Tình hình kinh tế, xã hội Nhật Bản dưới thời Mạc phủ Tokugawa Mặc dù dòng họ Tokugawa đã nỗ lực hết sức để ngăn ngừa mọi sự thay đổi có thể làm lung lay cái chính thể đã được cô lập hoá
Trang 1và đứng trước triển vọng phát triển tốt đẹp, phù hợp với xu hướng duy trì và
mở rộng quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai nước
Nhưng, càng đi sâu vào nghiên cứu lịch sử Nhật Bản người ta lại càng nhận thấy một đặc tính nổi bật là: xã hội Nhật Bản hiện đại có mối liên hệ chặt chẽ với những yếu tố truyền thống Di sản từ quá khứ có sức mạnh tiềm ẩn Đó chính là động lực tác động trực tiếp đến đặc điểm và khuynh hướng phát triển của Nhật Bản ngày nay
Từ những khám phá rất có ý nghĩa này, những nhà nghiên cứu chú ý hơn đến mối liên hệ có tính lịch đại giữa các giai đoạn trong tiến trình lịch sử Điều hiển nhiên là, trong trường hợp Nhật Bản sẽ không thể lý giải được đầy đủ những phát triển hiện tại nếu như không có một thái độ nghiên cưú, phân tích thực sự khách quan những giá trị truyền thống Với cách nhìn nhận đó, lịch sử Nhật Bản, đặc biệt là thời kỳ Mạc phủ Tokugawa (hay còn gọi là thời kỳ Edo 1600- 1868) cần phải được đi sâu nghiên cứu hơn nữa Bởi vì, đây không chỉ là thời kỳ phát triển cuối cùng và cao nhất của chế độ phong kiến Nhật Bản mà nó còn đồng thời tạo ra những tiền đề kinh tế, xã hội hết sức quan trọng cho sự chuyển mình mau chóng của Nhật Bản từ xã hội phong kiến sang xã hội tư sản vào giữa thế kỷ XIX
Việt Nam và Nhật Bản vốn có mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hoá từ lâu trong lịch sử và mối quan hệ thuở xưa đó vẫn còn để lại những dấu ấn đến ngày nay Trong bối cảnh đó thì việc tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử Nhật Bản
là điều cần thiết,đặc biệt là đối với những sinh viên nghành sử- chuyên nghành Lịch sử Thế giới Nhật Bản thời kỳ Mạc phủ Tokugawa là bước phát triển liên tục của lịch sử Nhật Bản từ thời cổ đại Trong đó chính sách đối ngoại của thời
kỳ này đã làm cho dân tộc Nhật Bản chuyển mình mạnh mẽ trên tất cả mọi
Trang 2phương diện để nhanh chóng” đuổi kịp và vượt Phương Tây” Bởi vậy nếu làm
rõ được thời kỳ này đặc biệt là chính sách đối ngoại sẽ có ý nghĩa quan trọng khi thấy được những điều kiện, tiền đề để Nhật Bản bước vào giai đoạn lịch sử tiếp theo Hơn nữa, tìm hiểu nghiên cứu thời kỳ này không chỉ tăng thêm sự hiểu biết đơn thuần về lịch sử của một quốc gia mà còn thực sự hữu ích đối với các sinh viên nghành sử nó không chỉ góp một phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu nghiên cứu lịch sử Nhật Bản mà còn là để mài sắc tư duy lịch sử, nâng cao hiểu biết của mình làm hành trang khi bước vào đời
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhật Bản từ lâu đã là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Từ trước đến nay việc nghiên cứu lịch sử Nhật Bản đã được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ, mức độ khác nhau từ nguồn gốc lịch sử cho đến kinh tế, xã hội, văn hoá từ truyền thống đến hiện đại Không kể những bộ sách về lịch sử Nhật Bản của các học giả nước này đã đề cập khá toàn diện từ khởi thuỷ đến nay, thì những công trình nghiên cứu của các học giả ngoài Nhật Bản( trong đó có Việt Nam) đang hiện có tại Việt Nam cũng khá đầy đủ Có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu như:” Lịch sử Nhật Bản” gồm ba tập của George Sansom( NXBKHXH-
Hà Nội 1994), “ Lịch sử Nhật Bản” ĐHQG Hà Nội… ĐHSP(NXBVHTT- Hà Nội 1995), “ Bách khoa toàn thư Nhật Bản” của Richard Bowring và Peter Komicki( Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản 1995) Ngoài những công trình như trên còn có một số công trình nghiên cứu khác ít nhiều liên quan đến khoá luận như: “ Lịch sử văn hoá Nhật Bản( 2 tập)” G.B.Sansom( NXBKHXH- Hà Nội
1989 và 1990),” Nhật Bản ngày nay”( NXBTT- Lý luận 1991)… các bài báo, bài viết trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu Nhật Bản…
Song viết về thời kỳ Mạc phủ Tokugawa thì các học giả trên mới chỉ nêu lên những vấn đề mang tính chất thông sử chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể vấn đề mà chúng ta cần tìm hiểu Chính vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài này làm khoá luận tốt nghiệp của mình, với hy vọng góp thêm một phần sức mình vào việc làm sáng tỏ vấn đề nêu trên một cách khoa học và có hệ thống
Trang 3giúp bạn đọc hiểu hơn về lịch sử Nhật Bản nói chung và thời kỳ Mạc phủ Tokugawa nói riêng
Tuy nhiên liên quan đến đề tài khoá luận, bên cạnh một số vấn đề đã được đề cập khá đầy đủ thì cũng còn nhiều vấn đề mới chỉ là nét chấm phá hoặc chỉ là những gợi ý có tính chất tham khảo mà thôi Bởi đây là một công việc vô cùng khó khăn nếu không muốn nói là một sự thách thức khó vượt qua được bởi khả năng hạn chế về chuyên môn cũng như về ngoại ngữ của chính bản thân tôi
III NGUỒN TÀI LIỆU
Để đề tài này được hoàn thành chúng tôi đã dựa vào các nguồn tài liệu chính như:
1 Lịch sử Thế giới trung đại - Nguyễn Gia Phu Nguyễn Văn Ánh… NXBGD 2000
2 Lịch sử Nhật Bản - Phan Ngọc Liên( chủ biên)- NXBVHTT- Hà Nội
IV PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
IV.1 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Tìm hiểu lịch sử Nhật Bản trong quan hệ với các nước Phương Tây và các nước trong khu vực
Về thời gian: Từ thế kỷ XVII- giữa thế kỷ XIX
IV.2 Nhiệm vụ của đề tài:
Trang 4Tìm hiểu chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa đối với các nước Phương Tây và các nước trong khu vực… Qua các giai đoạn lịch sử
1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên
1.2 Quá trình thống nhất đất nước dưới thời Mạc phủ Tokugawa 1.3 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa
1.3.1 Tình hình chính trị
1.3.2.Tìmh hình kinh tế, xã hội
1.3.3 Tình hình văn hoá
Chương 2: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa
2.1 Những nguyên nhân dẫn đến chính sách đóng cửa của
Nhật Bản
2.1.1 Thiên chúa giáo và vấn đề an ninh của Nhật Bản
2.1.2 Kinh tế Nhật Bản với những đoàn thuyền buôn đến và đi
2.1.3 Thời kỳ Mạc phủ Tokugawa với chính sách trung lập hoá
2.1.4 Mạc phủ với mục tiêu chính trị trong nước
2.2 Chính sách mở cửa trong thời kỳ Tokugawa
Chương 3: Những chuyễn biến kinh tế – xã hội ở Nhật Bản thời kỳ
Trang 53.2.1 Những chuyển biến về kinh tế nông nghiệp
3.2.2 Những chuyển biến về kinh tế công - thương nghiệp 3.2.3 Những chuyển biến trong cơ cấu và quan hệ xã hội
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong đề tài này là phương pháp logic- lịch sử, kết hợp với phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ các vấn đề mà đề tài đặt ra
Trang 6NỘI DUNG:
Chương1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
NHẬT BẢN THỜI KỲ TOKUGAWA
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Điều kiện địa tự nhiên có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển xã hội
Vì vậy chúng ta cần tìm hiểu để nhận thức sâu sắc hơn lịch sử, xã hội, văn hoá của Nhật Bản Nhiều người gọi Nhật Bản là “xứ sở của hoa anh đào” Quả cũng không sai Trên khắp đất nước Nhật Bản, hoa anh đào nở rộ theo mùa Miền Nam hoa nở vào khoảng cuối tháng ba Tiết trời càng ấm lên thì hoa lần lần nở
ở các miền trên và đến khoảng giữa tháng năm thì nở rộ ở Nhật Bản Vì thế cây hoa anh đào được xem là “quốc hoa” của Nhật Bản Tuy nó thiếu vẻ hùng vĩ của cây thông, cái rực rỡ của cây mận, cái duyên dáng của cây liễu, nhưng lại mộc mạc và bình dị Đối với người Nhật Bản, anh đào nở rộ là điều lành báo mùa lúa tốt Màu lá hoa anh đào mùa thu và màu hoa mùa xuân tạo nên cảnh thanh bình, thịnh vượng và ấm cúng, khác với những mùa đông lạnh lẽo kéo dài Ngắm hoa anh đào là một phong tục dân gian của Nhật Bản, bắt nguồn từ thời kỳ Hâyan và phổ biến vào khoảng thế kỷ X Đây cũng là dịp xuất hành du xuân của người Nhật Bản trong tuần lễ hoa anh đào nở vào mùa xuân, người ta ngắm hoa, uống rượu SaKê và ca múa Các em gái Nhật Bản cũng có hội” hoa anh đào” hay “ hội búp bê” của riêng mình, được tổ chức vào ngày 03 tháng 03 hàng năm Vào ngày hội này, các em đem bày búp bê cùng hoa anh đào vừa thể hiện tài nữ công, vừa để cầu may Hoa anh đào là một tượng trưng để đuổi tà khí, làm cho con gái sẽ xinh đẹp như hoa
Người Nhật Bản còn gọi đất nước mình là” Nihon hay Nipon” tức là” xứ
sở của mặt trời” theo cách nói của thái tử Shôtôka trong thư gửi vua Trung Quốc, tự xưng là người đứng đầu của” đất nước mặt trời mọc” Tên nước còn bắt nguồn từ truyền thuyết đầy chất trữ tình về cặp anh em- vợ chồng Izana và Izanani Tên Nhật Bản được MarCo Polo(nhà du lịch người Italia thế kỉ XIII) phiên âm là Cipango (Xipango) Do người Nhật Bản đọc chệch âm Quảng Đông “Nhật Bản quốc”thành “Gipen quốc” nên chuyển sang tiênga Anh và Đức là Japan và tiếng Pháp là Japon Truyêng thuyết chỉ là truyền thuyết, dù phản phần nào hiện thực Nhiều tài liệu khoa học xác nhận thực tế trước đây
Trang 7nhiều triệu năm, từ đáy đại dương sâu thẳm, những vụ nổ núi lửa ghê gớm đã naqang lên khỏi mặt biển một dãy quần đảo hình cánh cung ôm lấy lục địa châu
