1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố trà vinh từ năm 1992 đến năm 2015

147 470 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi tỉnh Trà Vinh được tái lập vào năm 1992, đặc biệt là từ khi có đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ thị xã Trà Vinh đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, lãnh đạo nhân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LÊ VĂN KHÁNH

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LÊ VĂN KHÁNH

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.03.13 LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Văn Khánh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ……… 1

NỘI DUNG ……… 9

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH GIAI ĐOẠN 1992 - 2015 ……… 9

1.1 Khái quát về địa lý và nhân văn của thành phố Trà Vinh … 9 1.1.1 Vị trí địa lý và các đơn vị hành chính ……… 9 1.1.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội ……… 11 1.1.3 Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân thành phố

Trà Vinh qua các thời kỳ lịch sử ……… 18

1.2 Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế, xã

hội của thành phố Trà Vinh giai đoạn 1992 - 2015 ……… 27

1.2.1 Đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước 27 1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử ……… 27 1.2.1.2 Đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà

1.2.2 Chủ trương phát triển kinh tế, xã hội của của Đảng bộ và

chính quyền thành phố Trà Vinh ……… 43

1.2.3 Những chuyển biến của nền kinh tế, xã hội của khu vực

đồng bằng sông Cửu Long sau đổi mới ……… 49

1.2.4 Những thành tựu kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh

Chương 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA THÀNH

PHỐ TRÀ VINH TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 2015 ……… 66

2.1 Quá trình phát triển kinh tế ……… 66 2.1.1 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ……… 68

Trang 5

2.1.2 Thương mại - dịch vụ ……… 74

2.1.3 Nông nghiệp ……… 80

2.1.4 Xây dựng kết cấu hạ tầng ……… 85

2.1.5 Tài chính, ngân sách ……… 89

2.2 Nhận xét về quá trình phát triển kinh tế của thành phố Trà Vinh (1992 – 2015) ……… 91

2.2.1 Thành tựu nổi bật ……… 92

2.2.2 Đặc điểm kinh tế thành phố Trà Vinh ……… 94

2.2.3 Những hạn chế và phương hướng giải quyết ……… 96

Chương 3: NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 2015 100

3.1 Những chuyển biến về xã hội ……… 100

3.1.1 Những thay đổi trong cơ cấu xã hội ……… 100

3.1.2 Những chuyển biến trong đời sống văn hóa ………… 102

3.1.3 Sự phát triển của giáo dục và văn hóa - thông tin …… 103

3.1.4 Những chuyển biến về y tế, vệ sinh môi trường ……… 109

3.1.5 Những thay đổi về quy hoạch đô thị ……… 112

3.1.6 Những thay đổi về công tác dân tộc, tôn giáo ………… 121

3.2 Nhận xét về những chuyển biến xã hội của thành phố Trà Vinh ……… 124

3.2.1 Thành tựu tổng quát ……… 124

3.2.2 Những vấn đề tồn tại và phương hướng giải quyết …… 125

KẾT LUẬN ……… 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 134

PHỤ LỤC ……… 138

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Lịch sử địa phương là một bộ phận hợp thành và làm phong phú lịch sử dân tộc.Việc nghiên cứu lịch sử địa phương sẽ góp phần tích cực vào việc bổ sung nguồn sử liệu cho việc xây dựng lịch sử dân tộc, làm rõ mối quan hệ hữu

cơ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc

Hiện nay, lịch sử địa phương được đưa vào giảng dạy ở các cấp học phổ thông nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng của nhà trường xã hội chủ nghĩa, góp phần làm phong phú tri thức của học sinh về quê hương, đất nước, giúp thế hệ trẻ hình thành tinh thần yêu nước trong sáng, đồng thời qua đó giáo dục lòng yêu quý, gắn bó với quê hương, ý thức về nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với dân tộc Lịch sử địa phương còn có tác dụng to lớn trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức, thẩm mỹ và ý thức lao động cho thế hệ trẻ - chủ nhân của xã hội tương lai, bởi nguồn gốc của lòng yêu Tổ quốc bắt nguồn

từ tình yêu quê hương, xứ sở, nơi mình đã sinh ra và trưởng thành Mặt khác, lịch sử địa phương còn góp phần làm cho thế hệ trẻ thấy rõ công cuộc đổi mới

do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, tổ chức và lãnh đạo đang đem lại những thành tựu to lớn khắp mọi miền đất nước, từ đó càng thêm yêu quý quê hương, đất nước, tin tưởng vào tương lai của dân tộc Việt Nam

Thành phố Trà Vinh ngày nay, hay huyện lỵ Trà Vang khi xưa, là một trong những đơn vị hành chính lâu đời ở miền Nam nằm bên bờ sông Tiền Vùng đất này đã trải qua nhiều thăng trầm, nhiều lần sáp nhập rồi chia tách tỉnh

Năm 1956 đã diễn ra quá trình giải thể và sáp nhập tỉnh Tam Cần vào tỉnh Trà Vinh, đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình; đổi tên xã Long Đức thành xã Phú Vinh và chọn làm lỵ sở của quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh

Trang 7

Bình Lúc này, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình cũng được đổi tên là Phú Vinh, do lấy theo tên xã Phú Vinh thuộc quận Châu Thành là nơi đặt tỉnh lỵ

Sau năm 1975, Quốc hội Việt Nam khóa VI quyết định hợp nhất 2 tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long, với tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh Long Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1991, thị xã Trà Vinh là trung tâm vùng phía Đông Nam của tỉnh

Trên những chặng đường lịch sử, nơi đây đã chứng kiến sự xuất hiện của một trong ba chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Trà Vinh trong những năm

30 của thế kỷ XX Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân các dân tộc ở thị xã Trà Vinh đã đoàn kết một lòng, cùng cả nước đấu tranh cho tới ngày nước nhà hoàn toàn độc lập

Phát huy truyền thống anh hùng trong kháng chiến, sau ngày miền Nam giải phóng, Đảng bộ và nhân dân thị xã Trà Vinh đã bắt tay khôi phục kinh tế

- xã hội, đồng thời khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại, cùng nhau đoàn kết xây dựng quê hương, chung tay bảo vệ, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, từng bước ổn định đời sống nhân dân

Sau gần 17 năm sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, đến năm 1991, tỉnh Cửu Long được chia tách thành hai tỉnh

là Vĩnh Long và Trà Vinh; năm 1992, Trà Vinh tái lập tỉnh Sau khi tỉnh Trà Vinh được tái lập vào năm 1992, đặc biệt là từ khi có đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ thị xã Trà Vinh đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, phát huy truyền thống sáng tạo, tự lực, tự cường, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Kinh - Hoa - Khmer, giữa dân với Đảng, từ đó đạt được những thành tựu quan trọng, khẳng định vị thế trung tâm của các hoạt động chính trị, kinh tế, văn

Trang 8

đầu mối kinh tế quan trọng gắn kết với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

Và cũng từ đây, thị xã Trà Vinh đã và đang được đầu tư xây dựng, quy hoạch lại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh.Tháng 8 năm 2007, thị xã Trà Vinh được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III, tháng 3 năm

2010 được Chính phủ công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh.Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh cũng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém cần được khắc phục nhanh chóng

Việc dựng lại bức tranh toàn cảnh về quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh thời kỳ sau tái lập tỉnh (giai đoạn 1992- 2015), với những thành tựu, chuyển biến mạnh mẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát, hệ thống, đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế trong công cuộc đổi mới đất nước nói chung

và củathành phố Trà Vinh nói riêng

Đồng thời, việc nghiên cứu vềquá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh từ năm 1992 đến năm 2015 có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu, giảng dạy lịch sử địa phương, giúp thế hệ trẻ tỉnh nhà có thêm những hiểu biết cần thiết về quê hương mình, về công cuộc đổi mới của Đảng

và Nhà nước, từ đó thấy được trách nhiệm của mình đối với việc xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh

Với những ý nghĩa đó, tôi đã chọn vấn đề “Quá trình phát triển kinh

tế, xã hội của thành phố Trà Vinh từ năm 1992 đến năm 2015” làm đề tài

luận văn thạc sĩ sử học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu vềtình hình kinh tế, xã hội thời kỳ đổi mới của đất nước nói chung, của địa phương nói riêng là vấn đề được giới khoa học ở cả Trung

Trang 9

ương và địa phương quan tâm Nhưng các công trình nghiên cứu vềtình hình kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh thời kỳsau khi tái lập tỉnh (giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2015) còn rất hạn chế và cũng chỉ mới đề cập khái quát đến những vấn đề chung về tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh hoặc về truyền thống đấu tranh cách mạng của thành phố Trà Vinh

