1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán tại việt nam

102 196 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 468 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮTTTTK: Thị trường chứng khoán CK: Chứng khoán TTCP: Thị trường cổ phiếu TTTP: Thị trường trái phiếu TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán QTDN: Quản trị doanh n

Trang 1

CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT

TTTK: Thị trường chứng khoán

CK: Chứng khoán

TTCP: Thị trường cổ phiếu

TTTP: Thị trường trái phiếu

TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán

QTDN: Quản trị doanh nghiệp

CTNY: Công ty niêm yết

UBCKNN: ủy ban chứng khoán Nhà nước

BYC: Đường cong lợi suất trái phiếu chuẩn

TTTC: Thị trường tài chính

NHTM: Ngân hàng thương mại

CPH DNNN: Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

XK: Xuất khẩu

NH: Ngân hàng

Trang 2

Lời nói đầu

Thị trường vốn là yếu tố cơ bản nhất của nền kinh tế thị trườnghiện đại Hoạt động của nó thể hiện hoạt động của nền kinh tế hànghóa, dịch vụ Giá cả thị trường này phản ánh hiệu quả của hoạt độngsản xuất kinh doanh Do đó, người ta ví thị trường vốn như một “nềnkinh tế tượng trưng” cho nền kinh tế thực (nền kinh tế hàng hóa dịchvụ) Qua đó, có thể “đo” được hiện trạng của nền kinh tế thực

Thị trường chứng khoán với tư cách là một bộ phận trọng yếu củathị trường vốn tại Việt Nam, thị trường này khai trương hoạt động vàotháng 7/2000, nhưng vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và chưaảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế Những giải pháp nhằm hoàn thiệncho thị trường vốn trong thời gian tới thực chất là hoàn thiện cho hoạtđộng của thị trường chứng khoán

Để đi tìm giải pháp cho hoàn thiện và phát triển thị trường vốn phảitập trung nghiên cứu giải pháp cho hoàn thiện thị trường chứng khoánđồng thời tạo ra mối liên hệ mật thiết với các thị trường khác trong hệthống tài chính như: thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu chính phủ,

…và nâng cao vai trò của hệ thông ngân hàng thương mại Đây lànhững vấn đề đòi hỏi phải được tiến hành trong thời gian tới Vì tínhcấp bách và cần thiết của đề tài nhất là trong tình hình hiện nay thịtrường chứng khoán Việt Nam một kênh quan trọng nhất của thị

Trang 3

trường vốn đang đóng băng do đó những giải pháp hoàn thiện cho thịtrường vốn trong giai đoạn 2006-2010 là tìm ra những giải pháp nhằmmang lại sự sôi động vốn có của nó, vì những lý do đó khiến tôi lựachọn đề tài: Giải pháp hoàn thiện và phát triển thị trường vốn giaiđoạn 2006-2010

Trong khuôn khổ của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp, các vấn đềtrên sẽ được đề cập tới và tìm những giải pháp chính sách nhằm tháo

gỡ những khó khăn đang hiện hữu cản trở sự phát triển của thị trườngvốn tại Việt Nam Nội dung của đề tài được kết cấu qua ba chương:

Chương 1: Tổng quan về thị trường vốn và thị trường chứng khoán Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường vốn và thị trường chứngkhoán tại Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển thị trườngvốn Việt Nam giai đoạn 2006-2010

Trong khuôn khổ của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp, các vấn đềtrên sẽ được đề cập tới và tìm những giải pháp chính sách nhằm tháo

gỡ những khó khăn đang hiện hữu cản trở sự phát triển của thị trườngvốn tại Việt Nam

Một lần nữa tôi xin được cảm ơn tới CIEM, cơ quan mà tôi thực tập

đã giúp đỡ tôi rất nhiều về tài liệu và tạo điều kiện cho tôi hoàn thiệnchuyên đề này Đồng thời xin cảm ơn tới Ths Bùi Đức Tuân, người

đã hướng dẫn rất nhiệt tình cho tôi trong cả giai đoạn thực tập

Trang 4

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN VÀ THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN

I/Tổng quan về thị trường vốn

1 Khái niệm chung về thị trường vốn

Thị trường vốn là thị trường cho các khoản vốn dài hạn Thịtrường này cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của Chínhphủ, của các doanh nghiệp và của các hộ gia đình Thị trường vốngồm có thị trường vay nợ dài hạn và thị trường chứng khoán

Trang 5

Các công cụ của thị trường vốn có thời hạn đáo hạn trên mộtnăm So với các công cụ của thị trường tiền tệ, các công cụ của thịtrường vốn có độ rủi ro cao hơn, do đó chúng có mức lợi tức cao hơn Trong lịch sử hình thành thị trường tài chính, thị trường tiền tệ hìnhthành trước do ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân cưchưa cao và ban đầu nhu cầu vốn cũng chủ yếu là vốn ngắn hạn Sau

đó, cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu về các nguồn vốn dài hạncho đầu tư xuất hiện và thị trường vốn ra đời để đáp ứng nhu cầu này

2 Nguyên nhân của sự hình thành thị trường vốn

2.1 Nhóm nguyên nhân khách quan

Việc hình thành thị trường vốn là một hiện tượng kinh tế cần thiết

khi phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường Kinh nghiệm thế giớicho thấy các nước phát triển theo cơ chế thị trường thì đều phải tuântheo quy luật khắt khe của thị trường: Quy luật giá cả, cạnh tranh vàcác quy luật của quan hệ cung cầu Trong nền kinh tế thị trường cácyếu tố sản xuất là hàng hóa và đòi hỏi khác quan phải có các thịtrường giành cho từng loại hành hóa đặc biệt đó Vì thế trong cơ cấuthị trường của các nước kinh tế thị trường bên cạnhh thị trường hànghóa cho tiêu dùng, còn có thị trường tư liệu sản xuất, thị trường sứclao động, thị trường vốn và thị trường dịch vụ thông tin…Điều đóchứng tỏ thị trường vốn là một yếu tố cấu thành đặc biệt quan trọngcủa nền kinh tế thị trường và nó cũng có đầy đủ các đặc trưng củamột thị trường, nó tồn tại là khách quan và ra đời tự phát trong nềnkinh tế thị trường Nhiệm vụ của chung ta là phải kịp thời nắm bắtđược nhu cầu khách quan, nghiên cứu và nhanh chóng đề ra các biện

Trang 6

pháp, chính sách kích thích nhanh quá trình hình thành và điều chỉnh

xu hướng hoạt động của thị trường dặc biệt này và quỹ đạo hoạt động

có tổ chức và sử dụng hết các ưu thế, tác dụng của nó đối với pháttriển kinh tế-xã hội với mục đích cung ứng kịp thời các nguồn vốncho các nhu cầu về vốn đầu tư của nền kinh tế Chúng ta có thể rút ramột số nguyên nhân khách quan chủ yếu của sụ xuất hiện thị trườngvốn ở các nước, sau đây:

- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phát triển ngày càng tăng của phâncông lao động theo hướng chuyên môn hóa theo ngành, nghề trong cơcấu sản xuất của các doanh nghiệp Quá trình chuyên môn hóa theongành càng cao đòi hỏi khách quan sự giao lưu, sự luân chuyển cácyếu tố của lực lượng sản xuất, trong đó có sự luân chuyển các nguồnvốn tài chính giũa các doanh nghiệp và công cụ thuận lợi nhất để thựchiện sự giao lưu nói trên là các cổ phiếu và trái phiếu (ở các nướcTBCN chủ yếu dưới dạng cổ phần)

- Nguyên nhân thứ hai (bắt nguồn từ nguyên nhân t hứ nhất) thểhiện ở chỗ: sự luân chuyển các nguồn vốn tài chính giữa các doanhnghiệp thông qua các hoạt động mua-bán cổ phần chủ yếu được thựchiện trên thị trường chứng khoán (thị trường chứng khoán là hìnhthức biểu hiện của thị trường vốn) và thị trường “ngầm”

- Nguyên nhân thứ ba là do quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thếgiới ngày càng cao làm cho các quan hệ thị trường nội địa nhanhchóng thay đổi theo quan tính của thị trường thế giới (đa số thị trườngvốn của các nước dang phát triển ở Mỹ la tinh, Đông Nam Á, Bắc

Trang 7

Phi, Trung Đông ra đời là do ảnh hưởng của quá trình quốc tế hóa nềnkinh tế hay có thể gọi là do ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài)

2.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan

Theo kinh nghiệm khái quát của các nước kinh tế thị trường phát

triển (Mỹ, Anh, Pháp, Nhật…) và của các nước kinh tế thị trường đang phát triển (các nước Mỹ la tinh, Hồng Kông, Nam Triều Tiên, Thái Lan, Xingapo, và các nước Trung Đông ) thì việc thành lập thị trường vốn do những nguyên nhân chủ quan sau:

- Nguyên nhân bao quát nhất là nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cácnguồn vốn tài chính trong quá trình phát triển kinh tế và coi đây lànhân tố quan trọng nhất để phát triển sản xuất Thị trường vốn là

“van” điều tiết hữu hiệu nhất các nguồn vốn từ nơi sử dụng kém hiệuquả sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn

- Mở rộng nền tảng của quyền sở hữu của cải tài chính và bất độngsản Thị trường vốn là nơi diễn ra quá trình chuyển nhượng quyền sởhữu về vốn tài sản hết sức thuận lợi và là môi trường cho việc đa dạnghóa các chủ thể sở hữu về vốn ở các doanh nghiệp

- Tạo điều kiện cho nhiều người sử dụng vốn đầu tư Thị trường vốnluôn bảo đảm và phục vụ được bất cứ ai có nhu cầu về vốn đầu tư sảnxuất thông qua các tổ chức tài chính trung gian (ngân hàng thươngmại, Sở giao dịch chứng khoán, các quỹ tín dụng, các công ty bảohiểm, các quỹ hưu trí…)

- Bảo đảm sẵn sàng các nguồn vốn cho đầu tư dài hạn Thị trường vốnkhác với ngân hàng là luôn sẵn sàng cung cấp vốn dài hạn cho cácdoanh nghiệp kịp thời, đúng lúc và đầy đủ số lượng cần thiết, không

Trang 8

phải thông qua các thủ tục hành chính khắt khe, mức độ vay hạn chếhoặc chủ yếu là vay ngắn hạn, nếu quá hạn phải trả lãi cao hơn.

- Mở rộng các dịch vụ tài chính thông qua hoạt động của các tổ chứctài chính

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vànâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (những người đầu

tư chủ yếu trên thị trường vốn của các nước Đài Loan, Hồng Kông,Malaixia,và Thái Lan là các công ty siêu quốc gia, công ty nước ngoài

và các chủ đầu tư tư nhân là người nước ngoài)

3.Cơ cấu thị trường vốn

Có thể phân biệt hai dạng cơ cấu của thị trường vốn căn cứ vào các

bộ phận cấu thành và vào tổ chức của thị trường vốn

3.1.Các bộ phận cấu thành thị trường vốn

Về mặt lý thuyết, thị trường vốn bao gồm 3 bộ phận sau đây:

+Thị trường chứng khoán Nhà nước

+Thị trường trái phiếu

3.1.1.Thị trường chứng khoán Nhà nước

Thị trường chứng khoán Nhà nước là nơi diễn ra các hoạt động mua

và bán các chứng khoán Nhà nước (các giấy ghi nợ của Nhà nước

Trang 9

như: phiếu công trái, tín phiếu kho bạc Nhà nước dài hạn và các loạichứng chỉ đầu tư) Thị trường chứng khoán Nhà nước hoạt độngtương đối ổn định và có tỷ trọng khá cao trong thị trường chứngkhoán Có thể giải thích bằng các lý do chủ yếu như: các chứng khoánNhà nước có lãi suất cố định; ngân sách Chính phủ luôn bội chi và do

đó Nhà nước vay nợ của dân ngày càng nhiều và với số lượng lớn Do

đó, thị trường này được coi là chỉ dẫn mức nợ trong nước của Chínhphủ (Mỹ và Anh là hai nước có mức nợ trong nước lớn nhất thế giới

3.1.2.Thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua báncác trái phiếu (các chứng khoán có lãi suất cố định) Đây là loại thịtrường ít gặp rủi ro, mạo hiểm hơn, vì các loại chứng khoán này đểgiao dịch có lai suất cố định và có thời hạn hoàn vốn được ấn địnhtrước Trường hợp công ty bị phá sản thì trái phiếu cũng là một món

nợ mà công ty cần phải ưu tiên thanh toán trước Nhưng người ta ítnói tới thị trường này vì giá cả của trái phiếu rất ít khi biến động sovới các thị trường khác như: thị trường cổ phiếu

3.1.3.Thị trường cổ phiếu

Đây là nơi thực hiện quá trình mua và bán các cổ phiếu, thị trường

cổ phiếu là thị trường có dung tích cao nhất là hạt nhân cơ bản của thịtrường chứng khoán Thị trường cổ phiếu gặp nhiều rủi ro và mạohiểm, cho nên quy mô và phạm vi hoạt động của nó cũng luôn luônthay đổi Thị trường này cũng rất nhạy cảm với những biến động vềkinh tế như: lạm phát, khủng hoảng, thất nghiệp, chiến tranh…Lý do

cơ bản nhất để giải thích ở đây, vì lãi suất cổ phiếu phụ thuộc vào tình

Trang 10

hình sản suất, kinh doanh của các con nợ- người kinh doanh.Lợinhuận kinh doanh càng cao, thì xí nghiệp càng có nhiều khả năng trảlợi tức cổ phần cao Do đó, giá trị của xí nghiệp có ảnh hưởng lớn tớigiá trị cổ phần Thị trường cổ phiếu thường có doanh số cao nhất vềtrao đổi cổ phiếu so với các dạng thị trường khác Vì vậy, thị trườngnày là một bộ phận cơ bản của thị trường chứng khoán Nói thị trườngchứng khoán phát triển, tức là nói tới thị trường cổ phiếu phát triểnhoặc xây dựng thị trường chứng khoán xét cho cùng là xây dựng vàthiết lập thị trường các cổ phiếu.

3.2.Cơ cấu tổ chức của thị trường vốn

Cơ cấu tổ chức của thị trường vốn, trước hết, gồm: Hệ thống cácngân hàng, các tổ chức tài chính khác và sở giao dịch chứng khoán.Thực chất, đây là các tổ chức tài chính trung gian làm nghiệp vụ môigiới chứng khoán Nói đến thị trường chứng khoán, nhiều người chorằng đây là Sở giao dịch chứng khoán Thực ra, các hoạt động giaodịch chủ yếu diễn ra trên sở giao dịch Nhưng về mặt lý thuyết, người

ta phân ra làm hai nấc: Thị trường sơ cấp (phát hành và phân phối cácchứng khoán) và thị trường thứ cấp (Sở giao dịch chứng khoán – mua

và bán các chứng khoán ) Thị trường sơ cấp hàm ý chỉ hoạt độngmua bán cổ phiếu, trái phiếu mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăngthêm quy mô đầu tư vốn Thị trường thứ cấp là hoạt động mua báncác cổ phiếu, trái phiếu… đến tay thứ hai, mà không làm tăng thêmquy mô đầu tư vốn, không thu hút thêm được các nguồn tài chínhmới Ở nhiều nước (các nước NIC châu Á) không có sự phâm biệt rõràng giữa hai loại thị trường trên Các nước phương Tây và Mỹ phân

Trang 11

định rõ ràng hai cấp thị trường Việc phân định rõ hai cấp của thịtrường chứng khoán có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình tiếpcận thị trường: nghiên cứu, tìm hiểu các quan hệ cung-cầu quan hệ cơbản nhất có tác dụng định tính và định luợng quy trình hoạt động củathị trường Việc phát hành và phân phối các chứng khoán chỉ là nhữngbước ban đầu chuẩn bị tiền đề vật chất để thực hiện hành vi chủ yếucủa thị trường chứng khoán-mua và bán các chứng khoán (Sở giaodịch chứng khoán), Do đó, việc Nhà nước cho phép

4.Các công cụ, chủ thể và đối tượng hoạt động của thị trường vốn

4.1.Các công cụ tham gia thị trường vốn

Công cụ của thị trường vốn bao gồm nhiều loại với các tên gọi riêngbiệt Nhung theo cách gọi mang tính thống nhất, nếu xét về mặt lịch

sử thì các công cụ của thị trường này có tên chung là các chứng khoándài hạn:

Cổ phiếu là một loại chứng khoán có giá, ghi nhận quyền sở hữu

vốn đóng góp vào công ty cổ phần, đồng thời đảm bảo cho người có

cổ phiếu được quyền lĩnh một phần thu nhập của công ty tương ứngvới số tiền ghi trên mặt phiếu Thu nhập này gọi là lợi tức cổ phần Cóhai loại cổ phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi được hưởngmột số khoản ưu đãi nhất định so với cổ phiếu thường)

Chứng khoán có thu nhập cố định là các loại giấy tờ ghi nợ có xác

định tỷ lệ tiền lãi hàng năm phải trả cho người sở hữu Thuộc loại nàygồm có: Trái phiếu Nhà nước, trái phiếu cầm cố, trái phiếu của cáccông ty công nghiệp, tin phiếu dài hạn của kho bạc

