Thực tế đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, trong đó phải kể đến những nhà nghiên cứu quan trọng ở những phương diện, góc độ khác nhau như: Trước hết phải kể đến các công trình
Trang 11
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
========
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM
HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Ngọc Ánh Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thu Hằng Lớp : 09SGC
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013
Trang 22
***
Sau bốn năm học tập, việc thực hiện khoá luận tốt nghiệp là khâu quan trọng đặc biệt Có được kết quả như ngày hôm nay, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều phía
Trước hết tôi xin ghi lại đây lòng tri ân sâu sắc, chân thành đối với thầy giáo Trần Ngọc Ánh - người đã khuyến khích, động viên và tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Giáo Dục Chính Trị, trường Đại học Sư phạm - Đại học
Đà Nẵng, cảm ơn những người bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2013 Người thực hiện
Trần Thị Thu Hằng- Lớp 09SGC LỜI CẢM ƠN
Trang 33
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined
5 Cơ sơ lí luận và phương pháp nghiên cứu đề tàiError! Bookmark not defined 6.Đóng góp của luận văn Error! Bookmark not defined
7 Ý nghĩa của luận văn 5
8 Kết cấu của đề tài……… 5
B NỘI DUNG 6
Chương 1: NHO GIÁO - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN………6
1.1 Khát quát về Nho giáo và nội dung cơ bản của Nho giáo………… 6
1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành và phát triển của Nho giáo 6
1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành Nho giáo 6
1.1.1.2 Khái lược quá trình phát triển của Nho giáo 7
1.1.2 Nội dung cơ bản của Nho giáo 9
1.1.2.1.Quan niệm về vũ trụ 9
1.1.2.2 Quan niệm về xã hội và chính trị - đạo đức 10
1.1.2.3 Quan niệm về giáo dục……… 12
1.2 Vấn đề con người trong triết học Nho giáo 13
1.2.1.Quan niệm về con người 13
1.2.1.1 Quan niệm của Nho giáo về bản tính con người và các mối quan hệ xã hội……… 13
Trang 44
1.2.1.2 Quan niệm của Nho giáo về chuẩn mực nhân, nghĩa, lễ, trí, tín……23
1.2.2 Quan niệm của Nho giáo về giáo dục, đào tào con người……….26
1.2.2.1 Đối tượng đào tạo……… … 26
1.2.2.2 Mục tiêu và nội dung đào tạo con người của Nho giáo……… 28
1.2.2.3 Quan niệm về phương pháp và chuẩn mực xây dựng con người……32
1.2.3 Một số mặt tích cực và hạn chế trong quan điểm về con người của Nho
giáo ……… 39
Chương 2: ẢNH HƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM 42
2.1 Ảnh hưởng của triết học Nho giáo về con người trong xã hội truyền thống Việt Nam……… 42
2.1.1.Qúa trình Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam 42
2.1.2.Ảnh hưởng của Nho giáo đối với con người xã hội Việt Nam thời kì xã
hội phong kiến và thuộc địa nửa phong kiến 43
2.2 Ảnh hưởng của quan niệm về con người trong triết học Nho giáo ở xã hội Việt Nam hiện nay 48
2.2.1 Về mặt tư tưởng chính trị 49
2.2.2 Về mặt tư tưởng đạo đức, lối sống và văn hóa, giáo dục……… 52
2.2.3 Ảnh hưởng các mối quan hệ trong xã hội 63
C KẾT LUẬN……… 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 79
Trang 55
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề con người là một trong những vấn đề luôn luôn được quan tâm dù trong bất
cứ một thời kỳ nào của lịch sử, hay tại bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Trung Hoa
là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Tại đây, vấn đề con người là trung tâm của mọi nghiên cứu là đề tài sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới Trong số các học thuyết triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo
Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “nhân” (người), đứng cạnh chữ “nhu” (cần, chờ, đợi) Nho gia còn được gọi là nhà nho, người đã đọc thấu sách thánh hiền được thiên hạ trọng dụng dạy bảo cho mọi người sống hợp với luân thường đạo lý Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc trí thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thời Khổng tử đã hệ thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, gọi là nho học hay “Khổng học” - gắn với tên người sáng lập ra nó
Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán, Nho giáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn của chế độ phong kiến, nó chuyên đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con người Nho giáo là một học thuyết triết học và chính trị - xã hội lớn nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại Mặc dù ra đời rất sớm nhưng học thuyết Nho giáo đã sớm phát hiện ra vấn đề con người, bàn về vấn đề con người, đặc biệt là đề cập khá sâu đến quan niệm con người và đào tạo con người Đây là một trong những nội dung chủ yếu của học thuyết Nho giáo
Nho giáo đã trở thành tư tưởng, văn hoá, in đậm dấu ấn của mình lên lịch sử của một nửa châu Á trong suốt hai nghìn năm trăm năm qua, và cho đến tận hôm nay, dù tự giác hay không tự giác, dù đậm hay nhạt, có khoảng một tỷ rưỡi con người đang chịu ảnh
Trang 6Chính vì vậy, để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu ảnh hưởng của vấn đề con người trong triết học Nho giáo đối với xã hội Việt Nam, tôi đã chọn đề tài:
“ Vấn đề con người trong triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử của sự phát triển văn minh, văn hóa nhân loại, vấn đề con người và tương lai con người luôn giữ vị trí trung tâm và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học - xã hội khác mà đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn nhưng chỉ có triết học mới nhận thức con người một cách toàn diện trong chỉnh thể của nó Có thể nói việc nghiên cứu con người không phải là một đề tài mới song nó vẫn là vấn đề luôn luôn mới
Vấn đề con người trong triết học Nho gia và ảnh hưởng của nó đến xã hội Việt Nam
là một vấn đề rộng, phong phú đã thu hút sự quan tâm và chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Thực tế đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, trong đó phải kể đến những nhà nghiên cứu quan trọng ở những phương diện, góc độ khác nhau như:
Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về Nho giáo thông qua các tác
phẩm kinh điển, tiêu biểu như: Khổng học đăng của Phan Bội Châu, Nho giáo của Trần
Trọng Kim… Trong hai cuốn sách này, thông qua việc trình bày, phân tích một số phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong quá trình phát triển của nó, các tác giả đã giới thiệu cho người đọc những quan niệm của các nhà nho về thế giới, đặc biệt những quan niệm về con người và xã hội
Trang 77
Cuốn Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm đã phân tích khá kĩ những yếu tố trong
vấn đề con người của Nho giáo cũng như những mặt hạn chế, tích cực của nó, những ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam
Nhìn chung, những cuốn sách trên đều là kết quả của quá trình nghiên cứu nghiêm túc của những học giả vừa có cả trí tuệ lẫn niềm say mê Giá trị học thuật của chúng đã được công nhận và có thể nói, chúng khá bổ ích đối với những người quan tâm, nghiên cứu về vấn đề con người trong triết học của Nho giáo
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo trong đời sống tinh thần của xã hội và con người Việt Nam cũng vô cùng phong phú gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng như: Nguyễn Tài Thư, Trần Đình Hượu, Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu… Trong một số công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã bắt đầu từ những phạm trù cơ bản của Nho giáo để nghiên cứu, xem xét ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội, mà trong đó vấn đề con người trong triết học Nho giáo cũng được quan tâm với nhiều ý kiến đánh giá khác nhau
Công trình Nho học và Nho học ở Việt Nam của GS Nguyễn Tài Thư đã có nhiều
kiến giải mới về ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo đối với xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử Đề cập tới phạm vi, ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tác giả cho rằng, ảnh hưởng quan trọng hơn của Nho giáo là trong lĩnh vực thế giới quan và nhân sinh quan
Cuốn sách Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con
người của TS Nguyễn Thị Tuyết Mai do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, xuất bản năm
2009 đã viết về vấn đề con người, giáo dục và đào tạo con người trong kho tàng lịch sử văn minh nhân loại Trong quan niệm của Nho giáo về con người, tác giả không chỉ dừng lại ở việc trình bày trên cơ sở Triết học và Giá trị học những mặt tích cực về con người,
về mục đích giáo dục của Nho giáo; nhiệm vụ của người thầy; nguyên tắc, nội dung và phương pháp giáo dục của Nho giáo, mà tác giả cũng chỉ ra những mặt tiêu cực của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người Trên cơ sở đánh giá một cách khoa học về các quan niệm của Nho giáo, tác giả chỉ ra vai trò và ý nghĩa trong quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người, cơ sở để đề xuất
Trang 88
quan điểm về nhân sinh, giá trị nhân sinh và xây dựng nhân cách sống lý tưởng Bên cạnh
đó, tác giả cũng trình bày quan điểm của cá nhân về sự ảnh hưởng của Nho giáo tới con người, tới vấn đề giáo dục và đào tạo con người ở Việt Nam trong lịch sử và hiện tại về
sự nhìn nhận và đánh giá con người
Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài báo nghiên cứu về đề tài trên được đăng trên các tạp chí: Nghiên cứu Trung Quốc, tạp chí Triết học…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên rất phong phú và đa dạng có ý nghĩa to lớn trong việc cung cấp tài liệu cũng như giới thiệu với bạn đọc khi nghiên cứu
về vấn đề con người trong triết học Nho giáo Tuy nhiên các tài liệu, bài viết đó chưa nghiên cứu cụ thể, toàn diện mà chỉ đưa ra một cách khái quát, chung chung Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước và theo yêu cầu của đề tài, ở bài viết này chúng tôi hy vọng nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề con người trong triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn : Làm rõ những nội dung chủ yếu trong quan niệm của Nho
giáo về vấn đề con người để chỉ ra những giá trị, hạn chế chủ yếu của nó và từ đó rút ra ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung làm rõ những nhiệm vụ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu vấn đề con người trong triết học Nho giáo và ảnh
hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam
Trang 99
Phạm vi nghiên cứu: Do phạm vi của khóa luận nên chỉ tập trung xem xét vấn đề
con người trong triết học Nho giáo nhằm mô tả rõ hơn ảnh hưởng của vấn đề đối với xã
hội Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận : Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác - Lênin trong nghiên cứu về xã hội và con người Kế thừa một số một số kết quả nghiên cứu ở một số công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp biện chứng duy
vật của Triết học Mác - Lênin kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp lôgic và lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp
hệ thống hóa, so sánh…
6 Đóng góp của Luận văn
Đề tài trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản nhất vấn đề con người của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam
7 Ý nghĩa của Luận văn
Từ góc độ triết học, Luận văn bước đầu làm sáng tỏ và trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản trong quan niệm của Nho giáo về vấn đề con người và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập về Nho giáo nói chung và quan điểm của Nho giáo về vấn đề con người nói riêng và cho những ai quan tâm đến vấn đề này
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của bài luận văn gồm có 2 chương 4 tiết
Trang 10
10
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: NHO GIÁO - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI
DUNG CƠ BẢN 1.1 Khái quát về Nho giáo và nội dung cơ bản của Nho giáo
1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành và phát triển của Nho giáo
1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành Nho giáo
Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên dưới thời Xuân Thu do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Nho giáo ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện hơn ở những khía cạnh, mức độ khác nhau
Ra đời trong bối cảnh xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ chuyển giao từ hình thái chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến kiểu Phương Đông nên Nho giáo thời kỳ này chịu ảnh hưởng của sự biến đổi sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Giống như các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là một học thuyết chính trị xã hội nên Nho giáo nảy sinh và tồn tại trên một cơ sở hạ tầng, một tồn tại xã hội nhất định
Trên lĩnh vực kinh tế: Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc có sự chuyển
biến từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Việc sử dụng đồ sắt trong sản xuất đã đem lại những bước tiến mới cho sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp Trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đạt được nhiều thành tựu thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp ra đời và phát triển như luyện sắt, rèn, đúc…
Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng đạt được nhiều thành tựu Sự ra đời của tiền tệ đã thúc đẩy các ngành thương nghiệp cùng nhiều trung tâm buôn bán trao đổi hàng hoá được mở rộng hơn Thành thị xuất hiện và trở thành một cơ sở kinh tế độc lập Lúc này, trong xã hội hình thành tầng lớp quý tộc mới
có thế lực, tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ Vì vậy mà nhu cầu cho con
em quý tộc học hành và thi đỗ ra làm quan đã trở nên phổ biến Đây chính là tiền đề cho việc dạy học và đề cao giáo dục đạo đức nhằm duy trì và ổn định trật tự xã hội
Trang 1111
Trên lĩnh vực xã hội: Cuối Xuân Thu đầu Chiến Quốc, xã hội Trung Quốc đang
bước dần sang chế độ phong kiến sơ kỳ nên Tông pháp của nhà Chu không còn được coi trọng như trước Các nước Chư hầu nổi lên, thôn tính lẫn nhau lấn át nhà Chu Mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt dẫn tới tình trạng trật tự
lễ, nghĩa, cương thường bị đảo lộn, các quan hệ đạo đức suy đồi "Chư hầu lấn quyền thiên tử, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, con giết cha, trật tự xã hội rối loạn"[31, tr.35] Trong bối cảnh loạn lạc đó một vấn đề lớn đặt ra: cách tổ chức và quản lý xã hội theo mô hình nhà Chu không còn phù hợp nữa Và vấn đề là làm thế nào để thiết lập lại trật tự, kỷ cương đưa xã hội vào thế ổn định để phát triển
Chính trong thời đại lịch sử với những biến động, rối ren như trên đã làm nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng, các trường phái triết học khác nhau Tất cả đều đứng trên lập trường của giai cấp mình để tranh luận, phê phán lẫn nhau về một biện pháp khắc phục tình trạng "vô đạo" của xã hội đương thời Lịch sử gọi đây là thời kỳ
"Bách gia tranh minh", "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy) Trong đó, xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, nhiều hệ thống, trường phái triết học như Nho giáo, Đạo giáo, Mặc gia, Pháp gia…Các học thuyết ra đời đều nhằm một mục đích chung là cải biến một
xã hội từ “loạn” thành “trị” mong thiết lập lại xã hội, đem lại sự yên bình cho muôn dân
và sự phồn vinh cho đất nước Nho giáo ra đời cũng vì mục đích đó
Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết Nho giáo Về sau hai môn đệ của Khổng Tử là Mạnh Tử và Tuân Tử kế thừa và phát triển những tư tưởng và tri thức của Khổng Tử Từ đó về sau Nho giáo trở thành một học thuyết bề thế, chặt chẽ hơn
1.1.1.2 Khái lược quá trình phát triển của Nho giáo
Nho giáo nguyên thủy
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm
có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng
Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách
Trang 1212
Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay “tư tưởng Khổng - Mạnh” Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia
Hán Nho
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử
là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”
Vào giữa thời kì Tây Hán, hình thái tư tưởng thống trị Trung Quốc đã có sự biến đổi Năm 136 TCN, Hán Vũ Đế đã ra lệnh: “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” Từ đây, Nho giáo bắt đầu trở thành hệ tư tưởng chính thống của xã hội phong kiến Trung Quốc, đại diện tiêu biểu nhất của Hán Nho là Đổng Trọng Thư
Tống Nho
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di Phương Tây gọi Tống nho là
“Tân Khổng giáo” Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị
Từ đời Hán về sau, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống của phong kiến Trung Quốc Nhưng cũng vào thời gian này, Phật giáo và Đạo giáo cũng bắt đầu có ảnh
Trang 1313
hưởng ở Trung Quốc Trước sự xâm nhập và ra đời của những học thuyết mới này, các nhà Nho thấy rằng Nho giáo quá đơn giản, do đó họ đã tiếp thu quan điểm triết học Phật giáo và vũ trụ quan của Đạo giáo để bổ sung cho triết lí Nho giáo thêm phần sâu sắc Đặc điểm chung của các nhà Nho đời Tống là muốn giải thích nguồn gốc vũ trụ và giải thích mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất mà họ gọi là lí và khí Nói chung họ đều cho rằng
lí có trước khí, vì vậy họ được gọi là phái lý học Nhân vật tiêu biểu của phái lý học là
Chu Đôn Di, Thiện Ung, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy…
1.1.2 Nội dung cơ bản của Nho giáo
1.1.2.1 Quan niệm về vũ trụ
Quan niệm về thế giới của Khổng Tử chịu ảnh hưởng quan niệm vũ trụ của người Trung Hoa thượng cổ được lưu truyền trong dân gian và được ghi trong Kinh Dịch Khổng Tử rất ít bàn về những vấn đề trừu tượng thuộc về bản chất, ít bàn đến chuyện quỷ thần
Khổng Tử tin có trời Nhưng đối với ông, trời có ý chí, ý trời là thiên mệnh không thể thay đổi được, không ai chối cải được mệnh trời Ông gộp trời đất vào một thể Quan điểm này được được thể hiện đầy đủ và rõ ràng và bao quát từ dịch
Trong học thuyết của Nho gia, “trời” có ý nghĩa quan trọng nhất Khổng Tử rất tin
ở Trời, như một quan toà công minh và chính trực Theo ông, Trời quyết định mọi sự thành bại trong hoạt động của con người Ông khuyên con người phải phục tùng ý chí của Trời, xem sự hiểu biết về ý chí của Trời như là điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện Quan niệm về Trời của Khổng Tử tất yếu sẽ dẫn đến thuyết “sống chết có mạng, giàu sang tại Trời” Đó là yếu tố duy tâm, hữu thần luận
Quan điểm về “Thiên mệnh” của Khổng Tử: Trời có ý chí làm chủ tể cả vũ trụ do
