1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh tiền giang

96 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 650,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc tuân thủ pháp luật bảo hiểm y tế, việc sử dụng, áp dụng và thực thi pháp luật bảo hiểm y tế của các chủ thể có liên quan cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN MINH HẰNG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số 8.38.01.06

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HOÀI ÂN

Nghệ An, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để làm hoàn thành luận văn này, trước tiên em xin chân thành cảm ơn: Trường Đại học Vinh, khoa Luật và Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Lê

Thị Hoài Ân - người đã tận tình hướng dẫn thực hiện luận văn tốt nghiệp, đến

Thầy giáo TS Đinh Ngọc Thắng - Trưởng khoa Luật, cùng các quý Thầy, Cô

trong khoa Luật, trường Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong thời gian tôi học tập ở đây, đến gia đình và bạn bè - những người đã giúp đỡ hết sức mình cho luận văn này được hoàn thành

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù rất cố gắng nhưng luận văn cũng không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được tự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn!

Nghệ An, năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN 7

1.1 Khái quát về bảo hiểm y tế và pháp luật về bảo hiểm y tế Việt Nam 7

1.2 Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

200 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế

322 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CỦA TỈNH TIỀN GIANG

3939 2.1 Khái quát về các trường cao đẳng, đại học và tình hình sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

3939 2.2 Cơ quan quản lý và thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên của tỉnh Tiền Giang

392 2.3 Kết quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2015-2018 46

2.4 Nhận xét chung về tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học của tỉnh Tiền Giang 56

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN 66

3.1 Quan điểm đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên 66

3.2 Các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên 69

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT Từ viết tắt Từ viết đầy đủ

2 CCVC Công chức viên chức

4 BHXH Bảo hiểm xã hội

6 HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách an sinh xã hội quan trọng mà mọi quốc gia trên thế giới đều quan tâm Đây là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực hiện, các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của pháp luật

Ở Việt Nam, chính sách BHYT được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng Chính sách BHYT bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 1992 theo Nghị định 299/NĐ/CP của Chính phủ Từ khi Điều lệ BHYT đầu tiên ra đời đến nay Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về BHYT, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện ngày càng hoàn thiện hơn chính sách BHYT, góp phần tích cực tạo nguồn tài chính cho việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, trong đó có sinh viên Tại kỳ họp thứ 4, ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật BHYT đầu tiên, từ đây pháp luật về BHYT đã chính thức được nâng lên thành Luật - văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Luật BHYT ra đời đã khắc phục được cơ bản những vấn đề vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế để từng bước tiến tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển Để đạt được mục tiêu quan trọng đó, việc thực hiện pháp luật BHYT là vấn đề rất quan trọng đối với các ngành, các cơ quan, đơn vị, địa phương và đối với từng đối tượng cụ thể theo luật BHYT

Sau 26 năm thực hiện chính sách BHYT, đến nay nước ta đã đạt những thành quả đáng kể trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho người dân Hiện tại,

Trang 8

độ bao phủ của bảo hiểm y tế gần đạt tỷ lệ mong muốn Pháp luật bảo hiểm y

tế ngày càng cải tiến theo hướng mở rộng đối tượng tham gia, trong đó sinh viên là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc

Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực bảo hiểm y tế đã được công

bố, chủ yếu tập trung phân tích vị trí, vai trò của BHYT và đánh giá kết quả thực thi chính sách pháp luật BHYT như:

- Bộ Y tế, Đề án Thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020

- Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế, Nghiên cứu về khả năng tiến tới bảo hiểm

- Lê Bạch Hồng, Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế với an sinh xã hội của đất nước, tạp chí Bảo hiểm xã hội, tháng 9/2010

- Mai Thị Thu Nga, thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên một số trường đại học, cao đẳng tại tỉnh Thái Nguyên (2006-2008), luận văn thạc sĩ, năm 2009

- Đào Văn Dũng, Thực hiện chính sách BHYT ở nước ta: Thành tựu, thách thức và giải pháp, Tạp chí Tuyên giáo số 8/2009

- Nguyễn Hiền Phương, Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật Bảo hiểm y tế ở Việt Nam, tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 4/2008; Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, tạp chí Luật học, số 10/2006

Trang 9

Các công trình nghiên cứu trên tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, nội dung nghiên cứu đề cập tới từng lĩnh vực, từng chế độ, chính sách BHYT cụ thể Riêng luận văn này, tác giả nghiên cứu ở góc độ lý luận nhà nước và pháp luật để tiếp cận, phân tích, đánh giá các vấn đề bằng những cách nhìn khác hơn để thấy được sự khác biệt trong nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm y tế

Sinh viên là lực lượng đông đảo trong các trường cao đẳng, đại học Việc thực hiện pháp luật BHYT đối với sinh viên tại các trường cao đẳng, đại học ở từng địa phương được thực hiện như thế nào, đó là vấn đề cần phải nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm đảm bảo quyền lợi cho sinh viên Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn nêu trên, học viên chọn đề tài "Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa

bàn tỉnh Tiền Giang" làm đề tài Luận văn thạc sĩ Luật học

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu về tình hình thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nhằm làm

rõ hơn những vấn đề về lý luận của thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế; trên cơ

sở phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế cho sinh viên, tìm ra những hạn chế, vướng mắc; từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHYT đối với sinh viên

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế đối với sinh viên trong các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, bao gồm các nhóm đối tượng nghiên cứu có liên quan trực tiếp sau đây:

- Nhóm đối tượng tham gia và hưởng chính sách BHYT: Sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của tỉnh Tiền Giang

Trang 10

- Nhóm cán bộ y tế trường học tại các trường đại học, cao đẳng của tỉnh Tiền Giang Đây là những người trực tiếp làm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và làm thủ tục đăng ký tham gia BHYT cho sinh viên

- Nhóm cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước về BHYT và giải quyết chính sách BHYT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn này nghiên cứu sự tác động của hệ thống pháp luật về BHYT hiện hành và công tác tổ chức thực hiện pháp luật về BHYT đối với sinh viên trong các trường cao đẳng, đại học của tỉnh Tiền Giang từ năm 2015 đến năm

2018

4 Giả thuyết khoa học

Công trình nghiên cứu này là kết quả đánh giá khách quan thông qua khảo sát thực tế, phân tích lý luận, nghiên cứu sự tác động của các quy định pháp luật bảo hiểm y tế hiện hành ở nước đến quyền, lợi ích của sinh viên

Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc tuân thủ pháp luật bảo hiểm y tế, việc sử dụng, áp dụng và thực thi pháp luật bảo hiểm y tế của các chủ thể có liên quan (cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị); tìm ra những hạn chế và nguyên nhân; từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả, chất lượng thực hiện pháp luật BHYT; góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hiểm y tế; đảm bảo tốt quyền được chăm sóc sức khỏe cho người tham gia BHYT nói chung và sinh viên nói riêng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho luận văn là: Nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật BHYT đối với sinh viên; làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về BHYT đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng tại tỉnh Tiền Giang Từ đó đề

Trang 11

xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHYT đối với sinh viên

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp đọc tài liệu (nghiên cứu lý thuyết): Phương pháp này người nghiên cứu thực hiện bằng cách đọc và phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BHYT, các số liệu thứ cấp từ các báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, các kết quả nghiên cứu về thực hiện pháp luật BHYT đã công bố từ năm 2008 đến nay

- Phương pháp thu thập số liệu: Người nghiên cứu sưu tầm, tìm kiếm số liệu thông qua việc thu thập trực tiếp tại các cơ quan, các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học hoặc trên các trang thông tin điện tử (website) của các cơ quan,

tổ chức có liên quan của tỉnh Tiền Giang

- Phương pháp nghiên cứu thực địa, phỏng vấn chuyên gia: Mục đích

sử dụng phương pháp này là nhằm thu thập, bổ sung những ý kiến đánh giá của những người làm công tác thực hiện pháp luật BHYT; giúp có cơ sở thực tiễn, chính xác để làm rõ các vấn đề về lý thuyết

7 Cấu trúc của luận văn

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản thực hiện pháp luật về BHYT cho sinh viên

1.1 Khái quát về bảo hiểm y tế và pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam 1.2 Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật vể bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

2.1 Khái quát về các trường cao đẳng, đại học và tình hình sinh viên các trường cao đẳng, đại học của tỉnh Tiền Giang

Trang 12

2.2 Cơ quan quản lý và thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên của tỉnh Tiền Giang

2.3 Kết quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2015-2018

2.4 Nhận xét chung về tình hình thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học của tỉnh Tiền Giang

Chương 3 Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

3.1 Quan điểm đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

3.2 Các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO SINH VIÊN 1.1 Khái quát về bảo hiểm y tế và pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm y tế

Có rất nhiều định nghĩa về bảo hiểm y tế (BHYT), ở mỗi giai đoạn phát triển của chính sách pháp luật BHYT thì cách nhìn nhận, khái quát về BHYT cũng khác nhau Thời điểm Nhà nước ta mới ban hành Điều lệ BHYT lần đầu tiên vào năm 1992 chưa có khái niệm rõ ràng về BHYT Tại Điều 1, Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 299-HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng bộ trưởng chỉ nêu lên được mục đích của BHYT chứ chưa nêu được khái niệm về BHYT Theo đó, “BHYT do nhà nước tổ chức quản lý, nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội, để tăng cường chất lượng trong việc khám bệnh, chữa bệnh” [5] (Điều 1, Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 299-HĐBT) Đến năm 1998, khi Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT mới thay thế Điều lệ BHYT năm 1992 thì BHYT mới được định nghĩa một cách rõ ràng hơn như sau: “Bảo hiểm y tế quy định trong Điều lệ BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân, để thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo quy định của Điều lệ BHYT cho người có bảo hiểm y tế khi ốm đau” [3] (Điều 1, Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP)

Năm 2005, Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT mới bãi bỏ Điều lệ BHYT năm 1998 thì khái niệm về BHYT vẫn được bổ sung thêm như sau:

“Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ

Trang 14

chức và cá nhân, để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có bảo hiểm y tế khi ốm đau” [4] (khoản 1, Điều 1, Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP)

Năm 2008, Quốc Hội khóa XII chính thức thông qua Luật BHYT thì khái niệm về BHYT được chỉnh sửa bổ sung hoàn thiện hơn Luật BHYT

2008 đã chia khái niệm BHYT ra thành 2 khái niệm riêng biệt là bảo hiểm y

tế và bảo hiểm y tế toàn dân dựa vào mục đích, đối tượng tham gia BHYT gồm bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện Tại khoản 1 Điều 2 Luật BHYT số 25/2008/QH12 quy định: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của luật BHYT [10] (Điều 2, Luật BHYT 2008)

Năm 2014, Quốc hội XIII thông qua luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật BHYT Khái niệm BHYT cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp tình hình thực tế, khi đó: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được

áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” [11] (khoản 1, Điều 1, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014) Đây là khái niệm về BHYT tương đối đầy đủ nhất đến thời điểm hiện nay

1.1.2 Các nguyên tắc bảo hiểm y tế

Trong lĩnh vực BHYT, ngoài những nguyên tắc chung của pháp luật được các nhà làm luật áp dụng đó là những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với BHYT, một chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột trong

hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị xã hội và phát triển kinh tế xã hội cần phải xây dựng pháp luật BHYT; còn có những nguyên tắc mang tính chất đặc thù của ngành bảo hiểm đó là sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm Đây là

Trang 15

nguyên tắc rất đặc thù của BHYT, nó luôn là nguyên tắc cơ bản để thể chế những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo Đảng và Nhà nước ta về bảo đảm an sinh

xã hội được thể hiện trong Hiến pháp trở thành định hướng xác định nội dung của ngành luật BHYT

Mặt khác, do tính chất của của nền kinh tế thị trường cùng với những đòi hỏi khách quan của xã hội đã tác động không nhỏ tới việc hình thành nội dung của hệ thống pháp luật BHYT Các yếu tố này đã trở thành những nguyên tắc cơ bản của pháp luật BHYT Xuất phát từ tính chất của bảo hiểm y

tế là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, là một chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của nhà nước Chính sách BHYT mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, vì vậy trong thực hiện chính sách BHYT phải đảm bảo đúng những nguyên tắc do pháp luật BHYT quy định Các nguyên tắc

sự chung tay đóng góp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức vào quỹ BHYT Tổ chức Bảo hiểm y tế thuộc cơ quan Bảo hiểm xã hội là cơ quan có trách nhiệm quản lý quỹ BHYT và có nghĩa vụ chi xuất, thanh quyết toán theo định mức quy định cho người tham gia BHYT khi họ không may bị ốm đau, thương tật phải điều trị, chăm sóc tại các cơ sở khám chữa bệnh BHYT

Nguồn quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp tự nguyện hoặc bắt buộc theo từng loại hình BHYT, từng đối tượng tham gia do luật BHYT quy định Nói chung, khi tham gia BHYT, không ai mong muốn xảy ra sự kiện để được thụ hưởng bởi lẽ nếu xảy ra sự kiện ốm đau, bệnh tật thì sức khỏe của