Năm 1986, Ban Chấp hành Đảng bộ Cửu Long cho xuất bản cuốn Cửu Long 21 năm kiên cường đánh Mĩ Nội dung ôn lại truyền thống vẻ vang

những ngày chiến đấu chống Mĩ, cứu nước của nhân dân tỉnh Cửu Long (nay

là tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh), động viên sự nỗ lực và phấn đấu không ngừng khắc phục mọi khó khăn hiện nay, đưa sự nghiệp cách mạng tỉnh nhà tiến lên hoàn thành tốt hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Năm 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh chủ biên và cho xuất bản

cuốn Lịch sử tỉnh Trà Vinh, Tập 1; Tập 2 xuất bản năm 1999; Tập 3 xuất bản

năm 2005 Nội dung giớithiệu về con người, điều kiện tự nhiên, tiềm năng và quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân Trà Vinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ

Năm 2000, Trung tâm Thông tin và chuyển giao tiến bộ sinh học Việt

Nam xuất bản cuốn Đồng bằng sông Cửu Long đón chào thế kỷ XXI, giới

thiệu ngắn gọn những thành tựu, tiềm năng, triển vọng, các chương trình kêu gọi đầu tư và khẳng định những ưu thế về nhiều lĩnh vực địa lý, kinh tế, văn hóa, lịch sử… của 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong đó có Trà Vinh

Năm 2001, Thị ủy Trà Vinh chủ biên cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Thị xã Trà Vinh anh hùng 1930-1975 Một

lần nữa,vấn đề đặc điểm tự nhiên và dân cư của thị xã Trà Vinh cũng được giới thiệu một cách khái quát trong cuốn sách này

Trang 10

Năm 2005, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nam Bộ, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Thành ủy - Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ cho xuất bản

cuốn Đồng bằng sông Cửu Long hội nhập và phát triển.Nội dung làm sáng tỏ

những thành tựu to lớn, quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, tôn giáo; những yếu kém, bất cập nhất định và những giải pháp hữu ích nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời kì đổi mới

Năm 2008, nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Tỉnh ủy, Ủy

ban nhân dân tỉnh Trà Vinh xuất bản cuốn Hào khí Trà Vinh, sách có đề cập

đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhưng chỉ là những phác họa mang tính chất giới thiệu chung của cả tỉnh

Năm 2010, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh cho xuất bản cuốn Duyên

nợ đồng bằng Nêu lên những đặc điểm về địa lý, tiềm năng và quá trình phát

triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng ở đồng bằng sông Cửu Longtrong đó có Trà Vinh Chỉ ra những tồn tại, thiếu sót và định hướng phát triển của khu vực theo đường lối của Đảng và Nhà nước ta

Năm 2014, Thành ủy Trà Vinh phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn Lịch sử truyền thống của Đảng bộ và nhân dân thành phố Trà Vinh (1975-2010) Nội dung cuốn sách đã đề cậpđến

những nét chung vềvị trí địa lý, truyền thống cách mạng, quá trình khôi phục

và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng của thành phố Trà Vinh từ năm 1975 đến năm 2010

Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào đề cập một cách toàn diện, hệ thống và cụ thể về quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh từ năm 1992 đến năm 2015 Trên cơ sở khai thác những nguồn tài liệu và kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn sẽ

đi sâu nghiên cứu và giải quyết những vấn đề còn tồn tại trên

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của luận văn là dựng lại bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinhsau khi tái lập tỉnh (giai đoạn 1992 - 2015); từ đó tổng kết lại những thành tựu, đặc điểm, bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hộivà ghi nhận những đóng góp của nhân dân thành phố Trà Vinh trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Qua đó góp phần tích cực vào việc bổ sung nguồn sử liệu cho việc giảng dạy môn lịch sử địa phương

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Về không gian: giới hạn trên địa bàn thành phố Trà Vinh

Về thời gian: từ năm 1992 đến năm 2015

5 Nguồn tài liệu:

Để thực hiện được đề tài này, luận văn đã dựa vào các nguồn tài liệu

Trang 12

- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về kinh tế, xã hội

- Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước trong thời

kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước

- Các sách chuyên khảo về lịch sử Trà Vinh

- Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng bộ tỉnhTrà Vinh, Đảng bộ thành phố Trà Vinh

- Những kế hoạch và báo cáo tổng kết hàng năm của UBND tỉnh, thành phố Trà Vinh

- Các công trình nghiên cứu đề cập đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội của tỉnh Trà Vinh

- Số liệu thống kê của Cục thống kê Trà Vinh, Chi cục Thống kê thành phố Trà Vinh

- Các trang Web có liên quan đến kinh tế, xã hội của tỉnh, thành phố Trà Vinh

6 Phương pháp nghiên cứu:

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc nhìn nhận, đánh giá vấn đề, đặt các vấn đề trong mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau

Là một đề tài lịch sử, nên phương pháp chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp với những phương pháp hỗ trợ khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, đối chiếu…

7 Đóng góp của luận văn:

- Luận văn dựng lại bức tranh toàn cảnh, có hệ thống quá trình phát triểnkinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh sau tái lập tỉnh (giai đoạn 1992 - 2015); làm rõ những thành tựu, đặc điểm, bài học kinh nghiệm của quá trình

Trang 13

xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội thành phố Trà Vinh, có ý nghĩa mở đường cho giai đoạn phát triển về sau

- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường phổ thông tỉnh Trà Vinh, giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của địa phương cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ

8 Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh

tế, xã hội của thành phố Trà Vinh giai đoạn 1992 - 2015

Chương 2: Quá trình phát triển kinh tế của thành phố Trà Vinh từ năm 1992 đến năm 2015

Chương 3: Những chuyển biến về xã hội của thành phố Trà Vinh

từ năm 1992 đến năm 2015

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ TRÀ VINH GIAI ĐOẠN 1992 - 2015

1.1 Khái quát về địa lý và nhân văn của thành phố Trà Vinh

lộ 53, thành phố Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 202 km về phía Bắc

và cách thành phố Cần Thơ 100 km về phía Tây Nam, cách bờ biển Đông 40

km, có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy khá hoàn chỉnh, thuận tiện giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với các huyện trong tỉnh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long [16; 11]

Vùng đất Trà Vinh đã có từ đầu thế kỷ XVIII, nhưng tỉnh Trà Vinh thì chính thức được thành lập năm 1900, là một trong 20 tỉnh của Nam Kỳ do Toàn quyền Đông Dương ký quyết định thành lập [30; 64]; thị xã Trà Vinh từ lúc đó đã sớm trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ và sau đó là trung tâm hành chính, quân sự của tỉnh Trà Vinh do có vị trí thuận lợi nằm gần cửa sông

Cổ Chiên Đến đầu năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình (tên gọi Vĩnh Bình được giữ suốt thời kỳ 1957-1975), thị xã Trà Vinh lúc đó có tên gọi là Phú Vinh (địa phận xã Long Đức ngày nay) là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Bình [32; 6] Về phía chính quyền cách mạng, từ tháng 7 năm 1951 đến tháng 9 năm 1954, tỉnh Trà Vinh được hợp nhất với tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh Vĩnh Trà Sau Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), như mọi địa phương khác trên toàn miền Nam, thị xã

Trang 15

Trà Vinh đã giải thể chính quyền kháng chiến, lực lượng quân sự, công an đã lên đường tập kết ra Bắc, chỉ còn lại các đảng viên bám cơ sở quần chúng, đấu tranh chính trị, đòi địch thi hành Hiệp định Giơnevơ, tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất hai miền Mãi đến khi địch công khai xé bỏ Hiệp định, các nơi nổi lên diệt ác, trừ gian, tiến hành Đồng khởi, thành lập các đơn

vị vũ trang đối đầu với địch bằng bạo lực quân sự và chính trị, thì chính quyền cách mạng của nhân dân mới chính thức được thiết lập lại trên địa bàn thành phố Trà Vinh (đến tháng 10-1954, Xứ ủy Nam Bộ và Liên Tỉnh ủy miền Tây

ra quyết định tái lập hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long), và vẫn giữ nguyên tên gọi và cơ cấu hành chính như thời kỳ cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, tuy phải hoạt động bí mật, gặp muôn vàn khó khăn, thử thách, nhưng chính quyền cách mạng ngày càng trưởng thành, đủ sức lãnh đạo nhân dân chiến thắng kẻ thù