đó hiểu biết mệnh trời là một điều kiện để trở thành người hoàn thiện.Ý chí của Trời là
“Thiên mệnh” Ông cho rằng, mỗi cá nhân sống - chết, phú quý hay nghèo hèn đều do
“Thiên mệnh” quy định Phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bất tất phải cầu Mặt khác , Khổng Tử lại cho rằng con người bằng nổ lực của bản thân cũng có thể thay đổi được cái “ Thiên tính” ban đầu Ông nói, con người lúc sinh ra, cái “tính” trời phú cho là giống nhau nhưng trong qua quá trình tiếp xúc, học tập…nó làm cho họ khác nhau, có kẻ
Trang 14Những quan điểm về “Thiên mệnh”, về quỷ thần có phần mâu thuẫn nhau chứng tỏ các nhà Nho gia đã muốn gạt bỏ quan niệm thần học thời Ân - Chu nhưng lại không gạt được Quan niệm “thiên mệnh” của Khổng Tử sau này được Mạnh Tử hệ thống hóa, xây dựng thành nội dung triết học duy tâm trong hệ thống tư tưởng triết học của Nho gia
1.1.2.2 Quan niệm về xã hội và chính trị - đạo đức
Về chính trị xã hội: Một xã hội không loạn lạc cũng là một xã hội có trật tự, không lộn xộn, chính vì thế nên ông tổ Nho giáo đã mong ước lập một tổ chức xã hội mà ở đó
có trên có dưới phân minh phổ biến thì đó là trật tự danh vị của thuyết chính danh Chính danh là danh và thực phải phù hợp với nhau Danh và phận của mỗi người, trước hết do các mối quan hệ quy định Theo ông mỗi cái danh đó phải có trách nhiệm và bổn phận
mà mỗi cá nhân mang cái danh đó phải có trách nhiệm và bổn phận phù hợp với cái danh
đó Ngoài ra Khổng Tử còn chủ trương dùng thuyết lễ trị để đưa ra cách trị nước an dân
Về đạo đức: Đạo theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hóa của trời đất, muôn vât, đạo của người chính là nhân nghĩa Nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung Nho giáo đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức của con người Đức gắn chặt với đạo, từ đức trong quan điểm Nho giáo thường được dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong tâm hồn ý thức Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo chính là luân thường Có năm luân cơ bản: cha - con, vua - tôi, anh - em, vợ - chồng, bè - bạn, trong đó ba điều chính là vua tôi, cha con, vợ chồng gọi là tam cương Đặc biệt quan trọng là quan hệ vua tôi biểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha con được biểu hiện bằng chữ hiếu Thường có năm điều chính gọi là ngũ thường đều là những đức tính trời phú
Trang 15lí trí và tình cảm trong việc đánh giá con người, quan điểm làm gương của Khổng Tử khi
đề cập đến phẩm chất người quân tử vẫn có giá trị nhất định trong việc giáo dục đạo đức nói riêng và giáo dục nói chung
Rõ ràng sự phân chia này không được đặt đúng trong mối quan hệ chính trị-kinh tế
mà mang màu sắc chính trị - đạo đức nhiều hơn Do đó, thuyết chính danh thể hiện yếu tố duy tâm rõ rệt hơn
Cùng với tư tưởng về chính danh, Nho gia cũng đưa ra tư tưởng về “Nhân”, đó là mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội Nhân ở đây là lòng yêu thương của con người đối với con người trong xã hội, người nhân là người không quan tâm đến lợi ích mà chỉ làm việc nghĩa Tư tưởng này mang tính nhân văn sâu sắc, nó hướng suy nghĩ và hành động của con người vào những điều mà xã hội luôn mong muốn
Tư tưởng về “Lễ”: Lễ hiểu theo nghĩa rộng đó là cơ sở của xã hội có tổ chức, bảo đảm cho phân định trên dưới rõ ràng, không bị xáo trộn đồng thời nhằm ngăn ngừa những hành vi và tình cảm thoái quá Theo nghĩa này, “Lễ” bao gồm những quy phạm đạo đức (trách nhiệm của mỗi cá nhân trong gia đình và ngoài xã hội), những quy định xã hội (quan hệ xã hội và quyền được đề xuất những tư tưởng lớn trong xã hội)
Tư tưởng “Lễ” góp phần điều chỉnh những hành vi hoạt động của con người trong
xã hội và điều chỉnh những bản tính tự nhiên của con người Nếu mỗi cá nhân trong xã hội thực hiện đúng những điều mà thuyết “Lễ” đưa ra thì sẽ tạo cơ sở để ổn định xã hội Hơn nữa, “Lễ” ở đây cũng là văn hóa bởi nó là sản phẩm do bàn tay của con người tạo ra
và nó xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của xã hội phải ổn định trật tự xã hội Song hạn chế của “Lễ” là nó mang tư tưởng hoài cổ mà không biết kế thừa những tư tưởng tiến bộ để phát triển
Trang 1616
Ngoài ra, phái Nho gia cũng đưa ra một số tư tưởng khác như tư tưởng “thượng hiền”: coi trọng người hiền tài, đó là người học được đức nhân và làm điều nhân Muốn đạt được điều đó thì con người phải học sách thánh hiền và học tư tưởng của các nhà Nho
để làm chính trị Hay tư tưởng “thân thân”: trước hết phải yêu thương người thân sau đó mới yêu thương người khác trong xã hội
1.1.2.3 Quan niệm về giáo dục
Khổng Tử cho rằng: “Tính tương cận, tập tương viễn” Nghĩa là bản tính tự nhiên của mọi người gần giống nhau, nhưng do việc học tập, rèn luyện của mỗi người khác nhau nên khác nhau [29, tr.52] Theo ông, mục đích của giáo dục là rèn luyện nhân cách Người nhân muốn có trí, dũng thì phải học tập, tu dưỡng Người quân tử không chỉ học
để hiểu biết sự vât, tri thức mà còn để tu , tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Ông chủ trương thực hiện đường lối giáo dục theo nguyên tắc : Học đi đôi với hành, đồng thời phải biết đào sâu suy nghĩ, thông qua việc nghiên cứu cái cũ để biết cái mới
Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông được các thế hệ học trò tiếp tục phát triển và trở thành trường phái lớn bấy giờ
Có thể nói, nội dung cơ bản trong học thuyết Nho giáo đã thể hiện một cách cụ thể nội dung tư tưởng của Khổng Tử Mặc dù tư tưởng của ông không phải lúc nào cũng được trọng dụng nhưng với những nét tiến bộ trong tư tưởng của mình học thuyết của ông đã có mặt trong tất cả các triều đại Trung Hoa Nó để lại dấu ấn của mình không chỉ trong sách vở mà cả trong cuộc sống hiện thực của nhiều thế hệ và đã vượt qua biên giới của nước mình, cắm rễ vào phong tục, tập quán của nhiều nước láng giềng lân cận
1.2 Vấn đề con người trong triết học Nho giáo
Nếu như triết học phương Tây thiên về hướng ngoại, với xu hướng tập trung nghiên cứu thế giới vật chất để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, thì triết học phương Đông nói chung và Nho học nói riêng thiên về hướng nội, nghiên cứu con người và thế giới nội tâm của con người và từ đó đi đến các vấn đề xã hội Bởi vậy, không có gì là lạ
khi ta thấy Nho học xem con người là hạt nhân, là đối tượng để nghiên cứu chủ yếu
1.2.1 Quan niệm về con người
Trang 1717
1.2.1.1 Quan niệm của Nho giáo về bản tính con người và các mối quan hệ xã hội
Quan niệm về bản tính con người:
Vấn đề tính người là một trong những nội dung cơ bản của Nho giáo Nó không chỉ gắn bó, liên quan tới vấn đề nguồn gốc, bản chất con người mà còn đặt cơ
sở, nền tảng cho các nhà Nho giáo đề xuất tư tưởng giáo dục của mình Đây được xem như phương thức hữu hiệu nhất để đưa xã hội từ loạn lạc về thái bình, thịnh trị
Người đầu tiên đề cập tới vấn đề bản tính con người trong phái Nho giáo là
Khổng Tử Trong sách Luận ngữ, có tới 3 lần ông nhắc tới chữ "tính" luận về tính
ông nói "Bản tính người ta gần đều giống nhau, nhưng chịu ảnh hưởng khác nhau mà
xa nhau" [31; 614] Theo Khổng Tử, tính của con người khi mới sinh ra là hoàn toàn trong trắng, ngây thơ, tự nhiên, chưa bị thay đổi bởi hoàn cảnh bên ngoài Vì cái bản tính ấy có được do trời nên mọi người đều có bản tính giống nhau Nhưng trong quá trình học tập, tiếp xúc, do sự tác động của các yếu tố bên ngoài nên bản tính của con người có thể bị thay đổi Điều đó làm cho mọi người trở nên khác nhau "Người ta sinh ra vốn ngay thẳng, kẻ cong vạy mà vẫn còn sống chẳng qua nhờ may mắn thoát chết" [31; 332] Khổng Tử còn khẳng định rằng để giữ được bản tính lành trong mỗi con người thì họ phải được giáo dục, giáo hoá
Khổng Tử cho rằng bản tính của mỗi con người là hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau của bản tính con người một phần là do thiên phú bẩm một phần lớn là do hoàn cảnh
xã hội, do phong tục tập quán quy định Con người tốt hay xấu thiện hay ác là do sống trong xã hội mà nên Chính vì vậy mà bản tính con người đối với ông : Ở mọi người lúc đầu vốn gần giống nhau về sau mới xa nhau Ông cho rằng “tính tương cận dã, tập tương viễn dã” tức là bản tính thì gần nhau do tập tục đi đến xa nhau
Như vậy Khổng Tử cho rằng bản tính con người vốn gần giống nhau nhưng do điều kiện hoàn cảnh, lối sống tập quán khác nhau mà đi đến khác nhau Điều đó có một điểm nào đó giống với triết học Mác-Lênin sau này là đời sống xã hội, tồn tại xã hội quyết định ý thức tư tưởng của con người Khổng Tử nói chữ tính ở đây không phải là tính nết tốt, xấu mà tính ở đây là phần thiên lý trời phú cho có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí,
Trang 1818
thiện, đức trong con người Mặc dù, chưa bàn nhiều đến vấn đề "tính người" song những tư tưởng, những quan niệm của Khổng Tử đưa ra có ý nghĩa to lớn với các nhà nho sau này
Đến Mạnh Tử, ông đã nói một cách cụ thể hơn về tính người: “Nhân chi sơ, tính bản thiện” Theo ông, tính thiện được thể hiện ở tứ đức: nhân, nghĩa, lễ, trí Nhờ có các đức ấy mà người ta mới khác loài cầm thú Ông cho rằng con người khác loài cầm thú chỉ
