại của nhóm sử thi Dăm Giông Cụ thể, chúng tôi vận dụng lí thuyết về văn học so sánh

Trang 5

5

của thế giới (nhất là các nhà nghiên cứu trường phái Nga, Mỹ) để so sánh, đối chiếu các yếu tố nghệ thuật tiêu biểu trong truyện cổ Jrai, Bahnar có liên quan đến sử thi Dăm Giông như hệ motif, yếu tố thần kì, kiểu nhân vật, tên địa danh, nghệ thuật kết cấu,…

Bên cạnh đó, để xác định đặc trưng tộc người của nhóm sử thi, chúng tôi nghiên cứu sử thi thế giới và sử thi Tây Nguyên để tìm ra đặc trưng riêng biệt của nhóm sử thi Dăm Giông Chúng tôi đi sâu nghiên cứu ở góc độ dân tộc học của tộc người Bahnar nhằm phát hiện những đặc trưng độc đáo của tộc người này qua nhóm

sử thi Dăm Giông Qua đó đối chiếu, so sánh các kết quả khảo cổ học, lịch sử địa phương để phát hiện bối cảnh lịch sử của vùng đất sản sinh ra sử thi Dăm Giông Trong đó, chúng tôi cố gắng tìm hiểu lịch sử hình thành của hệ thống buôn làng cổ

và mới ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum nhằm hình dung những biến động của xã hội Tây Nguyên thời nguyên thủy được phản ánh trong các sử thi

Đặc biệt, chúng tôi so sánh tính chất liên hoàn, xâu chuỗi của sử thi Dăm

Giông và sử thi ot ndrong của dân tộc Mơ-nông, sử thi liên hoàn Dăm Duông của dân tộc Xơ-đăng để khái quát đặc trưng cơ bản của sử thi liên hoàn, một loại hình

đặc trưng của sử thi Tây Nguyên

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

5.1 Chỉ ra và chứng minh được các sử thi Bahnar mang tên Dăm Giông hiện đang tồn tại ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum là những sử thi có nhiều mối liên hệ với nhau

hình thành nên một cấu trúc nghệ thuật thống nhất gọi là Nhóm sử thi Dăm Giông

5.2 Nêu được những đặc điểm nghệ thuật cơ bản của nhóm sử thi Dăm Giông, về kết cấu của nhóm sử thi, hệ thống nhân vật, nhân vật anh hùng, các yếu tố nghệ thuật chủ yếu như hệ thống motif, không gian nghệ thuật Tìm ra đặc điểm của nhóm sử thi Dăm Giông nói riêng và đặc điểm sử thi Bahnar nói chung Qua đó, góp phần định danh, xác định loại hình và đặc trưng văn hóa tộc người của nhóm sử

thi

5.3 Nghiên cứu nhóm sử thi Dăm Giông trong mối quan hệ với sử thi Tây Nguyên nói chung và một số sử thi vùng Đông Nam Á nhằm khẳng định đặc trưng riêng biệt của nhóm sử thi này trong phạm vi khu vực

Trang 7

7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU SỬ THI

1.1.1 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Tây Nguyên

- Giai đoạn từ năm 1927 đến năm 1955

Tháng 5 năm 1927, Léopold Sabatier - một công sứ người Pháp tại Đak Lak

công bố Anh hùng ca Đăm Xăn do Pierre Pasquier và Roland Dorgelѐs viết lời tựa

“Bài ca cuối cùng của người Mọi” [150, tr.287] Léopold Sabatier cho rằng Đăm Xăn(1) là một anh hùng ca (chanson de geste, épopée): “Bản khan này hay anh hùng

ca này, cùng với nhiều bản khác nữa, là kết quả và là sự thể hiện một thời kì yên ổn,

thái bình, phồn vinh và hùng mạnh đang phát triển, mà nhóm tộc người Rađê đã trải

qua, sau khi họ di cư từ vùng bờ biển lên vùng cao nguyên miền nam Đông Dương” [89, tr.140] Ông còn khẳng định: “Bản anh hùng ca cổ của người Ê Đê sẽ không

mất đi, câu chuyện đẹp đẽ về cuộc sống Đăm Xăn, bay lên từ núi rừng Việt Nam, sẽ

được biết đến tận châu Âu” [149, tr.9] Rất tiếc, Roland Dorgelѐs cho rằng Đăm Xăn là tác phẩm văn chương cuối cùng của người Mọi Thực tế sưu tầm sử thi Tây

Nguyên sau này chứng minh ngược lại nhận định của Roland Dorgelѐs

Năm 1955, Anh hùng ca Đăm Di được công bố, Dominique Antomarchi dịch

sang tiếng Pháp và Georges Condominas viết lời giới thiệu với nhan đề “Lời nói đầu về bản anh hùng ca Klei khan Kdam Yi - Nhận xét xã hội học về hai bản anh

hùng ca Rađê” Trong lời giới thiệu, Georges Condominas khẳng định: Đăm Xăn và Đăm Di là anh hùng ca - sử thi (chant épicque) [147, tr.555]

Trong công trình Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương (Les Populations montagnardes du Sud-Indochinois) của Dam Bo (Jacques Dournes) xuất bản năm

1950 có một đoạn nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ của sử thi Đăm Xăn: “là những câu có nhạc, đúng hơn là những câu thơ đều đặn, lặp đi lặp lại, đuổi theo nhau, bừng nở… hết sức giàu biểu tượng” [16, tr.195]

Trang 8

8

Như vậy, những người Pháp đã đi tiên phong trong việc phát hiện và sưu tầm

sử thi Tây Nguyên Họ đã dịch và công bố với thế giới hai sử thi Đăm Xăn và Dăm

Di sang tiếng Pháp và tiếng Ê-đê Thành tựu nghiên cứu ban đầu của họ là xác định

được thể loại và những giá trị đặc biệt của sử thi

- Giai đoạn từ năm 1957 đến năm 2000

Năm 1957, sử thi Đăm Xăn được dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt với tên gọi Bài ca chàng Đăm San và được in thành sách vào năm 1959 Trong một bài viết năm 1960, nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên xác định Bài ca chàng Đăm San là một

“bản anh hùng ca” và “Đăm San là nhân vật anh hùng” [19, tr.48]

Năm 1970, tại Liên Xô, tiến sĩ N J Niculin đã dịch và giới thiệu sử thi Đăm Xăn và Đăm Di sang tiếng Nga Ông gọi hai sử thi này là “truyền thuyết anh hùng”

Trong đó, ông chú ý đến “đặc trưng diễn xướng” của nó và coi đó như một đặc trưng tiêu biểu của sử thi [89, tr.405]

Năm 1974, trong cuốn sách Chúng tôi ăn rừng đá thần Gô, nhà nghiên cứu

dân tộc học người Pháp Georges Condominas có nhắc đến một hình thức truyện kể

của người Mơ-nông Gar tên là noo proo và ông gọi đó là épopée (sử thi, anh hùng

ca) [53, tr 190] Như vậy, một lần nữa, những nhà nghiên cứu người Pháp đã phát hiện ra sử thi Tây Nguyên Rất tiếc, Georges Codominas không đi sâu nghiên cứu

sử thi được nhắc đến hoặc những vấn đề liên quan đến sử thi

Từ năm 1957 đến năm 1975, các sử thi khác như Đăm Di, Khinh Dú, Đăm Roăn, Y Ban, Y Prao được phát hiện qua lời kể của các cán bộ và đồng bào ra Bắc tập kết Năm sử thi trên được in trong sách Trường ca Tây Nguyên xuất bản năm

1963 Qua các tác phẩm này, các nhà nghiên cứu Việt Nam như Cao Huy Đỉnh, Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh đã có nhiều công trình khẳng định giá trị của sử thi Tây Nguyên là những tác phẩm có giá trị lớn của dân tộc Ê-đê, “có giá trị lớn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật” [79, tr.88] Riêng về mặt thể loại, các nhà nghiên cứu Việt Nam gọi sử thi Tây Nguyên với nhiều thuật ngữ khác nhau như

truyền thuyết, bài ca, trường ca, anh hùng ca, sử thi, sử thi anh hùng,…

Từ năm 1976 đến năm 2000, việc nghiên cứu sử thi Tây Nguyên được quan

Trang 9

9

tâm nhiều hơn Trong luận án tiến sĩ mang tên Về thể loại sử thi anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên (năm 1982) và cuốn sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam (năm 1983), Võ Quang Nhơn đã dùng thuật ngữ anh hùng ca với

tư cách là một thể loại văn học dân gian để xác định thể loại Đăm Xăn

Năm 1988, Phan Đăng Nhật bảo vệ luận án tiến sĩ tại Bungari với đề tài Sử thi

Ê Đê Luận án đã đặt ra và giải quyết nhiều vấn đề quan trọng của sử thi Ê-đê như

nội dung, chủ đề và quá trình hình thành, đặc điểm cơ bản gồm: cấu trúc của hệ

thống sử thi, các loại và kiểu đề tài, Phan Đăng Nhật cho rằng Đăm Xăn là sử thi

cổ sơ, còn Iliát, Ôđixê, Ramayana, Mahabharata là những sử thi cổ đại (hay là sử thi cổ điển) [70, tr.731]

Từ năm 1993 đến năm 1997, nhiều sử thi Tây Nguyên mới được sưu tầm

như Chilơkok (dân tộc Ê-đê, năm 1993), Mùa rẫy bon Tiăng (dân tộc Mơ-nông, năm 1996), Giông nghèo tám vợ; Tre Vắt ghen ghét Giông (dân tộc Bahnar, năm

1996) Cùng với đó, các hội thảo về sử thi Tây Nguyên được tiến hành và có nhiều bài nghiên cứu giá trị như “Sử thi ở Việt Nam” của Đinh Gia Khánh, “Nhìn lại quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trong bối cảnh sử thi Việt Nam” của Phan Đăng Nhật, “Vùng sử thi Tây Nguyên (một số quan điểm cơ bản)” của Ngô Đức Thịnh, “Sử thi thần thoại của người Mơ-nông” của Đỗ Hồng Kỳ, “Hơmon, một thể loại diễn xướng dân gian của người Ba Na ở An Khê, Gia Lai” của Tô Ngọc Thanh,… Những công trình trên đã tập trung đánh giá lại tiềm năng và trữ lượng của sử thi Tây Nguyên, xác định, định danh thể loại, loại hình sử thi Các nhà

nghiên cứu thống nhất cho rằng sử thi ở nước ta chủ yếu là sử thi cổ sơ (archaic epic) Trong công trình Sử thi thần thoại Mơ-nông (năm 1996), Đỗ Hồng Kỳ khẳng định rằng các sử thi ot ndrong của người Mơ-nông là sử thi thần thoại [49, tr.51] Năm 1999, công trình Vùng sử thi Tây Nguyên [72] của Phan Đăng Nhật khảo sát sử thi Tây Nguyên dưới góc độ vùng văn hóa Tác giả đặt ra vấn đề nghiên cứu

thuộc tính chung nhất của các sử thi tập trung trên một địa bàn, trong đó có thuộc tính gắn liền với đặc điểm văn hóa, con người Tây Nguyên và phân biệt với các sử thi người Việt

Nhìn chung, trong giai đoạn từ năm 1957 đến 2000, sử thi Tây Nguyên được

Trang 10

10

sưu tầm bổ sung, dịch sang tiếng Việt và bắt đầu được nghiên cứu, đưa vào giảng dạy ở các trường đại học Tuy nhiên kết quả nghiên cứu về sử thi chưa nhiều

- Giai đoạn từ năm 2001 đến nay

Từ năm 2001 đến năm 2007, Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn

quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) chủ trì, phối hợp triển khai với 8 tỉnh Tây Nguyên và phụ cận Kết quả sưu tầm một khối lượng sử thi đồ sộ gồm 801 tác phẩm với 5.679 băng ghi âm (độ dài 90 phút) Trong thời gian này đã phiên âm