Trang 16

chúng ta sẽ bị giảm sút ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập cũng giảm sút theo Mặc dù khi xảy ra sự kiện ốm đau, bệnh tật thì người tham gia BHYT sẽ được được quỹ BHYT chi trả trong khám chữa bệnh; tuy nhiên vẫn tốt hơn nếu như sức khỏe của chúng ta được đảm bảo, không xảy ra sự kiện nào cả Do đó, khi những đối tượng đã tham gia BHYT nếu không xảy ra sự kiện cần chi trả thì khoản tiền đã đóng góp vào quỹ BHYT của người đó sẽ được cơ quan BHXH dùng để chi trả cho việc khám chữa bệnh của những đối tượng có tham gia BHYT khác nếu họ có xảy ra ốm đau, bệnh tật cần chăm sóc sức khỏe Sự chia sẻ này được pháp luật quy định và cơ quan BHXH phải thực hiện để đảm bảo quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho người tham gia BHYT

1.1.2.2 Nguyên tắc “ Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (sau đây gọi chung là tiền lương tháng), tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương cơ sở”

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 2, Điều 1, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014 Nội dung nguyên tắc thể hiện rõ cơ

sở ban hành quy định về mức đóng BHYT của các đối tượng tham gia BHYT ở các loại hình BHYT bắt buộc và tự nguyện như: cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong doanh nghiệp, người hưởng lương hưu, hộ gia đình Đối với từng đối tượng tham gia BHYT khác nhau thì mức đóng BHYT cũng khác nhau căn cứ trên cơ sở là khoản tiền lương đóng BHXH (đối với đối tượng BHYT cán bộ, công chức, người lao động, ) và phần trăm lương tối thiểu (lương cơ sở) đối với đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình Quy định này làm căn cứ để các tổ chức BHYT (thuộc BHXH) thu phí BHYT của các đối tượng tham gia

1.1.2.3 Nguyên tắc “Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế”

Trang 17

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 2, Điều 1, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014 Nội dung nguyên tắc thể hiện tính công bằng trong chi trả, thanh quyết toán chi phí KCB BHYT cho từng đối tượng tham gia BHYT Theo quy định tại khoản 15, Điều 2 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 (sửa đổi bổ sung Điều 22, Luật BHYT năm 2008), mức hưởng BHYT được quy định như sau:

“- Người tham gia BHYT khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các Điều 26, 27, 28 Luật này (Luật BHYT 2008) thì được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với các mức hưởng:

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 luật này Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật này được chi trả từ nguồn kinh phí bảo hiểm

y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh của nhóm đối tượng này; trường hợp nguồn kinh phí này không đủ thì do ngân sách nhà nước bảo đảm;

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã;

+ 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp

tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;

+ 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 2, điểm k khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 12 của Luật này;

+ 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác

Trang 18

- Trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm y tế thì được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế theo đối tượng có quyền lợi cao nhất

- Trường hợp người có bảo hiểm y tế tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng quy định tại khoản 1 Điều này theo tỷ lệ như sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này:

+ Tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú;

+ Tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2020; 100% chi phí điều trị nội trú

từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trong phạm vi cả nước;

+ Tại bệnh viện tuyến huyện là 70% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2015; 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2016

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, người tham gia bảo hiểm y tế đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh có mức hưởng theo quy định tại khoản 1 Điều này

- Người dân tộc thiểu số và người thuộc hộ gia đình nghèo tham gia bảo hiểm y tế đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người tham gia bảo hiểm

y tế đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với bệnh viện tuyến huyện, điều trị nội trú đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương và có mức hưởng theo quy định tại của Luật BHYT

Trang 19

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, quỹ bảo hiểm y tế chi trả chi phí điều trị nội trú theo mức hưởng quy định tại khoản 1 Điều này cho người tham gia bảo hiểm y tế khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh trong phạm vi cả nước”

1.1.2.4 Nguyên tắc “Chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả”

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 4, Điều 3, Luật BHYT 2008 Nội dung nguyên tắc thể hiện tính công bằng tuyệt đối trong sử dụng nguồn quỹ BHYT để chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT; đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT Nguyên tắc này được cụ thể hóa tại Điều 31 Luật BHYT 2008 và khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014 (sửa đổi bổ sung Điều 24 Luật BHYT năm 2008) như sau:

“- Tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

- Tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trực tiếp cho người có bảo hiểm y tế đi khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp sau đây: Tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; Khám bệnh, chữa bệnh không đúng quy định tại Điều 28 luật BHYT Trường hợp đặc biệt khác do Bộ trưởng Bộ y tế quy định

- Tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trên

cơ sở viện phí theo quy định của Chính phủ

- Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính quy định thủ tục, mức thanh toán đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này (Điều 31 Luật BHYT)

Trang 20

- Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc”

Ngoài ra, việc quy định chi trả chi phí KCB BHYT cho người tham gia BHYT cũng thể hiện sự cộng đồng trách nhiệm của cá nhân và cơ quan, tổ chức của Nhà nước để đảm bảo hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích của Nhà nước; điều đó thể hiện:

- Lợi ích cá nhân của người tham gia BHYT: Phải luôn được bảo đảm Khi người tham gia BHYT không may gặp ốm đau, bệnh tật thì tổ chức BHYT phải chi trả chi phí KCB, chi phí điều trị Nguồn chi trả trích từ quỹ BHYT mà cá nhân ấy đã đóng góp Định mức hưởng theo tỷ lệ quy định và các loại bệnh, các loại thủ thuật, phẫu thuật, thuốc, vật tư y tế, danh mục kỹ thuật được thanh toán BHYT phải nằm trong quy định của luật BHYT Ngoài những khoản chi phí do quỹ BHYT chi trả, nếu người bệnh thực hiện các dịch

vụ kỹ thuật cao, sử dụng các loại thuốc ngoài danh mục của quỹ BHYT chi trả thì người bệnh phải tự thanh toán các chi phí phát sinh ngoài danh mục BHYT chi trả Điều này thể hiện sự công bằng, bởi một số người bệnh có khả năng về tài chính họ muốn sử dụng các dịch vụ theo yêu cầu hoặc một số bệnh buộc phải sử dụng các loại thuốc, các thiết bị, dịch vụ kỹ thuật cao mới

có thể đáp ứng được khả năng hồi phục sức khỏe cho họ

1.1.2.5 Nguyên tắc “Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ”

Nguyên tắc này được quy định tại khoản 5, Điều 3, Luật BHYT số 25/2008/QH12 Quỹ BHYT là một nguồn quỹ đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện chính sách BHYT, bởi đây là nguồn quỹ do nhiều đối tượng đóng góp: Người tham gia BHYT, người sử dụng lao động và Nhà nước cùng