có vậy, nếu giữ được là người quân tử, không giữ được là tiểu nhân Tứ đức ấy có nguồn gốc từ “tứ đoan” (bốn đầu mối), ông nói: “Do đó mà xét, không có lòng trắc ẩn, chẳng phải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải là người; không có lòng từ nhượng, chẳng phải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải là người vậy Lòng trắc ẩn là đầu mối của điều nhân, lòng tu ố là đầu mối của điều nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối của lễ,
lòng thị phi là đầu mối của trí vậy” (Do thị quan chi: vô trắc ẩn chi tâm, phi nhân dã; vô
tu ố chi tâm, phi nhân dã; vô từ nhượng chi tâm, phi nhân dã; vô thị phi chi tâm, phi nhân dã Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; tu ố chi tâm nghĩa chi đoan dã; từ nhượng chi tâm, lễ chi đoan dã; thị phi chi tâm, trí tri đoan dã) [3, tr.861] Mạnh Tử cho rằng,
người ta có bốn đầu mối nêu trên ví như người có hai tay, hai chân vậy Vì con người có nhân, nghĩa, lễ, trí nên con người khác loài cầm thú Theo ông, những quy phạm đạo đức
ấy mới chỉ manh nha ở trong lòng con người, vì vậy, con người mới khác loài vật là có
“thiện đoan” (tính thiện) Do đó, nếu con người biết nuôi dưỡng thiện đoan thì có thể trở thành bậc thánh nhân Ngược lại, nếu để thiện đoan bị mai một đi thì con người trở nên ích kỷ, nhỏ nhen không khác gì loài cầm thú Từ những nội dung trên, ta có thể thấy, Mạnh Tử nói về tính thiện của con người là để chỉ cái bản chất của con người, để phân biệt với các tồn tại khác
Ở đây, Mạnh Tử giải thích về tính người thiên về khía cạnh những giá trị xã hội Con người ta sinh ra vốn đã thiện đó là điểm phân biệt giữa con người với loài cầm thú Con người sở dĩ trở thành bất thiện là do vật dục sai khiến, do hoàn cảnh tác động Tư tưởng này là sự kế thừa và phát triển tư tưởng "tính người" của Khổng
Tử Mạnh Tử cũng đề cao vai trò của giáo dục, giáo hoá trong việc tu dưỡng bản tính thiện của con người
Trang 1919
Đối lập với thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử, Tuân Tử lại đưa ra thuyết “tính ác” Ông viết: “Tính của con người là ác, còn thiện là do con người làm ra Tính của con người, sinh ra là có sự hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự
từ nhượng không có; sinh ra là đố kỵ, thuận theo tính đó thì thành ra tàn tặc, mà lòng trung tín không có; sinh ra có lòng ham muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa văn lý không có Như thế thì theo cái tính của người ta, thuận cái tính của người ta, tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận, làm loạn cái lý mà mắc lỗi tàn bạo Cho nên phải có thầy, có phép tắc để cải hóa đi,
có lễ nghĩa để dẫn dắt nó, rồi sau mới có từ nhượng, hợp văn lý mà thành ra trị Xét vậy
mà thấy rõ tính của con người là ác, mà cái thiện là do con người làm ra vậy”
(Nhân chi tính ác, kỳ thiện giả ngụy dã Kim nhân chi tính, sinh nhi hữu hiếu lợi
yên, thuận thị, cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên Sinh nhi hữu tật ác yên, thuận thị, cố tàn tặc sinh nhi trung tín vong yên; sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu hiếu thanh sắc yên, thuận thị cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lý vong yên Nhiên tắc tòng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tuất xuất vu tranh đoạt hợp vu phạm phận, loạn lý nhi quy ư bạo Cố tất tương hữu sư pháp chi hóa, lễ nghĩa chi đạo, nhiên hậu xuất từ nhượng, hợp
vu văn lý nhi quy vu trị Dụng thử quan chi; nhiên tắc nhân chi tính ác minh hỹ, kỳ thiện giả ngụy dã) [14, tr.354]
Theo Tuân Tử, lòng hiếu lợi, lòng đố kỵ và ham muốn dục vọng là đầu mối của tính người (tính ác), khi mới sinh ra đã có rồi Còn các đức nhân, nghĩa, lễ, trí là do bậc thánh nhân đặt ra, chứ không phải do trời sinh ra Ở đây, Tuân Tử thừa nhận “Tứ đoan”, nhưng khác với Mạnh Tử, “Tứ đoan” ấy không có sẵn mà phải qua giáo dục mới có được Ở luận điểm này, Tuân Tử đã nhận thấy vai trò tác động của nhân tố xã hội, của sự học tập đối với tính người Từ đó, Tuân Tử chủ trương học theo lễ nghĩa để hoàn thiện con người, đề cao việc giáo hóa con người nhằm điều tiết cái bản năng, hướng con người tới cái thiện: “Tính ác của người ngày nay, tất phải có việc học tập trước rồi sau mới có
chính, có lễ nghĩa trước rồi sau mới có trị” (Kim nhân chi tính ác, tất tương đãi sư pháp
nhiên hậu chính, đắc lễ nghĩa nhiên hậu trị) [14, tr.355]
Trang 2020
Quan niệm về bản tính con người của Tuân Tử và Mạnh Tử có sự đối lập, trái ngược nhau song đều thống nhất ở chỗ: Có thể giáo hoá giáo dục để hướng con người tới điều thiện Tuy nhiên, trong học thuyết của mình cả hai ông đều chưa nhận thấy được con người là thực thể thống nhất giữa cái tự nhiên và cái xã hội
Như vậy, Mạnh Tử và Tuân Tử đã triển khai tư tưởng “tính tương cận” của Khổng
Tử theo hai hướng khác nhau Xét về mặt hình thức, dường như tư tưởng của các ông đối lập nhau Về mặt nội dung thì tư tưởng của hai ông bổ sung cho nhau và cùng thống nhất
ở chỗ cho rằng phải giáo dục con người và mục đích là hướng thiện
Ngoài những quan niệm trên thì con người phải kể đến thuyết tính người của Cáo Tử "Bản tính của con người ta như nước chảy… không phân biệt thiện với bất thiện" [31; 1193] Trong tư tưởng của Cáo Tử, tính người của con người không thiện cũng không ác nhưng nó có thể thay đổi tuỳ theo sự tác động của hoàn cảnh xã hội
và việc giáo dục tu dưỡng của mỗi con người
Cáo Tử coi nhân tính như tờ giấy trắng muốn viết đen thì đen, viết đỏ thì đỏ Ông nói đến bản chất xã hội của con người.Con người sống trong xã hội chịu tác động của hoàn cảnh xã hội Chính hoàn cảnh xã hội là môi trường để con người trở thành tốt xấu
về sau
Như vậy khi bàn đến con người các nhà nho đã đưa ra những quan niệm khác nhau
về tính người.Tuy nêu lên bản tính con người khác nhau nhưng các nhà nho đều có điểm thống nhất chung cần phải giáo dục con người đến tính thiện
Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về bản tính vốn có của con người nhưng các nhà Nho đều khẳng định rằng: Bản tính của con người không phải nhất thành bất biến mà có thể thay đổi thông qua sự tác động của giáo dục, hoàn cảnh Phương thức tốt nhất để giữ được tính thiện, loại trừ tính ác là con người luôn suy nghĩ và hành động theo điều thiện, tu dưỡng, rèn luyện bằng nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
Đó là điều có thể lý giải tại sao Nho giáo lại coi trọng giáo dục, đề cao giáo hoá và coi đây là công cụ cai trị
Quan niệm của Nho giáo về các mối quan hệ con người trong xã hội
Trang 2121
Khác với các học thuyết triết học Phương Tây, triết học phương Đông nói chung
và đặc biệt là Nho giáo nói riêng, luôn xem xét con người trong tổng hòa các mối quan hệ
xã hội Ở Nho giáo, chúng ta thấy, không tồn tại một con người cá nhân, một cái tôi tách khỏi xã hội Chính việc nhìn nhận con người trong các mối quan hệ xã hội đã giúp Nho giáo đề ra được những giải pháp bình ổn xã hội Theo quan niệm Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ tự nhiên Đó là quan hệ vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn - bè Năm mối quan hệ này phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội Ngoài năm mối quan hệ này các nhà nho còn bàn đến các mối quan hệ khác như quan hệ quân dân, thầy trò ,nam nữ…
Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp Đi cùng với các mối quan hệ đó là những yêu cầu giao tiếp bắt buộc mà mỗi
thành viên trong xã hội phải thực hiện
Trước hết mối quan hệ vua tôi: Trong quan niệm của các nhà Nho, quan hệ vua -
tôi là mối quan hệ xã hội quan trọng nhất, đứng đầu trong ngũ luân, gắn liền với chính trị, liên quan trực tiếp đến sự hưng - vong của triều đại, của chế độ, được các nhà nho chú ý bàn nhiều nhất Thời kỳ Khổng Mạnh quan hệ vua - tôi là quan hệ có đi có lại vì sự nghiệp chung trị nước an dân Khổng Tử đặt ra vấn đề “vua ra vua”, “ tôi ra tôi”
Theo Nho giáo, vua là người đứng đầu mỗi quốc gia, được coi là Thiên tử (con trời), có sứ mệnh to lớn là thay trời để trị dân, giáo dân Vua là người trụ cột của đất nước phải xứng đáng đạo làm vua Vua phải lấy nhân nghĩa đối xử với bề tôi, bề tôi với vua phải trung “Vua nhân tôi trung”, “Vua lấy lễ mà sai khiến tôi, tôi đem lòng trung mà phụng sự vua” Vua là tấm gương sáng để bề tôi và người dân noi theo Mạnh Tử cũng cho rằng thánh nhân phải là người mẫu mực để người đời ăn ở theo nhân luân
Khái niệm “tôi” (bề tôi) trong quan điểm của Nho giáo là một khái niệm bao quát
nhiều đối tượng, trong đó bao hàm hai đối tượng chính : Thứ nhất, “bề tôi” là“dân” - dân
chúng bao gồm tất cả thần dân trong thiên hạ, họ là lực lượng đối lập với tầng lớp thống
trị gồm vua, quan Thứ hai, “bề tôi” là những người giúp nhà vua trong việc cai trị, là
tầng lớp quan lại, hợp cùng với nhà vua thành tầng lớp, giai cấp thống trị, có vai trò trị
Trang 2222
nước, trị dân, giáo dân Về phận bề tôi các nhà nho yêu cầu bề tôi đối với vua phải hết lòng trung thành đem nhân nghĩa hết lòng thờ vua giúp nước Bề tôi phải làm cho vua tin dùng nếu vua không tin dùng thì lui về ở ẩn để giữ trọn khí tiết và lòng trung của mình
Bề tôi có trách nhiệm khuyên can để nhà vua sửa tính sửa nết, bề tôi nói phải vua nghe theo Khổng Tử nói: “Làm quan trung với bậc quốc trưởng ,muốn đem hết lòng giúp nước há không đem ý kiến sáng suốt của mình mà bày tỏ với bậc quốc trưởng, há không can gián người sao”
Mạnh Tử đặt điều kiện có đi có lại trong mối quan hệ vua tôi Nếu vua yêu quý bề tôi thì bề tôi cũng yêu quý vua nếu vua coi thường bề tôi thì bề tôi cũng không tôn trọng vua
