Cung cấp các căn cứ cần thiết giúp các nhà quản lý kinh tế ra quyết định để hạn chế tác động tiêu cực và gia tăng các tác động tích cực, đánh thức các yếu tố tiềm năng, sử dụng tối ưu cá
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Phân tích kinh tế của Học viện Tài chính được Hội
đồng Khoa học của Học viện giao cho bộ môn Phân tích tài chính doanh nghiệp biên soạn Giáo trình được hoàn thành gồm 6 chương, PGS.,TS.NGƯT Nguyễn Trọng Cơ - Giám đốc Học viện - đồng chủ biên, biên soạn chương 1 và tham gia biên soạn chương 2,3,4; PGS.,TS Nghiêm Thị Thà - Trưởng bộ môn Phân tích Tài chính doanh nghiệp, đồng chủ biên, biên soạn chương 3,6, tham gia biên soạn chương 2,5; TS Nguyễn Thị Thanh - Phó trưởng bộ môn Phân tích Tài chính doanh nghiệp; TS Hồ Thị Thu Hương; Ths.NCS.Bạch Thị Thu Hường tham gia biên soạn chương 2,3; TS Phạm Thị Quyên- Phó trưởng bộ môn Phân tích Tài chính doanh nghiệp và TS Trần Đức Trung; tham gia biên soạn chương 4,5; Ths NCS Hoàng Thị Thu Hường, Ths.NCS Đào Hồng Nhung, Ths Nguyễn Trường Phương tham gia biên soạn chương 2, 3, 4, 6 Biên soạn cuốn giáo trình này, tập thể tác giả tập trung chuyển tải đến người học cách thức phân tích, đánh giá tình hình huy động, phân bổ và quản lý, sử dụng nguồn lực kinh tế quốc gia, nhận diện và đo lường các nhân tố tác động đến các tình hình và kết quả kinh tế, hiệu lực và hiệu quả quản
lý, điều hành nền kinh tế, cung cấp thông tin cần thiết về thực trạng
và xu hướng biến động của nền kinh tế, giúp các nhà quản lý kinh tế
có thêm 1 công cụ để quản lý, điều hành nền kinh tế một cách hiệu quả hơn
Giáo trình đã cập nhật, tổng hợp và hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phân tích kinh tế với phạm vi nghiên cứu là tình hình hoạt động và kết quả của toàn bộ nền kinh tế quốc gia đặt trong bối cảnh định hướng phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Giáo trình bao gồm 6 chương:
Chương 1: Tổng quan về phân tích kinh tế
Chương 2: Phân tích thu nhập
Chương 3: Phân tích cung cầu
Chương 4: Phân tích hiệu quả
Trang 4Chương 5: Phân tích chính sách kinh tế
Chương 6: Phân tích tăng trưởng và điều tiết kinh tế
Trong quá trình biên soạn giáo trình, tập thể tác giả đã hết sức cố
gắng kế thừa các kiến thức nền tảng về kinh tế vĩ mô và quản lý kinh
tế từ các tài liệu trong chương trình đào tạo của Học viện Tài chính
và các cơ sở đào tạo đại học, các Viện nghiên cứu kinh tế, ý kiến góp
ý của các chuyên gia kinh tế và các nhà quản lý kinh tế… nhằm hoàn thành giáo trình với chất lượng khoa học tốt nhất Tuy nhiên, kinh tế
vĩ mô và quản lý kinh tế là vấn đề rộng lớn, phức tạp, chịu tác động rất lớn của cả quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng và quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay Hơn nữa phân tích kinh tế là môn học mới, giáo trình chứa đựng nhiều nội dung, kỹ thuật hoàn toàn mới chưa có ở bất cứ học liệu nào của bất kỳ cơ sở giáo dục đại học nào hiện nay, kiến thức của tập thể tác giả có hạn, nên nội dung và hình thức của giáo trình khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Học viện Tài chính và tập thể tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và bạn đọc để tập thể tác giả có điều kiện biên soạn giáo trình tốt nhất, hoàn thiện giáo trình tốt hơn trong các lần tái bản sau
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2017
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH KINH TẾ
TÓM TẮT NỘI DUNG
Nền kinh tế của mỗi địa phương, quốc gia, khu vực, châu lục đang đấu tranh, chi phối, phụ thuộc lẫn nhau, tác động đến lợi ích của mọi tầng lớp trong xã hội ở mỗi địa phương cũng như trên toàn cầu Các quan hệ kinh tế được thiết lập, phát triển ngày càng khẩn trương, rộng mở và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích do quá trình làm phẳng thế giới, sự trỗi dậy của các quốc gia đang phát triển, sự đấu tranh giữa
tư tưởng bảo thủ, bảo hộ, chủ nghĩa dân tộc với tự do hóa thương mại quốc tế và sự phát triển của thương mại điện tử, sự tham gia hoạt động tích cực của các mạng xã hội Mỗi chủ thể quản lý kinh tế ở từng cấp
độ hàng ngày đều phải đưa ra các quyết định kinh tế và tổ chức thực hiện các quyết định kinh tế đó nhằm bảo toàn và gia tăng lợi ích của các bên liên quan trong phạm vi quản lý của mình Tại mỗi quốc gia, nhà quản lý ở các cấp phải ra quyết định và tổ chức, phối hợp thực hiện các quyết định về quản lý, điều hành nền kinh tế đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân về việc làm, thu nhập, chăm sóc y tế, giáo dục, thực hiện công bằng xã hội và ổn định kinh tế trong giới hạn nguồn lực kinh tế mà họ có thể huy động và sử dụng Các nhà quản
lý và điều hành nền kinh tế của Việt Nam cũng không đứng ngoài quá trình này Chương 1 được thiết kế nhằm cung cấp cho đọc giả những
lý thuyết cơ bản về phân tích kinh tế, cung cấp cơ sở để người học vận dụng các nghiệp vụ, kỹ thuật phân tích kinh tế nhằm đánh giá và
dự báo các quá trình và kết quả hoạt động kinh tế, các quan hệ kinh
tế cũng như các nhân tố tác động đến các quan hệ kinh tế và tác động đến quá trình, kết quả và hiệu quả quản lý, điều hành nền kinh tế quốc gia trong từng thời kỳ Lý thuyết cơ bản về phân tích kinh tế bao gồm: khái niệm, mục tiêu phân tích kinh tế, đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh tế, phương pháp phân tích, cơ sở dữ liệu sử dụng trong phân tích, quy trình phân tích kinh tế và nội dung phân tích kinh tế
Trang 6TỪ KHÓA
Phân tích kinh tế, chủ thể quản lý, đối tượng phân tích, nhân tố ảnh hưởng, quyết định quản lý, phương pháp phân tích
1.1 KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU PHÂN TÍCH KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm về phân tích kinh tế
Mỗi nền kinh tế đều cần được dẫn dắt bởi một hệ thống quản lý nhất định, mỗi chủ thể trong hệ thống quản lý đều phải xác định mục tiêu cần đạt được của tổ chức do mình quản lý, ra các quyết định quản
lý và điều hành tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra Cơ sở cho việc xác định các mục tiêu và ra quyết định của các nhà quản lý của mỗi nền kinh tế, mỗi đơn vị đều dựa vào kết quả phân tích kinh tế Phân tích kinh tế là công cụ giúp các chủ thể quản lý kinh tế đánh giá được hiệu lực và hiệu quả việc hoạch định, thực thi và kiểm soát các chính sách, chiến lược, đường lối phát triển kinh tế, đánh giá hiệu lực và hiệu quả của việc khai thác, phân bổ, sử dụng và tái tạo các nguồn lực kinh tế khan hiếm của quốc gia, cung cấp các thông tin cần thiết để các cấp quản lý có căn cứ ra quyết định đúng đắn nhất nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân
Từ trước đến nay chưa có 1 khái niệm chính thống nào về phân tích kinh tế, nhưng các nhà quản lý kinh tế trong từng bối cảnh cụ thể đều có thể đưa ra các quan điểm nhất định để diễn đạt về phân tích kinh tế Sau đây là một số cách diễn đạt phổ biến
Phân tích kinh tế là những phương thức sử dụng để đánh giá thực trạng “sức khỏe” của nền kinh tế, chỉ rõ xu hướng biến động của nền kinh tế, các nhân tố gây ra sự biến động của nền kinh tế và giải pháp
để ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế bền vững
Phân tích kinh tế đánh giá mức độ và sự biến động của các chỉ số kinh tế vĩ mô, những tác động tích cực và tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, đời sống của người dân, sự ổn định hay mất ổn định về kinh tế
vĩ mô, chính trị, xã hội… cung cấp thông tin thích hợp phục vụ việc ra quyết định quản lý và điều hành kinh tế của các chủ thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra
Trang 7Phân tích kinh tế là công cụ quản lý kinh tế được sử dụng để đánh giá cách thức và hiệu quả hoạch định, thực thi các chính sách kinh tế của các nhà quản lý kinh tế Phân tích quá trình khai thác, sử dụng, tái tạo các nguồn lực kinh tế trong từng thời kỳ Dự đoán mức độ và xu hướng phát triển của nền kinh tế, xây dựng các kịch bản có thể xảy
ra trong tương lai, đề xuất các giải pháp hữu hiệu để điều tiết kinh tế, phòng ngừa, ứng phó với các rủi ro, khủng hoảng kinh tế Cung cấp các căn cứ cần thiết giúp các nhà quản lý kinh tế ra quyết định để hạn chế tác động tiêu cực và gia tăng các tác động tích cực, đánh thức các yếu tố tiềm năng, sử dụng tối ưu các nguồn lực kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội, chính trị trong từng giai đoạn của địa phương, ngành, quốc gia
Phân tích kinh tế sử dụng các kỹ thuật cần thiết để nghiên cứu cấu trúc của nền kinh tế, đánh giá các kết quả kinh tế đạt được, đo lường tác động của các công cụ, biện pháp quản lý cũng như các yếu tố của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên… đến cấu trúc của nền kinh
tế, ảnh hưởng đến quá trình và kết quả kinh tế, phát hiện các vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế, kết xuất các thông tin thích hợp để cung cấp cho các chủ thể ra quyết định hoạch định, điều hành và kiểm soát nền kinh tế nhằm phòng, tránh rủi ro, khủng hoảng kinh tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Như vậy, phân tích kinh tế có nhiều cách tiếp cận, diễn đạt khác nhau, nhưng cơ bản đều thống nhất cho rằng: Phân tích kinh tế là một công cụ quản lý được sử dụng để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của nền kinh tế, các quan hệ kinh tế, kết quả quản lý và điều hành nền kinh tế trong mỗi thời kỳ, lý giải các vấn đề kinh tế nảy sinh, nhất là vấn đề rủi ro, khủng hoảng kinh tế, đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế, các giải pháp sử dụng
để giải quyết các vấn đề kinh tế Phân tích phát hiện, đánh thức các tiềm năng; phân bổ, sử dụng và tái tạo các nguồn lực kinh tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
