Việc ban hành uật TN TCNN có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội; là một yêu cầu tất yếu của xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -
ĐOÀN VĂN TRÂM
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, TỪ THỰC HIỆN TIỄN
TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Nghệ An, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -
ĐOÀN VĂN TRÂM
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, TỪ THỰC HIỆN TIỄN
TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 8.38.01.06
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Minh Đức
Nghệ An, năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Những đóng góp mới của đề tài: 7
7 Kết cấu của luận văn: 8 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 9
1 1 Một số khái niệm cơ bản: 9
1.1.1 Khái niệm về tr n ệm bồ t ường n à nước trong thi hành án dân sự
trong thi hành án dân sự 11
1.2 Nội dung của thực hiện pháp luật bồi thường nhà nước 18
1.2.1 Cấu thành thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồ t ường của N à nước18
1.2.2 Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi
quan tr n ệm bồ t ường trong hoạt động thi hành án dân sự28
1.3 Các yếu tố t c động đến việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi
thường nhà nước trong thi hành án dân sự 30
1.3.1 Trách nhiệm trong hoạt động giải quyết bồ t ường 30 1.3.2 Yếu tố về quản lý n à nước về công tác bồ t ường 31 1.3.3 Yếu tố chủ quan từ phía ngành THADS 31 1.3.4 Yếu tố k quan t động đến việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm
bồ t ường n à nước trong thi hành án dân sự 32
Tiểu kết chương 1 33
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH ĐỒNG NAI 34
2.1 Tình hình thi hành án dân sự và những sai phạm xảy ra trong thi hành
án dân sự ở tỉnh Đồng Nai 34
2.1.1 Tình hình thi hành án dân sự tỉn Đồng Nai 34
2.1.2 Những sai phạm xảy ra trong thi hành án dân sự ở tỉn Đồng Nai 38
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Nai 43
2.2.1 Các nội dung thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Đồng Nai 43
2.2.2 Phạm vi các sai phạm theo quy định của Luật bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Đồng Nai 45
2.3 Đ nh gi chung về thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Nai 58
Tiểu kết chương 2 66 Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 67
3.1 Định hướng đổi mới và hoàn thiện pháp luật thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự 67
3.1.1 Một số những tồn tại, vướng mắc cơ bản trong thực hiện luật
3.1.2 Định hướng đổi mới và hoàn thiện pháp luật: 68
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động thi hành án: 71
3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi
t ường của N à nước trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung 71
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Nai 74
3.2.3 Giải pháp nâng cao thực thi và nâng cao chất lượng cán bộ công chức
Tiểu kết chương 3 79 KẾT LUẬN 80
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là một vấn đề còn rất mới cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn pháp luật thực định trên thế giới Về mặt pháp lý, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự, là sự khôi phục lại những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm phát sinh do hành vi vi phạm gây ra bằng giá trị vật chất hoặc những cách thức và tiêu chí do pháp luật quy định Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
từ hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể Vì vậy, khi Nhà nước thực hiện công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì cũng phải bồi thường thiệt hại bằng cách khôi phục những thiệt hại về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp cán bộ, công chức Nhà nước có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây ra
Ngày 18/6/2009, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam lần đầu tiên ban hành uật TN TCNN, thống nhất các quy định về việc bồi thường thiệt hại cho các tổ chức, công dân do các hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ gây ra Việc ban hành uật TN TCNN có vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội; là một yêu cầu tất yếu của xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; góp phần ngăn chặn tình trạng tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu người dân vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan hành chính nhà nước, trong một bộ phận cán bộ, công chức; đồng thời khắc phục tình trạng yếu k m về trình độ và năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức nước ta, nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức; từ đó, hạn chế những rủi ro đem lại cho người dân từ hoạt động công vụ; đồng thời, còn nhằm động viên tinh thần đối với người bị thiệt hại, thể hiện sự tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Đặc biệt, trong lĩnh vực THA S, những vụ việc thi hành án có dấu hiệu vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ có số lượng tương đối lớn Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân phải thi hành quyết định thi hành án trái luật đó
Trang 6Tại tỉnh Đồng Nai, công tác THADS trong thời gian qua vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm và đã có trường hợp cá nhân hay đơn vị vi phạm pháp luật dẫn đến phải bồi thường Nhà nước Đây là vấn đề rất bức xúc chưa được nghiên cứu có hệ thống và quan tâm đúng mức Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động THA S chưa được hoàn thiện, hệ thống các văn bản pháp lý chưa đầy đủ, chậm được bổ sung, sửa đổi kịp thời Ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận nhân dân nói chung
và một số cơ quan, tổ chức, các nhà quản lý doanh nghiệp và cá nhân còn yếu kém Mặt khác, còn chưa có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo
vệ pháp luật, cũng như các cơ quan hữu quan trong quá trình thi hành án
Với những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện ph p luật về tr ch
nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi hành n d n sự, từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” làm luận văn thạc sĩ luật học nhằm tìm hiểu một cách thống
nhất các quy định của pháp luật điều chỉnh về vấn đề này, cũng như đánh giá một cách toàn diện nội dung và quá trình thực thi pháp luật hiện hành về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt THA S Từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự tại tỉnh Đồng Nai