Đến năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa VI) quyết định hợp nhất hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long với tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh Long, nên trong giai đoạn 1976-1991 thị xã Trà Vinh là trung tâm vùng phía đông nam của tỉnh Cửu Long Sau gần 16 năm sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, đến tháng 5-1992, tỉnh Cửu Long được chia tách thành hai tỉnh: Vĩnh Long và Trà Vinh Và cũng từ đây, thị xã Trà Vinh được đầu tư xây dựng, quy hoạch lại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh Trà Vinh Tháng 3-

2010, theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 4-3-2010 của Chính phủ, thị xã Trà Vinh được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh trên cơ sở toàn bộ diện tích

tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Trà Vinh Đây thực sự là một bước ngoặt đối với thành phố Trà Vinh trên con đường phát

Trang 16

đứng trước một vận hội, một thời cơ mới với hàng loạt các dự án, công trình lớn của quốc gia đang và sẽ được triển khai trên địa bàn, tạo nên thế và lực cho thành phố Trà Vinh phát triển đột phá trong thời gian tới, làm đầu tàu lôi kéo các huyện khác trong tỉnh cùng phát triển

Hiện nay, thành phố Trà Vinh có diện tích tự nhiên là 68,16 km2 với 10 đơn vị hành chính trực thuộc gồm xã Long Đức và 9 phường: phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 6, phường 7, phường 8, phường 9

1.1.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội

Toàn bộ đất đai của thành phố Trà Vinh, nhìn chung là một dãy đồng bằng trũng sình, không đồi núi, bị chia cắt bởi một hệ thống sông ngòi và kênh đào vốn là những chi lưu của sông Cổ Chiên Thành phố Trà Vinh được tạo nên bởi quá trình bồi tụ lâu dài của phù sa sông Cổ Chiên, có độ cao trung bình khoảng 0,5 – 0,7m so với mặt biển Theo phân tích đồng vị phóng xạ C14 ở những vỏ sò cổ mà người dân khi san lấp mặt bằng trong thanh phố phát hiện được, thì lớp đất đai này được kiến tạo từ 500 đến 1000 năm trước công nguyên Một phần đất trẻ hơn: dãy cù lao Long Trị nằm giữa sông Cổ Chiên, có niên đại 200 năm trở lại đây

Xen kẻ vào cánh đồng bằng phẳng đó là hai con giồng cát, có độ cao 1m so với mặt biển Con giồng thứ nhất nằm gọn trong ấp Vĩnh Hội, thuộc xã Long Đức Con giồng thứ hai, lớn hơn, bắt đầu từ ngã ba Đuôi cá (thuộc Phường 1) trải dài qua Phường 2, đến Phường 7 Ở đây con giồng này tự tách làm đôi, một hướng lên chùa Chim, nhánh khác ăn thông với giồng Hòa Lạc, Sâm Bua qua hướng chùa Phướng Cả hai con giồng đều phát triển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam

Phía cuối cù lao Long Trị, vào những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, bắt đầu hình thành một cồn cát mới

Trang 17

Qua thời gian, dưới bàn tay lao động của cư dân địa phương, cảnh quan thành phố có nhiều biến đổi tích cực Quá trình ngăn mặn, xẻ mương lên liếp cũng là quá trình nhân dân tạo nên những xóm làng trù phú Đồng thời, đô thị hóa đã làm biến dạng những con giồng cát so với hình thể ban đầu

Thành phố Trà Vinh hiện nay có diện tích tự nhiên chiếm gần 3% diện tích của tỉnh Đất đai của thành phố chủ yếu gồm 3 nhóm đất chính: đất cát giồng, đất phù sa và đất phèn tiềm năng

Hiện trạng sử dụng đất thành phố Trà Vinh

Đơn vị ha

Năm 2011 2012 2013 2014 2015 Tồng diện tích 6.816,20 6.816,20 6.816,20 6.816,20 6.816,20

Trang 18

giờ nắng trung bình là 2.556 giờ/năm, lượng mưa hằng năm vào khoảng 1.520mm, độ ẩm trung bình năm là 84% Nhìn chung, khí hậu Trà Vinh mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt độ cao, ổn định, nắng và bức xạ mặt trời thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, yếu tố hạn chế của khí hậu là lượng mưa ít, lại chỉ tập trung vào mùa mưa, kết hợp với địa hình thấp, chịu ảnh hưởng của gió chướng, thủy triều cao nên gây ngập úng và hạn hán cục bộ ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất, kinh doanh của nhân dân

Thành phố Trà Vinh nổi tiếng là một “đô thị xanh”, “rừng trong phố”, thành phố thân thiện, gần gũi môi trường với một đặc điểm khá nổi bật là có tới hơn 8.700 cây cổ thụ trên hầu hết các tuyến đường trong nội ô thành phố, trong đó có những cây có tuổi thọ hàng trăm năm, với độ che phủ đạt 153.011m2 [16;15]

Bên cạnh lợi thế là một “đô thị xanh”, trên địa bàn thành phố Trà Vinh còn có nhiều địa điểm du lịch gắn liền với văn hóa dân tộc như Khu văn hóa

du lịch Ao Bà Om, Đền thờ Bác Hồ, có 39 ngôi chùa và 02 nhà thờ, trong đó

có nhiều di tích đền, chùa cổ, và tiềm năng cho phát triển khu du lịch sinh thái

ở ấp Long Trị, xã Long Đức, là điều kiện thuận lợi để kết hợp các huyện trong tỉnh và trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển du lịch trong tương lai

Sông ngòi có một vai trò quyết định đến đời sông nhiều mặt trên địa bàn thị xã Quan trọng nhất trong hệ thống sông ngòi chằng chịt chính là dòng

Cổ Chiên quanh năm đỏ lựng phù sa, có gần 10km chảy qua địa bàn thị xã; sông Cổ Chiên đã góp phần quan trọng trong tiến trình kiến tạo địa chất cũng như trong quá trình hình thành và phát triển các khu dân cư trên các lĩnh vực kinh tế, giao thông, văn hóa… của dòng sông Cổ Chiên đã tác động mạnh, góp phần hình thành tập quán sản xuất, sinh hoạt của người dân trong vùng

Trang 19

Một chi lưu của sông Cổ Chiên có tác động thúc đẩy quá trình hình thành khu dân cư, lỵ sở hành chính của địa bàn thị xã Trà Vinh là sông Long Bình Ngày xưa, khi đường bộ chưa phát triển, giao thông dựa trên các tuyến đường thủy qua sông Long Bình, lòng sông khá rộng, độ sâu tương đối, là điều kiện khá tốt hình thành các khu dân cư người Việt, vốn quen sông nước

và giỏi thủy chiến Đây cũng là những điều kiện khá tốt để phát triển một cảng sông và một cảng quân sự sau này

Điều đáng chú ý là khởi nguyên dòng sông này chảy khá ngoằn ngoèo,

ăn vào tận đại lộ Phạm Thái Bường ngày nay Đến những thập niên đầu của thế kỷ XX, khi nhu cầu phát triển thị xã trở nên bức bách, nhà cầm quyền thực dân Pháp đã tiến hành san lấp dòng cũ, đào mới dòng sông như hiện nay

Một chi lưu khác của sông Cổ Chiên có ảnh hưởng quan trọng đến địa bàn thị xã là dòng sông Láng Thé, Ba Trường

Ngoài ra còn có một hệ thống những rạch nhỏ ăn sâu vào đất liền, mang nguồn nước phù sa tưới tiêu cho những cánh đồng, khu vườn bát ngát, trù phú

và mang nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt của những xóm làng, những khu dân

Những năm gần đây, chính quyền và nhân dân địa phương rất cố gắng đào mới hàng loạt kênh thủy lợi, hòa vào mạng sông rạch sẵn có, bảo đảm việc tưới tiêu phục vụ sự nghiệp tăng nhanh sản lượng lương thực và vòng quay của đất

Chính sông Cổ Chiên, cùng hệ thống các phụ lưu chằng chịt của mình – nay lại thêm hệ thống thủy lợi – đã tạo tạo thành những tuyến quần cư chính Một tuyến khác, là hai con giồng cao ráo dễ đi lại, nhất là trong mùa mưa, tỏ

ra có sức hút khá mạnh đối với dân cư buổi đầu mới đến định cư

Trà Vinh có ba tộc người chủ yếu là Kinh, Khmer, Hoa, ngoài ra còn

Trang 20

ngày 31-12-2015 là 107.989 người Trong đó, dân tộc Kinh có 83.332 người, chiếm tỷ lệ 77,2%; dân tộc Khmer có 19.021 người, chiếm tỷ lệ 17,6%; dân tộc Hoa có 5.495 người, chiếm tỷ lệ 5,1%; các dân tộc khác có 141 người, chiếm tỷ lệ 0,1% [2; 4]

