Lý do chọn đề tài Yếu tố biện chứng đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử triết học ở cả phương ông và phương Tây, lúc đầu chỉ là những quan niệm hết sức mộc mạc thô sơ, trải qua quá trình
Trang 2Luận văn đã đƣợc sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội ngày tháng năm 202
CHỦ T CH H I NG
PGS,TS Nguyễn Minh Hoàn
Trang 3nhận được sự động viên và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các thầy
cô giáo và anh chị em cùng khóa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, phòng sau đại học Học viện áo chí và tuyên truyền và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các chuyên đề của toàn khóa học đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ
ặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS ùi Thị Thanh Hương – Người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn này
Trong thời gian nghiên cứu, do ảnh hưởng bởi một số công việc riêng nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp chân thành từ các thầy cô trong hội đồng
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2021
Tác giả
Dương hị Thiềm
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn “Phép biện chứng trong triết học Hêghen và ý nghĩa của nó đối với sự ra đời triết học Mác” là công trình
do tôi nghiên cứu, tìm hiểu và đọc tài liệu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS ùi Thị Thanh Hương ác tài liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, nội dung lý thuyết trong luận văn tôi có sử dụng một số tài liệu tham khảo như đã trình bày trong phần tài liệu tham khảo
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 4 năm 2021
Tác giả
Dương hị Thiềm
Trang 5
MỞ ĐẦU 1 hương 1: Đ ỀU KI N A ĐỜ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA
KẾT LUẬN 83 DANH MỤ L U THAM KHẢO 85
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Yếu tố biện chứng đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử triết học ở cả phương ông và phương Tây, lúc đầu chỉ là những quan niệm hết sức mộc mạc thô sơ, trải qua quá trình vận động lâu dài, những tư tưởng của các nhà triết học đi trước đã được các triết gia về sau kế thừa, phát triển, xây dựng thành phép biện chứng hoàn chỉnh
Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, từ tự nhiên, xã hội đến tư duy đều nằm trong mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau Vận động của các sự vật cũng không diễn ra hỗn độn mà tuân theo các quy luật nhất định Những tính chất vốn có đó của thế giới được phản ánh trong ý thức của con người, hình thành phép biện chứng Lịch sử phép biện chứng gắn liền với lịch sử triết học Những tư tưởng biện chứng thời cổ đại đã xuất hiện khá nhiều, mặc dù còn sơ khai, ở cả phương ông và phương Tây Trong lịch sử triết học phương Tây, Hêraclit được coi là ông tổ của phép biện chứng với những tư tưởng biện chứng xuất sắc, điển hình là: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” Với Hêraclit, các sự vật trong thế giới luôn luôn vận động biến đổi không ngừng, không ngừng “chảy đi”, “trôi đi” giống như dòng song đang chảy Những tư tưởng biện chứng của Hêraclit gợi cảm hứng cho nhiều triết gia sau này tiếp tục đi sâu nghiên cứu cũng như suy ngẫm về thế giới Những thời kỳ phát triển tiếp theo của triết học, rất nhiều tư tưởng biện chứng phong phú ra đời, ngày càng hoàn thiện hơn ến Triết học cổ điển ức, các nhà triết học, đặc biệt là Hêghen đã xây dựng được phép biện chứng hoàn chỉnh gồm những phạm trù, quy luật, phản ánh khái quát toàn diện quá trình vận động phát triển của thế giới
Trang 7Tiếc rằng thế giới quan của Hêghen là duy tâm, ông không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với tư duy, ý thức; trái lại ông cho rằng chính tư duy, ý thức tự vận động là nguyên nhân sinh ra thế giới vật chất; các phạm trù, khái niệm nói về các sự vật được hình thành trong lĩnh vực tư duy thuần túy, có đời sống riêng, tồn tại trước khi các sự vật trong hiện thực khách quan tồn tại; giới tự nhiên và lịch sử chỉ là tồn tại khác của tư duy, ý thức, chỉ là một giai đoạn phát triển của
tư duy, ý thức Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng của quá trình vận động phát triển của tinh thần, của ý niệm, chưa phải là phép biện chứng của chính quá trình vận động của tự nhiên và xã hội Phép biện chứng này, mặc dù đã nắm được những mối liên hệ cơ bản của thế giới nhưng còn những hạn chế, đồng thời mang tính chất gò ép, thần bí .Mác và Ph.Ăngghen, sau đó là V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển một cách sáng tạo những giá trị của lịch sử triết học của nhân loại, đặc biệt là phép biện chứng – “hạt nhân hợp lý” trong triết học của Hêghen, cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, làm cho
nó trở thành phép biện chứng duy vật, thực sự là một học thuyết khoa học
về những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng theo đúng nghĩa hiện đại của nó
ó thể thấy phép biện chứng Hêghen đóng vai trò tích cực đối với sự ra đời của triết học Mác, và cho đến nay phép biện chứng đó vẫn rất cần thiết trong quá trình nghiên cứu cũng như phát triển triết học trong tương lai hính vì phép biện chứng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhận thức và hành động, và có ý nghĩa to lớn đối với sự ra đời của triết học Mác, chống lại các quan điểm siêu hình, duy tâm thần bí, và để góp thêm một nghiên cứu về cách nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng
Trang 8trong thế giới, tôi chọn đề tài “Phép biện chứng trong triết học Hêghen
và ý nghĩa của nó đối với sự ra đời triết học Mác” làm đề tài luận văn
thạc sỹ triết học
2 ình hình nghiên cứu đề tài
àn đến phép biện chứng của Hêghen và sự kế thừa hạt nhân biện chứng đó để xây dựng thành công phép biện chứng duy vật của Mác,
có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Cuốn “Lịch sử triết học phương Tây” – PGS.TS Nguyễn Tiến ũng
– NX Văn nghệ, Tp.Hồ hí Minh, 2009 tác giả đã hệ thống chi tiết những đặc điểm từ triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại đến triết học cổ điển ức, cũng như giới thiệu các triết gia tiêu biểu và tư tưởng của họ
Cuốn sách “Lịch sử triết học phương Tây từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức” (History of Western philosophy from ancient Greek to classical German philosophy) – PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng –
NX hính trị Quốc gia, gồm 11 chương, tác giả giới thiệu những nội dung cơ bản về lịch sử triết học phương Tây từ triết học cổ đại Hy Lạp đến triết học cổ điển ức, cũng như cập nhật thêm những thông tin mới, những cách tiếp cận mới trong các sách và tài liệu nghiên cứu ở các nước phương Tây hiện nay Cuốn sách trình bày một cách có hệ thống và chọn lọc nguồn gốc hình thành và quan điểm cơ bản của các trường phái
và triết gia phương Tây qua các thời kỳ lịch sử về các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, triết học đạo đức, triết học thẩm mỹ, triết học chính trị, triết học xã hội, v.v., ảnh hưởng và sự kế thừa về tư tưởng giữa các triết gia, các trường phái, những đóng góp và hạn chế của họ và ý nghĩa của các quan điểm của họ đối với triết học trong các thời kỳ tiếp theo và thời đại hiện nay
Trang 9Trong cuốn “Triết học cổ điển Đức” – TS.Lê ông Sự - NXB Thế
giới, Hà Nội, 2006 tác giả đã khái quát tư tưởng, nội dung triết học của các triết gia cổ điển ức từ Kant đến Heghen và Phoiơbắc Trong tư tưởng triết học của Kant cũng chứa đựng yếu tố biện chứng, đặc biệt thể hiện ở Học thuyết tinh vân, sự vận động của những đám mây…cho đến quan điểm của Heghen, ông đã xây dựng hệ thống triết học của mình, trong đó chứa đựng hạt nhân phép biện chứng hoàn chỉnh
Cuốn “Giáo trình lịch sử triết học cổ điển Đức” – PGS.TS ùi Thị
Thanh Hương, Nguyễn ình Trình – NXB Khoa học xã hội, 2014, tác giả đã khái quát điều kiện tiền đề ra đời, những đặc điểm chủ yếu của triết học cổ điển ức, các nhà khai sáng ức thế kỷ XVIII, Kant, Phích
tơ, Senlinh, Hêghen, Phoi ơ bắc, giáo trình giới thiệu khá kỹ về triết học Hêghen trong đó có phép biện chứng của ông