123 tác phẩm và dịch nghĩa được 115 tác phẩm Việc phiên âm, dịch nghĩa do các trí thức người dân tộc tiến hành, công việc biên tập do các nhà nghiên cứu người Việt đảm nhiệm Đến năm 2007, đã xuất bản 75 tác phẩm sử thi của các dân tộc Bahnar, Mơ-nông, Ê-đê, Xơ-đăng, Ra Glai, Chăm dưới dạng song ngữ tiếng dân tộc

và tiếng phổ thông Các sử thi của người Jrai hiện nay chưa có người dịch nghĩa(2) Một trong những phát hiện quan trọng của các nhà nghiên cứu đối với sử thi mới sưu tầm là những bộ sử thi có cấu trúc liên hoàn Các nhà nghiên cứu gọi tên các sử thi người Mơ-nông (Tiăng, Lênh), Xơ-đăng (Dăm Duông), Bahnar (Dăm

Giông) bằng nhiều khái niệm khác nhau: bộ sử thi nhiều tập - Đặng Diệu Trang [132], sáng tác liên hoàn (ring composition) - Bùi Thiên Thai [103], sử thi liên hợp,

sử thi phổ hệ - Phan Đăng Nhật [73], sử thi chuỗi, chuỗi sử thi - h’mon liên hoàn - Nguyễn Việt Hùng [140], sử thi liên hoàn - Võ Quang Trọng [130],

Khi nhận xét về các sử thi Tây Nguyên mới sưu tầm, Ngô Đức Thịnh nhận

xét: “Sử thi ở đây phần nhiều thuộc sử thi liên hoàn”, “thông qua các hành động nhân vật Duông và Giông thì tạo nên chuỗi tác phẩm liên hoàn (xâu chuỗi) khá đồ sộ” Ông khẳng định: “Loại sử thi liên hoàn này, một mặt, mỗi tác phẩm có vị trí

độc lập tương đối, có nhân vật, có nội dung, tình tiết riêng, nhưng mặt khác, những nhân vật anh hùng này lại có mối liên hệ với các tác phẩm khác trong hệ thống”

Theo ông, “hiện tượng khuôn mẫu có sẵn và diễn xướng lặp của sử thi liên hoàn

xuất phát từ nhu cầu truyền miệng, dễ nhớ của các tộc người không có chữ viết” [108]

Trang 11

11

Năm 1993, trong bài viết “Cốt truyện và nhân vật trong sử thi nrông của người

Mơ-nông”, Đỗ Hồng Kỳ có đặt vấn đề kết cấu cốt truyện của ot ndrong liên quan khái niệm sử thi liên hoàn: “Kết cấu cốt truyện sử thi ot nrong là kết cấu liên hoàn

Các cốt truyện đơn hợp lại với nhau thành cốt truyện liên kết Các cốt truyện đơn có mối quan liên hệ mật thiết với nhau, đồng thời ở một mức độ nào đó, chúng có tính độc lập tương đối của mình” [48]

Năm 2002, trong bài “Những phát hiện mới xung quanh sử thi Nrong”, Tô

Đông Hải sử dụng khái niệm sử thi liên hoàn để chỉ bộ sử thi ot ndrong: “ot nrong

là bộ sử thi liên hoàn có khối lượng đồ sộ vào loại hàng đầu trong số các sử thi đã

được phát hiện trên thế giới” [30, tr.31]

Trong Thông báo Văn hóa dân gian 2003, Võ Quang Trọng có bài viết

“Những phát hiện mới về sử thi Ba Na ở tỉnh Kon Tum” giới thiệu về 90 tác phẩm

sử thi Bahnar Trong đó, ông nhận định: “Phần lớn các tác phẩm sử thi Ba Na đều liên quan đến nhân vật Giông, một hình tượng sống động, xuyên suốt hàng chục tác

phẩm Hiện tượng sử thi liên hoàn đã được tìm thấy ở tộc người Mnông, Xê Đăng” [115, tr.652] Trong lời giới thiệu sử thi Giông đi tìm vợ, Võ Quang Trọng viết: “Sử thi Giông đi tìm vợ là một tác phẩm độc lập trong hệ thống sử thi liên hoàn của

người Ba Na” [131, tr.431]

Năm 2005, trong bài viết “Sử thi Con đỉa nuốt bon Tiăng”, Bùi Thiên Thai cung cấp khá phong phú thông tin về khái niệm chuỗi sử thi, sáng tác liên hoàn: Thuật ngữ chuỗi sử thi (epic cycle) ban đầu được dùng để chỉ một loạt những

bài thơ tự sự có liên quan đến những miêu tả về chiến tranh Tơ roa nhằm bổ sung cho sử thi Hôme Những bài thơ này do một loạt các thi nhân hậu kì Hy Lạp được gọi là “thi nhân liên ca” sáng tác Sau, nó được dùng để chỉ một hệ thống sử thi được móc nối với nhau bởi nhiều phần độc lập, giữa các phần có nhân vật chính và bối cảnh chung, giữa các sự kiện cũng có liên kết và thứ tự nhất định Nhân vật trung tâm nhất định không phải là nhân vật chính của mỗi phần nhưng thường có chức năng kết cấu, nối kết các phần lại với nhau Cần

phân biệt chuỗi với liên hoàn, sáng tác liên hoàn (ring composition) là kết cấu

theo vòng tròn đồng tâm, tức theo thứ tự A-B-C-B-A, lặp lại thứ tự thuận ban

Trang 12

12

đầu theo chiều ngược lại nhằm nhấn mạnh yếu tố ở vị trí trung gian, có chức

năng làm cho dễ nhớ và cả chức năng thẩm mỹ Thuật ngữ chuỗi ở trong sáng tác thơ ca có thể dịch là liên ca Kịch tôn giáo thời kì trung thế kỉ thường thể

hiện hoặc giải quyết hàng loạt những chủ đề lấy kinh thánh làm nền tảng, do

đó cũng là chuỗi kịch hoặc liên kịch [103, tr.39]

Khái niệm sử thi liên hoàn còn được các tác giả khác sử dụng khi khảo sát các

sử thi Xơ-đăng và Bahnar Trong Thông báo Văn hóa dân gian 2003, Võ Quang

Trọng có bài viết “Những phát hiện mới về sử thi Ba Na ở tỉnh Kon Tum” giới thiệu

về 90 tác phẩm sử thi Bahnar Trong đó, ông nhận định: “Phần lớn các tác phẩm sử thi Ba Na đều liên quan đến nhân vật Giông, một hình tượng sống động, xuyên suốt

hàng chục tác phẩm Hiện tượng sử thi liên hoàn đã được tìm thấy ở tộc người Mnông, Xê Đăng” [115, tr.655] Trong lời giới thiệu sử thi Giông đi tìm vợ, Võ Quang Trọng viết: “Sử thi Giông đi tìm vợ là một tác phẩm độc lập trong hệ thống

sử thi liên hoàn của người Ba Na” [131, tr.431]

Những cuộc bàn luận sôi nổi về khái niệm sử thi liên hoàn nêu trên mở ra nhiều hướng tiếp cận mới về sử thi Ngay cả sử thi được xếp vào dạng kinh điển của

sử thi Tây Nguyên như Đăm Xăn cũng phải xem xét lại Phải chăng sử thi Đăm Xăn

chỉ có một phiên bản như L Sabatier đã phát hiện hay còn một bộ phận nào khác?

Những phát hiện về các dị bản của sử thi Đăm Xăn gần đây cho phép cho chúng ta

đặt câu hỏi như thế

Một số công trình lớn khác như Sử thi Tây Nguyên với cuộc sống đương đại - thực trạng, triển vọng và giải pháp (2006, Phan Đăng Nhật chủ nhiệm đề tài), Một phương thức đưa sử thi Tây Nguyên trở về với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên

(2009, Nguyễn Xuân Kính chủ nhiệm đề tài) nhằm bảo tồn và phát triển sử thi ở cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên Các công trình đề cập đến việc quản lí, bảo tồn, phát triển sử thi trong hiện tại và tương lai chứ chưa quan tâm đến vấn đề nghiên cứu sử thi dưới góc độ tác phẩm nghệ thuật

Năm 2001, chuyên luận Nghiên cứu sử thi Việt Nam của Phan Đăng Nhật ra

đời, đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu sử thi ở Việt Nam Phan Đăng Nhật cho rằng sử thi ở Việt Nam là “sử thi sống, sử thi dân dã khác với sử thi

Trang 13

13

sách vở” [73, tr.270] Việc phát hiện đặc điểm sử thi sống mở ra hướng nghiên cứu đúng đắn về sử thi Tây Nguyên Đặc biệt, trong sách Vùng sử thi Tây Nguyên, Phan

Đăng Nhật đã đưa ra nhiều nhận định có giá trị Ông khẳng định ở Tây Nguyên còn

có một số lượng rất lớn sử thi và mật độ dày đặc so với cả nước, tạo nên vùng sử thi Tây Nguyên; Sử thi Tây Nguyên mang những đặc trưng thống nhất và có sự phân biệt so với sử thi các địa bàn khác ở Việt Nam [73, tr.297] Những nhận định về trữ

lượng sử thi Tây Nguyên của Phan Đăng Nhật đã được minh chứng qua Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên

Cho đến năm 2007, trong cuốn sách Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên, Ngô Đức Thịnh chỉ rõ đặc điểm sử thi sống của sử thi Tây Nguyên: Nét khác biệt

của sử thi Tây Nguyên so với các sử thi cổ điển là “sử thi Tây Nguyên vẫn được lưu truyền nguyên bản trong nhân dân, vẫn được nhân dân trình diễn trong các sinh hoạt cộng đồng, vẫn được các thế hệ học hỏi, lưu truyền và không loại trừ cả sáng tạo và hoàn thiện nữa” [106, tr.414]

Trong bài viết “Về thể loại sử thi thần thoại ở Tây Nguyên” được công bố năm

2010, Đỗ Hồng Kỳ cho rằng sử thi Tây Nguyên là sử thi thần thoại chứ không phải

là sử thi sáng thế [54] Ông chỉ ra các đặc điểm của sử thi thần thoại Mơ-nông và sử

thi cùng loại ở Tây Nguyên như: lịch sử hóa hiện thực qua con đường thần thoại, sự xuất hiện thần kì của nhân vật, cấu tạo đề tài và không gian sử thi, thời gian huyền

thoại,… Hầu hết các dẫn chứng của Đỗ Hồng Kỳ trong bài này là sử thi ot ndrong

của người Mơ-nông, chưa bao quát được sử thi Tây Nguyên

Cuối năm 2013, chuyên luận Sử thi ot ndrong cấu trúc văn bản và diễn xướng

của Nguyễn Việt Hùng ra đời Tác giả đặt vấn đề tiếp cận sử thi Tây Nguyên qua

trường hợp sử thi ot ndrong của người Mơ-nông bằng lí thuyết công thức truyền miệng (Oral-formulatic theory) Theo tác giả, công thức truyền miệng có nhiều vai trò trong việc hình thành sử thi nói chung và ot ndrong nói riêng như kết cấu sử thi,

ổn định ngữ nghĩa, tổ chức lời văn nghệ thuật, Tuy vậy, dù đặt ra nhiều vấn đề nhưng tác giả chưa khu biệt sử thi ot ndrong với các sử thi Tây Nguyên khác hoặc chỉ ra đặc trưng nổi bật của ot ndrong [40]

Gần đây nhất, tháng 4 năm 2016, luận án tiến sĩ của Triệu Văn Thịnh, mang

Trang 14

14

tên Hệ thống nhân vật sử thi M’Nông và vấn đề thể loại, có nhiều phát hiện mới

Luận án đã có những đánh giá bước đầu về đặc trưng thể loại, hệ thống nhân vật của

sử thi ot ndrong của người Mơ-nông Trong đó, tác giả khẳng định sử thi ot ndrong

là sử thi thần thoại Đặc biệt, tác giả chú ý các yếu tố môi trường diễn xướng, các

thủ pháp diễn xướng, đề tài, cốt truyện của ot ndrong Đây là cách đề cập vấn đề

hợp lí, khai thác đúng đặc trưng của sử thi Tây Nguyên Tuy nhiên, chúng tôi chưa

thấy tác giả đề cập đến cấu trúc của nhóm sử thi ot drong, chưa nhắc đến kết cấu

liên hoàn của bộ sử thi, một đặc trưng hết sức quan trọng của sử thi Tây Nguyên, nhất là các sử thi mới sưu tầm [109]

1.1.2 Tình hình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Bahnar và nhóm sử thi Dăm Giông

- Về sử thi Bahnar

+ Khái niệm sử thi Bahnar

Người Bahnar dùng từ h’mon để chỉ những sử thi của mình Từ h’mon được viết bằng nhiều cách: hơamon, hamon, hơ mon, hmon,… Sở dĩ có nhiều cách viết là

do sự khác nhau trong cách phát âm của các nhóm phương ngữ Bahnar hoặc quan niệm, cách hiểu, cách phiên âm của người sử dụng

