Trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia HN--- Khoa Kinh tế phát triển---BÀI GIẢNG MÔN HỌC KINH TẾ VI MÔ... Chương 8 THỊ TRƯỜNG VỐN VÀ ĐẤT ĐAI... Thị trường vốnThị trường đất đai Nội dung chủ yế
Trang 1Trường ĐH Kinh tế - ĐH Quốc Gia HN
- Khoa Kinh tế phát
triển -BÀI GIẢNG MÔN HỌC
KINH TẾ VI MÔ
Trang 2Chương 8 THỊ TRƯỜNG VỐN VÀ ĐẤT ĐAI
Trang 3Thị trường vốn
Thị trường đất đai
Nội dung chủ yếu của chương
Trang 48.1 Thị trường vốn
Vốn hiện vật
là các dự trữ hàng hóa, được tạo ra trong một quá trình sản xuất trước song lại được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ khác
là yếu tố đầu vào (trực tiếp) của quá trình sản xuất và không phải là vốn tài chính
Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất…
là tài sản hữu hình của doanh nghiệp và nền kinh tế
Trang 58.1.1 Thị trường dịch vụ vốn hiện vật
Dịch vụ thể hiện một dòng lợi ích người ta có thể thu nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, phát sinh từ những vật thể hữu hình hay sự phục vụ của người khác
Dịch vụ vốn (hiện vật) chính là dòng lợi ích mà người ta có thể khai thác được ở hàng hóa vốn (máy móc, thiết bị, nhà xưởng ) trong một khoảng thời gian nào đó
Ví dụ: Thuê chiếc máy cày có nghĩa là ta đã tham gia vào thị trường dịch vụ vốn
Thị trường dịch vụ vốn chính là thị trường thuê và cho thuê tài sản vốn
Đơn vị tính là giờ thuê và giá cả là tiền thuê một đơn vị dịch vụ vốn
Trang 6Cầu về dịch vụ vốn
Cầu về dịch vụ vốn của một doanh nghiệp, do doanh thu sản phẩm biên của vốn quyết định
Đường cầu về dịch vụ vốn thực chất là phần dốc xuống của đường
doanh thu sản phẩm biên của vốn (MRPK)
Trang 7Cầu về dịch vụ vốn
Đường cầu dịch vụ vốn là một đường dốc xuống chủ yếu phản ánh tính chất giảm dần của doanh thu sản phẩm biên khi lượng vốn sử dụng tăng lên
Trang 8Cầu về dịch vụ vốn
Nhân tố ảnh hưởng
Số lượng các yếu tố đầu vào khác phối hợp với vốn
Công nghệ sản xuất
Giá cả hay doanh thu biên của sản phẩm đầu ra
Trang 9Cầu về dịch vụ vốn
Cầu thị trường về dịch vụ vốn
Cầu thị trường về một loại dịch vụ vốn phản ánh tổng hợp quan hệ giữa tổng
số đơn vị dịch vụ vốn mà các doanh nghiệp tham gia trên thị trường sẵn sàng mua tương ứng với các mức giá
Đường cầu thị trường là đường tổng hợp theo chiều ngang các đường cầu của các ngành riêng biệt về cùng một loại dịch vụ này
Trang 10Cung về dịch vụ vốn
Cung ứng về dịch vụ vốn xuất phát từ những người sở hữu tài sản vốn và cho thuê trên thị trường.
Lượng cung ứng dịch vụ vốn của một người chủ sở hữu vốn hay của cả thị trường phụ thuộc vào tổng số dự trữ tài sản vốn
Trang 11Cung về dịch vụ vốn
Khi tiền thuê vốn tăng lên, người ta có thể cho thuê vốn với tổng số giờ thuê cao hơn bằng cách hy sinh số giờ dịch vụ vốn được giữ lại làm dự trữ cho nhu cầu cá nhân
Đường cung dịch vụ vốn trong ngắn hạn là một đường dốc lên song rất kém co giãn so với đường cung dịch vụ vốn trong dài hạn.
Trong ngắn hạn, đường cung dịch vụ vốn gắn với những tài sản vốn chuyên dụng, có tính đặc thù riêng của từng ngành, hoặc những tài sản vốn khó di chuyển hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng là một đường tương đối thẳng đứng.