Dân số phân theo đơn vị hành chính và dân tộc năm 2015

Phân theo dân tộc Kinh Khmer Hoa Khác TPTV 107.989 83.332 19.021 5.495 141

Trang 21

Sự biến động và thay đổi số lượng dân cư qua từng thời kỳ

Đơn vị: người

2000 2005 2010 2015 TỔNG SỐ 71.771 90.700 101.174 107.989

Nguồn: Chi cục Thống kê thành phố Trà Vinh

Người dân Trà Vinh hiền hòa, chăm chỉ, cần cù lao động và tốt bụng Các dân tộc sinh sống trên địa bàn thành phố dù có nhiều khác biệt về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, nhưng có truyền thống đoàn kết, cùng nhau xây dựng thành phố Trà Vinh ngày càng phát triển

Về hoạt động văn hóa, thành phố có một rạp hát sức chứa 600 người mang tên rạp Thái Bình; một nhà văn hóa trung tâm cấp tỉnh, một nhà văn hóa cấp thành phố Phòng văn hóa thể thao thành phố quản lý một đội thông tin lưu động Ngoài ra có hai đội thông tin lưu động, một của dân tộc Kinh, một của dân tộc Khmer; hai đoàn nghệ thuật: cải lương Ánh Hồng và nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh do Sở Văn hóa Thông tin quản lý nhưng đóng tại địa bàn thành phố

Trang 22

Bên cạnh đó, còn có hàng chục đội nhóm văn nghệ của các cơ quan trường học, lực lượng vũ trang, xã phường thường xuyên hoạt động phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của quần chúng Thành phố còn có nhiều điểm chiến Vidéo, điểm sinh hoạt karaoke và điểm cho thuê băng hình

Toàn thành phố có ba sân vận động và ba sân quần vợt đạt tiêu chuẩn quốc gia quy tụ một số khá đông người tập luyện thi đấu Ngoài ra, ở mỗi cơ quan, trường học, xã, phường đều có sân tập thể dục, sân cầu lông, sân bóng chuyền… Thành phố còn có một hồ bơi do ngành văn hóa thể thao tỉnh quản

lý Thành phố có phong trào tập luyện thể dục thể thao quần chúng khá đều khắp, qua đó tuyển chọn đội đại biểu, đội trẻ, đội năng khiếu ở các bộ môn bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, bơi lội, điền kinh, võ thuật, ghe ngo…

Về tôn giáo và tín ngưỡng, xuất phát từ văn hóa truyền thống, từ điều kiện sống và những đặc thù của vùng đất, lúc đầu người dân đến khai hoang,

họ cất tạm bợ miếu thờ Ông, miễu Bà và thờ Thần Nông… Sau đó phát triển đình, rồi mới đến đạo giáo, nhưng chủ yếu phần đông họ thừa nhận đạo Phật, thể hiện mỗi ấp đều có đình, miễu, người dân vào đây sinh hoạt lễ lạc, dần dần tôn giáo phát triển ở thành phố Trà Vinh Do giáo lý của mình gần gũi với văn hóa cổ truyền dân tộc, với những quy phạm đạo lý làm người, Phật giáo

là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng và chiếm một lượng tín đồ đông nhất Tất nhiên, có một bộ phận không nhỏ tín đồ Phật giáo rất ít khi hoặc không hề đến chùa mà họ chỉ thừa nhận tôn giáo của mình qua các dịp ma chay, qua những ngày sóc, vọng… Phật giáo ở thành phố Trà Vinh có hai hệ phái Nam tông và Bắc tông với những giới luật và phương pháp tu hành khác nhau

Đạo Thiên Chúa đến với địa bàn thành phố Trà Vinh tương đối chậm hơn những nơi khác trong tỉnh Nó gắn liền với quá trình thực dân hóa của Nhà nước Pháp Việc thiết lập bộ máy cai trị, áp bức đã làm cho địa bàn này

Trang 23

xuất hiện một số giáo dân Đó là bọn lính viễn chinh, bọn Pháp thực dân, một

số giáo dân người Việt từ nơi khác đến phục vụ bộ máy cai trị, và cũng không tránh khỏi một số người muốn vào đạo vì những mục đích khác nhau Trước nhu cầu đó, nhà cầm quyền cùng Giáo hội lập ra giáo xứ Trà Vinh và xây cất nhà thờ có quy mô lớn vào những năm đầu thế kỷ XX Như vậy, quá trình hình thành đạo Công giáo ở thành phố Trà Vinh chậm hơn các nơi khác trong tỉnh và diễn biến của quá trình cũng khác Ở đây không diễn ra quá trình truyền đạo của Giáo hội mà chỉ là sự hợp thức hóa số giáo dân sẵn có Tuy vậy, việc một nhà thờ Công giáo đồ sộ mọc ngay giữa lòng khu dân cư người Việt cùng lúc với phong trào Âu hóa lối sống, Âu hóa văn hóa dân tộc đã có tác dụng kích thích các tôn giáo khác phát triển Chỉ ít năm sau đó, một loạt các chùa Phật giáo Kinh cũng như Khmer, chùa Ông người Hoa được xây cất kiên cố với quy mô lớn Sự ra đời của các cơ sở tôn giáo cổ truyền như một lời khẳng định sự tồn tại của văn hóa dân tộc trước làn sóng Âu hóa

Các tôn giáo khác, ngay khi ra đời hoặc được truyền vào Việt Nam đã nhanh chóng tìm chỗ đứng ở thành phố Trong thành phố có miếu thờ Ông Bổn, 15 đình am miếu khác, hai cơ sở của đạo giáo Tứ Ân…

1.1.3 Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân thành phố Trà Vinh qua các thời kỳ lịch sử

Trải qua hơn 100 năm kể từ thi thành lập (1900), vùng đất Trà Vinh nói chung, thị xã Trà Vinh nói riêng, có truyền thống cách mạng hào hùng Hào khí Trà Vinh đã không ngừng được hun đúc và tỏa sáng trong quá trình khai phá thiên nhiên cũng như trong quá trình đấu tranh giai cấp và đánh đuổi giặc ngoại xâm Cốt lõi đoàn kết sức mạnh và ánh sáng của hào khí ấy là khối đại đoàn kết vững bền của cộng đồng dân cư đa dân tộc ở Trà Vinh từ khi có Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua những người cộng sản hoạt động

Trang 24

là Cách mạng tháng Tám năm 1945 Thắng lợi này đã làm hệ thống chính quyền thực dân - nửa phong kiến ở Trà Vinh hoàn toàn sụp đổ

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là mốc son lịch sử đánh dấu sự mở đầu vĩ đại cho chặng đường mới trong tiến trình phát triển của tỉnh Trà Vinh Từ đây, đồng bào các dân tộc trong tỉnh hồ hởi tham gia vào sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Nhưng cuộc hành trình lịch sử này vừa bắt đầu thì thực dân Pháp và các thế lực phản động lại điên cuồng chống phá Chiến tranh bùng nổ rồi lan dần trên khắp đất Trà Vinh vào cuối mùa thu năm 1945 Nhưng, kẻ thù đã không thể đè bẹp được ý chí bất khuất của những người cộng sản, không thể bóp nghẹt được chính quyền cách mạng non trẻ ở Trà Vinh; kẻ thù càng không thể dập tắt được ngọn lửa yêu nước, niềm tin vào cách mạng và sự quật khởi của sức mạnh đoàn kết của đồng bào các dân tộc hàng trăm năm sống gần gũi bên nhau trên mảnh đất này

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và chính quyền cách mạng tỉnh, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được phát động trên khắp miền quê tỉnh Trà Vinh Hào khí Trà Vinh đã hóa thân vào cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chưa từng có này, để có những chiến công oanh liệt sáng mãi trong những trang sử của non sông đất nước

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp, thị xã Trà Vinh đã chia lửa với Sài Gòn - Gia Định và những vùng phụ cận; đã đánh chặn địch ở khắp mọi nơi trong tỉnh, đặc biệt là

sự đối đầu bằng vũ lực với thực dân Pháp tại mặt trận Vàm Trà Vinh suốt một ngày đêm bằng một lực lượng hoàn toàn chưa có kinh nghiệm chiến đấu, trang bị hết sức thô sơ Chiến công này đã được Bác Hồ gửi công điện khen

ngợi (đăng trên báo Cứu quốc, số 124, ngày 22-12-1945): “… đã làm gương

Trang 25

anh dũng cho toàn quốc Tổ quốc biết ơn… toàn thể đồng bào noi gương…”

