1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đại học đông dương và những tác động của nó đối với xã hội việt nam thời kỳ 1906 1954

27 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 598 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời kỳ trước khi Paul Beau đặt chân tới Đông Dương có thể được xem như thời kỳ “thử nghiệm” về giáo dục, mang tính chất địa phương của chính quyền thuộc địa bởi những văn bản pháp quy m

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÔNG DƯƠNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ

ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ 1906-1954

TS Đào Thị Diến

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Cách đây vừa tròn 10 năm, chúng ta đã có một cuộc hội thảo lớn kỷ niệm 100 năm ngày Đại học Đông Dương (ĐHĐD) được thành lập (1906-2006) Trong dịp đó, nhiều bài nghiên cứu đã được công bố nhằm chứng minh sự ra đời và phát triển của ĐHĐD cùng những thành tựu mà nó đã đạt được về nhiều phương diện Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn còn có một số ý kiến hoài nghi về mốc ra đời và những tác động của nó đối với xã hội Việt Nam thời kỳ 1906-1954

Báo cáo “Đại học Đông Dương và những tác động của nó đối với xã hội Việt Nam

thời kỳ 1906-1954”sẽ dựa trên cơ sở của những phông tài liệu (fonds d’archives) hiện

những chứng cứ khoa học nhất và khách quan nhất, nhằm mục đích làm sáng tỏ hai vấn

đề nêu trên, đồng thời giúp các nhà nghiên cứu có thêm tài liệu về nền giáo dục của Việt Nam thời kỳ 1906-1954

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam ở cửa biển Đà Nẵng Năm

1867, sau khi đánh chiếm được toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh, cùng với việc thiết lập hệ thống chính quyền cai trị ở Nam Kỳ, thực dân Pháp bắt đầu nhòm ngó ra Bắc Kỳ Song, cho

1 Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội) và Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (Archives Nationales d’Outre Mer – ANOM) ở Aix-en Provence

Trang 2

đến trước 1873, do tình hình chính trị của nước Pháp cĩ nhiều biến động nên tư bản Pháp chưa dám chủ trương mở rộng chiến tranh ở Việt Nam

Ngày 20-11-1873, thực dân Pháp tấn cơng thành Hà Nội lần thứ nhất, chính thức

mở đầu cơng cuộc “bình định” xứ Bắc Kỳ, tiến tới thơn tính tồn bộ đất nước Việt Nam.Năm 1884, sau khi hiệp ước Patenơtre được ký kết, thực dân Pháp cho rằng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã hồn tất Nhưng phải đến năm 1897, sau khi đàn áp xong phong trào Cần Vương, thực dân Pháp mới cĩ thể củng cố nền thống trị để bắt tay vào cơng cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho cơng cuộc khai thác thuộc địa Đơng

cho tồn bộ cơng cuộc thống trị, khai thác thuộc địa cĩ tính chiến lược của người Pháp ở Đơng Dương nĩi chung, Việt Nam nĩi riêng

Trong thời kỳ là Tồn quyền, Paul Doumer đặc biệt quan tâm đến việc cải cách chế độ cai trị, chính sách tài chính, thuế khĩa, nhằm huy động nguồn vốn đầu tư và lực lượng lao động khổng lồ để xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế thuộc địa.Chính trong thời kỳ này, một hệ thống giao thơng mới bao gồm cả đường sắt, đường bộ và đường thủy thuộc loại hiện đại nhất châu Á vào thời điểm đĩ đã được khởi cơng xây dựng ở Việt Nam, trong đĩ cĩ cây cầu bằng thép bắc qua sơng Hồng được Tồn quyền Paul Doumer

Cùng với hệ thống giao thơng hiện đại, một hệ thống thơngtin liên lạc bằng điện tín cũng được xây dựng, tạo điều kiện cho việc hình thành một kết cấu kinh tế thuộc địa hiện đại với sự hình thành và phát triển của một số thành phố và trung tâm cơng nghiệp cĩ quy mơ tương đối lớn như Hà Nội, Sài Gịn, Vinh – Bến Thủy, Nam Định, Quảng Yên…

Riêng đối với Hà Nội, nhằm mục đích xây dựng thành phố này thành “thủ đơ của

Bắc Kỳ” và sau này nâng lên thành “thủ đơ của Liên bang Đơng Dương thuộc Pháp”,

chính quyền thực dân đã đầu tư xây dựng tại Hà Nội hàng loạt trụ sở của các cơ quan đại diện cho bộ máy chính trị cao cấp, trụ sở của các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp, hành chính và trụ sở của các cơng sở thuộc các ngành như cơng trình Phủ Tồn quyền Đơng

Dương (Palais du Gouvernement général de l’Indochine) khởi cơng xây dựng năm 1900;cơng trình Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (Résidence supérieure au Tonkin)xây dựng từ năm 1892;cơng trình Nha Thương chính Đơng Dương (Service des Douanes et Régies à