1.1.2 Mục tiêu của phân tích kinh tế
Các chủ thể quản lý kinh tế ở mỗi cấp quản lý, trong mỗi bối cảnh
cụ thể muốn quản lý, điều hành nền kinh tế một cách hiệu quả cần có
Trang 8những thông tin thích hợp, những thông tin đó chỉ có được khi thường xuyên phân tích kinh tế Mục tiêu của phân tích kinh tế là cung cấp
thông tin để các chủ thể quản lý ra quyết định về cách thức khai thác,
phân bổ, sử dụng tối ưu các nguồn lực kinh tế để sản xuất các hàng hoá, dịch vụ cần thiết cho khu vực sản xuất và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, bảo toàn và gia tăng lợi ích cho mỗi chủ thể, thành viên của xã hội, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển xã hội bền vững Với mục tiêu bao trùm và phức tạp như vậy, phân tích kinh tế đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế của từng chủ thể quản lý kinh tế, đồng thời cũng cung cấp căn cứ để các chủ thể quản lý ra quyết định điều tiết và điều hành nền kinh tế một cách nhanh, nhậy và phù hợp Cụ thể:
- Đối với từng đơn vị kinh tế: đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, hộ gia đình : Phân tích kinh tế đánh giá tình hình, kết quả và hiệu quả huy động nguồn lực kinh tế; sử dụng nguồn lực kinh tế; thu nhập tạo
ra từ các hoạt động kinh tế; các chi phí tương ứng tạo ra thu nhập như: chi phí vận hành, nghiên cứu, phát triển, chi phí vốn, lao động phân phối kết quả hoạt động và ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan, khách quan đến tình hình và kết quả, hiệu quả hoạt động kinh tế của đơn vị Kết quả phân tích sẽ giúp các nhà quản lý ở đơn vị có quyết định điều hành hoạt động kinh tế của đơn vị một cách tối ưu
- Đối với toàn bộ nền kinh tế: Phân tích kinh tế đánh giá hiệu lực
và hiệu quả quản lý, điều hành nền kinh tế của Nhà nước trong từng thời kỳ, thông qua việc hoạch định và thực thi và điều chỉnh các chính sách, chiến lược và mục tiêu kinh tế Dựa trên các tài liệu thống kê, kế toán lượng hóa các quá trình, kết quả khai thác, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế, đánh giá những mối quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh tế và giải thích sự hoạt động của nền kinh tế một cách khách quan và khoa học, cung cấp thông tin thích hợp cho quá trình
ra quyết định của Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước để điều hành nền kinh tế theo các mục tiêu đã đặt ra
Trong bối cảnh hiện nay, một quốc gia khó có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế và không thể phát triển bền vững nếu không xây dựng và tuân thủ các nguyên tắc quản lý kinh tế phù hợp với thông
Trang 9lệ quốc tế Nguyên tắc quản lý kinh tế cơ bản phải đảm bảo các nhà quản kinh tế ở mọi đơn vị trong nền kinh tế đều phải có khả năng giải trình, minh bạch thông tin, có khả năng tiên liệu và thu hút được cộng đồng tham gia quản lý, giám sát nền kinh tế
Khả năng giải trình có thể hiểu là một trong các phương thức bảo đảm việc kiểm soát quyền lực nhà nước được thực thi bởi toàn dân Định kỳ, người dân yêu cầu nhà quản lý - người nắm giữ quyền lực quản lý nhà nước - phải giải thích, làm rõ về các chính sách, quyết định kinh tế đã ban hành, đánh giá các kết quả, hậu quả đã xảy ra, khả năng gánh chịu trách nhiệm và giải quyết hậu quả nếu để xảy ra Khả năng giải trình bao gồm: giải trình của cấp dưới đối với cấp trên
và giải trình của cấp trên đối với cấp dưới Giải trình của cấp dưới đối với cấp trên (hướng lên trên/giải trình nội bộ) là giải trình về quá trình, kết quả thực thi các quyết định, tuân thủ quy tắc, chấp hành các chỉ thị, chỉ đạo từ cấp trên, những sáng kiến, sự chủ động về quản lý, điều hành kinh tế thuộc phạm vi quản lý của mình Giải trình của cấp trên đối với cấp dưới là giải trình của nhà quản lý nhà nước các cấp đối với cấp dưới, công chúng về hiệu quả hoạch định, ban hành và đánh giá, giám sát quá trình, kết quả thực hiện các chính sách, chiến lược, quyết định của mình về việc huy động, sử dụng các nguồn lực kinh tế để thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội Khả năng giải trình phản ánh năng lực của các cấp quản lý trong thực thi nhiệm
vụ và đánh giá hiệu quả thực thi nhiệm vụ quản lý và phát triển kinh
tế của từng cấp trong từng thời kỳ
Minh bạch thông tin phản ánh khả năng công khai thông tin về tình hình kinh tế, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu trong xã hội đảm bảo sự dễ hiểu, dễ dàng tiếp cận, công bằng về quyền tiếp cận thông tin, thụ hưởng kết quả phát triển kinh tế, xã hội với mọi thành viên trong xã hội, nhất là các dịch vụ thiết yếu cho đời sống dân sinh như: y tế, giáo dục, nước sạch, điện lưới, truyền thông, tư vấn pháp lý, tín dụng
Khả năng tiên liệu phản ánh hiệu lực, hiệu quả của hệ thống quản
lý kinh tế các cấp thông qua các tiêu chí: rõ ràng, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, dự đoán trước về các hiện tượng kinh tế mới phát sinh, quá
Trang 10trình thay đổi của các hoạt động và quan hệ kinh tế Nếu thiếu đi khả năng tiên liệu về những biến cố sẽ xuất hiện, mức độ tác động đến quá trình và kết quả thực hiện chiến lược, chính sách, chủ trương phát triển kinh tế dẫn đến xác lập thứ tự ưu tiên chiến lược sai lầm/ hoặc không tiên liệu được mức độ thiệt hại/ khả năng chống đỡ với rủi ro, khủng hoảng kinh tế… Năng lực tiên liệu kém sẽ làm cho các chủ thể của nền kinh tế như: Bộ, ban, ngành, địa phương, doanh nghiệp không lường trước các kịch bản có thể xảy ra, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế thiếu tính khoa học và khả thi, thụ động trong ứng phó với sự thay đổi của môi trường, tê liệt khi khủng hoảng xảy ra, rối loạn trong điều hành khắc phục sự cố… đương nhiên hiệu quả quản
lý kinh tế thấp, đồng thời sẽ làm suy yếu hệ thống kinh tế quốc gia
Sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi nền kinh tế là sự nghiệp của toàn dân, nếu hệ thống quản lý kinh tế ở các cấp thu hút được sự tham gia của các bên liên quan gồm: các cơ quan hữu quan, các nhà tài trợ, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội- nghề nghiệp và công chúng vào giám sát, phản biện quá trình hoạch định, thực thi các chiến lược, chính sách, quyết định kinh tế sẽ cung cấp thêm những căn cứ thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành nền kinh tế Như vậy, mục tiêu căn bản của phân tích kinh tế là cung cấp thông tin thích hợp giúp nhà quản lý có cơ sở để ra quyết định quản lý và điều hành hoạt động kinh tế của từng đơn vị và toàn bộ nền kinh tế
1.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA PHÂN TÍCH KINH TẾ
Đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh tế là nghiên cứu các quá trình và kết quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế với tư cách là 1 thực thể kinh tế thống nhất, bị ràng buộc với các nền kinh tế trên toàn cầu Phân tích kinh tế tập trung đánh giá tình hình thu nhập, đầu tư, giá cả, cung - cầu của toàn bộ nền kinh tế trong mỗi thời kỳ, phân tích tình hình và kết quả quá trình khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng và tái tạo các nguồn lực kinh tế của quốc gia, đánh giá hiệu quả của việc hoạch định, thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước và phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình, kết quả, hiệu quả của nền kinh tế, cung cấp thông tin thích hợp giúp mỗi chủ thể quản lý kinh tế có căn cứ để ra quyết định nhằm duy trì, tăng
Trang 11cường các mối quan hệ kinh tế trên cơ sở tối ưu hóa việc khai thác,
sử dụng, tái tạo các nguồn lực kinh tế, bảo toàn và gia tăng lợi ích của mỗi bên, đảm bảo cho mỗi đơn vị và toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững trong từng bối cảnh cụ thể
Các chủ thể quản lý của mỗi nền kinh tế gồm 3 nhóm chủ yếu:
hệ kinh tế ràng buộc với nhau, bị ảnh hưởng trực tiếp, chủ yếu bởi sự phát triển của xã hội và thể chế chính trị Sự hiểu biết, tham gia của người dân, của các tổ chức xã hội vào quản lý quá trình khai thác, sử dụng, phân phối và tái tạo các nguồn lực kinh tế khan hiếm của quốc gia, cách thức và kết quả giải quyết các các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế của quốc gia như: khủng hoảng, suy thoái kinh
tế, lạm phát, thất nghiệp, công bằng xã hội, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, những biến động về chính trị, nhu cầu bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa, xã hội là những đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh tế Lợi ích của cá nhân, tập thể, xã hội trong từng phạm vi quản lý được duy trì, gia tăng hay suy giảm, các mối quan hệ của các chủ thể quản lý, các nhóm lợi ích trong xã hội, các nhân tố tác động đến chúng… là mối quan tâm nghiên cứu của phân tích kinh tế Việc lượng hóa, đánh giá và dự báo sự tác động của các nhân tố đến các quá trình và kết quả kinh tế là đối tượng nghiên cứu đặc thù của phân tích kinh tế Có thể nói, nhu cầu sử dụng thông tin toàn diện và thích hợp để ra quyết định của mỗi chủ thể quản lý kinh tế ngày càng tăng trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu, rộng, đó là cơ sở cơ bản để phân tích kinh tế phát triển
Trang 121.3 TÀI LIỆU SỬ DỤNG ĐỂ PHÂN TÍCH KINH TÊ
Tài liệu cần thiết để phục vụ công tác phân tích kinh tế rất đa dạng, phức tạp, ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượng phân tích kinh tế đòi hỏi các nhà phân tích kinh tế cần tập trung thu thập, đọc, hiểu từng loại tài liệu và loại bỏ những tài liệu không đáng tin cậy trước khi phân tích, đánh giá Tài liệu phân tích kinh tế thu thập gồm
2 loại: dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
