1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phật giáo nam tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người khmer ở tỉnh trà vinh hiện nay

112 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 PHAN THỊ PHƯỢNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020... Nh

Trang 1



PHAN THỊ PHƯỢNG

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020

Trang 2



PHAN THỊ PHƯỢNG

ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự

hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Trọng Nghĩa Tôi xin hoàn toàn chịu

trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình này

Tác giả

Phan Thị Phƣợng

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 11

Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG 11

1.1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO 11

1.1.1 Điều kiện ra đời của Phật giáo 11

1.1.2 Tiền đề ra đời của Phật giáo 16

1.1.3 Quá trình phát triển và sự phân phái của Phật giáo 19

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG 24 1.2.1 Khái quát chung về đạo đức Phật giáo Nam Tông 24

1.2.2 Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo Nam Tông 25

1.2.3 Giá trị cốt lõi của đạo đức Phật giáo Nam Tông 39

Kết luận chương 1 46

Chương 2 SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY 48

2.1 SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH 48

2.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội ở tỉnh Trà Vinh 48

2.1.2 Khái quát chung về đồng bào Khmer và phật giáo Nam Tông ở tỉnh Trà Vinh 50

2.1.3 Sự du nhập Phật giáo Nam Tông vào cộng đồng người Khmer ở tỉnh Trà Vinh 54

2.2 MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY 58

Trang 5

2.2.2 Đạo đức Phật giáo Nam Tông thể hiện tinh thần nhập thế trong đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh 61 2.2.3 Sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam Tông đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội trong đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh 65 2.2.4 Những mặt tích cực và hạn chế trong sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam Tông đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay 79

2.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA HỆ PHÁI NÀY ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY 86

2.3.1 Nâng cao nhận thức của người dân về công tác bảo tồn và phát huy nền đạo đức Phật giáo Nam Tông đối với người Khmer tại Trà Vinh, trước hết là đảng viên, cán bộ các cấp 86 2.3.2 Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tích cực của đồng bào Khmer trong xây dựng nền văn hóa mới 87 2.3.3 Quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế vùng dân cư

có đồng bào Phật giáo Nam Tông Khmer, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống 92 2.3.4 Tranh thủ các chức sắc, người có uy tín, số sư sãi Phật giáo Nam tông 94 2.3.5 Tích cực vận động đồng bào thực hiện tốt chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã đặt ra Đấu tranh chống lại các biểu hiện lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc 96

Kết luận chương 2 97 KẾT LUẬN CHUNG 99

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là hiện tượng xã hội – văn hoá của các cộng đồng dân cư, mang những bản sắc xuất xứ đồng thời có sức truyền bá, hòa nhập, đan xen giữa các cộng đồng khác nhau Ngoài ra, khi nói đến tôn giáo, người ta cũng

tự nhiên nghĩ đến cái cộng đồng tín ngưỡng và từ đó mà phân ra thành tôn giáo có tính thế giới và tôn giáo có tính dân tộc, từ cái diện bao trùm hoặc lan tỏa ra của chúng mà xem xét tôn giáo có ảnh hưởng lớn hay tôn giáo có ảnh hưởng nhỏ Nói chung, ba tôn giáo lớn có tính thế giới mà người ta thường nói tới là tôn giáo Kitô, Islam giáo và Phật giáo, còn các tôn giáo khác chủ yếu là tôn giáo có tính dân tộc hoặc tôn giáo có tính khu vực Vì thế, hầu như các cộng đồng đều có hiện tượng sống chung các tôn giáo, ra đời và phát triển trong lòng xã hội mình (gọi là tôn giáo nội sinh) với các tôn giáo được du nhập từ bên ngoài vào

Việt Nam nằm trong vị trí rất thuận lợi, đã sớm có điều kiện tiếp xúc với hai nền văn hóa lớn của thế giới: văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa Có thể nói rằng, đây là hai người khổng lồ trong nền văn hóa loài người Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hòa hiếu và rộng mở với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước phương Nam, dễ dàng tiếp thu những giá trị tinh hoa của hai nền văn hóa lớn đó Ngay từ những năm đầu Công nguyên, thông qua các thương buôn, Việt Nam chúng ta đã có điều kiện tiếp xúc với văn hóa Ấn

Độ mà nền văn hóa Ấn Độ trong thời kỳ này đã mang trong mình tinh hoa của

tư tưởng Phật giáo Phật giáo trong quá trình hình thành và phát triển đã chia thành hai hệ phái: Bắc Tông và Nam Tông Trong đó, Phật giáo Nam Tông được truyền vào Việt Nam theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ

đi theo đường biển tới Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan tới vùng sông Mê Kông (Campuchia) và vùng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt

Trang 7

Nam Phật giáo Nam tông đã thấm vào đời sống tinh thần và văn hóa Việt Nam một cách tự nhiên và dễ dàng, đạo đức Phật giáo Nam tông đã truyền dạy một lối sống đúng đắn, hợp đạo lý con người, khuyến khích con người trở thành người tốt, sống có ích cho xã hội Quan điểm đạo đức của Phật giáo Nam tông đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ, nhân sinh quan của người dân Việt nói chung và người dân Khmer ở Trà Vinh nói riêng và trở thành một giá trị tinh thần vô giá của người dân nơi đây

Phật giáo Nam tông được người dân Khmer tiếp nhận và phát triển trong cộng đồng qua nhiều thế kỷ, giữ một vị trí quan trọng trở thành tín ngưỡng chính của đồng bào Khmer Cuộc sống tâm hồn của họ luôn gắn liền với những tư tưởng, giáo lý đạo đức của Phật giáo Nam Tông Nó thấm nhuần vào trong ý thức của mỗi con người, trở thành niềm tin, triết lý sống

“từ, bi, hỷ, xả”, họ luôn tin vào luật nhân quả… Dù cuộc sống có khó khăn,

họ vẫn luôn hướng về Phật, luôn tin vào những giáo lý đạo đức của Phật để cầu mong có một cuộc sống tốt đẹp hơn

Trà Vinh là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 200

km đi bằng quốc lộ 53 qua tỉnh Vĩnh Long, khoảng cách rút ngắn thời gian

chỉ còn 130 km nếu đi bằng quốc lộ 60 qua tỉnh Bến Tre, cách thành phố

Cần Thơ 95 km Trà Vinh là tỉnh thành có nhiều người Khmer sinh sống, theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, số người Khmer tại Trà Vinh chiếm 27,6% số người Khmer của cả nước Trà Vinh là địa bàn

cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer có nền văn hóa dân tộc đặc trưng tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù

Có thể nói đối với người Khmer Trà Vinh nói riêng thì Phật giáo Nam Tông dường như là một liều thuốc trợ giúp tinh thần cho họ thoát khỏi những rủi

ro trong cuộc sống hằng ngày giúp họ vươn lên trong cuộc sống và tạo động lực để phát triển kinh tế – xã hội

Trang 8

Trong những năm gần đây, Trà Vinh đã và đang phấn đấu vươn lên tạo nên bước phát triển đột phá trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh mặt tích cực đó thì trên địa bàn Thành phố cũng xuất hiện nhiều vấn đề về trật tự, an ninh, xã hội Đặc biệt, tình trạng phạm tội trong nhân dân không ngừng gia tăng, trong đó xuất hiện ngày càng nhiều đối tượng phạm tội là các bạn thanh thiếu niên Đặc biệt, theo (Trần Hồng Liên, 2014) trong những năm gần đây xuất hiện sự biến đổi trong sinh hoạt tôn giáo của người Khmer, hiện tượng cải đạo, hoặc chuyển đạo trong cộng đồng người Khmer đang diễn ra, phải chăng những giá trị đạo đức của Phật giáo Nam tông không còn sức ảnh hưởng đối với một số người Khmer hiện nay Trước thực trạng đó đòi hỏi nhu cầu bức thiết được giải đáp, định hướng về mặt lý luận vấn đề giáo dục về đạo đức cho nhân dân là một yêu cầu cấp bách đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Trà Vinh hiện nay Do đó,

việc nghiên cứu vấn đề “Đạo đức Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó

đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay” càng trở nên cấp

bách và có ý nghĩa thiết thực không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Trà Vinh nói chung mà còn có ý nghĩa đối với đời sống văn hóa, tín ngưỡng tinh thần của người Khmer nói riêng

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Phật giáo là tôn giáo được sinh ra trên đất nước Ấn Độ cổ đại Không bao lâu sau khi ra đời, nó đã phát triển rộng khắp các nước thuộc khu vực Châu Á và ngày nay nó lại đang lan toả mạnh sang các nước phương Tây Cùng với quá trình lịch sử, tôn giáo này đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn hoá của nhân loại Chính vì vậy, Phật giáo và vai trò của nó trong đời sống xã hội nói chung từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học không chỉ ở phương Đông mà cả phương Tây Nhìn chung các nhà khoa học khi nghiên cứu về Phật giáo đều đánh giá cao những giá trị văn hoá của nó

Trang 9

Với việc nghiên cứu về Phật giáo, về “Đạo đức Phật giáo Nam Tông

và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay” từ trước đến nay đã có sự thu hút, quan tâm với nhiều công trình đã

công bố với quy mô và góc độ nghiên cứu khác nhau Trong đó có một số công trình nghiên cứu về Phật giáo Nam Tông:

Hướng thứ nhất, là hướng nghiên cứu về Phật giáo Nam Tông Hướng

này bao gồm những công trình nghiên cứu, giới thiệu về Phật giáo Nam tông

được thể hiện trong các bộ kinh như: Kinh Tương ưng bộ, tập 1, 2, 3, Đại

tạng kinh Việt Nam (1993), Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành;

Kinh Trường bộ, tập 2, Đại tạng kinh Việt Nam (1991), Viện nghiên cứu

Phật học Việt Nam, ấn hành; Kinh Trường bộ, tập 2, Đại tạng Kinh Việt Nam (2001), Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Kinh Trường bộ, tập 4, Đại tạng Kinh

Việt Nam (1972), bản dịch Thích Minh Châu, Đại học Vạn Hạnh xuất bản;

Kinh Trung bộ, tập 1, Đại tạng Kinh Việt Nam (19920, Viện nghiên cứu Phật

học Việt Nam, ấn hành; Kinh Trung A hàm, tập 1, 2, Đại tạng kinh Việt Nam (1992), Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành; Kinh Tăng chi bộ, tập

3, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1998), bản dịch của Thích Minh Châu, Viện nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, ấn hành Theo hướng này còn có các công trình về lý luận chung của quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu, trong đó tác giả đã đã tham khảo những công trình nổi bật như: Công trình của tác giả Nguyễn Duy Hinh

được biên soạn thành sách có tên Tư tưởng Phật giáo Việt Nam được Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1999, tác giả Nguyễn Duy Hinh đã

hệ thống hóa những tư liệu, nên những nhận xét chưa đầy đủ nhưng đó là cơ

sở, nền tảng cho những người bước đầu tìm hiểu Phật giáo ở Việt Nam

Cuốn Phật Tử của Hòa thượng Thích Thiện Châu, Nxb TP Hồ Chí Minh ấn

hành năm 1998, quyển sách này trình bày dưới dạng hỏi – đáp về những nội dung cơ bản của Phật tử khi tu theo đạo Phật, trong đó bao hàm cả những

Trang 10

triết lý cơ bản của Phật giáo về nhân sinh quan, triết lý sống giữa người với

người Cuốn Phật giáo (trong 3 bài diễn thuyết) của Trần Trọng Kim, Nxb

Đà Nẵng năm 2002 quyển sách này trình bày dưới dạng bài diễn thuyết của các nhà sư nhằm giảng giải cho mọi người có nhu cầu hướng đạo và tìm hiểu

về đạo Phật cũng như cách giải thoát mọi khổ đau, phiền não cuốn Nhật hành của người tại gia tu Phật của Tỳ Khưu Hộ Tông, do nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành năm 2006, tác phẩm này đã khái quát những quy định của Phật giáo Nam tôngđối với những người Khmer tu tại gia

Bên cạnh đó, theo hướng nghiên cứu này còn có các tác phẩm: Thích Mật

Thể (1944), Việt Nam Phật giáo sử lược, Nxb Minh Đức; Lịch sử Phật giáo

Việt Nam của Viện Triết học do Nguyễn Tài Thư và Minh Chi chủ biên

(1988), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật

giáo sử luận I – II – III, Nxb Văn học, Hà Nội; Nguyễn Hùng Hậu (2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV,

NXb Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Công Lý (2003), Văn học Phật giáo

thời Lý – Trần , diện mạo và đặc điểm, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí

Minh;… nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã bước đầu khái quát nội dung tư tưởng, đặc điểm của Phật giáo Việt Nam với tư cách là một sản phẩm tôn giáo được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng tâm linh của cư dân bản địa có tiếp thu tôn giáo ngoại nhập Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu vào sự xâm nhập của Phật giáo Nam tông vào đời sống của một dân tộc cụ thể tại Việt Nam hay một địa phương cụ thể Kết quả của công trình nghiên cứu trên giúp tác giả có những hiểu biết khát quát về Phật giáo từ quá trình du nhập vào Việt Nam đến những triết lý cơ bản Phật giáo nói chung từ đó có thể nghiên cứu sâu hơn về quá trình du nhập Phật giáo Nam Tông vào trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer

Trong cuốn Lịch sử nhà Phật của Đoàn Trung Còn, Nxb Tôn giáo đã

kể lại xuất thân của Đức Phật, các đời truyền bá đạo Phật, các tông phái

Trang 11

trong đạo; bên cạnh đó, là những triết lý của Đạo thông qua lời giảng của Phật khi còn tại thế; sự phát triển của Đạo Phật trong quá trình đạo được truyền từ Ấn Độ đến các nước khác; ảnh hưởng sâu rộng và giá trị to lớn của Đạo Phật trong đời sống của nhân loại từ khi ra đời cho đến nay Mặt khác, còn có những bài viết đề cập đến vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo như tại bài viết “Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội

XI của Đảng” của Ban Tôn giáo Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm 2020 trong đây đã đề cập đến vấn đề tôn giáo cũng như những chính sách mà Đảng và Nhà nước đã thực hiện trong những năm qua Chẳng hạn, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được in ấn kinh sách, sửa sang, làm mới cơ sở thờ tự, hoạt động xã hội, từ thiện của các tổ chức này ngày càng nhiều và được hưởng ứng mạnh mẽ Các tổ chức giáo hội cũng như quan hệ của các tôn giáo ngày càng được nâng cao và hoàn thiện hơn Cùng các luận văn Thạc sĩ về vấn đề tôn giáo và một số luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng viết về Đảng lãnh đạo thực hiện công tác tôn giáo ở một số tỉnh, thành trong cả nước Những công trình trên đã đề cập đến vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo ở Việt Nam trên nhiều khía cạnh khác nhau Trên cơ sở đó tiến hành phân tích những chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng

và Nhà nước ta hiện nay

Hướng thứ hai, là hướng nghiên cứu đạo đức của Phật giáo Nam tông đối với đời sống của đồng bào Khmer Về tình hình và ảnh hưởng của Phật

giáo Nam Tông hay về đạo đức của Phật giáo Nam Tông đối với đời sống của đồng bào Khmer nói chung và đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh

nói riêng có khá ít công trình như cuốn Giá trị văn hóa Khmer vùng đồng

bằng song Cửu Long của Huỳnh Thanh Giang, Nxb Chính trị Quốc gia đã

trung nghiên cứu một số giá trị cơ bản của văn hóa Khmer thời gian qua, thực trạng việc phát huy giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, đưa ra một số giải pháp nhằm phát

Trang 12

huy giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng song Cửu Long trong giai đoạn hiện nay ngày càng phát triển Bên cạnh đó, vẫn còn một số công trình nghiên cứu về các giá trị đạo đức của Phật tử khi tu tại gia như thế nào điển hình như

công trình của Thích Nhật Từ (1994), Các nguyên tắc đạo đức của người Phật

tử tại gia, Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, hay những ảnh hưởng của

Phật giáo trong đạo đức, lối sống của người Việt theo luận văn của Nguyễn

Thị Cẩm Chi (2011), Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đạo đức, lối sống của

người Việt ở tỉnh Long An hiện nay, luận văn thạc sĩ triết học, Tp Hồ Chí

Minh, cùng một số luận văn khác: Lê Nguyễn Lâm Thiên Lý (2013), Ảnh

hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông đến đời sống tinh thần đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp Đại Học, Trường Đại học

Cần Thơ; Võ Thị Kim Xuân, Nhân sinh quan Phật giáo Nam Tông và ảnh

hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của người Khmer ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Triết học, 2016 và cuốn Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại – Phật giáo Việt Nam và thế giới, Nxb.Văn hóa thông tin, tạp

chí nghiên cứu tôn giáo, số 10, sau khi trình bày tổng quan về Phật giáo ở Việt Nam từ sự du nhập đến sự hình thành, phát triển Phật giáo gắn liền các triều

đại dân tộc, từ trang 23 – 51 tác giả trình bày những ảnh hưởng Phật giáo

trong đời sống người Việt Qua các tác phẩm trên đã giúp tác giả nhận thấy

rằng các tác phẩm này Đó là ảnh hưởng về đạo lý, ảnh hưởng qua quá trình

hội nhập văn hóa Việt Nam, ảnh hưởng qua gốc độ nhân văn và xã hội; ảnh hưởng qua loại hình nghệ thuật và sau cùng đi đến kết luận: “Thật vậy, đạo Phật đã ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của người Việt Nam từ triết lý, tư tưởng, đạo đức, văn học, nghệ thuật cho đến phong tục, tập quán, nếp sống, nếp nghĩ” Nhìn chung, các công trình khoa học trên đây đã bàn luận sâu sắc và rõ nét về nhiều vấn đề về lịch sử ra đời, phát triển của Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hóa, xã hội cho đến chính trị trong cuộc sống văn hóa của cộng đồng người Khmer Nam Bộ

Trang 13

Chính nhờ các công trình nghiên cứu trên cùng với nguồn tài liệu từ sách, báo,

và cùng với trung tâm thông tin trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

TP Hồ Chí Minh là những nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy giúp tôi hoàn thành đề tài này

Nhìn chung, việc nghiên cứu Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam Tông đối với người Khmer ở vùng Nam Bộ nói riêng có khá nhiều và trải qua một quá trình lâu dài Tuy nhiên còn nhiều khía cạnh chưa được lưu ý như là vấn đề về đạo đức cùng những ảnh hưởng của nó và nhất là áp dụng tại một địa phương cụ thể vẫn chưa có đề tài khoa học nào đi sâu nghiên cứu Vấn đề Phật giáo Nam Tông ở địa phương mới chỉ được đề cập, dừng lại như

là một nội dung trong các báo cáo tổng kết công tác tôn giáo hàng năm của Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban Tôn giáo và khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của tỉnh Trà Vinh hay chỉ là nghiên cứu ở mức tổng quan toàn bộ tư tưởng của Phật giáo Nam Tông cùng với ảnh hưởng của nó như đề tài của sinh viên Lê

Nguyễn Lâm Thiên Lý nêu trên Ở đề tài Đạo đức Phật giáo Nam Tông và

ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay

này tác giả sẽ tham khảo trên những tài liệu sẵn có của các công trình, các báo cáo trên xem đó như là những tư liệu quý báu, đồng thời sẽ kế thừa biện chứng đúng mức đối với chúng nhằm đi sâu tìm hiểu và làm rõ về triết lý đạo đức của Phật giáo Nam Tông cũng như những ảnh hưởng của nó thấm nhuần trong từng nét sinh hoạt của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn:

Mục đích của luận văn là làm rõ nội dung, giá trị cốt lõi của đạo đức Phật giáo Nam Tông và sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam Tông đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh

Nhiệm vụ của luận văn:

Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

Trang 14

Một là, trình bày và phân tích những điều kiện, tiền đề của sự hình

thành và nội dung của đạo đức Phật giáo Nam Tông

Hai là, trình bày và phân tích ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo Nam

Tông đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh

Ba là, một số giải pháp nhằm phát huy giá trị của hệ phái này đối với

đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu về vấn đề đạo đức Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người

Khmer

Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Đạo đức Phật giáo Nam Tông có phạm vi rất rộng, luận văn không đề cập hết Trong khuôn khổ mục đích và nhiệm vụ của luận văn, vấn đề nghiên cứu chỉ giới hạn ở nội dung căn bản như: triết lý nhân sinh, luật nhân quả

và giá trị cốt lõi của nó Về khách thể, không gian và thời gian khảo cứu, luận văn xác định là đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn:

Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo Ngoài ra, tác giả còn kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước

Phương pháp nghiên cứu của luận văn:

Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trang 15

Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp, so sánh và đối chiếu, v.v

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa khoa học của luận văn:

Luận văn góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc thêm nội dung, giá trị cốt lõi của đạo đức Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:

Luận văn vạch rõ những ảnh hưởng và từ đó đề ra những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo Nam Tông đối với đời sống người Khmer ở tỉnh Trà Vinh

Luận văn là tài liệu tham khảo cho Đảng bộ, chính quyền ở Trà Vinh

đề ra chủ trương, chính sách và biện pháp trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo, dân tộc ở tỉnh Trà Vinh hiện nay hiệu quả hơn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập ở một số chuyên ngành như Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Dân tộc học, Tôn giáo học, Xã hội học…cũng như làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phần nội dung của luận văn có 2 chương, 5 tiết

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO

VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG

1.1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO

1.1.1 Điều kiện ra đời của Phật giáo

Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra đời của Phật giáo

Ấn Độ cổ đại là một vùng đất có điều kiện tự nhiên đa dạng Đất nước này vừa có dãy núi Hymalaya hùng vĩ án ngữ kéo dài trên hai ngàn km ở phía Bắc, vừa có biển Ấn Độ Dương rộng mênh mông; vừa có sông Ấn chảy

về phía Nam, lại có sông Hằng chảy về phía Tây Vì thế, đất nước Ấn Độ bao gồm nhiều miền khí hậu khác biệt, từ những vùng đồng bằng trù phú màu mỡ cho đến những vùng nóng ẩm mưa nhiều, vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, hay lại có những vùng sa mạc khô cằn, nóng bức Yếu tố địa lý đa dạng và khắc nghiệt này chính là cơ sở để hình thành sớm những tư tưởng tôn giáo và triết học của người Ấn Độ cổ đại

Về kinh tế – xã hội, từ thế kỷ VI – I TCN, nền kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ Ấn Độ đã phát triển, thổ dân trên bán đảo Nam Á là người Dravidian và Sumerian đã có nền văn minh khá cao Đầu thế kỷ II TCN, một nhánh người Aryan thâm nhập vào bán đảo Ấn Độ, dần dần chuyển sang định

cư và sống bằng nghề nông Diện tích ruộng đất canh tác trong nông nghiệp ngày càng tăng lên Những miền lưu vực các con sông lớn như sông Ấn, sông Hằng, sông Brahmapoutra… điều được khai khẩn thành những vùng kinh tế phát đạt với các ngành trồng trọt, chăn nuôi trù phú, hình thành nên một tầng lớp mới trong xã hội, đó là tầng lớp điền chủ Đặc biệt, do sự phát triển của sức sản xuất xã hội ở Ấn Độ thời kỳ này đã làm cho thủ công nghiệp tách hẳn

Trang 17

ra khỏi nông nghiệp ở một số vùng Những nghề thủ công phát đạt nhất lúc đó

là nghề dệt bông đay và tơ lụa, nghề luyện sắt, nghề làm đồ gốm, đồ gỗ và nghề chế biến hương dược liệu…Các ngành nghề này dần dần được chuyên môn hóa và phần lớn tập trung ở những khu trấn đô sầm uất Nhiều trấn đô trở thành trung tâm thủ công nghiệp, thương nghiệp quan trọng thời bấy giờ như Bénerès, Sravasti (nay là Savathi), Ratjagraha (nay là Radjia), Pataliputra (nay

là Patna), Có thể thấy, Ấn Độ thời đó đã giao dịch buôn bán khá rộng rãi với các nước trong vùng như Trung Quốc, Ả Rập, Trung Á và cả với các nước vùng Đông Nam Á Đây không chỉ là con đường giao lưu kinh tế thông thường mà sâu rộng hơn đó là con đường giao lưu, truyền bá văn hóa giữa Ấn

Độ với các nước khác

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế ở Ấn Độ thời cổ đại vẫn đang bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của chế độ công xã nông thôn, vốn dựa trên mọi liên hệ có tính gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công nghiệp, làm cho mỗi làng xã trở thành một đơn vị bé nhỏ có tổ chức độc lập

và cuộc sống biệt lập với những hình thức tổ chức quản lý công xã theo nguyên tắc cổ truyền, thô sơ, chật hẹp, lạc hậu, làm cho nền kinh tế mang tính

tự nhiên, tự cấp tự túc, đời sống xã hội trở nên trì trệ, chậm chạp Hơn nữa, xã hội Ấn Độ cổ còn chịu sự chi phối nặng nề của chế độ phân biệt đẳng cấp hết sức khắc nghiệt, ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước của các đế vương, gắn liền với nó là sự bần cùng hoá của người dân trong công xã, và quan hệ giữa gia đình thân tộc được coi là quan hệ cơ bản, cùng với xã hội được phân chia thành các đẳng cấp Mọi quyền lợi, địa vị xã hội đều nằm trong tay giai cấp quý tộc, tăng lữ Các đẳng thấp thấp hèn khác như tiện dân, nô lệ và những người ngoài lề đẳng cấp bị khinh miệt và đói khổ

Nền kinh tế mang tính tự nhiên kết hợp với cách thức tổ chức kiểu công

xã nông thôn là điểm nổi bật về kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra đời của nhiều trường phái triết học ở Ấn Độ nói chung và Phật giáo nói riêng

Trang 18

Thứ hai, điều kiện chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra đời của Phật giáo

Về điều kiện chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra đời của Phật giáo Nam tông đó là chế độ nô lệ và chế độ phân biệt đẳng cấp nặng nề Khoảng năm 2000 TCN, Ấn Độ thuộc về người Aryan là bộ lạc du mục có ngôn ngữ thuộc nhóm Ấn – Âu xâm nhập Người Aryan đến Ấn Độ định cư, phát triển sản xuất nông nghiệp, dùng trâu bò làm sức kéo Họ tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chinh phạt, đàn áp người bản địa, gọi người bản địa là

“đa xa” (kẻ địch) Phần lớn dân bản địa bị người Aryan giết hại, một số bị bắt làm nô lệ Chế độ nô lệ được quy định một cách chi tiết, số phận của người nô lệ phụ thuộc hoàn toàn vào người chủ nô, hoàn toàn không có quyền sở hữu, tự do nào, có thể bị trừng phạt, giết chết, đem bán như một hàng hóa có thể nó chế độ nô lệ hà khắc, xiềng xích trói buộc con người

Đề không bị lai giống, pha tạp người Aryan đã xây dựng một chế độ phân biệt đẳng cấp varna Chế độ varna thể hiện sự phân biệt đẳng cấp bằng những quy định chặt chẽ như phân biệt dựa vào màu da, chủng tộc, cấm kết hôn khác chủng tính, phân biệt nghề nghiệp, phân biệt tôn giáo, phân biệt giao tiếp (người đẳng cấp thấp không được tiếp xúc với đẳng cấp trên, giao tiếp theo lễ nghi), chế độ varna làm cho quan hệ xã hội Ân Độ trở nên chặt hẹp Xã hội thời kỳ này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và nô lệ cung đình Mọi quyền lợi, địa vị xã hội đều nằm trong tay giai cấp quý tộc, tăng lữ Các đẳng thấp thấp hèn khác như tiện dân, nô lệ và những người ngoài lề đẳng cấp bị khinh miệt và đói khổ Đặc biệt, dưới thời các vua Gupta, để duy trì chế độ trung ương tập quyền, người

ta còn sưu tập những bộ pháp điển ở thời kỳ trước như bộ luật Manu, bộ Thực lợi luận (Arthas’astra) đem dung hòa với chính sách đương thời, viết ra các bộ sách chính trị, pháp luật làm tiêu chuẩn áp dụng cho tổ chức xã hội hiện thời; thần thánh hóa ngôi vương chủ đến tột bật bằng mọi biện pháp như

Trang 19

tuyên truyền, giáo dục; ra các luật lệ, mệnh lệnh, tạo cho nhân dân một niềm tin và lòng sùng kính tuyệt đối trước quyền uy linh thiêng tối cao của quốc vương Chẳng hạn, theo giải thích của bộ pháp điển Narada Bdhaspati còn lưu lại cho đến ngày nay quy định: “Quốc vương ấy mới chính là vị thánh sống trên thế gian Lời nói và việc làm của quốc vương ấy là lời nói và việc làm của thành nên tất cả đều là tuyệt đối và tối kính, kẻ làm dân chỉ có nhiệm

vụ thi hành, không suy luận, không được chống đối” (dẫn theo Doãn Chính,

1999, ) Chính điều kiện chính trị - xã hội như vậy, đã hướng các trào lưu triết học Ấn Độ đều tập trung vào vấn đề số phận con người, lý giải vì sao con người khổ, tìm cách giải thoát con người Cũng trên cơ sở phê phán chế

độ phân biệt đẳng cấp mà Phật giáo Nam tông ra đời

Thứ ba, điều kiện văn hóa, khoa học của Ấn Độ cổ đại đối với sự ra đời của Phật giáo

Cùng với sự biến đổi, phát triển về chính trị và kinh tế, thì văn hóa, khoa học kỹ thuật Ấn Độ thời kỳ này cũng đạt được những tiến bộ đáng kể

Về văn hóa – khoa học, Ấn Độ cổ đại có một nền triết học phát triển từ rất sớm Văn hoá Ấn Độ cổ – trung đại được chia làm ba giai đoạn Khoảng thế kỷ XXV-XV TCN gọi là nền văn minh sông Ấn, từ thế kỷ XV – VII TCN gọi là nền văn minh Vêđa, đã cho ra đời bộ thánh kinh Vêđa và từ thế

kỷ VI – I TCN là thời kỳ hình thành các trường phái triết học tôn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống Thời

kỳ này, tiêu chuẩn của chính thống và không chính thống là có thừa nhận

uy thế của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn hay không Thời kỳ VI-I TCN là thời

kỳ triết học Bàlamôn (1000-800 năm TCN) và Upanishad (800-600 năm TCN) Trong Upanishad đã đề cập đến nhiều vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự như mối quan hệ giữa tinh thần vũ trụ (Brahman) và linh hồn cá thể (Atman), thuyết luân hồi, nghiệp nhân quả, vấn đề giải thoát Những tư tưởng đó đã đặt nền móng vững chắc để cho các trào lưu tư tưởng mới sau