[16; 20]

Năm 1950, những chiến công của Công an xung phong thị xã Trà Vinh với nhiều cách đánh bất ngờ, táo bạo làm rung động tinh thần kẻ địch ngay tại thị xã đã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ và quần chúng cách mạng trong tỉnh Nhiều đơn vị, nhiều nơi đã nghiên cứu cách đánh này và phát triển thành phong trào “ôm hè, bắt hè”, nhắm vào bọn địch đi lẻ, bọn ác ôn

Và từ đó, chiến công cứ nối tiếp chiến công, Đảng bộ và quân dân thị

xã Trà Vinh đã chiến đấu một cách ngoan cường, đã đối mặt với biết bao gian khổ, hy sinh để vượt qua những tình huống hiểm nghèo, để bảo đảm phối hợp tác chiến, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Trà Vinh cùng cả nước đến ngày thắng lợi

Thắng lợi của quân và dân thị xã Trà Vinh trong những năm 1945-1954 không chỉ là chiến thắng quân sự đánh đuổi thực dân Pháp và đè bẹp các thế lực phản động, mà còn đem lại những thành quả quan trọng: sự trưởng thành của tổ chức đảng qua tôi luyện; sự vững vàng của chính quyền cách mạng qua thử thách; sự đổi mới và tiến bộ ở nông thôn qua những cải cách dân chủ; những biến chuyển của các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế; sự nâng cao về chất trong sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ thâm độc của kẻ thù

Tháng 7-1954, cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, nhưng đế quốc Mĩ đã thay thực dân Pháp thống trị miền Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới, phế truất Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm lên làm tay sai Chúng ráo riết triển khai các hoạt động nhằm quản

lý lãnh thổ, kiểm soát và kìm kẹp nhân dân, tìm diệt đảng viên Đảng Cộng sản, khủng bố những người yêu nước, xóa bỏ những thành quả cách mạng mà

Trang 26

và trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp Trước tình hình đó, tổ chức đảng đã lãnh đạo đồng bào các dân tộc thị xã Trà Vinh thi hành Hiệp định Giơnevơ, đồng thời nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; trong khi chuyển quân tập kết ra Bắc, đã bí mật cất giấu vũ khí và bố trí cán bộ, đảng viên ở lại

để tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh

Trong 6 năm đấu tranh chính trị (1954-1960), đồng bào các dân tộc trên địa bàn thị xã Trà Vinh đã nhẫn nại chịu đựng và vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, một lòng theo Đảng Lòng nhân hậu, tình thương cao cả, sự

hy sinh, chịu đựng vô bờ bến của nhân dân đã có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo vệ và nuôi giấu cán bộ, đảng viên trước lưỡi lê, họng súng và máy chém của quân thù Giai đoạn này, chi bộ nội ô thị xã Trà Vinh đã tổ chức xây dựng lực lượng công khai và bán công khai, đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi dân sinh, dân chủ Chi bộ nội ô tổ chức đưa người vào để khống chế các Liên hiệp Nghiệp đoàn và chỉ đạo thành lập các nghiệp đoàn trực thuộc do cán bộ, đảng viên, các cơ sở quần chúng lãnh đạo để tập hợp lực lượng Các cuộc đấu tranh chính trị với những yêu cầu, nội dung cụ thể gắn chặt với quyền lợi của người dân như chống xáo trộn chợ búa, hạ thuế hoa chi, chống các hình thức phạt vạ…bao giờ cũng đi cùng với nội dung chống trả thủ những người kháng chiến, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ Có những cuộc biểu tình có sự tham gia của hàng vạn quần chúng như cuộc biểu tình ngày 20-7-1956 và ngày 26-10-1956… Đến cuối năm 1959 - đầu năm

1960, lực lượng cách mạng ở thị xã Trà Vinh có những biến chuyển quan trọng về chất và lượng, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng có sự

hỗ trợ của lực lượng vũ trang đã tạo được sức mạnh to lớn, làm nên chiến công Đồng khởi vang dội với sự tham gia của hơn 4 vạn quần chúng vào đêm ngày 14-9-1960, giải phóng hàng loạt vùng nông thôn rộng lớn, đẩy địch và

bộ máy quân sự tổ lớn của chúng lâm vào thế hoang mang, sợ hãi Cuộc Đồng

Trang 27

khởi ở Long Đức đã mở ra vùng giải phóng, khu căn cứ lõm, vùng tranh chấp…tạo điều kiện để các lực lượng vũ trang triển khai thế trận chiến tranh nhân dân Thực tế đấu tranh của thành phố đã được đúc kết thành những kinh nghiệm, bài học bổ ích cho phong trào chung của tỉnh, của miền

Trong giai đoạn 1961-1964, Đảng bộ và nhân dân thị xã Trà Vinh đã tích cực xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ở địa phương, tấn công địch bằng ba mũi giáp công Tiêu biểu là đẩy mạnh phong trào học sinh, với khẩu hiện chống quân sự hóa học đường, yêu cầu phải thả học sinh Đỗ Điền Phong - một đoàn viên Thanh niên Cộng sản Đây là cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt, gay gắt và có quy mô lớn nhất vùng Tây Nam

Bộ vào thời điểm ấy Cuộc đấu tranh đã được chuẩn bị và tổ chức rất chu đáo, huy động và biểu dương được sức mạnh tổng hợp không gì có thể ngăn cản được của quần chúng nội ô thị xã, mà học sinh là ngòi pháo, ngòi nổ phát động

Các lực lượng vũ trang của thị xã cũng đã tổ chức nhiều trận đánh dũng cảm, táo bạo, mưu trí diệt địch ngay tại sào huyệt của chúng, như các trận: 2 đồng chí của tiểu đội du kích Long Đức cải trang làm lái heo đường sông, tay không áp xuồng vào đồn Vàm Trà Vinh mưu trí, dũng cảm cướp súng diệt gọn lính trong đồn; 4 đồng chí khác hóa trang thành dân buôn trái cây bất thần tấn công đánh úp đồn Vàm Trà Vinh, diệt gọn một trung đội địch, thu nhiều

vũ khí; hoặc cũng với phương thức hóa trang thành những người đi bán hột vịt, đội biệt động đã xông liên tiêu diệt bọn lính đồn Sóc Ruộng; hoặc hóa trang thành một tiểu đội lính bảo an ém quân ở nhà dân rồi tấn công vào Nhà đèn, gây thiệt hại nặng cho địch Công tác binh vận năm 1963 cũng đạt được thành tích đặc biệt: binh vận thị xã cùng một cơ sở liên tiếp lấy được hai đồn Vườn Cò và Vĩnh Hội, thu hơn 60 súng các loại, trong đó có một cối 60 ly…

Trang 28

địch nhiều đòn choáng váng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của quân và dân toàn tỉnh và toàn miền, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của

Mĩ - ngụy

Phát huy khí thế thắng địch trong “chiến tranh đặc biệt”, quân và dân thị xã Trà Vinh đanh giành được thắng lợi to lớn trong cuộc Tổng tiến công

và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, giáng một đòn chí mạng vào tận sào huyệt

kẻ thù, một đòn sấm sét vào đầu não ngụy quyền cấp tỉnh Toàn chiến địch, quân và dân thị xã đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, thu hàng trăm vũ khí các loại, phá hủy nhiều kho tàng, căn cứ địch, làm cho địch hoang mang về tinh thần, tê liệt phần lớn sức chiến đấu, tạo điều kiện cho các chiến trường trong tỉnh chiến đấu và chiến thắng kẻ thù Quân và dân tỉnh Trà Vinh, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của quân và dân thị xã, đã được Đảng

và Nhà nước khen tặng Huân chương Thành đồng hạng Nhất và lá cờ vẻ vang

với Tám chữ vàng “Toàn dân nổi dậy, đoàn kết lập công”

Sau Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân ta,

Mĩ - ngụy càng tỏ ra ngoan cố và hiếu chiến hơn, chúng tập trung mọi nỗ lực quân sự và tiến hành nhiều thủ đoạn thâm độc, gây cho ta nhiều tổn thất Tiến trình cách mạng ở Trà Vinh luôn phải đương đầu với những khó khăn thử thách mới Đảng bộ và nhân dân thị xã Trà Vinh luôn đoàn kết một lòng và thống nhất ý chí, với quyết tâm sắt đá, không chùn bước, không khuất phục trước kẻ thù, quân và dân thị xã kiên cường bám trụ để giữ đất, bảo vệ vùng căn cứ kháng chiến, ra sức phát triển lực lượng, giữ vững thế tiến công và tạo thời cơ, phá tan mọi ý đồ thực hiện các kế hoạch: “quốc sách ấp chiến lược”,