Theo đó, đạo làm vua trong mối quan hệ với dân, đòi hỏi nhà vua phải thật sự thương yêu, coi trọng nhân dân, nuôi dân, dưỡng dân, giáo dục dân Và ngược lại, đạo của bề tôi (dân) là phải kính trọng vua như cha mẹ, nghe theo sự giáo hóa và tuân thủ mọi mệnh lệnh của người trên Đối với quan lại, đạo làm vua là đòi hỏi nhà vua phải lấy Lễ
mà đối đãi với quan lại, trọng dụng người hiền tài Còn đạo làm người của bề tôi (quan lại) là phải tận trung với vua, khi được nhà vua trọng dụng, sử dụng làm quan thì phải làm hết trách nhiệm của mình phụng sự nhà vua, triều đại, phụng sự nhân dân Trên tất
cả, Nho giáo yêu cầu đạo làm vua là phải luôn tu dưỡng đạo đức, trở thành tấm gương đạo đức cho kẻ dưới noi theo, đạo của bề tôi là phải tuyệt đối trung thành, nghe theo và bảo vệ vua
Như vậy quan hệ vua tôi thời Khổng Mạnh thật là khăng khít, có đi có lại, có nghĩa có tình,mối quan hệ hai chiều làm nền tảng cho các mối quan hệ khác trong xã hội Sau mối quan hệ vua tôi là mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Đây là mối quan hệ máu
mủ ruột thịt gần gũi nhất trong gia đình
Về mối quan hệ cha mẹ - con cái: cha(mẹ) sinh ra con cái phải hết lòng yêu
thương nuôi dạy con cái, cha mẹ săn sóc cho con cái, cho con cái đi học để khi con cái trưởng thành có thể giúp ích cho đời Cha mẹ có trách nhiệm dựng vợ gả chồng cho con cái
Trang 2323
Còn Mạnh Tử cũng dẫn trong kinh lễ dạy rằng: “Đàn ông khi làm lễ đội mũ thì cha dạy cho; con gái khi làm lễ gả chồng thì mẹ gả cho, mẹ đưa con gái ra cửa răn con gái rằng: “Mày đi về nhà chồng mày phải kính, phải răn, chớ trái miệng chồng” Qua lời mẹ dặn con gái cho thấy bổn phận của cha mẹ với con cái ngay cả đến lúc trưởng thành
Về phía con cái, các nhà nho cho rằng con cái với cha mẹ phải giữ tròn đạo hiếu Khi bàn về đạo hiếu Khổng Tử mới đề cập đến con cái phải lễ phép với cha mẹ đi theo chí hướng của cha Mạnh Tử và Tăng Tử đã phát triển tư tưởng của Khổng Tử và bàn về đạo hiếu đầy đủ hơn sâu sắc hơn
Mạnh Tử nói : Đạo hiếu là suốt đời thờ cha mẹ, chỉ có phung dưỡng cha mẹ là quan trọng nhất Tăng Tử và một số nhà nho khác quy nội dung của hiếu về 3 điều:
- Tôn kính cha mẹ, vâng lời cha mẹ ,nghe theo lờo cha mẹ, theo chí hướng của cha
mẹ
- Phụng dưỡng cha mẹ suốt đời
- Khi cha mẹ qua đời phải chôn cất chu đáo, thờ cúng cha mẹ cho có lễ
Các nhà nho còn nêu lên những điều bất hiếu Mạnh Tử nói : Bất hiếu có năm tình huống sau: lười biếng chẳng muốn lam điều gì, không đoái hoài đến cuộc sống của cha
mẹ Ham thích cờ bạc không đoái hoài đến cha mẹ Ham muốn tiền hoặc quá yêu quý vợ con, quên chăm sóc cha mẹ Ham thích hưởng lạc nhục dục để cha mẹ tủi nhục, hổ thẹn Quá ham mê võ lực đánh nhau tàn bạo chém giết người thiện lương khiến cha mẹ nguy khốn
Mạnh Tử nêu lên tội bất hiếu: một là cha mẹ làm điều bất nghĩa mà mình không biết can ngăn, để cha mẹ măc phải tiếng xấu Hai là nhà nghèo mà mình chẳng chịu ra với đời kiếm chút lộc nuôi cha mẹ Ba là chẳng chịu lấy vợ để đến nỗi không có con làm tuyệt mất sự tế tự với tổ tiên
Các nhà nho rất chú trọng giáo dục về đạo hiếu mong muốn con cái trở thành những người con hiếu thảo trong gia đình làm tất cả những gì để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ làm cho cha mẹ yên vui với tuổi già hãnh diện với bà con hàng xóm với xã hội
Trang 2424
Tuy trong nội dung giáo dục lòng hiếu thảo còn những điều thái quá rườm rà nhưng việc giáo dục lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ và mối quan hệ cha con nói chung của Nho giáo đã khá thành công vì nó dễ đi vào lòng người dễ được xã hội chấp nhận Nó là mối quan hệ hai chiều có đi có lại, trách nhiệm đi liền với nghĩa vụ phù hợp với tình người đạo lý làm người Nó có tác dụng tích cực trong việc nâng cao trách nhiệm cũng như nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Có thể nói đây là một trong những mối quan hệ cơ bản hợp thành “ngũ luân” và
“tam cương” Từ chỗ cho rằng, nhà là gốc của nước, Nho giáo đã đưa ra những chuẩn mực, quy phạm đạo đức trong mối quan hệ cha - con nhằm duy trì trật tự, tôn ti trong gia đình cũng là góp phần củng cố trật tự, kỉ cương, ổn định xã hội và ràng buộc trách nhiệm giữa con người với con người Trong mối quan hệ này, các nhà Nho yêu cầu “cha hiền
từ - con hiếu thảo” Hầu hết các nhà Nho đều cho rằng, đạo của cha mẹ là phải nuôi dưỡng con cái nên người, đạo của con cái là phải phụng dưỡng, thành kính, có hiếu với cha mẹ Nhìn chung, quan điểm về mối quan hệ cha - con của các nhà Nho tiên Tần là mối quan hệ hai chiều, có đi có lại, trách nhiệm đi liền với nghĩa vụ và về cơ bản là phù hợp với tình người, đạo lý làm người, tình phụ tử, tình phụ mẫu Nó có tác dụng tích cực trong việc đề cao trách nhiệm cũng như nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Nhưng các nhà Nho từ đời Hán trở đi, quan niệm về đạo “hiếu” trong mối quan hệ cha - con là hết sức chặt chẽ, giáo điều gắn với những nghi thức rườm rà, những đòi hỏi
vô lý buộc con người phải tuân theo một cách gò bó, hình thức và an phận trong một xã hội phong kiến đầy áp bức, bất công
Về mối quan hệ vợ - chồng: Theo Mạnh Tử thì vợ - chồng phải tôn trọng nhau
(Phu - phụ hữu biệt) Nhưng Nho gia lại rất đề cao vai trò vị trí của người chồng, là người giữ vai trò chủ yếu trong gia đình, còn người vợ là thứ yếu, luôn ở địa vị phụ thuộc Cho nên phu xướng phụ tuỳ Càng về sau, nhất là từ Đổng Trọng Thư (thời nhà Hán) trở đi, mối quan hệ bất bình đẳng giữa vợ và chồng càng tăng, người vợ còn phải chịu ràng buộc bởi: Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.Tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh
Trang 2525
Về mối quan hệ anh em: Đối với đạo làm người trong mối quan hệ này cả Khổng
Tử, Mạnh Tử và các nhà Nho khác đều cho rằng, anh - em trong nhà phải có thứ tự trên dưới, có trước, có sau “trưởng ấu hữu tự” Các nhà nho đều yêu cầu anh em trong một nhà phải cư xử với nhau có trên có dưới trước sau hoà thuận, tôn trọng quyền anh trưởng trong gia đình Theo đó, anh là người được xếp ở vị trí trên nên đạo làm anh là phải có trách nhiệm thương yêu, quan tâm lo lắng, chăm sóc cho người em Ngược lại, em ở vị trí dưới, thấp hơn nên đạo làm em là phải lấy “mộ nhân nghĩa mà thờ anh”, anh dạy bảo em phải nghe lời, anh nói em nghe, anh có quyền thay thế cha điều hành mọi công viêc trong gia đình khi cha mất còn em phải vâng lời anh, nghe theo anh chỉ bảo có như vậy gia đình anh em mới hoà thuận vui vẻ
Trong khi xây dựng các mối quan hệ khác trong ngũ luân các nhà nho cũng chú ý
xây dựng mối quan hệ bạn bè (bằng hữu) Mối quan hệ này lấy chữ tín làm trọng: “Bằng
hữu hữu tín” Chữ tín làm bạn bè vượt qua khó khăn thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Chữ tín làm cho tình bạn mãi bền vững Khi nói về kẻ sĩ Khổng Tử nói: “Phải cư xử với người thiết tha hết tình và giữ niềm hoà duyệt” Tình bạn với quan niệm của nhà nho được xây dựng không dựa trên tiền tài danh vọng, giàu sang phú quý mà là nghĩa là tình Họ kết bạn với nhau, động viên nhau giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn hoạn nạn
Trong mối quan hệ thầy trò: Quan hệ giữa thầy và trò trong đạo Nho có chứa
đựng những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp Nó yêu cầu người thầy phải là người có đạo đức,
tự giác nêu gương và là tấm sáng cho học trò noi theo Người thầy không chỉ dạy tốt mà còn phải là một điển hình về việc rèn luyện tu dưỡng và học tập, người thầy phải trở thành một mẫu mực về nhân cách đạo đức, một tâm hồn cao cả, có tình thương và sự khoan dung độ lượng đối với học trò Người thầy phải là người học không biết chán, dạy không biết mỏi, dạy tất cả mọi người không phân biệt giàu nghèo, cao thấp Bên cạnh đó
nó cũng đặt ra cho người học những yêu cầu nhất định, đó là, phải ham học, khiêm tốn và biết tôn trọng người thầy… Bởi khiêm tốn là một trong những phẩm chất đạo đức Nho giáo và là đức tính của người học, muốn thế trong học tập người học phải luôn khiêm tốn Trong tư tưởng Nho giáo đã khẳng định, học để biết, mà thế nào là biết: biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết như thế là người biết, học phải biết ta biết người,
Trang 2626
đừng lo người khác không biết gì về mình mà luôn nghĩ mình đã biết gì về người ta Kho tri thức nhân loại là vô tận, tri thức của người học là cái có hạn trong cái vô tận của tri thức nhân loại Tôn trọng thầy người học phải kính yêu thầy, coi thầy như cha mẹ mình,
tôn trọng tri thức thầy đã tiếp thu của nhân loại để dạy mình…
Ngoài quan hệ ngũ luân các nhà nho có đề cập đến quan hệ quân dân Qua đó cho các bậc vua chúa thấy được tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân Nên vua phải biết chăm lo đến dân ăn ở cho được lòng dân
Những quan niệm trên có tính chất tích cực trong giai đoan đầu trong lúc xã hội rối ren , đạo đức trật tự kỉ cương xã hội bị đảo lộn thì những quan niệm của Nho giáo về luân thường đạo lý có tác dụng tích cực với xã hội Đăc biệt từ những tư tưởng và quan niệm trên các nhà nho đã giáo dục xây dựng lớp người kẻ sĩ đông đảo Tuy còn có những mặt khiếm khuyết han chế song là những mẫu người lý tưởng có đủ nhân nghĩa hiếu trung