Cuốn “Vấn đề tư duy trong triết học Heghen” – PGS.TS Nguyễn
Trọng Chuẩn, ỗ Minh Hợp – NX hính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Tác giả đã khái quát những nguyên tắc xuất phát của quan niệm duy logic về tư duy Tư duy với tư cách vấn đề trung tâm của triết học Heghen, triết học tinh thần, những bí ẩn và thực tại của tư duy
Cuốn “Lịch sử phép biện chứng tập III - Phép biện chứng cổ điển Đức” – Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô – Viện Triết học – Dịch và
hiệu đính – ỗ Minh Hợp – NX hính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tác giả đã khái quát toàn bộ tư tưởng triết học của các triết gia cổ điển ức
và đặc biệt bàn về tư tưởng biện chứng của Heghen
Trong cuốn “Phép biện chứng duy vật với quản lý doanh nghiệp” –
Lê Thanh Sinh – NX hính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tác giả đã nghiên cứu lịch sử phép biện chứng từ Hy Lạp cổ đại cho đến triết học
cổ điển ức Tác giả đã nêu ra một số tư tưởng biện chứng của các triết
Trang 10gia tiêu biểu thời cổ đại ở phương Tây, đặc biệt cũng nêu về phép biện chứng của Hê ghen và đưa ra kết luận: trước Mác đã tồn tại các hình thức của phép biện chứng: Phép biện chứng ngây thơ, tự phát của triết học cổ đại và phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển ức Phép biện chứng duy vật do Mác và Ph.Ăngghen sáng lập ra trên cơ sở tiếp thu và chỉnh lý một cách duy vật đối với phép biện chứng duy tâm của Hêghen Trong triết học Mác, phép biện chứng thực sự trở thành khoa học nghiên cứu các quy luật của thế giới khách quan và của hoạt động chủ quan ên cạnh đó, tác giả cũng nói đến việc tận dụng phép biện chứng duy vật trong quản lý doanh nghiệp hiện nay ây là một trong những nội dung quan trọng thể hiện vai trò của phép biện chứng duy vật đối với thực tiễn xã hội hiện nay
Cuốn “Triết học với đổi mới và đổi mới nghiên cứu giảng dạy triết học” – Học viện hính trị - Hành chính quốc gia Hồ hí Minh, Trần
Thành (chủ biên) – NX hính trị Quốc gia, Hà Nội (2007), tác giả nghiên cứu về phép biện chứng duy vật trong Nghị quyết ại hội X của ảng, phần này do GS.Nguyễn ức ình viết, thể hiện rõ mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong giai đoạn hiện nay, nhận thấy rõ sự tác động qua lại giữa các mặt của đời sống xã hội
Luận văn thạc sĩ “Phép biện chứng của G.V.Ph.Hêghen trong
“Bách khoa thư các khoa học triết học 1: Khoa học lôgic”” – Vũ Thị
Phương (2012) – Học viện áo chí và tuyên truyền, luận văn tập trung khai thác và nghiên cứu yếu tố biện chứng mà Hêghen thể hiện trong tác phẩm của mình, đồng thời đưa ra những nhận xét, chỉ ra những hạn chế của triết học Hêghen, khẳng định tính hợp lý của phép biện chứng Hêghen
Trang 11Luận văn thạc sĩ “Các nguyên lý của phép biện chứng duy vật trong sinh học hiện đại” – Lê Thị Thảo (2012) – Học viện áo chí và tuyên
truyền, tác giả nêu mối quan hệ biện chứng giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới sống, tính thống nhất vật chất của thế giới sống là cơ sở của mối liên hệ phổ biến, đặc biệt tác giả đã nghiên cứu nguyên lý phát triển trong sinh học hiện đại, khẳng định sự vật hiện tượng trong thế giới sống luôn vận động, phát triển
Luận văn thạc sĩ “Về biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay” – Trần Thị Phương Nga
(2014) – Học viện áo chí và Tuyên truyền, khái quát về tác phẩm Hệ tư tưởng ức và vấn đề biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm, vận dụng biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay
Luận văn thạc sĩ triết học “Chủ nghĩa duy vật biện chứng trong các tác phẩm: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” – Vũ Thị hâm (2015) – Học viện áo chí và Tuyên
truyền, bàn đến nội dung các tác phẩm út ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, giá trị của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong hai tác phẩm đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người…
ác công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến tư tưởng triết học trong các thời kỳ khác nhau, một số công trình đã cho người đọc thấy được tư tưởng triết học của Hêghen và phép biện chứng duy tâm của ông ác công trình luận văn thạc sĩ cũng đã khái quát về phép biện chứng duy vật sau này, tuy nhiên các công trình trên chưa chỉ ra được ý nghĩa phép biện chứng Hêghen trong giai đoạn hiện nay, phép biện
Trang 12chứng đó được hiểu như thế nào trong giai đoạn mới, nó đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác và ý nghĩa lý luận hiện nay Nên trong quá trình tìm hiểu và chọn lựa vấn đề, tôi thấy nghiên cứu vấn đề “Phép biện chứng trong triết học Hêghen và ý nghĩa của nó đối với sự ra đời triết học Mác” là thực sự cần thiết nhằm phục vụ, cũng như có sự đóng góp mới cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học trong tương lai
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu phép biện chứng trong hệ thống triết học của Hêghen, từ đó làm rõ ý nghĩa phép biện chứng của Hêghen đối với sự ra đời của triết học Mác
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
ể đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Phân tích những tiền đề ra đời và khái quát hệ thống triết
học của Hêghen
Thứ hai: Phân tích nội dung phép biện chứng của triết học Hêghen,
đặc biệt là ba quy luật
Thứ ba: Khẳng định ý nghĩa phép biện chứng Hêghen đối với sự ra
đời của triết học Mác, cả trong quá trình hình thành cũng như phát triển triết học Mác trong tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: phép biện chứng Hêghen và ý nghĩa của nó
với sự ra đời triết học Mác
Phạm vi nghiên cứu: Phép biện chứng Hêghen có nội dung rất phong
phú, tuy vậy trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy luật mà Hêghen đã đề cập trong phép biện chứng của mình
Trang 135 ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên nền tảng phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
ồng thời luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng như phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, quy nạp
và diễn dịch, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa …, nhằm sắp xếp, hệ thống, luận giải, phân tích, nhận định một cách đúng đắn và khoa học về phép biện chứng Hêghen và ý nghĩa của nó với sự ra đời triết học Mác
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần khái quát nội dung hệ thống triết học của Hêghen, đặc biệt làm rõ hạt nhân biện chứng trong hệ thống đó và ý nghĩa phép biện chứng Hêghen đối với sự ra đời của triết học Mác
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn cung cấp một cách hệ thống khái quát
phép biện chứng của Hêghen và sự kế thừa hạt nhân phép biện chứng đó của Mác và Ph.Ăngghen
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho
sinh viên, học viên nghiên cứu những nội dung liên quan đến phép biện chứng hoặc trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực trong tự nhiên, xã hội và tư duy
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết
Trang 14hương 1
Đ Ề K N A ĐỜ NỘ D NG Ủ Ế
ỦA P ÉP N ỨNG G EN
1.1 Điều kiện ra đời phép biện chứng của êghen
1.1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nước Đức thế kỷ XVIII
ũng như các nhà triết học đi trước, tư tưởng triết học của Hêghen trong đó có phép biện chứng chịu sự quy định từ điều kiện kinh tế - xã hội - khoa học và nhận thức ở nước ức đương thời
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX khi chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập và phát triển mạnh mẽ hầu hết ở các nước Tây Âu, thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra những bước nhảy đột biến trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khẳng định tính ưu việt hơn hẳn của chủ nghĩa tư bản so với tất cả các chế độ xã hội trước đó ác thành quả về văn hóa, khoa học nở rộ ở các nước Ý, Pháp, nh… đã minh chứng cho năng lực vô tận của nhận thức và cải tạo thế giới của con người