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Viê c nghiên cứu về TNBTCNN trong hoạt động THADS đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ và với các góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu khoa học và bài viê t tập trung vào một số vấn đề sau:Một là, các bài viết, báo cáo liên quan: Tác giả Lê Thị Kim Dung và Nguyễn
Văn Điệp, “Thực tiễn giải quyết bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án
dân sự”, số chuyên đề Tạp chí dân chủ và pháp luật, Hà Nội, 2014 Là lãnh đạo
đang trực tiếp công tác tại Tổng cục THA S thuộc ộ Tư Pháp, tác giả bài báo đã nêu lên thực trạng của những vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án dân
sự, đồng thời nêu lên thực tiễn trong việc giải quyết bồi thường nhà nước trong
hoạt động THA S, Lê Thị Kim Dung và Nguyễn Thanh Tuấn, “Bồi thường nhà
nước trong thi hành án dân sự Một số vụ việc điển hình”, số chuyên đề Tạp chí
dân chủ và pháp luật, Hà Nội, 2014; ; Lê Mạnh Hùng, “Một số vướng mắc
trong giải quyết bồi thường do cơ quan thi hành án dân sự gây ra theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, số chuyên đề Tạp chí
Trang 7dân chủ và pháp luật, Hà Nội, 2014, nội dung trọng tâm của bài báo đã tập hợp được những mặt hạn chế, tồn tại và những vướng mắc phổ biến trong qui trình giải
quyết bồi thường nhà nước; ; Bài viết "Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng" của TS Phùng Trung Tập - Trưởng bộ môn Luật Dân sự, Khoa
Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong bài viết này có đề cập đến nhiều vấn đề trong đó có nội dung có tính chất tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu đề tài của tác giả như: việc phân tích những hành vi có lỗi trong một số loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (về cơ sở xác định lỗi, hình thức lỗi), hay khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần phải xác định yếu tố lỗi để có căn cứ quy trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật
Hai là, các công trình nghiên cứu như luận văn, luận án, báo cáo, hội thảo về
lĩnh vực TN TCNN, tiêu biểu có thể kể đến: Cục ồi thường nhà nước, “Các
biện pháp bảo đảm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp ộ, Hà Nội, 2013, qua thống kê và đánh giá công tác
TN TCNN trong phạm vi cả nước bước đầu đã đưa ra các biện pháp bảo đảm thi hành uật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước một cách hữu ích ; Hoàng Xuân Hoan, Pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, uận Văn Thạc sĩ luật học, khoa uật Đại học
Quốc gia, Hà Nội, 2013; Hoàng Tuấn Tú- “Trách nhiệm bồi thường của nhà
nước trong hoạt động THADS”- uận văn Thạc sỹ luật học ĐH uật Hà Nội
2015; Trần Việt Hưng, Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, uận văn Thạc sỹ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2014; uận văn này nghiên cứu nhiều vấn đề, trong đó có những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả như: tiếp cận vấn đề trách nhiệm dân sự, khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đặc điểm pháp lý; uận án Tiến sĩ của tác giả ê Mai Anh:
"Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây
ra" Nội dung của uận án đề cập đến nhiều vấn đề có tính tham khảo quan trọng
cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu của tác giả như: đặc điểm, nội dung, bản chất của trách nhiệm nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra khi tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, x t xử
Nhìn chung, các đề tài nêu trên đã chỉ rõ và phân tích những vấn đề chung vê
Trang 8định TNBTCNN, cơ sơ đê xa c đin h TNBTCNN, các hình thức và mức bồi thường, những trường hợp thiệt hại được bồi thường theo quy định của pháp luật…
Có thể nói, những công trình khoa học nêu trên mới chỉ đề cập ở dạng khái quát về chê định TNBTCNN trong hoat đôn g THADS tai như ng thơ i điê m kha c nhau…
Cho tới thời điểm hiện tại, chưa có công trình khoa học nào tìm hiểu một cách có hệ thống, chi tiết và đặc biệt chỉ ra những điểm bất hợp lý trong pháp luật hiện nay và đề ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về TN TCNN trong hoạt động THA S trên tinh thần của Hiến pháp 2013, ộ uật dân sự 2015, uật
TN TCNN năm 2009 và các văn bản pháp luật khác có liên quan
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về TNBTCNN trong hoạt động THADS như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế định TNBTCNN nói chung và TNBTCNN trong hoạt động THADS nói riêng
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiê n hành về TNBTCNN trong hoạt động THADS, từ đó chỉ ra những điểm bất cập trong các quy định của pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS
Trang 9- Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật TNBTCNN trong hoạt động THADS Trên cơ sở những bất cập đã được xác định từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THA S của tỉnh Đồng Nai
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đố tượng nghiên ứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận có liên quan đê n TNBTCNN thuộc phạm vi điều chỉnh của uật TNBTCNN nói chung trong lĩnh vực THADS tỉnh Đồng Nai
4.2 P ạm vi nghiên ứu
Trong phạm vi có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung liên quan đến TNBTCNN chi trong hoat đôn g cu a cơ quan THA S trên phạm vi tỉnh Đồng Nai Thời gian: từ năm 2010 đến 2017
5 Phương ph p nghiên cứu
uận văn sử dụng phương pháp luận khoa học Mác – ênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, trong đề tài tác giả còn vận dụng các phương pháp mang tính đặc thù như sau: phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá thực tế, so sánh, thống kê, luật học và một số phương pháp khác
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác - ênin theo quan điểm phát triển, toàn diện, lịch sử, cụ thể Ngoài ra luận văn còn kết hợp các phương pháp như: lôgíc, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp nghiên cứu luật học… để làm sáng tỏ vấn đề thực hiện bồi thường nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự
6 Những đóng góp mới của đề tài:
Đề tài này nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự, mà chủ yếu là làm rõ vai trò của nhà nước trong việc bồi thường, khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật do cán bộ, công chức ngành thi hành án dân sự gây ra trong quá trình thực thi công vụ Từ đó, chủ yếu phân tích những mặt hạn chế trong cơ chế thực thi quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại gặp phải Đồng thời đề tài cũng nghiên cứu sự tương quan trong mối quan hệ hệ thống pháp luật chung có