Trên đây là các mối quan hệ cơ bản giữa người với người mà các nhà nho dày công xây dựng.các mối quan hệ ấy đều liên quan ràng buộc tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.các nhà nho giáo nhằm giáo dục con người có đức nhân, mọi người đều thấm nhuần và làm theo những điều nhân nghĩa Các mối quan hệ này ở thời Khổng Mạnh là mối quan hệ đầy đặn có tính chất hai chiều, có đi có lại mang tính nhân bản sâu sắc, có tác dụng tích cực trong viêc giáo dục và đào tạo nhân cách của con người trong xã hội
1.2.1.2 Quan niệm của Nho giáo về chuẩn mực nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
Nho giáo nói về năm đức chủ yếu (ngũ thường) là năm tiêu chuẩn đạo đức căn bản nhất có ở con người Theo Khổng Tử, muốn hợp Lễ thì người quân tử phải có nhân - Trí - Dũng Mạnh Tử bỏ Dũng và nói nhiều về Lễ nghĩa thành bốn đức: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí Đổng Trọng Thư thêm Tín thành năm đức : Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín
Nhân là đạo làm người, là cách cư xử của mình với người, là yêu người, bác ái
Theo Khổng Tử “Nhân” không chỉ là riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính Người có Nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên Nhân là nghĩa của đạo làm người Kẻ có Nhân là người tình cảm chân thật, hết lòng vì nghĩa, cho nên có Nhân thì bao giờ cũng hiếu đễ, lễ nghĩa, trung thực Kẻ bất nhân thì đầy những trí thuật, rất khôn
Trang 2727
khéo, linh lợi tình cảm đơn bạc không thành thực, chỉ vì lợi mà không có lễ nghĩa, dối trá, gian ác, phản loạn, lừa gạt trên dưới Tuy nhiên học thuyết Nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng Chỉ có người quân tử, tức giai cấp thống trị mới có thể có được đức nhân, còn kẻ tiểu nhân không thể có được đức nhân Nghĩa là đức nhân chỉ là đức của người quân tử, của giai cấp thống trị
Lễ: Trước hết, Lễ là phạm trù chỉ tôn ti trật tự, kỉ cương của xã hội mà mọi người,
mọi giai cấp trong xã hội phải học phải tuân theo Theo đó, trong xã hội có vua- tôi, con, chồng- vợ, có người trên kẻ dưới, có việc trái việc phải cho nên phải có Lễ để phân minh rõ ràng
Thứ hai, Lễ là những chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu có tính bắt buộc, ràng buộc với mọi hành vi, ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội cũng như trong các hoạt động khác của con người Tuy nhiên Lễ không phải là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập mà là một vấn đề luôn gắn liền với Nhân Trong mối quan hệ giữa Nhân và Lễ thì Nhân là gốc, là nội dung còn Lễ là biểu hiện của nhân Người thi hành Lễ
là để rèn luyện, tu tâm dưỡng tính, tạo cho con người có điều kiện thực hiện đức nhân và
có những hành vi đúng mực, tốt đẹp
Nghĩa: Nghĩa gắn liền với Nhân, Nhân thể hiện tình cảm sâu sắc thì nghĩa là nghĩa
vụ để thực hiện tình cảm đó Do đề cao nghĩa ngang với Nhân nên Mạnh Tử khuyên người ta chỉ nên nói điều “nhân nghĩa” “Tôi vì Nhân nghĩa mà thờ vua, con vì Nhân nghĩa mà thờ cha, em vì Nhân nghĩa mà thờ anh Vua tôi, cha con, anh em đều bỏ lợi, đối với nhau chỉ bằng lòng hâm mộ nhân nghĩa Quốc gia như thế mà không hưng thịnh thì chưa từng có” Vì vậy nghĩa mục tiêu sống mà con người cần vươn tới
Nghĩa cũng gắn liền với dũng, muốn làm việc nghĩa mà không có dũng thì không thể thực hiện được, Khổng Tử trọng dũng gắn liền dũng với nghĩa, trong đó nghĩa chỉ đạo dũng và dũng phải phù hợp với nghĩa
Phạm trù Nghĩa trong đạo đức Nho giáo là sự đối nhau với Nhân Nếu nhân thể hiện trong các mối quan hệ với người khác thì nghĩa là sự thể hiện trong tự vấn lương tâm mình Lòng tự trọng là đầu mối của Nghĩa Nghĩa có nghĩa đen là điều nên nói, việc nên làm Ngoài ra, Nghĩa còn là cách cư xử với mọi người theo công bằng và lẽ phải Trong
Trang 2828
thử thách đạo làm người, chữ Nghĩa trong đạo đức Nho giáo giúp cho con người ta biết phân minh việc phải trái, làm việc tốt, việc thiện ở đời và hành xử công bằng theo lẽ phải
Đến Đổng Trọng Thư thì chữ Nghĩa đi liền với lợi Lợi để nuôi thân thể, nghĩa để nuôi cái tâm Tâm không có nghĩa, không thể được, thân thể không có lợi, không thể yên được Trong thời đại ngày nay, lòng hổ thẹn và tinh thần vì nghĩa thường bị nhiều thứ làm cho lung lay, mất đi tính tốt đẹp vốn có như uy vũ của kẻ quyền thế, địa vị công danh, tiền tài lợi lộc
Trí trong học thuyết Nho gia, Trí được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân
biệt, đánh giá con người và tình huống, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo Nói chung, theo Khổng Tử, phải có Trí thì con người mới vươn tới được đức nhân nên không thể người nhân mà thiếu Trí Đề cập tới Trí , Khổng Tử một mặt tin vào mệnh trời và cho rằng tri thức bẩm sinh là tri thức thượng thặng, là thượng trí, trời sinh ra đã có sẵn và không biến đổi Mặt khác, ông đã xếp Trí một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của con người hoàn thiện Ông cho rằng Trí là kết quả của quá trình học hỏi trong đời sống Nếu không học hỏi thì dù có thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, lầm lạc, phản loạn làm biến chất Chữ Trí trong Nho giáo giúp con người ta luôn luôn phấn đấu học tập, để hoàn thiện bản thân mình Trí là biết người, là dùng người trực, bỏ kẻ gian Như vậy có thể giáo hóa kẻ gian thành người trực Trí là biết được một cách đúng đắn, rõ ràng, phải trái trong mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống
Chữ Tín theo Nho giáo là lòng thật thà, niềm tin, đức tính giữ lời hứa hẹn, gữ
đúng, làm đúng những điều đã nói ra Chữ Tín trông đạo đức Nho giáo hướng con người đến sự ngay thẳng, chân thật trong hành xử, trong đối nhân xử thế Đối với bằng hữu thì phải làm cho người ta tin, có như vậy tình bạn mới bền vững được Đặc biệt những người
trị nước, trị dân thì đức tín càng quan trọng hơn
Chữ Tín được xếp cuối cùng trong đạo đức Nho giáo nhưng không phải vì thế mà
hạ thấp chữ Tín Bởi chữ Tín là hệ quả của bốn đức trên, có Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí thì mới
có Tín Tín có Nghĩa là uy tín, là lòng tin, có lòng tin tuyệt đối vào chính đạo, vào đạo lí của thánh hiền, vào mối quan hệ giữa vua-tôi, cha-con, anh-em, chồng- vợ, bằng- hữu
Trang 29xã hội, gia đình mạnh thì nước mới mạnh, gia đình đoàn kết, có trật tự kỷ cương thì đất nược mới có kỷ cương phép tắc Nho giáo coi nhà là gốc của đất nước, cũng như nước là gốc của thiên hạ, muốn bình thiên hạ phải biết trị quốc, muốn trị quốc phải biết tề gia
Như vậy Nho giáo coi năm đức Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí , Tín là những phẩm chất
đạo đức cơ bản của mẫu người lí tưởng trong xã hội xưa kia và ngày nay Năm đức này vẫn còn giá trị đối với người hiện đại, vẫn còn được coi là những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người
1.2.2 Quan niệm của Nho giáo về giáo dục, đào tạo con người
1.2.2.1 Đối tượng đào tạo
Học thuyết Nho giáo là học thuyết chính trị xã hội chỉ tâp chung giáo dục con người về đức nhân song đối tượng đào tạo lại rất rộng Đối tượng chung mà Nho giáo đào tạo là những người nào muốn học đều được dạy Khổng Tử là người đâu tiên mở trường nhận dạy thanh niên mọi giới thành công Ông tuyên bố : “Hữu giáo vô loại” tức là bất kẻ loại nào không phân biệt hạng người, gia thế ai cũng dạy hết nghĩa dù là con quý tộc hay bình dân Khổng Tử cũng coi ngang hàng Ông không phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻ nào xin học muốn dâng lễ gì ông cũng nhận dù chỉ là mười cái nem Khi nhận vào học ông không phân biệt người thiện kẻ ác
Như vậy đối tượng đào tạo của Nho giáo rất rộng không phân biệt đẳng cấp giàu nghèo, người thiện kẻ ác, nếu muốn học thì đều được dạy Việc mở rộng đối tượng đào tạo trước hết phục vụ yêu cầu giáo dục của các nhà nho là giáo dục “đức nhân”, giáo dục con người trong xã hội thành con người có đức nhân
Trang 3030
Khổng Tử là người đặt viên gạch đầu tiên cho việc bình dân hoá giáo dục, xoá bỏ đẳng cấp trong đào tạo giáo dục con người của xã hội Trung Hoa cổ đại.Tuy vậy, đối tượng chủ yếu Khổng Tử cũng như Nho giáo nói chung tập trung đó là:
- Con em thuộc giai cấp thống trị để có người tiếp tục phục vụ sự nghiệp cuả cha anh họ
- Con em tầng lớp khác nhưng có điều kiện học tập và nguyện trở thành người phục vụ cho giai cấp thống trị
- Ngoài ra Nho giáo con dạy cho dân nhằm mục đích dễ sai khiến
Sở dĩ các nhà nho tập chung đào tạo con em giai cấp thống trị vì trong lịch sử bất
kỳ giai cấp thống trị nào cũng phải đào tạo con em mình phục vụ cho giai cấp mình.Trong tình hình xã hội thời Xuân Thu luôn rối ren loạn lạc việc này càng bức thiết
Khổng Tử đề cao việc học tập, có học tập mới làm nổi công việc, mới có thể trị dân trị nước Có học mới biết phán đoán khỏi sai lầm không bị “che lấp”
Khổng Tử chú trọng việc giáo dân nhất trong số các triết gia thời tiên Tần, ông đã
bỏ gần hết cuộc đời vào việc đó Mặc Tử cũng chủ trương dạy dân đấy nhưng các Thượng thiên đồng , ông chỉ bảo mọi người dân đều học những gì thiên tử cho là thiện nhất là đạo kiếm ái, yêu mọi người như chính mình làm lợi lẫn cho nhau để cái gì thiên tử khen dân cũng khen cái gì thiên tử chê dân cũng chê, nhờ vậy nước mới được trị Mặc Tử không công nhận công dụng giáo hoá của lễ nhạc Pháp gia chỉ dạy dân biết pháp luật để không phạm pháp Còn Lão Tử cho rằng giáo dục làm dân sinh ra tinh khôn ham muốn nhiêu hơn gây hại lớn
