1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh long an

83 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 757,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc ban hành và kết hợp triển khai thực hiện 02 đạo luật này cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã đạt được những kết quả tích cực trong việc quản lý, kiểm soát những hành vi sản x

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THÚY

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM

TỪ THỰC TIỄN CỦA UBND TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THÚY

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA

NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM

TỪ THỰC TIỄN CỦA UBND TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT Chuyên ngành: LÝ LUẬN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh, Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An, Phòng Đào tạo Sau đại học- Trường Đại học Vinh, Khoa Luật - Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác trong tình hình mới

Xin chân thành cảm ơn các giảng viên, các nhà khoa học đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn TS.Phạm Thị Huyền Sang - Người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật Chân thành cảm ơn Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Lãnh đạo và đồng nghiệp Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Long An đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi và động viên, hỗ trợ về mọi mặt để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập Xin chân thành cảm ơn UBND tỉnh, các Sở: Y tế, NN&PTNT, Công thương đã nhiệt tình cung cấp các tài liệu, báo cáo và số liệu cần thiết, cũng như tư vấn về khoa học để giúp tôi hoàn thiện đề tài

Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng, nhưng với khả năng nhận thức, điều kiện, thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn chế, chắc chắn Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ thêm của Quý Thầy, Cô cùng bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp

Trân trọng!

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực Những tƣ liệu tham khảo, sử dụng trong Luận văn có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy

Trang 5

Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của người tiêu dùng

trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và vai trò của ủy ban nhân dân cấp

1.3 Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người

1.4 Vai trò của ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện pháp luật

về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 24

Chương 2

Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng

trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Long An 29

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Long An 29

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng

trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Long An 30

2.3 Đánh giá kết quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu

dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Long An 55

Tiểu kết Chương 2 64

Chương 3

Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật của ủy ban nhân dân cấp tỉnh về

bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 66

3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu

3.2 Giải pháp cơ bản thực hiện pháp luật về đảm bảo quyền của người tiêu

dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm của ủy ban nhân dân cấp tỉnh 70

3.3 Một số kiến nghị về công tác thực hiện pháp luật trong việc bảo vệ

quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 74

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

An toàn thực phẩm là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với đời sống của mỗi con người và của cả cộng đồng xã hội Việc được tiếp cận, sử dụng những thực phẩm an toàn cho sức khỏe, tính mạng cũng là một trong những quyền cơ bản của con người Bởi đó chính là một phần của quyền sống (hay quyền được sống)

- là quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người mà Điều 19, Hiến pháp nước

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: "Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật." An toàn thực phẩm không những ảnh hưởng trực tiếp,

thường xuyên đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng mà còn làm ảnh hưởng đến chất lượng sống, chất lượng giống nòi, năng suất, hiệu quả lao động,

sự phát triển của nền kinh tế, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Chính vì vậy, việc bảo đảm an toàn thực phẩm nói chung, bảo vệ có hiệu quả quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm một điều kiện cơ bản, tiên quyết cho việc hình thành và thúc đẩy mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia, đó chính là vấn đề con người

Theo thống kê từ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, mỗi năm ở Việt Nam

có khoảng từ 250 đến 500 vụ ngộ độc thực phẩm với 7.000 đến 10.000 nạn nhân, trong đó có từ 100 đến 200 ca tử vong Số tiền mà Ngân sách Nhà nước và toàn xã hội phải chi ra cho việc điều trị, xét nghiệm, điều tra nguyên nhân là một con số không hề nhỏ Nguyên nhân của ngộ độc thực phẩm có rất nhiều nguyên nhân: do thực phẩm nhiễm vi sinh vật (33 - 49%); do thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất (11 - 27%); bị nhiễm độc qua nước, thức ăn, không khí; do thực phẩm vốn hàm chứa sẵn các chất độc tự nhiên (6 - 37,5%)… và còn rất nhiều những trường hợp không xác định được nguyên nhân khác Đây thực sự là một vấn đề nan giải, bởi đối tượng phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngộ độc thực phẩm

Trang 7

chính là người tiêu dùng Cho nên, có thể nói, vấn đề an toàn thực phẩm và bảo

vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đang là những vấn đề ngày càng trở nên bức xúc và vô cùng thời sự trong tình hình hiện nay, cần phải được quan tâm, tập trung giải quyết cả trước mắt và lâu dài

Thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý, kiểm soát an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Trong đó, 02 văn bản pháp lý quan trọng có vai trò chủ đạo, điều chỉnh trực tiếp đến vấn đề bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Việc ban hành và kết hợp triển khai thực hiện 02 đạo luật này cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã đạt được những kết quả tích cực trong việc quản lý, kiểm soát những hành vi sản xuất, kinh doanh, chế biến, cung cấp các sản phẩm là thực phẩm bẩn, không đảm bảo an toàn, kém chất lượng trên thị trường, góp phần bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Tuy nhiên, sau hơn 05 năm

có hiệu lực thi hành, 02 đạo luật cũng đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định Quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm vẫn chưa thật

sự được bảo đảm và lúc nào cũng trong tình trạng sẵn sàng có nguy cơ bị xâm hại nghiêm trọng Thực trạng này cho thấy pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng nói chung, trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng trong tình hình hiện nay vẫn chưa phát huy nhiều hiệu quả và chưa thật sự là công cụ hữu hiệu

để bảo vệ tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người tiêu dùng thực phẩm

Từ những vấn đề nêu trên, với mong muốn thông qua đánh giá thực tiễn công tác thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm tại địa phương, từ đó đề ra một số giải pháp, kiến nghị cơ bản, góp phần thực hiện tốt hơn việc bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trong thời gian tới, tác giả

Trang 8

quyết định chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu

dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh Long An”đề nghiên

cứu và thực hiện Luận văn này

Liên quan đến tình hình nghiên cứu đề tài, qua tìm hiểu của tác giả, những năm gần đây đã có các đề tài nghiên cứu sau:

- Lê Thị Linh, “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội”, năm 2016, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà

Nội

- Nguyễn Diệu Vũ, “Bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm theo pháp luật nước ta hiện nay”, năm 2016, Luận văn Thạc sĩ, Học

viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

- Nguyễn Xuân Ngàn, “Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh, an toàn thực phẩm theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Dương”, năm 2017, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn

lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

- Phạm Văn Hảo, “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay”, năm 2017, Luận án

Tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Và còn khá nhiều các công trình nghiên cứu khác liên quan đến lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu, đề tài khoa học nào đi sâu

về vấn đề thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn của tỉnh Long An Hơn nữa, mặc dù có một

số đề tài có tên tương tự, cũng được nghiên cứu từ thực tiễn một số tỉnh, thành trong nước, tuy nhiên cách tiếp cận và nghiên cứu, trình bày vấn đề của mỗi tác giả là khác nhau nên bản thân tin tưởng rằng kết quả nghiên cứu này là khác biệt, không trùng lắp với những đề tài đã được nghiên cứu, sẽ đảm bảo được

Trang 9

mục đích, yêu cầu đề ra, góp phần bổ sung thêm cho công tác nghiên cứu lý luận

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động thực hiện pháp luật về bảo

vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Người tiêu dùng được xác định giới hạn trong đề tài này là cá nhân mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thực phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân, sinh hoạt gia đình, không nhằm mục đích kinh doanh, thương mại

Trang 10

Phạm vi không gian: nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Long An;

Phạm vi thời gian: nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng tại địa bàn tỉnh Long An, từ năm 2011 đến năm 2017

4 Những đóng góp của đề tài

- Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và đưa ra được khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

- Luận văn đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm

và bảo vệ quyền của người tiêu dùng từ việc tổng hợp thực tiễn; thông qua những nhận xét, đánh giá, luận văn đã đề xuất, kiến nghị cụ thể góp phần kiến nghị ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện tốt hơn công tác quản lý an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trong thời gian tới

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy trong lĩnh vực có liên quan Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có giá trị tham khảo đối với thực tiễn công tác bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm;

Làm rõ vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện pháp luật

về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm;

Làm sáng tỏ nội dung của việc thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh Long An;

Trang 11

Làm rõ các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm;

Phân tích tình hình thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng;

Hệ thống hóa quan điểm đảm bảo thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm;

Đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo

vệ quyền của người tiêu dùng

6 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và những vấn đề cơ bản về lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam

Để thực hiện để tài, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phân tích, tổng hợp lý thuyết; Phân loại và hệ thống hóa, khái quát hóa; Nghiên cứu, tổng hợp thực tiễn; Thống kê, so sánh; Nhận xét, đánh giá

7 Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được

bố cục làm 03 Chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và vai trò của ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Long An

Chương 3 Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật của ủy ban nhân dân cấp tỉnh về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM

VÀ VAI TRÒ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản

1.1.1.1 Thực hiện pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật

Pháp luật Xã hội chủ nghĩa (XHCN) là hệ thống các quy tắc mang tính chất bắt buộc chung, những khuôn mẫu của hành vi, thể hiện ý chí, lợí ích, nguyện vọng của nhân dân Thực hiện pháp luật là hoạt động của con người đưa pháp luật vào cuộc sống, nhằm đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, an toàn cho nhân dân Thực hiện pháp luật không chỉ là nghĩa vụ pháp

lý mà còn là trách nhiệm đạo đức của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và mọi công dân, nhằm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Nhà nước XHCN đặt ra nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau để điều chỉnh hành vi của chủ thể pháp luật (là cá nhân, cơ quan, tổ chức có khả năng được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật), sao cho hành vi đó phù hợp với lợi ích chung của nhà nước và xã hội Có loại quy phạm pháp luật quy định những hành vi được thực hiện (còn gọi là quy phạm pháp luật cho phép hay quy phạm pháp luật trao quyền, tức là xác định quyền của chủ thể pháp luật); có loại quy phạm pháp luật quy định những hành vi không được thực hiện (còn gọi là quy phạm pháp luật ngăn cấm); có loại quy phạm pháp luật quy định những hành vi phải thực hiện (còn gọi là quy phạm

Trang 13

pháp luật bắt buộc, tức là xác định nghĩa vụ của chủ thể pháp luật) Ngoài ra,

còn có những quy phạm pháp luật xác định các hình thức khen thưởng đối với

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thành tích trong việc thực hiện pháp luật và các

biện pháp xử lý đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm pháp luật Do có

nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau, cho nên việc thực hiện pháp luật

cũng được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Những hình thức đó là: Tuân theo pháp luật (hay tuân thủ pháp luật)

Chấp hành pháp luật (hay thi hành pháp luật)

Theo giải thích từ ngữ tại Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010:

Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã

qua sơ chế, chế biến, bảo quản

An toàn thực phẩm được hiểu là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại

đến sức khỏe, tính mạng con người

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ

chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối

với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực

phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy

cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an

toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; trách

nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

* Người tiêu dùng, quyền của người tiêu dùng nói chung và trong lĩnh

vực an toàn thực phẩm nói riêng

Trang 14

Người tiêu dùng: Theo giải thích từ ngữ tại Điều 3, Luật Bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng năm 2010, người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Quyền của người tiêu dùng theo quy định tại Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010:

Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp

Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng

Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Trang 15

Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết

Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo

vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ

Quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm:

Tại Điều 9, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định người tiêu dùng thực phẩm có các quyền sau đây:

Được cung cấp thông tin trung thực về an toàn thực phẩm, hướng dẫn sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, lựa chọn, sử dụng thực phẩm phù hợp; được cung cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn, cách phòng ngừa khi nhận được thông tin cảnh báo đối với thực phẩm;

Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật;

Yêu cầu tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật;

Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra

Ngoài ra, liên quan đến việc bảo vệ quyền của người tiêu dùng nói chung, trong đó bao gồm cả lĩnh vực an toàn thực phẩm còn có Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 và một số văn bản pháp lý quan trọng khác Tuy

Trang 16

nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung đi sâu vào việc thực hiện

02 đạo luật chính, có vai trò chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam, liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, đó là Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Luật An

toàn thực phẩm năm 2010 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành

Tóm lại, quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm được

hiểu là quyền của người tiêu dùng trong việc được lựa chọn, được mua và sử dụng những sản phẩm thực phẩm, những dịch vụ cung ứng thực phẩm bảo đảm

an toàn cho tính mạng, sức khỏe; được cung cấp những kiến thức cơ bản về tiêu dùng thực phẩm an toàn, những thông tin trung thực về nguồn gốc, xuất xứ, thành phần, thời hạn sử dụng của thực phẩm; được yêu cầu các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các tổ chức xã hội và pháp luật bảo vệ các quyền cơ bản của mình trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

1.1.2 Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Từ những vấn đề cơ bản trên, có thể đưa ra khái niệm: Thực hiện pháp luật

về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là toàn

bộ những hoạt động của các chủ thể pháp luật được quy định trong Luật An toàn thực phẩm, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản pháp luật có liên quan nhằm đưa những quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm

và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp, góp phần bảo đảm các quyền

cơ bản của con người, trong đó có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng và sức khỏe