Trang 10liên quan, giữa thực tiễn và pháp luật hiện hành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức đối với trách nhiệm bồi thường của nhà nước
Ngoài ra, luận văn có thể dùng tài liệu tham khảo cho các cơ quan Thi hành
án dân sự trong cả nước làm cơ sở áp dụng trong thực tế ở cơ quan mình
7 Kết cấu của luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự
Trang 11Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1 1 Một số kh i niệm cơ bản:
1.1.1 n ệm về tr n ệm ồ t ường n à nướ trong t àn n n sự
Hoạt động THADS là hoạt động có tính chất phức tạp, dễ xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên việc Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án gây ra là rất cần thiết Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Chấp hành viên được quy định lần đầu tại Điều 14 Pháp lệnh THA S năm 1993
và quy định trong Điều 165 uật THA S năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014,theo đó Chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định của Tòa án, trì hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp cư ng chế thi hành án trái pháp luật, vi phạm phẩm chất đạo đức của người chấp hành viên thì bị xử lý kỉ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường Tuy nhiên, theo Pháp lệnh THA S năm 1993 thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Chấp hành viên dựa trên các sai phạm của Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành
án, đây là trách nhiệm cá nhân của chấp hành viên mà không phải là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước Chính vì vậy, đã dẫn tới những khó khăn nhất định trong quá trình bồi thường thiệt hại khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại bởi nhiều trường hợp thiệt hại do cán bộ của nhiều cơ quan gây ra dẫn tới việc khó xác định trách nhiệm cũng như tạo ra sự đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường Mặt khác, nếu quy định trách nhiệm cá nhân như vậy sẽ làm cho Chấp hành viên có tâm lý e ngại, sợ phải bồi thường khi thực hiện nhiệm vụ được giao
o vậy, uật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và năm 2017
đã quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, theo đó, có thể hiểu Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự là việc Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại trong quá trình thi hành án dân sự
1.1.2 Đặc điểm về tr ch nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự
Trang 12Ngoài những đặc điểm chung của Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động THA S còn có những đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này vẫn là cơ quan Nhà nước, tuy nhiên, khác với TN TCNN trong các lĩnh vực khác, chủ thể gây ra thiệt hại trong hoạt động THA S là Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan THA S
Thứ hai, TN TCNN trong hoạt động THA S phát sinh khi có các quyết định, hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến THA S Đó
là các quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên vi phạm các quy định pháp luật THA S Tuy nhiên, không phải mọi hành vi, quyết định trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình THA S thì Nhà nước phải bồi thường, chỉ những hành vi, quyết định trái pháp luật mà có những đăc điểm sau thì Nhà nước phải bồi thường:
Thứ nhất, là các quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức THA S
Thứ hai, các quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Điều 38 uật TN TCNN
Thứ ba, các quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên đã gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến THA S
Thứ tư, các quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên phải được xác định trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định Mục 1, Chương VI, uật THA S năm 2008 hoặc quyết định giải quyết tố cáo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định Mục 2, Chương VI, uật THA S năm 2008
1.1.3 Ý ng ĩa về tr n ệm ồ t ường ủa N à nướ trong oạt động t
àn n n sự
Trang 13Thi hành án dân sự là hoạt động có khả năng gây thiệt hại tương đối phổ biến Trong quá trình tổ chức hoạt động thi hành án, việc áp dụng quyết định cũng như thực hiện hành vi của người có thẩm quyền đều có nguy cơ gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan Việc ban hành uật TN TCNN nói chung
và trong hoạt động THA S nói riêng nhằm giải quyết thực trạng này là cần thiết
và có ý nghĩa quan trọng
Thứ nhất, TN TCNN trong hoạt động THA S bảo đảm cho quá trình
THA S được thực hiện một cách nhanh chóng và đúng đắn, tránh được sự lạm quyền từ những người có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định dân sự và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động THADS
Thứ hai, các thiệt hại của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong THA S được bồi
thường một cách nhanh chóng thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước đối với nhân dân, từ đó sẽ củng cố được lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Thứ ba, chế định TN TCNN trong hoạt động THA S sẽ giúp hạn chế các
hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động THA S, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, uật TN TCNN ra đời đã tạo một cơ chế pháp lý rõ ràng về
TN TCNN trong hoạt động THA S, điều này đã giúp cho cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực THA S có thể tự tin thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả, không còn tâm lý lo sợ phải bồi thường nếu mình làm sai, bên cạnh đó cũng nâng cao hơn ý thức tuân thủ pháp luật của cán bộ, công chức thi hành công vụ trong hoạt động THA S
1.1.4 n ệm t ự ện p p luật về tr n ệm ồ t ường n à nướ trong t àn n n sự
1.1.4.1 Khái niệm về thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp luật xuất hiện, với các đặc điểm sau:
Trang 14Thứ nhất: Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Để quản lý xã hội, nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện chúng trong đời sống thực tế, làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực
Thứ hai: Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể Pháp
luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi của con người nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi của con người Hành vi đó có thể là hành động hay không hành động phù hợp với quy định của pháp luật Nói cách khác, tất cả những hoạt động của tổ chức, cá nhân phù hợp với quy định của pháp luật đều được coi là thực hiện pháp luật