Trang 21

đóng góp để chi trả cho đối tượng thụ hưởng là người tham gia BHYT, vì vậy Luật BHYT 2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT

2014 quy định chặt chẽ hơn vấn đề quản lý và sử dụng quỹ BHYT đảm bảo tập trung, thống nhất và minh bạch, tránh trường hợp thâm hụt quỹ hoặc sử dụng quỹ vào mục đích cá nhân gây thiệt hại cho người tham gia BHYT và cho Nhà nước

Tại Điều 34, Luật BHYT 2018 và khoản 22, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014 (sửa đổi bổ sung Điều 34 Luật BHYT năm 2008) quy định như sau: “Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức bảo hiểm y tế Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm quản lý quỹ BHYT và tư vấn chính sách BHYT”

- Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý quỹ BHYT; quyết định nguồn tài chính để bảo đảm việc khám bệnh, chữa bệnh BHYT trong trường hợp mất cân đối thu, chi quỹ bảo hiểm y tế Hàng năm, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội về quản lý và sử dụng quỹ BHYT.”

Nguyên tắc quản lý quỹ BHYT đã được cụ thể hóa thành các quy định trong các điều luật của Luật BHYT 2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014 và quy định rõ hơn trong các Nghị định, Thông tư đã cho thấy rằng Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách chi trả BHYT cho các đối tượng thụ hưởng Điều đó một lần nữa khẳng định tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật BHYT

1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm y

tế Việt Nam

1.1.3.1 Giai đoạn trước năm 1992

Trang 22

Giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của chủ trương xã hội hóa về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe y tế, được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) và Quyết định số 45/HĐBT ngày 24/4/1989 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cho phép các cơ sở KCB được thu một phần viện phí

Theo đề nghị của Bộ Y tế, ngày 26/10/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã có văn bản số 3504/KG, đồng ý để các địa phương được tiến hành triển khai thực hiện thí điểm BHYT; đồng thời Bộ Y tế đã thành lập Ban dự thảo Pháp lệnh BHYT để giúp Bộ chỉ đạo các địa phương tổng kết việc thực hiện thí điểm, làm đầu mối phối hợp cùng các cơ quan xúc tiến việc xây dựng dự thảo Pháp lệnh BHYT Có thể nói, đây là giai đoạn thí điểm mô hình bảo hiểm y tế Giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng, là giai đoạn chuẩn bị các tiền đề và thử nghiệm mô hình BHYT trước khi đưa vào chính thức thực hiện chính sách BHYT trong phạm vi cả nước

1.1.3.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1997

Giai đoạn này đánh dấu bằng sự kiện Hiến pháp 1992 ra đời Tại Điều

39, Hiến pháp 1992 có quy định: “Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học

cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để ban hành hệ thống pháp luật BHYT

Dự án Pháp lệnh BHYT đã được trình Quốc hội xem xét trong thời gian

từ ngày 25 đến ngày 28/5/1992 Tuy nhiên vì những điều kiện chưa “chín muồi” nên Pháp lệnh về BHYT chưa được ban hành, thay vào đó Nghị định

Trang 23

số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế đã được phê duyệt Đây là Điều lệ BHYT đầu tiên, đặt nền móng khai sinh cho việc hình thành và phát triển hoàn thiện hệ thống pháp luật BHYT về sau

1.1.3.3 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004

Cùng với sự phát triển liên tục, không ngừng của các quan hệ xã hội về BHYT, nhu cầu của người dân ngày càng tăng cao, đối tượng tham gia BHYT ngày càng mở rộng, Chính phủ xét thấy cần phải chỉnh sửa bổ sung Điều lệ BHYT Ngày 13/8/1998, Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ban hành Điều lệ BHYT mới được ban hành kèm theo ra đời thay thế Điều lệ BHYT ban hành kèm Nghị định số 299/HĐBT Điều lệ BHYT kèm theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP đã bổ sung nhiều điểm mới, đặc biệt là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc so với điều lệ BHYT trước đây

1.1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2008

Ngày 16/5/2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ban hành Điều lệ BHYT, thay thế Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP Tiếp tục bổ sung thêm một số đối tượng tham gia BHYT bắt buộc Như vậy, cho thấy có sự mở rộng hơn về đối tượng tham gia BHYT so với các quy định trước đây

1.1.3.5 Giai đoạn từ tháng 7 năm 2008 đến nay

Giai đoạn này đánh dấu sự phát triển vượt bậc của hệ thống pháp luật

về BHYT Nhiều văn bản luật và văn bản dưới luật về lĩnh vực BHYT ra đời như: Luật BHYT 2008, Nghị định số 62/2009/NĐ- CP ngày 27/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế; Nghị định số 92/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực BHYT; Quyết định số 3745/2012/QĐ-BYT của Bộ y tế ban hành quy trình và nội dung thanh tra việc thực hiện chính sách tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT

Trang 24

năm 2014 (có hiệu lực từ 01/01/2015); Nghị định số 105/2014/NĐ-CP này 15/11/2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT; Nghị định số 70/2015/NĐ-CP Ngày 01/9/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT đối với Quân đội nhân dân

và Công an nhân dân Đến thời điểm hiện nay có thể khẳng định rằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BHYT đã tương đối đầy đủ Hệ thống pháp luật BHYT là nền tảng pháp lý quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển BHYT bền vững

1.1.4 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng tham gia bảo hiểm y tế

Luật BHYT quy định về chế độ, chính sách BHYT, bao gồm: Đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng BHYT; thẻ BHYT; phạm

vi được hưởng BHYT; tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT; quỹ BHYT; quyền

và trách nhiệm của các bên liên quan đến BHYT

Theo quy định tại khoản 6, Điều 1, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 (sửa đổi bổ sung Điều 12, Luật BHYT năm 2008) về đối tượng tham gia BHYT có 6 nhóm gồm:

Nhóm thứ nhất: “Nhóm do người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động đóng, bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật”

Nhóm thứ hai: “Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm: Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ

Trang 25

đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp”

Nhóm thứ ba: “Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội đang tại ngũ; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;

- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;

- Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;

- Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;

- Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm;

- Trẻ em dưới 6 tuổi;

- Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;

- Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;

- Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ;

Trang 26

- Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ

- Thân nhân của các đối tượng: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ

sĩ quan, binh sĩ quân đội đang tại ngũ; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an

- Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;

- Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam

Nhóm thứ tư: “Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm: Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; học sinh, sinh viên”

Nhóm thứ năm: “Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và

4 Điều này” (Điều12 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014)

Nhóm thứ sáu: “Các đối tượng khác ngoài các đối tượng quy định tại khoản 3, 4, 5 Điều này” (Điều 12 Luật BHYT 2008 được sửa đổi bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật BHYT năm 2014) Như vậy, sinh viên là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, thuộc nhóm đối tượng được Nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng BHYT

1.2 Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế cho sinh viên

1.2.1 Khái niệm và hình thức thực hiện pháp luật

Trang 27

Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm thực hiện pháp luật khác nhau Theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích, làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật Nói cách khác, thực hiện pháp luật là đưa pháp luật đi vào cuộc sống, vào thực tiễn hoạt động" Hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật thường được thể hiện dưới dạng hành vi hành động, được tiến hành phù hợp với quy định của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định Có bốn hình thức thực hiện pháp luật gồm: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và

áp dụng pháp luật

Tuân thủ pháp luật, được hiểu là việc các chủ thể kiềm chế, không thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm Tuân thủ pháp luật được xem là nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật, buộc họ phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật dưới dạng hành vi không hành động Nếu vi phạm, họ sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nhất định Làm thế nào để các chủ thể tuân thủ pháp luật một cách triệt để, đó là một vấn đề quan trọng cần đến sự tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để tác động đến ý thức của mỗi cá nhân, mỗi chủ thể để họ hiểu biết các quy định của pháp luật và tự giác thực hiện (tự giác tuân thủ)

Thi hành pháp luật, được hiểu là việc các chủ thể phải thực hiện những quy định của pháp luật bằng những hành vi tích cực (hành vi hành động); nghĩa là cá nhân, tổ chức phải chủ động thực hiện đầy đủ những quy định của pháp luật Thi hành pháp luật được coi là một hình thức thực hiện pháp luật quan trọng, nếu pháp luật đã được ban hành nhưng không được các chủ thể chủ động thực thi, thi hành đúng hoặc thi hành không đúng thì sẽ gây nên hậu quả rất lớn làm ảnh hưởng đến kết quả của quá trình thực hiện pháp luật

Trang 28

Kết quả ấy có thể tốt nếu chủ thể thi hành đúng và kết quả xấu nếu chủ thể thi hành không đúng hoặc không thi hành dẫn đến xảy ra hậu quả vi phạm pháp luật

Để thi hành pháp luật tốt cần phải đảm bảo các điều kiện cần thiết, nhất định Tại Hội thảo khoa học chuyên ngành “cơ chế tổ chức thi hành pháp luật -những vấn đề lý luận và thực tiễn” tổ chức vào ngày 2/6/2017, đồng chí Nguyễn Văn Cương, Quyền Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp đã nhấn mạnh: “Một trong những yếu tố hàng đầu của Nhà nước pháp quyền là pháp luật phải được thượng tôn trên thực tế Nói cách khác, khi pháp luật được ban hành và phát sinh hiệu lực thì cần được thực thi nghiêm chỉnh Điều đó làm cho khoảng cách giữa pháp luật trên giấy và pháp luật trong thực tiễn được thu hẹp khoảng cách Chính vì thế bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật là một trong những yêu cầu, đòi hỏi của chính quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa

ở nước ta” Cũng tại Hội thảo này, PGS.TS Dương Đăng Huệ cho rằng “yếu

tố chi phối mạnh nhất tới khâu thi hành pháp luật chính là đặc điểm của từng đạo luật và ý thức tuân thủ pháp luật của mỗi chủ thể Do đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để kịp thời cung cấp tri thức pháp luật cho các chủ thể biết và thực hiện cho đúng”

Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện các quyền của mình do pháp luật quy định hay thực hiện các hành vi mà pháp luật cho phép Hình thức thực hiện pháp luật này cho phép các chủ thể có những quyền nhất định theo quy định của pháp luật, chẳng hạn như quyền khiếu nại, tố cáo theo Luật khiếu nại, tố cáo, chủ thể có quyền nhưng nếu họ không muốn thực hiện hoặc từ chối thực hiện những quyền đó thì cũng không ai có quyền ép buộc chủ thể phải thực hiện quyền của họ

Trang 29

Áp dụng pháp luật: là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện nhằm áp dụng các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể [15] (tài liệu Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật TPHCM, tr.67) Áp dụng pháp luật mang tính chất đặc biệt vì hình thức này chỉ do các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền (được Nhà nước trao quyền) thực hiện trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Áp dụng pháp luật là một hoạt động mang tính có tổ chức, không đơn phương, đơn lẽ như những hình thức thực hiện pháp luật khác bởi vì hiện nay pháp luật đã trở thành một trong những công cụ có hiệu quả nhất để Nhà nước quản lý xã hội Việc áp dụng đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức phải nghiên cứu kỹ, thấu hiểu, am tường các quy định của pháp luật để áp dụng cho đúng để mang lại hiệu quả cao trong thực thi pháp luật Nếu áp dụng không đúng sẽ tạo nên một hệ quả vô cùng bất lợi cho các chủ thể khác có liên quan, đồng thời làm giảm đi tính khả thi của văn bản pháp luật

Để quá trình áp dụng pháp luật đạt hiệu quả chính xác, cần phải thực hiện theo bốn giai đoạn sau đây: Thứ nhất: Phân tích, làm sáng tỏ những tình tiết của vụ việc cần áp dụng pháp luật và các đặc trưng pháp lý của chúng Thứ hai: Lựa chọn các quy phạm pháp luật cần áp dụng Quy phạm pháp luật cần áp dụng phải phù hợp với tình tiết, sự việc thực tế cần áp dụng Thứ ba: Ban hành văn bản áp dụng pháp luật Thứ tư: Tổ chức thực hiện văn bản áp

Trang 30

Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau về thực hiện pháp luật BHYT Trên cơ sở khái niệm cơ bản về thực hiện pháp luật, có thể khái quát

về thực hiện pháp luật BHYT như sau: Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế bao gồm: cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm làm cho những quy định của pháp luật BHYT đi vào cuộc sống Việc thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế có vai trò quan trọng đặc biệt, có liên quan đến quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật BHYT