Trong khi đó thì nước ức vẫn ỳ ạch trong chế độ phong kiến, nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu Lãnh thổ
bị chia cắt, manh mún Hầu hết ruộng đất nằm trong tay địa chủ phong kiến, những tàn dư của chế độ nông nô, chế độ phường hội trong thành thị, đã làm cho năng suất lao động thấp, đời sống của đại đa số quần chúng nhân dân trở nên nghèo nàn và vô cùng cực khổ Triều đình vua Phổ Phririch Vinhem (1770 - 1840) không ngừng tăng cường quyền lực
và duy trì chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc, muốn đưa nhân dân mình quay trở về thời kỳ trung cổ, cản trở nước ức phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
Trang 15Mặc dù vậy, theo quy luật tất yếu, mầm mống của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện và phát triển trong mọi ngành kinh tế, các công trường thủ công hình thành từ thế kỷ XVI ù chậm chạp so với các nước Tây Âu khác, nhưng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX nước ức
đã có một số chuyển biến nhất định theo hướng kinh tế tư bản, rõ nhất là
sự áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong ngành vận tải, xuất hiện tàu thủy chạy bằng hơi nước và con đường xe lửa đầu tiên được xây dựng năm 1835, một bộ phận ruộng đất nông thôn được chuyển sang kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa, công nghiệp khai mỏ, công nghiệp dệt, công nghiệp hóa chất tương đối phát triển, các trung tâm công nghiệp xuất hiện ở vùng sông Ranh, Vétxphalen, Xắcxôni…
Tuy nhiên do vị trí địa lý không thuận lợi, các cuộc chiến tranh liên miên xảy ra, sự chia cắt lãnh thổ, thiên tai, khủng hoảng kinh tế liên tục diễn ra khiến nước ức rơi vào tình trạng kiệt quệ, hoang tàn Ph.Ăngghen viết: “…tình hình nước ức cuối thế kỷ trước ấy là cả một đống những cái chán chường, mục nát và tan rã Không ai cảm thấy
dễ chịu Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp trong nước đều rơi vào cảnh điêu tàn cùng cực Nông dân, thợ thủ công
và chủ xí nghiệp chịu hai lần khổ ải: chính quyền ăn bám và trạng thái tiêu điều Bọn quý tộc và vương hầu cảm thấy rằng mặc dầu thu nhập của chúng vẫn không thể bù đắp được khoản chi tiêu ngày một phình lên của chúng Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn đã bao trùm cả nước Không có giáo dục, không có phương tiện ảnh hưởng đến ý thức quần chúng, không tự do báo chí, không có dư luận xã hội, thậm chí không có buôn bán tương đối lớn với các nước khác - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi; lề thói con buôn hèn mạt, xun xoe nịnh hót thảm hại,
đã thâm nhập toàn dân Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp
Trang 16sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ
đã chết rồi” [ Mác và Ph.Ăngghen (1995): Toàn tập, tập 2, Nxb hính
trị Quốc gia, Hà Nội, tr.754]
Giai cấp tư sản ức ra đời và phát triển cùng sự phát triển của công, thương nghiệp, mục tiêu của họ là chống lại chế độ quân chủ phong kiến
và thống nhất đất nước, tạo nên thị trường dân tộc ức Song do phân bố rải rác ở các lãnh địa phong kiến tách biệt nhau, họ đã không thống nhất được giai cấp mình thành một giai cấp có sức mạnh về kinh tế và tổ chức Tuy thế, thực trạng của đất nước và sự ảnh hưởng của một số nước xung quanh đã làm thức tỉnh một bộ phận cấp tiến của giai cấp tư sản và lực lượng tiến bộ ức ác nhà văn nhà thơ, nhà tư tưởng, nhà triết học
đã hấp thụ được những tinh hoa quý báu của nền văn hóa ức truyền thống và tiếp nhận được tinh thần nhân văn tiến bộ của phong trào Khai sáng Pháp, của ách mạng Tư sản Pháp nên đã công khai phản bác, chống lại sự trì trệ, bảo thủ của xã hội phong kiến, đồng thời phản ánh nguyện vọng của các giai tầng trong xã hội, đòi hỏi phải phát triển đất nước theo mô hình các quốc gia lân cận Hêghen cũng quan sát rõ các sự kiện ở Pháp thời đó: những cải cách của Napôlêông ở vùng sông Ranh
đã cho Hêghen nhận thấy rằng cách mạng đã chuyển thành mặt đối lập với nó là phản cách mạng như thế nào, chế độ quân chủ mà hy vọng sẽ bảo vệ các thành quả của cách mạng được phục hồi sau một cuộc chính biến mới ở Pháp ra sao
Về tư tưởng, ở nước ức, hệ tư tưởng thần học chiếm vị trí độc tôn trên vũ đài lý luận Thần học là khoa học cơ bản trong các trường đại học tổng hợp Triết học và các môn khoa học xã hội khác nhiều khi chỉ
là sự biện hộ và bảo vệ cho thần học Trước một thực trạng xã hội rối ren
Trang 17phức tạp và mâu thuẫn chồng chất như vậy, trong tâm trạng của tầng lớp trí thức ức đương thời đã xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực - đó là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, xuôi chiều, phủ nhận việc cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại hợp lý của xã hội đương thời
Hêghen xuất thân từ gia đình có truyền thống tôn giáo, tiếp thu nền giáo dục kinh viện, đậm tính chất tôn giáo ở Tây Âu thời phong kiến Những tư tưởng của tôn giáo đã góp phần định hình nên những nền tảng
cơ bản của triết học Hêghen: đó là lập trường duy tâm, là quan niệm xem
tư duy của con người đứng ở vị trí trung tâm của thế giới Hơn nữa, trong quá trình theo học trường dòng và ảnh hưởng từ những người bạn như Schelling, triết học Hêghen cũng kế thừa sự huyền bí của các quan niệm tôn giáo iều này, trong bối cảnh hạn chế về hiểu biết khoa học -
kỹ thuật, nền kinh tế kém phát triển, chính trị lạc hậu của nước ức đương thời đã góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng của triết học Hêghen
Giống như tư tưởng của nhiều nhà triết học khác, hệ thống triết học của Hêghen chịu ảnh hưởng và kế thừa các tư tưởng triết học trong quá khứ ác nhà triết học biện chứng của Hy Lạp cổ đại như Pácmênít, ênông, naxagorơ, Hêraclit, Platông,…; các tư tưởng biện chứng thời cận đại đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của Hêghen
ác nhà biện chứng cổ Hy Lạp đã thấy rằng các sự vật xung quanh
ta nằm trong một mớ chằng chịt vô tận những sợi dây liên hệ và những tác động qua lại lẫn nhau, trong đó không có gì là y nguyên như cũ, đứng yên chỗ cũ, mà tất cả đều vận động, biến hóa, sinh thành và tiêu vong Nhưng
do chưa đạt đến trình độ đi sâu phân tích giới tự nhiên cho nên các nhà biện chứng cổ Hy Lạp chú ý đến sự vận động, đến sự quá độ từ cái này sang cái
Trang 18khác, đến những mối liên hệ nhiều hơn là chú ý đến cái đang vận động, đang quá độ và đang liên hệ với nhau ách nhận xét thế giới như vậy, theo Ăngghen là một cách nhận xét còn nguyên thủy, ngây thơ, nhưng căn bản
là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả của những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học
Tư tưởng biện chứng cổ đại như một cơ sở, nền móng cho Hêghen tiếp tục hình thành tư tưởng biện chứng, ông đã nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những thành tựu, bỏ đi những hạn chế trong tư tưởng của các nhà triết học tiền bối, ông đã gom góp từng tư tưởng biện chứng quý giá, chắt lọc chúng để kết tinh lại trong hệ thống lý luận biện chứng của mình Nghiên cứu cách quan niệm của Hêraclit về sự vận động, về mặt
đối lập, về mâu thuẫn, Hêghen thừa nhận rằng không có một luận điểm nào của Hêraclit mà ông lại không tiếp thu trong triết học của ông
Triết gia Hy Lạp cổ đại được Hêghen rất tâm đắc là Pácmênít, luận điểm của Pácmênít: “Tư duy là cái mà tư duy suy tư về nó chính là Một” được Hêghen đánh giá là “ ản nguyên của triết học theo đúng nghĩa của
từ này”, bởi Pácmênít đã gợi mở ý tưởng đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, khởi nguyên của thế giới là tư tưởng
ùng với đề cao và kế thừa Hêraclít, Pácmênít, Hêghen tiếp nhận trong triết học biện chứng của mình nhiều di sản triết học Hy Lạp khác như ênông, êmôcrít, Empêđốccơlơ Chẳng hạn từ tư tưởng của Empêđốccơlơ trong quan niệm về nhận thức, trên lập trường duy tâm khách quan của mình, Hêghen cho rằng tư duy chỉ có thể nhận thức được những gì có bản chất đồng nhất với nó, vì vậy những quan niệm cho rằng vật chất tồn tại độc lập, không liên hệ với tư duy, đó chỉ là những quan niệm vô nghĩa, không có nội dung tư tưởng, chẳng khác gì những người
ra sức đọc một điều gì đó trên tấm bảng đen nào đó không có lấy một