Hanọ) khởi cơng xây dựng năm 1893; cơng trình Tổng Thanh tra Cơng chính Đơng

Dương (Inspection générale des Travaux Publics de l’Indochine) khởi cơng xây dựng năm 1896; cơng trình Sở Kiểm tra Tài chính Đơng Dương (Contrơle Financier) khởi

cơng xây dựng năm 1896…nhằm đề cao sức mạnh của chính quyền thực dân Ngồi ra, một số cơ sở sản xuất cũng được xây dựng trong giai đoạn Paul Doumer giữ chức Tồn quyền Đơng Dươngnhư nhà máy điện Bờ Hồ (xây dựng năm 1899), nhà máy tầu điện Hà

Trang 3

Nội (xây dựng năm 1900), nhà máy nước Yên Phụ (xây dựng năm 1904), nhà máy thuộc

da Thuỵ Khuê (xây dựng năm 1912)… Chính nhờ những “thành tích” đó mà Paul Doumer được coi là cha đẻ của toàn bộ công cuộc khai thác xứ thuộc địa Đông Dương

Chính sách “chia để trị” cùng các chính sách về tài chính, thuế khóa, nhằm huy động nguồn vốn đầu tư và lực lượng lao động khổng lồ để xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế thuộc địa, phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của chính quyền thuộc địa đã làm cho tính chất xã hội và cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến cùng với phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi phát động (1885-1896) và hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân kéo dài từ 1885 (khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo)đến

1913 (phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo) đã chứng minh tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta

Bên cạnh phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến còn có các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản với nhiều khuynh hướng khác nhau như khuynh hướng bạo động vũ trang do Phan Bội Châu lãnh đạo, khuynh hướng cải cách dân chủ do Phan Châu Trinh tổ chức Ngoài ra còn có các phong trào khác như phong trào dạy học theo lối mới ở Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hà Nội (1907); phong trào biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ (1908) …Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản phản ánh tinh thần dân tộc của một bộ phận trí thức, tư sản Việt Nam, tuy thất bại song ít nhiều đều có ảnh hưởng tới chính sách về giáo dục của chính quyền thuộc địa ở giai đoạn đầu thế kỷ XX

I Chủ trương, chính sách về văn hóa, giáo dục của chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước khi có Đại học Đông Dương 1906

Tuy được ca ngợi là “cha đẻ của toàn bộ công cuộc khai thác xứ thuộc địa Đông Dương” nhưngPaul Doumer rất ít quan tâm đến việc xây dựng cơ sở xã hội, văn hóa và khoa học ở thuộc địa.Mặc dù phải thốt lên đầy nuối tiếc về sự kiện Thành cổ Hà Nội bị phá năm 1897 trong khi quy hoạch Hà Nội của người tiền nhiệm khi mới nhậm chức

Toàn quyền: “Tôi đến quá chậm để có thể cứu lấy những phần đặc sắc, cụ thể là các

cổng thành Những di tích ấy đáng lẽ phải được bảo tồn Chúng có những đặc trưng quý giá, chỉ như vậy thôi cũng đáng được chúng ta trân trọng Đó là những kỷ niệm lịch sử gắn bó với nơi đây, chúng có thể làm đẹp cho các khu xây dựng mới của Thành phố ”4,nhưng trong nhiệm kỳ của Paul Doumer, hiếm thấycơ sở xã hội, văn hóa và khoa học xuất hiện ở thuộc địa.Nền giáo dục ở thuộc địa thực sự chỉ có những thay đổi tích cực

cách giáo dục đầu tiên (1906-1916)

Trang 4

Theo tài liệu của phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (Fonds du Gouvernement

général de l’Indochine) đang được bảo quản tại hai Lưu trữ quốc gia Việt Nam và Cộng

hòa Pháp, thời kỳ Paul Beau mới đến Đông Dương, giáo dục chỉ là một công việc hoàn toàn có tính chất địa phương, trực thuộc các viên quản lý hành chính của mỗi xứ trong toàn Liên bang Đông Dương Không có một sự hợp tác chặt chẽ nào, không có một hướng chỉ đạo chung thống nhất nào Trừ Nam Kỳ là nơi chữ Hán đã bị bỏ hẳn và là nơi các trường Pháp-bản xứ tương đối phát triển, còn ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên, các trường Pháp-bản xứ dạy tiếng Pháp với những yếu tố giáo dục của phương Tây rất khan hiếm và rất ít học sinh, chủ yếu là các trường dạy chữ Hán của người Việt và các trường của các chùa người Khơ-me

Thời kỳ trước khi Paul Beau đặt chân tới Đông Dương có thể được xem như thời

kỳ “thử nghiệm” về giáo dục, mang tính chất địa phương của chính quyền thuộc địa bởi những văn bản pháp quy mà chính quyền thuộc địa được ban hành chỉ áp dụng ở Nam

Kỳ, nơi mà người Pháp bắt đầu quá trình xâm lược Đông Dương sớm nhất và là nơi mà

Nửa cuối thế kỷ XIX là thời điểm xuất hiện của những ngôi trường Pháp -Việt đầu tiên ở Nam Kỳ, trong số đó trước hết phải kể đến hệ thống trường thông ngôn, nơi mà

Những trường này được thành lập theo Lệnh số 60 ngày 16-7-1864 của Chuẩn Đô đốc - Thống đốc Nam Kỳ De La Grandière, ngay sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam

Bộ và biến ba tỉnh này thành thuộc địa của Pháp Tại các trường này, mỗi lớp học đều do một thông ngôn phụ trách Sau 2 tháng, Thanh tra công việc nội chính bản xứ tiến hành thanh tra các trường tiểu học nhằm đánh giá kết quả đạt được và đề cử những giáo viên xứng đáng nhận phần thưởng theo quy định Các trường theo mô hình này đã được mở tại các làng lân cận, do những người xin phép mở trường đã chứng minh được đủ kiến thức

và năng lực điều hành

Trong giai đoạn này, chính quyền thuộc địa đã ban hành một số văn bản về giáo dục trong đó có hai văn bản quan trọng là Quyết định ngày 17-11-1874 của Chuẩn đô đốc-quyền Thống đốc Nam Kỳ đặt quy chế cho ngành học chính tại Nam Kỳ, chia nền

Thống đốc Nam Kỳ về tổ chức Sở Học chính Nam Kỳ, chia hệ thống giáo dục làm ba cấp

dục công tại Nam Kỳ hoàn toàn miễn phí và mang tính tự nguyện Trường tư chỉ được

mở khi chính quyền cho phép và bất cứ người nào xin giấy phép mở trường tư đều phải đáp ứng đủ các điều kiện về đạo đức cũng như về năng lực theo quy định và phải chịu sự giám sát của chính quyền Tuy nhiên, vấn đề cơ bản trong việc mở các trường công và tư

là chương trình giảng dạy thì đều không thấy quy định trong cả hai văn bản nói trên Có

6 Người Pháp gọi Nam Kỳ là “Cochinchine française” (tức Nam Kỳ thuộc Pháp)

7 Courrier de Saigon, No 23 du 5 décembre 1874

8 Bulletin officiel de la Cochinchine française(BOCF), 1879, tr 85-100

Trang 5

thể vì coi Nam Kỳ là thuộc địa nên người Pháp đã áp dụng tại Nam Kỳ những quy chuẩn

về giáo dục của nước Pháp

Ở Bắc Kỳ, từ năm 1886, ngay khi chính quyền thuộc địa tiến hành “bình định” xứ

được cử

ngay sau khi đặt chân tới Hà Nội, cùng với lời tuyên bố: “Người Pháp đến đây là để nâng

cao đời sống nơng nghiệp, cơng nghiệp, kinh tế và cịn nâng cao đời sống tinh thần bằng giáo dục”10, Paul Bert đã tự tay đơn đốc việc xây dựng trường sở và ra những chỉ thị cụ thể để chỉ đạo cơng tác giáo dục

Văn bản quan trọng nhất của Paul Bert về lĩnh vực giáo dục chính là Quyết định ngày 12-3-1885 về tổ chức chương trình giáo dục bậc tiểu học với chương trình giảng dạy bằng tiếng Pháp tại các trường tiểu học thuộc Chính quyền Bảo hộ Mặc dù cũng

Quyết định ngày 12-3-1885 của Paul Bert cĩ tính thực dụng hơn Vì khơng tán thành việc bắt người Việt bỏ hẳn chữ Hán để học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ như các Đơ đốc đã làm

ở Nam Kỳ nên Paul Bert vẫn cho học sinh học chữ Hán Điều này thể hiện trong quy định

về chương trình giảng dạy của các trường tiểu học: “Việc giảng dạy ngơn ngữ bản xứ là

chữ Quốc ngữ và chữ Hán được thực hiện bên cạnh các buổi học tiếng Pháp” Ngồi ra,

Quyết định ngày 12-3-1885 của Paul Bert cịn quy định rõ chức trách của những người trực tiếp thực thi văn bản; khung nhân sự ở các trường tiểu học; trách nhiệm của Hiệu trưởng; việc thanh kiểm tra các trường học; lương, hình thức thăng trật, thứ bậc nhân sự

và các hình thức kỉ luật đối với các giáo sư người Pháp biệt phái làm trong ngành học chính cũng như đối với các giáo sư và giáo viên tiểu học người bản xứ…

Quyết định ngày 12-3-1885 chứng tỏ Paul Bert đã dày cơng chuẩn bị một nền

mĩng vững chắc cho “sự nghiệp giáo dục” của mình nhưng tiếc thay, sau cái chết đột

ngột của Paul Bert vào cuối năm 1886, tình hình giáo dục ở Bắc Kỳ ít cĩ sự thay đổi, phần vì khơng cĩ ai tiếp tục sự nghiệp của Paul Bert, phần vì chính quyền thuộc địa cịn

phải lo tiến hành các cuộc hành quân “bình định” Bắc Kỳ Tuy nhiên, Quyết định ngày

12-3-1885 vẫn cĩ hiệu lực trong một thời gian dài sau đĩ và vẫn mang lại những kết quả đáng khích lệ về giáo dục 5 năm sau ngày Paul Bert mất, khơng kể một trường tiểu học dành cho người bản xứ với 230 học sinh và 6 giáo viên người Việt đã tồn tại ở Hà Nội từ

ra, ở Bắc Kỳ cịn cĩ một số trường được mở ở Hà Nội để đào tạo đội ngũ cơng chức, Tây

học sẵn sàng phục vụ, cộng tác với Pháp như Trường dạy nghề ở Hà Nội (Ecole

professionnelle de Hanọ) do Phịng Thương mại Hà Nội tổ chức năm 1898, Trường Y

Trang 6

khoa Hà Nội (Ecole de Médecine de Hanọ) thành lập năm 1902, Trường Hậu bổ Hà Nội (Ecole d’Administration de Hanọ)thành lập năm 1905 để đào tạo tri phủ, tri huyện, huấn