Trang 12

-Trái phiếu: Khác với cổ phiếu người phát hành trái phiếu là người

mắc nợ đối với người mua trái phiếu

Đối với người mua trái phiếu vìi nhận lợi tức hàng năm hay hàng quý

do vậy, nếu lạm phát xảy ra sẽ giảm giá trái phiếu trên thị trường

- Trái phiếu của Nhà nước là giấy tờ ghi nợ do các cơ quan chính

quyền Nhà nước Trung ương phát hành để huy động vốn trong nềnkinh tế Thuộc loại này có trái phiếu của Chính phủ (công trái quốcgia), trái phiếu của các ngành trong Chính phủ (như ngành đường sắt,bưu điện)

- Trái phiếu của chính quyền các địa phương được phát hành nhằm

mục đích thực hiện các chương trình công cộng trong khi các nguồnvốn của của ngân sách địa phương bị mất cân đối Bên cạnh tráiphiếu, chính quyền địa phương còn huy động vốn bằng cách vay củacác ngân hàng

-Trái phiếu cầm cố là giấy tờ ghi nợ có bảo đảm bằng tài sản cầm cốcủa chính quyền địa phương đối với ngân hàng khi nhận tiền vay dàihạn Bên cạnh trái phiếu cầm cố (khế ước vay nợ) Khi vay dài hạnngân hàng, chính quyền địa phương có thể phát hành trái phiếu côngcộng(vì, mục đích vay là để đầu tư cho các công trinh công cộng) loạitrái phiếu này tuy không ghi vật cầm cố, nhưng trên thực tế, chínhquyền phải bảo đảm trả nợ bằng mọi tài sản của mình (các nguồn thuthuế đã và sẽ có)

-Trái phiếu công nghiệp là loại giấy tờ do các tập đoan công nghiệp

phát hành để huy động thêm vốn, khác với cổ phiếu, trái phiếu được

Trang 13

hưởng một tỷ lệ lãi suất nhất định và sẽ được hoàn trả lại vốn ban đầudần cho người mua sau nhữung thời hạn nhất định ghi trên trái phiếu.

-Tín phiếu kho bạc loại giấy ghi nợ của kho bạc khi huy động vốn để

bổ xung quy ngân sách Tín phiếu kho bạc có hai loại, loại dài hạn vàloại ngắn hạn Tín phỉếu ngắn hạn được lưu thông trên thị trường tiền

tệ Tín phiếu dài hạn được lưu thông trên thi trường vốn Nói chung,loại tín phiếu dài hạn ít được phát hành, kho bạc chủ yếu phát hànhcác loại tín phiếu ngắn hạn (dưới 1 năm)

-Trái phiếu đầu tư là chứng chỉ về tỷ lệ tham gia vào quỹ đầu tư của

tập đoàn đầu tư Trái phiếu đầu tư cũng đem lại thu nhập cho chủ sởhữu, nhưng chúng không thuộc vào các loại chứng khoán đã nêu ởtrên, mà ngược lại chúng có thể được phát hành dưới dạng các chứngkhoán có thu nhập cố định, hoặc dưới dạng các cổ phiếu Bên cạnhchứng khoán đầu tư, các nhà đầu tư còn bổ xung quỹ đầu tư của mìnhbằng cách mở ra quỹ tiết kiệm đầu tư dể thu hút nguồn tiết kiệm hàngtháng của các chủ nguồn vốn và của nhân dân

4.2.Các chủ thể và đối tượng trên thị trường vốn

Khi nghiên cứu về thị trường vốn còn phải đề cập tới các chủ thểtham gia thị trường vốn Thông thường hai loại chủ thể quan trọngtrên bất kì loại thị trường nào làm về mặt pháp lý, người mua vàngười bán có thể là các pháp nhân Trong đó:

-Thể nhân là các công dân Việt Nam và các ngoại kiều

-Pháp nhân, bao gồm: các công ty nặc danh, công trách nhiệm hữuhạn; các hiệp hội tư thương hây cổ phần; các HTX hay liên HTX, CácDNNN; các cơ quan nhà nước tự chủ về tài chính; mọi pháp nhân

Trang 14

khác có tính chất kỹ nghệ hay thương mại hoặc các nghiệp vụ đem lạilợi tức; các hội dân sự, các hiệp hội đoàn thể và các tổ chức có nhữnghoạt động hay những nghiệp vụ đem lại lợi tức … Để trở thành mộtpháp nhân các tổ chức cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có đủ các điềukiện cơ bản sau:

+ Một là tổ chức được Nhà nước thành lập, thừa nhận hoặc chophép hoạt động với một cơ cấu tổ chức thống nhất

+Hai là có tài sản riêng

+Ba là trách nhiệm độc lập về hoạt động của mình trên cơ sở tài sảnđó

+Bốn là có tên gọi riêng và hoạt động có danh nghĩa riêng

Trên thị trường vốn các thể nhân và pháp nhân xuất hiện với nhữngmục đích khác nhau, có thể là những chủ thể mua chứng khoán haybán chứng khoán hoặc làm môi giới trung gian Trên thị trường vốn,đối tượng mua và bán là quyền sử dụng các nguồn tài chính dài hạn,khác với thị trường hàng hóa, nơi mà đối tượng mua bán là sản phẩm

và dịch vụ, trên thị trường tài chính nói chung và thị trường vốn nóiriêng, đối tượng mua bán lại khá đơn giản, sự đa dạng hóa hình thứcmua bán trên thị trường vốn là tùy thuộc nhiều vào người mua, Vì thế,những người mua trên thị trường vốn có vai trò chủ đạo cao

Những người bán quyền sử dụng vốn trên thị trường vốn có rất nhiềuloại Nhưng với sự phát triển dần của thị trường vốn và trong điềukiện sự phức tạp của các mối quan hệ thị trường tăng lên, nảy sinhnhưng cơ quan, tổ chức trung gian, làm nghèo đi những hiện tượng

Trang 15

mua bán trực tiếp Lúc này người bán quyền sự dụng vốn được gọibằng chính cái tên: nhà kinh doanh vốn.

Theo kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường Các nhàkinh doanh vốn trên thị trường có nhiều loại Đó là: các nhà kinhdoanh tư nhân, những tổ chức như: các quỹ hưu trí, các quỹ tương hỗ,các công ty bảo hiểm, các ngân hàng, các công ty đầu tư quốc gia, cácquỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ…

Các tổ chức trung gian trên thị trường vốn có vai trò quan trọng nhưcầu nối giữa người phát hành chứng khoán đễ được nhận sự đầu tưvốn (mua quyền sử dụng vốn) với các tổ chức và cá nhân (bán quyền

sử dụng vốn) Theo sự khái quát kinh nghiệm đó thì: Các công ty môigiới, những người tạo thị trường (các người bán hộ chứng khoán), cáccông ty tài chính -chứng khoán

Để thực hiện sự quản lý Nhà nước đối với thị trường vốn, ở các nước

đề thành lập Ủy ban chứng khoán mà trong thành phần của nó thườngbao gồm: Bộ Tài chính, Bộ Thuơng mại và ngân hàng Bên cạnh đó, ởnhững nước phát triển những người bán chứng khoán thường liên kếtvới nhau để thành lập các hiệp hội tự điều hòa

5.Cơ chế vận động của thị trường vốn

Chúng ta đã biết thị trường hàng hóa và cơ chế hoạt động của nó.

Trong lĩnh vực tài chính, thị trường vốn cũng vận hành theo theo một

cơ chế đặc biệt, bao gồm: cơ chế xác định giá chứng khoán, cơ chếhoạt động của sở giao dịch chứng khoán ảnh hưởng đến sự hoạt độngcủa thị trường vốn

5.1.Cơ chế giá chứng khoán

Trang 16

Thị trường vón là một thị trường được phân làm hai cấp: thị tường

cấp 1 và thị trường cấp 2 tương ứng với mỗi cáp của thị trường làmột loại giá của chứng khoán Vì thế có thể phân biệt hai laọi giá củachứng khoán: giá cấp 1 và giá cấp 2

- Giá cấp 1 (giá phát hành chứng khoán hay còn gợi là giá trị danhđịnh của chứng khoán) là giá trị được in trên chứng khoán, nó đượcxác định bằng giá trị danh định của đợt phát hành chia cho tổng sốchứng khoán cần phát hành Chứng khoán có nhiều loại, nhưng người

ta phân chia jhai laọi chứng khoán chủ yếu: chứng khoán có lãi suất

cố định và chứng khoán có lãi suất biến động Do đó ở đây chúng ta

có thể phân biệt được giá cấp 1 đối với hai loại chứng khoán nói trên

- Giá cấp 2 (giá thị trường chứng khoán) là giá trị mà chứng khoánthực sự được mua bán lại trên thị trường, nó phụ thuộc vào cung cầucủa chứng khoán Trên thực tế cũng có thể phân biệt giá trị thị trườngcủa hai dạng chứng khoán , chứng khoán có lãi suất cố định và chứngkhoán có lãi suất biến động