Đối với những tài sản vốn được sử dụng ở nhiều ngành, đồng thời tính linh động hay khả năng di chuyển giữa các ngành cao, đường cung dịch vụ vốn của ngành trở nên co giãn hơn
Trang 12Cung về dịch vụ vốn
Giá thuê vốn cần có là mức tiền thuê vốn đảm bảo cho người sở hữu vốn bù đắp được tất cả các chi phí cơ hội cần thiết phát sinh từ việc cung
ứng dịch vụ vốn (cho thuê vốn) và có mức lợi nhuận kinh tế bằng không Bao gồm:
chi phí cơ hội của khoản tiền đầu tư phải bỏ ra để mua sắm tài sản vốn;
chi phí bảo dưỡng, khấu hao tài sản vốn;
chi phí giao dịch để tiến hành việc cho thuê
Trang 13Cung về dịch vụ vốn
Giả sử giá mua một đơn vị tài sản vốn là 200 triệu đồng, lãi suất thực tế trên thị trường là 5%, thì chi phí cơ hội của việc mua sắm và nắm giữ một đơn vị tài sản vốn trong 1 năm sẽ là: 200 triệu đồng × 0,05 = 10 triệu đồng
Nếu trung bình mức độ hao mòn của tài sản vốn sau 1 năm sử dụng là 10%, thì chi phí bảo dưỡng, khấu hao của 1 đơn vị tài sản vốn trong ví dụ ở trên là: 200 triệu đồng × 0,1 = 20 triệu đồng
Nếu người sở hữu còn phải bỏ ra thời gian, công sức và một số chi phí giao dịch khác là 1 triệu đồng/năm/ đơn vị tài sản vốn
Giá thuê vốn cần có của 1 đơn vị vốn là:
(10 + 20 + 1) = 31 (triệu đồng)
Trang 14Cung về dịch vụ vốn
r là lãi suất thực tế,
d là tỷ lệ khấu hao, bảo dưỡng trung bình,
c là tỷ lệ chi phí giao dịch khác so với giá trị của tài sản vốn
P là mức giá mua tài sản, ta có:
Giá thuê vốn cần có = P (r + d + c)
Nếu xem như các yếu tố sản xuất khác tham gia vào quá trình kinh doanh đều được trả tiền
thuê và khoản này được tách ra thì giá thuê vốn phụ thuộc P, r và d
Trang 15Tiền thuê vốn cân bằng và sự điều chỉnh trên thị trường dịch vụ vốn
Trang 168.1.2 Thị trường vốn hiện vật
Đối tượng mua, bán trên thị trường vốn hiện vật chính là tài sản vốn
Người mua tài sản vốn (máy móc, thiết bị ) là muốn sở hữu hoàn toàn nó
Người bán tài sản vốn cũng là người chuyển giao hoàn toàn quyền sở hữu tài sản vốn cho
người khác
Lượng giao dịch trên thị trường này là số lượng vốn hiện vật được đo theo những đơn vị tự nhiên của nó
Trang 17Cầu về vốn hiện vật Giá trị hiện tại của một tài sản
Nhu cầu mua tài sản vốn xuất phát từ những người muốn sở hữu tài sản vốn để cho thuê
Chi phí mua một đơn vị vốn hiện vật (hoặc diễn đạt là một đơn vị tài sản vốn cũng vậy) chính là giá thị trường của nó
Khi có 1 triệu đồng có thể mua sắm các hàng hóa cần thiết và thỏa mãn ngay tức khắc các nhu cầu của
mình, hoặc cho vay để có thể có một khoản tiền lớn hơn 1 triệu đồng trong tương lai
Giá trị hiện tại của của một lượng tiền Xt nhận được (hay chi ra) ở thời điểm t trong tương lai chính là lượng tiền mà nếu ngày hôm nay chúng ta đem nó đi cho vay thì đến thời điểm t, nó cũng sẽ tích lũy thành Xt
Trang 18Cầu về vốn hiện vật Giá trị hiện tại của một tài sản
PV(Xt) là giá trị hiện tại của Xt, và giả sử PV(Xt) = Y,
r là lãi suất thực tế của mỗi ky
đem Y cho vay 1 ky, lượng tiền tích lũy được sẽ là Y(1+r)
Nếu cho vay liên tục trong cả t ky thì t lượng tiền cuối cùng tích lũy được sẽ bằng
Y=PV(Xt) và = Xt
Trang 19
Cầu về vốn hiện vật Giá trị hiện tại của một tài sản
Đường cầu về một loại tài sản vốn trên thị trường là một đường dốc xuống
Nhân tố ảnh hưởng
các mức tiền cho thuê vốn dự kiến trong tương lai
mức lãi suất thị trường
Trang 20Cung về vốn hiện vật