Trang 19chữ, tư duy trở thành tính quy định và điều kiện để tiếp cận, khám phá đối tượng
naxagorơ với quan điểm Nus thống trị toàn thế giới được Hêghen thừa nhận là “một chân trời hoàn toàn mới mẻ đã được mở ra” Mặc dù
có những quan niệm cho rằng, Nus của naxagorơ là một khái niệm không hoàn toàn xác định nên khi gán cho Nus một số đặc tính nhất định nào đó thì có thể xem Nus là thực thể vật chất Kiên định lập trường của mình, Hêghen khẳng định, Nus chỉ là tinh thần thuần túy và đó là trí tuệ của vũ trụ Vì vậy trong lịch sử tư tưởng triết học Anaxagorơ được xem như là thủy tổ của tư tưởng về sự hiện hữu của tinh thần tuyệt đối Hêghen xem quan niệm Nus của naxagorơ như là một chân lý vĩnh hằng
Tư tưởng biện chứng của Platông đóng vai trò to lớn để định hình phương pháp biện chứng của Hêghen Trong học thuyết ý niệm của mình, triết gia lừng danh thời Hy Lạp cổ đại đã tuyệt đối hóa khái niệm, rút khái niệm ra khỏi các sự vật, làm cho khái niệm có một đời sống độc lập Ý niệm tồn tại siêu cảm tính nhưng lại là nguồn gốc của các sự vật cảm tính tồn tại trong sự vận động và biến đổi ái bất biến là nền tảng của cái biến đổi, thế giới ý niệm đã trở thành chiếc cầu dẫn nhà duy tâm khách quan của thời cổ đại hòa nhập vào nhà duy tâm khách quan của thế kỷ XIX ở trình độ cao hơn, điểm giống nhau của họ là đều tuyệt đối hóa khái niệm, xem khái niệm là cái có trước và là nguồn gốc của các sự vật cảm tính iểm khác biệt cơ bản là các ý niệm của Hêghen không còn tồn tại ở một thế giới khác mà tồn tại ngay trong thế giới, là cái vốn
có của thế giới Hêghen đã loại bỏ tính nhị nguyên về bản thể luận của Platông Những tư tưởng của Platông về sự tồn tại phổ biến của những mặt đối lập nhau trong thế giới, quan niệm của Platông: “ ái đang tồn tại,
Trang 20không có bất cứ một mâu thuẫn nào, trở nên hàng ngàn ngàn lần cái không đang tồn tại” được Hêghen đặc biệt đề cao
Nhà triết học Spinôda của Hà Lan thời cận đại cũng là một địa chỉ mà Hêghen rất quan tâm Một trong những luận điểm nổi tiếng của Spinôda:
“Tính quy định là sự phủ định” được Hêghen cực kỳ yêu thích với tinh thần biện chứng sâu sắc hàm chứa trong đó Ông cũng nghiên cứu triết học ềcác, Rútxô … của nước Pháp; Lốccơ, éccli, Hium … của nước nh và chắt lọc những phương pháp, những tư tưởng phù hợp với quan niệm của ông Hêghen cũng đã rút ra nhiều điều từ lịch sử triết học ức và tiếp nhận những quan điểm triết học hợp lý của các triết gia đồng hương như: ăngtơ, Phíchtơ, Sêlinh, Lêxinh… hẳng hạn, Hêghen tiếp nối tư tưởng của ăngtơ về sự đồng nhất giữa luật của tư tưởng với luật của thực tại, ông đã phát triển quan niệm đó trong toàn bộ hệ thống triết học của mình, hay tư tưởng của ăngtơ “Hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ xây dựng thế giới từ nó, nghĩa là, hãy cho tôi vật chất, tôi sẽ chỉ cho các anh thấy, thế giới đã ra đời từ vật chất như thế nào” Theo ăngtơ, thế giới này được cấu tạo từ vật chất luôn luôn vận động và biến đổi, tất cả các sự vật đều nằm trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau thông qua lực hút và lực đẩy Thế giới là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của tự nhiên theo hướng ngày càng hoàn thiện Theo tinh thần định luật Vạn vật hấp dẫn của Niutơn, ăngtơ đã yêu cầu phải xem xét thế giới tự nhiên trong tính toàn bộ vô cùng vô tận của nó như là một hệ thống duy nhất ăngtơ là người đầu tiên đã khám phá ra ảnh hưởng của lực hấp dẫn giữa trái đất
và mặt trăng với các hiện tượng thủy triều Vì vậy, không chỉ mọi sự vật trong thế giới mà toàn bộ vũ trụ đều nằm trong quá trình phát sinh, phát triển, và diệt vong ó là một quy luật ên cạnh đó, Hêghen cũng tìm mọi cách hợp lý nhất, thuyết phục nhất để vượt qua các antinômi của
Trang 21ăngtơ Thứ nhất, ăngtơ chưa thấy được mâu thuẫn ở trong hiện thực
khách quan mà chỉ nhận thức được mâu thuẫn ở trong tư tưởng, lý tính
của con người Thứ hai, các antinomie này không phải là mâu thuẫn biện
chứng vì không thể tìm thấy sự thống nhất và chuyển hóa giữa chúng
Thứ ba, quá trình giải quyết mâu thuẫn là động lực thúc đẩy sự phát triển
thì với ăngtơ chỉ dừng lại ở việc phân tích từng mặt đối lập để kết luận
đúng hay sai Thứ tư, ăngtơ đã hạn chế số lượng antinomie mà thực tế
thì không phải chỉ như vậy, chúng có trong tất cả các sự vật ở mọi hình thức, trong tất cả các quan niệm, ý niệm về khái niệm
Tiếp theo, với Sêlinh, người vừa là bạn thân vừa là bậc tiền bối triết học của ông, ông đã dùng tinh thần của triết học đồng nhất Sêlinh trong
mô tả về sự vận động của ý niệm tuyệt đối Sêlinh cho rằng để giải quyết được mối quan hệ giữa con người và thế giới thì không thể dừng lại với cái tôi tuyệt đối của Phíchtơ mà phải vươn tới một khởi nguyên có tính bao quát hơn
Ông nhận thấy quan niệm của Spinôda và quan niệm của Phíchtơ có điểm giống nhau là cả hai đều cho rằng toàn bộ hiện thực là một chỉnh thể hữu cơ thống nhất của vật chất và tinh thần Kế thừa điểm hợp lý đó, Sêlinh khẳng định cơ sở của mọi cái đang tồn tại là sự đồng nhất tuyệt đối giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và tinh thần, giữa khách thể và chủ thể Theo ông, cái nguyên lý cao nhất không có thể là chủ thể, không
có thể là khách thể, cũng không có thể là cả hai trong một lúc mà chỉ có thể là sự đồng nhất tuyệt đối
“Sự đồng nhất tuyệt đối” được Sêlinh gọi là cái tuyệt đối ái tuyệt đối không phải là cái ở giữa vật chất và tinh thần mà chỉ là trạng thái đặc biệt, trạng thái vô ý thức của tinh thần thế giới Như vậy, nền tảng của thế giới này vẫn chỉ là kết quả và biểu hiện của căn nguyên tinh thần
Trang 22hính vì thế, theo Plekhanoz, nhà lý luận mác – xít Nga, thì điểm khác giữa cái tôi tuyệt đối của Phíchtơ và cái tuyệt đối của Sêlinh chỉ là ở chỗ: tự nhiên là kết quả của sự hoạt động không phải là của cái tôi hữu hạn của con người, mà là của chủ thể vô hạn, của cái tôi tuyệt đối cần phải thêm vào đấy rằng sự hoạt động sáng tạo ra tự nhiên của cái tôi tuyệt đối, theo tinh thần của Sêlinh là của một thứ hoạt động vô ý thức
ái làm cho giới tự nhiên xuất hiện và phát triển theo Sêlinh là do: trong cái tuyệt đối – cho dù là sự đồng nhất tuyệt đối – thì sự đồng nhất
ấy vẫn chứa đựng sự tự phân biệt thông qua ham muốn về ý thức và hành động để tự nó phân biệt với chính nó Sêlinh gọi hoạt động tự phân
đó là hoạt động vô ý thức và mù quáng Giới tự nhiên ra đời là kết quả của những hoạt động này Vì vậy, Sêlinh cho rằng giới tự nhiên là giai đoạn phát triển thấp của cái tuyệt đối
Giới tự nhiên vận động và phát triển thông qua ba giai đoạn là: giai đoạn thế giới được hình thành từ những mặt đối lập chủ yếu thông qua lực hút và lực đẩy Giai đoạn tiếp theo là thông qua những mối liên hệ động lực học để thiết lập những cơ chế chung của vật chất và giai đoạn thứ ba là hình thành thế giới hữu cơ, với biểu tượng con người là tinh hoa của cái tuyệt đối
Sự phát triển của giới tự nhiên từ giai đoạn này qua giai đoạn khác
là sự chuyển biến dần dần theo chiều hướng từ vô ý thức đến có ý thức
ó là quá trình phát triển biện chứng của cái tuyệt đối, mà mỗi thuộc tính vốn có của giới tự nhiên chỉ là biểu hiện cảm giác của cái tuyệt đối trong quá trình chuyển dịch đó ác sự vật và hiện tượng trong tự nhiên chỉ là những vật chứng, bảo chứng cho sự hiện thân của cái tuyệt đối cùng với toàn bộ giới tự nhiên tạo ra lịch sử cho cái tuyệt đối Lịch sử của giới tự nhiên đã thành lịch sử của cái tuyệt đối
Trang 23ó thể nói triết học Hêghen có sự kế thừa một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các quan niệm, tư tưởng, phương pháp của các triết gia đi trước trong quá trình xây dựng tư tưởng biện chứng nói riêng (và triết học nói chung) của mình
ên cạnh đó tiền đề văn hóa cũng ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng triết học của Hêghen đặc biệt là văn hóa duy lý, đại biểu điển hình là nhà
triết học ềcáctơ Trong Những bài giảng về lịch sử triết học, Hêghen đã