Thứ ba: Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với
nhiều cách thức, trình tự thủ tục khác nhau
Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân, có thể là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội Cách thức thực hiện pháp luật cũng khác nhau: hành động, không hành động Việc thực hiện pháp luật có thể phụ thuộc vào ý chí của mỗi chủ thể, cũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước
1.1.4.2 Thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước
Thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước được hiểu là “Trách nhiệm bồi thường của nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra là hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất, tinh thần mà Nhà nước phải gánh chịu do công chức cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trái pháp luật trong thi hành công vụ, gây thiệt hại vật chất, tinh thần cho tổ chức, cá nhân”
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại và tùy từng trường hợp có thể xác định công chức phải chịu trách nhiệm bồi hoàn trước Nhà nước về phần lỗi của mình trong việc đã gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức Trong quan hệ pháp luật này, chủ thể được xác định một bên là cơ quan hành chính nhà nước(CQHCNN), bên kia là cá nhân, tổ chức Công chức chỉ là một bộ phận cấu thành của CQHCNN, là nhân tố quyết định mọi hoạt động của CQHCNN khi thay mặt các cơ quan công quyền thực thi nhiệm vụ, quyền hạn Trong trường hợp này, hành vi hay các quyết định trái pháp luật của công chức trong thi hành công vụ dẫn đến gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì các sai phạm đó được coi là sai phạm của CQHCNN và CQHCNN phải chịu trách nhiệm
về hành vi của công chức trước cá nhân, tổ chức bị thiệt hại
Trang 15Ở lĩnh vực chuyên ngành thì TN TCNN trong hoạt động THA S là việc Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại trong quá trình THA S
Như vậy, có thể hiểu thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự là một cơ chế nằm trong sự điều chỉnh trong xử lý
vi phạm pháp luật trong THA S nên nó không thể thoát ly trong tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động THA S, bao gồm các quy định về vi phạm pháp luật; trách nhiệm pháp lý; đối tượng chịu trách nhiệm pháp lý; thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý; các hình thức và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật; thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật; trình tự, thủ tục xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về xử lý
vi phạm pháp luật trong THADS
1.1.4.3 Đặc điểm, vai trò của việc thực hiện pháp luật bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự
Từ khái niệm về thực hiện về TNN nêu trên cũng cần làm rõ các đặc điểm cơ bản và vai trò của việc thực hiện pháp luật TNN như sau:
Thứ nhất, mục đích thực hiện pháp luật về TN TCNN trong thi hành án
dân sự gây ra là làm cho các quy định pháp luật về TN TCNN đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được tôn trọng, thực hiện trên thực tế
Điều này phải được thể hiện bằng hành vi của tất cả các cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia quan hệ pháp luật bồi thường Kết quả đạt được là những giá trị cốt lõi về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra được tôn trọng, ghi nhận trong Hiến pháp, các văn bản pháp luật liên quan và các quy định cụ thể trong thực hiện pháp luật về TN TCNN Mục đích này còn thể hiện ở việc nhận thức
về TN TCNN được nâng cao không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ phía cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất hay tinh thần, nghĩa là, mục đích thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra được thể hiện trên tất cả các phương diện của thực hiện pháp luật
Thứ hai, thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra
Trang 16Thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra không phải là hoạt động riêng của Nhà nước mà còn có sự tham gia của công chức trong các cơ quan thi hành án dân sự Vì thế, nó có nhiều tính chất như tính chủ động kịp thời, tính mệnh lệnh hành chính - tổ chức, tính giai cấp, nhưng quan trọng là thể hiện rõ n t ý chí của Nhà nước vì hoạt động này chủ yếu do công chức CQHCNN tiến hành, sử dụng pháp luật làm công cụ cơ bản với phương pháp điều chỉnh đặc trưng là quyền uy mệnh lệnh Theo đó, tất cả những đối tượng có liên quan phải tuân thủ các quyết định của CQHCNN có thẩm quyền, trong đó công chức CQHCNN đóng vai trò quan trọng với tư cách là người thực hiện
Thứ ba, chủ thể thực hiện pháp luật về TN TCNN là Nhà nước (công
chức CQ thi hành án dân sự)
Với lý luận về TN TCNN, chủ thể của TN TCNN nói chung gồm mọi cá nhân, tổ chức tham gia TN TCNN, trong đó chủ thể cần được bảo vệ là cá nhân,
tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tinh thần do hành vi trái pháp luật của công chức
CQ thi hành án dân sự gây ra Như vậy, chủ thể của hoạt động này bao gồm rất nhiều đối tượng, đó là Nhà nước, các cá nhân, tổ chức và các đối tượng khác có liên quan thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra
- Trách nhiệm thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra thuộc về Nhà nước ý luận và thực tiễn về TN TCNN đều thừa nhận, Nhà nước là một bên trong quan hệ bồi thường với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại
do chính hành vi trái pháp luật của công chức CQHCNN gây ra trong thi hành công vụ Với vai trò đó, Nhà nước là chủ thể đặc biệt có trách nhiệm chính trong bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nhưng cũng là chủ thể
có nhiều khả năng, điều kiện vi phạm TN TCNN nhất
-X t ở góc độ thực hiện pháp luật, các chủ thể trên có địa vị pháp lý không bình đẳng với nhau CQ thi hành án dân sự là chủ thể có quyền lực nhà nước, có quyền tổ chức thực hiện pháp luật, áp dụng phương pháp quyền uy, mệnh lệnh bắt buộc cá nhân, tổ chức và những người khác tham gia TN TCNN phải chấp hành
Từ những phân tích trên, có thể nêu ra khái niệm thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra như sau: “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trách nhiệm
Trang 17bồi thường của nhà nước do công chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, tạo cơ sở thực tế cho hoạt động của các chủ thể theo quy định của pháp luật”