1.2.2.2 Nội dung, hình thức thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế

Pháp luật bảo hiểm y tế là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam Chính sách bảo hiểm y tế là một trong những chính sách đặc biệt quan trọng thuộc chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; nhằm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho người dân Việc bảo vệ, chăm sóc tốt sức khỏe cho người dân là một hành động bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được nêu tại Hiến pháp Một đất nước muốn giàu mạnh không chỉ quan tâm phát triển kinh tế mà mọi chính sách an sinh xã hội cho người dân phải được đảm bảo, trong đó chính sách bảo hiểm y tế là chính sách quan trọng hàng đầu

mà các quốc gia trên thế giới đều quan tâm Vì vậy Nhà nước phải chăm lo thực hiện chính sách pháp luật BHYT nhằm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Nhà nước ban hành pháp luật BHYT để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền, nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật BHYT, cụ thể là: về chế độ, chính sách BHYT; đối tượng tham gia BHYT, mức đóng BHYT; trách nhiệm và phương thức đóng BHYT; thẻ BHYT; phạm vi được hưởng BHYT; tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT và các quy định khác liên quan đến chính sách bảo

Trang 31

hiểm y tế Để các quy định của pháp luật BHYT đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhất định vì lợi ích của mỗi cá nhân, cũng như của cả cộng đồng xã hội; Nhà nước phải tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật BHYT nhằm bảo đảm quyền lợi về chăm sóc sức khỏe của người dân tham gia BHYT, hướng dẫn cách thức xử sự cho các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ BHYT nhằm tạo ra một trật tự để xã hội ổn định và phát triển.Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế bằng nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, các hình thức thực hiện pháp luật cơ bản thường được áp dụng là: Tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật và thi hành pháp luật

Tuân thủ pháp luật bảo hiểm y tế: Đây là hình thức thực hiện pháp

luật BHYT cơ bản nhất Hình thức này đòi hỏi tất cả các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật BHYT phải biết kiềm chế không thực hiện những hành

vi mà pháp luật BHYT ngăn cấm

Điều 11, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 quy định những hành vi bị nghiêm cấm gồm: Không đóng hoặc đóng BHYT không đầy đủ theo quy định của Luật BHYT; Gian lận, giả mạo hồ sơ, thẻ BHYT; Sử dụng tiền đóng BHYT, quỹ bảo BHYT sai mục đích; Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo BHYT và của các bên liên quan đến BHYT; Cố ý báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về BHYT; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chuyên môn, nghiệp vụ để làm trái với quy định của pháp luật về BHYT

Những hành vi bị pháp luật BHYT nghiêm cấm nêu trên đều có liên quan trực tiếp đến các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật BHYT ở mỗi góc

độ thực thi quyền và nghĩa vụ của mình, các chủ thể đều có khả năng xảy ra

vi phạm Cơ quan, tổ chức quản lý BHYT vi phạm bằng những hành vi khác nhau; người tham gia BHYT cũng có thể vi phạm với những hành vi khác với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý BHYT Chính vì thế pháp luật

Trang 32

phải dự liệu trước để nghiêm cấm nhằm ngăn ngừa hậu quả, không để xảy ra hậu quả đáng tiếc

Sử dụng pháp luật bảo hiểm y tế: Là một trong những hình thức

thực hiện pháp luật BHYT, theo đó, các chủ thể thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép Các chủ thể có thể sử dụng quyền được pháp luật BHYT cho phép hoặc không sử dụng những quyền đó, tùy thuộc vào ý chí, khả năng của họ

Theo quy định tại Điều 36 Luật BHYT 2008, người tham gia BHYT có những quyền: Được cấp thẻ bảo hiểm y tế khi đóng bảo hiểm y tế; Lựa chọn

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều

26 của Luật BHYT; Được khám bệnh, chữa bệnh; Được tổ chức bảo hiểm y

tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế; Yêu cầu tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ bảo hiểm y tế; Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế

Rõ ràng, pháp luật BHYT trao cho chủ thể là người tham gia BHYT rất nhiều quyền để nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của họ khi họ tham gia vào quan hệ BHYT Các quyền này được pháp luật BHYT quy định như là công cụ bảo hộ quyền lợi chính đáng của người tham gia BHYT Một khi lợi ích của họ bị chủ thể kia (cơ quan, tổ chức quản lý BHYT) xâm hại thì người tham gia BHYT được sử dụng các công cụ này để yêu cầu pháp luật giải quyết

Theo pháp luật dân sự, khi tham gia vào quan hệ song phương thì quyền của bên này thường là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Trong quan

hệ pháp luật BHYT cũng vậy, khi người tham gia BHYT (chủ thể thứ nhất) thực hiện những quyền của mình được pháp luật BHYT cho phép thì cũng đồng nghĩa với việc tổ chức BHYT (chủ thể thứ hai) phải đáp ứng bằng nghĩa

Trang 33

vụ của họ để đảm bảo quyền của đối tác trong quan hệ 2 bên này Ngược lại, khi tổ chức BHYT thực hiện các quyền của họ mà pháp luật BHYT cho phép thì người tham gia BHYT và các bên có liên quan cũng phải thực hiện nghĩa

vụ của họ để đảm bảo cho những quyền của chủ thể kia được thực thi đúng pháp luật Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ, quyền và nghĩa vụ không song trùng nhau (quyền của bên này không nhất thiết phải là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại) Cụ thể tại Điều 40, Luật BHYT 2008 quy định về quyền của tổ chức BHYT như sau: “Yêu cầu người sử dụng lao động, đại diện của người tham gia bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu có liên quan đến trách nhiệm của họ về việc thực hiện bảo hiểm y tế; Kiểm tra, giám định việc thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; thu hồi, tạm giữ thẻ bảo hiểm y tế đối với các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật BHYT; Yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế cung cấp hồ sơ, bệnh án, tài liệu về khám bệnh, chữa bệnh để phục vụ công tác giám định bảo hiểm y tế; Từ chối thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế không đúng quy định của luật này (Luật BHYT 2008) hoặc không đúng với nội dung hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; Yêu cầu người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm y tế hoàn trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh mà tổ chức bảo hiểm y tế đã chi trả; Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế và xử lý tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về BHYT”

Áp dụng pháp luật bảo hiểm y tế: Đây là một hình thức đặc biệt của

thực hiện pháp luật BHYT bởi vì chỉ do các cơ quan quản lý nhà nước về BHYT, các cơ quan BHXH, các tổ chức BHYT hoặc các cá nhân được nhà nước trao quyền mới có thẩm quyền thực hiện