Theo đó, trên cơ sở các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, từng chủ thể pháp luật tương ứng sẽ thực hiện, không thực hiện, không được thực hiện hoặc phải thực hiện những hành vi cụ thể để đảm bảo cho các quy định của

Trang 17

pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm được thực thi trong thực tế thông qua các hình thức thực hiện pháp luật

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Được thể hiện thông qua các hình thức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, cụ thể:

1.2.1 Tuân thủ pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Đối với hình thức thực hiện pháp luật này, nội dung của việc thực hiện là việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế để không thực hiện các hành vi mà pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cấm

Ví dụ: Điều 5, Luật An toàn thực phẩm năm 2010; khoản 7, khoản 8, Điều 10, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về những hành vi bị cấm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Nếu các chủ thể pháp luật có liên quan không thực hiện những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, khoản này thì chính là tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

1.2.2 Chấp hành pháp luật (hay thi hành pháp luật) về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Nội dung của hình thức thực hiện pháp luật này là các chủ thể pháp luật

có liên quan thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm quy định cho

Trang 18

mình bằng hành vi tích cực; và không những tự giác thực hiện mà còn thực hiện nghĩa vụ đó một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh

Ví dụ: Tại Điều 8, Luật An toàn thực phẩm quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm:

“e) Báo cáo ngay với cơ quan có thẩm quyền và khắc phục ngay hậu quả khi phát hiện ngộ độc thực phẩm hoặc bệnh truyền qua thực phẩm do mình kinh doanh gây ra;

l) Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi thực phẩm mất an toàn do mình kinh doanh gây ra”

Việc chấp hành các quy định nêu trên là nghĩa vụ của chủ thể pháp luật - những tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm, thể hiện bằng những hành động tích cực, tự giác, đồng thời còn phải thực hiện chúng một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh với tinh thần trách nhiệm, đạo đức và nghĩa vụ pháp lý của mình

1.2.3 Sử dụng pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Trong hình thức thực hiện pháp luật này, nội dung của việc thực hiện là việc chủ thể pháp luật có liên quan thực hiện các quyền mà pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm quy định cho mình một cách đúng đắn, trong phạm vi, khuôn khổ pháp luật quy định, không lợi dụng những quyền này để xâm hại đến quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác

Ví dụ: Khoản 6, Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm

2010 quy định cho người tiêu dùng được quyền: yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết Nhưng người tiêu dùng không được phép lợi dụng quyền này để xâm hại đến

Trang 19

quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm trục lợi Chẳng hạn, cố ý bỏ côn trùng, tạp chất vào sản phẩm nước giải khát đóng chai hoặc thực phẩm đóng gói nhằm mục đích yêu cầu nhà sản xuất phải chi ra một khoản tiền bồi thường do thực phẩm không đạt tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, nếu nhà sản xuất không đáp ứng thì sẽ có hành vi hoặc đe dọa

có hành vi gây ảnh hưởng đến uy tín, chất lượng thương hiệu (là hành vi tống tiền)

1.2.4 Áp dụng pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Nội dung của hình thức thực hiện pháp luật này là hành động của các cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền nhằm tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật về

an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Ví dụ: Điều 65, Luật An toàn thực phẩm quy định về trách nhiệm quản

lý nhà nước của ủy ban nhân dân các cấp trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; Điều 69 quy định về quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan quản lý an toàn thực phẩm trong kiểm tra an toàn thực phẩm;… Hay Điều 47, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương;… Khi các cơ quan quản lý nhà nước

có thẩm quyền thực hiện tốt và đầy đủ trách nhiệm của mình theo quy định tại các Điều này thì chính là tổ chức, định hướng cho các chủ thể pháp luật có liên quan khác thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

1.3 Các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Trang 20

Cãn cứ tắnh chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định có 04 hình thức thực hiện pháp luật như trình bày nêu trên Nhưng việc thực hiện pháp luật nói chung cơ bản được biểu hiện trên 02 phương diện chủ yếu: không thực hiện hành vi trái pháp luật và thực hiện hành vi hợp pháp Việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cũng không nằm ngoài 02 phương diện chủ yếu này

Vấn đề thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng của các chủ thể pháp luật chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động, như: nhận thức, niềm tin, thói quen, vấn đề lợi ắch, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, các loại quy tắc

xã hội; điều kiện kinh tế, chắnh trị, văn hóa, xã hội; hệ thống chắnh sách, pháp luật; thái độ, cách thức phục vụ, thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; khả năng, điều kiện tiếp cận pháp luật của các chủ thể,Ầ Tuy nhiên, có thể thấy các yếu tố cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng tập trung chủ yếu ở các yếu tố sau:

Một là, yếu tố về hiều biết, nhận thức và niềm tin đối với pháp luật: Đây là

yếu tố quan trọng, đầu tiên ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến ý thức và hành

vi của các chủ thể pháp luật trong việc thực hiện pháp luật Muốn việc thực hiện pháp luật đạt hiệu lực, hiệu quả thì bên cạnh sức mạnh của công quyền, cưỡng chế còn cần phải huy động cả sức mạnh của tư tưởng và tinh thần mà trong đó pháp luật phải là thứ mà con người hiểu biết được, nhận thức được là cái cần thiết và có cơ sở để tin tưởng tuyệt đối, từ đó có sự tôn trọng và chấp hành

Hiểu biết và nhận thức pháp luật: Khi các chủ thể pháp luật, nhất là các cá

nhân, vì trình độ văn hóa thấp, hoặc do khả năng, điều kiện tiếp cận pháp luật hạn chế, ắt hiểu biết pháp luật thì sẽ rất dễ dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật mà có khi ngay chắnh bản thân họ cũng không nhận thức được đó là hành vi

vi phạm pháp luật Chẳng hạn, pháp luật về an toàn thực phẩm quy định việc

Trang 21

cấm sử dụng các phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm để sản xuất thực phẩm, nhưng nếu cá nhân hoặc các

cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm do thiếu hiểu biết, hoặc không nắm rõ quy định, cụ thể là không biết về danh mục các chất phụ gia,chất hỗ trợ nào là bị cấm, không được phép sử dụng, hoặc được phép sử dụng nhưng không rõ về hàm lượng cho phép thì rõ ràng rất dễ rơi vào vi phạm

Niềm tin đối với pháp luật: Là một trong những tiền đề và là điều kiện tiên

quyết đảm bảo cho sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật Nó không tự nhiên hình thành ở các cá nhân mà phải có sự tác động từ thực tiễn pháp luật, thực tiễn chấp hành pháp luật của các chủ thể pháp luật xung quanh, nhất là của các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật Nếu việc áp dụng pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật không nghiêm minh, kịp thời và đúng đắn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin pháp luật của các chủ thể pháp luật, nhất là đối với các cá nhân