1.3.1 Dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp bao gồm các tài liệu thu thập trực tiếp từ kết quả điều tra, khảo sát thực tế thông qua các phương pháp: phỏng vấn, phát phiếu điều tra, thảo luận nhóm, quan sát thực tế
Các bước để thực hiện một cuộc phỏng vấn được tiến hành như sau:
Bước 1: Lập kế hoạch phỏng vấn bao gồm: Thời gian phỏng vấn; Các câu hỏi phỏng vấn; Tên, chức vụ của người được phỏng vấn.Bước 2: Thực hiện phỏng vấn và ghi chép lại những câu trả lời của những người được phỏng vấn
Trang 13Bước 3: Tổng hợp kết quả phỏng vấn và đánh giá
+ Phương pháp phát phiếu điều tra
Mục đích: Tìm hiểu những thông tin tổng quát và chi tiết về đối tượng nghiên cứu với chi phí thấp nhất
Nội dung, trình tự: Phương pháp phát phiếu điều tra là phương pháp được thực hiện thông qua việc điều tra chọn mẫu, áp dụng bảng câu hỏi trên phiếu điều tra để thu thập số liệu, khảo sát số liệu và dẫn chứng thực tế, cho phép đánh giá khách quan vấn đề nghiên cứu, hạn chế tính chủ quan của người tiến hành nghiên cứu Các bước thực hiện điều tra như sau:
Bước 1: Lập bảng câu hỏi cho phiếu điều tra Các câu hỏi này phải liên quan đến nội dung phân tích, các câu hỏi điều tra có thể đánh giá mức độ quan trọng hay tần suất sử dụng các công cụ quản lý kinh tế
tại các đơn vị kinh tế Cụ thể:
Về tần suất sử dụng các công cụ quản lý… của các đơn vị kinh
tế có thể xác định theo 5 mức độ sau: 5 = “Hoàn toàn không”, 4
= “Thỉnh thoảng”, 3 = “Bình thường theo định kỳ”, 2 = “Thường xuyên” và 1 = “Rất thường xuyên”
Về mức độ quan trọng của đối tượng phân tích, có thể xác định khảo sát quan điểm đánh giá của các đơn vị theo 5 mức độ như sau:
1 = “Không quan trọng”, 2 = “Ít quan trọng”, 3 = “Bình thường”, 4 =
“Quan trọng” và 5 = “Rất quan trọng”
Bước 2: Xác định đối tượng điều tra: tùy thuộc vào khả năng thu thập tài liệu, thường do hạn chế về quá trình điều tra nên người điều tra sẽ chọn lấy ý kiến của 1 số lượng mẫu nhất định trong quy mô chung đảm bảo tính đại diện cho mẫu nghiên cứu
Bước 3: Tiếp cận và thực hiện phát phiếu điều tra cho những người trong phạm vi nghiên cứu thông qua các phương tiện như: gửi thư điện tử, gửi qua bưu điện, phát phiếu trực tiếp cho các đối tượng liên quan
Bước 4: Thu lại phiếu điều tra, tiến hành xử lý các tài liệu thu được từ phiếu điều tra tổng hợp kết quả, phục vụ cho việc đánh giá, phân tích
Trang 14Thu thập thông tin theo phương pháp phát phiếu điều tra hay bảng hỏi cho phép thu thập dữ liệu có trọng tâm với các câu hỏi thiết kế sẵn phù hợp mục tiêu và đối tượng đánh giá, có thể thực hiện trên diện rộng về không gian và thu thập thông tin từ nhiều người trong thời gian ngắn Tuy vậy, theo phương pháp này, thông tin thu thập được có thể không đảm bảo độ khách quan và tính trung thực.
+ Phương pháp quan sát thực tế
Quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc sử dụng các giác quan và các thiết bị hỗ trợ để ghi nhận các hiện tượng, quá trình hoạt động và kết quả kinh tế và các quan hệ kinh tế diễn ra
để thu thập dữ liệu phân tích
Số liệu sau khi được xử lý thể hiện dưới dạng sơ đồ, biểu đồ, bản
đồ, bảng, ma trận… để thuận tiện cho việc nhận xét, phân tích và đánh giá
+ Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp thu thập thông tin thông qua tổ chức thảo luận một nhóm người được lựa chọn có chung những đặc điểm nhất định phù hợp với thông tin cần thu thập Thảo luận nhóm tập trung thường được sử dụng để thu thập các thông tin đánh giá có
sự nhất quán của nhiều người về điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức, nhu cầu của hiện tượng, quá trình hay kết quả kinh tế Phương pháp này cho phép thu thập một khối lượng thông tin đáng kể một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí hơn so với phỏng vấn cá nhân, phù hợp với việc thu thập các thông tin về quan niệm, thái độ, trình độ hiểu biết và phản ứng của người tham gia đối với đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, thông tin thu thập được có thể bị sai lệnh do cách lựa chọn người tham gia bởi
vì một nhóm nhỏ không thể đại diện cho tất cả các quan điểm của một
tổ chức hay một cộng đồng
+ Phương pháp nghiên cứu điển hình
Nghiên cứu điển hình là phương pháp thu thập thông tin cụ thể về một cá nhân, hộ gia đình, một sự kiện, một tổ chức, một địa phương, một ngành, một thời kỳ Nghiên cứu điển hình thực hiện khi trong
Trang 15một cuộc điều tra chung về một chương trình, chính sách, chủ trương hay dự án tổng thể cần có những nghiên cứu sâu hơn về một nhóm đối tượng tham gia, được hưởng lợi, hoặc có quan hệ trọng yếu trong các chương trình, dự án, chủ trương, chính sách kinh tế hoặc để phân tích theo chuyên đề và tình huống cụ thể Nghiên cứu điển hình có ưu điểm cung cấp thông tin một cách chi tiết, có chiều sâu về một vấn đề hoặc tình huống cụ thể thuộc đối tượng phân tích Tuy nhiên, phương pháp này thu thập thông tin không mang tính toàn diện, không khái quát về đối tượng phân tích
1.3.2 Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là những tài liệu thu thập được từ các báo, biểu, file do các bên có liên quan tổng hợp, công bố bao gồm các báo cáo thống kê hàng năm; hệ thống tài khoản quốc gia; báo cáo tổng kết, định hướng kế hoạch phát triển xã hội, kinh tế, tài chính, dự toán
và quyết toán thu, chi ngân sách; báo cáo kiểm toán; các văn bản pháp luật về quản lý nhà nước của từng bộ, ban, ngành; các báo cáo đánh giá, các tài liệu kế toán đã công bố của các tổ chức quốc tế, các quốc gia, bộ, ban, ngành, địa phương, đơn vị Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp là phương pháp sưu tầm, nghiên cứu những tài liệu có liên quan tới đối tượng nghiên cứu từ các nguồn khác nhau, chắt lọc ra những điểm, những mục cần thiết và ghi chép lại theo một trình tự logic để cung cấp những dẫn chứng tin cậy nhất cho việc tính toán các chỉ tiêu, phục vụ những quan điểm và lập luận của nhà phân tích Trong phân tích kinh tế, các dữ liệu thứ cấp chủ yếu được lưu trữ và công bố từ các cơ quan quản lý nhà nước Thu thập thông tin theo phương pháp này có ưu điểm là tiết kiệm chi phí và thời gian, nhưng phương pháp này có nhược điểm là rất khó xác định mức độ chính xác và độ tin cậy của thông tin đã có sẵn trong các tài liệu, vì vậy, nhà phân tích cần kết hợp thêm các thông tin, dữ liệu sơ cấp để kiểm chứng độ tin cậy một số thông tin quan trọng nhất
Việc đọc, hiểu và kiểm tra tính hợp lý, độ tin cậy của các tài liệu thứ cấp thu thập được cho phép các chủ thể phân tích lựa chọn nội dung, phương pháp phân tích phù hợp với mục tiêu đặt ra Từ nguồn tài liệu thu thập được, nhà phân tích cần xác định đúng và hiểu rõ nội
Trang 16dung kinh tế của các chỉ tiêu phân tích, xác định được các mối quan
hệ kinh tế ẩn sau mỗi con số kinh tế, định lượng và đánh giá được ảnh hưởng của các nhân tố, nguyên nhân khiến các kết quả và quá trình kinh tế biến động giữa thực tế với kế hoạch, giữa năm nay với các năm trước, của địa phương này so với địa phương khác từ đó
có những tư vấn cần thiết cho các chủ thể quản lý, vì vậy thu thập, xử
lý, sử dụng có hiệu quả các tài liệu là cơ sở để công cụ phân tích kinh
Thứ 1: Giả định các nhân tố khác không đổi khi xem xét tác động
của 1 nhân tố nào đó đến các quan hệ kinh tế, hiện tượng, quá trình hay kết quả kinh tế cụ thể
Giống như phần lớn các môn khoa học khác, các nhà phân tích kinh tế phải sử dụng giả định “các yếu tố khác không đổi” - (ceteris paribus) tức là khi nghiên cứu một yếu tố (biến số) nào đó thì phải giả định tất cả các biến số khác ngoài biến số đang nghiên cứu là không thay đổi Với giả định này các nhà phân tích chỉ tập trung vào mối quan hệ kinh tế phát sinh xoay quanh nhân tố nghiên cứu, tránh tư duy bị pha loãng khi có nhiều nhân tố cùng thay đổi
Trang 17Thứ 2: Giả định mục tiêu hay lợi ích của mỗi chủ thể tham gia vào
hoạt động kinh tế đều được tối ưu hóa
Để đánh giá các hoạt động kinh tế, tìm các quy luật kinh tế… phải dựa trên giả định các tác nhân kinh tế đều có hành vi hoặc mục tiêu, lợi ích tối đa, tức là xem xét các quan hệ kinh tế trong phương án tối
ưu nhất có thể có Chẳng hạn, khi đánh giá hiệu quả đầu tư xã hội cần dựa trên giả định: doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận, chính phủ muốn tối đa hóa phúc lợi xã hội, hộ gia đình muốn tối đa hóa sự thỏa mãn của các thành viên… để xác định động cơ, mức độ, cách thức… chi phối quyết định của từng chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư vào nền kinh tế Giả định này được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế, vì nó cho phép áp dụng những phương pháp chuẩn tắc để diễn giải và quy nạp các hiện tượng, quá trình, kết quả kinh tế theo các giá trị/ chỉ số kinh tế thực nghiệm thu thập được, cung cấp các bằng chứng cần thiết trong từng kịch bản kinh tế, giải thích hành
vi của từng chủ thể, đề xuất các giải pháp để điều chỉnh hành động,
dự báo tình hình và kết quả hoạt động kinh tế sẽ diễn ra phục vụ cho các nhà quản lý kinh tế
Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng, nhu cầu về chất lượng thông tin do phân tích kinh tế cung cấp cho các chủ thể quản lý ngày càng cao đòi hỏi việc vận dụng các phương pháp phân tích kinh tế cần đáp ứng các tiêu chí đảm bảo tính mở và hội nhập quốc tế như: (i) Các phương pháp phân tích kinh tế phải tiếp cận và tương đồng dần với thông lệ quốc tế; (ii) Thông tin phản ánh hoạt động kinh tế phải chính xác; (iii) Thông tin phân tích kinh tế phải cung cấp thường xuyên, kịp thời; (iv) Các chỉ tiêu phân tích có khả năng so sánh quốc tế; (v) Các phương pháp phân tích phải có tính mở
và đơn giản trong vận dụng; (vi) Coi trọng phương pháp định lượng hơn định tính