Trang 34

Việc áp dụng pháp luật BHYT có thể do những cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp và gián tiếp sau đây thực hiện: Các cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý BHYT đó là cơ quan bảo hiểm xã hội; các cơ sở khám chữa bệnh BHYT, các cơ quan, đơn vị có sử dụng lao động hoặc các trường học có đào tạo HSSV; các cơ quan quản lý nhà nước về BHYT có liên quan thực hiện Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan,

tổ chức mà pháp luật BHYT quy định trách nhiệm thực hiện khác nhau

Điều 39, Luật BHYT 2008 quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đóng BHYT phải: “Lập hồ sơ đề nghị cấp thẻ BHYT; Đóng BHYT đầy đủ, đúng thời hạn; Giao thẻ BHYT cho người tham gia BHYT; Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu có liên quan đến trách nhiệm thực hiện BHYT của người sử dụng lao động, của đại diện cho người tham gia BHYT khi có yêu cầu của tổ chức BHYT, người lao động hoặc đại diện của người lao động; Chấp hành việc thanh tra, kiểm tra về việc thực hiện các quy định của pháp luật về BHYT”

Điều 41, Luật BHYT 2008 quy định về trách nhiệm của tổ chức BHYT gồm: “Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT; Hướng dẫn hồ

sơ, thủ tục, tổ chức thực hiện chế độ BHYT đảm bảo nhanh chóng, đơn giản

và thuận tiện cho người tham gia BHYT; Thu tiền đóng BHYT và cấp thẻ BHYT; Quản lý, sử dụng quỹ BHYT; Ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT; Cung cấp thông tin về các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT

và hướng dẫn người tham gia BHYT lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu; Kiểm tra chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; giám định BHYT; Bảo vệ quyền lợi của người tham gia BHYT; giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về chế độ BHYT; Lưu trữ hồ sơ, số liệu về BHYT theo quy định của pháp luật; ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý

Trang 35

BHYT, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về BHYT; Tổ chức thực hiện công tác thống kê, báo cáo, hướng dẫn nghiệp vụ về BHYT; báo cáo định kỳ hoặc đột xuất khi có yêu cầu về quản lý, sử dụng quỹ BHYT; Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về BHYT”

Điều 43, Luật BHYT 2008 quy định về trách nhiệm của cơ sở khám chữa bệnh BHYT như sau: “Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm chất lượng với thủ tục đơn giản, thuận tiện cho người tham gia BHYT; Cung cấp

hồ sơ bệnh án, tài liệu liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh của người tham gia BHYT theo yêu cầu của tổ chức BHYT và cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Bảo đảm điều kiện cần thiết cho tổ chức BHYT thực hiện công tác giám định; phối hợp với tổ chức BHYT trong việc tuyên truyền, giải thích về chế độ BHYT cho người tham gia BHYT; Kiểm tra, phát hiện và thông báo cho tổ chức BHYT những trường hợp vi phạm về sử dụng thẻ BHYT; phối hợp với tổ chức BHYT thu hồi, tạm giữ thẻ BHYT đối với các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật BHYT; Quản lý và sử dụng kinh phí từ quỹ BHYT theo đúng quy định của pháp luật; Tổ chức thực hiện công tác thống kê, báo cáo về BHYT theo quy định của pháp luật”

Điều 45, luật BHYT 2008 quy định trách nhiệm của tổ chức đại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động gồm: “Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT đối với người lao động, người sử dụng lao động; Tham gia xây dựng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về BHYT; Tham gia giám sát việc thi hành pháp luật

về BHYT” Như vậy, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến chính sách BHYT đã được pháp luật BHYT quy định rất rõ những việc nào được phép thực hiện và không được phép thực hiện Trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật BHYT để đưa các quy định của pháp luật vào thực

Trang 36

tiễn, các cơ quan, tổ chức phải ban hành văn bản áp dụng pháp luật Các văn bản áp dụng pháp luật được ban hành dưới nhiều hình thức, thể loại khác nhau tùy theo thẩm quyền của các cơ quan và tùy theo phân cấp quản lý, chẳng hạn: Đối với cơ quan quản lý nhà nước quản lý về lĩnh vực BHYT ở trung ương thì Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành luật BHYT;

Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ Ở cấp địa phương: Ủy ban nhân dân các cấp ban hành Quyết định, quy định; Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh ban hành công văn hướng dẫn thực hiện các quy định về chính sách BHYT được điều chỉnh bởi các văn bản của cơ quan cấp trên đã ban hành

1.2.3 Vai trò của thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế

Để pháp luật BHYT đi vào cuộc sống thì vai trò của công tác thực hiện pháp luật cần phải được đề cao bởi vì: Thực hiện pháp luật BHYT là một

"khâu" quan trọng trong quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật bảo hiểm y tế Nếu như pháp luật BHYT được ban hành mà không có khâu tổ chức thực hiện hoặc thực hiện "lỏng lẻo” thì tính khả thi của pháp luật BHYT không cao; khi đó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên trong quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế Ngược lại, công tác thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế được thực hiện tốt sẽ góp phần làm cho xã hội ổn định và phát triển, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, sức khỏe của người dân được bảo vệ

Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 -

2020, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội

và phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục xem chính sách BHYT là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa

Trang 37

chính sách kinh tế và xã hội trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định xã hội Chính vì vậy, trong hoạt động BHYT, Nhà nước tiến hành xây dựng nhiều chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHYT

Bảo hiểm y tế là một nhu cầu thiết yếu của mọi người dân Trong mối quan hệ pháp luật BHYT chúng ta thấy được tính chất đa dạng và phức tạp, thể hiện ở mối quan hệ giữa 3 bên và có lúc cả 4 bên đó là: giữa người tham gia BHYT- cơ quan BHXH, BHYT- cơ quan, tổ chức sử dụng lao động hoặc đơn vị sự nghiệp (trường học) và cơ sở khám chữa bệnh Trong đó mối quan

hệ trực tiếp giữa người tham gia BHYT với cơ quan BHXH (quản lý BHYT)

là mối quan hệ trực tiếp nhất, đồng thời còn có bên thứ 3 đó là cơ sở khám chữa bệnh trong việc giải quyết các chế độ (mức thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT) Mối quan hệ chằng chịt này nếu không được thực hiện đúng theo pháp luật BHYT thì chắc chắc sẽ phát sinh nhiều mâu thuẫn, khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHYT Chính vì vậy, việc thực hiện pháp luật BHYT nhằm

ổn định cuộc sống người dân và trợ giúp người dân khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu Thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế là có vai trò rất quan trọng, nhằm đưa các quy định của pháp luật BHYT đi vào cuộc sống, góp phần chăm sóc sức khỏe của người dân khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động