Cung về vốn hiện vật hay tài sản vốn xuất phát chính từ những người sản xuất ra những tài sản này
Đường cung thị trường vốn hiện vật điển hình trong trường hợp thị trường mang tính cạnh
tranh là một đường dốc lên phản ánh tính chất dốc lên của đường chi phí biên
trong ngắn hạn, đường cung thường dốc hơn, kém co giãn hơn so với đường cung trong dài hạn
Trang 21Giá cả của tài sản vốn
Trang 228.2 Thị trường đất đai
Đất đai là một loại yếu tố sản xuất có thể phục vụ lâu dài cho nhiều quá trình sản xuất khác nhau
Thị trường dịch vụ đất đai là thị trường thuê và cho thuê đất đai
Thị trường tài sản đất là thị trường trên đó đối tượng giao dịch là bản thân đất đai với tư cách là một tài sản
Trang 23Cung về đất đai cho thuê
Đất đai cũng như nhiều tài nguyên thiên nhiên khác là những sản vật của tự nhiên mà con người được ban tặng chứ không phải do con người tạo ra
Lượng cung về đất đai cho thuê xét trong toàn bộ nền kinh tế gần như là một đại lượng
không thay đổi theo sự thay đổi của tiền thuê đất
Đường cung về đất đai cho thuê là một đường thẳng đứng
Trang 24Cầu về thuê đất đai
Đường cầu về dịch vụ đất đai của một người sản xuất hay một doanh nghiệp chính là phần
dốc xuống của đường doanh thu sản phẩm biên của đất đai MRPA, do đó giữa lượng cầu về
đất thuê và mức giá thuê tồn tại một mối quan hệ nghịch biến
Đường cầu phụ thuộc:
Khối lượng các yếu tố sản xuất khác phối hợp với đất đai.
Trình độ công nghệ
Giá cả hay doanh thu biên sản phẩm đầu ra
Trang 25Tiền thuê đất
Trang 26Giá cả đất đai
Nguồn cung về đất đai xuất phát từ những người đang sở hữu đất
Tính chất cố định của nguồn cung khiến ta có thể thể hiện đường cung về đất đai như một đường thẳng đứng
Trong dài hạn, giá cân bằng thị trường đối với tài sản đất chính là giá trị hiện tại của nó
Trang 27Ví dụ
Tiền thuê đất là 10 triệu đồng
Lãi suất thị trường thực tế là 5% /năm
Giá trị hiện tại của mảnh đất này là: 10 triệu đồng /0,05 = 200 triệu đồng
Giá cân bằng của mảnh đất là 200 triệu đồng
Nếu mảnh đất trên có giá cao hơn 200 triệu đồng, việc đầu tư vào tài sản đất chắc chắn không có lợi bằng việc đem tiền gửi vào ngân hàng cho vay
Trang 28Thuế đất và các tài nguyên khan hiếm khác
Khi cung là cố định và hoàn toàn không co giãn theo giá, việc chính phủ đánh thuế vào các hàng hóa giao dịch trên thị trường sẽ không làm thay
đổi trạng thái cân bằng thị trường
Gánh nặng thuế hoàn toàn do người sản xuất
gánh chịu
Trang 29Phân bổ đất đai cho những mục tiêu sử dụng khác nhau
Vì tổng quỹ đất đai chung là cố định nên khi đất được phân bổ cho một ngành nào đó nhiều lên thì điều đó cũng hàm nghĩa là đất được dành cho các ngành còn lại phải ít đi
khi tiền thuê đất đai giữa các ngành là chênh lệch nhau, người ta có thể chuyển đất đai từ lĩnh vực chỉ thu được tiền thuê thấp đến cung ứng hay cho thuê ở lĩnh vực có tiền thuê cao
Lượng cung đất đai cho các ngành riêng biệt trong nền kinh tế, không phải là cố định trong
dài hạn
Trang 30Cân bằng ngắn hạn trên từng thị trường nhánh
Trang 31Cân bằng dài hạn
Chỉ khi giá thuê những mảnh đất có diện tích, chất lượng (độ màu mỡ, vị trí )
tương đương nhau ở những ngành khác nhau là bằng nhau, thị trường đất đai mới đạt đến điểm cân bằng dài hạn
Ở điểm cân bằng này, sự phân bổ đất đai cho những mục tiêu sử dụng khác nhau hay cho các ngành khác nhau mới ổn định