đạo, giáo thụ…

Về khoa học, trong số rất ít các cơ sở khoa học đã được thành lập ở thời kỳ này chỉ

cĩ một tổ chức khoa học xã hội duy nhất ở thuộc địa, đĩ là Phái bộ Khảo cổ thường trực tại Đơng Dương được thành lập theo Nghị định ngày 15-12-1898 của Tồn quyền Đơng

Dương Vốn “chịu sự kiểm sốt về phương diện khoa học của Viện Bia ký và Văn chương

Pháp”, và sau được chính thức đổi tên thành Trường Viễn đơng Bác cổ Pháp (Ecole française d’Extrême Orient – EFEO)12, tổ chức này đã cĩ những tư vấn, can thiệp tích cực vào việc xếp hạng,kiểm kê để quản lý tốt hơn các cơng trình văn hĩa (bao gồm cả văn hĩa tín ngưỡng) và các di tích lịch sử ở Việt Nam nĩi riêng, Đơng Dương nĩi chung Bằng chứng xác thực là các tồ nhà và vật thể của thành phố Hà Nội thuộc danh mục các cơng trình lịch sử ở Đơng Dương đã được xếp hạng kể từ khi quyền Tồn quyền Đơng Dương ký Nghị định ngày 15-4-1905, sau khi cĩ sự tư vấn của Trường Viễn đơng Bác cổ

Về lĩnh vực văn hĩa, mặc dù ngay từ năm 1907, chính quyền thuộc địa đã nhận thức được tình trạng bi thảm của tài liệu lưu trữ qua việc Thống sứ Bắc Kỳ yêu cầu Tư

lệnh các Đạo quan binh, Cơng sứ các tỉnh, Đốc lý Hà Nội và Thị trưởng Hải Phịng “tìm

trong các phịng làm việc tại các cơng sở hành chính thuộc địa và bản xứ” để “tập hợp tất cả các hồ sơ và tài liệu cĩ thể cĩ giá trị về sự thiết lập nền Bảo hộ của Pháp ở Bắc

Thư viện nào được thành lập Và chính vì thế, tài liệu trên tồn Đơng Dương nĩi chung, ở Việt Nam nĩi riêng đều ở trong tình trạng bị bỏ rơi, khơng được chăm sĩc, bảo quản tốt Tình trạng đĩ tất nhiên sẽ dẫn đến sự hư hỏng do điều kiện khí hậu ẩm ướt của xứ nhiệt đới, sự mất mát, thất lạc… và một kết cục bi thảm tất yếu đã xẩy ra: nhiều tài liệu vơ giá

về lịch sử thuộc địa đã biến mất, khơng để lại một dấu vết nào

Tình trạng khơng thống nhất về giáo dục, khoa học và văn hĩa hầu như bị bỏ rơi như trên là hậu quả của các chính sách về tài chính, thuế khĩa, nhằm huy động nguồn vốn đầu tư và lực lượng lao động khổng lồ để xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế thuộc địa, phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của chính quyền thuộc địa Thêm vào đĩ, chính sách “chia để trị” cùngcơng cuộc chinh phục với các cuộc hành quân triền miên nhằm đàn áp các phong trào yêu nước của người dân bản xứ, các cuộc vận động giới tư bản chính quốc nhằm đạt được sự ủng hộ của chính phủ trung ương trong việc mở rộng chiến tranh ở Đơng Dương… tất cả nhằm mục đích tối cao là thơn tính vĩnh viễn mảnh đất Đơng Dương mầu mỡ đã thu hút mọi nỗ lực của chính quyền thực dân ở thuộc địa Trong chính sách đĩ khơng cĩ chỗ cho giáo dục, khoa học và văn hĩa Phải mãi cho

12 Journal officiel de l’Indochine française (JOIF), 1900, N 0 20, tr 323 – 324

13

JOIF, 1905, No 101, tr.1816.

14 Thơng tư số 65 ngày 30-5-1907 của Thống sứ Bắc Kỳ, Fonds de la Direction des Archives et des Bibliothèques de l’Indochine (DABI), hs : 74174

Trang 7

đến năm 1917 với nhiệm kỳ của Tồn quyền Albert Sarraut15, tình hình đĩ mới được cải thiện

II Sự ra đời, quá trình phát triển và những thành tựu của Đại học Đơng Dương qua các thời kỳ lịch sử

1 ĐHĐD thời kỳ1906-1917

Cĩ thể nĩi rằng, sự ra đời và phát triển của ĐHĐD gắn liền với hai cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam do hai Tồn quyền Đơng Dương là Paul Beau và Albert Sarraut khởi xướng

Năm 1906, Tồn quyền Paul Beau cho thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất theo mơ hình giáo dục của Pháp (1906-1916) Cuộc cải cách này được thể hiện ở việc ban hành và thực thi các nghị định của chính quyền thuộc địa