Như vậy, nội dung thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra bao gồm nhiều hành vi, phương thức khác nhau, thể hiện trong lĩnh vực cụ thể là TN TCNN Điểm nổi bật ở nội dung này là các hành vi, phương thức thực hiện pháp luật của các chủ thể đều hướng tới việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do chính hành vi trái pháp luật của công chức CQ thi hành án dân sự gây ra trong thi hành công vụ
Pháp luật về thực hiện trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong THADS là một hoạt động trong việc xử lý vi phạm pháp luật trong THA S và nó có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xử lý đối với những hành vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực THA S Tùy vào từng vụ, ,việc cụ thể mà hoạt động X VPP trong THA S được thực hiện đúng đắn, phù hợp với các QPP điều chỉnh trong lĩnh vực đó
Thực chất, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật về vi phạm pháp luật và quá trình xử lý đối với những hành vi VPP xâm hại tổ chức và hoạt động THA S Toàn bộ các nội dung này được quy định theo từng chế định pháp luật về mỗi loại VPP trong THA S o đó, pháp luật về X VPP trong THA S luôn phản ánh những n t đặc thù trong tổ chức và hoạt động THA S, đồng thời, nó cũng được chi phối bởi những đặc thù đó Điều này cho thấy sự phức tạp, đa dạng và phong phú trong nội dung pháp luật về X VPP trong THA S vì các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực THA S vốn đã đa dạng và phức tạp
Pháp luật về X VPP trong THA S có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật dân sự: pháp luật dân sự là tổng thể các QPP điều chỉnh quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản, quan hệ phi tài sản, trong đó có các quy định điều chỉnh các hành vi VPP dân sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xử lý trách nhiệm dân sự
Trang 18Qua nghiên cứu thực hiện pháp luật về TN TCNN trong thi hành án dân
sự gây ra cho thấy các vai trò sau đây:
Một là, thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra
góp phần nâng cao nhận thức, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa, đấu tranh các hành vi trái pháp luật của công chức gây thiệt hại tới quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra là quá trình hoạt động có mục đích làm cho pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra đi vào cuộc sống Để tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện pháp luật về lĩnh vực này, các cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền có trách nhiệm giải thích quyền, nghĩa vụ cho các đối tượng khác trong xã hội, còn các đối tượng thụ hưởng có quyền được biết các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Quá trình thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra được tiến hành công khai như các hoạt động tổ chức thương lượng - hòa giải, áp dụng chế độ, chính sách bồi thường Các hoạt động này tác động mạnh tới việc nâng cao nhận thức về TN TCNN đối với các chủ thể tham gia và
có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng tình cảm, niềm tin của cá nhân, tổ chức đối với Nhà nước, hình thành thói quen xử sự đúng pháp luật cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội
Hai là, thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành công vụ của công chức CQ thi hành án dân sự
ảo vệ, thúc đẩy TN TCNN do công chức gây ra có thể được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau X t ở góc độ vai trò, đây là nội dung quan trọng trong thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra và nó được đánh giá trên tổng thể các khía cạnh của hoạt động này
Mục đích hoạt động thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra là làm cho hoạt động công vụ được thực hiện đầy đủ, hiệu quả trên thực tế Tính chất của hoạt động này thể hiện ý chí của Nhà nước rõ n t, tính khoa học cao và nhân văn sâu sắc o vậy, thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức CQHCNN gây ra là phương thức hiệu quả để TN TCNN được thực hiện trên thực tế, vai trò của nó được thể hiện ở chỗ:
Trang 19Thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra luôn hướng tới tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật, tính thống nhất, bảo đảm
có hiệu quả trong thi hành công vụ của công chức CQHCNN o vậy, hoạt động này có tác dụng bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ TN TCNN được thực hiện trong thực tế
Thực hiện pháp luật là cách hiện thực hóa, bảo đảm giá trị thực tế
TN TCNN bằng một quá trình hoạt động có mục đích, làm cho pháp luật về
TN TCNN do công chức gây ra được thực hiện, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Trong quá trình đó, các chủ thể sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau như kiện toàn cơ cấu tổ chức, hoạt động của các cơ quan tham gia thực hiện TN TCNN, tăng cường phối hợp và đầu tư kinh phí, cơ
sở vật chất, tuyên truyền giáo dục pháp luật, thông qua đó TN TCNN được thực hiện
Thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra còn có vai trò thúc đẩy một nền công vụ hiệu quả, minh bạch Thông qua việc hình thành cơ chế thực thi công vụ như xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật với sự phong phú về các hình thức thực hiện như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật, TN TCNN sẽ được nâng cao trên thực tế
Ba là, thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra góp phần
tăng cường pháp chế XHCN
Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị xã hội, trong
đó mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuyệt đối tuân thủ các quy định của pháp luật Thực hiện đúng pháp luật sẽ làm cho pháp chế được bảo đảm, theo đó, các chủ thể thực hiện đầy đủ những quy định của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung, đặc biệt các quy định cụ thể quy định trong uật TN TCNN, ộ luật dân
sự, uật Tố tụng dân sự, uật Tố tụng hành chính, uật Cán bộ, công chức, uật Khiếu nại Yêu cầu pháp chế XHCN nghiêm cấm mọi sự vi phạm pháp luật từ phía tất cả các chủ thể trong quá trình thực hiện TN TCNN và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi trái pháp luật do công chức gây ra
Thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra còn góp phần phát hiện những sơ hở, thiếu sót của các cơ quan tham gia TN TCNN trong bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Từ đó, các cơ quan này có
Trang 20biện pháp phòng ngừa, đấu tranh phù hợp, góp phần tăng cường pháp chế XHCN Vai trò chính góp phần tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động này chủ yếu thuộc về công chức CQHCNN và người có thẩm quyền trong hoạt động