Để đạt được các mục tiêu của phân tích kinh tế, ngoài các phương pháp phổ biến trên cần sử dụng thêm các phương pháp phân tích cơ bản sau:
Trang 181.4.1 Phương pháp quy nạp và diễn giải
+ Phương pháp quy nạp là sự đơn giản hóa thực tế, chỉ tập trung
vào những điểm cơ bản nhất để có cái nhìn mạch lạc nhất về thực tế Xây dựng và kiểm chứng các mô hình kinh tế bằng phương pháp quy nạp là phương pháp cơ bản cũng là nhiệm vụ của phân tích kinh tế, sử dụng phương pháp quy nạp nhằm gắn lý thuyết vào thực tiễn và khái quát hóa thực tiễn thành lý luận, bởi vì: “Lý thuyết không có thực tế
là lý thuyết suông, nhưng thực tế không có lý thuyết sẽ trở thành vô nghĩa”(1) Phương pháp quy nạp sử dụng trong phân tích kinh tế là cách thức nhà phân tích thu thập, tập hợp các số liệu thực tế phản ánh một cách tường minh các hiện tượng kinh tế đã, đang và sắp diễn ra; sắp xếp số liệu một cách có hệ thống và giải thích các số liệu đó, xác lập quy trình mà các hiện tượng, quá trình kinh tế đã, đang và sẽ diễn ra; giải thích ý nghĩa của các con số, gắn các hiện tượng thực tế rời rạc vào thành 1 chỉnh thể, đặt chúng trong các mối quan hệ vốn có, ràng buộc lẫn nhau… từ đó khái quát hóa các hiện tượng, quá trình kinh
tế, tìm ra quy luật, nguyên lý hay mô hình kinh tế, cung cấp thông tin kịp thời và thích hợp phục vụ việc ra quyết định các chủ thể quản lý
+ Phương pháp diễn giải: được thực hiện bằng cách tường minh
các hiện tượng, quá trình, kết quả kinh tế theo các tiêu chí thích hợp
để chứng minh, giải thích hoặc bác bỏ các kết luận, đánh giá về tình hình, kết quả kinh tế Các kỹ thuật thường sử dụng là phân chia, đối chiếu, liên hệ theo các tiêu chí cụ thể
* Phương pháp phân chia
Phân chia các hiện tượng, quá trình, kết quả kinh tế theo các tiêu chí nhất định nhằm thấy rõ diễn biến hoạt động kinh tế, yếu tố cấu thành tình hình và kết quả kinh tế từ đó xác định trọng điểm của công tác quản lý kinh tế Để phân chia được thì phải có tiêu thức phân chia, với mỗi tiêu thức phân chia khác nhau ta lại có nhóm đối tượng phân tích khác nhau, đáp ứng các mục đích khác nhau
(1) Kenneth E Buoldinh, Economic Analysic: Microeconomics, Xuất bản lần thứ 4, Harper & Row, New York,1966, tr5
Trang 19Phân chia theo thời gian: đó là việc phân chia quá trình và kết quả
kinh tế theo trình tự thời gian phát sinh để đánh giá xu hướng biến động, tính chu kỳ, thời vụ của các hoạt động kinh tế
Phân chia theo không gian là việc phân chia quá trình và kết quả
kinh tế theo địa điểm phát sinh để đánh giá cụ thể tình hình và kết quả kinh tế của từng bộ phận, khu vực địa lý cụ thể đóng góp trong tổng thể, chỉ ra được mức độ tiên tiến hay lạc hậu của mỗi bộ phận trong tổng thể chung, ví dụ: phân chia GDP của nền kinh tế theo từng tỉnh thành, theo từng ngành kinh tế
Phân chia theo yếu tố cấu thành là việc phân chia tình hình, kết
quả kinh tế theo các bộ phận cấu thành, ví dụ: tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) theo từng nội dung thu: thu từ thuế, thu từ phí…
* Phương pháp liên hệ đối chiếu
Khi đánh giá tình hình, kết quả hoạt động kinh tế cần xem xét kỹ các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh tế, nhận diện và đánh giá mối liên hệ của đơn vị nghiên cứu với các bên
có liên quan là mối quan hệ nội tại hay ngoại sinh, xuôi hay ngược,
ổn định hay biến động, thường xuyên hay thỉnh thoảng để có những đánh giá khách quan, đầy đủ nhằm cung cấp thông tin thích hợp cho nhà quản lý về ứng xử với từng bên
Phương pháp quy nạp và diễn giải luôn bổ sung cho nhau: những giả thiết, luận điểm, ý tưởng, đánh giá theo phương pháp quy nạp được chứng minh, giải thích, công nhận, kiểm chứng, cụ thể hóa bằng phương pháp diễn giải từ những hiện tượng, quá trình, kết quả kinh
tế thực tế sẽ cung cấp căn cứ, định hướng thuyết phục cho các nhà quản lý kinh tế kiểm định kết quả quy nạp Ngược lại, kết quả nghiên cứu, diễn giải thực tế là cơ sở cho việc khái quát hóa và quy nạp hiện tượng, quá trình, kết quả kinh tế đã diễn ra thành các phát kiến, kết luận tìm ra quy luật, khái quát hóa thực tế thành cơ sở lý luận chung
1.4.2 Phương pháp định lượng
Phương pháp phân tích định lượng là phương pháp lượng hóa các hiện tượng, quá trình và kết quả kinh tế, xác định và giải thích tác động của các nhân tố đến các kết quả, quá trình kinh tế Phương pháp
Trang 20định lượng đưa ra các kết luận dựa trên kết quả lượng hóa nên sẽ giảm
sự chủ quan trong đánh giá Tuy nhiên, phương pháp này có thể đưa đến những kết luận không chính xác khi có những sai số về dữ liệu,
dữ liệu không đầy đủ, không khách quan, có sai sót
1.4.2.1 Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp phân tích được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng vốn có của đối tượng nghiên cứu; từ
đó, giúp cho các đối tượng quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn Khi sử dụng công cụ phân tích so sánh, các nhà phân tích thường chú ý một số vấn đề như: điều kiện so sánh được của chỉ tiêu, gốc so sánh, các dạng so sánh
- Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: để có thể so sánh được đòi
hỏi chỉ tiêu nghiên cứu được phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, phương pháp tính toán, thời gian và đơn vị đo lường
- Gốc so sánh: gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không
gian hay thời gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích Về không gian,
có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác, Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch,
dự toán
- Các dạng so sánh: công cụ so sánh thường được sử dụng chủ
yếu trong phân tích thông qua các kỹ thuật so sánh chủ yếu như: so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh với số bình quân
+ Kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối: phản ánh qui mô của chỉ tiêu
nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc
+ Kỹ thuật so sánh bằng số tương đối: các nhà quản lý sẽ nắm
được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế, các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:
Trang 21Số tương đối động thái: dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [cố định kỳ gốc: yi/y0 (i = 1, n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kỳ gốc: y (i + 1)/yi (i = 1, n)].
Số tương đối kế hoạch: số tương đối kế hoạch phản ánh mức độ, nhiệm vụ đơn vị cần phải thực hiện trong kỳ trên một số chỉ tiêu nhất định
Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện: dùng để đánh giá mức
độ thực hiện trong kỳ của dơn vị đạt bao nhiêu phần so với gốc Số tương đối phản ánh mức độ thực hiện có thể sử dụng dưới chỉ số hay
tỷ lệ và được tính như sau:
Chỉ số (tỷ lệ %) thực
hiện so với gốc của chỉ
Trị số chỉ tiêu thực hiện Trị số chỉ tiêu gốc x 100 + Kỹ thuật so sánh với số bình quân: cho thấy mức độ mà đơn vị
đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành, của khu vực Qua đó, các nhà quản lý xác định được vị trí hiện tại của đơn vịBiến thể của phương pháp so sánh theo các kỹ thuật cụ thể bao gồm kỹ thuật phân tích ngang, dọc, hệ số…
- Kỹ thuật phân tích ngang: là sự so sánh theo thời gian, không gian của từng chỉ tiêu để xác định chênh lệch tuyệt đối và tương đối tìm ra xu hướng, quy luật biến động của hiện tượng, quá trình, kết quả kinh tế
- Kỹ thuật phân tích dọc: là việc so sánh kết quả của từng bộ phận với tổng thể quy mô chung thông qua tỷ lệ, tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng thể nhằm đánh giá cơ cấu, vị trí, trọng số của từng bộ phận trong tổng thể nghiên cứu
- Kỹ thuật phân tích qua hệ số: là so sánh tình hình, kết quả của giai đoạn, các quan hệ kinh tế với nhau thông qua các hệ số, tỷ số,
tỷ suất, chỉ số để thấy được mối quan hệ, sự ràng buộc của các hiện tượng, quá trình, kết quả kinh tế với nhau, lượng hóa từng mối quan
hệ và đánh giá một cách thích hợp
Trang 221.4.2.2 Phương pháp đồ thị
Phương pháp đồ thị sử dụng để phản ánh trực quan các hiện tượng, quá trình, kết quả kinh tế bằng biểu đồ, đồ thị, qua đó mô tả kết quả kinh tế, xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu nghiên cứu hay thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể Phương pháp đồ thị gồm nhiều dạng như đồ thị hình cột, hình tròn Phương pháp này có ưu điểm thể hiện rõ ràng, trực quan kết quả và sự biến động, mối liên hệ của các hiện tượng, quá trình và kết quả kinh tế, phương pháp này được hỗ trợ từ excel cài đặt trong máy tính rất hiệu quả
1.4.2.3 Phương pháp phân tích nhân tố
Phân tích nhân tố là phương pháp nhận diện, đo lường, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình, kết quả và hiệu quả kinh tế nhằm cung cấp căn cứ cho các nhà quản lý ra quyết định quản lý kinh
tế Phương pháp này được thực hiện theo 3 bước:
Bước 1: nhận diện các nhân tố tác động đến tình hình và kết quả
kinh tế, thường sử dụng mô hình dupont - thiết lập quan hệ của chỉ tiêu kết quả, hiệu quả kinh tế với các nhân tố phản ánh nguyên nhân tạo ra kết quả, hiệu quả
Ví dụ 1.1: Hiệu quả sử dụng vốn của 1 doanh nghiệp phản ánh
qua chỉ tiêu khả năng sinh lợi của tài sản (ROA) được lượng hóa và xác định mối quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả theo dupont như sau:
ROA = Lợi nhuận sau thuế (LNST)
Tài sản bình quân (TSbq)
ROA = Doanh thu thuần (DTT)
LNSTDTTROA = Hiệu suất sử dụng tài sản (H
skd) X Hệ số sinh lợi hoạt động (ROS)
Trang 23Nghiên cứu tác động của nhân tố Hskd và ROS ảnh hưởng đến ROA theo quan hệ nhân quả giúp nhà quản lý thấy được cách thức đầu tư tài sản, quản trị vốn kinh doanh, doanh thu, chi phí đến ROA Đây là phương pháp phân tích có tính ứng dụng cao trong phân tích kết quả, hiệu quả kinh tế.