đánh giá vai trò triết học của ềcáctơ là “đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học Tây Âu thời cận đại” ềcáctơ khẳng định, muốn trở thành người thông thái, thì ít nhất một lần trong đời, ta phải biết hoài nghi về tất cả Trên thực tế thì ềcáctơ không chỉ một lần hoài nghi, nhưng khác với những quan niệm hiểu nghi ngờ theo thói quen hàng ngày, hoài nghi ở ềcáctơ đã trở thành phương tiện để đạt tới chân lý
Sau thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu, trí tuệ vẫn tiếp tục phải chịu ảnh hưởng của hai thiên kiến đó là: sự ấn định của nhà thờ thông qua những tín niệm trở thành những chân lý bất di bất dịch và sự thống ngự của Aríttốt về mặt học thuật
Trong bầu không khí đó, tư tưởng hoài nghi của ềcáctơ đã mang một ý nghĩa cách mạng Tính cách mạng mà ềcáctơ tạo ra trước hết là
ở chỗ ông đã đối xử với các triết học kinh viện trên tinh thần thời đại,
mà theo cách nói của Hêghen là sự lên men triết học
Với ềcáctơ, hoài nghi không phải là kết quả cũng không phải là kết luận triết học mà hoài nghi là phương tiện để loại bỏ hoài nghi Do vậy, ềcáctơ đã phá hủy chủ nghĩa hoài nghi bằng vũ khí do chính chủ nghĩa hoài nghi rèn đúc nên Trên tận cùng của không thể hoài nghi, ông
đi đến kết luận: “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”
Trang 24Chủ nghĩa duy lý cũng là một trong những tiền đề hết sức quan trọng đối với Hêghen, ngoài việc đánh giá sâu sắc về các quan điểm của nhiều nhà triết học Hêghen cũng kế thừa những yếu tố biện chứng để hình thành nên hệ thống triết học của mình
1.1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên của phép biện chứng Hêghen
ùng với tình hình kinh tế - xã hội trong nước, sự phát triển khoa học, đặc biệt là sự phát triển của khoa học tự nhiên đã đặt ra nhiều vấn đề phải xem xét lại, yêu cầu phải có cái nhìn mới về thế giới và con người
ó thể nói đến các phát minh khoa học tiêu biểu liên quan chặt chẽ đến tư duy biện chứng: năm 1748, Lomonosov, nhà bác học Nga đã tuyên bố định luật bảo toàn vật chất và vận động; Nhà hóa học người Pháp Lavoarê, bằng một loạt thí nghiệm tỉ mỉ, có độ chính xác cao, đã tìm ra khí ôxy trong không khí trộn lẫn với các chất khi cháy, mở đầu việc khám phá rằng nhiệt, ánh sáng, điện và tính muôn vẻ của thế giới đều là những hình thức khác nhau của tồn tại vật chất; ở nước nh, nhà vật lý và hóa học antơn, người được Ăngghen coi là cha đẻ của hóa học hiện đại đã khám phá ra cấu tạo hóa học của các vật thể, nhờ đó con người giải thích được rằng những thay đổi về chất của các vật thể đều phải tùy thuộc vào sự cấu tạo về lượng của chúng; khoa học về điện đã chứng minh bản chất của dòng điện là sự tương tác giữa dòng điện âm và dòng điện dương để tạo ra dòng điện thống nhất ùng với phát hiện hiện tượng điện phân là việc khám phá từ trường xung quanh vật mang điện tích vào năm 1821 của nhà khoa học người an Mạch Ectét, nhà vật lý Pharađây của nước Anh nhờ đó đã chế tạo máy phát điện, động cơ điện…
Trong sinh học, khái quát những kết quả nghiên cứu của thời đại, Lamác, nhà khoa học tự nhiên Pháp đưa ra luận điểm cho rằng sự thay
Trang 25đổi của môi trường bên ngoài dẫn tới sự xuất hiện những tính chất mới của sinh vật, những tính chất mới này được di truyền lại Theo ông cái hữu sinh xuất hiện từ cái vô sinh nhờ những “lưu thể” vật thể đặc biệt và diễn ra từ đơn giản đến phức tạp Những quan điểm của ông đi ngược lại
lý thuyết siêu hình về sự bất biến của các loài và được ácuyn kế thừa trong thuyết tiến hóa…
ác phát minh của khoa học tự nhiên, một cách ngẫu nhiên, chứng
tỏ tính chất biện chứng vốn có của thế giới, nó chỉ ra rằng mọi sự vật hiện tượng, quá trình trong thế giới không những vận động không ngừng
mà còn luôn liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Thực tế đó đòi hỏi một cách nhìn mới về các hiện tượng tự nhiên, thúc ép để phương pháp tư duy biện chứng ra đời thay thế cho phương pháp siêu hình của thời kỳ trước
Trên cơ sở các thành tựu khoa học, Sêlinh(1775-1854), bậc tiền bối của Hêghen đã trình bày “Triết học về tự nhiên” của mình như là một đáp ứng cho nhu cầu suy ngẫm triết học về những kết quả mới của khoa học tự nhiên; còn với ăngtơ (1724-1804), nhà bác học uyên thâm về nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên, từ những thành tựu vật lý đương thời, ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển tự nhiên của vũ trụ và trái đất thấm đượm một tinh thần duy vật biện chứng, điển hình nhất là thuyết tinh vân về sự hình thành hệ mặt trời; Hêghen có những hiểu biết sâu rộng về toán học, ông đã xem xét phép tính vi phân một cách sâu sắc trên phương diện triết học và khái quát các thành tựu khoa học mới để trình bày sự vận động của giới vô cơ, giới hữu cơ trong các tác phẩm triết học của mình, đặc biệt là “Triết học tự nhiên”;…
Trang 261.1.3 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Hêghen
Hêghen (Gioocgiơ Vinhem Phriđrich Hêghen) sinh năm 1770, mất năm 1831 Gia đình Hêghen là gia đình quan chức cấp cao của nước
ức, Hêghen tốt nghiệp ại học Thần học Tuebigen năm 1793
Ngay khi còn học phổ thông trung học tại quê nhà (Stutgát) cũng như khi học đại học, Hêghen nổi tiếng là một thanh niên say mê học tập
và có cách suy nghĩ cấp tiến Hêghen kiên nhẫn phân tích tất cả những tác phẩm quan trọng đã được học, chắt lọc và ghi chép chúng Những vốn học vấn đầu tiên này có vai trò quan trọng đối với việc hình thành phương pháp của Hêghen
Hêghen nghiên cứu rất nhiều về văn hóa Hy Lạp và đặc biệt yêu thích những di sản của nền văn minh này Ông từng viết: “Nghe nhắc đến tên Hy Lạp, người ức có học vấn liền cảm thấy thoải mái quen thuộc … những gì ở đây, hiện tại - khoa học và nghệ thuật, tất cả những
gì nâng cao và tô điểm cuộc đời - chúng ta đều rút từ Hy Lạp, trực tiếp
hoặc gián tiếp” [Will Durant (2008), Câu chuyện triết học, Nxb Văn hóa
thông tin, tr.245] Hêghen nồng nhiệt chào đón và bênh vực cuộc cách mạng tư sản Pháp, ông cho rằng dân tộc Pháp, nhờ cuộc cách mạng này
đã được giải phóng khỏi nhiều định chế lạc hậu của xã hội phong kiến Ông cũng phê phán gay gắt những thể chế và quy định tôn giáo đang chèn ép tự do, tư tưởng, khát vọng của con người
Năm 1799, Hêghen chuyển đến giảng dạy tại trường ại học Iena, ông nghiên cứu thêm kinh tế học chính trị và giảng dạy lôgíc học, siêu hình học, triết học tự nhiên, toán học…, ông cũng từng làm chủ biên một
tờ báo Năm 1812, Hêghen làm hiệu trưởng một trường trung học ở
Nuremberg Năm 1816, Hêghen công bố tác phẩm Khoa học lôgíc, tác
Trang 27phẩm được xã hội ức đặc biệt chú ý Sau đó ông trở thành giáo sư tại
ại học Haidelberg, ại học eclinh và cho ra đời nhiều tác phẩm quan
trọng, trong đó có Bách khoa thư các khoa học triết học - tác phẩm bao
hàm toàn bộ nội dung của triết học Hêghen Từ đó trở đi, triết học Hêghen thống trị giới triết học ở nước ức, ông là một tên tuổi đầy tự hào của nước ức
Bản thân nhà triết học Hêghen cũng như hệ thống triết học của ông nằm trong dòng chảy tự nhiên của nền văn hóa châu Âu, biểu thị những đặc điểm chung của nền văn hóa này - một nền văn hóa có truyền thống duy lý, đồng thời với Hêghen, như đã trình bày, ông có sự kế thừa hầu hết những giá trị trong triết học của các triết gia trong lịch sử và phát triển cao độ chúng, trên lập trường duy tâm khách quan của mình
Về lập trường chính trị, có thể nói thái độ chính trị của triết gia Hêghen tiêu biểu cho giai cấp tư sản ức cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Ở nước ức thời kỳ này, mặc dù nằm trong sự kiềm tỏa của chế độ phong kiến già nua, lỗi thời, nhưng theo quy luật tất yếu, giai cấp tư sản vẫn ra đời gắn với các yếu tố tư bản chủ nghĩa trong sản xuất Phát triển cùng với các sự phát triển của công, thương nghiệp, mục tiêu của giai cấp tư sản là chống lại chế độ quân chủ phong kiến và thống nhất nước
ức, tạo thị trường dân tộc ức Song, do phân bố rải rác ở các lãnh địa phong kiến tách biệt nhau, họ đã không thống nhất được giai cấp mình
và không trở thành một giai cấp lớn mạnh
So với giai cấp phong kiến quý tộc, giai cấp tư sản ức nhỏ bé hơn