Á từ vĩ tuyến 30 – 40 độ Bắc Đó là quần đảo Nhật Bản, gồm bốn đảo lớn: Hokkaido, Honshu, Kyushu, Sikoku và khoảng gần 4000 đảo nhỏ rải ra theo hình cánh cung dài khoảng 3.800 Km Như vậy, xưa kia quần đảo Nhật Bản nối liền với đại lục địa châu Á Về vị trí địa lý, Nhật Bản ở góc Đông Bắc của Thái Bình Dương và thuộc miền cực đông của lục địa châu Á Quần đảo Nippon giữ mối liên lạc với lục địa châu Á qua ba con đường: đường phía Bắc từ Đông Xibiađến Hokkaido qua Sakhalin, đường phía Đông từ bán đảo Triều Tiên đến Honshu và dường phía Nam từ đất Trung Hoa đến đảo Kyushu qua Đài Loan
và quần đảo Ryukyu Từ ba con đường này, Nhật Bản có mối giao lưu văn hoá, kinh tế từ lâu với thế giới Dù sao, tính chất “đảo” tạo nên một hoàn cảnh địa lý đặc biệt của Nhật Bản, làm cho việc giao lưu trở nên khó khăn nhưng lại thuận lợi cho việc giữ gìn độc lập và đặc biệt cho tính thống nhất và thuần nhất của nền văn minh dân tộc Có nhà xã hội học cho rằng tính chất “ đảo” khiến cho tâm lý người Nhật có khuynh hướng “hướng nội”
Nhìn toàn bộ, địa hình Nhật Bản tạo nên những phong cảnh thật hùng vĩ: núi rừng trùng trùng, điệp điệp sườn đá cheo leo, khe lũng hiểm trở, hồ trong veo đẩy nước của tuyết núi tan đổ xuống, thác chảy rào rào Nhưng đằng sau những cảnh “ngoạn mục” đó là những nét khắc nghiệt và dữ dội của một vùng đất đầy núi lửa, động đất, sóng thần, bão lụt và hạn hán Ở Nhật Bản hiện nay
có hơn ba chục ngọn núi lửa vẫn hoạt động trong tổng số 196 núi lửa Mỗi năm
có tới hàng ngàn những rung chuyển địa chấn và thỉnh thoảng lại có những trận động đất lớn, có khi thiêu huỷ cả một thành phố
Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật Bản lại lấy ngọn núi lửa Fuji (có nghĩa là “ núi rượu trường sinh”) làm hình ảnh tượng trưng cho đất nước mình
Đó là hình ảnh tượng trưng cho cảnh quan thiên nhiên Nhật Bản: thật là hùng
vĩ và ngoạn mục, nhưng cũng thật dữ dội và đầy biến động Ngày nay hằng năm có đến 2 triệu người Nhật, không kể người nước ngoài trèo lên núi Fuji ít nhất cũng đến lưng chừng để ngắm cảnh, uống trà…Vì được xem là “ núi thiêng”, nên trước đây phụ nữ bị cấm không được trèo lên đỉnh núi
Thiên nhiên Nhật Bản đẹp, nhưng quả thật khắc nghiệt đối với con người Những hòn đảo nghèo nàn này không được hưởng thiên thời và địa lợi
Trang 8Vây mà những con người Nhật Bản như càng được tôi luyện thêm trong thiên nhiên nghiệt ngã, họ đã vươn lên một cách độc đáo, trở thành một trong những dân tộc đứng hàng đầu thế giới về sự phát triển kinh tế, kĩ thuật Sự thành công
đó chứng tỏ một thắng lợi của con người đối với thiên nhiên
1.2 Quá trình thống nhất đất nước dưới thời Mạc phủ Tokugawa
Từ những cư dân đầu tiên đến cuối thế kỷ XII, lịch sử Nhật Bản trải qua nhiều giai đoạn phát triển và nền văn hoá khác nhau: Văn hoá thời đồ đá, tiêu biểu là văn hoá Jomon, văn hoá của các quốc gia cổ đại, nổi bật là các vương quốc Yamoto, các triều đại Nara và Hâyan…Tuy chịu sự ảnh hưởng của văn hoá bên ngoài chủ yếu là Trung Quốc, song Nhật Bản đã xây dựng cho mình một nền văn hoá độc lập, truyền thống độc đáo của mình
Những thay đổi trong xã hội cuối thế kỷ XII đã dẫn tới những sự kiện lớn trong đời sống chính trị – thời kỳ Mạc phủ Đây là thời kỳ tồn tại khá dài trong lịch sử Nhật Bản với nhiều biến động lớn và cũng được xem là giai đoạn phát triển cuối cùng cao nhất của chế độ phong kiến Nhật Bản Như: Mạc phủ Kamakura, Mạc phủ Murômachi, đặc biệt là Mạc phủ Tokugawa
Tokugawa Ieyasu (1542 – 1616) là người sáng lập ra triều đại Nhật Bản
ở thời kì tốt đẹp nhất trong khoảng 300 năm Tokugawa Ieyasu được Thiên Hoàng phong làm “Chinh di đại tướng quân” (Shogun) vào năm 1603 Đây là giai đoạn phát triển cuối cùng và cao nhất của chế độ phong kiến Nhật Bản Đây cũng là thời kì có nhiều diễn biến phức tạp về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…Đây là triều đại trưởng thành trong hoàn cảnh đất nước bị dày xéo bởi nội chiến, một đất nước mà quyền lực trung ương không xứng đáng với cái tên của nó Quyền lực bị chia rẽ và thường xuyên bị tranh dành bởi các lãnh chúa quân sự, liên minh nông dân và các tổ chức của nhà thờ Thiên chúa giáo
Đi lại khi đó vừ khó khăn vừa nguy hiểm, phương tiện liên lạc thì lúc có lúc không, thương nghiệp thì trong tình trạng bếp bênh bị ngăn chặn ở mọi ngả bởi rào chắn trạm kiểm soát và thuế quan tư nhân
Tình trạng đất nước thời kì Chiến quốc không những là cho nhân dân thêm đói khổ mà còn gây trở ngại lớn cho sự phát triển xã hội Vì vậy, xuất phát từ những lợi ích khác nhau các tầng lớp nhân dân Nhật Bản đều mong muốn hoà bình và thống nhất Quần chúng mong muốn hoà bình để được yên
Trang 9ổn làm ăn, cuộc sống đỡ cực khổ Chính trong giai cấp phong kiến cũng nảy sinh nhu cầu kết thúc nội chiến, chấm dứt tình trạng phân liệt, khôi phục lại chính quyền thopóng nhất và vững mạnh, một phần để cứu vãn nền kinh tế bị đình đốn, một phần để đối phó có hiệu quả với các phong trào của quần chúng, bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình
Năm 1560 là bước ngoặt trong lịch sử chính trị Nhật Bản, mở đầu vận hội thiết lập tái thống nhất Trong khoảng 40 năm tiếp theo, ba nhà lãnh đạo quân sự là Oda Nobunaga (1534 – 1582), Toyomi Hideyosi (1536-1598) và Tokugawa Ieyasu (1542 – 1616) đã kế tiếp nhau hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước
Nobunaga là một đaimiô loại nhỏ ở vùng Oda, gần Nagoya, thuộc trung
bộ đảo Honshu Từ trẻ, ông đã nổi tiếng là một nhà chiến lược táo bạo.Ông đã biết tổ chức một đạo bộ binh mạnh và áp dụng kĩ thuật mới (súng đạn) nên đã nhanh chóng đánh bại quân đội của thủ hộ các tỉnh lân cận và đến năm 1568 thì chiếm được kinh đô Năm 1537, Nobunaga lật đổ Mạc phủ Murômachi rồi nắm lấy chính quyền trung ương, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra trung thành với Thiên hoàng, nên không xưng Tướng quân Tuy nhiên cho đến năm 1582, khi Nobunaga mới thu phục được 30 trong số 36 tỉnh của Nhật Bản thì bị một viên tướng sát hại Công việc thống nhất đất nước do ông tiến hành chưa thật hoàn thành Tuy nhiên, Nobunaga cũng xây dựng được những khu thương - thủ công nghiệp tự do ở nhiều nơi trong nước, gọi là chế độ “nhạc thị”(Rakuichi), “ nhạc toạ” (Raku-za) Ông bảo hộ Thiên chúa giáo song bản thân không phải là tín đồ của tôn giáo nào Ông mở rộng buôn bán với nước ngoài và tiếp nhận nhiều thành tựu khoa học của châu Âu
Người kế tục công việc của Nobunaga là một bộ tướng khác của ông – Toyotomi Hideyoshi Xuất thân từ nông dân lớp dưới ở Oda, Hideyoshi nhờ tài thao lược của mình đã liên tiếp tiến lên từ cấp này đến cấp khác sau khi đánh bại các bộ tướng khác của Nobunaga, Hidenaga, Hideyoshi đã tiến hành 4 cuộc chiến tranh lớn, lần lượt chiếm được các đảo và đến năm 1590 về cơ bản đã thống nhất được đất nước, chấm dứt tình trạng phân liệt hỗn chiến trên 100 năm Sau đó ông chỉ nhận làm chức Quan bạch (như tể tướng) của triều đình nhưng thực tế nắm hết mọi quyền bính trong tay
Trang 10Trong mười lăm năm cầm quyền, Hideyoshi vừa hoàn thành việc chinh phục các đaimiô cát cứ, vừa tiến hành những biện pháp nhằm cũng cố chính quyền và chế độ phong kiến Nhật Bản Ông cho mở mang thành phố Osaka trở thành trung tâm chính trị và kinh tế của cả nước Nhà nước cho đo đạc lại ruộng đất, gắn chặt nông dân với phần ruộng của họ được lĩnh canh, như tiến hành kiểm tra lại ruộng đất, mức thu hoạch, lập điền bạ, chế độ thuế khoá
Về mặt đối ngoại, Hideyoshi đã hai lần mang quân sang đánh Triều Tiên vào các năm 1592 và 1597 Cái chết đột ngột (1598) đã làm cho mộng xâm lăng bành trướng thế lực ra bên ngoài của ông không thực hiện được
Hideyoshi chết, để lại con trai là Hideyori, nhờ Tokugawa Ieyasu (1542- 1616) và bốn đaimiô phò tá Yeyasu là người có thế lực cao nhất, từ lâu đã xây thành, đắp luỹ ở vùng Edo ( nay là Tôkyô) để chờ thời cơ Lấy danh nghĩa phò
tá con trai Hideyoshi còn nhỏ tuổi Yeyasu đã khống chế chính quyền Ngược lại, dưới khẩu hiệu bảo vệ địa vị hợp pháp của Hideyoshi, các chúa phong kiến khác cũng liên minh với nhau để chống lại Yeyasu Năm 1600, Yeyasu đã đánh bại liên quân của hơn 40 đaimiô trong trận Sekigahara, rồi tự xưng là “Tướng quân” lập Mạc phủ Edo, gọi là “Mạc phủ Tokugawa” cùng các đaimiô cai quản hơn 250 lãnh địa Năm 1603, Yeyasu được Thiên hoàng phong “chinh di đại tướng quân”(Shogun) Từ đó nội chiến hoàn toàn chấm dứt, Nhật Bản bước vào thời kì hoà bình
Lên làm tướng quân, Tokugawa đã thi hành nhiều biện pháp nhằm củng
cố Mạc phủ và chế độ phong kiến Nhật Bản Một mặt ông tiếp tục xây dựng cơ
sở chế độ phong kiến bằng cách dựa vào các đaimiô, cho họ có quyền rất lớn ở lãnh địa như quyền được có tổ chức hành chính, tư pháp và quân đội riêng Đồng thời, Tướng quân lại ra sức khống chế và nắm chắc các lãnh chúa, bắt họ phải tuyệt đối phục tùng Mạc phủ Ông cấm mọi hành động gây hấn, xung đột lẫn nhau hoặc chống lại Mạc phủ Dựa trên tiêu chuẩn “ ai đứng về phía mình trước khi trận Sekigahara kết thúc” Tokugawa chia các đaimiô làm ba loại: thứ nhất là Shimpan(thân phiên) là các lãnh chúa có họ hàng với gia tộc Tokugawa; Thứ hai là Fuđai - Đaimiô(phổ đại) gồm có 145 lãnh chúa, vốn là đồng minh của Tokugawa trước năm 1600; Thứ ba là Tozanma đaimiô(ngoại phiên) gồm