Bước 2: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố: sử dụng
các kỹ thuật: thay thế liên hoàn, số chênh lệch, số cân đối
Phương pháp thay thế liên hoàn:
Điều kiện áp dụng: Khi các nhân tố ảnh hưởng có quan hệ tích
hoặc thương hoặc cả tích và thương với chỉ tiêu phân tích
Nội dung: Các nhân tố ảnh hưởng tích, thương hoặc cả tích và
thương số với các chỉ tiêu phải sắp xếp theo trình tự cứ nhân tố số lượng đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau, nhân tố nguyên nhân rồi đến nhân tố kết quả
Lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự đã sắp xếp, nhân tố nào đến lượt thay thế thì lấy giá trị thực tế từ đó, còn các nhân tố chưa đến lượt thay thế giữ nguyên giá trị kỳ gốc, sau mỗi lần thay thế phải tính ra kết quả, lấy kết quả đó trừ đi kết quả trước đó Chênh lệch tính được chính là mức độ ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần, tổng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đúng bằng đối tượng cụ thể của chỉ tiêu phân tích Phương pháp số chênh lệch
Điều kiện áp dụng: Các nhân tố có quan hệ tích số với chỉ tiêu Nội dung: Trình tự sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng tương tự phương
pháp thay thế liên hoàn Muốn xác định mức độ ảnh hưởng của nhân
tố nào ta chỉ cần lấy chênh lệch giữa thực tế với kỳ gốc cả nhân tố đó nhân với giá trị thực tế của các nhân tố đứng trước, giá trị kỳ gốc của các nhân tố đứng sau Tổng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đúng bằng đối tượng cụ thể của chỉ tiêu phân tích
Phương pháp số cân đối
Điều kiện áp dụng: Khi các nhân tố ảnh hưởng có quan hệ tổng
hiệu với chỉ tiêu
Trang 24Nội dung: Muốn xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào chỉ
cần tính chênh lệch giữa thực tế với kỳ gốc của nhân tố đó Tổng mức
độ ảnh hưởng của các nhân tố đúng bằng đối tượng cụ thể của chỉ tiêu phân tích
Bước 3: Đánh gía tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố
Chỉ rõ xu hướng tác động của nhân tố đến chỉ tiêu (thuận chiều, ngược chiều, tỷ lệ nghịch, tỷ lệ thuận,…)
Nguyên nhân tác động đến chỉ tiêu là do chủ quan hay khách quanĐánh giá tác động đó là tích cực hay tiêu cực hợp lý hay chưa hợp lý… biện pháp tác động vào từng nhân tố như thế nào đến kết quả, hiệu quả kinh tế
1.4.2.4 Phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng
Mô hình kinh tế lượng là phương pháp kết hợp giữa lý thuyết kinh
tế hiện đại, thống kê toán và máy vi tính nhằm định lượng các mối quan hệ kinh tế, dự báo khả năng phát triển hay diễn biến của các hiện tượng kinh tế và phân tích nó, làm cơ sở cho việc hoạch định và kiểm định các chính sách kinh tế
Việc xây dựng và áp dụng mô hình kinh tế lượng được tiến hành theo các bước sau đây: nêu vấn đề lý thuyết cần phân tích và các giả thiết về mối quan hệ giữa các biến kinh tế; thiết lập các mô hình toán học để mô tả quan hệ giữa các biến kinh tế, sự tác động của một hay nhiều biến độc lập (biến giải thích) đến một biến phụ thuộc (biến kết quả); thu thập số liệu; ước lượng các tham số của mô hình; phân tích kết quả; dự báo và sử dụng mô hình để kiểm tra hoặc đề ra các chính sách kinh tế Vì kinh tế lượng liên quan đến việc xử lý một khối lượng
số liệu rất lớn nên chúng ta cần đến sự trợ giúp của máy vi tính và một chương trình hỗ trợ tính toán kinh tế lượng thông qua phần mềm chuyên dùng như: EVIEWS, SPSS… Trong kinh tế lượng có nhiều
kỹ thuật phân tích khác nhau để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động như: phân tích hồi quy ; trong đó, phương pháo phân tích hồi quy được sử dụng khá phổ biến Phân tích hồi quy thường được sử dụng dưới dạng hồi quy đơn, hồi quy bội để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh tế
Trang 25- Phương pháp hồi quy đơn (Hồi quy đơn biến): được dùng để
xem xét mối quan hệ giữa chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả vận động của hiện tượng, quá trình kinh tế (trong phương trình hồi quy chỉ tiêu kết quả được gọi là biến phụ thuộc, chỉ tiêu nguyên nhân được gọi là biến độc lập) Phương trình hồi quy đơn biến có dạng:
Y= a + bx Trong đó: Y là biến phụ thuộc; x là biến độc lập
a là tung độ gốc (nút chặn trên đồ thị), Y= a khi x=0.Trong phương pháp hồi quy đơn, với mục đích là giải thích mối quan hệ của các nhân tố đến tình hình, kết quả kinh tế, nên việc quan trọng nhất là tìm ra giá trị của a, b Để xác định giá trị thông số a và b người ta sử dụng các phương pháp như phương pháp cực đại cực tiểu, phương pháp bình phương tối thiểu hoặc sử dụng phần mềm Excel trên máy vi tính
Với phương pháp cực đại cực tiểu
Trang 26Với computer ở phần mềm Excel:
Tìm trị số của b làm như sau: Sử dụng hàm fx cụ thể: fx/ Statistical/ Slope/OK/nhập khối dữ liệu Y vào Known _y’s nhập khối dữ liệu X vào Known _x’s /OK
Tìm trị số của a: fx/ Statistical/ intercept/OK/nhập khối dữ liệu Y vào Known _y’s; nhập khối dữ liệu Y vào Known _x’s/ OK
Muốn xác định mức độ tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc bằng hàm correlation để xác định mức độ tương quan (R) cụ thể: fx/ Statistical/ Corre/OK/nhập khối dữ liệu X vào array1; nhập khối dữ liệu Y vào array2/OK
Nếu R=+1 đồng biến và tương quan hoàn toàn
R=-1 nghịch biến và tương quan hoàn toàn
/R/ càng gần 1 tương quan càng mạnh và ngược lại
- Phương pháp hồi quy bội (hồi quy đa biến): Là phương pháp
được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa nhiều biến độc lập với một biến phụ thuộc (một chỉ tiêu kết quả với nhiều nguyên nhân)Trong thực tế, có nhiều mô hình phân tích kinh tế sử dụng hồi quy
đa biến Chẳng hạn như phân tích và dự báo tác động của các nhân tố nguyên nhân tác động đến kết quả tăng trưởng kinh tế, hiệu quả chi NSNN, kết quả thu hút FDI…
Một chỉ tiêu kinh tế chịu sự tác động cùng lúc của nhiều nhân tố cả thuận chiều lẫn ngược chiều, mặt khác, giữa các nhân tố cũng có mói quan hệ nội tại Vì vậy, phân tích hồi quy vừa kiểm định giả thiết về nhân tố tác động và mức độ ảnh hưởng, vừa định lượng các quan hệ kinh tế giữa chúng Từ đó có cơ sở cho phân tích đánh giá và dự báo
để có quyết định phù hợp với mục tiêu mong muốn của các nhà quản
lý Phương trình hồi quy đa biến tổng quát dưới dạng tuyến tính là:
Y= b0 +b1x1+b2x2+ +bixi+ +bnxn+eTrong đó:
Y biến phụ thuộc (chỉ tiêu phân tích) Y ở đây được hiểu là ước lượng trung bình của chỉ tiêu nghiên cứu (Y)
Trang 27b0 là tung độ gốc cho biết Y= b0 khi các biến x=0
bi các độ dốc của phương trình theo các biến xi để giải thích sự tác động của nhân tố i đến chỉ tiêu Y
xi các biến độc lập i (nhân tố ảnh hưởng, i=1,n)
e các sai số ngẫu nhiên, giải thích sự tác động của các biến không đưa cụ thể vào trong mô hình nghiên cứu
Mục tiêu của phương pháp hồi quy đa biến là dựa vào các dữ liệu lịch sử về các biến Y và Xi, dùng thuật toán để tìm các thông số b0 và
bi xây dựng phương trình hồi quy để dự báo cho ước lượng trung bình của biến Y; Với máy vi tính, sử dụng chương trình Regression trên Excel để thực hiện hồi quy với lệnh: Tools/Data Analysis/ Regression/
Đọc kết quả để đánh giá và dự báo kinh tế
1.4.3 Phương pháp định tính
Phương pháp phân tích định tính là phương pháp nghiên cứu thông qua mô tả, phân loại, giải thích, đánh giá, xếp hạng các hiện tượng, quá trình kinh tế, mối quan hệ giữa các nhân tố đến đối tượng phân tích nhưng không lượng hóa được các mối quan hệ đó Hoạt động kinh tế được coi là phù hợp khi sử dụng các nguồn lực kinh tế đáp ứng các nhu cầu của xã hội Việc đánh giá sự phù hợp thường so sánh với các chuẩn mực hoặc cảm nhận của con người Các chuẩn mực được thiết lập và cảm nhận của con người lại mang tính chuẩn tắc và chủ quan, khó có thể lượng hóa được Ưu điểm của phương pháp phân tích định tính là nó khắc phục được những nhược điểm của phương pháp đánh giá định lượng như thiếu tính linh hoạt, thông tin bị sai số, không tính được tất cả các nhân tố ảnh hưởng cũng như bối cảnh, hành vi của đối tượng nghiên cứu, không lượng hóa được
Trang 28thông tin Phương pháp đánh giá định tính có sự linh hoạt từ khâu thu thập và xử lý thông tin, không bị phụ thuộc vào một công thức hay một mô hình toán học Khi cần phân tích, đánh giá chi tiết về ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, theo chiều sâu từng lĩnh vực hoặc từng trường hợp điển hình thì đây là phương pháp phù hợp Có thể sử dụng phương pháp SWOT, ma trận, xếp hạng Tuy nhiên, phương pháp đánh giá định tính vẫn dựa trên quan điểm của chủ thể thực hiện đánh giá nên có thể vẫn còn tính chủ quan, các kết quả phân tích đem lại có thể không mang tính đại diện, thiếu minh bạch hoặc không kiểm chứng được.