“bình định cấp tốc”, “bình định có trọng điểm” của Mĩ - ngụy trên đất Trà Vinh Thực hiện tốt sự chỉ đạo của Tỉnh ủy là “cột đầu địch tại tỉnh lỵ”, quân

và dân thị xã đã tổ chức đợt cao điểm đánh thọc sâu vào nội ô: tập kích vào Ban căn cước Vĩnh Bình diệt một tiểu đội cảnh sát; cải trang cảnh sát dã chiến

Trang 29

bắt sống 11 tên địch, thu 11 xe các loại; du kích xã Long Đức cải trang lính

Sư đoàn 9 của địch đánh vào trưởng ấp Thanh Lệ thu 11 súng; trận đánh mục tiêu Phượng Hoàng bắt sống tên trưởng phòng tình báo Phượng Hoàng, thu 3 máy đánh chữ và nhiều tài liệu; hỗ trợ quần chúng ấp Mỹ Cần phá kìm kẹp; chặn xe chở lính trên đoạn Trà Vinh đi Đa Lộc, bắt hàng chục tên địch, thu giữ 4 xe gắn máy; du kích mật neo thủy lôi đã hẹn giờ dưới ghe lưới di chuyển đến cầu Long Bình rồi khéo léo cắt dây cho quả thủy lôi chìm ngay bên dưới dạ cầu, đánh sập cầu, và cũng với phương án tác chiến này, du kích mật lại đánh sập cầu Long Bình lần thứ hai sau khi chúng mới xây dựng lại…Cùng với các hoạt động quân sự, các cơ sở trong nội ô cũng liên tiếp tổ chức các đợt đấu tranh chính trị như tổ chức lễ cầu nguyện hòa bình ở Thánh thất Cao Đài Vĩnh Bình (ấp Vĩnh Yên, Long Đức) và trong các chùa Khmer, trong đó khéo léo lồng vào nội dung tự do tín ngưỡng, chống đôn quân bắt lính, đặc biệt là bắt lính trong sư sãi

Cũng trong giai đoạn này, để tỏ lòng tôn kính và đời đời nhớ ơn Bác, thể hiện quyết tâm đánh địch, quân và dân thị xã đã quyết định xây dựng Đền thờ Bác Hồ Đền thờ Bác Hồ đã được khởi công xây dựng từ ngày 10-3-1970

ở xã Long Đức - vùng đất thép của thị xã Trà Vinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ Trải qua biết bao trận càn quét, đánh phá ác liệt của địch, Đền thờ Bác được khánh thành ngày 26-01-

1971 và sừng sững hiên ngang tồn tại suốt 5 năm trời cho đến ngày kháng chiến thắng lợi, đã có sức cỗ vũ vô cùng to lớn đối với Đảng bộ, quân và dân thị xã nói riêng, tỉnh Trà Vinh nói chung, trong cuộc khánh chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược tại những thời điểm cam go, ác liệt nhất Niềm tự hòa của người dân thị xã còn được nhân lên gấp bội vì trong 3 địa phương ở Miền Nam có đền thờ Bác thì chỉ duy nhất Đền thờ Bác ở Trà Vinh được xây dựng

Trang 30

trong năm xây dựng Đền thờ Bác, quân và dân thị xã đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch, 100.000 lượt quần chúng nhân dân đã tham gia đấu tranh chống Mĩ - ngụy, nhiều người đã vận động con em những gia đinh

đã đi lính “quốc gia” trở về với nhân dân

Trong suốt cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược và bè lũ tay sai, Trà Vinh là chiến trường cài răng lược Đảng bộ Trà Vinh đã lãnh đạo đồng bào các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống tự lực, tự cường, xây dựng hậu cần nhân dân tại chỗ để thực hiện quyết tâm bám trụ đánh bại quân thù Với ý chí đánh địch người trước ngã, người sau tiến lên, thế trận “lòng dân”, thế trận chiến tranh nhân dân địa phương không ngừng phát triển phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể, bằng mọi hình thức phong phú và đa dạng, kết hợp “2 chân 3 mũi” (chính trị - quân sự - binh vận), tăng cường binh vận và nội ứng… Khắp Trà Vinh toàn dân tiến công, đánh toàn diện, đánh liên tục, giành chiến thắng giòn giã, góp phần cùng toàn miền Nam giành thắng lợi trong tiến công chiến lược năm 1972, buộc đế quốc Mĩ phải ký Hiệp định Pari

Sau khi Hiệp định Pari được ký kết (ngày 27-1-1973), quân Mĩ cuốn cờ rút quân về nước, nhưng đế quốc Mĩ không từ bỏ ý đồ xâm lược miền Nam Việt Nam, tiếp tục tăng cường viện trợ quân sự cho ngụy quyền Sài Gòn Ở Trà Vinh, quân địch ráo riết đôn quân bắt lính, kết hợp với quân chủ lực vùng

IV chiến thuật mở các chiến dịch quân sự để lấn chiếm đất, đồng thời dùng chiến tranh tâm lý để đánh phá cơ sở và lực lượng của ta Quán triệt chủ trương của Khu ủy Khu Tây Nam Bộ và Tỉnh ủy Trà Vinh, Đảng bộ thị xã đã lãnh đạo nhân dân thị xã nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, kiên quyết trừng trị quân địch lấn chiếm, vi phạm Hiệp định Pari

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Trà Vinh, Đảng bộ, quân và dân thị xã Trà Vinh đã phối hợp với lực

Trang 31

lượng của tỉnh, kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công đồng loạt tấn công vào đầu não ngụy quân, ngụy quyền trên địa bàn toàn tỉnh Thị xã Trà Vinh được giải phóng vào lúc 11 giờ 30 phút cùng lúc với giải phóng Sài Gòn, tỉnh Trà Vinh được hoàn toàn giải phóng trong ngày 30-4-1975, cùng cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Việt Nam

Trong 30 năm kháng chiến cứu nước, thị xã Trà Vinh luôn tự hào là một trong số ít địa phương không có điểm trắng cơ sở, và cùng với các huyện khác trong tỉnh, thị xã Trà Vinh đã có những đóng góp to lớn về nhân lực và vật lực cùng đồng bào cả nước làm nên thắng lợi trọn vẹn Thị xã có 967 liệt

sĩ, 570 thương binh, Đảng bộ, quân và dân thị xã, xã Long Đức và 3 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 45 bà mẹ được phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hàng nghìn gia đình được công nhận là gia đình có công với nước…

Với những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh, trong đó có phần đóng góp quan trọng của Đảng bộ, quân và dân thị xã Trà Vinh, đã được Nhà nước tuyên dương công

trạng và phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”

Thắng lợi trong 30 năm kháng chiến cứu nước đã khẳng định trí tuệ tập thể và sức mạnh đoàn kết của Đảng bộ thị xã Trà Vinh Đó là tập thể thật sự dũng cảm và sáng tạo, luôn giữ vững vai trò lãnh đạo của mình trước những hoàn cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp và những tình huống hiểm nghèo; không chỉ tỏ ra là lực lượng ưu tú đại diện cho ý chí và quyền lợi của cộng đồng các dân tộc thị xã Trà Vinh và nêu cao lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, mà còn sớm khẳng định được tính tổ chức và bản lĩnh chính trị của mình, trở thành trung tâm tập hợp sức mạnh của quần chúng lao động các giới, các dân

Trang 32

tộc, các tôn giáo trên địa bàn, đã chỉ đạo và tổ chức thành công thế trận chiến tranh nhân dân trên vùng đất này, giành được thắng lợi vẻ vang

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế, xã hội, tinh thần yêu nước, sức mạnh đoàn kết toàn dân được phát huy cao độ, thành phố Trà Vinh cũng luôn là địa phương dẫn đầu trong những thời kỳ khó khăn nhất, tiêu biểu như xã Long Đức là một trong những xã dẫn đầu phong trào nhân dân du kích chiến tranh trong tỉnh, là điển hình trong sản xuất kinh doanh thời

kỳ trước đổi mới, trong thời kỳ cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Trà Vinh sẽ tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng của quân và dân thành phố trong thời kỳ kháng chiến cứu nước, với tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết một lòng giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa,… xây dựng thành phố Trà Vinh xanh, sạch, đẹp và ngày càng giàu mạnh