áp dụng pháp luật Yêu cầu pháp chế XHCN luôn buộc các chủ thể phải sử dụng hiệu quả, phát huy hiệu lực pháp luật để pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra đi vào cuộc sống, vừa bảo đảm lợi ích của Nhà nước, vừa bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại Ngoài ra, thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra một cách đúng đắn không chỉ bảo vệ, mà còn tăng cường pháp chế XHCN
1.2 Nội dung của thực hiện ph p luật bồi thường nhà nước
1.2.1 ấu t àn t ự ện p p luật về tr n ệm ồ t ường ủa N à nướ
Khi đề cập đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hiến pháp năm
2013 đã quy định trách nhiệm của Nhà nước trong bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần đối với các chủ thể Phù hợp với nguyên tắc hiến định, trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam đã trực tiếp hoặc gián tiếp quy định về
TN TCNN Văn bản chuyên ngành quy định vấn đề này là uật TN TCNN, theo đó nội dung thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây
ra như sau:
Về chủ thể: Các bên trong quan hệ TN TCNN do công chức gây ra, gồm bên gây thiệt hại là CQ thi hành án dân sự (đại diện nhân danh Nhà nước) và bên
bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức
Về khách thể: Khách thể trong quan hệ TN TCNN do công chức gây ra là lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Trên thực
tế, hoạt động công quyền gây ra thiệt hại, thì đó là những thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần của các cá nhân, tổ chức, tuy nhiên có một thiệt hại mà không thể
đo, đếm được là lòng tin của người dân vào hiệu quả hoạt động cũng như uy tín của Nhà nước
-Về các điều kiện phát sinh TN TCNN do công chức gây ra là tổng hợp các yếu tố cấu thành TN TCNN, bao gồm: 1) Có thiệt hại xảy ra; 2) Có hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ; 3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra Trong đó:
Trang 21Một là, yếu tố thiệt hại thực tế xảy ra trong quan hệ TN TCNN do công
chức gây ra được xác định trong trường hợp:
+ Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, bao gồm tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị phát mại, bị mất trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản Trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra; nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người khác quản lý thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản được xác định là những thiệt hại được bồi thường Các khoản tiền
đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ; trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp; trường hợp khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ cả khoản lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm giải quyết bồi thường
+ Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, gồm: Cá nhân, tổ chức có thu nhập mà xác định được thì được bồi thường theo thu nhập thực tế bị mất Trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra Cá nhân có thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu nhập có tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương Trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì tiền bồi thường được xác định theo
Trang 22mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan nhà nước tại thời điểm giải quyết bồi thường
+ Thiệt hại do tổn thất về tinh thần được xác định cụ thể là thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo
dư ng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được xác định là hai ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dư ng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là ba ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù Thiệt hại do tổn thất
về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là ba trăm sáu mươi tháng lương tối thiểu Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá ba mươi tháng lương tối thiểu Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị khởi tố, truy tố, x t xử, thi hành án mà không bị tạm giữ, tạm giam được xác định là một ngày lương tối thiểu cho một ngày bị khởi tố, truy tố, x t xử, thi hành án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường
+ Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết, gồm những nội dung: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dư ng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết Chi phí cho việc mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội Tiền cấp dư ng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dư ng Tiền cấp dư ng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khỏe, gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dư ng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị Trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại được bồi thường bao gồm chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoản cấp dư ng cho
Trang 23những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dư ng Khoản cấp dư ng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hai là, yếu tố hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ, được xác định
trong trường hợp: an hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp buộc tháo d nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cư ng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác; áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dư ng, đưa người vào cơ
sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho ph p chuyển mục đích sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư, cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, giấy ph p và các giấy tờ có giá trị như giấy
ph p; Áp dụng thuế, phí, lệ phí, thu thuế, phí, lệ phí, truy thu thuế, thu tiền sử dụng đất; áp dụng thủ tục hải quan; ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ; không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư, giấy
ph p và các giấy tờ có giá trị như giấy ph p, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có
đủ điều kiện
Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy
ra Mối quan hệ nhân quả là điều kiện cần thiết làm phát sinh TNBTCNN trong thi hành án dân sự gây ra, nếu giữa hành vi trái pháp luật của công chức và thiệt hại đã xảy ra không có mối quan hệ nhân quả thì không thể tồn tại TN TCNN Giữa hành vi trái pháp luật của công chức và thiệt hại thực tế xảy ra được coi là
có mối quan hệ nhân quả khi hành vi trái pháp luật do công chức CQ thi hành án dân sự thực hiện xảy ra trong thi hành công vụ mà chính hành vi trái pháp luật đó
là yếu tố làm phát sinh thiệt hại và thiệt hại là hậu quả tất yếu do hành vi trái pháp luật của công chức gây ra