1.4.3.1 Phương pháp phân tích SWOT
Phương pháp phân tích SWOT là nhằm hiểu rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quản lý, điều hành hoạt động kinh tế của mỗi đơn vị kinh tế cụ thể, cung cấp cơ sở cho các đánh giá, dự báo về tình hình hoạt động, trọng điểm quản lý về tổng thể cũng như từng đối tượng nghiên cứu
Mô hình phân tích SWOT:
Điểm mạnh: đây là những yếu tố, nhân tố của đơn vị, nếu
khai thác được sẽ tác động mang lại, làm gia tăng giá trị, lợi ích, sức mạnh của đơn vị kinh tế Những yếu tố này là thuộc tính bên trong, vốn có và hữu dụng đối với hoạt động của đối tượng đang xem xét
Điểm yếu: đây là những yếu tố, nhân tố còn chưa hoàn thiện, chưa
tốt, là các mắt xích yếu kém của đơn vị nghiên cứu Đây cũng là thuộc tính bên trong, vốn có và có tính gây hại đến hoạt động kinh tế của đơn vị nghiên cứu
Cơ hội: đây là những yếu tố, nhân tố có lợi, hoặc sẽ đem lại lợi
thế cho đơn vị kinh tế nếu tận dụng và phát huy tốt ảnh hưởng của
nó Đây là các yếu tố bên ngoài và hữu ích cho đơn vị kinh tế đang xem xét
Trang 29Thách thức: đây là những yếu tố, nhân tố, nguy cơ, trở ngại tác
động tiêu cực từ bên ngoài đến hoạt động và sự phát triển kinh tế của đơn vị, đơn vị kinh tế có thể phải đối mặt và tìm giải pháp để vượt qua
Ví dụ 1.2: Phân tích SWOT của nền kinh tế Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế hiện nay
Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm ở phía đông nam Bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á Phía Đông tiếp giáp biển Đông và vịnh Bắc Bộ Phía Nam giáp vịnh Thái Lan, Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và phía Tây Nam giáp Campuchia Diện tích đất liền Việt Nam là 330.636 km2; địa hình biến đổi đa dạng với các đồng bằng phẳng thấp phía Bắc và phía Nam, vùng cao nguyên trung tâm, vùng đồi núi ở phía bắc và tây bắc Với địa hình đó, Việt Nam tận dụng được nguồn khoáng sản và năng lượng dồi dào Trữ lượng dầu ước đạt 3,4 tỷ thùng Với các mỏ than
và khí ga tự nhiên, tài nguyên năng lượng của Việt Nam trở thành nguồn thu nhập từ xuất khẩu quan trọng Các nguồn tài nguyên tự nhiên chính khác bao gồm: phốt-phát, man-gan, bô-xít, cromat và năng lượng thủy điện, đặc biệt có đường bờ biển chạy dài theo đất nước rất thuận lợi để phát triển kinh tế Sau nhiều thập kỷ bị bỏ quên,
từ năm 1990, cơ sở hạ tầng giao thông và liên lạc của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể.(1) Việt Nam là 1 trong những thành viên của Cộng đồng ASEAN - cộng đồng kinh tế chung đông dân cư nhất thế giới với khoảng 600 triệu dân (năm 2015) Trong cộng đồng này, Việt Nam là nước đông dân thứ ba (92,7 triệu người, mật độ dân số đứng thứ 2: 263,4 người/km2), đứng đầu là Cộng hòa Indonesia (251 triệu người), thứ hai là Cộng hòa Philippin ( gần 100,7 triệu) Xếp sau Việt Nam là Vương quốc Thái Lan (67,96 triệu), Liên bang Myanma (55 triệu) và Malaysia (30 triệu) Tiếp theo đó là Vương quốc Campuchia (15 triệu người), Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào (7 triệu người, có mật độ dân số ít nhất trong khối- 26,7 người/km2), Singapo (5 triệu người và có mật độ dân số đông nhất Đông Nam Á - 7.105,3 người/
(1) Xem Economic Intelligence Unit (EIU), Country Profile 2008 Vietnam,
trang 3, which goes further in stating that: “However, even with substantial investments it has proved difficult to keep up with rapidly rising demand.”
Trang 30km2) Quốc gia với dân số ít nhất là Brunei Darussalam (415.717 người).(1) Phân tích SWOT đối với nền kinh tế Việt Nam như sau:
1 Điểm mạnh
Dân số trẻ với tầng lớp trung lưu đang tăng lên
Việt Nam có dân số tương đối trẻ và đang tăng, với một tầng lớp trung lưu đang nổi lên, một lực lượng lao động có trình độ khá cao
và giá nhân công rẻ, vị trí tốt và chính trị ổn định.Trong khu vực ASEAN, Việt Nam có mức tiền công trung bình thấp nhất, chỉ sau Campuchia, vì vậy mà trở thành địa điểm có chi phí cạnh tranh nhất (World Bank, 2013)
Tăng trường kinh tế mạnh mẽ, tỷ lệ người có việc làm cao và đạt được những tiến bộ xã hội
Từ đầu thập niên 90 Việt Nam đã thành công trong việc duy trì một mức tăng trưởng mạnh mẽ và liên tục Thêm vào đó, Việt Nam
có được lợi thế từ tỷ lệ người có việc làm cao và gần đây đã hài hòa được tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
Vị trí địa lý chiến lược và cơ sở sản xuất lớn
Việt Nam có vị trí địa chiến lược trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với đường bờ biển chạy dài theo đất nước và các vịnh nước sâu thuận lơi để phát triển các cảng biển, mở rộng giao thương quốc tế và phát triển du lịch Thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế đã và đang mang lại cho Việt Nam có được cơ sở sản xuất rộng lớn với nhiều công ty có vốn đầu tư của nước ngoài, địa điểm phù hợp để đa dạng hóa sản xuất Với vị trí chiến lược tại khu vực Đông Nam Á, sự năng động đang biến Việt Nam thành nơi sản xuất cho các công ty đa quốc gia và các công ty nước ngoài để xuất khẩu tới phần còn lại của Châu Á và vượt xa thế nữa
Hệ thống pháp luật về tài sản trí tuệ toàn diện
Hệ thống pháp luật về tài sản trí tuệ của Việt Nam toàn diện và bao gồm mọi vấn đề về bảo hộ tài sản trí tuệ theo tiêu chuẩn quốc tế
(1) Nguồn: http://www.statistiques-mondiales.com/asie.htm Similar official figures with reference to 2012 are available at: http://world-statistics.org/.
Trang 31Thể chế tài chính vững vàng
Các tổ chức tài chính trong nước có kiến thức vững vàng về thị trường nội địa cũng như thói quen và định hướng của các khách hàng
FDI và sự tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực
Cũng như toàn khu vực ASEAN, Việt Nam được hưởng lợi từ dòng vốn FDI lớn: đóng góp do FDIs đem lại đã tăng theo thời gian
và đạt nhiều mức cao trước khủng hoảng năm 2009 và đến nay vẫn duy trì mức 5% GDP Trong hai năm vừa qua, con số FDI đã đạt mức giữa 10.5 và 11.5 triệu USD, mức được coi là dấu hiện xác nhận sự tin cậy của các nhà đầu tư đối với Việt Nam Mặc dù mức đầu tư FDI
bị sụt giảm, Việt Nam xếp hạng thứ 3 trong khu vực ASEAN về thu hút FDI năm 2012, sau Singapore và Campuchia
Cơ chế thương mại và đầu tư cởi mở
Những nỗ lực của chính phủ Việt Nam về việc trở thành thành viên chính thức của WTO, AEC nền kinh tế đã mở cửa và tham gia vào toàn cầu hóa sẽ được hưởng lợi ích từ hội nhập kinh tế về thương mại và đầu tư song cũng phải cam kết thực hiện phần lớn các điều chỉnh về thuế quan và thương mại Tuy nhiên, do những thay đổi này cũng như sự gia nhập WTO đều diễn ra gần đây, nền kinh tế Việt Nam vẫn có khả năng đạt được những lợi ích kinh tế lớn từ những hiệu quả
có được do hội nhập kinh tế
2 Điểm yếu
Nền kinh tế thiếu sức cạnh tranh
Việt Nam đánh mất vị trí của mình trong một vài tiêu chí xếp hạng của Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu (GCI), bao gồm cả hiệu quả thị trường lao động ( xếp thứ 56, giảm 5 bậc) và phát triển thị trường tài chính (xếp thứ 93, giảm 5 bậc) Một lĩnh vực được quan tâm khác
là mức độ sẵn sàng về công nghệ (Việt Nam xếp hạng 102 theo GCI, tụt 4 bậc so với năm trước đó) Mặc dù các công nghệ mới đang dần phổ cập rộng rãi trong người dân, Việt Nam vẫn đang thụt lùi so với khu vực khi xét đến tỷ lệ phần trăm các hãng có chứng chỉ chất lượng được công nhận cấp quốc tế và các doanh nghiệp Việt đặc biệt chậm
Trang 32chạp trong ứng dụng các công nghệ mới nhất vào kinh doanh (xếp thứ
128 theo GCI), do đó mà đánh mất những hiệu quả kinh tế do gia tăng năng suất có thể đạt được thông qua chuyển giao công nghệ Sự yếu kém này càng trầm trong hơn do thiếu vắng các chính sách của khu vực cũng như các chinh sách quốc gia nhằm thúc đẩy đầu tư tư nhân vào nghiên cứu và phát triển
Ngoài ra, sự hiện diện của quá nhiều doanh nghiệp nhà nước và các công ty có liên quan tới chính phủ, các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước lớn được hình thành chủ yếu từ việc sáp nhập nhiều doanh nghiệp nhỏ với nhau… đã ảnh hưởng đến sức cạnh tranh và hiệu quả của thị trường trong nước Các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò khá quan trọng trong việc vận hành xã hội và đôi khi trong những giai đoạn khủng hoảng còn nhận được những khoản hỗ trợ trong việc giải quyết các tình huống mà nếu là doanh nghiệp tư nhân phải phá sản Các doanh nghiệp này có thể hoạt động tốt trong một số lĩnh vực (Ví dụ: cơ sở hạ tầng) và hoạt động tệ trong một số lĩnh vực khác (Ví dụ: hàng hóa tiêu dùng), có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này rồi lại cản trở nó trong giai đoạn tiếp theo; do đó sự thành công của các doanh nghiệp này phụ thuộc vào các bối cảnh rộng hơn Tuy nhiên, có những bằng chứng đáng chú ý rằng, trong đa số trường hợp, các công ty thuộc sở hữu nhà nước không những thiếu sáng tạo
mà còn kém năng suất, thiếu khả năng cạnh tranh hơn các công ty tư nhân Ngoài ra, có nguy cơ từ sự can thiệp của chính phủ- một căn bệnh chết người phổ biến đối với các doanh nghiệp nhà nước- ảnh hưởng tới việc vận hành và quản lý một cách đúng đắn của các công
ty Tóm lại, một nền kinh tế bị chiếm lĩnh quá nhiều bởi các doanh nghiệp nhà nước sẽ hoạt động kém hiệu quả, kém sáng tạo, nguy cơ rủi ro cao hơn so với một nền kinh tế có sự cân bằng thích hợp giữa các doanh nghiệp công và doanh nghiệp tư nhân Sự hoạt động kém hiệu quả của khu vực doanh nghiệp một yếu tố vô cùng nguy hiểm khi cạnh tranh với các nền kinh tế phát triển hơn Khu vực dịch vụ, nhất là dịch vụ công cũng vẫn còn tương đối kém phát triển tại Việt Nam (cũng như ở khu vực ASEAN)
Mặc dù một vài nghiên cứu chỉ ra rằng lợi ích từ AEC được trông
Trang 33đợi sẽ tăng lên đối tại các nước thành viên kém phát triển của AEC, bao gồm cả Việt Nam, song những kết quả này gây tranh cãi bởi năng lực thực thi của các quốc gia này còn yếu kém Tóm lại, sự cam kết của Việt Nam vẫn chưa phù hợp để đối mặt với sự cạnh tranh gia tăng trong khu vực công nghiệp.
Nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”
Như đa số các quốc gia Đông Nam Á và nhiều nước tại khu vực Châu Á, sau một vài năm tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, Việt Nam
đã gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình Rủi ro đối với việc không thể chuyển đổi từ nền kinh tế giá thành thấp sang một nền kinh tế giá trị cao, từ đó gây khó khăn cho Việt Nam trong việc cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu với cả các nhà sản xuất giá thành thấp
và các nước có thu nhập cao khiến cho Việt Nam khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình
Hệ thống tài chính suy thoái
Khi đánh giá các định chế tài chính của Việt Nam, điểm yếu đầu tiên có thể chỉ ra nằm ở việc cấp phép quá tự do cho một số loại hình
tổ chức tài chính
Thứ nhất, thu nhập của các ngân hàng Việt Nam từ lãi suất phi tín
dụng (14%) thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác với các con số lần lượt là 21% ở Trung Quốc, 36% tại Thái Lan, 33% ở Australia và 40% tại Singapore (World Bank, 2014) nên sự tăng trưởng của các tổ chức tín dụng khó bền vững
Thứ hai, năng lực của các ngân hàng thương mại (NHTM) và các
tổ chức tín dụng trong quản trị, cải tiến và ứng dụng công nghệ vẫn còn yếu kém Các nhân tố này đã đặt các ngân hàng trong nước ở vị trí bất lợi hơn so với các đối thủ quốc tế trong bối cảnh tự do và hội nhập tài chính ngày càng sâu rộng Phần lớn các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Tỷ lệ An toàn Vốn (CAR) ghi nhận được đạt 9%(1),
(1) Ngoại trừ hai ngân hàng có tỷ lệ CAR lớn hơn 12% là Eximbank và Techcombank, các ngân hàng khác đều có tỷ lệ tương ứng dao động từ 8% đến 11%.
Trang 34một con số thấp hơn so với mức CAR trung bình của APEC là 13.1%
và của các quốc gia Châu Á mới nổi là 12.3% Hơn nữa, việc ứng dụng chậm trễ Basel II và III không phải là lỗi của riêng các ngân hàng Một vấn đề dai dẳng của hệ thống ngân hàng Việt Nam là tỷ
lệ nợ xấu (NPL) cao trong những năm gần đây, phần nào thể hiện sự quản lý yếu kém của Ngân hàng Trung ương Việt Nam (SBVN) Tỷ
lệ nợ xấu dao động ở mức 6-13%, tùy vào phương pháp kế toán, tuy rằng nhiều NHTM báo cáo nợ xấu dưới 3% Điều đáng lưu ý là tỷ
lệ nợ xấu cao nhất ở các ngân hàng thương mại nhà nước (54% vào tháng 9 năm 2012) và thấp nhất ở các tổ chức tín dụng đầu tư nước ngoài) và tỷ lệ nợ xấu liên quan phần lớn tới các doanh nghiệp nhà nước (70%) Cuối cùng là độ chênh lệch đáo hạn giữa tài sản có và tài sản nợ, hay là các khoản cho vay dài hạn được cung cấp bởi các khoản tiền gửi ngắn hạn Tuy nhiên, vấn đề chênh lệch trên có thể được giải quyết vì một số khoản tiều gửi chênh lệch ngắn hạn thường
có thể được gia hạn nhưng sẽ gây rủi ro cao
Cải tổ hệ thống pháp luật trong nước chưa đầy đủ
Năm 2009, Việt Nam xếp thứ 73 trong chỉ số về luật pháp Kết quả này phản ánh một sự thật rằng nhìn từ bên ngoài, môi trường pháp luật của Việt Nam bị coi là lạc hậu và đây vẫn là một trong những quốc gia tham nhũng nhất Các quy định vẫn bị coi là nặng
nề và rườm rà, với số lượng các quy trình phải tuân thủ và sự trì trệ
về mặt thời gian, sự nhũng nhiễu của người thừa hành công vụ Các dịch vụ công, đặc biệt đối với các dịch vụ giao thông và việc làm vẫn còn khá rườm rà, phức tạp hoặc hạn chế hơn các quốc gia khác Điểm yếu còn có thể được thấy trong sự thiếu sót các đạo luật hiệu quả liên quan đến chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, an toàn vệ sinh thực phẩm … qua đó cản trở việc giám sát thực hiện một cách nghiêm chỉnh Các cơ quan quan thực thi luật sở hữu trí tuệ gặp khó khăn trong việc theo dõi các thay đổi nhanh chóng gần đây của khung pháp luật trong lĩnh vực này, trong khi việc quản lý thi hành lại tương đối phức tạp do số lượng các bên liên quan lớn
Trang 35Cơ sở hạ tầng còn yếu kém
Cơ sở ha tầng đã được cải thiện đáng kể, xong vẫn chưa đáp ứng với nhu cầu của sự phát triển kinh tế nhanh chóng của đất nước, đặc biệt là trong việc thu hút vốn dòng vốn đầu tư FDI
Chất lượng giáo dục kém và phần lớn lao động thiếu kỹ năng
Mặc dù chất lượng giáo dục đã được cải thiện, gần dây và sinh viên tốt nghiệp đại học đã có thêm những kỹ năng hữu ích hơn, tỷ
lệ lao động phải đào tạo lại tại các đơn vị sử dụng lao động trình độ đại học vẫn còn rất cao Đại bộ phận người lao động vẫn thiếu các kỹ năng cần thiết, mất nhiều thời gian, chi phí cho đào tạo: học xong đại học lại phải đi học nghề, học xong nghề này phải đi học nghề khác…ảnh hưởng đến năng suất lao động và sức cạnh tranh với lao động nước ngoài khi hội nhập
Ô nhiễm môi trường
Về vấn đề môi trường ở Việt Nam đang rất đáng báo động Các thành phố, khu công nghiệp có nồng độ các chất gây ô nhiễm cao và lượng khí thải CO2 lớn, áp lực lên tài nguyên nước, tài nguyên đất và nguồn lợi thủy sản, cây trồng… tương đối cao trong khi có rất ít biện pháp đồng bộ, hiệu quả được đưa ra để giải quyết vấn đề này
3 Cơ hội
Phát triển thương mại trong khu vực ASEAN
ASEAN là một khu vực kinh tế phát triển nhanh chóng, với năng lực cạnh tranh ngày càng cao Khu vực này là một thị trường quan trọng của Việt Nam, đóng góp vào 15-20% thương mại quốc gia và vẫn còn tiềm năng khai thác lớn hơn nữa Hàng rào thuế quan của
6 nước nội khối (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore
và Thái Lan) được dự kiến dỡ bỏ dần đến năm 2018 giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thêm lợi ích từ Hiệp định thương mại và thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam đến các thị trường khác trong ASEAN Việc
dỡ bỏ hàng rào thuế quan và những sự cải thiện đáng kể trong quan
hệ thương mại đã giúp Việt Nam và các quốc gia kém phát triển gia tăng được nhiều lợi ích, với lộ trình cắt giảm thuế quan Tuy nhiên,
Trang 36những sự cắt giảm này cũng sẽ chỉ ảnh hưởng không đáng kể tới quy
mô thương mại Mặt khác, có những lợi ích lớn hơn được trông đợi ở các Hiệp định tự do thương mại giữa Việt Nam với EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand (những quốc gia bên ngoài ASEAN) Sự hài hòa hóa các tiêu chuẩn giữa các nước thành viên AEC sẽ tạo được sự chuyển giao những phương thức, tập quán tốt nhất, và từ đó tăng cường thuận lợi thương mại (cụ thể là việc quản
lý của các cơ quan hải quan)
Tăng tính cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư
Việt Nam là nền kinh tế rất năng động trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN, do đó rất có sức hút với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt
là các công ty đa quốc gia lớn (MNC) có thể sẽ thiết lập các giai đoạn khác nhau của chuỗi giá trị ở những quốc gia khác nhau nhưng vẫn vận hành trên một thị trường duy nhất và hưởng lợi từ sự dịch chuyển
tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động Các MNC phải tận dụng tối đa các cơ hội để phát triển mạng lưới sản xuất liên kết (IPN) và từ
đó cắt giảm chi phí vận chuyển và giao dịch, trong khi được hưởng lợi từ quy mô và phạm vi của các nền kinh tế lớn và củng cố đầu tư, chuyển giao công nghệ tại những nền kinh tế mới nổi Tiền công thấp tại Việt Nam tạo nên lợi thế cạnh tranh về chi phí, lợi nhuận cho các MNC trong các giai đoạn khác nhau của chuỗi giá trị Các chuyên gia về lao động và các cán bộ nhà nước phần lớn thu hút FDI dựa trên ngyên tắc: lợi ích đạt được sẽ lớn hơn nhiều so với thiệt hại, đặc biệt đối với Việt Nam; văn phòng ILO tại Bangkok cũng khẳng định rằng do tiền công tại Việt Nam không phải là mức cao nhất hay thấp nhất tại ASEAN nên sẽ có sự dịch chuyển nhân công đến và đi khỏi lãnh thổ này Việt Nam có thể phải đổi mặt với việc thất thoát nguồn lao động trẻ, trình độ cao - vì họ đòi hỏi thu nhập và mức hưởng thụ cao- đồng thời phải tiếp nhận những lao động có tay nghề cao - thuộc các lĩnh vực cơ khí, chế tạo, dịch vụ được đào tạo chuyên môn hóa tốt
từ các nước ASEAN và các nền kinh tế khác có khả năng cạnh tranh tốt hơn với lao động nghề tại các địa phương, nhất là các khu công nghiệp Tuy nhiên, đây có thể coi là một cơ hội hơn là thách thức, vì những tình huống so sánh được cho thấy những lao động có trình độ
Trang 37cao sẽ dễ dàng di chuyển hơn so với những lao động không có tay nghề, trừ khi những lao động này muốn được trả lương cao hơn hẳn hoặc mong muốn có sự bảo vệ cao hơn khi họ rời khỏi đất nước của mình Do đó, tự do dịch chuyển lao động tay nghề cao có thể là một