Cùng với các quy định của pháp luật lao động, pháp luật bảo hiểm xã hội, pháp luật bảo hiểm y tế đã quy định cụ thể, chi tiết quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia BHYT, đặc biệt là quyền được chăm sóc sức khỏe khi không may bị ốm đau, bệnh tật Thực hiện pháp luật BHYT góp phần vào

Trang 38

việc khám chữa bệnh một cách công bằng, hợp lý giữa các đối tượng, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững BHYT được thực hiện theo nguyên tắc có đóng-có hưởng, nghĩa là người nào tham gia đóng góp vào quỹ BHYT thì người đó mới được hưởng quyền lợi về BHYT, ngoại trừ một số đối tượng được ngân sách Nhà nước hỗ trợ toàn bộ mức đóng như trẻ em, người già, người có công vơi cách mạng, người nghèo

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế

Trong những năm qua, pháp luật bảo hiểm y tế đã liên tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo hướng đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi đối tượng; đảm bảo công bằng, nhân văn, hợp lý hơn Nhà nước và

xã hội luôn mong muốn cho các quy định pháp luật được thực hiện đầy đủ, hiệu quả trên thực tế Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tiêu cực từ việc thực hiện chính sách BHYT Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác nhau liên quan tới các quy định pháp luật và môi trường thực hiện pháp luật Cần nắm bắt và xác định những yếu tố khác nhau tác động đến thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế để có biện pháp hữu hiệu Sau đây

là một số yếu tố chủ yếu:

1.3.1 Hệ thống pháp luật

Chất lượng của các văn bản pháp luật BHYT có tác động rất lớn đến ý thức và hành vi thực hiện pháp luật về BHYT các đối tượng: Cá nhân, các cơ quan, tổ chức, đơn vị Sự tác động tích cực nêu quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch, hợp lý về quyền, nghĩa vụ, chế tài thì hiệu quả thực hiện pháp luật

sẽ cao Ngược lại, nếu các quy phạm pháp luật BHYT còn nhiều kẽ hở, hay chồng chéo, mâu thuẫn giữa quy định của văn bản luật và văn bản dưới luật thì sẽ khó áp dụng, thực hiện trên thực tế bởi lĩnh vực chăm sóc sức khỏe vốn

đã phức tạp và việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế lại càng phức tạp hơn nữa Do đó để đảm bảo cho pháp luật BHYT được thực hiện

Trang 39

hiệu quả thì các quy phạm pháp luật BHYT trong hệ thống pháp luật BHYT phải có tính khả thi cao Ngoài ra, hệ thống pháp luật BHYT còn phải mang tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và kỹ thuật lập pháp

Tính toàn diện của hệ thống pháp luật BHYT thể hiện ở yếu tố đầy đủ của các quy phạm pháp luật; nghĩa là các quy phạm pháp luật BHYT được ban hành phải bao quát hết phạm vi điều chỉnh của luật BHYT

Tính đồng bộ của pháp luật BHYT thể hiện ở nội dung của các quy phạm pháp luật BHYT Các quy phạm pháp luật BHYT phải thống nhất với nhau, không mâu thuẫn, không chồng chéo lẫn nhau, giữa văn bản của cơ quan cấp trên với văn bản của cơ quan cấp dưới; giữa quy định của luật và quy định của các văn bản dưới luật; đặc biệt là giữa nội dung quy phạm pháp luật BHYT trong văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan chuyên môn về BHYT

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật BHYT là yếu tố được thể hiện ra bên ngoài, đó là nội dung quy phạm pháp luật BHYT điều chỉnh có phù hợp với ý chí, nguyện vọng của người dân, phong tục tập quán, văn hóa, đạo đức, tình hình thực tế của đời sống xã hội và có phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế hay không Tính phù hợp của pháp luật về BHYT yêu cầu phải phù hợp giữa điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, đạo đức, với nhu cầu lợi ích về chăm sóc sức khỏe của sinh viên

Về tiêu chí công khai, minh bạch của các quy phạm pháp luật BHYT cần phải được thể hiện trong nội dung các văn bản pháp luật, trong việc tham vấn và tổ chức lấy ý kiến của người tham gia BHYT Việc thu-chi, sử dụng quỹ BHYT phải được công khai để người tham gia BHYT biết, có điều kiện thảo luận, đóng góp ý kiến về chính sách BHYT mà bản thân mình đang thụ hưởng Các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách BHYT, quy trình giải quyết chế độ BHYT phải được công khai tại nơi tiếp nhận và giải quyết như

Trang 40

cơ quan BHXH các cấp, cơ sở khám chữa bệnh BHYT Hồ sơ, biểu mẫu thủ tục hành chính phải thuận tiện, đơn giản để người tham gia BHYT dễ dàng tiếp cận và thực hiện cho đúng Các cơ sở KCB BHYT và cơ quan BHXH phải có bộ phận tiếp nhận và giải đáp thắc mắc của người tham gia BHYT

Tóm lại, chất lượng của hệ thống pháp luật BHYT được thể hiện ở tính hợp hiến, hợp pháp, đảm bảo quyền, lợi ích của người tham gia BHYT và sự minh bạch về cơ chế trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức có liên quan Đây

là khung pháp lý quy định rõ đối tượng áp dụng, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia BHYT, nội dung các chế độ BHYT được hưởng Nếu hệ thống pháp luật BHYT không đồng bộ, không hợp lý sẽ ảnh hưởng lớn tới chất lượng công tác thực thi pháp luật BHYT

1.3.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế

Tổ chức thực hiện pháp luật BHYT cho học sinh, sinh viên bao gồm các hoạt động từ việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên, cho các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, các cơ quan nhà nước có chức năng quản lý về BHYT đến việc triển khai thực thi các quy định của pháp luật (áp dụng pháp luật) Điều đó đòi hỏi trước hết phải có hệ thống văn bản pháp luật BHYT đầy đủ và đồng bộ, có tính khả thi cao Đồng thời công tác tổ chức thực hiện pháp luật phải được đề cao Nếu công tác tổ chức thi hành pháp luật không tốt thì cũng làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật BHYT

Việc áp dụng pháp luật BHYT sẽ gặp khó khăn khi có sự tản mạn, chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu hụt của các văn bản hướng dẫn (văn bản áp dụng pháp luật) Việc quy định đầy đủ, công khai minh bạch quy trình, thủ tục, hồ sơ, trách nhiệm và thời hạn giải quyết sẽ tạo thuận lợi cho đối tượng

và cơ quan BHXH, cơ quan y tế thống nhất thực hiện Đồng thời áp dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt thời gian tạo niềm tin cho người tham gia BHYT Công tác khám, chữa bệnh, thanh quyết toán

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w