Từ h’mon (hamon) được Paul Guilleminet đề cập lần đầu tiên trong cuốn sách

Bộ lạc Bahnar ở Kon Tum - Góp phần nghiên cứu xã hội miền núi ở Đông Dương:

“anh hùng ca hamon” [28, tr.62] Trong cuốn từ điển Bahnar-Français, Paul Guilleminet giải nghĩa h’mon (hamon) là “truyền thuyết anh hùng của người

Bahnar” [148, tr.238]

Năm 1962, trong bài viết mang tên “Bước đầu tìm hiểu về hình thức nghệ

thuật của thơ ca Tây - nguyên”, Ngọc Anh nhắc đến khái niệm hơ mon (chỉ h’mon)

và gọi là “trường ca” [3, tr.33-35] Một năm sau đó, năm 1963, khi xuất bản sách

Trường ca Tây Nguyên, các tác giả đều gọi tên các sử thi Bahnar là trường ca [79] Năm 1965, khi cho ra đời cuốn sách Truyện cổ Ba-na (02 tập), tác giả Ngọc

Anh có bài giới thiệu là “Bước đầu tìm hiểu truyện cổ dân gian Ba-na”, trong đó ông đã nhắc đến các tác phẩm mang âm hưởng anh hùng ca có độ dài “kể ngót đêm ngày không dứt” Năm 1966, trong bài viết “Tinh thần dũng cảm của nhân dân Tây

Trang 15

15

Nguyên qua một số trường ca và truyện cổ Tây Nguyên” in trên tạp chí Văn học số

8, Ngọc Anh cũng nhắc lại khái niệm trường ca, trong đó bao hàm sử thi Bahnar [4,

tr.79]

Cho đến trước những năm 1980, khái niệm về sử thi Bahnar không có gì mới,

vẫn sử dụng khái niệm trường ca để chỉ thể loại này

Năm 1982, khi giới thiệu sử thi Bahnar Đăm Noi được sưu tầm tại Gia Lai, nhóm tác giả gọi sử thi này là trường ca theo tiếng Việt và h’mon theo tiếng Bahnar [80] Đến năm 1988, khái niệm h’mon mới được Tô Ngọc Thanh định nghĩa rõ ràng trong cuốn sách Fônclo Bâhnar như sau: “Hơ Amon (tức h’mon) là một thể loại fôn-

clo đa thành phần nghệ thuật và cũng là một sinh hoạt fôn-clo mang tính chất cộng

đồng Hơ Amon thường là một chuyện kể dài, thể hiện xen kẽ bằng văn xuôi, văn vần hoặc văn xuôi đối xứng cặp Bao giờ Hơ Amon cũng được trình bày dưới dạng

hát kể, với những làn điệu âm nhạc, với ngữ điệu sắc thái, với cường độ, tốc độ, với đổi giọng, đổi tầm âm của người hát kể” [81, tr.249]

Năm 1990, N I Niculin có bài viết “H’mon Đăm Noi với vấn đề các mối quan

hệ giao tiếp và sự trùng hợp loại hình trong folklore Bana” trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số 6, Nguyễn Ngọc Thường dịch, sau in lại trong tập sách Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn Trong bài viết này, tác giả sử dụng khái niệm h’mon để chỉ sử thi Bahnar Đáng lưu ý là tác giả đã

đặt các sử thi cùng loại, cùng tộc người trong một loại hình sử thi để nghiên cứu Cách nghiên cứu của N I Niculin mở ra hướng nghiên cứu sử thi Tây Nguyên theo tộc người

Năm 1997, trong hội thảo khoa học Sử thi Tây Nguyên được tổ chức ở Buôn

Ma Thuột, khái niệm h’mon Bahnar được trình bày trong bài viết “Hmon - Một hình

thức diễn xướng dân gian của người Bana - An Khê - Gia Lai” Trong đó, Tô Ngọc Thanh có “nhắc lại mấy điều đặc biệt” về sử thi Bahnar là môi trường và nghệ nhân diễn xướng [121, tr.21] Tuy nhiên, lúc này các nhà nghiên cứu chưa bàn đến các sử thi tại Kon Tum, vì Dự án về sử thi Tây Nguyên chưa được triển khai Năm 2000,

khái niệm hơamon (tức h’mon) vẫn được nhắc lại khi giới thiệu sử thi Dyông Dư [83] Từ năm 2001, các nhà nghiên cứu thường dùng từ h’mon để chỉ sử thi Bahnar,

Trang 16

16

không ai dùng thuật ngữ trường ca, bài ca như trước đây nữa

Theo người thực hiện đề tài, h’mon chỉ một loại hình nghệ thuật đặc biệt của người Bahnar ở Tây Nguyên H’mon hội đủ tất cả những đặc điểm của loại hình sử thi nên chúng ta có thể gọi h’mon là sử thi của người Bahnar Trong đề tài này, để

thống nhất cách viết, tác giả đề tài sử dụng cách viết được nhiều người cho là phù

hợp với phát âm của người Bahnar là h’mon

+ Đặc điểm nội dung, nghệ thuật sử thi Bahnar

Năm 2003, Phan Thị Hồng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ mang tên Nhóm

sử thi dân tộc Bahnar (Kon Tum) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

- Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Năm 2006, một phần nội dung của luận án

này được in thành sách chuyên khảo Nhóm sử thi dân tộc Bahnar Tác giả đã nhận diện nhóm h’mon dân tộc Bahnar qua một số tiêu chí như: phương thức diễn xướng,

phương thức tái xuất hiện, đề tài - cốt truyện, kết cấu cốt truyện,… Đây là việc làm cần thiết trước khi đi sâu nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi này(3)

Năm 2006, Nguyễn Quang Tuệ thực hiện luận văn thạc sĩ về sử thi Bahnar có

tên: Sử thi của người Ba Na nhóm Tơlô ở huyện Kon Chro [118] Đây là một công

trình có giá trị, nhất là về kết quả điền dã Với kinh nghiệm của người nhiều năm điền dã, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian ở Tây Nguyên, Nguyễn Quang Tuệ

có những đóng góp tích cực về môi trường, không gian và nghệ nhân diễn xướng sử thi Rất tiếc, phạm vi khảo sát của đề tài này chỉ giới hạn ở huyện Kông Chro (Gia Lai) và với 6 sử thi được sưu tầm ở Gia Lai nên chưa đề cập nhiều đến nhóm sử thi Dăm Giông mà luận án này khảo sát (4)

Ngoài ra, một số bài viết khác cũng đề cập đến sử thi Bahnar như: “Trao đổi

với tác giả bài viết Bàn thêm về thuộc tính loại hình sử thi ở Việt Nam” của Lê Thị

Thùy Ly [63], “Những phát hiện mới về sử thi Ba Na ở tỉnh Kon Tum” của Võ Quang Trọng [115], Các bài viết này tập trung bàn bạc, trao đổi về khái niệm sử thi, loại hình sử thi Bahnar,… Tuy nhiên, những bài viết này chỉ mang tính chất giới thiệu các sử thi mới sưu tầm, trao đổi ý kiến về sử thi là chính

Một cách nhận diện sử thi khá mới mẻ là qua khía cạnh âm nhạc Trong bài viết “Giai điệu âm nhạc trong trường ca - sử thi Tây Nguyên”, Linh Nga Niê Kđăm

Trang 17

17

đã nhận diện sử thi Tây Nguyên ở khía cạnh âm nhạc, trong đó có sử thi Bahnar Linh Nga viết: “Giai điệu trường ca Bâhnar, có lúc là hát, có lúc là kể Hàng âm bao giờ cũng bắt đầu từ âm vực cao nhất của chủ âm, chuyển dần từng bậc theo hướng

đi xuống Ở mỗi bậc âm, giai điệu cũng chạy dài theo âm đó, tạo thành sự điệp âm

của một nốt tương tự như cách kể khan của người Êđê Ở phần cuối mỗi mạch ngắt

câu, nghệ nhân thường dùng một nốt tô điểm nhỏ (patinot) luyến láy, cùng với các

hư từ ơ ơ để báo hiệu chuyển câu hoặc chuyển đoạn Cuối câu bao giờ cũng có một

nốt luyến lên để ngắt câu Làn điệu dùng cho h’amon mang đậm yếu tố trữ tình, qua

sự cảm thụ âm nhạc và nội dung truyện kể của người nghệ nhân Tâm trạng này có thể thay đổi, tùy theo trạng thái tâm lí và đối tượng người nghe” [66] Cách nhận diện sử thi qua giai điệu âm nhạc của Linh Nga Niê Kđăm là một cách nhận diện độc đáo, góp phần phân biệt về mặt hình thức sử thi của tộc người này với tộc người khác hoặc phân biệt sử thi với các loại hình dân gian khác như truyện thơ, truyện kể của một tộc người

Tháng 8 năm 2014, luận án tiến sĩ của Lê Thị Thùy Ly, mang tên Sử thi Bahnar và số phận của nó trong xã hội đương đại [64], nghiên cứu sử thi Bahnar

trong mối quan hệ với bối cảnh lịch sử và xã hội hình thành, chỉ ra số phận của loại hình văn hóa này trong cuộc sống đương đại Đóng góp của luận án trên là nghiên cứu những sử thi mới sưu tầm và lí luận mới Rất tiếc, đây là một luận án về văn hóa dân gian nên nội dung của luận án không đi sâu vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của sử thi Bahnar, nhất là những vấn đề liên quan đến đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông

- Về nhóm sử thi Dăm Giông

Khi biên tập và giới thiệu bộ sử thi Dăm Giông, nhiều biên tập viên đã có những đánh giá ban đầu về bộ sử thi này Trong 26 bài giới thiệu về các sử thi Dăm Giông trong các ấn phẩm đã được xuất bản từ năm 2005-2007, 14 biên tập viên là các nhà nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên đã “có đóng góp đáng kể trong việc tóm tắt, sửa sang câu chữ (tiếng Việt), chú thích, chỉ ra cái hay, vẻ đẹp của câu chuyện, giúp cho độc giả tiện theo dõi, tiếp thu trước khi tiếp cận với những tác phẩm văn học dân gian có dung lượng lớn” [121, tr.24] Tuy nhiên, họ vẫn chịu chi phối bởi

Trang 18

18

“lí thuyết ba nhiệm vụ” nên các bài giới thiệu có chung một điểm là “cố gắng chứng

minh rằng tác phẩm của mình biên tập có đủ các tiêu chuẩn cần thiết, xứng đáng là một sử thi Ba Na thực thụ” [121, tr.23] Vì vậy, các biên tập viên chưa đưa ra

“những kiến giải mới, cách nhìn khác cho vấn đề đang bàn” [121, tr.24]

Một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất là các

sử thi về Dăm Giông có nằm trong một nhóm không? Nếu có thì kết cấu nhóm ấy như thế nào? Gọi tên kết cấu đó là gì? Có bao nhiêu nhân vật Giông trong nhóm sử thi?