97 lãnh chúa, là những người chỉ chịu thần phục Tokugawa sau khi bị đánh bại
Trang 11Với từng loại đaimiô, Mạc phủ có cách đối xử khác nhau không chỉ trong việc ban cấp lãnh địa của cải mà còn cả trong vấn đề hành chính, luật pháp, tước vị, nghĩa vụ đối với chính quyền trung ương Bên cạnh một một chính sách ưu ái, nâng đỡ đối với hai loại đaimiô trên Mạc phủ luôn có thái độ mềm dẻo, những nguyên tắc với các lãnh chúa vốn là kẻ thù của mình Bản thân Tokugawa chiếm giữ vùng đất rộng lớn (đồng bằng Kantô, khu vực phụ cận Kyôtô, kéo dài đến miền duyên hải phía Nam và các thành phố quan trọng như : Edo, Kyoto, Osaka, Nagasaki), còn các vùng khác chia cho các lãnh chúa tuỳ quan hệ thân sơ
Những chính sách Tokugawa thực hiện ở trên đặc biệt là với Togama Daimio (ngoại phiên) với 97 lãnh chúa ở phía Bắc hoặc phía Tây Nhật Bản, vốn là những dòng họ lớn, có nhiều thế lực về chính trị và kinh tế như Satsuma Choshu, Kaga…Họ bị đối xử lạnh nhạt và chỉ chịu thuần phục Tokugawa sau khi bị đánh bại Đây là nguyên nhân sâu xa mà các lãnh chúa này nôỉ lên chống Tokugawa, đòi trả lại quyền lực cho Thiên hoàng
Như vậy cuối thế kỉ XVI một nhóm nhỏ những người lãnh đạo của các chiến binh, trongđó Tokugawa Ieyasu đã làm thay đổi toàn bộ xã hội Nhật Bản Mỗi người trong số họ đều nhằm vào mục tiêu dành quyền kiểm soát đất nước, xây dựng lực lượng cho mình thông qua công cuộc chinh phục và ngoại giao, củng cố sự kiểm soát tài chính và thương nghiệp đối với các khu vực đang ngày một mở rộng Bên cạnh đó, các tổ chức tôn giáo lớn dần dần buộc phải chịu sự kiểm soát Đất đai của các tổ chức này bị tịch thu, còn lực lượng quân sự thì bị tiêu diệt Các cuộc nổi dậy của nông dân bị dập tắt và sự ổn định được xác lập
ở một số vùng nông thôn Điều quan trọng hơn cả là những thủ lĩnh chiến binh, những người tranh dành quyền lợi trong tình hình bất ổn cũng như do khát khao quyền lực đã kéo Nhật Bản từ cuộc khủng hoảng này sang cuộc khủng hoảng khác đã bị đặt dưới quyền kiểm soát hợp nhất thông qua việc kết hợp giữa dùng ngoại giao và vũ lực Quá trình này được kết thúc bằng cuộc chiến đấu ở Sekigahara năm 1600, khi Tokugawa Ieyasu dẫn đầu 70.000 quân đánh bại liên minh đối thủ thậm chí còn lớn hơn nhiều so với lực lượng của Ieyasu
Nhận tước hiệu Sei-itaiShogun, hay còn gọi là tổng tư lệnh của cuộc bình định, Tokugawa Ieyasu bắt đầu đặt nền móng cho một chính thể có kỷ cương
và hiệu quả hơn bất cứ những gì mà Nhật Bản đã có Những gì mà Ieyasu và
Trang 12những người kế nhiệm của ông làm được đã thay thế tình trạng bất ổn của thế
kỷ XVI bằng sự tập trung quyền lực chưa từng thấy trước đó ở Nhật Bản Thông qua cơ quan chính quyền được biết dưới cái tên Bakufu, chính quyền Tokugawa nhanh chóng đảm đương chức năng của một chính phủ: kiểm soát công việc đối ngoại, tiền tệ, các tổ chức tôn giáo, các tiêu chí đo đếm… Với tốc
độ phát triển cao như vậy, nó quản lí một phần lớn tài nguyên thiên nhiên của Nhật Bản Sở hửu đất đai của triều đình chiếm 47 trong số 68 tỉnh của Nhật Bản, trong đó có một số vùng đất đai màu mỡ vào bậc nhất của đất nước như đồng bằng Kanto rộng lớn Ngoài ra triều đình còn có quyền sở hữu những mỏ vàng, bạc lớn nhất ở Nhật Bản Cùng với quyền sở hữu nguồn tài nguyên trên, triều đình Tokugawa còn nắm các thành phố lớn ở Nhật Bản như là Edo nơi đặt
cơ quan chính quyền Shogun Kyoto, nơi của Hoàng đế; Osaka- trung tâm thương nghiệp của đất nước và Nagasaki- nơi tiến hành các mối quan hệ ngoại thương và ngoại giao của Nhật Bản
1.3 Tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của Nhật Bản thời kì Tokugawa
3.Luật lệ hoá chế độ “Sankin Kotai”, tức là bắt buộc các Daimiô phải để
vợ con ở Edo làm con tin và cứ sau mỗi năm ở han(tỉnh) của mình phải lên Edo túc trực một năm
4 Cấm đóng tàu lớn
Bộ luật này đã củng cố quyền lực của chính quyền trung ương Tokugawa và ràng buộc hơn nữa các chư hầu(bắt buộc phải thực hiện chế độ “Sankin Kotai”)
“Bộ luật Vũ Gia” do Tokugawa Ieyasu ban hành một năm trước khi mất, hai mươi năm sau(1635) Tokugawa Ieyasu, Shogun thứ ba, chỉnh lí hoàn chỉnh hơn
Trang 13Đối với triều đình Thiên hoàng ở Kyoto, chính quyền Tokugawa tiếp tục thi hành chính sách của những đời Shogun trước, một mặt nâng cao uy tín của Thiên hoàng, một mặt tìm cách kiểm soát và tách rời Thiên hoàng với các Daimio nhằm phòng ngừa các Daimio có thể nhờ thế lực Thiên hoàng để chống lại mình
Để làm chỗ dựa vững chắc cho Mạc phủ và chế độ phong kiến Tokugawa, đặc biệt chú ý tổ chức và xây dựng quân đội chuyên nghiệp Trên cùng là các võ sĩ đặc biệt gọi là hatamoto, với khoảng 5.000 người, làm nhiệm
vụ cấm binh và chỉ huy quân đội Hatamoto do Tướng quân trực tiếp chỉ huy họ được phép vào chầu Tướng quân, được phong nhiều ruộng đất và bản thân họ cũng có võ sĩ dưới quyền Nó đứng hàng thứ hai trong đẳng cấp phong kiến sau Daimio
Dưới hatamôtô là tầng lớp võ sĩ nói chung, cả nước có khoảng 40 vạn người, phần lớn phụ thuộc các Daimio Khác với thời trước, võ sĩ sống ở thành thị, được hưởng bổng lộc bằng gạo, chuyên nghề võ và được đeo gươm thường xuyên(hai thanh một dài, một ngắn) Hai thanh kiếm này dần dần trở thành biểu tượng của linh hồn người võ sĩ Tuy là tầng lớp thấp nhất trong đẳng cấp phong kiến nhưng võ sĩ vẫn là tầng lớp có đặc quyền Họ tự cho mình là cao quý với tinh thần võ sĩ đạo, có thể xử phạt hay chém tại chỗ những thường dân nào mà
họ coi là vô lễ
Tầng lớp thứ hai, sau võ sĩ là nông dân, chiếm khoảng 80% dân số Tuy được coi trọng hơn tầng lớp công và thương gia, trên thực tế nông dân là nhữn người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất Tuy mức độ tô quy định là một nữa số hoa lợi thu hoạch, nhưng họ còn phải chịu rất nhiều loại thuế phụ nặng nề Tình cảnh bị bóc lột khốn khổ của nông dân được thể hiện qua câu nói truyền miệng thời đó là: “Nông dân như hạt vừng càng ép càng ra dầu”
Để phân biệt địa vị xã hội, chính quyền còn quy định một cách tỉ mỉ, khắc nghiệt bắt nông dân phải theo, như không được ăn gạo ngon, mặc áo lụa,
ở nhà rộng hoặc diễn kịch vui chơi… Thực hiện chế độ quản lí chặt chẽ và ngăn ngừa sự nổi dậy của nông dân, Mạc phủ tổ chức “ngũ liên gia”, bắt họ quản lí, giám sát và chịu trách nhiệm lẫn nhau Với thiết chế chính trị kết hợp chặt chẽ với quân sự và hành chính, Tokugawa vừa là lãnh chúa lớn nhất, vừa
là người cai trị thực tế đất nước làm cho Thiên hoàng chỉ là tượng trưng của
Trang 14quyền uy cao nhất, mà chẳng có quyền gì Đây là nguồn gốc mâu thuẫn giữa Shogunvới Thiên hoàng và những công quốc ủng hộ Thiên hoàng
Chính sách cai trị này của Tokugawa là nguyên nhân của những cuộc khởi nghĩa nông dân Cho nên, bằng những biện pháp độc đoán mà chính quyền vẫn không thể ngăn cản được tinh thần đấu tranh của nông dân Năm
1637 cuộc khởi nghĩa lớn Simabara đã nổ ra ở Kyushu, thu hút đến 3 vạn người tham gia Mạc phủ đã đàn áp hết sức dã man và càng tăng cường hơn sự kiểm soát đối với nông dân Song những chính sách ấy làm cho mâu thuẫn xã hội dưới chính quyền Mạc phủ càng tỏ ra ngày một khủng hoảng trầm trọng
Trong tình hình đó, Mạc phủ Tokugawa lại phải đương đầu với một sự kiện quan trọng khác; đó là sự xâm nhập của Chủ nghĩa tư bản phương Tây Nhật Bản có nhiều quan hệ từ lâu với các nước phương Tây Người châu Âu đến Nhật Bản sớm nhất là người Bồ Đào Nha Năm 1543, trên một thuyền buôn Trung Quốc có ba người châu Âu đã chính thức cập bến Tanegasima, phía nam Kyushu Sáu năm sau(1549) giáo sĩ dòng Tên Sait Francis Xavier, từ Goa đến truyền đạo ở Nhật Bản Đến cuối thế kỉ XVI, người Hà Lan và người Anh đã đến Nhật Bản Lái buôn châu Âu không những chở súng đạn đến bán ở Nhật Bản mà còn đóng vai trò trung gian trong việc mậu dịch giữa Nhật Bản với nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Philippin… Theo gót chân lái buôn, các giáo sĩ đạo Thiên chúa đến Nhật Bản nhiều hơn Trong khi truyền giáo, thành lập giáo hội, họ còn mở trường học, nhà thương, nên đã có sức thu hút lớn đối với quần chúng nghèo khổ Theo báo cáo cuả các giáo sỹ, năm 1579
số tín đồ đạo Thiên chúa ở Nhật Bản đã lên đến 150.000 người
Lúc đầu do mong muốn mua được nhiều vũ khí tối tân để tăng cường lực lượng quân sự, các Daimiô đều hoan nghênh người châu Âu đến lãnh địa của mình để buôn bán Chính quyền Nhật Bản cũng thi hành chính sánh khuyến khích buôn bán nên các lái buôn nước ngoài được hưởng nhiều đặc quyền Vì thế có thời gian việc buôn bán giữa Nhật Bản với các nước Tây Âu khá phát triển
Song đến thời Hideyoshi, các giáo sỹ phương Tây dần dần để lộ âm mưu của kẻ dọn đường cho sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân nước họ Hơn nữa, một số Daimiô lại cấu kết chặt chẽ với giáo hội Thiên chúa để chống lại công cuộc thống nhất Vì vậy, năm 1587 Hideyoshi đã lệnh cấm đạo