+ Giá trị thị trường của cácchứng khoán có lãi suất cố định là giáthực tế mua bán lại chứng khoán trên thị trường, nó phụ thuộc vào lãisuất thị trường Sau khi phát hành, các trái phiếu được mua bán theogiá thị trường Giá thị trường của trái phiếu có thể tăng hay giảm sovới giá trị danh định, dẫn đến giá lãi suất thực tế khác với lãi suấtdanh định Lãi suất thực tế có thể cao hoặc thấp hơn lãi suất danhđịnh

+ Giá trị của thị trường cổ phiếu là giá trị thực sự của cổ phiếuđược mua bán trên thị trường Nó thay đổi hàng giờ, hàng ngày, hoặc

Trang 17

ổn định trong thời gian ngắn.Giá trị của cổ phiếu này phụ thuộc vàonhiều yếu tố, yếu tố quyết định nhất là quan hệ cung cầu, đến lượtmình quan hệ cung cầu lại do một loạt các yếu tố khác quyết định Ngoài ra giá trị của cổ phiếu còn phụ thuộc vào cổ tức (lãi suất cổphần)

Người bán cổ phiếu bao giờ cũng muốn bán với giá cao, còn ngườimua lại muốn mua với giá thấp Giá trị cân bằng do hai thái cực đượctạo ra bởi bên mua và bên bán sẽ cân bằng tại điểm cân bằng cungcầu Đó chính là cách xác định giá cấp 2 của cổ phiếu

5.2.Cơ chế hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán

Để hiểu được nội dung và phương thức hoạt động của các Sở giaodịch chứng khoán cần phải nhận thức rằng , thị trường chứng khoánkhông tham gia vào hoạt động mua bán chứng khoán, nó chỉ là nơigiao dịch, một trung tâm tạo điều kiện cho các giao dịch đựoc tiếnhành một cách thuận lợi, dễ dàng Hạ thấp các chi phí bằng nhữngluật lệ phù hợp Thị trường chứng khoán không ấn định giá cổ phiếu,không can thiệp hình thành giá cổ phiếu, nó chỉ đảm bảo cho việc đấuthầu hoặc thỏa thuận mua bán chứng khoán diễn ra đúng pháp luật,công khai và tránh lừa đảo Thị trương chứng khoán cũng không kiểmsoát việc mua bán mà chỉ đóng vai trò như quan tòa để xử lý các kiệncáo trong mua bán chứng khoán

Như vậy, trong điều kiện kinh tế hiện đại các Sở giao dịch chứngkhoán chính là nơi tập trung các giao dịch chứng khoán một cách có

tổ chức tuân theo những luật định nhất định

6.Các điều kiện cho sự hình thành và phát triển thị trường vốn

Trang 18

Kinh nghiệm khái quát của các nước cho thấy để có một thị trường

vốn phải có 5 điều kiện chủ yếu sau:

Điều kiện thứ nhất- Yếu tố con người và guồng máy quản lý

Cho tới nay, Nhà nước ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế thị

trường, khuyến khích các thành phần kinh tế, chấp nhận cạnh tranh vàđặc biệt quan tâm tới yếu cầu phát triển thị trường vốn Như vậy, vềmặt lý thuyết, yếu tố con người phần nào đã được đáp ứng Vấn đềcòn lại là tổ chức bộ máy quản lý sao cho bộ máy này có đủ khả năngnhập cuộc, lĩnh hội và điều hành thị trường vốn Vấn đề này chúng tacòn qua chậm trễ, thậm chí cho tới nay vẫn chưa có sự chuẩn bị theomột chương trình cụ thể Mọi người vẫn rất mơ hồ về thị trường vốn,không biết bắt đầu từ đâu và triển khai ra sao Đội ngũ cán bộ quản lýchưa được đào tạo có bài bản về các nghiệp vụ trên thị trường

Điều kiện thứ hai- phát triển kinh tế hàng hóa và quan hệ thị

trường (điều kiện vật chất)

Thị trường bao gồm ba chủ thể có quan hệ với nhau: người mua,

người bán và người môi giới Nguời mua phải có tiền và người bánphải có hàng hóa Có như vậy mới hình thành thị trường Do đó, hànghóa và tiền để tiêu thụ hàng hóa là điều kiện tiên quyết để hình thànhthị trường

- Đối với yếu tố hàng hóa, trên thị trường vốn, các loại hàng hóaphải đuợc đa dạng hóa Nhưng như đã phân tích ở các phần trên tất

cả các hàng hóa trên thị trường này đề do Nhà nước (Chính Phủ),các trung gian tài chính và các doanh nghiệp tạo ra Vậy, ở nước

Trang 19

ta, loại hàng hóa nào sẽ được “sản suất” để đem ra tiêu thụ trước

và với điều kiện nào? Thời gian nào?

- Đối với yếu tố người mua, Thu nhập của dân cư được chia làm haiphần: phần để chi phí cho tiêu dùng thường xuyên (ăn, ở, đi lại,giải trí…) và phần tiết kiệm dùng cho mục đích khác Chính phầntiết kiệm này là đối tượng thu hút của thị trường tài chính và thịtrường vốn Do đó khối lượng và tỷ trọng tiết kiệm trong tổng thunhập sẽ quyết định mức độ hoạt động của thị trường vốn Người ta

đã tổng kết rằng, khi thu nhập bình quân đầu người thấp, thì tỷtrọng chi cho tiêu dùng cao, tỷ trọng này càng giảm, khi thu nhậpbình quân đầu người càng tăng Nghĩa là, việc hình thành và pháttriển thị trường vốn phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập bình quânđầu người Do đó nâng cao thu nhập cho người dân đồng thời thựchiện các chính sách nhằm tận dụng được các khoản tiết kiệm nhànrỗi để tái đầu tư là một trong những điều kỉện để thức đẩy sự pháttriển của thị trừong vốn

Điều kiện thứ ba-ổn định tiền tệ, đây là điều kiện tiên quyết, vì

nếu đồng tiền không ổn định, thì thị trường vốn không thể hoạt độngđược do mức độ rủi ro quá cao

Nói đến ổn định tiền tệ là nói tới chống lạm phát, vì biểu hiện của

lạm phát là sự mất giá của đồng tiền Để phát triển thị trường vốnviệc đầu tiên cần làm là có thể khống chế được lạm phát

Phát triển thị trường vồn còn đòi hởi phải phát triển đồng bộ thịtrường tiền tệ (một bộ phận quan trọng khác của thị trường tài chính),thị trường vốn phải được xây dựng dự vào hoạt động của hệ thống

Trang 20

ngân hàng Vì thế, các biện pháp, chính sách xoay quanh các mụctiêu phát triển đồng bộ các thị trường trong hệ thống tài chính.

Điều kiện thứ tư- Đây là những điều kiện về pháp lý, bao gồm hệ

thống luật pháp và quy chế cần thiết cho hoạt động của thị trường tàichính và thị trường vốn Thị trường vốn càng phát triển thì khungpháp lý điều chỉnh cũng phải đầy đủ hoàn thiện.Luật pháp phải bảo

vệ được những quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia thịtrường vốn

II/Tổng quan về thị trường chứng khoán

Để huy động được các nguồn vốn dài hạn bên cạnh việc đi vayngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và một

số các công ty còn thực hiện huy động vốn thông qua việc phát hànhcác chứng khoán Khi các chứng khoán này được phát hành thì tất yếu

sẽ nảy sinh nhu cầu về trao đổi mua bán qua lại các chứng khoán này

Vì vậy, thị trường chứng khoán ra đời với tư cách là một bộ phận củathị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi chứng khoáncác loại

Với tư cách là bộ phận chủ yếu của thị trường vốn Thị trườngchứng khoán là một nội dung trọng tâm khi đề cập tới thị trường vốn

Để di sâu hơn tìm hiểu thị trường vốn nói chung và thị trường chứngkhoán nói riêng, những phần sau sẽ từng bước đề cập tới những nộidung quan trong của thị trường chứng khoán Đồng thời có nhữngnhóm giải pháp tháo gỡ riêng cho những khó khăn của loại hình thịtrường này

1 Những khái niệm cơ bản

Trang 21

1.1.So sánh giữa thị trường chứng khoán và thị trường vốn

Thị trường vốn là nơi những công cụ vốn, công cụ nợ trung và dài

hạn (thường có thời gian đáo hạn trên 01 năm) do các tổ chức Nhànước và các công ty phát hành được trao đổi, mua bán, chuyểnnhượng theo quy định của pháp luật Các trái phiếu dài hạn và các cổphiếu đều được giao dịch trên thị trường này Đây cũng là các công cụtrao đổi trên thị trường chứng khoán Ở đây có sự đồng nhất giữa thịtrường vốn và thị trường chứng khoán Để phân biệt sự khác nhaugiữa thị trường vốn và thị trường chứng khoán thì phải xem xét chúngtrong tổng thể cơ cấu của thị trường tài chính Sự phân chia này chỉnhằm phân tích xem xét về mặt lý thuyết và quản lý, trên thực tế cácthị trường trong hệ thống tài chính các tác động đan xen rất khó có thểphân định ranh giới