Trong bài giới thiệu sử thi Giông làm nhà mồ, Võ Quang Trọng nhận xét về

mối quan hệ giữa các tác phẩm trong bộ sử thi Dăm Giông: “Nhìn chung, các tác phẩm thuộc bộ sử thi này có tính độc lập tương đối, nghĩa là mỗi tác phẩm có thể đứng riêng nhưng khi xâu chuỗi, tập hợp lại sẽ thành một bộ sử thi lớn” [130, tr.19]

Võ Quang Trọng nhận định về vai trò của nhân vật người anh hùng và mối quan hệ

trong các sử thi có liên quan như Dăm Giông, Dăm Duông: giữa các phần các tác

phẩm sử thi Bahnar và Xơ-đăng chẳng những có mối quan hệ mà hơn thế, nhân vật trung tâm của tác phẩm Dăm Giông hay Duông của sử thi Xơ-đăng chính là một nhân vật “sống động, xuyên suốt” nhiều tác phẩm trong “hệ thống sử thi” của các tộc người này Điều này thể hiện rất rõ trong thực tế diễn xướng sử thi Sau nhiều năm nghiên cứu môi trường diễn xướng sử thi Tây Nguyên, Nguyễn Quang Tuệ nhận định: “Trên văn bản, đa phần các tiêu đề ít nhiều đều có liên quan đến Giông (và Duông), còn trên thực tế, thường người bản địa sẽ không thể không kể những việc liên quan đến đến Giông (và Duông) trong phần lớn các sử thi của dân tộc mình [121, tr.37]

Năm 2005, Phan Đăng Nhật có bài “Thử lí giải hiện tượng có nhiều sử thi Bana mang tên Dyông”(5) Tác giả bài viết này đã sử dụng 7 sử thi được nhiều người sưu tầm từ các cộng đồng Bahnar khác nhau ở các tỉnh Bình Định, Gia Lai, Kon Tum để khảo sát các vấn đề về lai lịch của Dyông, đặc điểm của Dyông, các chiến tích và công trạng của Dyông Đáng lưu ý là Phan Đăng Nhật cho rằng nhân vật Dyông (hay Giông) là nhất quán trong các sử thi Bahnar và sử thi Bahnar là sử thi liên hợp [74]

Trang 19

19

Hai công trình của Phan Thị Hồng là chuyên khảo Nhóm sử thi dân tộc Bahnar [35] và đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ có tên Hệ thống nhân vật trong mối quan hệ với các đề tài - cốt truyện của sử thi anh hùng Tây Nguyên [34] có đề

cập đến vấn đề thể loại, cốt truyện, đề tài, hệ thống nhân vật, phương thức tái xuất hiện nhân vật của sử thi Bahnar Tác giả của hai công trình này đã đặt các sử thi

trong mối quan hệ đề tài - tình huống - hành động để khảo sát và nêu được các dạng kết cấu cốt truyện của sử thi, gồm kết cấu truyện đơn và kết cấu truyện phức Theo

đó, tác giả đặt nhân vật trong mối quan hệ với các đề tài - cốt truyện để khảo sát,

gồm nhân vật anh hùng với các nhân vật phụ khác qua 19 sử thi do chính tác giả sưu tầm(6) Rất tiếc, đối tượng nghiên cứu chính của các công trình của Phan Thị Hồng

là 19 sử thi dạng tư liệu do tác giả sưu tầm tại Kon Tum (sau này có 6 sử thi được in gộp trong 3 cuốn sách từ năm 1996 - 2002) chứ không phải những sử thi Bahnar mà chúng tôi đang khảo sát (Mặc dù đến cuối năm 2007, Dự án về sử thi Tây Nguyên

đã xuất bản được 75 tác phẩm in trong bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên) Do

vậy, những vấn đề liên quan đến nội dung, nghệ thuật của 26 tác phẩm sử thi Dăm Giông được khảo sát trong luận án này chưa được Phan Thị Hồng bàn đến

Trong công trình Sử thi Tây Nguyên trong đối sánh với sử thi thế giới từ góc nhìn thể loại, Nguyễn Thị Mỹ Lộc có những nhận định khác về nhân vật mang tên

Giông trong các sử thi Bahnar: “Các chàng Giông trong sử thi Ba Na lại là những chàng trai nghèo khó”, “Giông là biểu tượng của khát vọng hòa bình của dân tộc Ba Na-Việt Nam”, người anh hùng Giông mang tính chất “nửa thần linh nửa trần tục”, gắn với môi trường hết sức trần tục với nhiều khuyết điểm như “tự ti”, “không tự giác”, “tính cách có chiều thụ động”, “bị hoàn cảnh nhấn chìm”,… [58, tr.42-49]

Ở góc độ nghiên cứu văn hóa, Nguyễn Thị Kim Vân có nhắc đến các sử thi

Dăm Giông trong sách Tín ngưỡng và tôn giáo dân tộc Bahnar, Jrai Theo tác giả,

hệ thống các thần linh của người Bahnar như một thần phả của tộc người này, gồm

thần sáng tạo (Bok Kei Dei - Yă Kung Keh), tổ tiên (Bok Sơgơr - Yă Sơgơr), con cháu (Rôk, Chăm, Set, Xin, Giông, Giơ , L i, ), các vị thần có ảnh hưởng lớn trong

xã hội như thần Sấm sét (Bok Glaih), Thần Lúa (Yă Hri),… Đáng lưu ý là hầu hết tên tuổi các vị thần linh này được nhắc đến hoặc xuất hiện trong các sử thi Dăm

Trang 20

20

Giông Đặc biệt, Giông, nhân vật trung tâm của nhóm sử thi, được nhắc đến như

thần bản mệnh của các ngôi làng người Bahnar: “Trong số các thần bản mệnh của

người Bahnar, có nhiều vị là những nhân vật anh hùng trong các sử thi của họ như Rôk, Set, Diông” [125, tr.39] Nhận định này cho thấy nhân vật anh hùng mang tên Giông trong nhóm sử thi Dăm Giông nằm trong hệ thống tín ngưỡng của người Bahnar và được cộng đồng cư dân bản địa tôn kính Điều đó cũng cho thấy giữa các

sử thi trong nhóm sử thi Dăm Giông có một mối quan hệ xuyên suốt là nhân vật anh hùng Dăm Giông Đây cũng là một cơ sở quan trọng để đặt các sử thi mang tên Dăm Giông trong cùng một nhóm để nghiên cứu

Nhìn chung, hầu hết các ý kiến về sử thi Dăm Giông chỉ dừng lại ở việc tóm tắt và nhận xét sơ lược về giá trị nội dung, nghệ thuật của các sử thi Nhiều ý kiến cho rằng giữa các tác phẩm sử thi trong nhóm sử thi Dăm Giông có mối quan hệ Tuy nhiên, “cho đến nay, việc chỉ ra sự liên kết giữa các sử thi Ba Na vẫn chưa được thực hiện” [120, tr.49] Việc xác định có một nhân vật Giông hay nhiều nhân vật Giông hoặc Giông chỉ là tên của một kiểu nhân vật cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi Thậm chí một số ý kiến cho rằng có tác phẩm trong nhóm sử thi này chưa phải là sử thi Một số công trình dành nhiều công sức để nghiên cứu sử thi Bahnar tại Kon Tum và các sử thi về nhân vật Giông như các công trình của Phan Thị Hồng vẫn chưa có sức thuyết phục Vì các sử thi mà Phan Thị Hồng lấy làm đối tượng nghiên cứu là các sử thi mà tác giả tự sưu tầm trong hai thập niên 80 và 90 của thế

kỉ XX tại tỉnh Kon Tum, không phải là các sử thi về Dăm Giông do Viện Khoa học

Xã hội đã sưu tầm, biên dịch, xuất bản từ 2001-2007 Do vậy, những nghiên cứu về

sử thi Bahnar và nhóm sử thi Dăm Giông mới sưu tầm từ năm 2001-2007 vẫn chưa

có nhiều kết quả

1.2 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những thành tựu

Những nhà nghiên cứu người Pháp là những người đầu tiên phát hiện, sưu

tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên Đóng góp của họ là phát hiện, sưu tầm và giới thiệu sử thi Tây Nguyên với thế giới bằng tiếng Pháp và tiếng dân tộc Ê-đê Họ

đã định danh các sử thi Tây Nguyên như Đăm Xăn, Đăm Di bằng thuật ngữ anh

Trang 21

21

hùng ca (chanson de geste, chant épicque, épopée) Họ so sánh và đánh giá sử thi Đăm Xăn có giá trị như những sử thi của châu Âu như Iliad và Odyssey của người

Hy Lạp và Bài ca chàng Rôlăng (Chanson de Roland) của Pháp [82, tr 64] Về mặt

folklore, những nhà nghiên cứu người Pháp đã xác định sử thi Bahnar “là những câu chuyện dài, thường có vần điệu, hát kể về nhiều vấn đề của cộng đồng, trong một thời đại đã qua, mà chiến tranh là một nội dung đáng kể” [121, tr.18] Trong những nghiên cứu bước đầu, các nhà nghiên cứu Pháp đã đề cập đến vấn đề đề tài của sử thi Tây Nguyên Jacques Dournes cho rằng: “Đề tài cơ bản của bản anh hùng ca này

là nhu cầu vươn lên của con người vốn sinh ra đã mang tinh thần không thỏa mãn” [73, tr.289] Những nhận định này của Jacques Dournes mở đầu cho việc nghiên cứu nội dung, nghệ thuật của các sử thi Tây Nguyên

Từ năm 1956 đến 1975, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có nhiều công trình khẳng định giá trị của sử thi là những tác phẩm “có giá trị lớn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật” [79, tr.88] Riêng về mặt thể loại, các nhà nghiên cứu Việt

Nam gọi sử thi Tây Nguyên với nhiều thuật ngữ khác nhau như: truyền thuyết, bài

ca, trường ca, anh hùng ca, sử thi, sử thi anh hùng,… Ngoài các nhà nghiên cứu Việt Nam, tiến sĩ N J Niculin đã đề cập đến đặc trưng diễn xướng và coi đó như

một đặc trưng tiêu biểu của sử thi [89, tr.405] Đây là một ý kiến có ý nghĩa quan trọng, giúp cho việc nghiên cứu sử thi đúng hướng, đúng đặc trưng thể loại

Trong giai đoạn từ năm 1976 đến năm 2000, nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi được đẩy mạnh và có kết quả tốt, nhất là các luận án tiến sĩ Kết quả này làm cho việc nghiên cứu sử thi đều khắp ở các dân tộc Tây Nguyên

Các sử thi Tây Nguyên như Xinh Nhã, Đam Di, Đam Đroăn, Khinh Dú, Y Prao,

Y Ban,… được sưu tầm và dịch sang tiếng Việt, phổ biến rộng rãi Các sử thi

được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn và được đưa vào giáo trình của trường đại học Hầu hết các công trình đều khẳng định giá trị to lớn của sử thi, cung cấp những lí luận cơ bản và đưa ra nhiều thuật ngữ khác nhau về sử thi như:

sử thi anh hùng, sử thi dân gian, sử thi thần thoại, sử thi cổ sơ (archaic epic), sử thi

cổ đại (antique epic),…[53] Đáng lưu ý là việc xác định vùng sử thi Tây Nguyên

và dự đoán về trữ lượng sử thi ở Tây Nguyên của Phan Đăng Nhật Việc này giúp

Trang 22

22

cho công tác đầu tư sưu tầm và nghiên cứu sử thi đúng hướng, đạt hiệu quả cao

Từ năm 2001 đến nay, việc nghiên cứu sử thi Tây Nguyên tập trung vào việc giới thiệu, xuất bản và giới thiệu các sử thi mới sưu tầm Nội dung của các bài giới thiệu tập trung vào việc phân loại sử thi, tìm hiểu sơ lược nội dung, hình tượng nhân vật người anh hùng, hình thức nghệ thuật của tác phẩm và hình thức diễn xướng sử thi Điểm nổi bật của các công trình trong thời gian này là vận dụng nhiều phương pháp mới để nghiên cứu sử thi và cho thấy kết quả khả quan(7)

Một trong những phát hiện quan trọng của các nhà nghiên cứu đối với sử thi mới sưu tầm là những “bộ sử thi có cấu trúc liên hoàn” [45] với nhiều cách gọi khác

nhau như chuỗi sử thi hay sử thi liên hoàn, bộ sử thi liên hoàn… Việc xác định kiểu

sử thi liên hoàn không chỉ giúp cho việc sắp xếp, phân loại các sử thi mới được sưu tầm theo hệ thống mà còn giúp cho việc nghiên cứu sử thi Tây Nguyên ở góc độ mới, nghiên cứu sử thi theo nhóm chứ không phải những tác phẩm sử thi riêng lẻ Qua đó có thể xác định đặc điểm văn hóa tộc người của từng nhóm sử thi

Nhìn chung, từ năm 1927 đến nay, việc sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Dăm Giông, có nhiều thành tựu đáng kể, nhất là

số lượng các sử thi Tây Nguyên được sưu tầm từ năm 2001 đến năm 2007 Các nhà nghiên cứu đã có công xác định thể loại, đặc điểm nghệ thuật sử thi của các tộc người như Ê-đê, Mơ-nông,… Một số công trình khác đi vào nghiên cứu nội dung, nghệ thuật, đặc trưng diễn xướng của sử thi Tất cả các công trình ấy làm cho bức tranh về sử thi Tây Nguyên thêm phong phú, hấp dẫn Tuy vậy, việc nghiên cứu các

sử thi mới được sưu tầm trong thời gian gần đây vẫn chưa có công trình đột phá Chỉ có một số ít các nhà nghiên cứu quan tâm đến chúng với tính chất thăm dò, định hướng, phân loại Nói cách khác, còn nhiều vấn đề tồn tại và nhiều vấn đề cần được giải quyết đối với các sử thi mới sưu tầm, trong đó có nhóm sử thi Dăm Giông mà luận án này đang nghiên cứu