Trang 24Như vậy, nội dung thực hiện pháp luật về TN TCNN do công chức gây ra bao gồm nhiều hành vi, phương thức khác nhau, thể hiện trong lĩnh vực cụ thể là
TN TCNN Điểm nổi bật ở nội dung này là các hành vi, phương thức thực hiện pháp luật của các chủ thể đều hướng tới việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do chính hành vi trái pháp luật của công chức gây ra trong thi hành công vụ
1.2.2 Phạm vi tr ch nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành n d n sự:
Phạm vi TN TCNN trong hoạt động THA S đã được pháp luật quy định tại Điều 38 uật TN TCNN và được cụ thể hóa tại Điều 6 TT T số 24/2011/TTLT-BTP- QP hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động THA S Theo đó , TN TCNN trong hoạt động THA S phát sinh trong những trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp ra quyết định thi hành án trái pháp luật hoặc cố không ra quyết định thi hành án
Quyết định thi hành án là một trong các căn cứ để tổ chức THA S o
đó, để có căn cứ tổ chức THA S thì trước khi tổ chức THA S thủ trưởng cơ quan THA S có thẩm quyền thi hành án phải ra quyết định thi hành án Để đảm bảo quyền và lợi ích cho các đương sự, pháp luật quy định thủ trưởng cơ quan THA S có thẩm quyền thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu của người được thi hành án hoặc người phải thi hành án Chính vì vậy, Thủ trưởng cơ quan THA S có thẩm quyền thi hành án phải có trách nhiệm ra quyết định thi hành án phù hợp với quy định pháp luật và đảm bảo được quyền, lợi ích của đương sự Đối với những quyết định thi hành án trái pháp luật của thủ trưởng
cơ quan THA S gây thiệt hại, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của đương sự thì
sẽ phát sinh TN TCNN Ngoài ra, đối với các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 36, uật THA S như đối với bản án, quyết định về phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung công quỹ và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời việc thi hành án là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước và bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định thì pháp luật quy định thủ trưởng cơ quan THA S có thẩm quyền thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án Trong trường hợp
Trang 25Thủ trưởng cơ quan THA cố ý không ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 36 uật THA S thì phải chịu TN TCNN đối với những thiệt hại mà hành vi đó gây ra theo quy định tại khoản 1, Điều 38 uật TNBTCNN
Thứ hai, trường hợp ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án không đúng hoặc cố không ra quyết định thu hồi, sửa đổi,
bổ sung, hủy quyết định về thi hành án
-Theo đó, nếu Thủ trưởng cơ quan THA S, Chấp hành viên trong phạm
vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án nhưng không dựa trên căn cứ quy định tại Điều 37, uật THA S thì sẽ phát sinh TN TCNN và Nhà nước có trách nhiệm bồi thường Các căn cứ tại khoản 1, Điều 37 uật THA S bao gồm:
- Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền;
- Quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc;
- Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn;
- Trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 54 của uật THA S
Như vậy, trong trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án,
ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án không đúng quy định tại khoản 1, Điều 37, uật THA S, như ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án khi quyết định thi hành án được ban hành đúng thẩm quyền; ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án khi căn cứ quyết định vẫn còn…; nếu những quyết định thu hồi này gây ra thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến THA S thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường
Ngoài ra, khi có các căn cứ thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định THA quy định tại khoản 1, 2, Điều 37 uật THA S mà thủ trưởng cơ quan THA cấp dưới
đã tự khắc phục sau khi có yêu cầu hoặc quyết định THA không có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền nhưng người có thẩm quyền ra quyết định THA, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vẫn ra quyết định hủy quyết định THA của thủ trưởng cơ quan THA cấp dưới, nếu quyết định hủy này phát sinh thiệt hại ảnh hưởng đến quyền và lợi ích cá nhân, tổ chức có liên quan thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường
Trang 26Thứ ba, trường hợp ra quyết định áp dụng các biện pháp bảo đảm THADS không đúng hoặc cố không ra quyết định áp dụng các biện pháp bảo đảm
Theo quy định tại Điều 66, uật THA S thì Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hu hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Các biện pháp bảo đảm có thể được áp dụng như biện pháp phong tỏa tài khoản, tạm giữ giấy tờ, tài sản của người phải thi hành án, tạm dừng việc đăng
ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản Việc Chấp hành viên lựa chọn một biện pháp đảm bảo phù hợp cần phải căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương o vậy, nếu Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không có căn cứ pháp luật gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc người thứ
ba liên quan thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường Chấp hành viên có thể tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, nhưng nếu quyết định đó không
có cơ sở, không đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định đối với việc áp dụng biện pháp đảm bảo và gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp đảm bảo hoặc người thứ ba liên quan thì nhà nước phải bồi thường thiệt hại đó
Thứ tư, trường hợp ra quyết định cưỡng chế thi hành án không đúng hoặc
cố không ra quyết định cưỡng chế thi hành án
Cư ng chế Thi hành án dân sự là biện pháp dùng quyền lực nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ THA S của họ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của các cơ quan khác cũng thuộc thẩm quyền của cơ quan THA S được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải THA có điều kiện để thi hành nhưng họ không tự nguyện thi hành Việc Chấp hành viên áp dụng biện pháp cư ng chế cần phải tuân theo các nguyên tắc mà pháp luật đã quy định o vậy, khi Chấp hành viên ra quyết định cư ng chế mà vi phạm các nguyên tắc luật định như: chưa hết thời hạn tự nguyện do Chấp hành viên ấn định; ra quyết định cư ng chế không tương ứng với nghĩa vụ của người phải THA… thì nhà nước cũng phải bồi thường