Chính vì vậy, việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức, khả năng hiểu biết và tạo được niềm tin pháp lý ở mỗi cá nhân, mỗi chủ thể pháp luật là vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết Bởi, chính sự hiểu biết và niềm tin đối với pháp luật sẽ là cơ sở để mỗi chủ thể pháp luật hình thành nên ý thức tôn trọng và cách hành xử tuân theo pháp luật

Hai là, yếu tố đạo đức và lương tâm: Trong thực hiện pháp luật về an toàn

thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm thì đây là yếu tố đóng vai trò quan trọng Đạo đức là một trong những phương tiện điều chỉnh quan hệ xã hội mang tính quy phạm, lương tâm thì không mang tính quy phạm nhưng gần như chúng có mối quan hệ gần gũi, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Chúng không như pháp luật, không có các chế tài, song có vai trò rất lớn trong việc dẫn dắt, định hướng các cá nhân, các

Trang 22

chủ thể pháp luật có nhiều cách xử sự khác nhau đối với các mối quan hệ xã hội; thông qua chúng, con người có thể hướng thiện, hướng ác hoặc trung lập; có thể

xử sự phù hợp, đúng với quy định của pháp luật hoặc là ngược lại Bởi, con người, không ai có thể nhớ hết, hiểu biết hết hoặc nắm vững tất cả các quy định pháp luật, nhưng nếu hiểu được sự cần thiết của chúng cùng với lối sống, cách hành xử phù hợp đạo đức, đầy ý thức trách nhiệm đối với bản thân, cộng đồng

và luôn có sự tự vấn với lương tâm thì họ sẽ tự kiềm chế để không gây ra những hành vi vi phạm pháp luật Đó cũng chính là ý thức và trách nhiệm đạo đức của các chủ thể pháp luật đối với con người thông qua việc tôn trọng pháp luật, tôn trọng bản thân mình trước pháp luật, tôn trọng người khác, thấy được ý nghĩa,

sự cần thiết và lợi ích chính đáng của cộng đồng, xã hội, trong đó có chính mình trong việc thực hiện đúng pháp luật

Ba là, yếu tố môi trường xã hội - pháp lý: Môi trường sống có vai trò quan

trọng và có tầm ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, nhất là của các công dân, trực tiếp tác động đến ý thức và hành vi của

họ Công dân sống trong một môi trường lành mạnh, địa phương, khu vực công dân sinh sống ít tệ nạn xã hội, ít tội phạm, mọi người xung quanh luôn có ý thức tuân thủ pháp luật, thì công dân đó cũng sẽ thường tự mình điều chỉnh bản thân, hành động theo nếp sống chung, yêu cầu chung của pháp luật, của xã hội, của tập thể cộng đồng dân cư nơi mình sinh sống để không vi phạm pháp luật Chẳng hạn, đối với việc kinh doanh thực phẩm ăn uống trên cùng một tuyến đường, một khu phố, nếu khu vực dân cư đó, các cửa hàng kinh doanh thực phẩm ăn uống đều tuân thủ các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm thì cũng rất ít xảy ra trường hợp có một hoặc một vài cửa hàng vi phạm do

họ sẽ tự ý thức được hành vi của mình, nếu không tuân thủ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm thì sẽ không phù hợp với số đông và điều đó là bất lợi và thiệt hại cho việc kinh doanh của họ

Trang 23

Bốn là, yếu tố dư luận xã hội: Sự không đồng tình, bất bình của dư luận xã

hội đối với những hành vi vi phạm pháp luật có tác động rất lớn đến việc điều chỉnh, uốn nắn ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật Nếu dư luận xã hội quan tâm, lên án mạnh mẽ đối với những hành vi

vi phạm pháp luật, những hiện tượng vi phạm pháp luật, như: việc sử dụng thịt thối chế biến thực phẩm, sử dụng hóa chất độc hại giữ hoa quả tươi lâu, bơm tạp chất vào hải sản,… thì sẽ có tác động rất nhiều đến trạng thái tâm lý pháp luật

và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật có liên quan Thông qua tiếp nhận những phản ứng của dư luận xã hội mà các chủ thể pháp luật sẽ dần tự giác hoặc bắt buộc phải điều chỉnh, uốn nắn lại nhận thức và hành vi của mình

để không vi phạm pháp luật

Năm là, sự cần thiết của một hệ thống các quy phạm pháp luật rõ ràng,

minh bạch, ngắn gọn và đầy đủ: Đây là yếu tố căn bản, quan trọng tác động trực

tiếp đến ý thức, hành vi của các chủ thể pháp luật để các chủ thể thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, hiệu quả nhất [13]

Các văn bản chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm thời gian qua đã được ban hành tương đối đầy đủ và kịp thời; từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Số liệu thống kê từ các bộ và ủy ban nhân dân

63 tỉnh, thành trong cả nước cho thấy, trong giai đoạn từ 2011- 2016, hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm của Việt Nam đã có 158 văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Trung ương ban hành,trong đó 08 văn bản Luật của Quốc hội, 34 Nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ, 08 Thông tư liên tịch, 40 Thông tư của Bộ Y tế, 54 Thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 12 Thông tư của Bộ Công thương, 02 Thông tư của Bộ Tài chính để quản

lý an toàn thực phẩm, trong đó Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là văn bản pháp lý có hiệu lực sát sườn, quy định khá đầy đủ, toàn diện các nội dung về quản lý an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực

an toàn thực phẩm.Tại các địa phương cũng đã ban hành 1.253 văn bản quản lý

Trang 24

(trong đó có 669 văn bản quy phạm pháp luật) Đồng thời, hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm đã được quan tâm ban hành đồng bộ hơn phục vụ tốt yêu cầu quản lý an toàn thực phẩm Theo báo cáo của

Bộ Khoa học và Công nghệ, trong giai đoạn 2011- 2016 đã có 365 tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) về thực phẩm, 29 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn thực phẩm được ban hành, riêng năm 2016 đã có 127 TCVN về an toàn thực phẩm được ban hành Tuy nhiên, theo báo cáo của Chính phủ thì con số TCVN

mà các bộ ngành đề nghị ban hành là 457, số quy chuẩn Việt Nam (QCVN) là

119 và quy định kỹ thuật về an toàn thực phẩm là 06 Như vậy, số lượng TCVN được ban hành chỉ chiếm 80%, QCVN chỉ chiếm 56,3% so với yêu cầu, trong khi đó thực phẩm thuộc loại hàng hóa nhóm 2 (bắt buộc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật - QCKT) hiện mới chỉ có 02 QCKT địa phương được ban hành là QCKT

về rượu bưởi Tân Triều (tỉnh Đồng Nai) và rượu Xuân Thạnh (tỉnh Trà Vinh) [2, tr.1-3], [4, tr.2-3]