Bước đột phá đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục của Tồn quyền Paul Beau là việc ban hành Nghị định thứ nhất vào ngày 8-3-1906 về thành lập Hội đồng Hồn thiện nền

với nhiệm

vụ nghiên cứu các vấn đề cải tổ nền giáo dục cũ, cải cách các kỳ thi Hương ở Bắc và Trung Kỳ

Nghị định này được hồn thiện bởi 4 nghị định ban hành cùng ngày 16-5-1906 về

soạn sách giáo khoa cho các trường học bản xứ tại Đơng Dương và thành lập tại mỗi xứ ở Đơng Dương một Hội đồng Hồn thiện nền giáo dục bản xứ.Theo tinh thần của Nghị định này, mỗi xứ sẽ cĩ một Hội đồng với các tiêu chí hồn thiện về giáo dục riêng đặt ra cho xứ mình

Một nhiệm vụ quan trọng khác của Hội đồng Hồn thiện nền giáo dục bản xứ là

“nghiên cứu những điều kiện để thành lập và hoạt động của một trường đại học gồm các

mơn giảng dạy ở bậc đại học dành cho người bản xứ và người châu Á”18 Theo đề nghị của Hội đồng, ngày 16-5-1906, Tồn quyền Beau đã ký Nghị định số 1514a về việc thành

lập ĐHĐD với mục đích “thơng qua tiếng Pháp để phổ biến kiến thức khoa học và

phương pháp của người Âu tại Viễn Đơng”19

Về cơ cấu tổ chức, ĐHĐD được đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Tồn quyền,

do một Hội đồng quản trị điều hành với thành phần bao gồm: Giám đốc Nha Học chính

15 Albert Pierre Sarraut (sinh ngày 28-7-1872, mất ngày 26-11-1962), được bổ nhiệm làm Tồn quyền Đơng Dương lần thứ nhất theo Nghị định ngày 1-6-1911, nhậm chức ngày 15-11-1911; lần thứ hai được bổ nhiệm theo Nghị định ngày 7-11-1916, nhậm chức ngày 22-1-1917

16

Direction de l’Instruction Publique - C Mus, Directeur de l’Ecole supérieure de Pédagogie de l’Université

Indochinoise: La Première Université Indochinoise, Hanọ, 1927, tr 2

17 Journal officiel de l’Indochine française(JOIF), 1906, tr 807-810

18La Première Université Indochinoise, sđd, Hanọ, 1927, tr 2

19 ANOM, Phơng Phủ Tồn quyền Đơng Dương (Fonds du Gouvernement général de l’Indochine – GGI), hs: 48.042 Tồn văn nghị định này đăng trên JOIF, 1906, tr 807-810

Trang 8

Đông Dương (Chủ tịch); Giám đốc các trung tâm khoa học tại Đông Dương; hiệu trưởng các trường chuyên ngành được sáp nhập vào ĐHĐD và một số giảng viên là đại diện của nhiều đơn vị, trường học Chi phí cho hoạt động của các lớp và của ĐHĐD do ngân sách chính quyền liên bang và ngân sách địa phương chi trả

Theo Nghị định số 1514a, ĐHĐD gồm có 5 trường thành viên đều gọi chung là

trường cao đẳng Đó là các trường: Luật và Pháp chính (Ecole supérieure de Droit et

d’Administration); Khoa học thực hành (Ecole supérieure des Sciences appliquées); Y

khoa Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine); Xây dựng dân dụng (Ecole

supérieure du Génie Civil) và Văn khoa (Ecole supérieure des Lettres) Những trường

này có trụ sở tại Hà Nội hoặc Sài Gòn Một số trường có phạm vi hoạt động ở cả hai thành phố Để đảm bảo tính liên thông và phối hợp giữa các trường thành viên, điều 5 của

Nghị định ghi rõ: “Mỗi sinh viên được đăng kí vào một trường cao đẳng, trừ trường hợp

đặc biệt nhưng sẽ có một số môn học chung cho hai hoặc nhiều trường”

ĐHĐDcó cơ chế phối hợp chặt chẽ với các viện nghiên cứu và giáo dục đã hoặc sẽ được thành lập ở Đông Dương, nhưng không làm ảnh hưởng tới quyền tự quyết của những cơ quan đó

Sinh viên thuộc một trong 5 xứ Đông Dương chỉ được nhận vào ĐHĐD khi có bằng tú tài bản xứ hoặc chứng chỉ tương đương (cử nhân, ấm sinh, tôn sinh ) Ngoài ra, ĐHĐDcòn nhận thêm người nước ngoài, là công dân của nước Pháp và được Pháp bảo

hộ

Chương trình học do Hội đồng quản trị soạn thảo và trình Toàn quyền thông qua Hàng năm, Toàn quyền quy định bằng nghị định một số vị trí tham gia Phái đoàn thường

trực Đông Dương (Mission permanente Indochinoise) công tác tại Pháp Vị trí này dành

cho những sinh viên do Hội đồng Quản trị ĐHĐDlựa chọn Việc mở lớp học hoặc các cuộc hội thảo đặc biệt do Phòng Thương mại hoặc Phòng Canh nông hay các hiệp hội khoa học đặt tại Đông Dương tài trợ