Trang 15Dưới thời Mạc phủ Tokugawa tiếp theo, do yêu cầu của chính sách phát triển quan hệ buôn bán với bên ngoài, nên đối với việc truyền đạo, Mạc phủ cũng làm ngơ Về sau trong liên minh các đaimiô chống lại Tokugawa có kẻ là tín đồ đạo Thiên chúa Mặt khác, Mạc phủ lại sợ các Daimiô ở miền Tây Nam lại sẽ trở nên lớn mạnh nhờ phát triển qua hệ mậu dịch với các nước phương Tây và do đó sẽ đe doạ nền thống trị của mình Vì vậy Tokugawa lại thi hành chính sách cấm đạo Năm 1624, Mạc phủ xử thiêu 50 tín đồ đạo Thiên chúa Riêng ở Kyushu lúc bấy giờ có hơn 100.000 tín đồ Về sau số tín đồ bị xử tử ngày càng nhiều Sau cuộc khởi nghĩa của nông dân theo đạo Thiên chúa và võ
sĩ thất nghiệp ở Simabara ở đảo Kyushu năm 1637, Mạc phủ lại càng cấm đạo ráo riết và đến năm 1639 thì chính thức ra lệnh đóng cửa, cấm chỉ việc buôn bán với nước ngoài, lái buôn và giáo sĩ nước ngoài phải rời khỏi Nhật Bản, chỉ trừ lái buôn Trung quốc và Hà lan còn được buôn bán ở Nagasaki mà thôi Chính sách “bế quan toả cảng” đó duy trì được hơn 200 năm đã làm cho các tầng lớp nhân dân trong nước thêm bất bình với Mạc phủ
Sau khi “ đóng cửa”, mọi quan hệ buôn bán giữa Nhật Bản với các nước châu Âu bị đình chỉ Một vài trường hợp đặc biệt còn giữ được quan hệ như Hà Lan, do Hà Lan giúp đỡ Shogun đàn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Simabara Do vậy, thương nhân Hà Lan được cập thuyền có chở hàng hoá vào một cảng được quy định trên đảo Dexima ( ở vịnh Nagasaki)
Tuy nhiên chính sách “ đóng cửa” không thể làm cho Nhật Bản hoàn toàn tách khỏi các nước bên ngoài Bên cạnh những quan hệ ít ỏi với châu Âu, Nhật Bản vẫn tiếp tục buôn bán ở các nước châu Á Thương nhân và kiều dân Nhật Bản đến và cư trú ở Việt nam (Hội an – Quảng nam - Đà nẵng ngày nay) Thương nhân Trung quốc cũng được phép đến buôn bán ở Nagasaki
1.3.2. Tình hình kinh tế, xã hội Nhật Bản dưới thời Mạc phủ Tokugawa
Mặc dù dòng họ Tokugawa đã nỗ lực hết sức để ngăn ngừa mọi sự thay đổi có thể làm lung lay cái chính thể đã được cô lập hoá một cách an toàn của
họ, song điều hiển nhiên là họ không thể chặn đứng được tất cả những quá trình diến biến và phát triẻn tự nhiên ở bên trong xã hội Nhật Bản Duy trì những hình thức chính trị bên ngoài có thể dễ dàng, nhưng kìm hãm hoạt động bên trong của xã hội và của nền kinh tế trong những khuôn khổ và mô hình cứng
Trang 16ngắc không thay đổi là điều không thể thực hiện được Trong suốt thế kỉ XVI,
sự phát triển xã hội và kinh tế của Nhật Bản đã vượt ra ngoài những gò bó của một chế độ phong kiến thuần tuý Dù có hà khắc và tàn bạo đến như chế độ Edo cũng không thể nào buộc nước Nhật quay trở về với những mẫu mực phong kiến giản đơn được nữa…
Về kinh tế : Trên thực tế, sự thống nhất đất nước và sự yên tĩnh kéo dài
dưới triều đại Tokugawa đã làm cho việc duy trì nền kinh tế phong kiến càng không thể có được Khi sự thống nhất đất nước đã được thực hiện, nhiều sự hạn chế và gò bó nhỏ trong lĩnh vực kinh tế tồn tại trong thời Askikaga đã bị xoá
bỏ Thương mại đã có thể hoạt động trên một quy mô lớn chưa từng thấy từ trước đến nay, và mặc dù có sự phân chia đất nước trở thành nhiều lãnh địa Daimiô, Nhật Bản cũng đã trở thành một đơn vị kinh tế duy nhất Được giải thoát khỏi sưu thuế của chế độ phong kiến và hạn chế của các thời đại trước, các thương gia không còn cần tới sự bảo trợ của các tổ chức chặt chẽ của các phường hội nữa Các phường hội đã dần dần biến mất, các thương gia độc lập
và các công ty thương nghiệp và thủ công nghiệp độc lập đã thay thế các phường hội này trong một trật tự kinh tế tự do hơn
Thời đại thái bình hoàn toàn và kéo dài của dòng họ Tokugawa đã đem lại cho Nhật Bản những năm tháng thịnh vượng chưa từng thấy Sản xuất kĩ nghệ và thương mại đã gia tăng một cách nhanh chóng Mặc dù dòng họ Tokugawa, các Daimiô và toàn bộ giai cấp Samurai vẫn cương quyết bám và quan niệm cho rằng nông nghiệp là nguồn của cải duy nhất đích thực, và tiếp tục tính lợi tức của họ bằng thóc đong bằng thùng Tại các thị trấn và các thành phố của Nhật Bản, một giai cấp thương gia đang phát triển mạnh mẽ và bắt đầu hình thành một nền kinh tế thương mại mà người ta không thể chờ đợi trong một đất nước theo chỉnh thể phong kiến Các tín chỉ thuộc đủ loại được phát triển và sử dụng một cách rộng rãi trong các cuộc sang nhượng thông thường
và những vụ buôn bán lúa gạo lớn với giá cả lên xuống từng ngày được thực hiện tại hai thủ phủ kinh tế là Osaca và Edo
Giai cấp thống trị đã đặt các thương gia ở bậc thấp nhất của tôn ti xã hội, nhưng các thương gia lại kiểm soát thị trường lúa gạo của cả nước, cho nên họ dần dần đi tới chỗ chế ngự cuộc sống kinh tế Trong một nền kinh tế tiền tệ đang được mở rộng, các Daimiô và các Samurai ngày càng cần có tiền, và
Trang 17trong thời kì Tokugawa niều người trong số họ đã trở thành những con nợ vô hi vọng của các thương gia giàu có ở các thành thị Các Daimiô và Samurai, mặc
dù về phương diện xã hội vốn khinh miệt giai cấp thương gia, đôi khi cũng đã
gả con gái của họ cho những thương gia giàu có để cải thiện tình trạng kinh tế của chính mình
Vào đầu thế kỉ XIX, nhiều gia đình thương gia đã có được những gia tài kếch xù Gia đình Mitsui, thời gian gần đây đã xây dựng được một quyền lực kinh tế lớn nhất tại Nhật Bản vào thời đó, đã là một nhân tố quan trọng trong đời sống kinh tế của một quốc gia Một giai cấp tư bản chính hiệu đã xuất hiện cùng với tập đoàn đông đảo các nhà doanh nghiệp có kinh nghiệm Khung cảnh
đã sẵn sàng cho công cuộc hiện đại hoá kỳ diệu của nền kinh tế Nhật Bản sẽ diễn ra khi đất nước mở rộng cửa để buôn bán và trao đổi với thế giới bên ngoài
Các thương gia, chứ không phải là các võ sĩ - quan chức đã làm chủ Nhật Bản về mặt kinh tế, nhưng ưu thế đích thực của các thương gia này trong thời Tokugawa có lẽ lộ rõ hơn cả trong lĩnh vực văn hoá, bởi vì nghệ thuật và văn chương của thời kỳ này là sự biểu hiện của một tầng lớp tư sản thành thị hơn là một giai cấp võ sĩ phong kiến Rõ ràng là các thành thị đã chế ngự nền văn hoá Tokugawa và tại các thành thị những khu phố ăn chơi vui vẻ chính là những trung tâm của đời sống xã hội Tại đây, các geisha(nghệ gia) tức những nữ chiêu đãi viên nhà nghề được đào tạo một cách kỹ lưỡng về các nghệ thuật hát, múa, nói chuyện vui, chiếm địa vị tối cao Các nhà doanh nghiệp trong những lúc mỏi mệt tìm đến với họ, trong khi các võ sĩ quý tộc đi tìm sự tiếp xúc xã hội
tự do với phụ nữ, một điều mà trước kia những khuôn phép quá khắt khe của xã hội không cho phép họ Chính những khuôn phép ấy đã giam cầm người phụ
nữ gia giáo trong bốn bức tường của ngôi nhà
Như vậy, có thể nói sau khi đất nước được thống nhất dưới quyền Mạc phủ Tokugawa, tình hình kinh tế có những bước tiến nhất định Sản lượng nông nghiệp tăng gấp đôi Từ giữa năm 1600 và năm 1720, dân số tăng khoảng gấp 2,5 lần(tỷ lệ tăng hàng năm là 0,77%) Có nghĩa là sản lượng nông nghiệp phải tăng để nuôi số người đông thêm Chắc chắn là đúng như vậy và đất đai trồng trọt đã được tăng lên theo Nguyên nhân của dân số gia tăng là do môi trường
Trang 18sống và chế độ dinh dưỡng được cải thiện cũng như tỷ lệ trẻ em (từ 10 tuổi trở lên, chết yểu đã giảm mạnh mẽ từ 40% còn 10% vào cuối thời kỳ Edo)
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, càng về cuối thời kỳ Tokugawa quan hệ kinh tế hàng hoá xâm nhập nhiều vào nông dân Nông dân càng lệ thuộc hơn vào địa chủ, phong kiến, phải nộp tô từ 60 - 80% hoa lợi Nông dân giàu có thâm canh tăng năng suất, kết hợp hay chuyển sang sản xuất thủ công nghiệp hay chế biến sản phẩm bán cho thị trường và một số thành địa chủ mới
Một hiện tượng mới dưới thời Tokugawa là sự phát triển nhanh chóng của các thành phố và thương nghiệp Vào thời Tokugawa có trên 200 thành phố, thị trấn Có những thành phố trên 100.000 dân Thành phố là trung tâm của sản xuất thủ công nghiệp, cung cấp cho thị trường Thợ thủ công tập trung trong các phường hội, độc quyền sản xuất một vài loại hàng hoá Các phường
có những quy tắc sản xuất chặt chẽ và diễn ra một sự phân hoá giai cấp khá sâu sắc Chủ phường hội bóc lột tàn tệ những thành viên khác (thợ ban, thợ học việc…)
Vai trò của người cho vay lãi – thương nhân ngày càng lớn, chi phối việc sản xuất, buôn bán Vào thế kỷ XVII bắt đầu xuất hiện một số công trường thủ công trong việc khai mỏ, luyện kim, thương mại, ngân hàng, những chủ kinh doanh lớn như Metsui,Yamanaga
Các thương nhân có thế lực lớn ở các thành phố, tuy về mặt xã hội hội thuộc đẳng cấp thấp Họ tập hợp trong các “thương hội” càng phát triển, khi Tokugawa “đóng cửa” với thương nhân châu Á Những thương nhân nắm giữ địa vị chủ yếu trong thương hội có thế lực lớn, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị Nhật Bản lúc bấy giờ (họ quyết định giá cả, tỷ giá hối đoái trong cả nước…)
Sản xuất và quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển đã tác động to lớn đến
xã hội thời Tokugawa Nó củng cố thêm chế độ phong kiến và mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau giữa những nhà sản xuất, thương nhân, cho vay lãi Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thâm nhập vào xã hôị phong kiến song không phá vỡ xã hội này Đặc điểm này sẽ chi phối đến tiến trình sau đây diễn