Song, cũng chính từ những số liệu nêu trên và thực tiễn nghiên cứu cho thấy, việc ban hành văn bản pháp luật về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm hiện nay là quá nhiều nhưng lại chưa được hệ thống hóa; bên cạnh đó, một số văn bản còn chồng chéo, chưa

rõ ràng; văn bản nhiều nhưng một số lĩnh vực quản lý lại thiếu quy định hướng dẫn cụ thể,… Do vậy, gây khó khăn rất nhiều cho việc nghiên cứu, tìm hiểu

cũng như việc thực thi pháp luật

1.4 Vai trò của ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 1.4.1 Vai trò

Theo quy định tại khoản 4, Điều 61, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và khoản 4, Điều 7, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có vai trò quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương

Trang 25

1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ

1.4.2.1 Đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm: Theo quy định tại Điều 40,

Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng, nhiệm vụ sau:

Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa phương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về an toàn thực phẩm tại địa phương Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ Trưởng ban chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh; chủ động tổ chức lực lượng thanh tra, kiểm tra, giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn; trực tiếp chỉ đạo

và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm của cơ quan nhà nước cấp dưới; xử lý cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; tổ chức giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước Chính phủ và trước pháp luật khi để xảy ra vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn

Tổ chức triển khai thực hiện các quy định của Chính phủ, các bộ, ngành về

an toàn thực phẩm trên địa bàn

Tổ chức, điều hành Ban chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh

Tổ chức tuyên truyền, vận động thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn

Bố trí nguồn lực cho các cơ quan chuyên môn để thực hiện việc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý

Trang 26

Xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm đặc thù của địa phương

Tổ chức tiếp nhận và quản lý hồ sơ, cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công

bố sản phẩm, Giấy xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi

Tổ chức tiếp nhận bản tự công bố sản phẩm; chứng nhận cơ sở đủ điều kiện

an toàn thực phẩm theo phân công, phân cấp

Trước khi Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 23, Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ, cụ thể:

Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa phương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về an toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương Tổ chức, điều hành Ban Chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh; chỉ đạo thực hiện các quy định của Chính phủ, các

bộ, ngành về an toàn thực phẩm Ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm đặc thù của địa phương

Các sở: Y tế, Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Công thương là các đơn vị có trách nhiệm tham mưu, giúp ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn

1.4.2.2 Đối với việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng: Được quy định

tại Điều 49 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và được quy định

cụ thể hơn tại khoản 2, Điều 34, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ, Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, theo đó: Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở địa phương Sở Công Thương là cơ quan giúp Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương Trách nhiệm cụ

Trang 27

thể của Sở Công thương về lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quy định chi tiết tại khoản 1, Điều 35, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP, gồm:

Thực hiện việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan;

Thẩm định các đề án, kế hoạch hoạt động của tổ chức xã hội tham gia bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng trình Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao thực hiện nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của Nhà nước;

Giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ khi giao cho tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng thực hiện Kiểm tra, giám sát hoạt động hòa giải của tổ chức hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh Tạo điều kiện để tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoạt động;

Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ để cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng cấp huyện thực hiện các nội dung liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Công bố công khai danh sách tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Điều 23 Nghị định này;

Báo cáo kết quả thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền cấp trên;

Kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật;

Các trách nhiệm khác quy định tại Điều 49 Luật Bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng

Trang 28

Tiểu kết Chương 1

Bảo vệ quyền của người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội Trong đó, bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là một lĩnh vực đặc thù và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì suy cho cùng nó chính là bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng - yếu tố đầu tiên cần phải được bảo đảm của con người

Trong điều kiện hiện nay, khi ý thức, trách nhiệm trong việc tự bảo vệ mình của người tiêu dùng còn rất nhiều hạn chế; ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chưa cao, thì vai trò của các

cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền của người tiêu dùng đóng vai trò chủ đạo Để bảo vệ quyền của người tiêu dùng nói chung và trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhưng pháp luật luôn là công cụ quan trọng và hữu hiệu hàng đầu Thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm là tổng hòa và đan xen giữa việc thực hiện các quy định của pháp luật

về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng với việc thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm đã được quy định rõ trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật An toàn thực phẩm và các văn bản có liên quan, với quyền, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm được quy định đối với từng chủ thể pháp luật cụ thể; trong đó, vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan tham mưu giúp việc là chính yếu Khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan tham mưu giúp việc tổ chức thực hiện tốt các chính sách về an toàn thực phẩm; làm tốt vai trò, trách nhiệm trong quản lý, kiểm soát an toàn thực phẩm tại địa phương; thực hiện tốt công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; xử

lý nghiêm minh những hành vi vi phạm;…thì chính là góp phần bảo vệ và bảo đảm cho quyền của người tiêu dùng thực phẩm được thực thi thiết thực trong cuộc sống

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Long An

Long An là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh: 449.194,49 ha; dân số: 1.542.606 người (tính đến tháng 5 năm 2013)

Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 01 thành phố, 01 thị

xã và 13 huyện với 192 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 14 thị trấn, 12 phường và 166 xã

Địa hình Long An bằng phẳng, có xu thế thấp dần từ phía Bắc - Đông Bắc xuống Nam - Tây Nam; bị chia cắt bởi hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây với hệ thống kênh rạch chằng chịt Khu vực phía Bắc và Đông Bắc tương đối cao, khu vực Đồng Tháp Mười thấp, trũng, chiếm 66,4% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, thường xuyên bị ngập lụt hàng năm Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Đất đai Long An phần lớn được tạo thành ở dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ nên đất có dạng cấu tạo bở rời, tính chất cơ lý rất kém, các vùng thấp, trũng tích tụ độc tố làm đất trở nên chua phèn, bất lợi trong tổ chức sản xuất nông nghiệp Về diện tích đất lâm nghiệp, Long An có khoảng 27.000 ha diện tích rừng tràm trồng và khai thác gỗ phục vụ chủ yếu cho ngành xây dựng

Về giao thông, Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, có chung đường ranh giới với thành phố Hồ Chí Minh; hệ thống giao thông kết nối tỉnh với khu vực khá hoàn chỉnh, bao gồm cả đường bộ lẫn đường thủy