Trang 20

này phát triển Thế giới quan thần thoại, chủ nghĩa duy tâm trong thánh kinh Vêđa, Upanishad và đạo Bàlamôn thống trị đời sống tinh thần của xã hội Ấn Độ cổ đại Về khoa học, ngay từ thời kỳ cổ đại, người Ấn Độ đã đạt được những thành tựu về khoa học tự nhiên như có kiến thức phong phú về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, đã biết quả đất xoay tròn và tự xoay quanh trục của nó, phát minh ra số thập phân, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng cây thuốc…

Về thiên văn, môn thiên văn được coi là một đứa con ngẫu nhiên của môn chiêm tinh và đã thoát ra thành bộ môn độc lập Bộ sách Siddhanta (khoảng năm 425TCN) được xem là bộ sách cổ nhất về thiên văn Ấn Độ Về thiên văn, nhà thiên văn và toán học lớn nhất của Ấn Độ thời kỳ cổ điển, Aryabhata, đã đặt vè để giảng về các phương trình bậc hai,… Người nối tiếp danh tiếng nhất của ông là Brahmagupta đã có công sắp xếp các tri thức về thiên văn Ấn Độ thời đó thành một hệ thống Các nhà thiên văn Ấn Độ dương thời còn đặt ra một thứ lịch mỗi năm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ, cứ 5 năm lại có một tháng nhuận Họ tính được một các chính xác lạ lùng – đối với tời đó – trực kính của mặt trăng, các ngày nhật thực, nguyệt thực, vị trí và sự vận chuyển của các ngôi sao chính, họ đã tìm

ra được thuyết trọng lực Trong bộ Siddhanta đã từng nói đến sự quan trọng của trọng lực đối với Trái đất Cho rằng do trọng lực của Trái đất đã hút hết mọi vật, mọi thứ về phía Trái đất

Về toán học, hệ thống toán học của Ấn Độ rất phong phú thậm chí cao hơn ở Ai Cập, Hy Lạp trừ thành tựu về hình học Thể kỷ thứ VII các công thức tính toán cạnh và góc của tam giác đã có, phát minh ra chữ số thập phân,

số pi, phát minh ra số 0, số căn, lũy thừa Đặc biệt những bài toán thường thể hiện bằng các bài thơ dùng cho các chàng trai, cô gái Về y học, Ấn Độ cũng phát triển rất sớm, phát hiện ra các loại thảo mộc, biết trồng cây lấy thuốc Từ thế kỷ V TCN đã mở các trường dạy y khoa, biết chuẩn đoán bệnh, biết giải

Trang 21

phẫu, vô trùng, sử dụng thuốc mê Về kĩ thuật, người Ấn Độ cổ phát triển nghề nhuộm, biết chưng cất rượu, làm thủy tinh, chế hương dược liệu Văn học nghệ thuật cũng phát triển nổi bật với hai bộ sử thi Ramayana và Mahabharata phản ánh quan hệ đẳng cấp, quan hệ xã hội, phả ánh triết lý về bổn phận, trách nhiệm tự nhiên của con người, triết lý nhân sinh

Như vậy, tất cả những thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật lúc bấy giờ thật sự là những nấc thang nhận thức quan trọng, góp phần đắc lực vào việc giải thích và cải tạo thế giới phục vụ cho lợi ích của con người, cung cấp những chất liệu để các trường phái tư tưởng khái quát thành thế giới quan, phương pháp luận

1.1.2 Tiền đề ra đời của Phật giáo

Bên cạnh chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thì sự ra đời của Phật giáo còn có hai tiền đề rất quan trọng là:

Thứ nhất, sự thống trị về mặt tư tưởng Triết học của Kinh Veda, kinh Upanishad

Phật giáo được cho là trường phái tư tưởng không chính thống tại Ấn

Độ lúc bấy giờ Triết lý Phật giáo dựa trên sự phủ nhận vị trí thống trị, uy thế tối cao của các triết lý của kinh Veda, kinh Upanishad trong tư tưởng Các môn phái triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ này đã phát triển thành những hệ thống khá chặt chẽ Chủ nghĩa duy tâm tôn giáo trong kinh Veda, kinh Upanishad và giáo lý đạo Bàlamôn đã trở thành hệ tư tưởng và tôn giáo chính thống, thống trị trong đời sống xã hội Ấn Độ đương thời Tuy nhiên, trong thời kỳ này, do sự biến đổi của đời sống xã hội, đã xuất hiện những trào lưu triết học mới với tinh thần tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội ở vùng Đông Ấn Đông Ấn là vùng đồng bằng sông Hằng với điều kiện địa lý,

tự nhiên, khí hậu điều hòa, đất đai trù phú, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, làm xuất hiện những giai tầng xã hội mới, đó là giai cấp thương nhân, điền chủ, chủ xưởng đối lập với địa vị

Trang 22

và lợi ích của giai cấp quý tộc tăng lữ bảo thủ Họ làm chủ về mặt kinh tế, do

đó, cũng làm chủ về mặt tinh thần, tư tưởng nên đã hình thành nên những học thuyết mới đầy sức sống, đại diện cho tiếng nói của họ, dám đương đầu với tư tưởng, giáo lý tôn giáo chính thống có tính kinh viện, được coi là tri thức mặc khải trong kinh Veda và kinh Upanishad Các trường phái triết học tôn giáo có tính chất thế giới quan và chủ trương tín ngưỡng khác nhau lần lượt xuất hiện, đặc biệt là tư tưởng triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo

và các môn phái triết học duy vật, vô thần tiến bộ mà kinh điển Phật giáo cổ gọi là “Lục sư ngoại đạo” và phong trào “Hư vô chủ nghĩa” Họ thoát khỏi

sự chi phối của tư tưởng và văn hóa cổ truyền, phê phán chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội Họ thực sự là luồng gió mới trong đời sống tinh thần xã hội

Ấn Độ đương thời

Thứ hai, gắn liền về thân thế và sự nghiệp của Phật Thích Ca Mâu Ni

Theo các bộ kinh Phật giáo truyền lại và sử liệu, Thích Ca Mâu Ni_ông

là một vương tử hoàng tộc Gautama (Cồ - Đàm) của tiểu quốc Shakya Vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, hoàng hậu nước Catina, phía Nam Nepal ngày nay, đã sinh hạ được một hoàng tử đặt tên là Gautama Siddhartha (Tất Đạt Đa) Theo các kinh điển Phật giáo, ngay từ lúc sinh ra, ông đã có đầy đủ tướng tốt (Ba mươi hai tướng tốt) Tên được chọn là Siddhartha (Tất-Đạt-Đa) có nghĩa là "người thành đạt mọi nguyện vọng", là người thông minh, hiếu học, có tri thức uyên thâm và cưỡi ngựa, bắn cung rất giỏi nhưng lại rất

đa sầu, giàu lòng thương cảm Nhưng bản thân Siddhartha luôn có những suy nghĩ về sinh – lão – bệnh – tử và muốn tìm cách để giải thoát cho cuộc đời của một người Tuy nhiên, Siddhartha cũng đã đọc qua Kinh Veda, Bà la môn nhưng không thấy câu trả lời nên hoàng tử nảy sinh ý định đi tu

Chính vì vậy, vua cha của Siddhartha đã vội cưới vợ để ông từ bỏ ý định xuất gia Nhưng đến khi ông 29 tuổi, đã có một người con trai, trong khi

cả nước đang ăn mừng thì Siddhartha rời bỏ hoàng cung để tìm đến các nhà

Trang 23

hiền triết tìm hiểu về cội nguồn của lẽ sống nhưng vẫn không có kết quả Ông tìm đến con đường tu hành bằng khổ hạnh: giảm thiểu tối đa việc ăn uống, ăn ít từng giọt một… với mong muốn được giải thoát, nhưng không thành công mà lại dẫn đến thể xác bị suy kiệt Sau năm năm tu khổ hạnh không đạt kết quả, ông từ bỏ cách tu này và quyết định ăn uống bình thường trở lại và thường xuyên đến bờ sông để ngồi thiền định Sau cùng, đến ngày thứ 49, Siddhartha chọn một gốc cây cổ thụ ni – câu – đà (cách cây Bồ Đề không xa ngồi xếp bằng về phía đông, sau khi ăn xong bát cháo sữa được hai chị em con ông trưởng làng Senani cung kính đặt trước mặt khi thấy Siddhartha đang tĩnh tọa, tâm trạng ông phấn chấn và cảm thấy sắp đạt thành tựu viên mãn Sau khi Siddhartha để bát vàng trên dòng nước và nguyện nếu được chứng quả thành Phật thì cái bát nổi trên mặt nước và trôi ngược dòng song, cho đến khi bị xoáy nước mạnh nhấn chìm rơi đúng nơi có 3 cái bát vàng của 3 vị Phật đã đắc đạo trước đó thì Siddhartha quay về bờ đến gốc cây Bồ Đề và nguyện nhập định không rời chỗ cho đến khi giác ngộ Cuối cùng ông đạt Diệt – Thọ - Tưởng định và hàng phục được ma vương Siddhartha tiếp tục bắt đầu chứng đắc các đạo quả: Sinh tử luân hồi (tìm ra các căn nguyên của mọi loại khổ của nhân loại: Chết thế nào? Tái sinh thế nào? Nhân duyên nghiệp báo ra làm sao? Nhân – Quả và Luân – Hồi và cuối cùng là tìm ra phương cách giúp chúng sinh chấm dứt phiền não đạt đến giác ngộ hoàn toàn Biết được đâu là khổ, đâu là hạnh phúc và căn nguyên của khổ, của hạnh phúc,…) Theo tương truyền, ở tuổi 35 Siddhartha đã đạt tới giác ngộ, trở thành Phật toàn giác, lịch sử đương thời gọi ông là Đức Phật (Buddha) Thích Ca Mâu Ni và tôn giáo của ông là Phật giáo

Sau khi giác ngộ thành Phật, ông bắt đầu giảng pháp bằng kinh nghiệm thành Phật của mình, ông giảng Tứ diệu đế - Bát chính đạo – Vô ngã – Vô thường,… và thuyết giảng ở nhiều nơi, nhiều vùng miền liên tục từ năm này qua năm khác ở Ấn Độ với mong muốn ai cũng được giác ngộ, ai cũng có