Duy có Khổng Tử là cho nhiệm vụ dạy dân ngang với nuôi dân do:
- Dạy dân là một cách yên ân mình muốn tự lập phải thành lập cho người, mình muốn thành công phải giúp người thành công
- Dân được giáo hoá dễ sai khiến cai trị, công việc chính hình sẽ nhẹ đi rất nhiều Mục đích của Nho giáo là dạy người cho đến bậc nhân nhưng trước hết phải giáo dục cho nhân dân những diều luân thường đạo lý
1.2.2.2 Mục tiêu và nội dung đào tạo con người của Nho giáo
Trang 31Khổng Tử là người rất chú trọng đến việc học tập Ông nói rằng muốn xứng đáng
là kẻ trị dân trước hết phải tu thân ,muốn tu thân thì phải học
Con đường vào đời của kẻ sĩ trước hết phải học Học ở đây là học đạo học cách làm người, học để trở thành người nhân đức Kẻ sĩ là người luôn luôn trau dồi đức hạnh,
bỏ lợi mà làm điều nghĩa, dám sông pha trước nguy nan để cứu người
Mạnh Tử cũng nói kẻ sĩ phải luôn giữ lấy nghĩa, làm tròn bổn phận của mình.Trong mọi cử chỉ hành đọng của mình phải biết sĩ hỗ đặng tránh những việc trái lễ nghĩa Khi đi xứ đến các nước khác đừng làm nhục cái mạng lệnh nhà vua giao phó cho mình như vậy có thể gọi là kẻ sĩ Kẻ sĩ với bạn bè phải tha thiết hết tình, với anh em thì giữ niềm hoà duyệt
Nho giáo chia kẻ sĩ ra làm nhiều hạng Khổng Tử chia làm bốn hạng là:
- Hạng thứ nhất: Trong mọi cử chỉ hành động của mình phải biết hổ thẹn trước những hành vi xấu của mình, đi khắp nơi đùng làm nhục cái mạng lệnh của vua
- Hạng thứ hai: Họ hàng khắp xóm đều khen là lễ nghĩa
- Hạng thứ ba: Lời nói quả quyết, hơi cố chấp hẹp hòi nhưng chấp nhận được
- Hạng thứ tư: Độ lượng nhỏ nhen không đáng nói tới
Còn Tuân Tử cho rằng kẻ sĩ có năm hạng: kẻ thông sĩ, kẻ công sĩ, kẻ trục sĩ, kẻ xác sĩ và kẻ tiểu nhân
Kẻ đại trượng phu
Là những con người bất khuất, cứng rắn, là một trong những mục tiêu đào tạo con người thiết thực phục vụ cho giai cấp thống trị Khổng Tử chưa bàn nhiều đến kẻ trượng phu song cũng đã nêu lên tính cách về con người này Khổng Tử nói đến người dũng thì
có đủ, có sức lực, gan dạ đối phó với nghịch cảnh nên chẳng sợ bậy
Trang 3232
Mạnh Tử nêu lên người đại trượng phu với những tính cách cao thượng đó là làm theo điều nhân điều lễ điều nghĩa Đó là chỗ ở rộng nhất, chỗ đáng đứng nhất con đường sáng nhất trong thiên hạ Dù bất kì hoàn cảnh nào cũng tu thân, làm điều thiện không lùi bước trước uy lực tiền tài nghèo khó
Tuân Tử đề cao đức tháo của người trượng phu Con người hiên ngang sống như thế, chết như thế vẫn giữ khí tiết giữ lòng trung trước quân thù Nói về dũng Tuân Tử nêu lên ba loại dũng là thượng dũng, trung dũng, hạ dũng
Nói về người trượng phu, các nhà nho tuy có cách nói khác nhau song mục tiêu chung là xây dựng con người kiên cường bất khuất
Mẫu người cao quý lý tưởng mà các nhà nho đều tập trung xây dựng đó là người quân tử
Người quân tử
Có thể nói đạo của Khổng Tử là đạo của người quân tử Mục tiêu giáo dục con người của Nho giáo là đào tạo con người có đức nhân mà người quân tử là mẫu người lý tưởng nhất, cao quý nhất của xã hội phong kiến Quân tử vố có hai nghĩa là “quân tử cầm quyền “ và “nho quân tử” Quân tử cầm quyền là người làm chính trị làm quan có địa vị tôn quý không làm việc nhỏ nhặt chỉ làm việc lớn
Nho quân tử là người học rộng mà có khí tiết, người học đạo thánh hiền mà ăn ở theo bậc thánh hiền Người quân tử có thể làm quan hay không làm quan nhưng phải là người ham mê học tập, học rộng hiểu sâu đạo thánh hiền, có phẩm chất tôn quý trong bất
kỳ hoàn cảnh nào, trong bât kì tàng lớp giai cấp nào
Người quân tử trước hết phải là người ham mê học đạo hơn cả sự sống của mình,
có học đạo mới hiểu được đạo thánh hiền mới trở thành người đức nhân Đối với người quân tử học đạo quan trọng song quan trọng hơn hết là hành đạo tu thân sửa mình
Như vậy người quân tử là người hoàn thiện hoàn mỹ và chỉ có phẩm chất cao quý mới là người quân tử Người quân tử trước hết phải có nhân là người quân tử trong ý nghĩ lời nói việc làm trong bất kì đâu trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không xa rời điều nhân
Quân tử là người trọng nghĩa luôn hành động theo đúng đạo lý làm người Nghĩa
là tiêu chuẩn quan trọng của người quân tử là gốc của đạo làm người
Trang 3333
Quân tử là người trọng lễ thì giao tiếp và hành đạo mới đúng theo đạo được Quân tử là người giàu trí: Trí là sự nhận thức hiểu biết sâu rộng Có trí là không bị lầm lạc, không bị mê hoặc không bị nghi lầm Người có trí mới có thể phân biệt đúng sai, điều hay lẽ phải mới có sự cư xử và hành động đúng theo đạo người quân tử
Quân tử là người có đứng dũng: Quân tử là mẫu người cao quý nhất của xã hội Người quân tử không chỉ là người có nhân, nghĩa, lễ, trí mà còn có dũng Dũng là một phẩm chất không thể thiếu được của người quân tử Người có dũng là người có sức mạnh, gan dạ, quả cảm dám đương đầu với những khó khăn hiểm nghèo
Mục tiêu giáo dục đào tạo của Nho giáo là xây dựng thành những con người đức nhân Muốn có đức nhân phải có trí, song chỉ có trí vẫn chưa đầy đủ mà phải có dũng Có dũng mới có thể hành động để thành người có nhân có nghĩa
Quân tử có đức tín cao: Đức tín là một phẩm chất của con người quân tử Trong mối quan hệ con người với con người, tín được thể hiện trong việc giữ lời hứa, lời giao ước, trước sau như một Lời nói với việc làm thống nhất với nhau, từ đấy gây được niềm tin cho con người Đức tin là một phẩm chất rất quan trọng của con người Con người có tiền tài, địa vị, danh vọng, có cuộc sống giàu sang phú quý song không giữ được chữ tín thì người đời khinh rẻ, coi thường Ngược lại dù trong cuộc sống nghèo khó bần hàn, song giữ được chữ tín thì người đời lại rất coi trọng
Có thể nói đạo của Khổng Tử là đạo của người quân tử Cho nên mục tiêu đào tạo con người của Nho giáo là đào tạo người có đức nhân Theo Nho gia thì người quân tử là mẫu người lý tưởng nhất, cao quý nhất của xã hội phong kiến
Nho giáo cho là đức hạnh của người quân tử như giáo, mà đức hạnh của người dân như
cỏ Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống
Đối tượng đào tạo của Nho giáo thì rộng nhưng nội dung đào tạo ở lĩnh vực chính trị, đạo đức mà tập trung ở “Tam Cương” và “Ngũ thường” (Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín)
Các lĩnh vực khác như các ngành khoa học tự nhiên, các kiến thức về sản xuất vật chất, kinh tế-xã hội, vui chơi giải trí đều không được chú ý
Trang 3434
Có làn ông Phàn Trì xin Khổng Tử dạy nghề làm ruộng, Khổng Tử đáp rằng: “Ta chẳng như lão nông phu rành việc cày cấy” Ông Phàn Trì lại xin dạy cách trồng cây Khổng Tử đáp rằng: “Ta chẳng như lão làm vườn quen nghề trồng trọt” Khi Phàn Trì ra rồi Khổng Tử trách rằng: “Gã phàn Tu (Phàn Trì) chí khí nhỏ hẹp lắm thay”
Nội dung đào tạo hạn hẹp của Nho Giáo được thể hiện qua một số tác phẩm kinh điển chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị và đạo đức cụ thể với các sách sau:
Tứ thư gồm: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung Dung
- Luận ngữ là cuốn sách của phái Tăng Tử cùng các môn đệ ghi lại các lời giảng của Khổng Tử cùng những lời đàm đạo của ông với học trò Nội dung chủ yếu là bàn về đường lối chính trị “lấy nhân làm gốc”
- Mạnh Tử là cuốn sách do học trò của ông ghi chép lại những lời dạy của ông đối với họ Nội dung chủ yếu giáo dục về ngũ luân: Mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn Về ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Trong đó tập trung giáo dục con người về đức nhân
- Đại học là cuốn sách nhận thức luận bàn về mối quan hệ giữa sự học của người quân tử với thành ý (ý chí) chánh tam (lý tưởng), tu nhân (nhân cách) tề gia - trị quốc - bình thiên hạ (nhiệm vụ)
-Trung dung: cuốn sách dạy cách ứng xử của người quân tử sao cho thuận thiên, thuận địa, thuận nhân tâm
Trang 351.2.2.3 Quan niệm về phương pháp và chuẩn mực xây dựng con người
Vấn đề xây dựng con người của các học phái triết học Trung Quốc cổ trung đại đặc biệt là Nho giáo là coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quan tâm của gia đình và xã hội Từ việc xác định được bản chất con người như nội dung trên, Nho giáo đã đề ra những chuẩn mực để xây dựng nên con người, hướng con người theo “tính thiện”
Nho giáo đặt vấn đề xây dựng con người một cách thiết thực Cốt lõi của Nho giáo
là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xă hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người thấp kém về điạ vị xã hội, sau "quân tử" còn chỉ
cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể được
lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền) Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi
tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên
lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh) Cần phải hiểu cơ sơ triết lí của Nho giáo mới nắm được logic phát triển và tồn tại của nó
Nho gia hướng con người vào tu thân và thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất luôn được đặt vào vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Quan điểm về vũ trụ,
Trang 3636
nhân sinh, về nhận thức luôn thấm đượm ý thức đạo đức Tất cả mọi vấn đề đều lấy đạo đức làm chuẩn Vì vậy vấn đề thiện và ác của con người thành tiêu điểm tranh luận quan trọng nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc Người Trung Quốc trong lịch sử coi việc tu thân, dưỡng tính cá nhân liên hệ mật thiết với nhận thức thế giới khách quan,thậm chí coi