Trang 30

Nằm ở vị trí bản lề giữa Đông và Tây Nam Bộ, giữa vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Nam và cận kề với thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm sản xuất

và tiêu thụ hàng hoá lớn nhất cả nước, Long An có điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, được đánh giá là tỉnh có môi trường đầu tư hấp dẫn bởi vị trí của Long An rất thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận thị trường trong khu vực, nhất là thành phố Hồ Chí Minh Với 137,7 km biên giới, Long An có điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi hàng hoá với Campuchia và các nước Đông Nam Á khác Với cửa sông Soài Rạp hướng ra biển Đông, Long An có khả năng phát triển công nghiệp, dịch vụ vận tải, xuất nhập khẩu

Kinh tế Long An nổi tiếng với nhiều sản phẩm nông nghiệp như: gạo tài nguyên, gạo nàng thơm Chợ Đào, rượu đế Gò Đen, dưa hấu Long Trì, thanh long Châu Thành, dứa Bến Lức, đậu phộng Đức Hoà, mía Thủ Thừa Đặc biệt, lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp chủ lực chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu, tuy nhiên sức cạnh tranh hàng nông sản với các nước trong khu vực nói chung vẫn thấp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của công nghiệp chế biến Công nghiệp đạt khoảng 40% giá trị trong nền kinh tế tỉnh, được biết đến với những sản phẩm như dệt may, thực phẩm chế biến, xây dựng Bên cạnh công nghiệp, Long An cũng tập trung phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch, phấn đấu tốc độ tăng trưởng đạt 17%/năm trong giai đoạn đến năm 2020 Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cũng sẽ được phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,7%/năm giai đoạn 2011-2020 Hệ thống giáo dụchttps://vi.wikipedia.org/wiki/Long_An - cite_note-30 - y tế của tỉnh tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu được nạn

mù chữ trên địa bàn, đáp ứng tốt nhu cầu học tập và việc khám, chữa bệnh cho người dân Tình hình an ninh - chính trị, an ninh nông thôn ổn định [3]

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Long An

Trang 31

Theo báo cáo của Sở Y tế tỉnh, trong toàn tỉnh hiện có hơn 85.000 cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm

Thực hiện vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm tại địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đã trực tiếp và lãnh đạo các sở, ngành chức năng tỉnh thực hiện tốt chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm gắn liền với bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm theo quy định, cụ thể:

2.2.1 Thực hiện đồng bộ các biện pháp đảm bảo quyền được an toàn

về tính mạng và sức khỏe của người tiêu dùng thực phẩm

Một là, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản lãnh đạo,

điều hành có liên quan đến lĩnh vực an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền của người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện

- Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:

Quyết định số 15/2013/QĐ-UBND ngày 16/5/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh, quy định về phân cấp quản lý và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố trên địa bàn tỉnh

Quyết định số 02/2016/QĐ-UBND ngày 11/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Công thương (trước đó là Quyết định số 41/2012/QĐ-UBND ngày 07/8/2012), theo

đó, Sở Công thương là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm: Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải

Trang 32

khát, sản phẩm sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến từ bột, tinh bột, bánh, mứt, kẹo, bao bì chứa đựng và các sản phẩm khác, an toàn thực phẩm đối với các chợ, siêu thị và các cơ sở thuộc hệ thống dự trữ, phân phối hàng hóa thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Sở; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về phòng, chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trên thị trường đối với tất cả các loại thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản

lý của Sở Đối với lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tư vấn hỗ trợ nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Thực hiện việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Kiểm tra, giám sát hoạt động tổ chức xã hội, tổ chức hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn tỉnh Công bố công khai danh sách tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng theo thẩm quyền

Các văn bản liên quan đến việc bảo đảm an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán, Lễ hội Xuân, về triển khai Tháng hành động về an toàn thực phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm dịp Tết Trung thu;…

- Ban Chỉ đạo liên ngành tỉnh về vệ sinh an toàn thực phẩm ban hành các

kế hoạch về triển khai công tác thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm, triển khai công tác bảo đảm an toàn thực phẩm dịp Tết Nguyên đán, Lễ hội Xuân, triển khai Tháng hành động, hưởng ứng tháng cao điểm về an toàn thực phẩm, Tết Trung thu…

Trang 33

Hai là, chỉ đạo, điều hành các sở, ngành chức năng tỉnh thực hiện tốt vai trò

tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, gồm:

- Triển khai thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm:

Sở Y tế: Thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 09/5/2016 của Thủ tướng

Chính phủ, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 11/7/2016 về tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh cùng các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cho tuyến dưới thực hiện

Sở Công thương: Chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết

định số 1497/QĐ-UBND ngày 14/4/2016, phân cấp quản lý an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của

Bộ Công thương trên địa bàn tỉnh; phối hợp các ngành chức năng tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND về tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh

ban hành 24 văn bản để chỉ đạo việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông lâm sản; tăng cường quản lý sản xuất, tiêu thụ rau đảm bảo an toàn thực phẩm; tổ chức kiểm tra đánh giá các cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản; tăng cường kiểm soát lạm dụng hóa chất, phụ gia trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản;…

- Quy hoạch sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chiến lược, kế hoạch được ban hành:

Sở Y tế: Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số

750/KH-UBND ngày 13/3/2014 thực hiện Chiến lược Quốc gia về an toàn thực phẩm tỉnh giai đoạn 2012 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; Kế hoạch hỗ trợ kinh phí

Trang 34

dự án chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2016 (lồng ghép vào chương trình mục tiêu y tế - dân số giai đoạn 2016 - 2020)

Sở Công thương: Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng quy hoạch

chung về phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó có ngành sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ uống

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Tham mưu Ủy ban nhân dân

tỉnh phê duyệt quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa nông sản, thủy sản tập trung: Quy hoạch phát triển vùng rau an toàn đến năm 2020; Đề án trồng thanh long tại huyện Châu Thành đến năm 2015 và định hướng 2020; vùng sản xuất chanh Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh đến năm 2020; ngành chăn nuôi tỉnh giai đoạn 2008 - 2020; quy hoạch cơ sở giết mổ tập trung Quy hoạch vùng sản xuất lúa chất lượng cao tại 05 huyện vùng Đồng Tháp Mười Quy hoạch phát

triển nông lâm ngư nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

- Tổ chức, kiện toàn hệ thống cơ quan chuyên môn về quản lý an toàn thực phẩm ở địa phương:

Sở Y tế (Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm): Chi cục có 27 biên chế

chuyên trách.Tuyến huyện có 77 nhân sự chuyên trách và 149 nhân sự thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Cán bộ, viên chức của ngành được quan tâm đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, trình độ quản lý, trình

độ chính trị, kể cả cho cán bộ, công chức du học nước ngoài

Sở Công thương: Phòng Kỹ thuật an toàn - Môi trường trực thuộc Sở là

đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm với 01 biên chế chuyên trách Ngoài ra, có 59 công chức kiêm nhiệm thuộc lực lượng quản

lý thị trường thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, trong đó có kiểm tra, kiểm soát về an toàn thực phẩm ngành Công thương

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Cấp tỉnh (Sở) giao cho 05 đơn vị

thực hiện: Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản làm đầu mối thực hiện công tác quản lý chất lượng an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản của

Trang 35

ngành; Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật quản lý an toàn thực phẩm khâu sản xuất ban đầu trong lĩnh vực trồng trọt; Chi cục Chăn nuôi và Thú y quản lý

an toàn thực phẩm khâu sản xuất ban đầu trong lĩnh vực chăn nuôi; Chi cục Thủy sản quản lý an toàn thực phẩm khâu sản xuất ban đầu trong lĩnh vực thủy sản; Thanh tra Sở tham mưu Sở chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra về an toàn thực phẩm Cấp huyện do các Phòng: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kinh tế - Hạ tầng phụ trách Cấp xã do Ủy ban nhân dân xã thực hiện theo phân cấp

- Phân công Trung tâm Y tế dự phòng, trực thuộc Sở Y tế là đơn vị chịu trách nhiệm kiểm định, giám định thực phẩm; nghiên cứu phục vụ cho công tác

dự báo, cảnh báo và kiểm soát các nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm, ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm phục vụ cho quản lý nhà nước tại địa phương

- Thực hiện công tác phối hợp liên ngành về an toàn thực phẩm:

Sở Y tế: Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai kịp thời các văn bản

chỉ đạo của Trung ương về an toàn thực phẩm vào các đợt cao điểm và trong những trường hợp đột xuất Đã tham mưu ban hành 01 chỉ thị, 20 kế hoạch, 08 quyết định, 18 công văn thuộc lĩnh vực an toàn thực phẩm

Sở Công thương: Phối hợp chặt chẽ với Sở Y tế, Sở NN&PTNT trong công

tác thanh, kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm trong các dịp cao điểm; phối hợp Sở Y tế trong công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công thương; phối hợp, hướng dẫn cơ quan chuyên môn cấp huyện quản lý các cơ sở sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công thương và phối hợp cấp huyện kiểm tra an toàn thực phẩm theo yêu cầu

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Phối hợp: Cục Quản lý Chất

lượng Nông lâm sản và Thủy sản, Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối trong việc điều tra thực trạng một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh;

Trang 36

kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với công ty thủy sản xuất khẩu; thực hiện chương trình giám sát dư lượng hóa chất độc hại trong sản phẩm nông lâm thủy sản;… Các sở, ngành tỉnh và Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Kinh tế cấp huyện trong công tác thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm,… Ủy ban nhân dân cấp huyện trong triển khai, phổ biến pháp luật về

an toàn thực phẩm, chính sách hỗ trợ áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt; thu mẫu giám sát cảnh báo, điều tra, truy xuất nguyên nhân sản phẩm không đảm bảo an toàn Ngành y tế trong việc thông tin về công bố chất lượng sản phẩm; điều tra, xác minh, truy xuất nguồn gốc sản phẩm không an toàn; xử

lý thông tin sản phẩm không an toàn Các cơ quan báo, đài địa phương tuyên truyền công tác bảo đảm an toàn thực phẩm,…

- Đầu tư ngân sách hợp lý cho công tác quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn:

Sở Y tế: Ngân sách Trung ương gồm 04 dự án với tổng kinh phí 6.326 triệu

đồng Sở đã cấp kinh phí hoạt động cho nhiệm vụ quản lý an toàn thực phẩm từ nguồn ngân sách địa phương 16.226 triệu đồng và từ nguồn thu phí - lệ phí vệ sinh an toàn thực phẩm được trích để lại phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý

an toàn thực phẩm 3.122 triệu đồng

Sở Công thương: Năm 2015 được cấp trên 163 triệu đồng từ Chương trình

mục tiêu quốc gia về an toàn thực phẩm.Từ năm 2013 đến 2016, được cấp gần

125 triệu đồng từ nguồn kinh phí chuyên môn đặc thù của ngân sách địa phương

và trên 327 triệu đồng từ nguồn thu được để lại phục vụ trực tiếp cho quản lý an toàn thực phẩm

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Nguồn kinh phí cấp hoạt động

chuyên môn nghiệp vụ của Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản được cấp từ ngân sách địa phương là 1.113,2 triệu đồng; từ nguồn thu phí thẩm định điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm được để lại cho Chi cục là

Trang 37

1.214,3 triệu đồng và từ nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia về vệ

sinh an toàn thực phẩm (2011 - 2015) là 1.845,6 triệu đồng

Ba là, thực hiện tốt công tác quản lý, kiểm soát an toàn thực phẩm trong

sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản thực phẩm tươi sống; trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm

- Trong sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản rau, củ, quả tươi và sơ

sở được chứng nhận VietGap với diện tích 578,86 ha Phần lớn các cơ sở sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản, sơ chế rau, củ, quả tươi chấp hành tốt quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm; được thu mẫu giám sát an toàn thực phẩm, kiểm tra, xếp loại điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định tại Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

- Trong chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển, bày bán, kiểm dịch động vật, kiểm

tra vệ sinh thú y đối với động vật và sản phẩm động vật:

Các trang trại, gia trại đầu tư cơ sở vật chất (chuồng trại, trang thiết bị,…) đáp ứng yêu cầu chăn nuôi; các cơ sở giết mổ tập trung đầu tư xây dựng nhà xưởng, trang thiết bị, hệ thống nước thải đáp ứng điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm; sử dụng xe chuyên dụng vận chuyển sản phẩm thịt từ cơ sở giết mổ