Trang 24

thể thoát khỏi “Khổ”, thoát khỏi mọi dục vọng để có thể đạt tới sự viên mã

về tinh thần và linh hồn Nên tín đồ của Siddhartha ngày càng đông và nhân dân Ấn Độ rất ngưỡng mộ Tuy nhiên, cùng với sự phát triển, mâu thuẫn trong nội bộ cũng không ngừng xuất hiện Để hạn chế những rạn nứt, Phật giáo đã ban hành hàng loạt điều cấm kỵ Theo kinh “Đại – bát – niết – bàn”, vào mùa mưa năm 80 tuổi, Phật Thích Ca đã dự đoán trước rằng ông

sẽ nhập diệt sau 3 tháng nữa Siddhartha đã triệu các đệ tử đến để nghe ông nói chuyện lần cuối cùng để sau này có thể thay ông phổ độ chúng sinh Ông qua đời tại thành phố Câu – thi – na vào năm 544 trước Công nguyên (một số nhà khảo cổ thì cho rằng đó là năm 486 hay 483 trước Công nguyên), địa điểm này được các nhà khảo cổ nhận dạng là Kasia ở quận Deoria của xứ Utta Pradesh ngày nay Sau 7 ngày, thi thể của ông được hỏa táng, quốc vương 8 nước trong vùng yêu cầu chia xá lợi (tro cốt) thành 9 phần và xây tháp để cúng Đến thế kỷ thứ III trước Công nguyên, triều đại Khổng Tước ở Ấn Độ (Maurya) lấy đạo Phật làm Quốc giáo Từ đó, đạo Phật được truyền bá rộng rãi sang các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,… và trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới

1.1.3 Quá trình phát triển và sự phân phái của Phật giáo

Ra đời trên nền tảng phủ nhận những giáo lý, lễ nghi khắt khe của đạo

Bà la môn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt; mặt khác, lại kế thừa những tư tưởng, những yếu tố tích cực của nó như đề cao lòng nhân ái,

từ bi, với mục đích tối cao là “giải thoát” con người khỏi bể khổ của cuộc đời bằng sự tu luyện đạo đức, tu luyện trí tuệ, thiền định (giới, định, tuệ) Nhờ đó, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng, trở thành ngọn cờ đầu của phong trào cách tân tư tưởng và xã hội ở Ấn Độ cổ đại Tuy nhiên trong quá trình phát triển, Phật giáo đã có sự phân thành nhiều bộ phái khác nhau

Trang 25

Sau khi Đức Phật diệt độ, các môn đệ cũng như các tăng sỹ trong hàng ngũ tăng già có quan điểm khác nhau về giáo lý và giới luật của Đức Phật, thể hiện rõ ở hai quan điểm bảo thủ và cách tân Đại đa số các tăng sỹ, trong đó có Ca Diếp, đều theo quan điểm bảo thủ, chủ trương bảo vệ truyền thống, giữ nguyên lời giảng của Đức Phật lúc còn tại thế Trái lại, những người theo quan điểm cách tân như A Nan lại cho rằng, tuỳ theo hoàn cảnh

cụ thể, có thể thêm bớt vào những lời giảng, những giới luật của Đức Phật cho phù hợp Theo họ, không nên gò bó gượng ép lời dạy, giới luật vào ngôn từ chữ nghĩa hẹp hòi, mà phải thấu hiểu ý nghĩa sâu xa những lời dạy của Đức Phật để áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Vì thế, ngài Đại Thiên chủ trương: Khi Phật còn tại thế, chư Thiên và Tứ chúng nói ra, đều phải được Phật ấn chứng, mới gọi là Kinh, nay Phật đã diệt độ, nếu trong đại chúng có người thông minh, có tài thuyết pháp, cũng có thể trước tác được “Kinh Điển”

Sự phân chia thành nhiều bộ phái của Phật giáo có nhiều nguyên nhân nội bộ nảy sinh cũng như tác động bên ngoài Tuy nhiên, xét cho cùng, nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đến sự phân phái của Phật giáo, đó là

sự thay đổi cuộc sống hiện thực xã hội Tư tưởng bao giờ cũng là là sự phản ánh hiện thực xã hội Khi thực tiễn xã hội thay đổi, tất yếu tư tưởng cũng thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Đó là quy luật khách quan Cuộc sống xã hội Ấn Độ thay đổi, muốn tồn tại, Phật giáo cũng phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh trong từng giai đoạn cụ thể Sự thay đổi thích nghi

ấy, một mặt, tạo ra sự phát triển và mặt khác, đã dẫn đến sự phân phái

Quá trình phân phái của Phật giáo bắt đầu từ khi Phật tổ diệt độ, kéo dài qua nhiều thế kỷ, thông qua bốn cuộc kết tập lớn, đã hình thành nên các

bộ phái cơ bản sau:

Từ cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai vào 100 trăm năm sau khi đức Phật diệt độ, Phật giáo phân chia thành hai bộ phái: Thượng tọa bộ và Đại

Trang 26

chúng bộ Sau đó, hai bộ phái này tiếp tục phân biệt thành nhiều phái khác nhau

Trong khoảng 100 - 200 năm sau khi Phật diệt độ, từ Đại chúng bộ nảy sinh tám bộ phái khác, nếu tính cả Đại chúng bộ, có thể nói, Đại chúng

bộ gồm 9 bộ phái sau: Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ,

Kê dận bộ, Đa văn bộ, Thuyết giả bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ

Thượng tọa bộ vẫn giữ khuynh hướng bảo thủ, nhưng do chịu ảnh hưởng phân liệt của Đại chúng bộ, nên trong vòng 100 năm từ khoảng 200 -

300 năm sau khi Phật diệt độ, đã phân chia thành 11 bộ phái sau: Thượng toạ bộ (sau là Tuyết sơn bộ), Thuyết nhất thiết hữu bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hoá địa bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ (Thiện tuế bộ), Kinh lương bộ (Thuyết chuyên bộ)

Từ sau cuộc kết tập lần thứ tư, tức vào khoảng thế kỷ II, lịch sử Phật giáo Ấn Độ không có gì khác hơn là cuộc xung đột giữa hai phái Theravada

và Đại thừa Trước kia có nhiều phái nhưng về sau các phái đều theo Đại thừa hoặc Theravada Khi Đại thừa chưa ra đời, danh từ Theravada Phật giáo cũng chưa xuất hiện, và chỉ gọi là “Nguyên thuỷ Phật giáo” Nhưng sau khi Đại thừa xuất hiện, các học giả Đại thừa muốn phân biệt, so bì cao thấp về mặt tư tưởng, giáo lý, nên gọi giáo lý “Nguyên thuỷ Phật giáo” là

“Theravada Phật giáo”

Theravada, tiếng Phạn gọi là Hinayana, ví như cỗ xe nhỏ chở được ít người Đại thừa là Mahayana, ví như cỗ xe lớn chở được nhiều người Giữa Theravada và Đại thừa có nhiều điểm khác nhau về mặt tư tưởng, giáo lý… Nếu Theravada chủ trương “Ngã không pháp hữu”, thì Đại thừa chủ trương

“Ngã pháp câu không” Theravada cho rằng, con người phải tự tu luyện để đạt chứng quả, không ai có thể làm thay hoặc trợ giúp (tự lợi); Đại thừa cho rằng, mỗi người giác ngộ cho mình và cho tất cả những người khá “giác giả

Trang 27

giác tha” (lợi tha) Theravada quan niệm, cứu cánh của giải thoát là đạt đến bậc A La Hán; Đại thừa quan niệm, cứu cánh ấy là thành Phật Theravada thờ một Đức Phật Thích Ca duy nhất; Đại thừa, ngoài Đức Phật Thích Ca, còn thờ các Bồ Tát, La Hán, các vị thánh thần khác Nói chung, Theravada muốn bảo tồn gìn giữ giáo lý, giới pháp nguyên thuỷ Đại thừa theo khuynh hướng tiến bộ, cách tân cho phù hợp với thời đại, nhằm mở rộng Phật giáo Trong quá trình phát triển, Theravada phân chia thành hai tông: Tỳ Bà Sa luận sư và Tăng Ca Lan đa bộ Tương tự như vậy, Đại thừa cũng phân chia thành hai phái chính: Trung luận và Du già

Sau đó sự truyền bá của các hệ phái của Phật giáo đã tạo ra sự đa dạng của các nhánh Phật giáo trong đó có Phật giáo Nam tông Truyền thống Theravada lan rộng từ Ấn Độ đến Tích Lan (Sri Lanka) và Miến Điện vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, và từ đó đến Vân Nam (Yunnan), phía Tây Nam Trung quốc, Thái Lan, Lào, Cao Miên (Cambodia), miền Nam Việt Nam và Nam Dương (Indonesia) Không lâu sau đó, những chiếc túi của các thương nhân người Ấn Độ theo đạo Phật đã được tìm thấy ở vùng duyên hải Bán Đảo Ả Rập, và thậm chí xa hơn như Alexandria, Ai Cập Các hình thức khác của Theravada cũng lan đi từ thời đó đến Pakistan, Kashmir,

A Phú Hãn (Afghanistan), vùng phía Đông và duyên hải của Iran, Uzbekistan, Turkmenistan và Tajikistan ngày nay Đây là những tiểu bang cổ xưa của Gandhara, Bactria, Parthia và Sogdia Từ căn cứ này ở vùng Trung

Á, các hình thức đạo Phật Theravada này lan rộng hơn vào thế kỷ thứ hai sau công nguyên đến phía Đông Turkistan (Xinjiang) và xa hơn vào Trung Quốc, rồi đến Kyrgyzstan và Kazakhstan vào cuối thế kỷ thứ bảy Các hình thức Theravada sau đó được kết hợp với những nét đặc trưng của Đại thừa cũng đến từ Ấn Độ, để cuối cùng truyền thống Đại thừa trở thành hình thức chiếm ưu thế của Phật giáo tại hầu hết vùng Trung Á

Hình thức Đại thừa của Trung Quốc sau này lan đến Đại Hàn, Nhật

Trang 28

Bản và Bắc Việt Nam Một làn sóng khác sớm hơn của Đại thừa, kết hợp với các hình thức Shaivite của Ấn Độ giáo, lan truyền từ Ấn Độ đến Nepal, Nam Dương, Mã Lai và các vùng ở Đông Nam Á, bắt đầu vào khoảng thế

kỷ thứ năm Truyền thống Đại thừa Tây Tạng, bắt đầu từ thế kỷ thứ bảy, kế thừa toàn bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ, trải rộng khắp các vùng Hy Mã Lạp Sơn và đến Mông Cổ, Đông Turkistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, phía Bắc Nội Trung Hoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk thuộc Mông Cổ gần biển Caspian, thuộc phần Châu Âu của nước Nga Chính do quá trình phân phái của Phật giáo, để giải quyết được nhiệm

vụ của luận văn, tác giả dẫn ra khái niệm của một số thuật ngữ cơ bản mang tính nền tảng: Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo Theravada, Phật giáo Thượng tọa bộ, Phật giáo Nam tông Việt (Kinh), Phật giáo Nam tông Khmer