cơ hội đối với Việt Nam vì sự khan hiếm lao động này của nền kinh tế trong nước Dòng chảy tiềm năng các lao động tay nghề cao vào Việt Nam sẽ tăng khả năng sản xuất và cạnh tranh trong trung và dài hạn Những người có tay nghề từ các nước thành viên ASEAN sẽ đổ vào Việt Nam, cung cấp thêm nhiều cơ hội trong thương mại, dịch vụ, đầu
tư và việc làm, kiến thức mới và công nghệ tiên tiến, nhờ vậy mà nâng cao khả năng sản xuất và tăng sự năng động của nền kinh tế Theo Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội, những người lao động có tay nghề
từ Việt Nam cũng sẽ có nhiều lựa chọn hơn Tuy nhiên, để giải quyết những hậu quả tiêu cực từ sự dịch chuyển này (chủ yếu là về việc gia tăng tỷ lệ thất nghiệp của lao động phổ thông) cũng như tăng cạnh tranh về nguồn lực lao động trong nước, Việt Nam cần phát triển hệ thống phúc lợi xã hội và có các chương trình quốc gia thích đáng về đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề theo thông lệ quốc tế, đặc biệt là những nghề có tiềm năng như: du lịch, điều dưỡng viên, dịch vụ tài chính, kế toán, kiểm toán, luật sư, bác sĩ Đây là một lĩnh vực mà sự can thiệp của Nhà nước là rất quan trọng và không thể chuyển giao cho khu vực tư nhân, bởi họ thiếu những động lực vững vàng để cam kết và thực hiện Rủi ro gia tăng thất nghiệp của Việt Nam sẽ xảy ra nếu nhà nước thiếu những chính sách và tiêu chuẩn, bước đi hài hòa, đồng bộ nhằm kiểm soát sự di chuyển của lực lượng lao động; sự thay đổi cơ cấu, phương thức đào tạo nghề; đặc biệt là sự định hướng phát triển nền kinh tế đất nước
Đầu tư FDI từ các nước phát triển cũng có thể giúp các doanh nghiệp trong nước giải quyết tốt hơn những khó khăn trong sản xuất
và kinh doanh và tăng tính cạnh tranh bằng cách nắm bắt kỹ năng công nghệ chuyển giao và bí quyết sản xuất
Cải cách hệ thống tài chính
Khi xem xét hệ thống tài chính của Việt Nam, các nước thành viên ASEAN có thể hỗ trợ xây dựng thị trường vốn và tài chính hội
Trang 38nhập qua tự do hóa dịch vụ tài chính và nguồn vốn Đổi lại, điều này có thể mang lại lợi ích cho Việt Nam nhờ quy mô và tính thanh khoản tăng của thị trường trong nước, nhiều lựa chọn hơn về các công cụ quản lý cấu trúc vốn của công ty, tăng khả năng phát hành các khoản nợ dài hạn có gốc nội tệ để có sự cân đối giữa lợi nhuận
và tài sản của doanh nghiệp, tăng khả năng chia sẻ rủi ro, đặc biệt
là sự chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường các công cụ phái sinh ở cuối năm 2017 sẽ tăng thêm sự hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến đầu tư tài chính
Tự do hóa dịch vụ tài chính cũng mang lại cho các tổ chức tài chính Việt Nam, đặc biệt là các NHTM, nhiều cơ hội để thâm nhập vào thị trường ngân hàng ASEAN (các ngân hàng Việt Nam hiện đang hoạt động tại Lào, Campuchia và Singapore) và tìm kiếm các tài sản/ đối tác chiến lược Mặc dù chỉ có một thị phần khiêm tốt trong lĩnh vực ngân hàng những năm gần đây, các khối ngân hàng đầu tư nước ngoài
đã thành công trong việc giành một phần lớn hơn của chiếc bánh thị trường tín dụng trong trung và dài hạn Đã có bằng chứng cho thấy từ năm 2013 trở lại đây, các nhà đầu tư nước ngoài năng động và thành công hơn trên thị trường M&A và tăng thêm thu nhập từ lãi suất phi tín dụng, những lợi thế từ vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý rủi ro,
đã tăng thêm động lực cho các ngân hàng nước ngoài chiếm lấy vị trí, thị phần của các ngân hàng nội địa
Tăng sự ổn định vĩ mô
Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ hỗ trợ hơn nữa cho sự ổn định vĩ
mô khu vực và khuyến khích việc thực hiện các chương trình có quy
mô lớn hơn, như Đối thoại về Ổn định Tài chính hoặc Hiệp ước Tài khóa (học hỏi từ những kinh nghiệm của khu vực đồng Euro) tạo điều kiện ổn định chính sách và thu hút đầu tư nước ngoài vào các nước trong khối trong đó có Việt Nam Cơ chế đang được mở rộng
sẽ cho phép ASEAN được tham gia vào các sáng kiến khu vực rộng lớn hơn (như Đối thoại Ổn định Tài chính ASEAN) và trong các cuộc đối thoại khu vực tập trung vào sự bền vững của hàng loạt các lĩnh vực khác nhau (tài khóa, môi trường, an ninh xã hội, quyền lợi của người lao động,…) Các sáng kiến hợp tác về kinh tế mạnh mẽ trong
Trang 39ASEAN sẽ giúp tăng cường khả năng phục hồi kinh tế vĩ mô của các nước thành viên.
Củng cố cơ chế tổ chức
Đối với các nước thành viên ASEAN (và cả Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), sự thành lập cơ chế thể chế và thỏa thuận hợp tác về kinh tế - tài chính sẽ nâng cao năng lực ứng phó với các cuộc khủng hoảng quy mô rộng lớn cũng như tăng khả năng giám sát nhằm ngăn ngừa những cuộc khủng hoảng như vậy xảy ra trong khu vực, được chứng minh thông qua Sáng kiến Chiang Mai
Còn đối với sự phát triển của các tổ chức tài chính tại các nước thành viên ASEAN, việc xúc tiến một hệ thống tự động thừa nhận lẫn nhau cho các quỹ đầu tư là những bước đi tạo cơ hội cho các nước đang phát triển tham gia có hiệu quả vào thị trường vốn
Các cơ hội đến từ ASEAN
Có một số cơ hội quan trọng mà Việt Nam chia sẻ với các nước thành viên ASEAN khác và bắt nguồn trực tiếp từ việc gia nhập ASEAN, hay cụ thể hơn là sự tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Thứ nhất, nguồn lợi đáng kế do vị trí chiến lược của ASEAN đem
lại với thị trường tiềm năng từ các nền kinh tế lân cận Tiềm năng này cũng được phát triển nhờ sự tương đồng về văn hóa và lịch sử lâu đời xuyên suốt Châu Á, các liên kết kinh tế mạnh mẽ về thị trường mậu dịch tự do ASEAN+1 tại Úc, New Zealand, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc; tiềm năng phát triển của Hiệp định thương mại tự do khu vực với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc
và New Zealand; sự liên kết sâu rộng về công nghệ và sản xuất với khu vực Bắc Á, sự hợp tác về tài chính với Trung Quốc- Nhật Bản- Hàn Quốc có được thông qua Sáng kiến đa biên Chiang Mai; và sự giám sát thông qua Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô (AMRO) của ASEAN+3
Thứ hai, ASEAN nằm giữa hành lang phát triển nhanh chóng và
lớn nhất trên thế giới hiện nay, trải dài từ Đông Bắc Á tới khu vực ASEAN cho tới tận Ấn Độ Đông Á cũng đang trải qua một cuộc
Trang 40chuyển đổi kinh tế lớn Sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc và sự nổi lên như một công xưởng sản xuất lớn của thế giới, đặc biệt là trong các ngành sản xuất thâm dụng lao động, có ảnh hưởng lớn, có khả năng tạo ra những sự chuyển dịch cơ cấu và chuyển đổi nền kinh tế Đông Á Đặc biệt, nguồn cung lao động dư thừa của Trung Quốc hiện đã biến mất, thế chỗ vào đó là một giai cấp trung lưu ngày càng lớn mạnh Bên cạnh đó, Trung Quốc đang hướng đến những ngành công nghiệp thâm dụng lao động trình độ cao, trong đó bao gồm cả mở rộng quy mô đào tạo đại học và tăng mạnh đầu tư vào nghiên cứu phát triển (R&D) Do vậy, mức tiền công tại Trung Quốc được dự đoán sẽ tăng nhanh chóng, sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu sẽ tạo đà vững chắc cho tăng trưởng tiêu dùng nội địa cũng như nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Đồng nhân dân tệ tham gia chính thức vào giỏ tiền tệ quốc tế, sáng kiến “Một vành đai, một con đường” của Trung Quốc với sự tham gia mạnh mẽ của các nước châu Âu đang mở
ra không gian thương mại rộng lớn Khu vực ASEAN khó có thể nằm ngoài ảnh hưởng của xu hướng phát triển này Ngay trong hiện tại, một phần dòng vốn FDI đổ vào Campuchia và Việt Nam bắt nguồn
từ sự gia tăng chi phí nhân công tại các tỉnh đông nam Trung Quốc Các nước ASEAN như: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Philippin
sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ đầu tư FDI do sự gia tăng tiền công thực tế tại Trung Quốc, đồng thời, các doanh nghiệp ASEAN cũng có
cơ hội tìm kiếm những ngách thị trường tiềm năng… Tầng lớp trung lưu của Trung Quốc và dân số già hóa với thu nhập cao của khu vực Đông Á đem lại những cơ hội to lớn cho sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ mà khu vực ASEAN có ưu thế cạnh tranh, như du lịch
và chăm sóc sức khỏe
Thứ ba, sự tăng trưởng mạnh mẽ và năng động của Đông Á sẽ
tạo ra nhu cầu lớn và đang gia tăng đối với các hàng hóa mà nhiều quốc gia ASEAN có lợi thế cạnh tranh, như các sản phẩm có cầu co giãn (hoa quả, hàng may mặc thiết kế và đồ nội thất) và các nguyên liệu công nghiệp (khoáng sản, năng lượng sinh học, cao su) Khu vực ASEAN cũng tham gia vào sân chơi công nghệ toàn cầu, với sự hiện diện mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia và các hãng trong nước Nếu Việt Nam theo kịp sự phát triển công nghệ nhanh chóng trong