Trang 38

đến các chợ Dự án Lifsap đã hỗ trợ xây dựng 24 chợ nông sản an toàn, với 703 điểm bán thịt Phần lớn các cơ sở chăn nuôi đều chấp hành đúng các quy định về chăn nuôi như việc sử dụng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, hóa chất khử trùng nằm trong danh mục, được phép sử dụng, sử dụng nguồn nước sạch, đạt tiêu chuẩn trong chăn nuôi, giết mổ; một số cơ sở chăn nuôi áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, theo quy trình GAHP (Dự án Lifsap đã hỗ trợ cho 647 hộ chăn nuôi theo quy trình này); khi xuất bán sản phẩm được kiểm dịch theo quy định; phần lớn các cơ sở giết mổ, các điểm bán thịt chấp hành tốt các quy định

về điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, có hệ thống xử lý thải đạt yêu cầu theo quy định Tuy nhiên, còn một số cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, không đăng ký kinh doanh, một số điểm bán thịt chưa chấp hành tốt các quy định về điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm Sản phẩm chăn nuôi được kiểm dịch, kiểm soát giết mổ theo quy định; sản phẩm thịt được giám sát an toàn thực phẩm, kiểm tra chất tăng trọng, tồn dư kháng sinh, ô nhiễm vi sinh,… Chi cục Chăn nuôi và Thú

y đã kiểm dịch 1.614.528 con gia súc và 44.040.276 con gia cầm, kiểm soát giết

mổ 27.991.413 con gia súc, gia cầm

- Trong nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, chế biến thủy sản và các sản phẩm

Trang 39

tác giám sát phát hiện một số mẫu thủy sản còn tồn dư kháng sinh, nhiễm vi sinh

- Thực hiện cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm; cấp giấy tiếp nhận công bố hợp quy

và giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm cho các cơ sở đủ điều kiện:

Sở Y tế: Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (đủ

điều kiện tích lũy) cho: 918 cơ sở tuyến tỉnh; 1.000 cơ sở tuyến huyện; 132 cơ

sở tuyến xã Cấp 1.349 giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm (tích lũy từ năm 2012 đến tháng 10/2016) và 641 giấy tiếp nhận công bố hợp quy (tích lũy từ năm 2013 đến tháng 10/2016) Đối với các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai: tỉ lệ cơ sở đã được cấp giấy là 92,4% (đa số là cơ sở sản xuất quy mô nhỏ) Đối với cơ sở sản xuất nước đá: tỉ lệ cấp giấy là 90,3% Tuy nhiên, hiện nay địa bàn tỉnh còn gặp khó khăn trong việc cấp giấy tiếp nhận công bố hợp quy cho sản phẩm nước đá QCVN 10:2011/BYT Đối với các sản phẩm công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm: tỉ lệ cấp giấy đạt 59%, chủ yếu là các sản phẩm thịt và sản phẩm từ thịt (xúc xích, lạp xưởng, chả lụa, dăm bông), thủy sản và sản phẩm từ thủy sản, bánh, mứt, kẹo, gia vị (các sản phẩm nước chấm) Đối với các sản phẩm công bố hợp quy: tỉ lệ cấp giấy đạt 64,35% Chủ yếu là các sản phẩm: nước uống đóng chai, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với

thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát

Sở Công thương: Cấp 220 giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực

phẩm; 32 giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất nhỏ lẻ Cấp 52 giấy xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm.Cấp 1.940 giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Thực hiện thống kê 601 cơ sở;

kiểm tra xếp loại và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản Theo lũy kế, đã cấp 601

Trang 40

giấy chứng nhận (cấp tỉnh cấp 557 giấy, cấp huyện cấp 44 giấy) Đa số các cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm đã nhận thức và chấp hành đúng các quy định về an toàn thực phẩm; chủ cơ sở áp dụng quy trình sản xuất an toàn, đầu tư, nâng cấp đồng bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất; sử dụng nguyên liệu đầu vào, bao bì có nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo an toàn thực phẩm

- Quản lý, tổ chức ký cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định đối với các cơ sở thuộc diện không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm:

Sở Y tế: Số cơ sở thực hiện ký cam kết tại các tuyến: tỉnh 923; huyện 351;

xã 2.066

Sở Công thương: Tổ chức cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm

nhỏ lẻ ký cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định tại Thông tư số 58/2014/TT-BCT ngày 22/12/2014 và Thông tư số 57/2015/TT-BCT ngày 31/12/2015 của Bộ Công thương

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Đối với các cơ sở sản xuất ban

đầu nhỏ lẻ: Rà soát, thống kê và tổ chức cho 1.197 hộ nông dân ký cam kết sản xuất thực phẩm an toàn theo quy định của Thông tư số 51/2014/TT-BNNPTNT Đối với các cơ sở sơ chế, chế biến sản phẩm nông lâm thủy sản nhỏ lẻ (không đăng ký kinh doanh): Thống kê 47 cơ sở và tuyên truyền, vận động cho người dân ký cam kết sản xuất thực phẩm an toàn

- Quản lý, kiểm soát các nội dung có liên quan:

Đối với thực phẩm chế biến thủ công, làng nghề và thực phẩm chế biến công nghiệp (thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công thương trên địa bàn tỉnh),

Sở Công thương cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, tổ chức

ký cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm cho khoảng 194 cơ sở chế biến thực phẩm thủ công, làng nghề (chủ yếu là các sản phẩm rượu, bún tươi, bánh mì,

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5] Nguyễn Văn Động, Đinh Ngọc Thắng (2014), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB. Chính trị Quốc gia Hà Nội.[6] Hiến pháp năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Động, Đinh Ngọc Thắng
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia Hà Nội. [6] Hiến pháp năm 2013
Năm: 2014
[13] Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật của công dân ở nước ta hiện nay”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, Tập 31, (số 3), 26 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật của công dân ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2015
[1] Ban Chỉ đạo Liên ngành tỉnh Long An về vệ sinh an toàn thực phẩm (2018), Tài liệu Hội nghị tổng kết công tác An toàn thực phẩm năm 2017 và triển khai kế hoạch công tác an toàn thực phẩm năm 2018; triển khai Tháng hành động về an toàn thực phẩm năm 2018 Khác
[2] Chính phủ (2017), Báo cáo số 211/BC-CP ngày 18/5/2017 của Chính phủ về tình hình thực thi chính sách, pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016 Khác
[3] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Cổng Thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ, Cổng Thông tin xúc tiến đầu tƣ Khu Công nghiệp tỉnh Long An,… Khác
[4] Đoàn Giám sát của Quốc hội khóa XIV (2017), Báo cáo số 4/BC-ĐGS ngày 18/5/2017 của Đoàn Giám sát của Quốc hội khóa XIV về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016 Khác
[10] Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm Khác
[11] Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm (thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012) Khác
[12] Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
[14] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 04/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030 Khác
[15] UBND tỉnh Long An (2016), Báo cáo số 261/BC-UBND ngày 19/12/2016 của UBND tỉnh Long An, Báo cáo việc thực hiện chính sách pháp luật về An toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w