ra trong việc lật đổ Tokugawa, phục hồi quyền lực Thiên hoàng và đưa Nhật Bản tiến theo con đường tư bản chủ nghĩa, trong khuôn khổ chế độ phong kiến
Trang 19Về xã hội: Ở thời kỳ Tokugawa thì chế độ đẳng cấp cũng được củng cố
Xã hội Nhật Bản ở thời kỳ này vẫn chia thành 4 đẳng cấp đó là: Võ sĩ, Nông dân, Thợ thủ công, Thương nhân
Nét nổi bật trong hệ thống chính quyền Tokugawa là có sự phân chia giai cấp rõ ràng Về nguyên tắc, không có người nào thoát ly được giai cấp xuất thân của mình Các nhà cầm quyền đương thời trong thâm tâm đều không muốn có những sự biến động xã hội dẫn tới sự phân hoá giai cấp làm đất nước mất ổn định
Bốn giai cấp hình thành rõ ràng theo vị trí xã hội từ trên xuống Tầng lớp
võ sĩ chiếm không đến 1/10 hay đúng hơn không quá 1/12 tổng dân số, còn nông dân chiếm khoảng 8/10 Thời chiến tranh trung cổ ở Nhật Bản, đương nhiên là quần chúng đông đảo chỉ chia làm 2 tầng lớp là quân nhân và những người sản xuất Song sự phân chia giai cấp trở nên phức tạp hơn theo các bộ luật Yòrò và Taihò vào thế kỷ XVIII, rập khuôn theo cách phân chia giai cấp của Trung hoa Nhân dân Nhật Bản rất có ý thức về đẳng cấp và tình trạng giai cấp của mình trong lịch sử
Trong từng giai cấp tự phát có sự phân hoá vì nảy sinh các phong trào mới trong xã hội, mặc dầu việc phân chia giai cấp xuất thân không dễ gì xoá
bỏ Chẳng hạn tầng lớp quân nhân bao gồm tất cả những gia đình có dính dáng tới binh nghiệp, từ các thủ lĩnh quân sự có thế lực đến người lính chiến nghèo khổ nhất
Liền dưới tầng lớp quân nhân là tầng lớp dân cày cũng bao gồm từ người bần nông đến những ông chủ trang trại khá giả Trong thời bình, sau chiến thắng ở Osaka người nông dân an phận ở nơi cư trú của mình nhưng cuộc sống khó khăn luôn bị giới địa chủ áp bức Một vị đại thần là Doitoshikatsu, liền ngay sau đại nguyên soái, cũng phải nhận xét thái độ của tầng lớp cầm quyền là tham lam tàn bạo
Trong thời trung cổ nền kinh tế của Nhật Bản chủ yếu dựa vào nông nghiệp Nông dân chiếm số đông trong dân cư và họ có vai trò quan trọng nhất Không thể hiểu được lịch sử của Nhật Bản nếu không hiểu rõ vai trò của các cộng đồng sống ở nông thôn, trong đó có những người dân cày là những thành viên chính
Trang 20Chính sách của giới quân sự nói chung trước kia là muốn cột chặt người nông dân trên mảnh đất của họ không cho họ đi nơi khác Luật pháp của chính quyền Tokugawa từ đầu không có gì khắc nghiệt, chẳng những thế còn có phần bảo vệ quyền nông dân khỏi bị giới điền chủ áp bức Một đạo luật của chính quyền Edo năm 1603 cho phép người nông dân có thể rời bỏ ruộng đất mình đang cày cấy đi nơi khác, nếu như bị người quản lý ruộng đất đối xử tàn tệ, dầu
đó là ruộng đất của họ Tokugawa hay ruộng đất riêng của các đại điền chủ Chỉ
có một điều kiện là trước khi rời đi nơi khác, nông dân phải trang trải xong mọi khoản thuế Sau đó anh ta muốn sống nơi nào cũng được Một chương khác trong bộ luật nghiêm cấm việc dùng bạo lực chống lại nông dân và nêu rõ rằng mọi sự tranh chấp về thuế má nếu không tự giải quyết được giữa địa chủ
và nông dân thì đưa ra toà án xét xử
Ở nhiều nơi người ta đối xử với nông dân thô bạo mặc dầu cũng có một
số điền chủ thiên về thuyết phục hơn là dùng vũ lực Chính quyền Bakufu có chính sách mềm dẻo hơn Một đạo luật năm 1643 có những đoạn sau đây : “ Nếu như những người quản lý đất đai hạc đại diện của họ xử sự không đúng và không thể chịu được, người nông dân có thể ra đi sau khi thanh toán hết mọi khoản thuế cũ Họ có thể sang cư trú ở làng bên cạnh nơi mà họ cảm thấy dễ thở hơn” Tuy nhiên lệnh của chính quyền Bakufu ở nhiều nơi không có hiệu lực người nông dân bị áp bức đã bỏ trốn ngày càng nhiều Chẳng hạn, năm
1642, một đạo luật của lãnh chúa Okayama đã lên án những nhóm nông dân bỏ trốn để mưu nổi loạn và buộc những người còn lại trong làng phải cày cấy những mảnh đất bỏ hoang Không phải tất cả những người bỏ trốn đều do bị áp bức bóc lột, mà nhiều người muốn bỏ nông thôn ra thành phố, nơi họ cho rằng kiếm sống dễ hơn Tình hình đó dẫn đến hình thành một tầng lớp những người làm công hoặc đi ở cho những nhà giàu ở thành phố Số này ngày càng đông trong hoàn cảnh kinh tế phát triển trong thời bình Ngoài ra nhiều nông dân khéo tay bỏ ra thành phố làm thợ thủ công, thành tầng lớp thứ ba trong xã hội
Thợ thủ công mọi nghề bị coi rẻ hơn tầng lớp nông dân Tuy nhiên có một số kiến thức, có tay nghề giỏi được kính trọng, nhất là nếu họ phục vụ cho tầng lớp võ sĩ Những người sản xuất áo giáp, gươm, kiếm được đối xử đặc biệt, được trả lương cao, có nơi ở tử tế Chính quyền Bakufu và các lãnh chúa lớn có nhiều ưu ái đối với họ Nghề thợ mộc cũng được đối xử tốt Chẳng hạn
Trang 21có một người thợ mộc giỏi ở Kyoto năm 1698 tên là Nakaimondo được hưởng lương 500 koku và được phép đeo kiếm như một võ sĩ Những quyền lợi và sự đối đãi tương tự cũng được áp dụng đối với các loại thợ giỏi khác như thợ kim hoàn làm nghề vàng bạc, các nghệ nhân, sthợ may, nhất là những người được giao công việc may quần áo cho đại nguyên soái và giới quý tộc trong triều
Những người thợ bình thường thì không được ưu ái như vậy Những người sống ở các thành phố pháo đài, làm việc cho các lãnh chúa với số lượng
ít ỏi, nhưng họ lại được đặc quyền bán hàng hoá họ sản xuất ra Còn loại thợ làm công nhật, các thợ thủ công lập thành các phường hội để cùng nhau bảo vệ quyền lợi Có những phường buôn bán, phường thợ mộc, thợ cưa xẻ, thợ rèn, thợ làm ngói, thợ nề…, mỗi nghề có phường hội riêng Chế độ học nghề khá chặt chẽ nhưng có hiệu quả
Tầng lớp thương nhân bao gồm những nhà buôn và các chủ hiệu là tầng lớp thấp nhất trong xã hội Song nền kinh tế Nhật Bản trong thời bình ngày một phát triển và mở rộng, tầng lớp thương nhân giàu có lên và có thế lực Đến thế
kỷ XVIII thì bằng sức mạnh của đồng tiền họ đã phá được những hàng rào phân chia giai cấp trong xã hội dưới thời các đại nguyên soái Tokugawa Những thương nhân giàu có được chính quyền sử dụng như những chủ thầu và công việc của họ rất cần cho tầng lớp võ sĩ Ngay cả phường hội buôn bán, vốn không được chính quyền ưa lắm, nay cũng được vị nể do họ đóng góp được nhiều thuế má, lệ phí
Cần nói thêm rằng, trong mỗi giai tầng xã hội lại chia ra nhiều đẳng cấp,
từ các lãnh chúa đến người lính thường; từ phú nông đến người tá điền làm công nhật kiếm sống; từ người thợ thủ công lành nghề đến thợ học việc; từ những thương nhân giàu có đến người bán rong Sự phân hoá thành đẳng cấp
đó ngày càng rõ, người ta thấy trong các cuộc họp làng xã, mỗi loại người có vị trí rõ rệt Tôn ti trật tự phức tạp trong xã hội lại thể hiện rõ trong các mối quan
hệ xã hội, tuy có nặng nề nhưng lại khuyến khích được ý thức vươn lên
Bốn giai cấp chính trong xã hội nói trên chiếm phần đông dân số, vì còn một số loại người không thuộc hẳn tầng lớp nào Chẳng hạn có những nhóm người sống lưu động trên sông nước, người đi cày cuốc thuê, người làm nghề khuân vác, thợ đấu, chân sào, phu khiêng kiệu và những người lao động đơn giản khác không cần có kỹ năng gì đặc biệt Còn có loại người nữa vốn là
Trang 22những võ sĩ cũ, gặp rủi ro hoặc bất mãn vì lý do gì đó, nội dung chống lại trật
tự xã hội đương thời Họ thường là những võ sĩ không nghề nghiệp, thường gọi
là Rònin, một loại người trong lịch sử chế độ phong kiến cần được nghiên cứu
kỹ hơn
Mặc dầu có những biện pháp đàn áp của chính quyền, số võ sĩ thất nghiệp vẫn không giảm Chẳng những thế số này ngày một tăng, họ oán trách thái độ đối xử của chính quyền Nguy cơ của những cuộc nổi dậy ngày một rõ, điển hình nhất là đã có cuộc khởi nghĩa trên quy mô lớn của những võ sĩ thất nghiệp dưới sự lãnh đạo của Yuishòsetsu, trong những năm cuối đời của đại nguyên soái Iemetsu
1.3.3 Tình hình văn hoá
Những điều kiện kinh tế, xã hội như vậy được phản ánh trong nền văn hoá phong phú, đa dạng ở thời kỳ Tokugawa Xóm làng, nhà cửa ở nông thôn quy hoạch khá ngăn nắp, có đường đi rộng, thẳng, những dòng nước tưới cho đồng ruộng Ở thành thị được xây dựng to lớn đẹp đẽ, dân cư đông đúc, thành thị còn là chiến lũy nữa
Trong những thế kỷ XIII - XV, kỷ luật của tầng lớp võ sĩ đã đặc biệt phát triển thành cái gọi là “Võ sĩ đạo”(Bushido) tới mức trở thành một giá trị thẩm
mĩ, một tiêu chuẩn đạo đức và hành động của toàn xã hội Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển văn hoá
Hình tượng nghệ thuật của người võ sĩ đã được thể hiện trong các tác phẩm văn học ra đời và phát triển trong thời kỳ ấy mang tính hình thức là
“gunki”- những anh hùng ca Nổi tiếng nhất là hai thiên anh hùng ca: một là, Hâykê Mônôgatati, ra đời vào đầu thế kỷ XIII, có nội dung kể về cuộc chiến giữa họ Taira và họ Minamôtô; và hai là Taihayki(Thái bình kí), ra đời vào giữa thế kỷ XIV, kể lại cuộc đấu tranh giữa các phong kiến miền Đông và miền Tây Cả hai tác phẩm này đều hình thành trên cơ sở những câu chuyện truyền miệng của nhân dân có người chuyên kể lại
Ngoài văn học, nghệ thuật sân khấu cũng đạt được những thành tựu đáng