1.2.2 Những tồn tại và những vấn đề cần giải quyết

- Về sử thi Tây Nguyên nói chung

Ở giai đoạn đầu tiên, mặc dù các nhà nghiên cứu Pháp có công đầu trong việc phát hiện, sưu tầm và bước đầu định danh sử thi Tây Nguyên nhưng họ chưa đánh

Trang 23

23

giá đúng mức giá trị sử thi Tây Nguyên với tư cách là một sáng tạo nghệ thuật dân gian Họ chưa xác định được thể loại của sử thi, chưa dịch các sử thi nêu trên ra tiếng Việt và phân tích giá trị nghệ thuật của chúng Các tác giả Pháp chỉ quan tâm

đến các sử thi ở khía cạnh dân tộc học Léopold Sabatier chỉ xem Đăm Xăn như là

“một bản thuyết minh về phong tục, một bài học về xã hội học và đạo đức của người Rađê” hoặc “là một điều ban bố đơn giản về luật nối dây” [89, tr.397]

Georges Condominas thì cho rằng: “Đăm Xăn là một văn bản giáo huấn”, trong đó đạo đức được kể lại dưới dạng anh hùng ca và nhân vật Đăm Xăn là “một con người

thụ động” [89, tr.398] Những nhận xét nhiều chiều của các nhà nghiên cứu Pháp cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá sử thi Tây Nguyên ở giai đoạn ban đầu còn nhiều bất cập

Ở giai đoạn từ năm 1956 đến năm 2000, việc sưu tầm sử thi Tây Nguyên tiến hành nhỏ lẻ và không quy mô, bài bản Trước năm 1975, do tình tình đất nước chiến tranh và khó khăn nên việc sưu tầm sử thi gián tiếp qua các cán bộ người dân tộc tập kết ra Bắc Việc nghiên cứu sử thi cũng chỉ ở giai đoạn nhận thức sơ khởi về lí luận, thậm chí cách gọi sử thi không thống nhất, lúc thì gọi là

trường ca, lúc thì bài ca, lúc thì anh hùng ca,… Sau ngày đất nước thống nhất,

việc sưu tầm và nghiên cứu vẫn còn hạn chế, do đất nước khó khăn, điều kiện nghiên cứu, thực địa, sưu tầm còn hạn chế

Từ năm 2001 đến nay, việc sưu tầm, nghiên cứu sử thi hết sức thuận lợi và

đạt nhiều thành tựu to lớn Chỉ tính riêng trong Dự án Điều tra sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên từ năm 2001 đến năm 2007 đã

có hơn 800 sử thi của các dân tộc được sưu tầm Tuy nhiên, công tác sưu tầm, biên dịch, xuất bản còn có những hạn chế trong việc nhận thức lí luận, phân loại,

định danh tác phẩm Các khái niệm liên quan đến sử thi mới sưu tầm sử thi đơn, sử thi chuỗi, sử thi liên hoàn, chuỗi sử thi, h’mon vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau

Nguyễn Xuân Kính nhận xét: “Trong giới nghiên cứu ở Việt Nam, cách hiểu về sử thi liên hoàn cũng chưa thống nhất” [44] Các công trình nghiên cứu chủ yếu là các bài viết nhỏ lẻ, mang tính chất thăm dò, khám phá, thiếu những công trình chuyên sâu hoặc mang tính đột phá mở đường Một số công trình vẫn dừng lại

Trang 24

24

nghiên cứu các sử thi đã sưu tầm trước đây khá lâu và tập trung vào một số tác phẩm tiêu biểu, chủ yếu là sử thi Ê-đê, nên chưa khái quát hết đặc trưng của sử thi Tây Nguyên, nhất là đối với số lượng sử thi đồ sộ được sưu tầm gần đây Việc nghiên cứu sử thi thời gian này thường dựa trên những sử thi kinh điển thế giới để

so sánh, khảo sát nên chưa làm rõ những đặc trưng nổi bật của sử thi Tây Nguyên Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã xem nhẹ các môn khoa học liên ngành như lịch sử, dân tộc học, văn hóa, khảo cổ học nên việc đánh giá, nhận định sử thi Tây Nguyên chưa đúng với giá trị của nó hoặc còn sơ sài, phiến diện Cùng với đó, công tác nghiên cứu sử thi Tây Nguyên chưa chú trọng công tác điền dã mà chỉ dựa chủ yếu vào văn bản sử thi bằng tiếng Việt được in thành sách, không chú ý tìm hiểu tiếng dân tộc, không khảo sát không gian, môi trường diễn xướng sử thi, không gặp gỡ, trao đổi với nghệ nhân,… Đặc biệt, việc nghiên cứu sử thi chưa chú trọng đến đặc điểm diễn xướng của thể loại theo từng tộc người như

khan của Ê-đê, hri của người Jrai, h’mon của người Bahnar Tất cả những điều đó

làm hạn chế rất nhiều đến việc nghiên cứu sử thi Tây Nguyên

- Về sử thi Bahnar và nhóm sử thi Dăm Giông

Như đã lược thuật, các công trình nghiên cứu về sử thi Bahnar và nhóm sử thi Dăm Giông chưa có tính phát hiện đột phá Ngoài một số công trình hiếm hoi từ năm 1963 đến nay, các bài giới thiệu về các sử thi Bahnar và sử thi Dăm Giông mới sưu tầm từ năm 2001 đến 2007, chỉ dừng lại ở bài giới thiệu sách trong các ấn phẩm

sử thi Tây Nguyên mới xuất bản Một số bài nghiên cứu khác chỉ mang tính định hướng, gợi mở chứ chưa đặt vấn đề bao quát và đi sâu vào từng nhóm tác phẩm hoặc thể loại sử thi của từng tộc người Nhận định sau đây của Nguyễn Quang Tuệ, một thành viên tham gia giới thiệu sử thi mới xuất bản, cho thấy điều đó: “Rất có thể áp lực về thời gian biên tập, yêu cầu của một bài giới thiệu hoặc sự trải nghiệm đối với sử thi chưa để đa số người viết lời giới thiệu cho sử thi Ba Na kể trên mạnh dạn nêu ra những kiến giải mới, cách nhìn khác cho vấn đề đang bàn” [121, tr.24]

Ngay cả lí luận chung để khảo sát các sử thi này (lí thuyết ba nhiệm vụ: lấy vợ, làm lụng và đánh giặc do Phan Đăng Nhật đề xuất) cũng không được hoàn toàn thống

nhất Nguyễn Quang Tuệ nêu ra sự bất cập của lí thuyết này: Trong những trường

Trang 25

25

hợp cụ thể khác “đã nhìn thấy những điểm chưa bao quát của lí luận trên… Dường như lí thuyết ba nhiệm vụ của người anh hùng sử thi đã bị thực tế sử thi Ba Na thử thách ít nhiều, khi người ta thấy hàng loạt tác phẩm loại này sự khuyết một (thậm chí vài) trong các nhiệm vụ cơ bản trên, đặc biệt là nhiệm vụ đánh giặc hay chiến tranh” [121, tr.24]

Khi đánh giá về sử thi Bahnar, hầu hết các ý kiến đều công nhận rằng có một

thể loại folklore đặc thù của người Bahnar là h’mon Tuy nhiên, có nhiều cách gọi tên và phát âm khác nhau về khái niệm sử thi Bahnar (hơ amon, hamon, h’mon, hơ mon) và cách dịch các khái niệm này sang tiếng Việt cũng chưa thống nhất (hát kể, trường ca tự sự) Chưa có công trình nào nêu được đặc trưng nghệ thuật của nhóm

sử thi Dăm Giông

Một trong những công trình liên quan gần nhất đến đề tài này là Nhóm dân tộc

sử thi Bahnar [35] của Phan Thị Hồng Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của công

trình trên không phải là đối tượng của luận án này Cụ thể là tác giả Phan Thị Hồng nghiên cứu trên 19 sử thi Bahnar do chính tác giả sưu tầm từ năm 1986 đến năm

1996 Còn đối tượng nghiên cứu của luận án này là 26 sử thi Dăm Giông được sưu tầm và xuất bản từ năm 2001 đến năm 2007 Về nội dung của các sử thi cũng có nhiều khác biệt

Điểm đáng lưu ý là kho tàng sử thi Tây Nguyên mới sưu tầm có nhiều đặc điểm mới lạ(8) Chúng khác xa những gì chúng ta đã nghiên cứu trước đây Chẳng hạn có sự liên quan của các sử thi cùng tộc người như nhóm sử thi về Tiăng, Lênh của dân tộc Mơ-nông, nhóm sử thi về Dăm Duông của dân tộc Xơ-đăng, nhóm sử

thi về Dăm Giông của dân tộc Bahnar mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là sử thi liên hoàn hoặc sử thi chuỗi Đặc trưng nổi bật của các sử thi mới sưu tầm là các sử thi sống, nhất là nhóm sử thi Dăm Giông Chính đặc trưng này đã tạo nên sự khác biệt

của sử thi Tây Nguyên so với sử thi thế giới

Theo ý kiến của người thực hiện đề tài này, khái niệm sử thi liên hoàn, sử thi chuỗi đều chỉ các sử thi có mối quan hệ mật thiết với nhau qua đề tài, nhân vật, kết

cấu,… Trong đó, các sử thi có thể vừa tồn tại như một tác phẩm độc lập, vừa có thể liên kết với nhau trong nhóm như một chỉnh thể nghệ thuật Đặc điểm dễ nhận biết

Trang 26

26

của các sử thi này đều kể về một nhân vật anh hùng như Dăm Duông, Dăm Giông

hay Tiăng, Lênh Khái niệm sử thi liên hoàn hay sử thi chuỗi chỉ một nhóm gồm nhiều sử thi để phân biệt với các tác phẩm sử thi đơn, hay sử thi độc lập Trong đề tài này, người viết chỉ sử dụng thuật ngữ “nhóm” để chỉ 26 sử thi kể về người anh

hùng Dăm Giông được sưu tầm ở Gia Lai và Kon Tum

Đối với nhóm sử thi Dăm Giông, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu Nhiều vấn đề được đặt ra cần giải quyết như: các sử thi về Dăm Giông có liên quan với nhau không, mối liên kết giữa các sử thi như thế

nào,… Chỉ riêng tên gọi về nhóm sử thi vẫn chưa thống nhất Các khái niệm bộ sử thi liên hoàn, chuỗi sử thi, sử thi xâu chuỗi, sử thi đơn, sử thi độc lập, sử thi cổ sơ,

sử thi thần thoại… vẫn chưa là khái niệm khả dĩ Nếu gọi là nhóm sử thi thì chúng

có kết cấu ra sao, hệ thống nhân vật của chúng như thế nào, đâu là những đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu,… Tất cả những vấn đề ấy vẫn còn là câu hỏi lớn cho những người quan tâm đến nhóm sử thi Dăm Giông Do vậy vấn đề đặt ra cho đề tài này là xác định đặc điểm nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông Cụ thể là xác định được kết cấu, hệ thống nhân vật và các đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của nhóm sử thi Bên cạnh đó, xác định đặc trưng tộc người của nhóm sử thi qua so sánh với sử thi Tây Nguyên, sử thi Đông Nam Á và sử thi thế giới

Tiểu kết Chương 1:

Quá trình sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên từ năm 1927 đến nay có thành tựu nhất định nhưng cũng còn nhiều vấn đề tồn tại Vấn đề tồn tại lớn nhất của việc nghiên cứu sử thi hiện nay là lí luận chưa kịp với thực tiễn nghiên cứu Cơ

sở lí luận để nghiên cứu sử thi vẫn còn dựa trên những sử thi cổ điển của Hy Lạp và