về số lượng và yếu kém hơn về chính trị Với đặc điểm như vậy, giai cấp
tư sản ức không đủ sức để tiến hành một cuộc cách mạng trong thực tế ồng thời, trước thực tế khốc liệt của cuộc cách mạng Pháp, chứng kiến
Trang 28khí thế cách mạng của giai cấp công nhân và những người lao động ở nước Pháp, giai cấp tư sản ức bộc lộ sự nhút nhát, bạc nhược của mình,
họ đã đi đến nhượng bộ, thỏa hiệp với giai cấp phong kiến quý tộc để bảo vệ những quyền lợi thiết thân của mình
Tất cả những đặc điểm về thái độ chính trị của giai cấp tư sản ức đều thể hiện đầy đủ ở Hêghen Mặc dù chào đón cách mạng Pháp và hào hứng với những thay đổi do cuộc cách mạng này đem lại, mặc dù là tác giả của một hệ thống triết học đồ sộ, chứa đựng một phép biện chứng xuất sắc, nhưng Hêghen vẫn cứ cho ra đời một số quan niệm, tư tưởng được xem là nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị hiện tồn Tiêu biểu nhất trong các quan niệm đó là “ ái gì hợp - lý tính đều là hiện thực Và cái
gì là hiện thực thì hợp - lý tính” [G.W.F Hêghen (2010): Các nguyên lý của triết học pháp quyền, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr.109] (Tuy nhiên, với
phương pháp biện chứng Hêghen, luận điểm này không có nghĩa khẳng
định sự tất yếu của nhà nước Phổ) Trong Triết học tinh thần, Hêghen
cho rằng sự phân chia các chủng tộc người trên thế giới, sự khác nhau về đặc điểm tâm lý giữa các chủng tộc ấy là do yếu tố địa lý khác nhau, trong đó dân tộc ức là “dân tộc tối cao” Trong quan niệm về nhà nước, Hêghen cũng đặc biệt đề cao chế độ quân chủ Phổ, cho rằng đó là một
“thực thể thần thánh trên trái đất” Những mâu thuẫn chất chứa trong hệ thống triết học Hêghen cũng là sự biểu hiện của thái độ chính trị thỏa hiệp của Hêghen nói riêng và giai cấp tư sản ức nói chung…
Tuy nhiên, nền tảng học vấn và những vốn kiến thức mà Hêghen đã cần cù tích lũy, nghiên cứu đã được đúc kết trong một tài sản triết học to lớn ông để lại cho nhân loại
Trang 291.2 ác quy luật của phép biện chứng trong hệ thống triết học êghen
1.2.1 Khái quát hệ thống triết học của Hêghen
iểm xuất phát của hệ thống triết học Hêghen là “ý niệm tuyệt đối” “Ý niệm tuyệt đối” là sản phẩm do sự phê phán bất khả tri luận về “vật tự nó” của ăngtơ mà ra Khi phê phán bất khả tri của ăngtơ về vật tự nó, nhà duy tâm khách quan Hêghen đã tinh thần hóa vật tự nó, song không phải là tinh thần con người mà là tinh thần vũ trụ (thượng đế, chúa trời) và cái tinh thần này đóng vai trò là bản nguyên sinh ra thế giới (giới tự nhiên, con người và xã hội), Hêghen gọi nó bằng một tên khác, đó là “ý niệm tuyệt đối”
“Ý niệm tuyệt đối” không ở trạng thái tĩnh tại, bất biến mà nó luôn luôn vận động, biến đổi và chuyển hóa Nó luôn luôn trú ngụ ở những hình thức tồn tại khác nhau: khi thì ở dạng “tinh thần thuần túy”, khi thì
ở dạng vật chất và khi thì ở dạng “tinh thần thế giới” ản chất hoạt động của “ý niệm tuyệt đối” là hoạt động nhận thức, trong đó chủ thể nhận thức là “ý niệm tuyệt đối”, khách thể nhận thức cũng là “ý niệm tuyệt đối” và kết quả nhận thức cũng vẫn là “ý niệm tuyệt đối” ó là quá trình “ý niệm tuyệt đối” đã tự phân thân thành chủ thể và khách thể, sau đó dùng cái chủ thể để nhận thức chính cái khách thể hóa đó và kết quả nhận thức là thấu hiểu sâu sắc và tái hiện chính bản thân mình trên một trình độ mới Lập luận trên đây đã làm bộc lộ một trong những nguyên lý lớn của triết học, đó là trong ý niệm tuyệt đối cũng như trong mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều có sự tồn tại, thống nhất của hai mặt đối lập
Ý niệm tuyệt đối muốn thực hiện được sự tự nhận thức về mình thì phải tự biến mình thành cái không phải mình, thành cái đối lập với mình, quá trình ấy Hêghen gọi là sự “tha hóa” Vậy “tha hóa” là gì? Quan điểm
Trang 30biện chứng nói chung và biện chứng ở Hêghen nói riêng cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, ở Hêghen là mọi khái niệm mọi sự vật, hiện tượng đều vận động biến đổi và chuyển hóa không ngừng, đó là quá trình các sự vật, hiện tượng tồn tại ở những hình thái khác nhau, khi nào
nó chuyển sang hình thái tồn tại đối lập trực tiếp với nó thì xảy ra cái gọi
là “tha hóa” Ví dụ, trong triết học Hêghen, khi ý niệm tuyệt đối từ hình thái “tinh thần thuần túy” chuyển sang hình thái “vật chất” - đó là tha hóa Sự tha hóa chỉ diễn ra một cách bình thường và sản phẩm của nó chỉ
“mạnh khỏe” khi hình thái tồn tại trước khi đến “hình thái chính thức”
đã phát triển đến cực điểm Chẳng hạn như nụ hoa, khi tự nó đã nở đến cực điểm thì trong sự tàn lụi của cái hoa sẽ trổ ra những cái quả đầy đặn, tròn trịa và ngon lành
Như vậy, bằng con đường tha hóa, ý niệm tuyệt đối tiến hành một quá trình lột xác, lúc đầu tồn tại trong lôgic học dưới hình thái “tinh thần thuần túy” sau đó tha hóa sang giới tự nhiên, trú ngụ trong con người và
xã hội dưới hình thái “vật chất”, sau đó lại tiếp tục tha hóa trở về hình thái “tinh thần thế giới” – một dạng tinh thần mà ở đó ý niệm tuyệt đối
đã nhận thức được về chính bản thân mình
Hệ thống triết học Hêghen gồm ba phần: một là Lôgic học hay còn gọi là tiểu lôgic; hai là Triết học tự nhiên và ba là Triết học tinh thần Trong phần Lôgic học, bằng một hệ thống các tam đoạn thức
Hêghen đã trình bày phép biện chứng của các khái niệm trong ba học thuyết: “Học thuyết về tồn tại”, với ba chương: hất, lượng và độ, Hêghen đã trình bày một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng
là quy luật “lượng đổi – chất đổi” với sự phân tích sâu sắc các phạm trù: chất, lượng, độ, trung giới, tiệm tiến, nhảy vọt Trong “Học thuyết về bản chất”, với ba chương: ản chất, hiện tượng và hiện thực, Hêghen đã
Trang 31trình bày một quy luật cơ bản nữa của phép biện chứng là quy luật mâu thuẫn Qua lập luận về quy luật mâu thuẫn, Hêghen đã trả lời một câu hỏi lớn của lịch sử triết học từ thời cổ đại đến thời ông, đó là: o đâu mà vạn vật lại tự thân vận động? ồng thời cũng trong học thuyết này Hêghen bàn sâu sắc về các phạm trù, tất yếu và ngẫu nhiên, khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức, và sự tác động lẫn nhau Trong “Học thuyết về khái niệm”, với ba chương: Khái niệm chủ quan, khái niệm khách quan và ý niệm, Hêghen trình bày quy luật thứ ba của phép biện chứng là quy luật phủ định của phủ định ồng thời, trong quá trình lập luận, ông phân tích khá sâu sắc các nguyên lý như: mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, tư tưởng về lôgic biện chứng, mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, một số phương pháp biện chứng như phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lôgic và lịch sử
Trong phần Triết học tự nhiên, theo cách cấu trúc tam đoạn thức,
gồm ba chương là ơ học, Vật lý học và Vật lý hữu cơ Trong chương
“ ơ học”, Hêghen trình bày các quan niệm về vật chất và vận động, không gian và thời gian, học thuyết về các thiên thể trên lập trường duy tâm khách quan của ông Trong chương “Vật lý học”, Hêghen nghiên cứu về tính chất lý, hóa của các vật thể với tính cách là “tính cá biệt của vật chất” Lập luận của ông ở chương này toát lên tính biện chứng của quá trình hóa học, sự phụ thuộc của chất lượng hóa học vào số lượng của
nó, mối liên hệ hữu cơ giữa vật lý và hóa học và quan điểm cho rằng quá trình hóa học là khâu cuối cùng chuẩn bị cho đời sống hữu cơ Trong chương “Vật lý hữu cơ”, Hêghen bàn về sự sống, như sự sống là gì, từ đâu mà có? Sự trao đổi chất trong cơ thể sống, mối quan hệ giữa cơ thể sống và môi trường Tuy nhiên các vấn đề trên được ông phân tích trên quan điểm duy tâm khách quan vốn có ồng thời tại đây đã bộc lộ mâu
Trang 32thuẫn gay gắt nhất giữa phương pháp biện chứng và hệ thống giáo điều, thậm chí còn bộc lộ cả những quan điểm phản động của ông
Trong phần Triết học tinh thần, cũng theo cấu trúc tam đoạn thức
thường lệ của sự phát triển, bao gồm ba chương là tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan và tinh thần tuyệt đối Trong chương “Tinh thần chủ quan”, Hêghen trình bày tam đoạn thức của sự phát triển tinh thần chủ quan gồm ba giai đoạn, trước hết là linh hồn Theo ông thì linh hồn