Sơ đồ 1: Phân chia cấu trúc của thị trường tài chính

Trang 22

Rõ ràng, thị trường chứng khoán là một bộ phân của thị trường vốn,

nhưng nếu xét về mặt nội dung, thị trường vốn biểu hiện các quan hệbản chất bên trong của quá trình mua và bán các chứng khoán Thịtrường chứng khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn

cụ thể Do đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau,

mà nó là thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bênngoài của thị trường tư bản Vì vậy, trên thực tế, người ta hay nói đếnthị trường chứng khoán - hình thức giao dịch vốn, mà ít nói tới thịtrường vốn –quan hệ mua, bán, chuyển nhượng các giấy tờ có giá

1.2.Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

Trong hoạt động của thị trường chứng khoán có nhiều loại chủ thể

khác nhau tham gia, hoặc là bán chứng khoán hoặc là mua chứng

Cho vay ngắn hạn của các định chế tài chính trung gian

Cho vay ngắn hạn của các định chế tài chính trung gian

Thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ

Thị trường liên ngân hàng

Thị trường liên ngân hàng

Sở giao dịch chứng khoán (thị trường chính thức)

Thị trường tài chính

Thị trường tín dụng thế chấp

Thị trường tín dụng thế chấp

Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán

Thị trường tín dụng thuê mua

Thị trường tín dụng thuê mua

Thị trường chứng khoán phi chính thức( OTC) Thị trường chứng khoán phi chính thức( OTC)

Trang 23

hưởng hoa hồng môi giới Bên cạnh đó, còn có các chủ thể là Nhànước, người tổ chức thị trường và các tổ chức phụ trợ.

• Các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp tham gia thị trường với tư cách là người tạo rahàng hóa ở thị trường sơ cấp và mua bán các loại chứng khoán ở thịtrường thứ cấp Doanh nghiệp là công ty cổ phần có vị trí quan trọngnhất, nó tạo ra một khối lượng lớn hàng hóa qua việc phát hành cổphiếu để bán lần đầu ở thị trường sơ cấp, nhằm tạo vốn cho công tymới thành lập, hoặc phát hành bổ xung để tăng vốn phục vụ cho quátrình sản xuất kinh doanh của công ty Công ty cổ phần không chỉ làchủ thể bán chứng khoán, mà nó cũng là người mua chứng khoán docác công ty phát hành với nhiều mục đích khác nhau như đầu tư vào

cổ phiếu của công ty khác, mua bán chứng khoán của chính mìnhhoặc tham gia các hoạt động mang tính tiêu cực như: thủ tiêu đối thủcạnh tranh hoặc khống chế, thao túng nhằm nắm quyền kiểm soátcông ty… Các doanh nghiệp khác cũng có thể phát hành thêm tráiphiếu, hoặc cũng có thể là nhưng chủ thể mua bán chứng khoán hoặctạo ra tính thanh khoản cho những chứng khoán của mình

• Các nhà đầu tư riêng lẻ

Là chủ thể quan trọng tham gia thị trường chứng khoán với tư ncách

là người mua bán chứng khoán, họ là những người tiết kiệm và muốnđầu tư số tiền dể dành của mình vào chứng khoán để được hưởng lợitức hàng năm Họ cũng là người bán lại các chứng khoán của mìnhtrên thị trường chứng khoán để rút vốn trước thời hạn hoặc để có

Trang 24

những khoản chênh lệch giá Họ tham gia thị trường bằng nhiều cáchkhác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.

vụ trên thị trường chứng khoán như tư vấn về phát hành, làm đại lýphát hành để được hưởng phí hoa hồng, hoặc bảo lãnh phát hành toàn

bộ đẻ hưởng phí bảo lãnh

Ngoài ra , Ngân hàng thương mại còn thực hiện các dịch vụ khác với

tư cách là nhà trung gian môi giới chứng khoán như mua bán chứngkhoán hộ cho khách hàng để hưởng phí hoa hồng, lưu giữ chứngkhoán, nhận và trả cổ tức cho khách hàng, làm dịch vụ thanh toánchứng khoán

• Nhà môi giới kinh doanh chứng khoán

Nhà môi giới là những người trung gian thuần túy, họ hoạt độngnhư các đại lý cho những người mua bán chứng khoán Sự tham giacủa họ trên thị trường chứng khoán góp phần bảo đảm các loại chứngkhoán được giao dịch trên thị trường là chứng khoán thực, giúp cho

Trang 25

thị trường hoạt động lành mạnh, đề đặn, hợp pháp , phát triển và bảo

vệ lợi ích cho nhà đầu tư Với tư cách là người kinh doanh chứngkhoán họ thực hiện việc mua bán chứng khoán cho chính bản thânmìnhnhằm mục tiêu lợi nhuận Đây là lĩnh vực kinh doanh có nhiềurủi ro lớn, nếu các chứng khoán tăng lên , người kinh doanh có lờingược lại thì lỗ Các công ty chứng khoán thường làm cả hai nghiệp

vụ là môi giới để hưởng phí hoa hồng hoặc tự kinh doanh để tìmchênh lệch giá

• Người tổ chức thị trường

Là người cung cấp địa điểm và phương tiện để phục vụ cho việc muabán chứng khoán, đó là Sở giao dịch chứng khoán Ngoài ra, ngườitạo lập thị trường còn thực hiện chức năng quản lý, điều hành các hoạtđộng diễn ra tại đây nhằm đảm bảo minh bạch, công khai trong giaodịch chứng khoán

Trang 26

người mua bán chứng khoán của các doanh nghiệp trong các trườnghợp như: Nhà nước muốn nằm tỷ lệ cổ phần chi phối ở một mức nào

đó đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước muốn quản lý hoặc ngượclại

2.Vai trò của thị trường chứng khoán

Các quốc gia trên thế giới có nền kinh tế phát triển đều có hệ thống

thị trường tài chính hoạt động tốt Thị trường tài chính đã góp phầnthức đẩy sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế các nước, kể cả ởnhững quốc gia có tài nguyên thiên nhiên khá nghèo nàn Một thịtrường tài chính năng động sẽ là một thứ tài nguyên bất tận, có khảnăng làm tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế hơn bất cứ loại tàinguyên nào, bất kể trữ lượng bao nhiêu

Thị trường vốn là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn

ra thông qua các hình thức vay mượn, góp vốn cổ phần thông qua cácchứng khoán và các giấy tờ vay nợ có giá trị Một hệ thống thị trườngvốn hoàn chỉnh phải đảm bảo thị trừong chứng khoán là một định chếtài chính giữ vai trò quan trọng và phát triển hoàn thiện

Việc phân định các bộ phận của thị trường tài chính nói chung và thịtrường vốn nói riêng chỉ là biện pháp để thuận lợi cho quá trìnhnghiên cứu từng loại thị trường Trên thực tế, rất khó có thể xác định

rõ ranh giới đâu là khu vực là phạm vi hoạt động của chỉ riêng từnglọai thị trường Tất cả các thị trường nói trên là tổng hòa trong một thểchế tài chính Việc hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán làtrọng tâm trong các chiến lựợc phát triển tài chính nói chung và thịtrường vốn nói riêng tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010

Trang 27

3.Những điều kiện quan trọng để thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh

Để thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh, các hoạt động phát

hành, niêm yết, kinh doanh, dịch vụ chứng khoán và các hoạt động cóliên quan phải tuân theo tôn chỉ, nguyên tắc cơ bản như công khai vàminh bạch thông tin, công bằng (thông qua đấu giá, chống giao dịchgian lận, nội gián,…), bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cổ đông/nhàđầu tư, nhất là các cổ đông thiểu số/ nhà đầu tư nhỏ lẻ

Sơ đồ 2: Các nhân tố quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của TTCK

Các yếu tố kinh tế

vĩ mô(tăng trưởng, đầu tư, tiết kiệm, lạm phát…)

Các yếu tố kinh tế

vĩ mô(tăng trưởng, đầu tư, tiết kiệm, lạm phát…)

Công ty phát hành, Niêm yết

Công ty phát hành, Niêm yết

Quản trị doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp

Công khai minh bạch thông tin

Công khai minh bạch thông tin

Nhà đầu tư

Nhà đầu tư

Đường cong lợi suất

Đường cong lợi suất

Trung gian tài chính

Trung gian tài chính

Cung ứng chứng khoán

Cầu chứng khoán

Cân bằng thị trường chứng khoán( giá chứng khoán) Phát triển TTCK

Trang 28

(Nguồn: Những giải pháp chính sách khắc phục những hạn chế sự phát triển của TTCK- Trần Kim Sang)