kể trong các thế kỉ XIV - XV Tuy nhiên đặc điểm kịch của thời kì này là ở chỗ
nó không tách rời sân khấu Kịch bản ra đời trong quá trình trình diễn, còn những mục trình diễn đều bắt nguồn từ những điệu nhảy múa của nhân dân Đề tài của kịch thường là những câu chuyện hoang đường, thần thoại, những
Trang 23truyện anh hùng, truyện lãng mạn, cổ tích và cả những biến cố xảy ra trong cuộc sống Khi trình diễn, người ta thay đổi nhiều cảnh, có đoạn múa, đoạn hài hước và đôi khi còn xen vào vài ngón ảo thuật Kịch gia nổi tiếng nhất thời ấy
Bên cạnh hội hoạ, nghành điêu khắc cũng phát triển rộng rãi, khuynh hướng mới trong điêu khắc thời kì này là sự kết hợp những truyền thống cũ của Nhật Bản với những yếu tố điêu khắc Tuy nhiên, điêu khắc thường vẫn được kết hợp với kiến trúc Những công trình kiến trúc nổi tiếng nhất thời bấy giờ có Toà nhà vàng (kinkakuddi) xây dựng năm 1397 ở Kiôtô và Chùa bạc (ginkakuddi) xây năm 1473
Sự phát triển của văn hoá vào thế kỉ XVI vẫn tiếp tục diễn ra trong hoàn cảnh rất phức tạp Các cuộc chiến tranh phong kiến kéo dài đã ảnh hưởng tới
nó Do vậy đặc điểm của văn hoá Nhật Bản ở thế kỉ XVI là được hình thành dưới ảnh hưởng của các yếu tố xung đột và mâu thuẫn nhau Chẳng hạn, trong văn học, loại văn châm biếm rất phát triển Nội dung của loại văn này mang tính chất hiện thực, chủ yếu phản ánh những thói xấu của tầng lớp quý phái và bọn thầy tu
Kiến trúc của thế kỉ XVI cũng có nhiều thay đổi, nhìn chung lộng lẫy có
tỉ lệ rất đều và ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của phương pháp xây dựng và hình thái kiến trúc của châu Âu Các nghệ sĩ trang hoàng thời kì này cũng đồng thời
là những nhà chế tạo đồ trang sức, đạt đến mức độ rất điêu luyện Ơ thành thị bắt đầu phổ biến các hình thức văn hoá gọi là phòng trà (tianôu) Ơ đây thường tập trung một nhóm người nhỏ nhất định, họ tự do thảo luận những vấn đề văn hoá, chính trị mà họ quan tâm Đồng thời với việc phổ biến các cuộc họp phòng
Trang 24trà thì lối trồng cây cảnh – một trong những đặc điểm của dân tộc Nhật Bản tiêu biểu cho văn hoá nhà cửa - cũng phát triển Vườn cây cảnh trong dinh tiêu khiển của Thiên hoàng Casura ở gần Kioto, ở giữa vườn có phòng trà, được xem là vườn mẫu mực của loại nghệ thuật này
Sang thời Tokugawa, do đất nước được hoà bình thống nhất hơn 2 thế kỉ, nên văn hoá Nhật Bản có nhiều điều kiện phát triển Đây là thời kì văn hoá truyền thống của Nhật Bản, sau một giai đoạn dài hình thành và phát triển, đã định hình, đồng thời cũng là thời kì Nhật Bản chịu ảnh hưởng nhiều của văn hoá phương Tây
Về sân khấu, đã xuất hiện và phổ biến loại kịch tuồng kèm vũ, nhạc gọi
là Cabuki(kĩ) do một phụ nữ là Ôkuni sáng lập Lúc đầu các đoàn
ca-vũ-kĩ thường trình diễn trong các bữa tiệc của các nhà quyền quý để mua vui Cách trình diễn của loại kịch này còn tạp nghệ: hoặc ca, hoặc ngâm những cố khúc, hoặc diễn những màn kịch dao khúc ngắn Lời lẽ thiên về cuồng ngôn vui nhộn, hay châm biếm, vũ điệu kèm theo nhạc hoặc những điệu lả lướt Lối diễn Cabuki này về sau được quần chúng bình dân rất ưa chuộng, nên nhiều đoàn Cabuki được thành lập và đi trình diễn khắp nơi Nổi tiếng nhất là các đoàn Sacata Tôdurô ở Kioto, và Isicaoa Đandurô ở Edo
Cũng trên lĩnh vực sân khấu, còn có sự phát triển mạnh của loại hình múa rối cạn Loại hình này xuất hiện từ những thế kỷ trước và có đặc điểm là trình diễn đồng thời với lối hát xẩm Dôruri Vào khoảng những năm 1688 -
1703 tuồng múa rối đạt tới sự phát triển toàn thịnh Tác giả nổi tiếng nhất của loại hình nghệ thuật này là Sicamasu Môndaêmôn(1623 - 1724)
Về văn học, đây là thời kì phát triển của thể thơ Haicai( Bài hài) và thể thơ trào phúng
Thơ bài hài, cũng gọi là bài cú, là thể thơ mà người Nhật tự hào là đặc biệt nhất thế giới Mỗi bài thơ rất ngắn, nhưng lời lẽ thì tao nhã, ý nhiều, đủ mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc Masuô Sunêfusa được coi là bậc thánh của thể thơ này, và được người Nhật đánh giá cao như nhà thơ Lí Bạch thời Đường(Trung Quốc)
Trên cơ sở thể thơ bài hài, một số nhà thơ đã đem kết hợp nó với một số thể thơ khác thành thể thơ trào phúng châm biếm thói đời Người thành công
Trang 25nhất trên lĩnh vực này là Caraisenriư(1718 - 1790) Ông sáng tác nhiều và được lưu lại thành một tập gọi là Senriưsu(Xuân Liễu tập)
Hội hoạ dưới thời Tokugawa đặc biệt phát triển, lôi kéo không chỉ những hoạ sĩ nhà nghề mà cả rất nhiều hoạ sĩ nghiệp dư, và hình thành nên nhiều môn phái Có môn phái gồm các thi nhân, văn sĩ, nho gia, gọi là Buninga (văn nhân hoạ), có môn phái chuyên vẽ thảo mộc, thụ, lâm, nên gọi là Sasâyga(tả sinh hoạ), có phái chuyên dùng sơn màu thực tươi vẽ bình phong hoặc tranh thờ, chùa, đền…Những hoạ sĩ nổi danh nhất thời bấy giờ là: Canôtanyư (1602-1674), Ôgata Kôrin (1658 - 1716), Hisicaoa Môrônôbu (1618 - 1694) và Maruyama Ôkyô (1733 - 1795)
Sự phát triển của văn hoá thời Tokugawa không tách rời với sự phát triển của giáo dục Tuy vẫn lấy Nho học làm nội dung giảng dạy chính, nhưng điểm mới của thời kì này là ở chỗ, giáo dục không còn là đặc quyền của quý tộc nữa
mà đã lan xuống các tầng lớp thứ dân Các lớp tư học được mở ra ở khắp nơi và được gọi là Têracôya(tự tử ốc) Phần lớn các thầy đồ là nhà sư, nhưng cũng có không ít những quan chủ, thầy thuốc, vũ sĩ giải nghệ cũng tự mình đóng vai các thầy đồ giảng dạy
Trong khi đó, mọi tiếp xúc với văn hoá phương Tây bị nghiêm cấm bởi chính sách đóng cửa của nhà Tokugawa Nhưng vì những người Hà Lan vẫn được buôn bán ở Nagasaki, nên thông qua người Hà Lan, văn hoá phương Tây vẫn ít nhiều được truyền vào và bắt đầu ảnh hưởng mạnh mẽ tới giới trí thức Nhật Bản Nó nhanh chóng được nhiều người học hỏi và làm bùng lên một phong trào của những người học tập, nghiên cứu và làm theo phương Tây, gọi
là phong trào “Hà Lan học” Nhờ ảnh hưởng của phong trào này, Nhật Bản đã tiếp thu được ít nhiều khoa học và kĩ thuật phương Tây, rút ngắn được phần nào khoảng cách giữa phương Tây và Nhật Bản
Trang 26
Chương 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN THỜI KÌ
TOKUGAWA
2.1 Những nguyên nhân dẫn đến chính sách đóng cửa của Nhật Bản
2.1.1 Thiên chúa giáo và vấn đề an ninh của Nhật Bản
Thiên chúa giáo đựơc truyền đến Nhật Bản chủ yếu do các hoạt động tích cực của các giáo sĩ dòng Tên(Je Suit) Chỉ 9 năm sau khi được Ignatius Loyola thành lập và được giáo hoàng Paul III thừa nhận với tư cách là một giáo phái hoạt động trong nhà thờ Cơ đốc(1540), Saint Francis Xavier(1506- 1552)
đã đến Nhật Bản và chính ông là giáo sỉ dòng Tên đầu tiên được giáo hội cử đi truyền giáo ngoài Châu Âu
Trước khi đến Nhật Bản, năm 1542 ông ta đã đến Goa với mục đích truyền đạo nhưng đã không được cư dân ở đây ủng hộ Từ thất bại đó, F Xavier đã đến Malacca và trực tiếp cải đạo cho một số cư dân bản địa và thương nhân Nhật buôn bán ở đây Với ý định tìm đường đến Nhật Bản, năm
1549 trên chiếc thuyền mành của thương nhân Trung Hoa, ông được một người Nhật đã cải đạo lưu trú ở Malacca có tên là Paul Yajiro thuyết phục và đưa đến Kagoshima Ơ đây, F Xavier đã được lãnh chúa địa phương tiếp đón thị tình và cho phép tiến hành những nghi lễ cải đạo, truyền giáo cho người Nhật
Nhưng, sau một năm hoạt động ở vùng Kagoshima, thất vọng vì F Xavier không đem lại triển vọng sáng sủa nào trong việc làm trung gian môi giới với các thương nhân Châu Âu, ông đã bị lãnh chúa địa phương trục xuất ra khỏi lãnh địa Ông đã đến Hirado, rồi đến Hakata, Yamakuchi và thậm chí đã
cố gắng tới cả Kyoto với tham vọng giành được sự ủng hộ và công nhận chính thức của tướng quân Ashikaga cho các hoạt động truyền giáo của mình Nhưng
F Xavier đã không đạt được mục đích đó, ông đã phải trở lại Kyushu qua Sakai nhưng trong quá trình đó ông đã lập được một nhà thờ thiên chúa đầu tiên ở Yamakuchi
Trái với thái độ lạnh nhạt của triều đình Kyoto, hoạt động truyền giáo của ông được lãnh chúa 2 han là Ouchi và Otomo ủng hộ nhiệt thành Nhờ có những thuận lợi đó mà F Xavier và các đồng sự của ông đã có thể bước đầu xây dựng được những cơ sở truyền giáo đầu tiên trong bộ phận cư dân vùng Tay- Nam Nhật Bản Sau hơn hai năm giành nhiều tâm lực gây dựng cơ sở tôn
Trang 27giáo ở Nhật Bản, năm 1551 ông đã rời Nhật Bản sang Trung Quốc Tại đây, ông luôn hy vọng được tiếp tục thực hiện sứ mệnh truyền giáo của mình nhưng
đã lâm trọng bệnh rồi qua đời gần Kanton(Quảng Châu- Trung Quốc) năm
1552
Sau khi F Xavier qua đời, sứ mệnh truyền giáo ở Nhật Bản được giao cho một số giáo sĩ như Cosme de Tơrre(Tây Ban Nha), Francisco Cobral(Bồ Đào Nha), Alessandro Valignano