là tinh thần chủ quan thể hiện dưới hình dạng con người, đó là “nhân loại học” Sau đó tinh thần chủ quan chuyển thành ý thức, ở đây tinh thần tự phân biệt với cơ thể, đó là “hiện tượng học” uối cùng tinh thần trở thành “tâm lý học”, tức là nó bắt thế giới phải phục tùng nó
Trong chương “Tinh thần khách quan”, Hêghen trình bày sự phát triển của tinh thần khách quan thể hiện qua tam đoạn thức pháp quyền, đạo đức và phong hóa Trong chương “Tinh thần tuyệt đối”, Hêghen trình bày tam đoạn thức của sự phát triển tinh thần tuyệt đối thể hiện qua nghệ thuật, tôn giáo và triết học Trong nghệ thuật thì tinh thần tuyệt đối thể hiện ra bằng hình ảnh, trong tôn giáo tinh thần tuyệt đối thể hiện ra bằng biểu tượng, còn trong triết học tinh thần tuyệt đối thể hiện ra bằng khái niệm
Khái quát lại, hệ thống triết học của Hêghen xuất phát từ tinh thần, kết thúc cũng bằng tinh thần, một triết học “lộn ngược” sự thật Trong hệ thống triết học Hêghen, tự nhiên, xã hội là cái có sau, đóng vai trò phụ thuộc vào ý niệm tuyệt đối Hệ thống triết học của Hêghen đặc biệt đề cao tính tích cực của tinh thần, của tư duy, lý tính iều này lại dường như thỏa mãn niềm tự hào của con người trước những thành quả lớn lao trong cải biến giới tự nhiên và xã hội của hoạt động có ý thức của con người Chỉ có điều, nó đã tuyệt đối hóa cái khả năng của ý thức, vai trò
Trang 33của ý thức đến mức cho rằng ý thức đó đóng vai trò sáng tạo ra hiện thực Hệ thống triết học Hêghen hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu tinh thần của nước ức, nơi luôn tự hào về khả năng lý tính của dân tộc mình Triết học của Hêghen trở thành triết học nhà nước, được giảng dạy trong tất cả các trường học của nước ức lúc đó, thay thế cho nền giáo dục kinh viện đã trở thành lỗi thời
1.2.2 Phép biện chứng và các quy luật cơ bản trong hệ thống triết học của Hêghen
Khái quát về phép biện chứng trong hệ thống triết học Hêghen
Trong hệ thống triết học của mình, đặc biệt trong tiểu lôgíc, sự vận động của ý niệm tuyệt đối trong trạng thái thuần túy của nó được Hêghen phân tích sâu sắc Vận động của ý niệm tuyệt đối tiếp tục diễn ra
ở giới tự nhiên - dạng tồn tại khác của nó, với mục đích là để tự nhận thức bản thân mình, qua các hình thái giới vô cơ - giới hữu cơ - phát triển đến con người và đến đây, ý niệm tuyệt đối vận động trong nấc thang cao của sự phát triển: trong đời sống tinh thần của xã hội từ thấp đến cao Thông qua quá trình đó, hiện lên rõ nét những nội dung cơ bản của phép biện chứng, với sự sâu sắc và tinh tế
Trước hết là tinh thần xem xét mọi sự vật, hiện tượng, quá trình
trong trạng thái không ngừng vận động và biến đổi, không ngừng mất đi
rồi lại sinh thành Thông qua biện chứng của ý niệm, Hêghen cho thấy phương pháp của ông gắn với vận động, mọi sự vật trong quan niệm của ông không ngừng nảy sinh và tiêu vong, thế giới trong quan niệm của ông luôn là sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao
Nếu như đến lúc này, trong lịch sử phát triển của triết học, còn ít triết gia đạt được quan niệm xem tự nhiên, xã hội và tư duy trong một thể thống nhất thì ở hệ thống triết học của Hêghen, ý niệm tuyệt đối trở
Trang 34thành sợi dây nối liền ba lĩnh vực đó của thế giới ồng thời, trong mỗi lĩnh vực, sự vận động luôn lan tràn từ cái này đến cái khác, chẳng hạn quá trình hóa học là khâu chuẩn bị cho đời sống hữu cơ; hay sự sống không thể thiếu sự trao đổi chất, cơ thể sống không thể tách rời môi trường… Nói cách khác, Hêghen xem xét tự nhiên, xã hội, tư duy và
mọi yếu tố trong các lĩnh vực đó trong mối liên hệ và mối liên hệ đó là
khách quan, phổ biến; Mặt khác, ở mỗi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy, ý niệm tuyệt đối đều vận động theo chiều hướng từ thấp đến cao, ngày càng hoàn thiện mình trong các hình thái cụ thể Chẳng hạn trong giới tự nhiên, ý niệm tuyệt đối vận động từ hình thức vô cơ, đến hữu cơ
và con người được xem là hình thức phát triển cao nhất của tự nhiên Rõ
ràng sự phát triển là khuynh hướng vận động tất yếu, chủ đạo trong sự
vận động của ý niệm, cũng chính là sự vận động của thế giới - nếu bóc
bỏ lớp vỏ ý niệm tuyệt đối mà Hêghen đã phủ lên triết học của ông
Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối vận động theo ba nguyên tắc: mâu thuẫn là nguồn gốc của mọi vận động; vận động luôn bắt đầu từ sự thay đổi về lượng rồi dẫn đến thay đổi về chất; vận động luôn diễn ra có tính chất chu kỳ, sau mỗi chu kỳ, điểm cuối sẽ “dường như” lặp lại điểm ban
đầu nhưng trên cơ sở cao hơn ó chính là ba quy luật cơ bản của phép
biện chứng
ác phạm trù “tồn tại”, “hư vô, “sinh thành”, “tồn tại hiện có”… được Hêghen phân tích khi phác họa sự tác động của quy luật vận động biện chứng của tư duy nhận thức đi từ trừu tượng đến cụ thể
Hêghen cũng trình bày các cặp phạm trù, với tư cách chúng là
những mối liên hệ cơ bản và phổ biến của sự vận động ý niệm Nguyên nhân - kết quả; tất nhiên - ngẫu nhiên; bản chất - hiện tượng; lịch sử - lô
Trang 35gíc; trừu tượng - cụ thể; nội dung - hình thức…là những cặp phạm trù như vậy
Tóm lại, phép biện chứng với tinh thần bao trùm là vận động, với hai nguyên lý mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, với ba quy luật cơ bản và các cặp phạm trù, đã được Hêghen đề cập, phân tích trong hệ thống triết học của ông Những nội dung Hêghen đã trình bày đều vô cùng sâu sắc, phong phú Phép biện chứng trong lịch sử triết học, những
tư tưởng tinh túy nhất đều được Hêghen hệ thống lại, sử dụng và phát triển chúng một cách xuất sắc
Các quy luật cơ bản trong hệ thống triết học Hêghen
Trước hết là quan niệm về quy luật, trong các tác phẩm của mình, Hêghen nêu nhiều lần cách hiểu về quy luật, theo đó, quy luật là những cái giống nhau, cái ổn định, cái thống nhất trong các hiện tượng khi nó phản ánh cùng một bản chất, ông viết: quy luật “là cái gì vững bền (cái được bảo tồn) trong hiện tượng”, “Quy luật là cái đồng nhất trong hiện tượng”, “Quy luật = phản ánh yên tĩnh của những hiện tượng”
[V.I.Lênin (1981): Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, tr.160]
Quy luật là cái yên tĩnh bên trong, nó là sự lặp đi lặp lại một thuộc tính nào đó ở nhiều loại sự vật khác nhau, là hình ảnh yên tĩnh, bất biến của hiện tượng biến dịch Hêghen khẳng định, xuyên qua vô số các hiện tượng có một “VƯƠNG QU YÊN TĨNH Ủ QUY
LUẬT” [ ùi Thị Thanh Hương, Nguyễn ình Trình (2014), Giáo trình lịch sử triết học cổ điển Đức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.108]
Trước khi xem xét các quy luật cơ bản mà Hêghen trình bày trong
hệ thống triết học của mình, có thế xem xét về phương pháp tiếp cận và triển khai các vấn đề, bởi trong phương pháp tiếp cận của ông có hàm chứa các quy luật của tư duy (mà chúng ta biết rằng các quy luật Hêghen
Trang 36dành cho tư duy chẳng qua là các quy luật của thế giới hiện thực nhưng
đã bị gán cho chủ thể tư duy)
Lôgic học Hêghen bắt đầu từ phạm trù “tồn tại” được ông đánh giá
là “thực tồn”, khoa học theo Hêghen nhận xét, bao giờ cũng bắt đầu từ
sự ghi nhận không phân hóa về tồn tại, từ tính không xác định với nghĩa
đó là từ “cái trừu tượng”, và tính không xác định lại chính là khởi điểm Tính không xác định, tính không có nội dung của khái niệm “tồn tại thuần túy nói chung” đó là phương diện tiêu cực của nó, nhưng Hêghen lại cố biến bản thân phương diện đó thành một yếu tố tích cực, vạch ra trong khái niệm trừu tượng đó một sự vận động để khắc phục nó thông qua một khái niệm còn trừu tượng hơn nữa Qua đó đã xuất hiện phạm trù thứ hai của lôgic học là “hư vô” Sự chuyển hóa thành hư vô với tư cách kết quả tự nhiên của tư duy tư biện về tồn tại được quan niệm là tất yếu, vì vận động tiếp theo của tư duy đương nhiên trên thực tế chỉ có thể nhờ vào sự thoát ra khỏi khuôn khổ của các sự tư biện nhờ vào cuộc sống hiện thực Hêghen không thực hiện theo lối thoát đó, mà chuyển tiếp sang phạm trù thứ ba - “sinh thành”