Lý luận cũng như kinh nghiệm phát triển thị trường chứng khoán củanhiều nước trên thế giới cho thấy, để thị trường chứng khoán pháttriển lành mạnh, các điều kiện quan trọng dưới đây phải được đảmbảo

3.1.Các điều kiện kinh tế vĩ mô

Để tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường chứng khoán phát triển,trước hết phải đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế cao và liên tục và đâycũng là tiền đề cho nhiều nhân tố khác như tiết kiệm, thu nhập, cầuđầu tư của doanh nghiệp và người dân,…gia tăng; từ đó, làm tăngmạnh cả cung (các loại hàng hóa) và cả cầu (các nhà đầu tư) đối vớichứng khoán, qua đó thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.Tăng trưởng kinh tế cao thường tăng nhu cầu đầu tư của các doanhnghiệp (nên có thể khuyến khích các doanh nghiệp ra niêm yết) đồngthời cũng làm tăng tiết kiệm/thu nhập (khả dụng) của người dân (cóthể tăng cầu chứng khoán)

Tiết kiệm trong nền kinh tế, bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân

và của khu vực chính phủ có tác động gián tiếp tới cung và cầu chứngkhoán Tiết kiệm của khu vực tư nhân phụ thuộc vào mức thu nhập(khả dụng) trên đầu người, sự ổn định của thu nhập, cơ cấu dân số,

Trang 29

cùng với chính sách khuyến khích tiết kiệm và phát triển hệ thống tàichính Trong khi đó, tiết kiệm của khu vực Nhà nước phụ thuộc vàomức thu và mức chi ngân sách của Chính phủ Nói cách khác, chínhsách tài khóa của chính phủ cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tiết kiệmtrong nước.

Câu đầu tư của các doanh nghiệp trong nền kinh tế cũng có vai tròquan trọng đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Cầu đầu

tư phụ thuộc vào kì vọng về lợi tức, và do đó là tốc độ tăng trưởng vềkinh tế Khi cầu đầu tư tăng thì khả năng doanh nghiệp phải phát hànhmới chứng khoán để huy động vốn là càng lớn.Tuy nhiên, ngay cả khicầu đầu tư trong nền kinh tế gia tăng, nếu các thủ tục liên quan tớiviệc phát hành chứng khoán rườm rà, có chi phí cao…lúc đó huyđộng vốn qua thị trường chứng khoán trở nên kém hấp dẫn, đến lượt,cung chứng khoán khó có thể tăng

Lạm phát tác động khác nhau lên thị trường trái phiếu và thịtrường cổ phiếu Giá trị của các trái phiếu, với đặc trưng là nhưnggiấy tờ có giá với thu nhập cố định, sec chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sựthay đổi mức lạm phátm do đó lạm phát sẽ ảnh hưởng đến giá trị thựccủa các thu nhập cố định trong tương lai từ trái phiếu Lạm phát tăng

có thể khiến cho đầu tư vào trái phiếu kém hấp dẫn do thu nhập kỳvọng từ đầu tư trái phiếu sẽ giảm Đối với cổ phiếu, do thu nhập từ cổphiếu là không cố định, nên ảnh hưởng của lạm phát sẽ ở mức độkhác nhau Thậm chí, nếuu lạm phát ảnh hưởng tích cực tới kết quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp và thu nhập từ cổ phiếu thì lạm phát còn làm tăng lợi nhuận

Trang 30

cho doanh nghiệp và thu nhập từ cổ phiếu thì lạm phát còn làm tăngmức độ hấp dẫn của đầu tư vào cổ phiếu.

Một nhân tố quan trọng có tác động tới sự phát triển của thị trườngchứng khoán là mức lãi suất thực, tức là lãi suất huy động của ngânhàng sau khi loại bỏ lạm phát Đây là chi phí cơ hội của việc đầu tưvào thị trường chứng khoán Mức lãi suất thực này có tác động lên cảcung và cầu trên thị trường chứng khoán Việc lãi suất thực tăng, chiphí vay vốn ngoài thị trường chứng khoán sẽ tăng, do đó, huy độngvốn qua thị truờng chứng khoán sẽ trở thành một lựa chọn hấp dẫnhơn Điều này có nhiều khả năng tăng cung chứng khoán Tuy nhiên,mức tác động tới mức cầu chứng khoán trên thị trường là không rõràng Trước hết, khi lãi suất thực tăng, không có cơ sở chắc chắn vềviệc tiết kiệm sẽ tăng hay giảm Ngay cả khi tiết kiệm tăng cùng vớilãi suất thực, người dân vừa tăng nhu cầu mua chứng khoán (do tiếtkiệm nhiều hơn), đồng thời giảm cầu chứng khoán (do chi phí cơ hộicủa đầu tư vào cứng khoán tăng) Do đó, ảnh hưởng của lãi suất thựcđến cầu chứng khoán là khác nhau trong những điều kiện khác nhau

và trong những thời kì khác nhau

3.2.Đa dạng hóa các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán

Tính đa dạng của các loại hàng hóa trên thị trường thể hiện sự có

mặt của nhiều loại hình chứng khoán trên thị trường và sự áp dụngrộng rãi các công cụ phái sinh Hàng hóa trên thị trường chứng khoánbao gồm các chứng khoán được Chính phủ và các doanh nghiệp cónhu cầu huy động vốn phát hành Hàng hóa trên thị trường chứng

Trang 31

khoán càng đa dạng, với khối lượng lớn thì nhu cầu của các nhà đầu

tư càng được đáp ứng đầy đủ hơn, và càng thu hút nhiều hơn các nhàđầu tư tham gia vào thị trường Nếu không, các nhà đầu tư sẽ khó tìmđược loại hình đầu tư thích hợp, vừa ý trên thị trường chứng khoán,buộc họ phải tìm hình thức đầu tư thay thế ngoài thị trường chứngkhoán

Sự hiện diện của thị trường chứng khoán của các công ty lớn và có

uy tín, với quá trình tăng trưởng mạnh và ổn định trong một thời giandài, với mức cổ tức caovà ổn địnhlà rất quan trọng đối với sự pháttriển của thị trường Đây là công cụ hấp dẫn đáp ứng nhu cầu của cácnhà đầu tư khó tính nhất Thực tiễn phát triển nhiều thị trường chứngkhoán vho thấy cổ phiếu có lợi tức cao và ổn địnhđóng vai trò rấtquan trọng trong phát triển và ổn định thị trường

Các công cụ phái sinh cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự pháttriển lành mạnh và ổn định của thị trường Ngoài ra vai trò hạn chế rủi

ro các công cụ này còn hỗ trợ nâng cao hiệu quả của các giao dịchchứng khoán trên thị trường, được thể hiện ở việc các công cụ này hỗtrợ việc định giá chứng khoán gần hơn với giá trị thực của chứngkhoán – giá trị hiện tại cảu các thu nhập kì vọng trong tương lai màchứng khoán mang lại tại thời điểm giao dịch Lý dolà khi mức giá cảchứng khoán trên thị trường là chênh lệch đáng kể (tính cả chi phígiao dịch) so với giá trị thực, các nhà đầu tư có thể kiếm lời nhờ cáchoạt động acbit (kinh doanh chênh lệch giá) Như vậy, nhờ có cáccông cụ phái sinh, các nhà đầu tư có thể có được một giá tham khảo

Trang 32

cho loại hình đầu tưmà họ chọn, qua đó giảm bớt rủi ro có liên quantới quyết định đầu tư.

3.3.Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư chuyên nghiệp hoạt động

Các nhà đầu tư bao gồm các nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ

chức Đây cũng là lực lượng rất quan trọng tạo cầu trên thị trườngchứng khoán Việc gia tăng sụ tham gia của các nhà đầu tư, cả nhỏ lểlaanx có quy mô và tổ chức, sẽ có tác động tích cực tới các giao dịchtrên thị trường chứng khoán, làm tăng mức độ sôi động trong giaodịch của thị trường, và ở mức độ cao hơn, tạo niềm tin trong nền kinh

tế trong đó đáng chú ý là vai trò tích cực của các nhà đầu tư có tổchức trên thị trường chứng khoán Các định chế này có vai trò nhưmột nhà đầu tư chuyên nghiệpđược ủy thác trên thị trường, cung cấpcác phương tiện và cơ hội sử dụng vốn cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ Các nhà đầu tư cá nhân thường là không chuyên nghiệp, thiếu bảnlĩnh đầu tưvà do vạy thường có hành vi đám đông hay bầy đàn, nhất

là trong điều kiện công khai minh bạch về thông tin trên thị trườngcòn yếu kém Điều này thường dẫn đến hành vi đầu tư một chiều(cùng mua và cùng bán ), nghĩa là dễ gây biến động lớn về giá cả cổphiếu trên thị trường

Các nhà đầu tư có tổ chức huy động vốn từ những người tiết kiệm,

kể cả những người có quy mô tiết kiệm nhỏ, qua đó, thực hiện đầu tưtrên thị trường chứng khoán Các nhà đầu tư có tổ chức, nhất là cácquỹ đầu tư với tính chuyên nghiệp cao và có lợi thế kinh tế nhờ quy

mô tạo điều kiện tham gia thị trường cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ, đồng

Trang 33

thời cung cấp dịch vụ chia sẻ, phân tán rủi ro, điều mà các nhà đầu tưvới quy mô nhỏ không thể là được nếu tự đầu tư trực tiếp.