tu thân dưỡng tính là cơ sở để nhận thức thế giới khách quan
a Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Ngũ Luân và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong xă hội giữ được Ngũ Luân, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình
Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối Tam cương là ba mối quan hệ: quân
thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng)
Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những nguyên tắc“chết người”
- Quân thần: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ
- Phụ tử: “phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con không chết thì con không có hiếu”
- Phu phụ: “phu xướng phụ tùy” nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo
Ngũ thường: Ngũ là năm, Thường là hằng có, Ngũ Thường là năm điều phải
hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật
- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải
- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người
- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai
- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy
Trang 3737
Đây là năm chuẩn mực để xây dựng nên một con người quân tử trong xã hội, tất
cả mọi người dù ở các địa vị khác nhau đều cần rèn luyện bản thân theo năm chuẩn mực trên Ví dụ cụ thể như trong việc xây dựng tư cách người thầy: Nho giáo hết sức chú trọng đến việc học tập Mục đích của học tập là tu dưỡng phẩm hạnh, có những hiểu biết
để xây dựng lẽ sống của người quân tử “tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ” Để đào tạo nên những người quân tử như vậy bản thân các nhà Nho luôn phải là những tấm gương sáng trong việc học tập và tu dưỡng bản thân, tu dưỡng phẩm hạnh theo “ngũ thường”: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín “Nhân” là yêu thương con người nói chung Người thầy phải biết yêu thương học trò, Khổng tử chủ trương thu nhận học trò từ mọi tầng lớp không phân biệt sang hèn, đẳng cấp “hữu giáo vô loại”, nhưng cũng không vì thế mà lẫn lộn tốt, xấu
“Nghĩa” là cái để thực hiện chữ nhân, không chỉ trách nhiệm thể hiện tình cảm và nghĩa
vụ trong quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, … mà còn cả trong quan hệ thầy - trò Xuất phát từ tình yêu thương học trò, người thầy nâng cao nghĩa vụ trách nhiệm của mình đối với trò “Lễ” đóng vai trò quan trọng trong việc đưa “nhân” “nghĩa” vào cuộc sống hàng ngày, là toàn bộ những quy tắc ứng xử lớn nhỏ mà đạo đức Nho giáo đòi hỏi mọi người phải nhất nhất tuân theo Khổng tử đã rất sâu sắc khi nhận thức được rằng cái vẻ bề ngoài có thể củng cố tư tưởng bên trong và chỉ có sự rèn luyện hàng ngày mới xây dựng con người một cách bền vững Với ý thức ấy, ông đòi hỏi từ vua chúa đến thường dân đều phải rèn luyện và nghiêm khắc với mình từ những sinh hoạt nhỏ nhất Vậy người thầy phải là người luôn rèn luyện tác phong nhà giáo, từ ăn mặc đến cử chỉ lời nói… trong cuộc sống hàng ngày Lúc sinh thời, Khổng tử thường nói với các môn đệ của mình một cách tự hào rằng: “Ta học không biết chán, dạy người không biết mỏi” Đồng thời ông khuyên các trò phải học cho rộng, suy nghĩ cho sâu sắc, chín chắn, đồng thời phải tích cực thực hành những điều đã học Vì lẽ đó cách dạy của Khổng tử là lấy bản thân mình ra để dạy “dĩ thân vi giáo”, nghĩa là muốn dạy người ta điều gì thì mình phải làm điều đó trước, muốn trách người khác điều gì thì trước hết mình phải không mắc những lỗi đó “Trí” được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống, qua đó tự xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo, muốn vậy phải học Mọi trí thức đều bắt nguồn từ việc học, “nhân bất học bất tri lý”, muốn biết phải học
Trang 3838
Khổng Tử không chỉ tự khẳng định mình “học không biết chán, dạy không biết mỏi” ông còn khẳng định “hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế giã ngu”… kể cả người muốn làm điều nhân đức nhưng không học hỏi sẽ bị sự ngu dốt che lấp đi Vậy, học hỏi để cho biết là một việc rất quan trọng có ý nghĩa quyết định trong đối nhân xử thế Nho giáo yêu cầu, người thầy muốn học trò nghiêm túc thì trước hết phải tự nghiêm khắc với bản thân mình, muốn truyền thụ những tri thức cho học trò thì trước hết người thầy cũng phải có tri thức uyên thâm, mà muốn được vậy, người thầy cũng phải ham học
Tam tòng: Tam là ba, Tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,
gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
- Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con
Tứ đức: bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh
- Công: khéo léo trong việc làm
- Dung: hoà nhã trong sắc diện
- Ngôn: mềm mại trong lời nói
- Hạnh: nhu mì trong tính nết
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:
* Đạt Đạo Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà người
quân tử phải thực hiện trong cuộc sống "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (sách Trung Dung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu" Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Trong xă hội cách cư xử tốt nhất là "trung dung" Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng
* Đạt Đức Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng" Khổng Tử nói: "Đức
của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi" (sách Luận ngữ) Về sau, Mạnh Tử thay
"dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "nhân, nghĩa, lễ, trí" Hán nho
Trang 3939
thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là: "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín" Năm đức này còn gọi là ngũ thường
* Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức", người quân tử
còn phải biết "Thi, Thư, Lễ, Nhạc" Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện
b Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:
* Nhân trị Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và
coi người như bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: "Kỷ
sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác" (sách Luận ngữ) Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?"
* Chính danh Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người
phải làm đúng chức phận của mình "Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ) Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con"
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi
Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải
có quyền Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường) Trong Nho giáo rất chú trọng đạo làm người Phải nói đạo làm người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xă hội phong kiến Chúng ta đều biết là trong xă hội có giai cấp thì những nguyên tắc đánh giá hành vi của con người, phẩm hạnh
Trang 4040
của con người trong mối quan hệ với người khác và trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ Quốc…đều mang tính giai cấp rõ rệt và có tính chất lịch sử Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này tới thời đại khác, đến nỗi thường thường trái ngược nhau” (Enghen) Những quan niệm đạo đức mà Khổng Tử đề ra không phải là vĩnh cửu, nhưng có nhiều phương châm xử thế, đã giúp ông sống giữa bầy lang sói mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trong sáng, suy đến cùng đạo làm người ấy bao gồm hai chữ nhân nghĩa
Khổng Tử giảng chử Nhân cho học trò không lúc nào giống lúc nào, nhưng xét cho
kỹ, cốt tủy của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính là Khổng Tử nói “đối với người như đối với mình, không thi hành với người những điều mà bản thân không muốn
ai thi hành với mình cả Hơn nữa cái mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái
gì mình muốn đạt tới thì phải làm cho người đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn
mà không làm cho người xấu đi” “Nghĩa” là lễ phải, đường hay, việc đúng Mạnh Tử nói
“nhân là lòng người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người” “ Nhân là cái nhà của người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người”
Đến đời Hán nho, Đổng Trọng Thư đua nhân nghĩa vào ngũ thường Tam cương ngũ thường trở thành giềng mối trụ cột của lễ giáo phong kiến Sang Tống nho, hai chữ nhân nghĩa càng bị trừu tượng hóa Các nhà Tống nho căn cứ vào thuyết “thiện nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ nhân nghĩa sắc thần siêu hình Trời có “lý” người có “tính” bẩm thụ ở trời Đức của trời có 4 điều: nguyên, hạnh, lợi, trinh; đức của người có nhân, nghĩa,
lễ trí Bốn đức của người tương cảm với đức của trời
Hệ thống hóa lại một cách tóm tắt hai chữ “nhân nghĩa” ở một số thời điểm phát triển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “nhân nghĩa” của Nho giáo là khái niệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kỳ có thêm bớt nhưng căn bản vẫn là những lễ giáo phong kiến không ngoài mục đích duy nhất là ràng buột con người vào khuôn khổ pháp lý Nho giáo phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến Trong quá trình phát triển càng ngày nó càng bị trừu tượng hóa trên quan điểm siêu hình
Tuy nhiên quan điểm đạo đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm tích cực Một trong những đặc điểm đó là đặt rơ vấn đề người quân tử, tức là người lănh đạo chính trị