Có thể nói với một khoảng thời gian không dài, chỉ trong vòng 4 thập kỷ nhưng F Xavier và những người kế tục sự nghiệp của ông đã đạt được những thành công nhất định trong hoạt động truyền giáo ở Nhật Bản cũng như một số nước Châu á khác Mặc dù phải trải qua biết bao trở ngại, bị ràng buộc bởi những quy định khắt khe của giáo luật, sự nghi ngờ của một số lãnh chúa cũng như chính quyền Nhật Bản, những bất đồng trong ngôn ngữ, tập quán và quan niệm sai lệch về bản chất Thiên chúa giáo của người Nhật nhưng ảnh hưởng của Thiên chúa giáo vẫn tăng lên đáng kể Sự giàu có, tính cách mạnh mẽ, thẳng thắn của các thương nhân Bồ Đào Nha, những chiếc tàu buôn lớn đầy ắp hàng hoá, được trang bị vũ khí hiện đại đã có sức hấp dẫn với người Nhật Thêm vào đó hầu hết các giáo sĩ là những người có tri thức uyên bác trên rất nhiều lĩnh vực Họ không chỉ là những người làm công việc truyền giáo mà thông qua hoạt động của mình đã đem đến Nhật Bản những thành tựu của một nền văn minh mới, hoàn toàn khác lạ với những gì mà người Nhật từng biết về văn minh Trung Hoa hay những giá trị văn hoá của một số quốc gia phương Đông khác đương thời
Ảnh hưởng của Thiên chúa giáo ngày càng mạnh mẽ ở vùng Tây Nam Nhật Bản, thậm chí đã phần nào tìm được vị trí của mình trong đời sống tâm linh của một bộ phận cư dân khu vực kinh đô Kyoto, nơi được coi là chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo sâu đậm nhất Nhật Bản Nhờ có những nỗ lực bền bỉ, năm 1559, Gaspar Villela(1525- 1572) đã thiết lập được trung tâm Thiên chúa giáo thứ hai ở Kyoto Đáng chú ý là, trong những thời điểm nhất định hoạt động của các giáo đoàn đã được Oda Nobunaga, lãnh chúa có thế lực nhất về quân sự ở Nhật Bản từ năm 1568 ủng hộ Ông đã bảo vệ các giáo sĩ, cho phép họ xây dựng nhà thờ và tiến hành nghi lễ rửa tội cho người Nhật
Trang 28Trong những mưu tính chính trị Oda Nobunaga cũng muốn dựa vào lực lượng của các giáo sĩ, thương nhân ngoại quốc để tiêu diệt một số đối thủ mạnh vốn vẫn dựa vào thế lực phật giáo Đây là những cơ sở tôn giáo có quân đội riêng, sở hữu những vùng đất rộng lớn và có nhiều mối liên hệ lâu bền với dân chúng Oda Nobunaga cho rắng nếu như không loại trừ ảnh hưởng của những thế lực phật giáo kiêm chúa đất lớn thì sẽ không thể nào thực hiện được tham vọng vươn lên dành quyền lực tối thượng ở Nhật Bản Trong bối cảnh chính trị
đó Thiên chúa giáo đã gặp được những điều kiện phát triển tương đối thuận lợi nhất là trong khoảng thời gian 1568- 1582 khi Oda Nobunaga nắm thực quyền
ở Nhật Bản
Với phương châm “đưa ánh sáng phúc âm tới mọi góc trời và tới mọi lòng người”, để “dang rộng hai tay đón nhận hết thảy mọi tầng lớp trên thế gian, đừng để một ai mất linh hồn trước sự cứu rỗi của chúa” các nhà truyền đạo đã cố gắng quảng bá tinh thần nhân đạo của thiên chúa giáo bằng các hoạt động từ thiện như mở cơ sở y tế, trường học miễn phí Nhờ những chính sách như vậy mà chỉ trong vòng 30 năm, đặc biệt là thời kỳ A.Valignano đến Nhật Bản, giáo hội đã xây dựng được khoảng 200 trường tiểu học, hai trường trung học và một trường cao đẳng công giáo Một số cơ sở nghiên cứu về Nhật Bản cũng được thiết lập nhằm mục đích là tìm hiểu về các đặc trưng riêng biệt của văn hoá Nhật Bản trên cơ sở đó phục vụ cho quá trình truyền bá tư tưởng, giáo
lý của đạo Thiên chúa Ngoài ra các cơ sử còn làm nhiệm vụ biên soạn những giáo lý phức tạp vốn được viết bằng tiếng châu Âu cho phù hợp với hoàn cảnh
xã hội, đặc tính nhận thức, tâm lý của người Nhật
Để phát triển hơn nữa sự ảnh hưởng của Thiên chúa giáo, các giáo sĩ phương Tây cũng đã dịch những quyển sách viết bằng chữ La tinh sang chữ Katakana là một trong ba hệ thống chữ trong ngôn ngữ Nhật Bản Bên cạnh đó các giáo sĩ còn :“cứu bần, trị bệnh miễn phí công cộng, lập cô nhi viện, dưỡng lão viện; cải tiến chế độ lao tù; đặt lệ ân xá, ân giảm; khuyến khích chế độ nhất phu, nhất phụ; thâu nhận và nuôi dưỡng những trẻ hoang thai bỏ rơi; khuyến khích bãi bỏ tục mua bán người làm tôi tớ, nô lệ hay con đòi; từ tư tưởng đến những hành động thực tế này quả là luồng gió mới do Gia tô giáo đưa tới để
mở ra những “trí” và “thức” trong lịch trình tiến hoá của Nhật Bản bắt đầu từ thời cận đại”
Trang 29Bằng tinh thần nhân đạo và lòng khoan dung kết hợp với tài tổ chức, cách làm việc năng động, cùng hoà nhập vào cuộc sống, cùng chia sẻ những nỗi thống khổ với nhân dân địa phương mà bản thân các giáo sĩ và hoạt động của họ đã giành được thiện cảm củng như sự ủng hộ của một bộ phận đông đảo
cư dân sống ở miền Tây- Nam Nhật Bản, vùng đất trong suốt chiều dài lịch sử luôn tỏ ra nhạy cảm với những biến đổi chính trị Ơ vùng Kyushu, mảnh đất đầu tiên của Nhật Bản đón nhận Thiên chúa giáo, được chứng kiến với thái độ hết sức kính cẩn của hầu hết thương nhân đối với các giáo sĩ mà một số Đaimyô đã có thái độ thân thiện, tạo những điều kiện thuận lợi cho giáo đoàn hoạt động Trong số đó Omura Sumitada(1532- 1587) được coi là một trong những lãnh chúa chịu ảnh hưởng tôn giáo mới mạnh nhất Năm 1570, ông đã ủng hộ kế hoạch của các thương nhân và giáo sĩ Bồ Đào Nha thiết lập cảng Nagasaki và cho phép họ xây dựng nhà thờ ở đây Chính ông đã trở thành tín
đồ Thiên chúa giáo vào năm 1563 và sau đó ông đã ra lệnh cho toàn bộ dân trong “han” của mình theo tôn giáo mới này
Cùng với quá trình truyền đạo và mở rộng địa bàn truyền giáo của mình thì các giáo sĩ phương Tây còn cử những thanh niên trẻ, có năng lực đã được cải đạo và con của các gia đình võ sĩ sang Châu Âu học tập với mong muốn những người Nhật này sẻ là những nhân chứng để kể lại những điều mắt thấy, tai nghe Để những người Nhật nào không được chứng kiến thấy cảnh châu Âu thì họ sẽ không tin nhiều điều chúng ta nói Họ sẽ tôn vinh bản chất và quyền lực của chúng ta và họ sẽ hiểu vì sao mà các cha lại đến Nhật Bản Chính những thanh niên Nhật này khi trở về đất nước của mình thì họ sẽ là phương tiện rất hữu hiệu cho quá trình truyền đạo của các giáo sĩ
Có thể nói trong suốt thập kỷ 70 của thế kỷ XVI, nhờ sự ủng hộ của Oda Nobunaga và các lãnh chúa có thái độ thân thiện với Thiên chúa giáo mà hoạt động của các giáo đoàn không ngừng được đẩy mạnh cùng với đó là số lượng các tín đồ cũng không ngừng được tăng lên Nếu như năm 1571, tức là 22 năm sau khi F Xavier đến Nhật Bản, số lượng tín đồ chỉ khoảng 3.000 người thì năm 1579 đã tăng lên 130.000 người và đến năm 1582 ở Nhật Bản đã có tới 150.000 tín đồ, 75 giáo sĩ và 200 nhà thờ được xây dựng Sau khi Oda Nobunaga qua đời, Thiên chúa giáo ở Nhật Bản luôn gặp phải những thách thức chính trị hết sức bất thường Tuy nhiên dưới thời Hydeyoshi số lượng tín
Trang 30đồ vẫn tăng lên trên 300.000 người Tương tự như vậy, đội ngũ người tham gia công việc truyền giáo cũng tăng trưởng so với trước Năm 1596 có khoảng 140 giáo sĩ hoạt động ở Nhật Bản Nếu so sánh, con số này cao gấp 3 lần so với giáo sĩ dòng Tên ở Trung Hoa cùng thời
Từ cuối thế kỷ XVI về sau, trong nhận thức của không ít người Nhật`, văn minh châu Âu cũng đồng nghĩa với cái gọi là “Văn minh Thiên chúa giáo” Người ta ngưỡng vọng và cố gắng học theo cách ứng xử, hành vi lối sống của người phương Tây đặc biệt là các giáo sĩ Trên thực tế, tác động của những yếu
tố văn hoá phương Tây thời gian này khá mạnh vào lãnh thổ Tây- Nam và có
xu hướng phát triển lên phía Bắc Nhiều người Nhật Bản nhất là cư dân sống ở khu vực Kyushu, Kyoto đã đua theo những “chuẩn mực văn hoá châu Âu” mà
họ quan sát và học hỏi được Người ta thích đeo thánh giá như là đồ trang sức thời thượng, người ta thích mặc đồ tu sĩ và người Nhật cũng thường đệm tiếng nước ngoài như tiếng La Tinh, Bồ Đào Nha Trong gia đình, người ta thích trang trí những vật phẩm châu Âu lạ mắt như bản đồ, địa cầu, đồng hồ, ống nhòm, gương đổ pha lê Không ít người tỏ ra ưa dùng rượu mạnh và những món ăn chế biến theo kiểu phương Tây
Tóm lại: Từ cuối thế kỷ XVI trở về trước thì hầu như Thiên chúa giáo đã ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá của Nhật Bản Điều này nó làm cho xã hội Nhật Bản bắt đầu có sự rối loạn trong nếp sống, trong phong tục tập quán của họ
Đứng trước tình hình như vậy thì quan điểm của các nhà cầm quyền quân sự Nhật Bản cũng đã từng bước thay đổi Vào cuối thế kỷ XVI, Nhật Bản đang tiến nhanh đến quá trình thống nhất đất nước và sự phát triển ổn định của một quốc gia trở thành nhu cầu bức thiết.Thái độ cũng như là điều kiện của các nhà cầm quyền và các lãnh chúa giành cho hoạt động truyền giáo của các tu sĩ cũng không còn như trước nữa.Trong nhận thức của Toyotomi Hideyoshi, người kế nghiệp của Oda Nobunaga và cũng là người đã từng có những thiện cảm nhất định đối với đạo Thiên chúa, thì hành động đốt phá đền, chùa, tàn sát những nhà tu hành của Nobunaga cũng như một số lãnh chúa miền Tây trước đây với sự tham gia của những giáo sĩ, giáo dân quá khích sẽ làm tổn hại đến tôn giáo truyền thống Nhật Bản.Sự suy yếu của Phật giáo, Shinto giáo… chính
là điều kiện để ảnh hưởng của Thiên chúa giáo nhanh chóng vượt ra khỏi khả
Trang 31năng kiểm soát của ông và có thể làm đảo lộn các thể chế chính trị Về chiến lược, Hideyoshy luôn muốn tách vấn đề Thiên chúa giáo ra khỏi quan hệ thương mại nhưng điều kiện chính trị của Nhật Bản lúc đó lại không cho phép
Nghi ngờ về mối liên kết giữa Thiên chúa giáo và các thế lực xâm lược ngoại bang, phẫn nộ vì những hành động ngày càng bạo ngược của nhiều giáo
sĩ Hideyoshy đã cho mỗi người đứng đầu giáo đoàn dòng Tên Kyoto giải thích một số vấn đề mà ông đặt ra như là:
1 Những lý do của việc truyền giáo ở Nhật Bản?
2 Những lý do dẫn đến việc phá bỏ đền Shinto, chùa Phật giáo, chống lại luật pháp quốc gia?
Đến thời Tokugawa, để tâp trung lực lượng giải quyết các vấn đề bức xúc trong nước, chính quyền Edo đã chủ trương hoà hiếu với nước ngoài Nhờ
đó khoảng mười năm đầu của triều đại này thì Thiên chúa giáo vẫn được tiếp tục được duy trì và phát triển rộng rải ở Nhật Bản Chỉ trong năm 1604 số lượng tín đồ trên cả nước đã đạt đến mức cao nhất khoảng 400000 người
Trang 32Riêng thành phố Nagasaky, được coi là trung tâm Thiên chúa giáo của Nhật Bản lúc bấy giờ, chỉ với số dân khoảng chừng 20000 người nhưng đã có tới 10 nhà thờ và rất nhiều trương học, bệnh viện, cơ nhi viện nhà từ thiện… hoạt động trong sự chi phối của giáo hội
Bên cạnh đó thì mức độ ảnh hưởng của đạo Kito cũng như ảnh hưởng của các Daimyo đã trở thành lực lượng cản trở chủ trương nhằm đưa Nhật Bản hướng tới sự phát triển thống nhất mà Tokugawa Ieyasu(1542-1616) Vì vậy, sau khi đã ổn định căn bản tình hình trong nước, thiết lập được những nguyên tắc cho sự vận hành của một chỉnh thể mới, ông đã chuyển sang tập trung giải quyết những vấn đề đối ngoại Ngày 21-3-1612, Tokugawa Ieyasu đã ra lệnh cấm đạo và triệt phá nhà thờ Năm sau, Mạc phủ Edo lại ra lệnh bắt tất cả tín đồ Thiên chúa giáo Tháng 5-1613, chính quyền Edo lại ban hành một chỉ thị mới khẳng định rằng không thể có một người nào theo Thiên chúa giáo lại có thể tồn tại ở Nhật Bản đồng thời đã ban hành luật Feranke Seido hay còn gọi là Panka Seido quy định tất cả người Nhật Bản trưởng thành, hàng năm đều phải đến đăng ký hộ khẩu ở một ngôi chùa nhất định ở địa phương mà mình sinh sống Và, những người chủ trì ở những ngôi chùa đó phải có trách nhiệm theo dõi, lưu giữ cẩn thận, đầy đủ danh sách các tín đồ đã đăng ký Ngày 27-1-1614, sau khi đã tham khảo ý kiến của một số cố vấn, Ieyasu đã ban bố một chỉ dụ mới vạch rỏ mối nguy Thiên chúa giáo với văn hoá, tôn giáo truyền thống Sau khi Tokugawa Ieyasu qua đời, những người kế nhiệm ông đã tăng cường thêm các chính sách cấm đạo gắt gao Năm 1622, nhận được những thông tin cho thấy khả năng sẻ có một kế hoạch xâm lược Nhật Bản, chính quyền Shogun lập tưc ra lệnh trục xuất tất cả những người Bồ Đào Nha hiện đang sống ở Nhật Bản những giáo sĩ còn lại trên đất Nhật đều bị theo dỏi và quản lý rất chặt chẻ, đồng thời ông cũng thực hiện một cuộc điều tra chi tiết trong dân chúng, đặc biệt là những người bị tình nghi là còn dữ mối liên hệ với
“tà giáo” Tháng 6-1633 Tokugawa Iemitsu(1603-1651), Shogun thứ ba của triều đại Tokugawa, đã quyết định loại bỏ đạo Thiên chúa ra khỏi đời sống xã hội Nhật Bản bằng một chỉ dụ gồm 17 điều Chỉ dụ tuyên bố trừng phạt nặng những đoàn Thiên chúa, cấm buôn bán vũ khí, cấm buôn lậu, mọi hoạt động buôn bán phải được phép của chính quyền Mạc phủ, cấm người Nhật đi ra nước ngoài Nếu người Nhật nào ra nước ngoài thì không được về nước, nếu
Trang 33trở về thì bị kết án tử hình trừ những người ở nước ngoài dưới 5 năm Ngoài ra thì Iemitsu còn cho gián chỉ dụ và số lượng tiền thưởng hậu hỉnh cho những ai cung cấp thông tin về hoạt động bí mật của Thiên chúa giáo và đến tháng 6-
1635 một chí dụ tương tự như vậy công bố ở Nhật Bản
Chính sách bài trừ đạo Thiên chúa còn được đẩy lên tới cực điểm bởi sự kiện xây ra ở bán đảo Shimabara, thuộc niền nam Hizen.Từ tháng 12-1637 đến tháng 4-1638 hơn 30.000 nông dân phân lớn trong số họ là các tín đồ đạo Thiên chúa đã nổi dậy chống lại các lãnh chúa địa phương ở đây Mặc dù nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng này là do sự bóc lột thậm tệ về kinh tế, sự hà khắc về chính trị của các lãnh chúa ở đây nên đời sống của nhân dân găp nhiều khó khăn Bên cạnh đó lại được sự ủng hộ, xúi dục của các giáo sĩ, thương nhân Bồ Đào Nha nên cuộc nổi dậy đó mang đậm tính chất chính trị - tôn giáo Đứng trước tình hình như vậy Mạc phủ Tokugawa đã phải cử 100.000 quân tới đây đàn áp thẳng tay cuộc nổi dậy Do lực lượng quá chênh lệch, nên những người nổi dậy buộc phải lui về cố thủ tại lâu đài Hara Sau nhiều lần đưa quân đến lâu đài vẩn tấn công không được Chính quyền Mạc phủ đã phải dựa vào sự giúp sức của Hà Lan Và các tàu chiến của Hà Lan đã phải nã vào đây
426 loạt đại bác, tạo điều kiện cho quân Mạc phủ mở cuộc công kích tràn vào thành Trong cuộc nổi dậy này đã có 37.000 người bị tán sát “vụ thảm sát Hara” được ghi lại như một trang đẩm máu trong lịch sử Nhật Bản thời cận thế
Ngay sau cuộc nổi dậy đó chính quyền Mạc phủ đã cắt đứt quan hệ với
Bồ Đào Nha Tất cả những người Bồ Đào Nha đều phải trục xuất khỏi Nhật Bản, tàu của Bồ Đào Nha mà đến biển của Nhật Bản thì đều bị đốt cùng hàng hoà và những người trên tàu Và cuối cùng đến năm 1639 hàng loạt những chính sách bài trừ Thiên chúa giáo đồng loạt được ban hành
Sau những sự kiện trên, bất cứ ai cho dù đó là Samurai hay Daimyo nếu
có quan hệ với Thiên chúa giáo thì sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc Cho đến giữa những năm 1640, chính quyền Edo đã loại trừ được căn bản những ảnh hưởng của Thiên chúa trên đất Nhật Bên cạnh đó thì việc hoạt động thương mại với nước ngoài đều bị kiểm tra gắt gao Các Daimyo vùng Kyushu cũng bị giám sát chặt chẽ Nhìn chung, từ những năm 1635 đến 1639, Nhật Bản đã từng bước
Trang 34thực hiện chính sách toả quốc nhằm giữ vững an ninh và chủ quyền của Nhật Bản
Trong chiến lược của chính quyền Shogun, chính sách cấm đạo được thực hiện còn là hệ quả của những mối quan hệ phức tạp liên quan đến chủ trương phát triển kinh tế và những vấn đề chính trị đối nội khác nữa Các biện pháp bài trừ Thiên chúa giáo hà khắc nhất được áp dụng không chỉ nhằm để chống lại những nguy cơ cát cứ, nổi dậy từ bên trong mà còn là để ngăn chặn sức ép cũng như sự can thiệp từ bên ngoài Nhìn một cách tổng quát, chính sách đó không hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa tiêu cực vì rằng sự kết hợp giữa chính sách tỏa quốc và cấm đạo được thực hiện trong hơn hai thế kỷ cũng đã góp phần tạo điều kiện thiết yếu cho chính quyền Edo có thể được duy trì hoà bình và giữ vững thể chế
2.1.2 Kinh tế Nhật Bản với những đoàn thuyền buôn đến và đi
Quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và Bồ Đào Nha bắt đầu từ năm 1545 Ngay từ khi những chuyến tàu buôn Châu Âu vừa ghé vào hải phận Nhật Bản, chúng đã được các lãnh chúa địa phương chào đón với một thái độ ưu ái đặc biệt Ở vùng Kyushu không ít Daimyo đã háo hức mời gọi các thương nhân phương Tây đến đây buôn bán Nhờ có những điều kiện ban đầu quá thuận lợi như vậy mà chỉ trong vòng một thập kỷ các thương nhân Bồ Đào Nha đã xác lập được vị trí của mình ở Nhật Bản Hơn thế, họ còn mở rộng thị trường Nhật Bản với thị trường khu vực Những mặt hàng do họ đem đến nó đã có sức hấp dẫn lớn, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, mục đích quân sự cũng như sự hiếu
kì của người Nhật
Tuy nhiên vào thời kì này, do sự tác động của tình hình chính trị trong nước đặc biệt là các cuộc nội chiến cho nên Nhật Bản vẫn chưa chú ý nhiều đến việc phát triển kinh tế thương mại mà mọi việc đều phụ thuộc vào các chính sách của các Daimyo Do đó, trước khi Hydeyoshi lên cầm quyền thì quan hệ buôn bán ở Nhật Bản mới chỉ ở các vùng biển miền Tây-Nam mà thôi, nó chưa được mở rộng ra các địa bàn khác
Ngay sau khi đến Nhất Bản, các giáo sĩ và thương nhân Bồ Đào Nha cố tìm kiếm một địa điểm thuận lợi để vừa có thể xây dựng cảng, vừa làm cứ điểm
ở khu vực Viễn Đông Về chiến lược, Bồ Đào Nha muốn nối dài đường buôn
Trang 35của mình từ Ấn Độ sang bán đảo Malaixia nối liền với Trung Quốc rồi đến các đảo Nhật Bản
Sau một quá trình thăm dò tất cả các vùng biển của Nhật Bản thì người Nhật phát hiện ra Nagasaki, có điều kiện tự nhiên hết sức lý tưởng cho việc phát triển thông thương bằng đường biển và có thể xây dựng ở đây một hải cảng mang tầm vóc quốc tế Nhờ có sự giúp sức của các nhà truyền giáo mà việc mở hải cảng ở Nagasaki đã được Jinzaemon, người đứng đầu ở đây chấp nhận vào năm 1471 Ngay sau khi được chấp thuận thì linh mục Gaspar Vilela
đã được phân làm người đứng đầu giáo phận ở Nagasaki Tại đây, Thiên chúa giáo đã được phát triển rất nhanh và chỉ sau một thời gian ngắn phần lớn nông dân trong vùng do Jinzaemon quản lý đã cải đạo Bản thân ông cũng trở thành tin đồ của đạo thiên chúa và được gọi là Bernardo Và cũng từ đây Nagaski trở thành trung tâm buôn bán với nước ngoài ở vùng Tây - Nam Nhật Bản
Tuy vậy kể từ sau chuyến tàu cập bến đầu tiên vào năm 1571 cho đến những năm đầu của thế kỷ XVII hàng năm trung bình chỉ có 1 chuyến tàu buôn của Bồ Đào Nha cập cảng Nagasaki mang theo các sản vật từ châu Âu các tàu buôn thường có trọng tải từ 600 đến 700 tấn và chở theo 200 người, các thương nhân và thuỷ thủ của các tàu đã hoà nhập vào xã hội Nhật Bản Họ cũng đi lễ nhà thờ, giao tiếp và kết hôn với phụ nữ bản địa Các tàu buôn của Bồ Đào Nha thường đưa đến nhiều mặt hàng mà người Nhật rất thèm muốn đặc biệt là tơ lụa Trung Hoa Trong những năm cuối thế kỷ XVI, trung bình hàng năm có khoảng 1600 picul lụa được nhập vào Nhật bản Thương nhân Bồ Đào Nha cũng đồng thời thu được một mối lợi lớn qua việc nhập vào Nhật Bản súng trường, thuốc súng, đại bác và mua bạc ở Nhật bản để bán trên thị trường thế giới Trong vòng nửa thế kỷ, các thương nhân người Bồ đã giữ được vị trí độc quyền trong quan hệ buôn bán ở vùng biển Nhật Bản và dường như không gặp trở ngại gì từ các thương nhân Ảrập, Ấn Độ, Inđônêxia, Trung Hoa hay Nhật Bản Có thể nói, trong suốt nửa sau thế kỷ XVI, Bồ Đào Nha là nước duy nhất độc chiếm thị trường Trung Hoa, Nhật Bản đã đóng vai trò trung gian quan trọng nhất trong khu vực buôn bán biển Đông
Nếu như ở Trung hoa mặt hàng đem lại nhiều lãi suất nhất cho các thương nhân phương Tây đó là tơ lụa thì thị trường Nhật Bản chính là bạc Vào cuối thế kỷ XVI Nhật Bản được coi là nước có trữ lượng bạc lớn có thể sánh