Đối với thị trường chứng khoán còn non trẻ, các quỹ đầu tư trên thịtrường chủ yếu là các quỹ đóng Khi thị trường phát triển ở một trình

độ cao hơn, thường xuất hiện các quỹ đầu tư mở Với việc cam kếtmua lại các chứng chỉ quỹ từ các nhà đầu tư của mình, các quỹ nàytạo điều kiện tăng cầu đầu tư chứng chỉ quỹ do tăng tính thanh khoảncho loại chứng khoán này

3.4.Có các định chế chứng khoán trung gian chuyên nghiệp

Các định chế chứng khoán trung gian trên thị trường chứng khoánbao gồm nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới, nhà tự doanh, nhà bảolãnh phát hành, công ty tư vấn đầu tư chứng khoán và các tổchức/công ty định mức trách nhiệm

Nhà tạo lập thị trường, tức là các công ty xác lập giá mua và báncho một loại chứng khoán bất kì bằng việc sẵn sàng mua hoặc bán ởmức giá đó, có vai trò đối với sự phát triển của thị trường chứngkhoán Những tổ chức này thực hiện các giao dịch cho khách hàngcủa mình, bên cạnh đó, còn mua chứng khoán từ các tổ chức pháthànhvà bán lại cho khách hàng cũng như các nhà môi giới/ tự doanhchứng khoán khác Sự góp mặt của nhà tạo lập thị trường góp phầnlàm tăng tính thanh khoản cho các khách hàng, qua đó khuyến khíchgiao dịch trên thị trường chứng khoán Nếu không có những công tynày, mức độ công khai về giá giao dịch của chứng khoán trên thịtrường chứng khoán sẽ bị hạn chế; thêm vào đó, rủi ro trong việc đầu

tư vào cổ phiếu sẽ cao hơn trong việc bán lại chứng khoán

Trang 34

Một nhóm định chế tài chính khác trên thị trường chứng khoán lànhững công ty môi giới chứng khoán giữa người bán và người mua đểhưởng lệ phí hoa hồng từ các giao dịch mua-bán trên thị trường.Thông qua việc môi giới chứng khoán, nhóm thành viên này góp phầnlàm giảm chi phí trong việc tìm kiếm người bán và người mua chứngkhoán; đồng thời bảo đảm danh tính người bán, người mua hay một

số thông tin khác không bị tiết lộ Bên cạnh đó, rủi ro thiếu thông tinđầy đủ về chứng khoán, cùng với rủi ro trong thực hiện hợp đồng, sẽphần nào giảm thiểu, như vậy người mua và người bán trên thị trườngchứng khoán sec yên tâm hơn khi thực hiện các giao dịch Nói tómlại, những người môi giới chứng khoán càng thể hiện đúng vai trò củamình, thì giao dịch trên thị trường chứng khoán càng thực hiện cóhiệu quả, và do đó, khuyến khích sự phát triển của thị trường chứngkhoán

Khác với những người môi giới chứng khoán, các công ty tự doanhchứng khoán, ngoài chức năng môi giới cho các giao dịch chứngkhoán cho khách hàng, còn có thể tự kinh doanh (mua, bán) chứngkhoán cho chính công ty của mình (nghĩa là thực hiện các giao dịchtrên tài khoản của mình chứ không phải của khách hàng) Xét về mặtbản chất, các nhà tự doanh là người đầu cơ Tuy nhiên, chính vì hoạtđộng đầu cơ (giao dịch) họ là những người có “công” và không thểthiếu trên thị trường Thông qua các giao dịch của mình, các công ty

tự doanh này có thể đóng vai trò như nhà tạo lập thị trường (làm chothị trường giao dịch không bị gián đoạn), làm tăng tính thanh khoản

Trang 35

cho thị trường chứng khoán và bình ổn cung cầu (khi giá chứng khoán

hạ, các nhà tự doanh sẽ mua, khi giá chứng khoán tăng họ sẽ bán) Hoạt động đầu cơ là điều đựợc phép trên thị trường chứng khoán.Tuy nhiên, không phải hoạt động đầu cơ nào cũng hợp pháp Tạinhiều nước, một số hành vi đầu cơ được coi là phạm pháp như nhưhành động đầu cơ có tính thao túng, lũng đoạn thị trường, vi phạmđạo đức nghề nghiệp của người kinh doanh chứng khoán,…) Đầu cơtrong những trường hợp này là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự biếnđộng mạnh về giá cả, làm thiệt hại cho các nhà đầu tư, thậm chí có thểgây nên khủng hoảng thị trường

Công ty bảo lãnh phát hành là công ty giúp tổ chức phát hành thựchiện các thủ tục trước khi chào bán, tổ chức việc phân phối chứngkhoán và hỗ trợ bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khiphát hành Tổ chức bảo lãnh phát hành là tổ chức chịu trách nhiệmmua hoặc chào bán chứng khoán của một tổ chức phát hành nhằmthực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng lệ phí hoa hồng

Cùng với các thành phần trên, sự xuất hiện của các công ty tư vấnđầu tư vhứng khoán cũng đóng góp tích cực vào sự phát triển của thịtrường chứng khoán Các công ty này đóng vai trò là người thu thập

và tổng hợp thông tin về tình hình tài chinh của các doanh nghiệp cugnhư các thông tin về môi trường kinh tế vĩ mô, chính trị, xã hội có thểảnh hưởng tới hoạt động của thị trường nói chung và của doangnghiệp nói riêng Qua đó, các công ty này sẽ cung cấp cho các nhàđầu tư những thông tin về các cổ phiếu của các doanh nghiệp có triểnvọng phát triển hoặc các cổ phiếu có giá ổn định cũng như các mức

Trang 36

độ rủi ro… Các công ty này có thể có lợi thế so với các nhà đầu tưnhỏ lẻ ở tính chuyên nghiệp và lợi thế kinh tế nhờ quy mô trong tiếpcận và xử lý thông tin Cac công ty này sẽ khuyến khích các nhà đầu

tư tham gia thị trường do đó họ có thêm thông tin và được tư vấn đốivới quyết định đầu tư của mình

Cuối cùng, phải kể đến vai trò của các công ty định mức tín nhiệm.Chức năng của các công ty này là thu thập thông tin và tình hình tàicchính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán và đưa

ra định mức tín nhiệm dự trên các chuẩn mực về ổn định tài chính,khả năng xử lý nợ, khả năng sinh lời… Nhờ việc chuyên môn hóa vàlợi thế kinh tế nhờ quy mô các công ty này có thể nhanh chóng đưa rathông tin với mức chi phí thấp Hiệu quả thu nhập và xử lý thông tin,tính chung trên toàn bộ thị trường chứng khoán, ssẽ được cải thiện.Như vậy, các công ty định mức tín nhiệm cung cấp một dịch vụ bảohiểm cho các nhà đầu tư, thông qua việc cung cấp những thông tin tốtnhất có thể về tình hình tài chính của các doanh nghiệp trên sàn giaodịch chứng khoán Điều này thúc đẩy thị trường phát triển do khuyếnkhích sự tham gia của các nhà đầu tư chứng khoán

3.5.Đảm bảo thông tin phải được công khai, minh bạch

Tính minh bạch là một yêu cầu quan trọng đảm bảo tính công bằng

cho các thành viên tham gia thị trường được tiếp cận những thôngtincó kiên quan đến thị trường chứng khoán nói chung và các hànghóa/công cụ, các thành phần tham gia thị trương chứng khoán nóiriêng Thông tin được gọi là minh bạch nếu mọi người đều có thểđược tiếp cậnmột cách dêc dàng (kịp thời) với chi phí bằng không

Trang 37

hoặc rất nhỏ Việc xác định những dạng thông tin cần minh bạch hóatrên thị trường khó khăn hơn nhiều thông tin hạn chế sẽ khiến cácnhà đầu tư ít hiểu biết về doanh nghiệp; trong khi nếu phải công khaiquá mức thông tin quan trọng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến bí mậtkinh doanh của doanh nghiệp.