Ấn Độ, vẫn lấy văn bản sử thi làm đối tượng nghiên cứu chính Do vậy chưa khám phá hết vẻ đẹp tiềm ẩn của sử thi Tây Nguyên Riêng về nhóm sử thi Dăm Giông, một nhóm sử thi mới sưu tầm có nhiều giá trị độc đáo, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu đột phá và chuyên sâu Phương pháp nghiên cứu sử thi của các công trình trong thời gian vừa qua chưa chú trọng nhiều đến các môn khoa học liên ngành và đặc trưng diễn xướng sử thi Nhiều nhà nghiên cứu chưa chú ý hoặc không có điều kiện điền dã môi trường, không gian diễn xướng sử thi nên ảnh

Trang 27

27

hưởng không nhỏ đến hiệu quả nghiên cứu Do vậy, vấn đề đặt ra với luận án này là tiếp cận nhóm sử thi Dăm Giông với phương pháp tích cực, chú trọng phương pháp điền dã, nghiên cứu sâu sắc môi trường và không gian diễn xướng sử thi, so sánh, đối chiếu với sử thi trong khu vực Đông Nam Á và thế giới (ngoài sử thi Hy Lạp và

Ấn Độ) nhằm phát hiện và định danh đặc điểm nghệ thuật nhóm sử thi Dăm Giông

Trang 28

28

CHƯƠNG 2 KẾT CẤU NHÓM SỬ THI DĂM GIÔNG - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DIỄN XƯỚNG

2.1 TỘC NGƯỜI BAHNAR VÀ KHÔNG GIAN DIỄN XƯỚNG H’MON

2.1.1 Tộc người Bahnar - chủ nhân của loại hình diễn xướng h’mon

- Tên gọi, nguồn gốc, lịch sử của tộc người Bahnar

Tên dân tộc Bahnar có nhiều cách ghi khác nhau như: Ba Na, Ba na, Bâhnar, Bơhnar, trong đó người Bahnar chỉ chấp nhận cách ghi Bơhnar Tuy nhiên, cách ghi Bahnar được sử dụng nhiều nhất trong nhiều tài liệu

Người Bahnar có nhiều nhóm địa phương khác nhau gọi theo tên cư trú Người Bahnar chia thành hai nhóm chính: Nhóm người sống từ đèo Măng Yang về

dưới thấp là nhóm Bahnar Ala Kông (người Bahnar ở dưới núi, phía Đông) và nhóm Bahnar Kpăng Kông (người Bahnar ở trên núi, phía Tây) Nhóm Bahnar Ala Kông gồm các nhóm Bahnar Tơ Lô, Bahnar KonKdeh, Bahnar Kriêm,… Nhóm Bahnar Kpăng Kông gồm các nhóm Bahnar Roh, Bahnar Rơ Ngao, Bahnar H’neng, Bahnar Kơlan, Bahnar Kon Tum [21] Theo Guilleminet, “sự phân biệt

giữa người Bahnar ở phía Đông và phía Tây không những về mặt địa lí, mà còn rất

rõ ràng về mặt ngôn ngữ và văn hóa” [28, tr.06]

Chưa có tài liệu nào tin cậy nói về nguồn gốc và sự chuyển cư ban đầu của người Bahnar Theo Đặng Nghiêm Vạn, “Xưa kia họ (người Bahnar) có thể ở đồng bằng và họ là một cư dân cổ xưa được người Chàm ghi trong bia kí của họ là Mađa

cư trú ở vùng ven biển Nghĩa Bình Trên thực tế, có thể xem người Ba na là một trong những cư dân sinh sống lâu đời ở cao nguyên Địa vực của họ có thể thu hẹp dần về phía Nam do sự có mặt của người Gia rai và Ê đê và buộc họ phải chuyển dần lên phía Bắc và phía Tây” [123, tr.106] Những ghi nhận ở trên cho chúng ta hình dung người Bahnar là cư dân sống lâu đời ở Tây Nguyên Có thể xem họ là cư dân bản địa của vùng đất này cùng với các dân tộc khác như Jrai, Ê-đê, Xơ-đăng

Trang 29

29

- Địa bàn cư trú và dân cư

Người Bahnar cư trú trên địa bàn vùng cao nguyên và rừng núi rộng lớn, trải dài theo hướng Bắc Nam, nằm ở phần Đông Bắc Tây Nguyên, diện tích ước khoảng 9.000km2 bao gồm phần lớn khu vực phía Đông của tỉnh Gia Lai, Kon Tum và vùng núi phía Tây của tỉnh Bình Định và Phú Yên Phía Bắc của khu vực người Bahnar là địa bàn cư trú của dân tộc Xơ-đăng, phía Nam giáp với người Jrai và phía Đông giáp với người Việt Các nhóm địa phương Bahnar cư trú trên những khu vực riêng biệt: nhóm Bahnar Kon Tum, nhóm Rơ Ngao cư trú xung quanh thành phố Kon Tum, nhóm Giơ Lơng ở huyện Kon Plông (KonTum), nhóm Tơ Lô, Bơ Nâm, KonKdeh ở các huyện An Khê, Mang Yang, Kon Chro của tỉnh Gia Lai [25, tr.21-22] Dân tộc Bahnar là dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơme có dân số đông nhất ở Tây Nguyên và thứ hai ở Việt Nam Dân tộc Bahnar là dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơme có dân số đông nhất ở Tây Nguyên và thứ hai ở Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam tính đến ngày 01/4/2009, tổng số dân số của dân tộc Bahnar có ở Việt Nam là 227.456 người, cư trú ở 51/ 63 tỉnh thành Việt Nam Trong đó tập trung ở Gia Lai (150.416 người), Kon Tum (53.997 người), Phú Yên (4.145 người), Bình Định (18.175 người), Đăk Lak (301 người), Bình Thuận (133 người)

- Các hoạt động mưu sinh

Các kết quả nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn Tây Nguyên cho chúng ta hình dung được đời sống sinh hoạt, mưu sinh của cư dân Tây Nguyên thời tiền sử Săn bắn và hái lượm là phương thức truyền thống và chủ yếu của người Bahnar khi chưa biết canh tác trên nương rẫy hoặc khi mất mùa, trái vụ Săn bắt thường được thực hiện vào mùa khô và thời điểm trước khi thu hoạch Người Bahnar có dụng cụ săn bắn và vũ khí truyền thống khá phong phú

Phương thức canh tác chủ yếu của người Bahnar là trồng trọt, phổ biến nhất là

trồng lúa rẫy Phương thức dưỡng canh của người Bahnar hết sức độc đáo Thông thường diện tích canh tác của một gia đình gồm có đất đương canh và đất hưu canh

Mỗi đám rẫy được canh tác một năm rồi bỏ hóa 8 đến 10 năm sau, khi độ màu của

đất phục hồi thì họ quay lại canh tác Phương thức dưỡng canh bằng cách luân canh

Trang 30

30

như vậy vừa bảo vệ được môi trường vừa có quỹ đất phong phú để canh tác hiệu quả và bền vững Việc trồng trọt của người Bahnar theo một nông lịch được quy định rất chặt chẽ Một năm chia làm hai thời kì, thời kì sản xuất gồm 10 tháng và 2

tháng nghỉ ngơi gọi là ning nơng [123, tr 110] Tháng ning nơng là thời gian tổ

chức nhiều lễ hội trong năm Những hoạt động lao động sản xuất truyền thống này được phản ánh khá chân thực trong các sử thi Dăm Giông

Người Bahnar chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, dê, lợn, chó, gà,… được chăn nuôi theo lối nửa chăn dắt nửa thả rông Người Bahnar không nuôi voi nhưng cũng biết săn voi và nuôi ngựa rất giỏi [123, tr.114-116] Họ cũng có nhiều nghề thủ công như rèn, đan lát, làm gốm, Nghề rèn của người Bahnar không giỏi và chuyên nghiệp bằng người Tơ đrá nhưng có thể cung cấp các dụng cụ lao động, vũ khí chiến đấu trong cộng đồng [123, tr.118]

- Thiết chế xã hội

Có thể xem plei (làng) là “đơn vị xã hội - văn hóa chỉnh thể, mang những nét chung của của xã hội - văn hóa cộng đồng người Bahnar Mỗi plei là một dạng công xã nông thôn Mỗi cư dân trong plei có chung một hệ thống những biểu hiện

về vũ trụ quan, nhân sinh quan, thế giới quan, chung một luật tục, một hệ thống lễ

nghi, một hệ thống các sinh hoạt của fôn-clo” [81, tr.26] Mỗi plei có từ 20 đến 70

nóc nhà, tương đương với chừng ấy hộ gia đình Đứng đầu làng là chủ làng, thường

là người giàu có và có uy tín với cộng đồng Chủ làng thay mặt cho làng tổ chức các công việc liên quan đến cộng đồng làng như làm nhà rông, tổ chức lễ hội, cúng tế thần linh, lãnh đạo trai làng chống ngoại xâm, bảo vệ cộng đồng Ngoài ra, chủ làng còn là người đứng ra phân xử các vụ việc vi phạm luật tục của làng

Lịch sử của dân tộc Bahnar trên vùng đất Tây Nguyên diễn ra rất sôi động và phong phú Kết quả khảo cổ học ở đây cho thấy đây là vùng đất giao thương rộng rãi với nhiều vùng miền như Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, vùng duyên hải Việt Nam(9) Với không gian giao thương rộng lớn như vậy nên xã hội Tây Nguyên luôn sôi động và phong phú, trong đó không thể không kể đến các cuộc tranh chấp lãnh thổ, cướp bóc, nợ nần, đòi danh dự… Quá trình ấy hình thành nên tộc người và cố kết tộc người, hình thành các liên minh bộ lạc, sự giao thoa, pha tạp giữa các nhóm

Trang 31

31

chủng tộc và ngôn ngữ, sự hình thành các cộng đồng dân cư trên các vùng đất mới Trong đó nổi bật là nạn săn bắt và buôn bán nô lệ kéo dài suốt nhiều thế kỉ Thậm chí đến nửa thế kỉ XIX, nạn bắt, cướp nô lệ vẫn diễn ra thường xuyên ở các cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên, trong đó việc bắt, cướp, mua bán nô lệ giữa vùng dân tộc Bahnar ở Gia Lai, Kon Tum và các tỉnh vùng duyên hải, vùng Nam Lào diễn ra gay gắt [15] Tuy nhiên, người Bahnar, nhất là người Bahnar ở Kon Tum, vốn hòa hiếu nên chiến tranh xảy ra là điều bất đắc dĩ Tất cả những đặc điểm lịch

sử, xã hội sôi động ấy của Tây Nguyên được thể hiện rõ nét trong các sử thi Dăm Giông

Người Bahnar theo chế độ phụ quyền và hôn nhân một vợ một chồng(10) Tuy nhiên, tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn thể hiện rõ trong các mối quan hệ tộc họ, gia đình và hôn nhân thể hiện rõ trong truyện cổ, sử thi Trong nhiều sử thi Bahnar, vai trò của người phụ nữ luôn được đề cao Tuy chưa phải là những anh hùng xuất chúng tạo nên những kì tích lẫy lừng nhưng các nhân vật nữ trong sử thi thể hiện quyền uy tuyệt đối trong các cuộc chiến Yếu tố này cho thấy tàn dư của chế độ mẫu

hệ còn ảnh hưởng khá sâu sắc trong xã hội tộc người Bahnar Trong hôn nhân, người Bahnar tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời và việc cưới xin đều theo phong tục truyền thống(11) Các thiết chế tổ chức xã hội nêu trên đây chính là cơ sở để hình thành các xung đột mang tính sử thi cũng như không gian hoạt động của nhân vật mang tính đặc thù trong các sử thi Dăm Giông

sàn rộng thấp hơn sàn nhà thường gọi là prà dùng để đặt cối giã gạo Nhà thường ít

cửa, chỉ có một cửa ra vào được trổ ở phía Bắc hoặc Nam Trong nhà được ngăn ra nhiều phòng để riêng cho những người có vợ chồng Thường có hai phòng ở hai hồi, một cái ở phía Đông và một cái ở phía Tây; Riêng phòng ở phía Đông (tức là

Trang 32

32

phía sống) chỉ dành cho bố mẹ Ở giữa nhà có một gian trống gọi là ngah, giữa gian

ấy đặt một cái bếp Đây là khu sinh hoạt chung của gia đình, dùng để ăn uống, làm lụng, để vật dụng, tiếp khách Giữa làng là ngôi nhà chung của động đồng gọi là nhà rông(12) Trang phục của người Bahnar mang phong cách thẩm mỹ riêng biệt(13)