Phật giáo nguyên thủy là thuật ngữ dùng để gọi phật giáo lúc Đức Phật Thích Ca còn tại thế, lúc này phật giáo là một thể thống nhất, chúng đệ tử đoàn kết một lòng, chưa có sự phân chia hệ phái nên gọi là Phật giáo nguyên thủy Phật giáo nguyên thủy là những lời giáo huấn của chính đức Phật Phật giáo Thượng tọa bộ hay còn còn gọi là phật giáo Theravada là thuật ngữ dùng để chỉ một hệ phái của Phật giáo trong quá trình phân phái chủ trương giữ nguyên giới luật Theravada được xem là hình thức nguyên thủy, thuần khiết nhất của Phật giáo Chữ “Theravada” có nghĩa là “tôn trọng và đi theo lời người xưa” hay “lời dạy của bậc trưởng thượng”

Phật giáo Nam tông là tên gọi của hệ phái Phật giáo do quá trình phát triển của phái Thượng Tọa bộ từ Ấn Độ phát triển xuống Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và Nam Bộ Việt Nam Phật giáo Nam tông hay còn gọi là Phật giáo Nam truyền Khác với Phật giáo Nam tông, tên gọi Phật giáo Bắc Tông (hay là chỉ một hệ phái Phật giáo do quá trình phát triển của phái Đại chúng bộ từ Ấn Độ truyền vào địa khu Trung Á, rồi từ đây truyền lên phía Bắc sang Trung Quốc, sau đó truyền vào Triều Tiên, Nhật

Trang 29

Bản, Việt Nam, Mông Cổ Năm 1950, tại Đại hội Liên hữu Phật giáo Thế giới (WFB) ở Srilanka đã có qui định cách gọi Phật giáo Theravada (Theravada) Phật giáo Nguyên thủy - Thượng tọa bộ thành Phật giáo Nam tông hoặc Phật giáo Nam truyền, từ đó khái niệm Phật giáo Bắc tông (Mahayana) Phật giáo Bắc truyền và PGNT ra đời và sử dụng đến hiện nay Phật Giáo Nam tông Việt Nam gồm hai hệ phái chính: Phật giáo Nam tông và Phật giáo Nam tông Kinh Thuật ngữ “Phật giáo Nam tông Khmer” được sử dụng trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam để chỉ Phật giáo Nam tông của người Khmer phân biệt với Phật giáo Nam tông của người Kinh - “Phật giáo Nam tông Kinh” Khái niệm Phật giáo Nam tông trong luận văn được sử dụng để chỉ Phật giáo Nam tông Khmer

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO NAM TÔNG

1.2.1 Khái quát chung về đạo đức Phật giáo Nam Tông

Khái niệm đạo đức Phật giáo

Theo quan niệm của các nhà xã hội học, thì đạo đức được xem là một môn khoa học chuẩn hóa về hạnh kiểm của con người sống trong xã hội Đạo đức còn được gọi là ngành khoa học để đánh giá hạnh kiểm là tốt hay xấu, đúng hay sai Về thực tiễn thì đạo đức căn bản được thành lập chủ yếu dựa trên mối quan hệ giữa con người với người Có thể nói đạo đức là môn học đánh giá hành vi thiện ác của con người thông qua thân khẩu, ý và được thực hiện bởi lý trí, tình cảm và ý chí Giá trị phổ quát của đạo đức là lấy sự hy sinh tự kỷ làm tiêu chí, lấy sự quên mình vì người làm căn bản Thước đo của đạo đức là tâm vị tha, sự cảm thông, lòng trắc ẩn v.v

Theo đạo đức học mác xít, thì đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo

đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện

Trang 30

bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” (Học viện chính trị quốc gia, 2000, tr.816) Vậy đạo đức học là

khoa học chủ đạo nghiên cứu đạo đức

Theo Phật giáo, đạo đức được hiểu như sau: “Đạo là chánh pháp, đức

là đắc đạo, là không làm sai lệch nền chánh pháp”, hay “Các chân tính, các nguyên lý tự nhiên là đạo; vào được lòng người, cảm ứng với người là đức Đạo đức là nền pháp giáo mà người ta nên theo” (Đoàn Trung Còn, 1997, trang

524) Như vậy, nếu chánh pháp của Phật giáo là chánh pháp về giải thoát thì

mọi giá trị đạo đức Phật giáo gắn liền với quá trình giải thoát Những giáo pháp giúp con người đạt đến cảnh giới Niết Bàn trở thành những nguyên tắc đạo đức căn bản của xã hội, do đó, học thuyết đạo đức của Phật giáo được thể hiện qua các phạm trù phổ biến như: thiện – ác, tứ vô lượng tâm, bình đẳng, hiếu đạo v.v

Như vậy đạo đức Phật giáo trên cơ sở kế thừa các tư tưởng trước đó được hiểu là lấy xa lìa ngã chấp, ngã dục làm tiêu chí, lấy tư tưởng duyên khởi vô ngã làm chủ đạo Như vậy đạo đức Phật giáo được hiểu một cách khái quát là những giới điều Phật dạy nhằm ngăn chặn những điều ác và phát triển những điều thiện đem đến sự an lành và hạnh phúc cho mọi người, mọi

loài Kinh Thiện Sinh là một trong những bài kinh thể hiện tư tưởng đạo đức

của Phật giáo trong nhiều mối quan hệ của cuộc sống

1.2.2 Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo Nam Tông

Các tôn giáo chủ yếu lấy sự phụng sự và hy sinh làm yếu tố chủ yếu

và Phật giáo Nam Tông cũng hoàn toàn xây dựng trên nguyên tắc đó Đó là

sự đạt tới cõi Niết bàn Quan niệm của Đức Phật về đạo đức được thể hiện

ở chỗ:

Một là, thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả Tức là người ở hiền thì

gặp lành, ở ác thì gặp dữ Vấn đề thực hiện đạo đức theo quan niệm của Phật

Trang 31

thể hiện nhiều khía cạnh trong thực tiễn cuộc sống của con người giống như việc giữ giới luật vậy Trong kinh Trường bộ, tập 1 có nói:

“Từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu tình”

“sống thanh thản và không trộm cướp Hay từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt” “Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi … không đến chỗ kia nói để sinh chia rẽ ở những người kia … sống hòa hợp những kẻ ly gián Khuyến khích những kẻ hòa hợp hoan hỷ trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp” Đồng thời “từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác Nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người… nói những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc,

hệ thống, có lợi ích” (Đại tạng kinh Việt Nam, 1991, tr 122 – 123)

Đó chính là đạo đức Việc thực hiện đạo đức trong cuộc sống còn được thể hiện thông qua thực hiện Bát chính đạo trong đó phải từ bỏ những thói hư tận xấu của con người như gian lận, hối lộ, trộm cắp, cướp phá….đồng thời còn thể hiện qua mối quan hệ giữa người với với người Kinh Phật ghi:

“Từ bỏ các sự gian lận, tiền bạc và đo lường Từ bỏ các tà hạnh như

hối lộ, gian trá, lừa đảo Từ bỏ làm tổn thương, sát hại câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá” “Với một ai không thành thọ trì những giới luật không sát sinh, không thâu đạo, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu” (Đại tạng kinh Việt Nam, 1991, tr.260) “Có chúng sanh không được đạo phẩm này gồm mười một hạng người như thế này Thế nào là mười một? Đó là những người gian ngụy, ác ngữ, khó can gián, không biết ơn, tánh ưa ganh ghét, giết hại cha mẹ, giết A la hán, đoạn dứt căn lành, việc lành trở lại làm ác, chấp ngã, khởi ý ác

Trang 32

đối với Như Lai Đó là mười một hạng người không thể đạt được tám

đạo phẩm này” (Đại tạng kinh Việt Nam, 1998, tr.435)

Hai là, căn cứ vào luật nhân quả thì tất cả chúng sinh đều là anh em,

chồng, vợ, cha con… của nhau Do đó phải yêu thương nhau Đó là sự thể hiện đạo đức trong tinh thần đoàn kết, là tình cảm yêu thương trong chúng sinh với nhau Theo thuyết nhân quả thì đạo đức Phật giáo Nam Tông còn được thể hiện ở quan niệm về “Thiện” và “Bất thiện” “Tham là là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện” (Đại tạng kinh Việt Nam, 1992, tr 113) Ngoài ra quan niệm về bất thiện còn được thể hiện

ở nhiều khía cạnh khác của cuộc sống con người Đó là

“Sát sinh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là

bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện”

(Đại tạng kinh Việt Nam, 1991, tr 112)

Theo quan niệm của Phật giáo Nam Tông thì việc thực hiện đạo đức

chính là thực hiện những điều thiện “Từ bỏ sát sinh là thiện, từ bỏ lấy của

không cho là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện”(Đại tạng kinh Việt Nam, 1991, tr133)

Vì vậy việc thực hiện đạo đức Phật giáo Nam Tông cũng chính là quá trình con người thực hiện, rèn luyện tới con đường Bát chánh đạo

Ba là, quan niệm đạo đức Phật giáo còn được thể hiện thông qua

hành, tâm và ý dù nó là sự thể hiện có hình hay vô hình của mỗi con người

Đó chính là những quan niệm về không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời thêu dệt, không nói lời hung ác, không nói lưỡi đôi chiều được Đức Phật thể hiện trong cuộc sống hàng ngày thông qua ngũ uẩn mà bản thân mỗi con người hành động