Về cơ bản, những dạng thông tin cần công khai và minh bạch là kếtquả hoạt động sản xuất- kinh doanh cung như tình hình tài chính củadoanh nghiệp, và ở cấp độ lớn hơn, là những thông tin liên quan tớiquy định của pháp luật, chính sách của Chính phủ về môi trường đầu

tư nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Riêng thông tin vềquy định của pháp luật, chính sách của chính phủ còn phải có tính ổnđịnh và tính tiên liệ Nếu không, thay đổi bất thường về mặt chính sách sẽ gây ảnh hửong tiêu cực đến tài sản của nhà đàu tư, làm tăngrủi ro đầu tư của họ

Thông tin minh bạch có thể đạt đựợc thông qua việc xác lập cácchuẩn mực kế toán, cùng với các cưỡng chế thực thi/chế tài xử phạthữu hiệu đối với các trường hợp vi phạm Điều này là cần thiết vìthông tin minh bạch được nhìn nhận như là một nhân tố cấu thành củaquy định pháp luật nhằm bảo vệ nhà đầu tư Hạn chế nghiêm trọng vềthông tin trên thị trường sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư không thể tiếpcận được những thông tin họ mong muốn, dù là tối thiểu nhất Tìnhtrạng bất đối xứng về thông tin này dẫn dến việc các nhà đầu tư gặprủi ro tương đối lớn với quyết định đầu tư vào cổ phiếu, và trongnhiều trường hợp, họ có xu hướng chuyển sang hình thức đầu tư khác(được coi là) an toàn hơn- chẳng hạn như gửi tiết kiệm ngân hàng

Trang 38

Bên cạnh đó, minh bạch hóa thông tin trên thị trường còn là cơ sở đểgiám sát hiệu quả của thị trường.

Một vấn đề bất công bằng và thường gặp trên thị trường chứngkhoán là giao dịch nội gián Trong các thị trường cổ phiếu hữu hiệu,giá cả cổ phiếu phản ánh mọi thông tin có được Nhưng một số nhàđầu tư được nhiều thông tin (sớm) hơn các nhà đầu tư khác, việc giaodịch bất chính diễn ra Những nhà đầu tư có thông tin sẽ lợi dụng vịthế của mình để bán chứng khoán với giá cao hay mua với giá thấp.Hậu quả là những nhà đầu tư thiếu thông tin sẽ ngần ngại tham giavào giao dịch và tính thanh khoản của thị trường giảm sút Chi phívốn sẽ tăng lênđể bù đắp vào mức thanh khoản thấp này Thực tế chothấy, việc thực thi hữu hiệu luật chống giao dịch nội gián làm tăngtính thanh khoản và làm giảm đáng kể chi phí vốn cho các doanhnghiệp

Hiện nay, hầu hết các nước đều có luật chống giao dịch nội gián.Tuy nhiên, việc thực thi lại không đồng đều giữa các nhóm nước : cótới 80% các nước phát triển mạnh taýap dụng luật chống giao dịch nộigián trong khi chỉ có 25% các nước đang phát triển có làm điều này

3.6.Đảm bảo được các chuẩn mực tiên tiến về quản trị doanh nghiệp, nhất là các công ty niêm yết

Quản trị doanh nghiệp được hiểu và định nghĩa khác nhau.

Theo tổ chức các nước hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), QTDN

là hệ thống các quy định và nguyên tắc, theo đó các doanh nghiệpthực hiện việc điều hành và quản lý của mình Các quy định vànguyên tắc của QTDN phân định rõ quyền lợi và trách nhiệm giữa các

Trang 39

thành viên công ty như hội đồng quả trị, các nhà quản trị, các cổ đông

và các chủ thể (có quyền lợi), các thủ tục và quy chế đối với việc đưa

ra các quyết sách có liên quan đến các công việc, mối quan hệ trongdoanh nghiệp Bằng cách như vậy, QTDN đưa ra các cách thức, thôngqua các mục tiêu của doanh nghiệp được xác lập, và các phương tiện

để đạt được những mục tiêu này và để giám sát hoạt động của doanhnghiệp Khác với hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp hàngngày cuả ban lãnh đạo doanh nghiệp, QTDN là cách thức để các cổđông giám sát công ty nhằm đảm bảo cho việc ban lãnh đạo điều hànhcông ty một cách có hiệu quả và vì lợi ích cao nhất của các cổ đông(hay chủ sở hữu)

Từ năm 1999, nhóm nước công nghiệp phát triển trong OECD

đã nhất trí đưa ra những nguyên tắc cơ bản về QTDN, đó là: (1) đảmbảo quyền lợi cho mọi cổ đông của doanh nghiệp; (2) đối xử côngbằng với các cổ đông; (3) tăng cường vai trò của những người cóquyền lợi liên quan đến doanh nghiệp; (4) công khai thông tin vàminh bạch; và (5) trách nhiệm của hội đồng quả trị trước các cổđông

Bản thân QTDN nói chung là cần thiết đối với các công ty cổphần, trong đố có công ty niêm yết (CTNY) Việc áp dụng có đượccác chuẩn mực thông lệ QTDN tốt cho các CTNYcó tác động tích cựcđối với sự phát triển của TTCK Ngoài việc giúp cho TTCK phát huyđược tình hiệu quả, công khai và minh bạch, việc áp dụng các thông

lệ QTDN tốt nhất sẽ đảm bảo bảo vệ quyền lợi của các nhà đàu tư, cóthể tạo ra lợi nhuận cho bản thân các doanh nghiệp và phát triển một

Trang 40

cách ổn định, có khả năng thích ứng và hạn chế được những biếnđộng xấu về kinh tế, chính trị, xã hội Với những lợi ích như vậy,QTDN làm cho các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức yên tâm hơn vớiquyết định đầu tư của mình, qua đó kích thích họ mạnh dạn đầu tưchứng khoán(làm tăng cầu đầu tư ).

Việc áp dụng thông lệ QTDN tiên tiến có thể bảo vệ các cổ đôngtiểu số với các quyền lợi và lợi ích có thể bị tổn hại trong các CTCP/CTNY với mọi cơ cấu sở hữu Trong trường hợp 1 CTC/ CTNY có cơcấu nắm giữ cổ phần phân tán khá đều thì QTDN tốt đảm bảo sao chonhững cổ đông bên ngoài có thể kiểm soát được hoạt động của Bangiám đốc, đưa ra những nguyên tắc lựa chọn các thành viên hội đồngquản trị có đủ sự độc lập tương đối để giám sát một cách có hiệu quảhoạt động của Ban giám đốc Trong trường hợp một công ty có phạm

vi sở hữu hẹp với một số cổ đông nắm quyền kiểm soát và một bộphận nhỏ các cổ đông ngoài doanh nghiệp thì các quy định và nguyêntắc về QTDN sẽ khác đi Trọng tâm của QTDN trong trường hợp này

là ngăn chặn tình trạng cổ đông kiểm soát được hưởng từ những lợiích quá mức từ thu nhập của doanh nghiệp nhờ những giao dịch mangtính lạm dụng là sự "phớt lờ" quyền lợi và các lợi ích kinh tế của các

cổ đông thiểu số Như vậy QTDN tốt có thể bảo vệ các cổ đông thiểu

số trước sự "xâm lấn" về quyền lợi và lợi ích kinh tế do nhóm các cổđông này thường có ít động lực để giám sát hoạt động của DN

Thực tiễn phát triển TTCK ở các mức chuyển đổi và đang pháttriển cho thấy, những nước có hiệu quả cao trong việc bảo vệ các cổđông thường có TTCK phát triển hơn (Claessens và các cộng sự

Ngày đăng: 23/04/2016, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thông tin chuyên đề phát triển thị trường vốn, nhằm góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển đất nước, và tạo tiền đề cho việc sớm ra nhập WTO – Số 4/2004 Khác
2. Các giải pháp chính sách nhằm khắc phục những hạn chế trong phát triển TTCK tại Việt Nam – Trần Kim Sang Khác
3. Giáo Trình thị trường chứng khoán-ĐHKTQDHN Khác
4. Thị trường chứng khoán tại Việt Nam- Nguyễn văn Tề Khác
5. Thị trường chứng khoán phương thức hoạt động và kinh doanh- Nguyễn Trần Quế Khác
6. Thị trường vốn cơ chế hoạt động và sự hình thành ở Việt Nam- Võ Đình Hảo Khác
7. Thị Trường chứng khoán lộ trình đến 2010- Thời báo Ngân hàng –Số 6/Ngày 15.8.2003 Khác
8. 5 Đặc điểm của thị trường tài chính hiện nay- Tài Chính-Số 103 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Các nhân tố quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của TTCK - Thực trạng phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán tại việt nam
Sơ đồ 2 Các nhân tố quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của TTCK (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w