Theo tài liệu của Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, màu chủ đạo trên trang phục của người Bahnar là đen chàm và trắng, kẻ viền màu đỏ gạch, hoa văn đơn giản

Về ngôn ngữ, các nhóm người Bahnar cùng một thứ tiếng nói, tuy có khác nhau về phát âm tùy theo địa phương Từ năm 1861, người Bahnar đã có chữ viết theo mẫu tự Latinh và phát triển cho đến ngày nay

Người Bahnar có một kho tàng văn hóa dân gian rất phong phú gồm các thể

loại tơpun (đồng dao), tơ roi (truyện truyền thuyết, thần thoại, ngụ ngôn), blal (truyện cười), hơri (hát đối đáp) plung (hát ru), pơđưk (ca dao, tục ngữ), avơng (hát giao duyên), h’mon (sử thi) Ngoài ra còn có các thể loại văn vần trong các bài cúng như sơmăh, khăl, lă, kơmưi, tơđok… Âm nhạc của người Bahnar cân đối giữa nhạc

hát và nhạc đàn Hệ thống nhạc cụ phong phú, đầy đủ các âm sắc khác nhau, gồm

bốn họ nhạc cơ bản: họ nhạc cụ dây (kơni, goong, brǒ…), họ nhạc cụ hơi (ala, tơdiep, hi hơ, klông put…), họ nhạc cụ tự thân vang (t’rưng-glơng glơi, ching ding, cồng chiêng…), họ nhạc cụ rung (các loại trống sơgơ) Người Bahnar rất thích các hoạt động nhảy múa Hoạt động nhảy múa của người Bahnar gọi là soang Nhảy

múa của người Bahnar có từ lâu đời và gắn liền với lễ hội, với âm nhạc Sách

Fônclo Bâhnar có ghi: Bất cứ người Bahnar nào, từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn

bà đều biết soang và soang rất đẹp; Có nhiều điệu soang khác nhau như: soang khiêl, soang tap sơgơ, soang grong atâu,… [81, tr.136-137] Các điệu múa ít nhiều

mô tả các hoạt động lao động sản xuất và săn bắn, hái lượm

Nghệ thuật chạm khắc gỗ của người Bahnar cũng rất độc đáo Đó là những đường nét, hoa văn trang trí trên nhà rông, trang phục, cán dao, trên gùi,… Đặc biệt tượng ở nhà mồ là những tác phẩm điêu khắc đặc sắc, phản ánh đời sống sinh hoạt thường ngày, tâm linh và tín ngưỡng phồn thực của người Bahnar

Một vấn đề đáng lưu ý là trong gần 170 năm truyền giáo tại Tây Nguyên, các

Trang 33

33

giáo sĩ Kitô giáo đã có tác động không nhỏ đến cơ cấu buôn làng của người Tây Nguyên, nhất là người Bahnar ở Gia Lai và Kon Tum(14) Từ số liệu của Tòa giám mục Kon Tum, chúng tôi được biết có hơn 80% buôn làng ở Kon Tum là làng Kitô giáo, trong đó có rất nhiều làng Bahnar, nằm trong vùng lõi sử thi, là làng Kitô giáo toàn tòng Vấn đề này đã chi phối rất lớn đến các sáng tác văn hóa dân gian nói chung và sử thi nói riêng Cụ thể là sự xuất hiện yếu tố văn hóa ngoại lai và yếu tố Kitô giáo trong các sử thi Dăm Giông Chúng tôi sẽ phân tích kĩ vấn đề này khi trình bày các đặc điểm nghệ thuật của nhóm sử thi Dăm Giông

- Tín ngưỡng

Người Bahnar quan niệm thần linh (Yang) ngự trị khắp thế giới này Bok Kei Dei là vị thần tối cao, thủy tổ của loài người, được tôn kính nhất Truyền thuyết của người Bahnar kể rằng từ thời khai thiên lập địa đã có hai thần bok Kei Dei và yǎ Kung Keh Họ sinh được ba người con, một vị giữ lại, còn hai vị xuống trần gian làm người, tức tổ tiên loài người, người Bahnar gọi là yǎ, bok (bà, ông) Yǎ bok sinh được bốn người con, hai trai là Rôk và Set, hai gái là bia Chăm và bia X n Rôk lấy bia Chăm sinh được ba con, một trai là tơddǎm Hông Lǎh và hai gái là bia Duk và bia Man Set lấy bia X n cũng được ba người con, hai trai là Giông và Giơ , một gái

là bia L i [14, tr.165] Trong các sử thi Bahnar, nhân vật Set, bia X n, Giông, Giơ , bia L i được nhắc đến nhiều nhất

Dưới bok Kei Dei là các thần sấm chớp (bok Glaih), thần gió (Yang Kial), thần nước (Yang Đak), thần núi (Yang Kông), thần lúa (Yang Sơri), thần cây (Yang Long), thần nhà (Yang Nam), thần nhà rông (Yang Rông), thần cồng chiêng (Yang Ching), thần đàn t’rưng (Yang T’rưng), thần ghè (Yang Satôk)… Ngay cả thú dữ người Bahnar cũng gọi một cách tôn kính như các thần linh khác như ông cọp (bok Kla), thần voi (Rôih), thần cóc (Kit drok)(15)

Người Bahnar quan niệm con người có phần hồn (pơhngol) và phần xác (akao)(16) Trong sinh hoạt hàng ngày, người Bahnar vẫn tin vào số mệnh (ai, p n ai), chiêm bao, bói toán và bùa ngải (gọi là pơgang) Theo Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, pơgang cũng có vô số loại khác nhau; Có pơgang dùng làm thuốc cứu chữa vết thương, cứu người chết sống lại; Cũng có pơgang làm hại sức

Trang 34

34

khỏe hoặc giết chết người; Lại cũng có pơgang dùng để dụ dỗ hoặc mê hoặc người

khác, sai khiến người khác làm theo ý của mình; Các thầy lang hoặc những người

hành nghề chữa bệnh (bơjâu) thường sử dụng các phương pháp trị bệnh bằng pơgang [14, tr.228] Trong truyện cổ và sử thi Bahnar, việc sử dụng bùa ngải, pơgang được xem như một vũ khí lợi hại giúp cho các bên tham chiến dễ dàng

chiến thắng đối phương

Ở mỗi vùng, mỗi nhóm địa phương, mỗi cộng đồng lại có những vị thần khác nhau Theo Nguyễn Thị Kim Vân, “mỗi làng Bahar có những thần bản mệnh khác

nhau Thông thường thần bản mệnh của làng được cất vào những kdung (túi thiêng)

và treo trang trọng trong một góc thiêng của nhà rông Trong số các vị thần bản mệnh của người Bahnar, có nhiều vị là những nhân vật anh hùng trong sử thi của họ như Rôk, Sét, Diông” [125, tr.39]

Những quan niệm về thế giới và tín ngưỡng nêu trên phản ánh tư duy thô sơ, đầy chất huyền thoại của người Bahnar xưa Họ luôn tin có một thế giới thần linh đầy quyền năng luôn chi phối mọi mặt đời sống của họ, vì vậy họ luôn thể hiện sự tôn kính lẫn khiếp sợ thế giới thần linh ấy Chính điều đó đã làm cho cuộc sống tinh thần của họ thêm phong phú và niềm tin của họ vô cùng thiêng liêng Niềm tin ấy làm cho các truyện cổ và sử thi thêm sinh động, hấp dẫn, góp phần tạo nên sự độc đáo trong văn hóa người Bahnar

Hiện nay, nhiều tôn giáo mới xâm nhập vào đời sống của cộng đồng Bahnar làm cho tín ngưỡng truyền thống của dân tộc này không còn nguyên vẹn(17) Qua quá trình điền dã, chúng tôi nhận thấy hầu hết các làng người Bahnar tại thành phố Kon Tum là những làng Kitô giáo toàn tòng Trong làng, bên cạnh nhà rông còn có nhà thờ Vào ngày thứ bảy và chủ nhật hàng tuần, hầu hết dân làng tham gia các sinh hoạt tôn giáo tại nhà thờ Rất nhiều người Bahnar là giáo viên dạy giáo lí Kitô giáo (gọi là Yao Phu) Do vậy, Kitô giáo đã ảnh hưởng sâu sắc trong cộng đồng người Bahnar tại đây, nhất là các sinh hoạt văn hóa và sáng tác nghệ thuật Bằng

chứng là trong các h’mon khu vực thành phố Kon Tum đã xuất hiện yếu tố Kitô

giáo và các yếu tố này đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình diễn xướng và xây dựng tính cách nhân vật

Trang 35

35

Tất cả những đặc điểm về nguồn gốc, sinh hoạt mưu sinh, thiết chế xã hội, văn hóa, tín ngưỡng nêu trên tác động mạnh mẽ đến sáng tác văn hóa dân gian của người Bahnar, trong đó có môi trường và không gian diễn xướng sử thi Chúng tôi

sẽ lưu ý tất cả những vấn đề này khi nghiên cứu sử thi Dăm Giông

2.1.2 Đặc trưng loại hình diễn xướng h’mon

- Hình thức diễn xướng h’mon

Người Người Bahnar dùng từ h’mon (hay hơmon, hơamon) để chỉ thể loại sử thi Bahnar, cũng như người Ê-đê dùng từ khan, người Jrai dùng từ h’ri (hay hơri), người Mơ-nông dùng từ ot ndrong Đó là tên gọi bản ngữ của mỗi dân tộc chỉ về thể loại sử thi (epic) Trong công trình Nhóm sử thi Bahnar, Phan Thị Hồng dùng từ hri h’mon để chỉ thể loại sử thi [35, tr.31] Người thực hiện đề tài này cho rằng việc dùng từ hri h’mon để gọi tên sử thi Bahnar là chưa chính xác Chúng tôi đã nhiều

lần gặp và trao đổi về thuật ngữ sử thi của người Bahnar với dịch giả A Jar (người dịch các sử thi Dăm Giông và sử thi Dăm Duông) và nghệ nhân A Lưu (người hát

kể hơn 100 sử thi Dăm Giông), cả hai đều cho biết người Bahnar chưa bao giờ dùng

từ hri h’mon để chỉ sử thi mà chỉ dùng h’mon Trong tiếng Bahnar, theo Từ điển Bahnar - Việt của Nhóm CTKT, hri có nghĩa là “ngân nga” [87, tr.292] Từ điển Bahnar - Việt của Siu Pêt cũng giải thích hơri có nghĩa là “hát (theo giọng cổ truyền)” [90, tr.89] Trong Từ điển Bahnar - Việt của Linh mục Phan Văn Bình, từ hri cũng có nghĩa là “ngân nga, ngâm nga” [8, tr.143] và cũng không có từ hri h’mon Trong các tài liệu khác về sử thi Bahnar mà chúng tôi có được cũng không

có tài liệu nào nói rằng h’ri h’mon là sử thi của người Bahnar

Đối với người Bahnar, h’mon có nghĩa là tác phẩm sử thi và cũng có nghĩa là hát kể sử thi Nói chính xác hơn, h’mon là sinh hoạt diễn xướng sử thi, một loại

hình nghệ thuật độc đáo của riêng người Bahnar Họ gọi các tác phẩm sử thi là

h’mon như “h’mon Dăm Giông” (nghĩa là “sử thi Dăm Giông”), diễn xướng sử thi cũng gọi là h’mon H’mon được hát kể vào các dịp lễ hội, thường vào ban đêm, khi

những âm thanh của cuộc sống thường ngày không còn ảnh hưởng đến không gian thiêng liêng của cuộc diễn xướng Niềm tin của người tham gia diễn xướng sử thi là

Trang 36

36

sự xác tín về lịch sử cội nguồn của tổ tiên chứ không đơn thuần là “nghe” để giải trí sau những giờ lao động vất vả Người thưởng thức sử thi không hoàn toàn thụ động ngồi nghe những gì nghệ nhân hát kể mà tham gia vào quá trình diễn xướng sử thi

Họ như một dàn đồng ca đứng cạnh nghệ nhân, cùng với nghệ nhân tham gia vào cuộc hành trình của các nhân vật trong sử thi suốt quá trình diễn xướng Họ buồn khi người anh hùng của họ gặp nạn Họ vui khi người anh hùng chiến thắng kẻ thù