Một năm sau ngày Nghị định số 1514a được ban hành, Toàn quyền Đông Dương

đã ký một số văn bản khác để điều chỉnh cơ cấu tổ chức và hoạt động của ĐHĐD như Nghị định ngày 8-5-1907 chuyển quyền điều hành ĐHĐD từ Hội đồng Quản trị sang Giám đốc Nha Học chính Đông Dương với sự trợ giúp của Hội đồng Hoàn thiện ĐHĐD

Hoàn thiện ĐHĐD theo Nghị định ngày 8-5-1907 bao gồm Giám đốc các trung tâm khoa học tại Đông Dương, đại diện của những người đứng đầu chính quyền địa phương và cơ quan kĩ thuật có liên quan Thành phần này sau đó được cụ thể rõ bằng Nghị định ngày

Trường Viễn đông Bác cổ (Phó Chủ tịch); Hiệu trưởng Trường Y khoa Đông Dương; đại diện của Toàn quyền Đông Dương; đại diện của Thống sứ Bắc Kỳ; đại diện của Biện lý, Giám đốc Nha Tư pháp và đại diện của Giám đốc Nha Công chính

20 JOIF, 1907, tr 769

21 JOIF, 1907, tr 885

Trang 9

Nghị định ngày 8-5-1907 và 27-5-1907 thể hiện rõ vai trò đặc biệt của Hội đồng Hoàn thiện ĐHĐD trong việc tư vấn, đề xuất ý kiến để Toàn quyền quyết định cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ĐHĐD với các viện nghiên cứu và giáo dục đã hoặc sẽ thành lập

ở Đông Dương về mặt nhân sự (điều kiện làm việc cũng như thù lao của nhân sự thuộc các cơ quan này và đội ngũ giảng viên mượn từ các cơ quan khác) Ngoài ra, các lớp học của ĐHĐD cũng như phòng thí nghiệm được sáp nhập vào ĐHĐDđều phải do Toàn quyền quy định, theo đề nghị của Giám đốc Nha Học chính, sau khi có ý kiến của Hội đồng Hoàn thiện ĐHĐD

Các lớp học của ĐHĐD chính thức khai giảng từ ngày mồng 1-11-1907 theo ấn

với các môn học: toán; cơ học và vũ trụ học; vật lý; hoá học đại cương; hoá công nghiệp và công nghệ; động vật học; thực vật học; địa chất học; sinh lý học và vệ sinh; tiếng Pháp; văn học Pháp; lịch sử đại cương; địa lý đại cương; lịch sử Đông Dương và khu vực Viễn Đông, địa lý Đông Dương và Viễn Đông; lịch sử triết học; luật nước Pháp; pháp luật và chính quyền An-nam; kinh tế chính trị và luật thương mại; giáo dục đại cương; giáo dục thực hành

Ngoài ra, ĐHĐD còn có thêm 3 phòng thí nghiệm thực hành về vật lý, hoá học và khoa học tự nhiên.Theo quy định, chỉ những sinh viên ghi danh trong điều kiện quy định tại điều 4 của Nghị định ngày 16-5-1906 mới được tham gia thực hành và ra vào thư viện Giám đốc Nha Học chính cũng có thể cấp thẻ học viên dự thính cho những người Âu và

Á có đủ trình độ tiếng Pháp, theo đề nghị của Hội đồng Hoàn thiện ĐHĐD

Cùng ngày 24-9-1907, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định về việc bổ nhiệm giảng viên ĐHĐDtrong đó quy định rõ thời gian và danh sách cụ thể các giảng viên chịu

Sau khi đã có những văn bản mang tính pháp lý của Toàn quyền Đông Dương về việc thành lập, cơ cấu tổ chức, đội ngũ giảng viên, ngày khai giảng chính thức cùng những môn học chính, về phần mình, ĐHĐD bắt đầu ban hành Nội quy và chương trình

Theo Nội quy, những người châu Á có nhu cầu theo học tại các trường thuộc ĐHĐD phải gửi đơn xin nhập học đến Ban Thư ký ĐHĐD có trụ sở đặt tại số 40 đại lộ

lớp thực hành mà họ muốn theo học

Đối tượng được quy định có đủ điều kiện nhập học gồm:

- Những người tốt nghiệp Trường Trung học Chasseloup - Laubat hoặc có bằng bổ túc;

22 JOIF, 1907, tr 1458.

23

JOIF, 1907, tr 1459

24 TTLTQG I, Phông Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (Fonds de la Direction des Archives et des Bibliothèques

de l’Indochine – DABI), hs : 889 và ANOM, GGI, tài liệu đã dẫn

25 Phố Bà Triệu ngày nay

Trang 10

- Những người có bằng cử nhân hoặc tú tài bản xứ, đủ trình độ tiếng Pháp;

- Những người không có bất kỳ chứng chỉ, văn bằng nào cũng được nhận vào trường nếu được Hội đồng Hoàn thiện ĐHĐD chấp thuận