Đạo đức của Phật giáo còn được thể hiện ở các chuẩn mực đạo đức

Trang 33

trong gia đình, người thân và bạn bè Trong Kinh trường bộ tập 2 của Đại tạng kinh Việt Nam 2001 từ trang 141 tới 143 đã nói rõ lên những chuẩn mức đạo đức đối với từng mối quan hệ cụ thể như giữa cha mẹ với con cái, con cái với cha mẹ, giữa vợ và chồng Theo đó, trong quan hệ giữa cha mẹ với con cái thì con cái phải làm tròn bổn phận và trách nhiệm của người con đối với cha mẹ, đặc biệt phải phụng dưỡng cha mẹ cả vật chất, lẫn tinh thần lúc cha mẹ tuổi già, không chỉ vậy con cái còn phải có bổn phận giữ gìn truyền thống gia đình, bảo quản tài sản thừa tự, tổ chức tang lễ khi cha mẹ qua đời Đồng thời cha mẹ đối với con cái trong gia đình phải ngăn chặn con làm điều ác, khuyến khích con làm điều thiện, dạy nghề cho con, dựng vợ gả chồng xứng đáng cho con và đồng thời trao của thừa tự cho con

Trong mối quan hệ vợ chồng Người chồng phải kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ …, trung thành với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ” Ngược lại, Vợ đối với chồng phải biết làm tốt bổn phận của mình, khéo đón tiếp bà con, trung thành với

chồng, khéo giữ tài sản của chồng, khéo léo và nhanh lẹ làm mọi công việc

Vì vậy quá trình thực hiện đạo đức theo quan niệm của Phật giáo Nam Tông chính là quá trình thực hiện những hành động tốt đẹp trong cuộc sống của mỗi con người

Trên nền tảng những quan điểm cơ bản của Phật giáo Nam Tông về Đạo đức, Đạo đức Phật giáo Nam Tông của người Khmer tại Trà Vinh được

thể hiện rõ nét trong Đại tạng kinh điển là Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng

Luận hay còn gọi là Tam tạng (Tripitaka)

Tạng Kinh (Sutra pitaka) là những sách ghi lời Phật Thích Ca giảng về

đạo lý, chia thành 4 bộ chính: Trường bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng

Chi Bộ, và Tiểu Bộ (bổ sung sau) Tạng Kinh có rất nhiều nội dung được đề

cập đến như là về sự khổ hạnh của con người, nguyên nhân của sự khổ, con đường giải thoát sự khổ…

Trang 34

Tạng luật (Vinayapitaka) là sách ghi lại những lời dạy và những quy

định của đức Phật về những vấn đề liên quan đến cuộc sống và sự sinh hoạt của các thành viên cũng như các công việc của hội chúng Nội dung của

Tạng Luật chia làm 3 phần cơ bản: Suttavibhanga (Phân tích giới tỳ khưu bổn), Khandhaka (Hợp phần: Chia làm 2 phần chính là Mahavagga và

Cullavagga), Parivãra (Tập yếu: Phân tích về các Giới và Luật theo các tiêu

đề và được trình bày dưới dạng vấn đáp

Tạng Luận: Luận thuyết về những vấn đề siêu hình, tâm lý và học

thuật Đó là những công trình bình luận, chú giải của các cao tăng, sứ giả về sau này Mục đích của Tạng Luận là sắp xếp kiến thức của Đức Phật và bác

bỏ những quan điểm của trường phái khác (Bàlamôn giáo)

Giáo lý cơ bản của Phật giáo Nam tôngđược thể hiện qua Tứ diệu đế

và Bát chính đạo - con đường chủ yếu để giải thoát nỗi khổ của con người Trong đó được thể hiện nhiều khái niệm như vô thường, vô ngã, vô giả tạo,

tứ diệu đế

Một là, vô thường

Vô thường (Anitya): Vạn pháp trong vũ trụ không đứng yên mà luôn

chuyển động, biến đổi trong chu trình; thành - trụ - hoại - không Mọi sự vật điều biến đổi vô thủy, cô chung; không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc Sự vật trong thế giới này biến đổi không phải do sức mạnh của thần thánh mà là do nghiệp - duyên (nhân - quả) Sự vật, hiện tượng do con người nhận biết qua thần sắc, hình tướng chỉ là giả tạm Do đó, thế giới khách quan đang tồn tại chỉ là hư ảo, không có thực, là vô thường

Hai là, vô ngã

Giáo lý Phật giáo Nam tôngcho rằng bản thân con người là “một pháp” đặc biệt của thế giới, bao gồm sinh lý và tâm lý, là sự kết hợp của Ngũ uẫn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)

Trang 35

Phần sắc uẩn (sinh lý) là thần sắc, hình tướng, tạo được thành bởi Tứ đại (địa - thủy - hỏa - phong)

Phần tinh thần, ý thức (tâm lý) gồm: thụ, tưởng, hành, thức được biểu hiện bằng thất tình: ái, ố, hỉ, nộ, ai, dục, lạc

Bản thân của mỗi người trong mỗi kiếp phải chịu quả báo về những việc của họ làm từ kiếp trước Như vậy, con người chịu sự quy định của nhân quả, nhân quả tác động với nhau do các duyên hợp thành Nó thể hiện

rõ nét trong duyên khởi Mọi pháp đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc vào nhau Nó thể hiện trong nguyên tắc duyên khởi: cái này có thì cái kia có; cái này sinh thì cái kia sinh; cái kia không có thì cái này không có, cái này diệt thì cái kia diệt

Duyên khơi bao gồm thập nhị nhân duyên gồm: vô minh - hành - thức

- danh sắc - lục nhập - sắc - thụ - ái - thủ - hữu - sinh - tử

Đây là quá trình sự sống, phát sinh, sinh tồn và tiếp diễn của mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới này Theo quan niệm của Phật giáo Nam tôngthì giải pháp để chấp dứt vòng luân hồi của mỗi sự vật đó là việc thực hiện xóa bỏ vô minh

Ba là, vô giả tạo

Theo quan niệm của Phật thì nguyên bản của thế giới này là vô giả tạo, không có kẻ sáng lập đầu tiên

Thế giới trong không gian được gọi là thế gian Mỗi thế giới đều có một vật ở trung tâm là Tu di, dưới Tu di là địa ngục, bốn mặt xung quanh, lưng chừng núi là chỗ của tứ thiên hạ: người, a-tu-la, ngã quý, súc sinh Ở lưng chừng xung quanh núi, cao hơn là cõi trời - chỗ ở của thiên vương Ở trên đỉnh núi có cõi trời thứ hai, là chỗ ở của Vua Đế Thích và 32 vị thần khác Trên đỉnh Tu di là cõi trời thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu Cõi thứ sáu

là cõi cưới cùng trong dục giới Thế giới theo quan niệm của Phật giáo có Tam giới: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới

Trang 36

Bốn là, tứ diệu đế

Tứ diệu đế là bốn chân lý cao cả của Phật giáo Nam tônggồm: Khổ đế,

Tập đế, Diệt đế và Đạo đế Tứ diệu đế có thể được xem là “hạt nhân” cơ bản

trong toàn bộ giáo lý Phật giáo Nam Tông Khmer

Khổ đế (dukka) là chân lý nói về sự khổ

Dukka ở diệu đế thứ nhất bao gồm những ý nghĩa sâu sắc hơn: “bất toàn”, “vô thường”, “trống rỗng”, “giả tạm” Dukka phát sinh do vô thường, chuyển biến, hoại khổ Khi mọi sự vật thay đổi thì là điều kiện phát sinh sự khổ Khổ vì do hoàn cảnh giới hạn của sinh - tử trong thủ ngũ uẩn Ngũ uẩn

vô thường, mà bất cứ cái gì vô thường đều là khổ

Tập đế (Samudaya) là chân lý nói về nguyên nhân của sự khổ

Nguyên nhân trực tiếp, rõ rệt và phổ biến gây lên sự khổ là tham ái bao gồm: ham muốn khoái lạc giác quan, ham muốn tài sản, ham muốn thế lực, ham muốn danh vọng và ham muốn sự sống

Như vậy, mầm mống của Dukka phát sinh ở ngay chính Dukka chứ không phải do bên ngoài Bất cứ cái gì thuộc về bản chất của sự sinh tồn cũng đều thuộc bản chất của sự diệt vong

Ý chí, dục vong, tham ái, lòng khát khao tồn tại, tiếp tục tăng trưởng, không mất đi, dừng lại cùng cái chết của thân xác, mà tiếp tục biển hiện trong một hình thức khác, phát khởi sự tài sinh gọi là luân hồi Còn sự khao khát trở thành thì vòng luân hồi vẫn còn tiếp tục Nó chỉ chấm dứt, nhờ trí tuệ thấy rỏ thực tại, chân lý - niết bàn

Diệt đế (Nirodha) là chân lý nói về lối thoát cho sự đau khổ dứt ra khỏi sự tiếp nối của nổi khổ Đây là chân lý cao cả về sự chấm dứt sự khổ, đó

là niết bàn

Theo Phật giáo Nam tông của người Khmer thì niết bàn và tái sinh là hai phạm trù khác biệt Niết bàn là cái tuyệt đối không bị giới hạn, là sự diệt tận ham muốn, vọng tưởng, hận thù, sự hủy diệt sai lầm về bản ngã Còn

Trang 37

theo Phật giáo Bắc Tông thì cho rằng, Niết bản có thể thực hiện được ngày trong cỏi đời này Người chưng ngộ được chân lý niết bàn là người hạnh phúc nhiều trên trần gian Người ấy thoát khỏi mặc cảm và ám ảnh, phiền muộn, lo âu, Họ trong sạch, từ hòa, đầy lòng thương, thông cảm và khoan dung Họ phục vụ người khác trong sạch không nghỉ về mình, không vụ lợi,

họ đã thoát khỏi về tư tưởng về ngã và lòng tham ái

Đạo đế gọi là (Magga) là chân lý về con đường chấm dứt Dukka

Theo Phật giáo Nam tông của người Khmer để diệt mọi Dukka thì đức Phật thực hiện con đường chung đạo, vì nó tránh hai thái cực: Chạy theo khoái lạc tầm thường và khổ hạnh ép xác Con đường thứ nhất thấp kém tầm thường, không lợi ích là con đường của những người tầm thường Con đường thứ hai là khổ nhọc, không đáng có và không lợi ích

Phật giáo Nam tông tránh không đưa lý thuyết về Niết bàn, mục đích cuối cùng là kinh nghiệm của sự giác ngộ, trong đó, người tu hành chứng được vô ngã và bỏ tham ái, thoát khỏi vô minh

Đối với Phật giáo Nam tông, Phật là một nhân vật lịch sử được xem là một con người và thầy dạy, không phải là hóa thân của một đấng toàn năng hay siêu việt nào Giáo pháp cơ bản của Theravada gồm có:

* Tứ diệu đế được xem là những “cái khổ” của cuộc đời trong cuộc

sống của con người Và nó được biểu hiện dưới những hành động của con

người dù đó là hữu hình hay vô hình (hành, tâm, ý) Bao gồm: Khổ đế, Tập

đế, Diệt đế, Đạo đế

* Thập nhị nhân duyên (Pratya - samutpanda) là về nguồn của sự hình

thành và phát triển của mọi sự vật

* Thuyết vô ngã (Anatman) và luật nhân quả Đây là giáo pháp cơ bản

của đạo Phật, cho rằng không có cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại nằm độc lập nằm trong sự vật

* Nghiệp (karma) nghĩa là hành động, mỗi tác động của một nghiệp dù

Trang 38

chỉ là điều kiện nhất định cũng sẽ tạo thành một quả Một khi quả đó chín nó

sẽ rơi trở lại người đã tạo ra nó

Một nghiệp được gây ra bằng một hành động thuộc thân, thuộc tâm hay thuộc ngôn ngữ, tất cả những hành vi này dù có hình hay vô hình đều sẽ tạo thành nghiệp Vì thế người ta làm cái gì cũng tạo nghiệp cho chính bản thân, không nhất thiết việc đó có hay không xảy ra trong thực tế

Nhìn chung nội dung cơ bản của giáo lý Phật giáo Nam tông của người Khmer cũng đều dựa trên nền tảng những giá trị đạo đức của Phật giáo Nam tông là nhằm điều chỉnh hành vi của con người, hướng hành động của con người đến những việc làm tốt Điều chỉnh hành vi của con người trên tất

cả các lãnh lực: hành, tâm, ý

Đạo đức Phật giáo còn thể hiện qua triết lý nhân sinh Phật giáo Nam

tông của đồng bào Khmer

Theo quan niệm của Phật giáo Nam Tông của đồng bào Khmer (Phật giáo Nam tông Khmer) thì sự hình thành của con người, của mỗi bản thân con người đó là do chính nghiệp (duyên khởi) mà bản thân con người đã tạo ra Và chính cái tiền kiếp đó, cái nhân mà bản thân con người đã tạo ra trước đó thì hôm nay có một nghiệp mới, một con người mới đó chính là duyên mới hay duyên khởi mà chính bản thân con người hiện nay được thể hiện thông qua chính cuộc sống, cuộc đời của con người

Để lý giải cho bản tính của con người, Phật giáo Nam tôngđã cho rằng, con người khổ vì lòng dục Mọi vật không đứng yên một chỗ mà luôn vận động Do vậy, thân phút trước, không phải là thân phút sau Con người thì tham được sống, mà con người cứ bị kéo dần về cõi chết Mỗi cá nhân tồn tại được đức Phật ví như một loài hoa sen với những đặc điểm và tính cách khác nhau; có loài vượt qua khỏi mặt nước, chờ tiếp xúc ánh sáng mặt trời liền nở ngay ngày hôm nay Bốn loại hoa sen này so sánh như 4 hạng người trong đời (1) Hạng người có trí tuệ bậc thượng, bén

Trang 39

nhạy Khi nghe được tiền đề của chính pháp, chưa cần triển khai, bậc ấy có thể chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh đạo, Thánh quả và Niết bàn ngay tức khắc (2) Hạng người có trí tuệ bậc trung Khi nghe được tiền đề của chính pháp và triển khai, người ấy có thể chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh đạo, Thánh quả và Niết bàn (3) Hạng người có trí tuệ bậc thường Khi nghe tiền đề của chính pháp và triển khai xong, nhưng cần phải

có thời gian thân cận, gần gũi với bậc Thánh nhân, bậc Thiện trí hướng dẫn chỉ dạy thêm, mới có thể chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh đạo, Thánh quả và Niết bàn trong kiếp hiện tại này (4) Hạng người có trí tuệ kém Dầu được nghe nhiều, học nhiều đi nữa, hay dầu thân cận với bậc Thiện trí, họ cũng chưa có thể chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh đạo, Thánh quả ngay trong kiếp hiện tại này

Bản chất của con người có thể bị thay đổi do những điều kiện khách quan và chủ quan tác động Điều này cũng phần nào có thể làm thay đổi bản chất của con người Trong bản chất của con người, theo quan niệm của Phật giáo Nam tôngthì luôn bị chi phối và ảnh hưởng bởi danh, lợi, yêu, ghét, v.v… trong cuộc sống hằng ngày của mỗi con người Chính những vấn đề trên đã ảnh hưởng đến bản chất của con người, đây cũng chính là yếu tố có thể phân biệt giữa người thiện và người ác Khi con người thoát khỏi vô minh thì con người sẽ thoát khỏi nỗi đau trong cuộc sống của chính mình

Quan niệm về triết lý nhân sinh là nền tảng tinh thần của con người Triết lý nhân sinh hay ý nghĩa cuộc sống là một trong những vấn đề trung tâm của đời sống con người theo ý nghĩa xã hội hay ý nghĩa cá nhân “nó chi phối và liên quan mật thiết đến những định hướng sống hết sức cơ bản của con người như lý tưởng, niềm tin, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc, thiện ác, ác…”

Ý nghĩa cơ bản của triết lý nhân sinh là nó định hướng cho cuộc sống của cá nhân và xã hội, nó trả lời cho các vấn đề cơ bản nhất của cuộc sống

Trang 40

như bản chất, ý nghĩa, giá trị của con sống con người là gì? Lý tưởng sống của con người là gì? Thái độ của cuộc đời con người là gì? Cho nên đây là một vấn đề lớn và các hệ tư tưởng trong lịch sử phát triển của xã hội hiểu nó

ở những góc độ khác nhau…

Triết lý nhân sinh đích thực của Phật giáo Nam tônglại không phải là tạo nghiệp trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, không phải là ở xã hội hiện thực, mà là giải thoát và siêu giải thoát Nó xuất phát từ việc nhận định

“đời là bể khổ”, cuộc sống này thực chất là “khổ” và từ việc chúng sinh phải

từ bỏ “tham ái và chấp thủ”, cũng có nghĩa là từ bỏ tham, sân, si

Về nguồn gốc và bản chất của con người theo quan niệm Phật giáo Nam Tông Khmer

Về nguồn gốc con người, quan niệm rằng tất cả mọi sự vật trong thế

giới này đều do “nhân duyên” sinh ra, trong đó không có cái gì tồn tại tuyệt đối, mọi cái đều “vô ngã, vô thường”

Về bản chất con người, trong thế giới của muôn loài sinh vật thì con

người luôn là yếu tố quan trọng nhất Con người khổ vì lòng dục, con người còn khổ hơn nữa vì hai tánh chất cơ bản sau đây:

Một là, vô thường: Mọi vật ở đời luôn luôn chuyển động và biến đổi,

con người tham được sống nhưng lại bị kéo dần về cõi chết

Hai là, vô ngã: Có con người là do nhân duyên hòa hợp, Khi đủ nhân

duyên năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức hòa hợp lại với nhau gọi là sống, khi nó tan ra là chết

Đức phật ví mỗi bản thân con người như một loài sen với những đặc điểm và tính chất khác nhau

Bốn loại hoa sen

* Vượt khỏi mặt nước, chờ ánh nắng mặt trời và nở ngay ngày hôm nay

* Vươn lên ngang tằm mặt nước, chờ nở vào ngày mai

* Còn ở mặt nước chờ 3, 4 ngày mới nở

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương. (1998). Chỉ thị 37/CT – TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 37/CT – TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 1998
2. Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ: Số liệu về Tôn giáo, dân tộc trên địa bàn Tây Nam Bộ ngày 09/02/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu về Tôn giáo, dân tộc trên địa bàn Tây Nam Bộ
3. Ban Tôn giáo Chính phủ. (2008). Đề cương bài giảng Tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2008
4. Bộ Quốc Phòng. (2009). Giáo trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo
Tác giả: Bộ Quốc Phòng
Năm: 2009
5. Bộ văn hoá Thông tin – Vụ Văn hoá Dân tộc. (2004). Xây dựng đời sống Văn hoá vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đời sống Văn hoá vùng dân tộc Khmer Nam Bộ
Tác giả: Bộ văn hoá Thông tin – Vụ Văn hoá Dân tộc
Năm: 2004
6. Bùi Biên Hòa. (1994). Đạo Phật và thế giới quan. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Phật và thế giới quan
Tác giả: Bùi Biên Hòa
Năm: 1994
8. C. Mác và Ph. Ăngghen. (1995). Toàn tập, tập 1, Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Năm: 1995
9. Chu Xuân Diên. (2002). Cơ sở Văn hóa Việt Nam (xuất bản lần 2). TPHCM: Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hóa Việt Nam (xuất bản lần 2)
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 2002
10. Doãn Chính. (1999). Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại. TP. Hồ Chí Minh: Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 1999
11. Doãn Chính. (1999). Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ. TPHCM: Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 1999
12. Dương Xuân Dũng. (2009). Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Khmer tỉnh An Giang hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Nam Tông và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Khmer tỉnh An Giang hiện nay
Tác giả: Dương Xuân Dũng
Năm: 2009
13. Đại Tạng Kinh Việt Nam. (1991). Kinh trường bộ, tập 1. Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh trường bộ, tập 1
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Năm: 1991
14. Đại Tạng Kinh Việt Nam. (1992). Kinh trung bộ. (Tập 1). Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh trung bộ
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Năm: 1992
15. Đại Tạng Kinh Việt Nam. (1998). Kinh tăng nhất a hàm. (Tập 3). Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tăng nhất a hàm
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Năm: 1998
16. Đại Tạng Kinh Việt Nam. (2001). Kinh trường bộ. (Tập 2). Hà Nội: Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh trường bộ
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Năm: 2001
17. Đặng Nghiêm Vạn. (1996). Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay. Hà Nội: Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Năm: 1996
18. Đặng Thị Kim Oanh. (2007). Hôn nhân và gia đình của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Luận án tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV– Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Đặng Thị Kim Oanh
Năm: 2007
19. Đinh Gia Khánh. (1993). Văn hóa dân gian trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á (The Vietnamese Folklore in the Context of South East Asian Cultures). Hà Nội: Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á (The Vietnamese Folklore in the Context of South East Asian Cultures)
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Năm: 1993
20. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (1998). Văn học dân gian Việt Nam. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Năm: 1998
21. Đoàn Thanh Nô. (2002). Người Khmer ở Kiên Giang. Hà Nội: Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Khmer ở Kiên Giang
Tác giả: Đoàn Thanh Nô
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w