1.2 Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Trà Vinh giai đoạn 1992 - 2015

1.2.1 Đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước 1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử

Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất

- kỹ thuật, mở mang giáo dục, khoa học, văn hóa, y tế

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở tình trạng nông nghiệp lạc hậu, còn nặng tính chất tự cấp, tự túc Trang bị kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém Cơ cấu kinh tế mất cân đối nặng Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả nặng nề Nền kinh tế rất kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, tích luỹ trong nước chưa đáng kể, còn lệ thuộc nhiều vào bên ngoài

Trang 33

Khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm nay: lạm phát nghiêm trọng; sản xuất bấp bênh; thất nghiệp tăng; tiền lương không đủ sống; trật tự

an toàn xã hội không được bảo đảm; tham nhũng và nhiều tệ nạn xã hội khác lan rộng, công bằng xã hội bị vi phạm; nếp sống văn hóa, tinh thần và đạo đức

bị xói mòn; lòng tin vào Đảng và Nhà nước giảm sút

Thực trạng nêu trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại và hậu quả nhiều năm chiến tranh, song chủ yếu là do chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong tiến trình công nghiệp hóa và trong cơ chế quản lý kinh tế Những sai lầm đó cùng với sự trì trệ trong công tác tổ chức, cán bộ đã kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu nhiều động lực phát triển

Những quan điểm và chính sách đổi mới về kinh tế - xã hội do Đại hội

VI của Đảng đề ra được cụ thể hóa và phát triển trong quá trình thực hiện, đặc biệt là những giải pháp tích cực từ cuối năm 1988 đã đưa tới những thành tựu bước đầu rất quan trọng: hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; xóa bỏ về cơ bản cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, bước đầu chuyển sang

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; giảm tốc độ lạm phát; đáp ứng tốt hơn nhu cầu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng; tăng nhanh xuất khẩu và có bước phát triển mới về kinh tế đối ngoại

Tuy nhiên, bước tiến đó chưa vững chắc Lạm phát còn ở mức cao; sản xuất chưa ổn định; tiêu cực xã hội vẫn trầm trọng Đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội

Việc chuyển sang cơ chế thị trường còn thiếu nhất quán, chưa đồng bộ, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ; quản lý vĩ mô chưa thoát hẳn cơ chế cũ, lại buông lỏng nhiều mặt; thể chế, bộ máy và đội ngũ cán bộ chưa theo kịp yêu cầu mới

Trang 34

Hậu quả của những sai lầm cũ chưa khắc phục hết, lại thêm những khó khăn mới do những khuyết điểm trong quá trình đổi mới và những biến động bất lợi trong tình hình quốc tế

Đất nước đang chuyển biến với những thành công bước đầu về cải cách kinh tế, có thêm thuận lợi mới, đồng thời đang đứng trước những thử thách rất gay gắt

Trong khi đó, thị xã Trà Vinh sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Cửu Long nói chung, thị xã Trà Vinh nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển và bắt đầu phát huy được tiềm năng, thế mạnh của mình Đời sống của nhân dân dần được cải thiện Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy, nội bộ đoàn kết nhất trí Hệ thống chính trị được tăng cường và củng cố Lòng tin của người dân vào công cuộc đổi mới tăng lên

Tuy nhiên, tình hình chung vẫn còn nhiều khó khăn Thị xã Trà Vinh vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài,lạm phát vẫn còn ở mức cao,tình trạng tham nhũng, tiêu cực, bất công

xã hội chưa bị đẩy lùi Đời sống của những người hưởng lương và một bộ phận nông dân tiếp tục giảm sút Bên cạnh đó, sự tan rã củaLiên Xô và sự sụp

đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu không những ảnh hưởng xấu đến tâm lý, tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên, hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn gần như mất hẳn nguồn viện trợ nước ngoài và thị trường truyền thống của hàng hóa xuất khẩu nước ta và của địa phương Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện chính sách bao vây cấm vận, chống phá công cuộc đổi mới ở nước ta

Trước bối cảnh lịch sử trên, đòi hỏi Đảng bộ thị xã Trà Vinh phải kịp thời có quan điểm đúng đắn và đề ra phương hướng chỉ đạo phù hợp trong

Trang 35

từng giai đoạn, tạo điều kiện cùng nhân dân từng bước tháo gỡnhững khó khăn, vướng mắc để ổn định tình hình kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị của địa phương

1.2.1.2 Đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước

Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991)

đã xác định: Phát triển kinh tế - xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người

có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc

Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Lợi ích của mỗi người, của từng tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp

Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển có hiệu quả nền sản xuất xã hội Mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo

cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật

Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

Trang 36

khích tính năng động, sáng tạo đi đôi với thiết lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế Phát huy lợi thế tương đối, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của sản xuất và đời sống, hướng mạnh về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất

có hiệu quả

Mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các công ty và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Phát huy tinh thần độc lập tự chủ, không ỷ lại vào bên ngoài, khai thác tối đa mọi lợi thế và nguồn lực của đất nước là điều kiện

cơ bản để mở rộng có hiệu quả kinh tế đối ngoại, bảo đảm cho nền kinh tế luôn luôn phát triển trong thế chủ động

Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển Các đơn vị kinh tế kinh doanh có hiệu quả, có lãi và thực hiện các trách nhiệm xã hội theo luật pháp Nhà nước có chính sách khuyến khích và bổ trợ cho các đơn vị kinh tế bị thua thiệt khi phục vụ lợi ích chung

Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, không ngừng nâng cao năng lực khoa học và công nghệ, chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai

để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Kết hợp nhiều trình độ công nghệ khác nhau, tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến, tận dụng lợi thế của nước đi sau Khai thác các yếu tố phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, ngày càng hướng mạnh vào chiều sâu Tận dụng lợi thế của loại hình xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ

Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường Lấy phân phối theo lao động làm hình thức chính, khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm số người nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, thực hiện nam nữ bình đẳng,

Trang 37

tạo cơ hội cho mọi người đều được cống hiến và được hưởng thành quả của

sự phát triển

Dân chủ hóa đời sống xã hội; quyền công dân, quyền con người và tự

do cá nhân được bảo đảm bằng pháp luật, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và chỉ bị ràng buộc bởi pháp luật

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với ổn định và đổi mới về chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật

tự, an toàn xã hội

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược đến năm 2000 là: ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng

và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đến năn 2000 tăng khoảng gấp đôi so với năm 1990

Mục tiêu này bao gồm những nội dung dưới đây:

Một là, vượt qua những khó khăn gay gắt trước mắt, ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội Đẩy lùi và khống chế lạm phát, ổn định và phát triển sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân, thu hẹp chênh lệch trong thanh toán quốc tế; chấm dứt tình trạng xuống cấp về giáo dục, văn hóa,

y tế, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế, hình thành đồng bộ cơ chế thị trường; chỉnh đốn và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, chống tham nhũng, thiết lập trật tự, kỷ cương trong kinh tế và

xã hội Nhiệm vụ này là trọng tâm của kế hoạch 5 năm 1991 - 1995

Hai là, phấn đấu xóa nạn đói, giảm số người nghèo khổ, giải quyết vấn

đề việc làm, bảo đảm các nhu cầu cơ bản, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa

và tinh thần của nhân dân, tăng dần tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, thu hút

Trang 38

nhiều nguồn lực bên ngoài; tăng cường cơ sở, vật chất - kỹ thuật, chuyển dịch

rõ rệt cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa

Ba là, củng cố và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, năng lực khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu của những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai

Bốn là, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh trong tình hình mới, bảo đảm trật tự, an toàn và môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cho sự nghiệp phát triển kinh tế

Về Nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới

Nông - lâm - ngư nghiệp phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến, đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, phát huy lợi thế sinh thái, bảo vệ môi trường và tài nguyên

Sản xuất nông nghiệp đi vào chuyên canh kết hợp với kinh doanh tổng hợp nhằm đạt giá trị cao nhất trên một đơn vị diện tích Thâm canh, tăng vụ là chính và mở thêm diện tích ở những nơi có điều kiện Tăng sản lượng lương thực đủ nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu Tăng nhanh tỷ trọng cây công nghiệp, cây thực phẩm và chăn nuôi Hình thành một số vùng chuyên canh cây công nghiệp và chăn nuôi, có cả công nghiệp chế biến, dành cho thị trường ngoài nước