Nội quy của ĐHĐD quy định các ban học và điều kiện theo học của sinh viên Theo đó, có 3 ban là ban Văn học, ban Luật và ban Khoa học.Những sinh viên đăng ký vào ban Văn học phải theo ít nhất là 5 lớp văn học Sinh viên ban Khoa học cũng phải theo học tối thiểu 5 lớp khoa học Sinh viên ban Luật theo học tất cả các lớp luật và ít nhất là 1 lớp văn học Tất cả các sinh viên đều phải học tiếng Pháp, họ cũng có thể đăng

ký vào những lớp khác thậm chí là vào một ban khác

Các lớp thực hành chỉ dành riêng cho sinh viên ban Khoa học

Đối với một số lớp học, những người có đơn gửi Ban Thư kýĐHĐD được cấp thẻ

dự thính miễn phí Học viên dự thính không được phép vào thư viện cũng như tham gia các lớp thực hành

Chương trình học năm 1907-1908 của ĐHĐD được quy định như sau:

- Ban Khoa học gồm có: toán học; cơ khí; vật lý; hoá học đại cương; hoá học công nghiệp và công nghệ; thực vật học; động vật học; sinh lý học

- Ban Văn học: tiếng Pháp; văn học Pháp; giáo dục học đại cương; lịch sử triết học; lịch sử đại cương; lịch sử Đông Dương và Viễn Đông; địa lý đại cương

- Ban Luật: pháp luật Pháp; kinh tế chính trị và luật thương mại; tổ chức hành chính Đông Dương

Thời gian biểu chi tiết dưới đây đã được công bố cho niên khóa 1907-1908

Thứ 2

5g15 - 6g15 Ông Barbotin (kỹ sư về Nghệ

thuật và Chế tạo máy, Giám đốc Trường dạy nghề Hà Nội)

Hóa công nghiệp và kỹ nghệ

Trường Viễn đông Bác cổ Pháp, Giám đốc Trường Pavie)

Lịch sử Đông Dương và Viễn Đông

8g45 - 9g45 Ông Prêtre (quản lý hành chính

hạng nhất Sở Quản lý các công việc dân sự, phụ tá Thống sứ Bắc Kỳ)

Tổ chức hành chính Đông Dương

Thứ 3

5g15 - 6g15 Ông Eberhardt (Tiến sĩ khoa

học, Thanh tra nông nghiệp, nguyên điều chế viên thực vật

Động vật học

Trang 11

Khoa Khoa học Trường Đại học Tổng hợp Paris)

Ông E Maître (Thạc sĩ Triết học, Giám đốc Trường Viễn đông Bác cổ Pháp)

Lịch sử triết học

6g15 - 7g15 Ông Rieus (kỹ sư về Nghệ thuật

và Chế tạo máy, Giáo sư Trường Giao thông Công chính)

Toán

Ông Russier (Tiến sĩ khoa học, Trưởng ban Thư ký Sở Học chính Đông Dương)

Lịch sử đại cương

Thứ 4

học, Thanh tra nông nghiệp, nguyên điều chế viên thực vật Khoa Khoa học Trường Đại học Tổng hợp Paris)

8g45 - 9h45 Ông Delestré (Thẩm phán thay

biệc lý của Tổng Kiểm sát trưởng Đông Dương)

Kinh tế chính trị và luật thương mại

Thứ 5

học, Thanh tra nông nghiệp, nguyên điều chế viên thực vật Khoa Khoa học Trường Đại học Tổng hợp Paris)

Thực hành về thực vật học

nguyên điều chế vieenhoas học Trường Cao đẳng Dược Nancy)

Thực hành về hóa học đại cương

thuật và Chế tạo máy, Giám đốc Trường dạy nghề Hà Nội)

Thực hành về hóa công nghiệp

Sở Học chính Đông Dương)

Giáo dục học đại cương

Viễn đông Bác cổ Pháp)

Tiếng Pháp

Trang 12

6g15- 7g15 Ơng Bloch (Dược sĩ quân y,

nguyên điều chế vieenhoas học Trường Cao đẳng Dược Nancy)

Hĩa học đại cương

8g45 - 9g45 Ơng Dartiguenave (Chủ tịch

Tịa án dân sự Hà Nội)

Luật nước Pháp

học, Thanh tra nơng nghiệp, nguyên điều chế viên thực vật Khoa Khoa học Trường Đại học Tổng hợp Paris)

Thực vật học

Ơng Russier (Tiến sĩ khoa học, Trưởng ban Thư ký Sở Học chính Đơng Dương)

Địa lý đại cương

6g15- 7g15 Ơng Dumas (bác sĩ chính trong

quân đội thuộc địa, Trưởng Quân y viện ở Hà Nội)

Sinh lý học và vệ sinh

Ơng Rieus (kỹ sư về Nghệ thuật

và Chế tạo máy, Giáo sư Trường Giao thơng Cơng chính)

Cơ khí

Ngày 10-11-1907, sau khi các điều kiện chuẩn bị đã hồn tất, lễ khánh thành ĐHĐD đã được tổ chức tại Phủ Tồn quyền cũ (trong khu nhượng địa) ở Hà Nội, dưới sự

lễ khai giảng đầu tiên với sự cĩ mặt của 94 sinh viên chính thức, 62 sinh viên dự thính và