Sự chuyển hóa lẫn nhau của hai phạm trù đó được Hêghen thể hiện qua phạm trù sinh thành Với tư cách là một trong các phạm trù cơ bản nhất của lôgic học Hêghen, “sinh thành” được lý giải là phạm trù quan
hệ, tác động qua lại, là phạm trù đặc trưng cho “tính bất an nội tại” mà ngay từ đầu đã có ở vật chất, sinh thành là sự vận động bất khả kìm hãm,
nó vừa mang tính hủy diệt tức là sự chuyển hóa từ tồn tại thành hư vô lẫn sáng tạo tức là chuyển hóa từ hư vô thành tồn tại Sinh thành phân chia ra thành các phạm trù “thủ tiêu” và “xuất hiện”, nhờ chúng mà sau
đó sinh ra phạm trù “tồn tại hiện có”, tức là tồn tại đã được xác nhận và đang hướng tới tính cụ thể
Trang 37ó chính là quy luật vận động biện chứng của tư duy đang nhận thức đi từ trừu tượng đến cụ thể - logíc cơ bản quy định toàn bộ hệ thống của Hêghen, là trụ cột của lý luận nhận thức của ông, Hêghen còn chỉ ra rằng, trong lôgic học nhìn chung nó diễn ra trong lĩnh vực trừu tượng, tức là trong khuôn khổ của năng lực ghi nhận các ý tưởng thuần túy và vận động bên trong chúng
Một quy luật khác mà Hêghen đã tuân thủ trong lôgic là quy luật thống nhất của cái lôgic và cái lịch sử, chính nó là động lực đi xuyên qua
hệ thống của ông Quy luật này trong lôgic học Hêghen có tác động với phép siêu hình dưới dạng đồng nhất của cái lôgic và của cái lịch sử, nhưng sau đó Hêghen đã phổ biến tư tưởng thống nhất của cái lôgic và cái lịch sử vào toàn bộ lịch sử văn hóa nhân loại như là dưới dạng một
xu hướng biện chứng chung, ở đây nguyên tắc duy tâm của ông thể hiện
ở chỗ: lịch sử chỉ là lôgic học ứng dụng Hệ thống lôgic học của Hêghen
có kỳ vọng đạt tới sức mạnh vạn năng Lôgic của Hêghen là cái đi trước lịch sử, là cái quyết định lịch sử, là ông thần sáng tạo của tự nhiên và xã hội Triết học duy vật biện chứng cũng cải tạo, “lật ngược” quy luật này của Hêghen để có một quy luật vô cùng hiệu quả cho nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người
Quy luật lượng - chất:
Trong “Học thuyết về tồn tại” của Hêghen được triển khai thành tam đoạn thức chất – lượng – độ Nếu sinh thành đã được định nghĩa là một tồn tại có tính quy định thì đó cũng là khái niệm về chất, do đó Hêghen chuyển sang lập luận về chất: Tồn tại – hiện có là tồn tại với một tính quy định; tính quy định (được mang lại) như là tính quy định trực tiếp hay tính quy
định tồn tại đơn thuần: đấy là Chất Theo Hêghen thì chất là tính quy định
nội tại của thực tại Một sự vật nào đấy nhờ chất lượng của nó mà nó là nó
Trang 38và khi mất chất lƣợng ấy thì sự vật đó không còn là nó nữa Theo Hêghen
thì chất không đứng yên, cô lập mà trong cùng một lúc nó diễn ra hai mối
quan hệ: một là với bản thân nó, khi nó đang là “tồn tại hiện có”, “tồn tại tự nó” để xác định nó là gì với tính cách một cái hữu hạn nào đó thì nó luôn luôn vƣợt nó để chuyển thành cái khác, nghĩa là cái khẳng định chứa trong
nó cái phủ định, nhờ hai mặt đối lập này mà chất vận động, phát triển chuyển thành cái “sinh thành”; hai là khi một “tồn tại hiện có”, “tồn tại tự nó” tức một chất lƣợng cụ thể nào đó vận động sang cái “sinh thành” thì nó đồng thời tạo ra hai cái sinh thành là “tồn tại cho nó” và “tồn tại cho cái khác” Nghĩa là chất của một sự vật nào đó chỉ đƣợc xác định trong quan
hệ với chất của một sự vật khác Tính hợp lý của quan điểm Hêghen là ở chỗ ta chỉ có thể nhận thức đƣợc chất của sự vật khi xem xét nó trong quan hệ với cái khác
Theo Hêghen, cái bắt đầu là khái niệm “tồn tại thuần túy”, do có mâu thuẫn bên trong của nó nên chuyển hóa thành “sinh thành” “Sinh thành” là một tồn tại đƣợc quy định, tức là “chất”; chất đạt tới cực độ chuyển thành lƣợng Do sự vận động của chất và lƣợng ra đời khái niệm
độ với tƣ cách là sự thống nhất giữa chất và lƣợng
Chất phát triển đến cực độ thì ra đời phạm trù lƣợng, nghĩa là theo Hêghen sự vận động vô hạn của chất làm mất đi sự khác nhau, do đó tất
cả biểu hiện thành cái 1, tức lƣợng
ể chuyển sang khái niệm số lƣợng, Hêghen phân tích khái niệm
“Một” Khi một “tồn tại hiện có” nào đó triển khai hoàn tất thì nó chuyển thành cái “Một”, tức là một sự vật hoàn chỉnh, đồng thời trong quá trình triển khai thì cái “Một” là cái “Nhiều”, một là nhiều, nhiều là một, từ đó đi tới khái niệm lƣợng: “Lƣợng là tồn tại thuần túy, trong đó tính quy định không còn đƣợc thiết định nhƣ là một với bản thân tồn tại
Trang 39nữa, mà như là đã được vượt bỏ hay dửng dưng” [G.W.F.Hêghen (2008),
Bách khoa thư các khoa học triết học I: Khoa học logic, Nxb Tri thức,
Hà Nội, tr.354]
Nghĩa là, nếu chất là những tính quy định nội tại của tồn tại thì lượng là những tính quy định bên ngoài của tồn tại ũng như chất, lượng là những tính quy định khách quan, vốn có và luôn gắn bó mật
thiết với chất với tính cách là hai mặt đối lập của nhau Sự khác biệt căn
bản giữa chất và lượng là, nếu chất là tập hợp những tính quy định để
xác định một “tồn tại hiện có”, “tồn tại tự nó”, “tồn tại cho nó” thì những
tính quy định về lượng lại “vô quan” với mọi tính quy định về chất, nó chỉ
thể hiện những tính quy định về quy mô (to, nhỏ), số lượng (ít, nhiều), tốc
độ, nhịp độ (nhanh, chậm), cường độ (mạnh, yếu)… trong đó “số” là một biểu hiện rõ nhất về lượng của một tồn tại nào đó Lênin trích lời Hêghen
trong tác phẩm Bút ký triết học như sau: “Lượng, mà trước hết là tính số
lượng với một tính quy định nào đó hay với một giới hạn nói chung, trong
tính quy định hoàn chỉnh của mình là một số” [V.I.Lênin (1981): Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, tr.127]
Giải thích theo quan điểm duy vật biện chứng, đó là quá trình trừu
tượng hóa của tư duy lọc bỏ cái cụ thể, giữ lại cái chung nhất Lượng
cũng mang tính biện chứng, cũng vận động và phát triển Mối quan hệ
giữa lượng và sự vật lỏng lẻo hơn mối quan hệ giữa chất với sự vật, điều
đó theo cách diễn đạt trừu tượng và khó hiểu của Hêghen thì lượng là tính quy định bàng quan với mọi tính quy định về chất được hiểu: khi chất đổi làm sự vật thay đổi, còn lượng đổi (thường xuyên) thì vô can
đối với sự vật
Nhưng điều đó chỉ diễn ra trong một khoảng nào đó (độ), để đi tới khái niệm “độ”, nhà biện chứng Hêghen phân tích sự chuyển hóa giữa
Trang 40chất và lượng Theo Hêghen thì chất và lượng luôn luôn có sự chuyển hóa cho nhau: chất chuyển thành lượng và ngược lại Quá trình chuyển
hóa ấy, khi nào đạt tới sự thống nhất giữa chất và lượng, đó là độ Nói một cách khác ộ là một số lượng có tính chất chất lượng Khi nghiên
cứu, trình bày về chất, lượng, độ, Hêghen đã dựa vào những thành quả
của khoa học tự nhiên, đặc biệt của toán học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế
kỷ XIX ở các nước Tây Âu, như lý thuyết vi phân, tích phân, lượng cực nhỏ trong toán học, lý thuyết của Niutơn, ềcáctơ, ácnô, Âyle… Những
tư tưởng về sự thống nhất, mối quan hệ và sự chuyển hóa giữa chất, lượng
đi tới độ đã bao hàm một sự dự đoán hợp lý về sự phát triển theo quy luật:
Từ sự thay đổi về lượng sẽ dẫn tới sự biến đổi về chất và trong quá trình phát triển ấy có sự nối tiếp, gắn bó giữa liên tục và gián đoạn
Từ đó ông đi tới vấn đề “nhảy vọt” và “đường nút” Nhảy vọt (tự phủ định, tự thủ tiêu) là sự thay đổi về chất khi sự thay đổi tiệm tiến về lượng kết thúc, một “tồn tại hiện có” nào đó đã vượt độ “Nhảy vọt”, theo phép biện chứng, là sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới, là giai đoạn chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất Những hình thức nhảy vọt có thể khác nhau tùy theo đặc tính của các sự vật và hiện tượng và những điều kiện phát triển của chúng Tính quy định của tồn tại đạt tới đỉnh điểm, diễn ra sự nhảy vọt từ các phạm trù thuộc nhóm “chất” sang các phạm trù thuộc nhóm “lượng”, tính đơn nhất với tư cách mặt đối lập của tính số nhiều hóa ra nằm trong lượng với tư cách là chất đã bị “lột bỏ”, nằm trong lĩnh vực tính quy định bề ngoài của tồn tại Thay thế cho quá trình tăng triển các đặc trưng về lượng ở các phạm trù chất là quá trình tăng triển các đặc điểm về chất ở các phạm trù lượng ác phạm trù lượng thuần túy sau đó đã bị lột bỏ