Phát triển và hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, giải quyết về căn bản vấn đề tưới tiêu nước cho những vùng trọng điểm lương thực và cây công nghiệp tập trung Tận dụng phân hữu cơ, tăng mức đáp ứng nhu cầu phân hóa học, tích cực phòng trừ sâu bệnh áp dụng rộng rãi công nghệ và các biện pháp sinh học trong các khâu chính của quá trình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, hạn chế

ô nhiễm môi trường và thoái hóa đất Từng bước cơ giới hóa có hiệu quả các khâu sản xuất chủ yếu

Trang 39

Lâm nghiệp có nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng và đất rừng Đẩy nhanh việc trồng và khoanh nuôi rừng, phủ xanh và sử dụng đất trống, đồi trọc gắn liền với phân bố lao động lên trung du, miền núi, thực hiện định canh, định cư, ổn định đời sống của các dân tộc Mọi đất rừng đều có người làm chủ trực tiếp, kể cả rừng kinh tế, rừng phòng hộ và các khu bảo tồn thiên nhiên Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp, gắn với công nghiệp khai thác và chế biến, kinh doanh tổng hợp đất rừng

Ngư nghiệp phát triển đánh bắt và nuôi trồng các loại thủy, hải sản nhất

là các loại có khả năng xuất khẩu Thực hiện nghiêm quy chế bảo vệ nguồn lợi thủy, hải sản, ngăn chặn việc khai thác hủy diệt tài nguyên Xây dựng đội ngũ lao động giỏi nghề biển, cơ sở hạ tầng và chế biến, bảo hộ nghề cá nhân dân Phát triển lực lượng tàu thuyền khai thác vùng biển xa

Coi trọng các công nghệ sau thu hoạch Phát triển rộng khắp công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, kết hợp nhiều hình thức, trình độ công nghệ, hợp tác, liên doanh với nước ngoài để hiện đại hóa công nghệ, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Giảm dần và tiến tới chấm dứt việc xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới Phát huy tối đa tiềm năng của kinh tế hộ nông dân, kết hợp với hoạt động có hiệu quả của các tổ chức kinh tế hợp tác thu hút phần lớn số hộ ở nông thôn và liên kết bằng nhiều hình thức với kinh tế quốc doanh

Phát triển mạnh các ngành nghề, đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đưa nhanh kỹ thuật nông nghiệp và công nghệ mới đến tận hộ gia đình; giải quyết việc làm và thay đổi cơ cấu lao động, giảm bớt số lao động sản xuất nông nghiệp Hình thành các điểm công thương nghiệp và văn hóa ở nông thôn

Trang 40

Nhà nước hỗ trợ xây dựng nông thôn mới chủ yếu là về xây dựng kết cấu hạ tầng và dùng các chính sách tài chính, tín dụng, giá cả, đầu tư để khuyến khích sản xuất, tăng thu nhập và sức mua của dân cư nông thôn

Phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với xây dựng văn hóa mới, thực hiện những tiến bộ xã hội, đặc biệt là về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thu hẹp diện những gia đình thiếu đói và vùng thiếu đói Kiến thiết nông thôn mới theo quy hoạch, hết sức hạn chế mất đất canh tác

Về Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Tận dụng khả năng của tất cả các thành phần kinh tế, phát triển mạnh công nghiệp hàng tiêu dùng bằng nhiều hình thức, quy mô và công nghệ thích hợp để thỏa mãn nhu cầu về các loại hàng thông thường (hàng dệt và may mặc, giấy, thuốc chữa bệnh, kim khí tiêu dùng ), tăng mức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của nhân dân và đẩy mạnh xuất khẩu

Tích cực tạo nguồn nguyên liệu và tăng năng lực trang bị kỹ thuật trong nước, đồng thời đẩy mạnh nhập nguyên liệu và thiết bị mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được Đổi mới thiết bị, công nghệ và bảo đảm chất lượng các loại nguyên liệu, vật liệu để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Khuyến khích chế tạo mặt hàng mới

Mở rộng các hình thức liên doanh, hợp tác với nước ngoài làm hàng xuất khẩu là một hướng ưu tiên để phát triển và hiện đại hóa các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng

Về Công nghiệp tư liệu sản xuất và khai thác chế biến khoáng sản

Phát triển có chọn lựa một số ngành, trước hết hướng vào phục vụ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Quy mô, thời điểm xây dựng và mức độ phát triển các ngành này căn cứ vào hiệu quả, khả năng đầu tư, nhất là khả năng tranh thủ vốn và kỹ thuật ngoài nước

Ngày đăng: 13/07/2017, 15:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cục thống kê tỉnh Trà Vinh (2016), Niên giám thống kê năm 2015, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2015
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Trà Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
Năm: 2016
4. Huỳnh Thị Gấm (1998),Những biên đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 đến năm 1995, Luận án TS lịch sử, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biên đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 đến năm 1995
Tác giả: Huỳnh Thị Gấm
Năm: 1998
5. Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1987
6. Huỳnh Lứa (2000), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII,XVIII, XIX, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII,XVIII, XIX
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2000
7. Huỳnh Ngọc Trảng, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc (1987), Người Khmer tỉnh Cửu Long, Sở Văn hóa Thông tin Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Khmer tỉnh Cửu Long
Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc
Năm: 1987
8. Lê Thông (2006), Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam, Tập sáu: Các tỉnh và thành phố đồng bằng sông Cửu Long, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
9. Nguyễn Thị Cẩm Loan (2010), Nâng cao khả năng tiếp cận nguồn tài chính vi mô cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao khả năng tiếp cận nguồn tài chính vi mô cho người nghèo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Loan
Năm: 2010
10. Nguyễn Thuận Phương (2014), Phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thuận Phương ("2014"), Phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Nguyễn Thuận Phương
Năm: 2014
13. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn Trà Vinh năm 2012, số 187/KH-SNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn Trà Vinh năm 2012
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2011
14. Sở văn hóa thông tin Cửu Long (1992), Chiến công mở đầu 2 cuộc kháng chiến ở Vĩnh Trà, Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến công mở đầu 2 cuộc kháng chiến ở Vĩnh Trà
Tác giả: Sở văn hóa thông tin Cửu Long
Năm: 1992
16.Thành ủy Trà Vinh (2014), Lịch sử truyền thống của Đảng bộ và nhân dân Thành phố Trà Vinh (1975-2010), Ban Tuyên giáo Thị ủy Trà Vinh, Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền thống của Đảng bộ và nhân dân Thành phố Trà Vinh (1975-2010)
Tác giả: Thành ủy Trà Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
17. Thành ủy Trà Vinh (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành ủy Trà Vinh lần thứ X (2010 - 2015), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành ủy Trà Vinh lần thứ X (2010 - 2015)
Tác giả: Thành ủy Trà Vinh
Năm: 2010
18. Thành ủy Trà Vinh (2015), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành ủy Trà Vinh lần thứ XI (2015 - 2020), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành ủy Trà Vinh lần thứ XI (2015 - 2020)
Tác giả: Thành ủy Trà Vinh
Năm: 2015
19. Thị uỷ Trà Vinh (1990),Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh xã Long Đức - thị xã Trà Vinh - tỉnh Cửu Long, Ban Tuyên giáo thị uỷ Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh xã Long Đức - thị xã Trà Vinh - tỉnh Cửu Long
Tác giả: Thị uỷ Trà Vinh
Năm: 1990
20. Thị ủy Trà Vinh (1991), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ VI (1991 - 1995), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ VI (1991 - 1995)
Tác giả: Thị ủy Trà Vinh
Năm: 1991
21. Thị ủy Trà Vinh (1996), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ VII (1996 - 2000), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ VII (1996 - 2000)
Tác giả: Thị ủy Trà Vinh
Năm: 1996
22. Thị ủy Trà Vinh (2001), Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Thị xã Trà Vinh anh hùng 1930-1975, Ban Tuyên giáo Thị ủy Trà Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Thị xã Trà Vinh anh hùng 1930-1975
Tác giả: Thị ủy Trà Vinh
Năm: 2001
23. Thị ủy Trà Vinh (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ VIII (2001 - 2005), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ VIII (2001 - 2005)
Tác giả: Thị ủy Trà Vinh
Năm: 2001
24. Thị ủy Trà Vinh (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ IX (2005 - 2010), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thị xã Trà Vinh lần thứ IX (2005 - 2010)
Tác giả: Thị ủy Trà Vinh
Năm: 2005
25. Tỉnh ủy Trà Vinh (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Trà Vinh lần thứ VI (1996 - 2000), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Trà Vinh lần thứ VI (1996 - 2000)
Tác giả: Tỉnh ủy Trà Vinh
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w