37 sinh viên năm thứ nhất trường Y sẽ tham dự một số giờ học của mơn khoa học, tổng cộng gồm 193 sinh viên Trong năm học đầu tiên này, một số viên chức các sở chuyên mơn tại Hà Nội tuy khơng theo học chính thức nhưng cũng được phép tham gia các giờ

Vì nhiều lý do, con số sinh viên mới ngày càng giảm dần, từ 94 cịn 68 (tháng 1907) và sau Tết Nguyên đán cịn 46 và cho đến cuối năm học, số sinh viên chính thức chỉ cịn lại chưa đến một nửa số sinh viên ban đầu (41 người) Sau khi năm học đầu tiên kết thúc, ĐHĐD đã đột ngột đĩng cửa, khơng một lời giải thích của bất cứ một vị quan chức nào trong bộ máy chính quyền thuộc địa và cũng khơng bởi bất cứ một văn bản nào của các cấp cĩ thẩm quyền trong hệ thống chính quyền thực dân

26La Première Université Indochinoise, sđd, Hanọ, 1927, tr 7

27 Cĩ hai viên chức thuộc Sở Nơng-Lâm-Thương mại Đơng Dương được phép tham gia các giờ thực hành các mơn Hĩa học đại cương, Hĩa cơng nghiệp, Thực vật và Động vật tại các trường thuộc ĐHĐD: Bùi Văn Thuận, nhân viên chính ngạch hạng 2 và Nguyễn Như Phan, phụ tá thư ký hạng 2 (TTLTQG I, GGI, hs: 2819)

Trang 13

Tài liệu lưu trữ cho thấy, mặc dù chính quyền thuộc địa đã cố gắng trong việc củng cố tổ chức của ĐHĐD nhằm kéo dài hoạt động của nĩ, thơng qua việc ban hành một vài văn bản pháp quy như hai Nghị định cùng ngày 17-2-1908 về thành lập chức danh Thư ký ĐHĐD đồng thời giao nhiệm vụ này cho Russier Henri (Trưởng phịng Thư ký

Tuy nhiên, tài liệu lưu trữ cũng cho thấy, trong suốt thời kỳ từ 1908 đến đầu 1917, một số trường thành viên của ĐHĐD vẫn tiếp tục hoạt động và cùng với một số trường mới được thành lập, những trường này tiếp tục nằm trong hệ thống các trường thành viên của ĐHĐD trong thời kỳ tiếp theo

2 ĐHĐD thời kỳ1917-1945

Chương trình cải cách giáo dục lần thứ hai chính thức được bắt đầu ngày

21-12-1917 bằng Nghị định ban hành bộ “Học chính tổng quy” (Règlement général de

l’Instruction publique) của Tồn quyền Albert Sarraut với 7 chương, 558 điều30

, chia nền giáo dục cơng tại Đơng Dương làm 2 hệ thống (giáo dục phổ thơng và dạy nghề), trong

đĩ giáo dục cơng tại các trường Pháp - Việt được chia thành 3 cấp:

+ Đệ nhất cấp tức hệ tiểu học (enseignement primaire), bao gồm các trường tiểu học tồn cấp (Ecole Primaire de plein exercice) và các trường sơ đẳng tiểu học (Ecole

Primaire Elémentaire)

+ Đệ nhị cấp tức hệ trung học (enseignement secondaire) gồm cao đẳng tiểu học,

học trong 4 năm để thi lấy bằng cao đẳng tiểu học (bằng Thành chung hay Diplơme) và

trung học, học trong 2 năm để thi lấy bằng Tú tài (Diplơme de bachelier)

Tồn bộ các trường tiểu học và trung học đều nằm trong hệ thống các trường Pháp-Việt, chương trình giảng dạy được quy định cụ thể trong bộ “Học chính tổng quy” Việc miễn phí đối với các trường tiểu học cơng được quy định tại cuộc cải cách giáo dục năm 1906 vẫn được giữ nguyên

Bên cạnh các trường tiểu học và trung học nằm trong hệ thống các trường Pháp - Việt cịn cĩ một số trường thuộc hệ thống trường Pháp, chủ yếu dành cho con em người Pháp sống tại thuộc địa và một số ít con em thuộc các gia đình thượng lưu người bản xứ

Theo quy định của bộ “Học chính tổng quy”, các trường dạy nghề cĩ tính chất chuyên nghiệp đã được thành lập từ giai đoạn trước nhằm đào tạo một đội ngũ cơng chức người bản xứ bậc thấp, đáp ứng nhu cầu của cơng cuộc xây dựng và khai thác thuộc địa

của người Pháp như Trường Hậu bổ Hà Nội (Ecole d’Administration de Hanọ) thành lập năm 1897, Trường Dạy nghề Hà Nội (Ecole professionelle de Hanọ) do Phịng Thương mại Hà Nội lập ra vào năm 1898, Trường Cơng chính (Ecole des Travaux Publics) thành lập năm 1902 và Trường Y khoa Hà Nội (Ecole de Médecine de Hanọ) năm 1902 đều

28 ANOM, GGI, hs: 48.041

29 JOIF, 1908, tr 819

30 JOIF, 1918, tr 607-684

Ngày đăng: 27/08/2016, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w