Họ khóc khi người anh hùng bị thương hoặc bị chết Khi tham gia diễn xướng sử thi, mọi người hướng hoàn toàn cảm xúc và tâm thức vào những câu chuyện thần linh của tổ tiên từ ngàn xưa vọng về Thế giới bên ngoài dường như không còn ý nghĩa gì đối với họ Họ đang sống với sử thi Họ tin rằng ông bà tổ tiên đang hiện

về và trò chuyện với họ qua sử thi đang kể(18) Người Bahnar coi h’mon như bài

“thánh ca” để ngợi ca những kì tích, những chiến công kì diệu của người anh hùng

để dâng lên thần linh, tổ tiên

Những ghi chép về cách thức diễn xướng, sinh hoạt của h’mon ở nhiều vùng

miền ở Tây Nguyên có đôi chỗ khác nhau nhưng tựu trung vẫn mô tả được nét sinh

hoạt độc đáo của loại hình nghệ thuật này H’mon không chỉ là sinh hoạt cộng đồng

mang tính nghệ thuật thuần túy mà còn là sinh hoạt tín ngưỡng của người Bahnar(19) Điều này được Ngô Đức Thịnh mô tả một buổi diễn xướng sử thi như

sau: “Khi nghệ nhân cất tiếng hát (h’mon) thì củi lửa phải tắt hết, bốn phía màn đêm

bao phủ, vì theo quan niệm dân gian, như vậy thần linh, các anh hùng mới trở về cùng với lời hát của nghệ nhân” [106, tr.414]

Thực tế điền dã ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum cho thấy, sử thi được diễn xướng trong lúc nông nhàn, lễ hội, đám cưới hay việc trọng đại của làng Thời điểm diễn xướng sử thi thường khoảng 8 đến 9 giờ tối, lúc mọi việc nhà cửa, ăn uống đã hoàn tất Tùy theo sức khỏe, cảm hứng của nghệ nhân, không gian diễn xướng, sự

hô ứng của người tham gia mà buổi diễn xướng kéo dài bao lâu Dù thế nào đi nữa thì nghệ nhân cũng phải kể hết một “chương”, “hồi” nào đó đủ để diễn tả một hay vài sự kiện về người anh hùng Các buổi diễn xướng sử thi kéo dài từ 5 đến 7 tiếng đồng hồ, rất hiếm khi kể đến sáng, vì cả nghệ nhân và người thưởng thức sử thi còn phải làm việc ngày hôm sau Chính đặc điểm này đã tạo cho sử thi có nhiều “tập”,

Trang 37

từ “ôi”, “ôi, dôi” [118, tr.38] Khi diễn xướng, nghệ nhân có thể nằm hoặc ngồi Có người thì nằm nghiêng, úp mặt vào vách, có người thì ngồi bó gối nhìn vào bếp lửa,

có người tựa lưng vào vách hoặc cột nhà Hầu hết nghệ nhân diễn xướng sử thi có gương mặt biến đổi theo nội dung câu chuyện và nhắm mắt khi hát kể, chỉ có rất ít nghệ nhân khi kể hai mắt mở trừng trừng Tuy vậy, các nghệ nhân vẫn theo dõi sự hướng ứng của người thưởng thức và điều chỉnh nội dung câu chuyện cho phù hợp [119, tr.29-37] Những ghi chép của Nguyễn Quang Tuệ vừa nêu cho thấy vai trò quan trọng của các nghệ nhân và đặc trưng diễn xướng sử thi Bahnar nói riêng, sử thi Tây Nguyên nói chung, là tính ứng tác Có thể nghệ nhân đã thuộc làu câu chuyện đã nghe, đã học từ lâu nhưng trong quá trình diễn xướng, tùy theo bối cảnh

và đối tượng, nghệ nhân có thể điều chỉnh nội dung, hình thức diễn xướng cho phù hợp Nghệ nhân có thể thêm thắt các nội dung quen thuộc với đời sống trong vùng

Trang 38

38

để người thưởng thức cảm thấy sử thi gần gũi với họ Chính đặc điểm này đã tạo

nên đặc trưng sử thi sống của người Tây Nguyên

Ngoài ra, nghề nghiệp hoặc công việc hằng ngày, đời sống sinh hoạt và tính cách của các nghệ nhân ảnh hưởng đến sử thi không nhỏ Có thể nói, đời sống và tính cách của nghệ nhân đã chi phối đến nội dung và hình thức, giọng điệu diễn xướng sử thi Trong bài viết “Môi trường và nghệ thuật diễn xướng sử thi Ba Na”, Nguyễn Quang Tuệ cho biết: nghệ nhân Gang ở Kông Chro (Gia Lai) là một người sống phóng khoáng và hài hước nên sử thi do ông kể rất nhiều yếu tố hài hước; Trong khi đó, nghệ nhân Angép (làng Nge Tih - Kông Chro) là một thầy cúng kiêm già làng, sức khỏe yếu ớt, quanh năm sống một mình trong nhà rẫy nên có cách hát

kể trang nghiêm, có chiều sâu nhưng giọng điệu buồn bã [119] Qua điền dã, chúng tôi biết được nghệ nhân A Lưu (làng Kon Klor 2, xã Đak Rơwa, thành phố Kon Tum, người kể hơn 100 sử thi Dăm Giông) là một Yao Phu (giáo viên dạy giáo lí người dân tộc) nên trong các sử thi của ông chứa rất nhiều yếu tố Kitô giáo

- Ngôn ngữ h’mon

Ngôn ngữ h’mon là một dạng ngôn ngữ đặc biệt, bao gồm các làn điệu dân ca

của tộc người Bahnar được cách điệu, đan xen với các câu nói vần, cách nói hình ảnh, so sánh, phóng đại làm nên một bản “giao hưởng” với đủ các cung bậc, giai điệu trầm hùng Ngôn ngữ chủ đạo của sử thi là những câu văn xuôi xen lẫn với văn vần được gọt giũa tinh xảo Các câu văn vần này còn là những công thức truyền miệng để diễn xướng sử thi Trong đó có nhiều câu đối xứng về vần điệu, ý nghĩa, nhiều câu mang tính chất “biền ngẫu”, gồm các câu hoặc vế câu song song với nhau

tạo nên tính nhạc của lời kể Tô Đông Hải mô tả h’mon của người Bahnar như sau:

“Đó là hiện tượng sử dụng những từ vần với nhau, hoặc những câu đối nhau, lặp đi lặp lại, tạo nên những câu “thơ” dài ngắn khác nhau, khi đọc lên tạo thành nhịp điệu, rất thuận lợi cho việc âm nhạc hóa chúng” [30, tr.134] Những đặc điểm ấy làm cho ngôn ngữ sử thi trở nên phong phú và các hình tượng được miêu tả trở nên lung linh, sống động hơn

Các nghệ nhân thường nói: “Tôi kể theo ông bà xưa thôi” [118, tr.38] Chúng

ta có thể hiểu cách “kể theo ông bà” ấy là những khuôn mẫu được tiến hành trong

Trang 39

39

quá trình diễn xướng sử thi như các tổ hợp câu nói vần, tục ngữ, ca dao, các bài cúng, lời giáo huấn của tổ tiên, các motif kể chuyện, miêu tả,… Một tác phẩm sử thi được bao gồm rất nhiều các khuôn mẫu diễn xướng, công thức truyền miệng hợp lại Nhờ các khuôn mẫu, nghệ nhân có thể kết cấu những sự kiện, biến cố thành một câu chuyện hoàn chỉnh, hấp dẫn Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt với ngôn ngữ của sử thi và truyện kể dân gian Truyện kể dân gian của người Bahnar thường

là văn xuôi, hiếm những câu văn vần Người Bahnar rất dễ dàng nhận ra h’mon

bằng đặc điểm này

Khi đọc những sử thi đã in thành sách bằng tiếng Việt, chúng ta không thể

cảm nhận được hết cái hay cái đẹp của ngôn ngữ sử thi h’mon, vì các tác giả chuyển

ngữ không thể chuyển tải được hết cái đẹp của ngôn ngữ gốc và thần thái của cuộc diễn xướng sử thi Chúng ta có thể hình dung việc tham gia diễn xướng sử thi với việc đọc văn bản sử thi như việc xem trực tiếp một vở kịch và việc đọc kịch bản của

vở kịch ấy Không những thế, việc diễn xướng sử thi còn mang không khí, niềm tin thiêng liêng Sự cộng hưởng của không gian diễn xướng với người diễn xướng và người tham gia diễn xướng tạo nên một tâm thế đặc biệt Vì vậy, khi chỉ đọc văn bản sử thi trên sách thì người nghiên cứu không chỉ không cảm nhận được sử thi mà còn khó phân biệt được sử thi với các thể loại khác như truyện cổ hoặc truyện thơ(20)

Khi nói về âm nhạc của h’mon, nhiều nhạc sĩ, nhà nghiên cứu sử thi và văn hóa Tây Nguyên cho rằng âm nhạc trong sử thi h’mon còn có những giai điệu của

những bài cúng thần linh

Đặc điểm quan trọng nhất của h’mon là sử thi sống Đặc điểm này thể hiện ở

hoạt động diễn xướng sử thi vẫn còn duy trì, được nhân dân trình diễn, được học hỏi

và lưu truyền ở các cộng đồng người Bahnar hiện nay Trong khi diễn xướng, người

ta vẫn giữ nguyên các hình thức hát kể của sử thi truyền thống nhưng có thể thêm những nội dung hoặc những yếu tố hiện đại vào sử thi để cho người nghe thấy sử thi vẫn còn gần gũi ngay trong đời sống hiện tại chứ không hoàn toàn là hiện thực thời

xa xưa một đi không trở lại Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có nhiều yếu tố cuộc sống hiện đại trong nội dung các sử thi Dăm Giông(21) Đặc trưng sử thi sống làm

Trang 40

40

cho sử thi Bahnar mang tính tiếp biến linh hoạt với cuộc sống hiện đại nhưng vẫn giữ được đặc trưng cơ bản của sử thi So với sử thi của Thái Lan, Lào, Campuhia,

sử thi Dăm Giông của tộc người Bahnar hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của sử thi

Ấn Độ Nó mang những đặc trưng chung của sử thi thế giới nhưng đậm đà bản sắc văn hóa của tộc người Bahnar ở Tây Nguyên

Những hiểu biết về h’mon trên đây có thể chưa đầy đủ nhưng đây là những cơ

sở cần thiết để chúng tôi nghiên cứu nhóm sử thi Dăm Giông

2.2 CÁC KIỂU KẾT CẤU TRONG NHÓM SỬ THI DĂM GIÔNG

Khái niệm kết cấu được các nhà nghiên cứu trình bày theo những quan niệm khác nhau

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê xem từ kết cấu giống như từ cấu trúc và

được giải nghĩa là: “sự phân chia và bố trí các phần, các chương mục theo một hệ thống nhất định để thể hiện nội dung của tác phẩm” [91, tr.749]

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân quan

niệm:

Kết cấu của tác phẩm văn học bao gồm việc phân bố các nhân vật (tức là hệ thống các hình tượng), các sự kiện và hành động (kết cấu cốt truyện), các phương thức trần thuật (kết cấu trần thuật như là sự thay đổi các điểm nhìn đối với cái được miêu tả), chi tiết hóa các khung cảnh, hành vi, cảm xúc (kết cấu chi tiết), các thủ pháp văn phong (kết cấu ngôn từ), các truyện kể xen kẽ hoặc các đoạn ngoại đề trữ tình (kết cấu các yếu tố ngoài cốt truyện) [5, tr.167-168] Cùng nói về khái niệm kết cấu, nhà lí luận văn học Phương Lựu cho rằng: Kết cấu tác phẩm trong phần sâu sắc nhất của nó không phải là sự liên kết theo những công thức, biện pháp có sẵn, mà là liên kết theo sự phát hiện đời sống

và suy nghĩ của nhà văn, tạo thành một hệ thống liên kết tạo ra hiệu quả tư tưởng - thẩm mĩ… Mọi phương diện tổ chức tác phẩm, từ nhỏ nhất như ví von, ẩn dụ, mỉa mai, câu, đoạn cho đến tổ chức trần thuật, hệ thống hình tượng, thể loại, cốt truyện… đều thuộc phạm vi kết cấu [61, tr.296]

Ngày đăng: 15/11/2016, 10:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w