ên cạnh đó, khi có căn cứ áp dụng biện pháp cư ng chế như: đã có bản
án, quyết định của Tòa án; quyết định thi hành án; quyết định cư ng chế thi hành
án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài
Trang 27khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án quy định tại điều 70 uật THA S, nếu Chấp hành viên cố ý không ra quyết định cư ng chế khi đã có đủ điều kiện mà gây ra thiệt hại thì cơ quan THADS phải có trách nhiệm bồi thường
Thứ năm, trường hợp ra quyết định thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng hoặc cố không ra quyết định thi hành Quyết định
áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể gây ra thiệt hại về quyền
và lợi ích cho bên bị áp dụng và người khác o đó, khi A PKCTT phải rất thận trọng, phải thực hiện đúng quy định của pháp luật Trong thời hạn 24 giờ, kể
từ thời điểm nhận được quyết định A PKCTT do Tòa án chuyển giao hoặc đương sự giao trực tiếp Thủ trưởng cơ quan THA phải chủ động ra quyết định THA hoặc ủy thác cho cơ quan THA nơi người phải THA cư trú, làm việc, có tài sản hoặc trụ sở Kể từ khi nhận được quyết định ủy thác THA, Thủ trưởng cơ quan THA nhận ủy thác phải ra quyết định THA Trường hợp Tòa án ra quyết định thay đổi bổ sung quyết định A P khẩn cấp tạm thời thì theo quy định tại Điều 131 uật THA S, khi nhận được quyết định này thủ trưởng cơ quan THA S phải ra ngay quyết định THA, đồng thời ra QĐ thu hồi QĐ.THA đối với
QĐ A PKCTT đã bị thay đổi Trường hợp QĐKCTT bị thay đổi đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thủ trưởng cơ quan THA S thông báo cho Tòa án và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Ngoài
ra, trong trường hợp TA hủy quyết định A PKCTT thì ngay sau khi nhận được
QĐ của TA, thủ trưởng cơ quan THA S ra QĐ đình chỉ thi hành QĐA PKCTT Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi có quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chấp hành viên làm thủ tục giải toả kê biên, trả lại tài sản, giải toả việc phong toả tài sản hoặc tài khoản của người có nghĩa vụ (Điều 132 uật THA S) Ngoài ra, trong trường hợp thủ trưởng cơ quan THA S ra QĐ để thi hành QĐ.A PKCTT của TA trái pháp luật hoặc cố ý không ra quyết định để thi hành QĐ A PKCTT của TA trong thời hạn quy định tại Điều 130 uật THA S mà gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động THA S thì sẽ phát sinh TNBTCNN và Nhà nước có trách nhiệm bồi thường
Trang 28Thứ sáu, trường hợp ra Quyết định hoãn thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra Quyết định hoãn thi hành án
Hoãn THA là việc cơ quan THA S quyết định chưa tổ chức thi hành bản
án, quyết định khi có căn cứ pháp luật quy định Trong một số trường hợp, để đảm bảo cho việc THA S được hiệu quả, pháp luật quy định Thủ trưởng cơ quan THA S có quyền chủ động ra quyết định hoãn thi hành án khi việc thi hành án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 48 uật THA S năm 2008 Tuy nhiên, trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan THA S ra QĐ hoãn THA trái pháp luật hay cố ý không chủ động ra Quyết định hoãn THA khi có đủ điều kiện
mà gây ra thiệt hại thì cơ quan THA S phải bồi thường cho những thiệt hại đó
Thứ bảy, trường hợp tạm đình chỉ THA không đúng hoặc cố ý không ra
QĐ tạm đình chỉ THA
Tạm đình chỉ THA S là việc cơ quan THA S quyết định tạm ngừng thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án khi có căn cứ pháp luật quy định Thủ trưởng cơ quan THA S có quyền ra Quyết định tạm đình chỉ THA theo quy định tại Điều 49 uật THA S Tuy nhiên, trong trường hợp khi ra Quyết định không
đủ căn cứ pháp luật hoặc cố ý không ra Quyết định tạm đình chỉ THA trái pháp luật thì cơ quan THA phải bồi thường đối với những thiệt hại gây ra theo quy định của uật TN TCNN
Thứ tám, trường hợp ra Quyết định đình chỉ thi hành án không đúng hoặc
cố không ra Quyết định đình chỉ thi hành án
Pháp luật cho ph p cơ quan THA S quyết định ngừng hẳn việc THA S khi có đủ căn cứ pháp luật quy định tại Điều 50 uật THA S Mặc dù vậy, trong một số trường hợp thủ trưởng cơ quan THA S lại ra QĐ đình chỉ THA trái pháp luật hoặc cố ý không ra Quyết định đình chỉ THA khi việc thi hành án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 50 uật THA S, nếu những
QĐ này gây ra thiệt hại sẽ làm phát sinh TN TCNN thì cơ quan THA S sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đó
Thứ ch n, trường hợp ra quyết định tiếp tục thi hành án không đúng hoặc
cố không ra quyết định tiếp tục thi hành án
Trang 29Theo quy định tại Khoản 4, Điều 48 và Khoản 3, Điều 49, uật THADS thì thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án trong các trường hợp sau:
- Căn cứ hoãn THA không còn;
- Hết thời hạn kháng nghị hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền;
- Nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghi;
- Nhận được quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của TA giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;
- Nhận được Quyết định của Tòa án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản; Trong quá trình thi hành án nếu thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án khi không có một trong các căn cứ nêu trên hoặc cố ý không ra quyết định tiếp tục THA khi có căn cứ trên mà gây thiệt hại cho người có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan thì Nhà nước có TN TTH theo quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 38 uật TN TCNN
Thứ mười, trường hợp thủ trư ng cơ quan thi hành án, chấp hành vi n có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cố không tổ chức thi hành các quyết định của Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật
Khi thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc các QĐ của cơ quan khác thì cơ quan THA S án phải có trách nhiệm thi hành một cách đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các bản án, quyết định dân sự o vậy, trong quá trình tổ chức thi hành các Quyết định của cơ quan THA S như: QĐ THA, quyết định áp dụng các biện pháp đảm bảo THA QĐ cư ng chế THA, QĐ thi hành quyết định
A PKCTT của Tòa án; quyết định hoãn THA, tạm đình chỉ, đình chỉ THA; quyết định tiếp tục thi hành án …mà thủ trưởng cơ quan THA có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường
Trang 30Từ những phân tích trên, ta có thể thấy quy định của pháp luật hiện hành về phạm vi TN TCNN còn h p, bởi hiện nay uật TN TCNN chỉ quy định TN TCNN trong ba hoạt động là quản lý hành chính, thi hành án và tố tụng ên cạnh đó, hoạt động THA S cũng chỉ giới hạn trong một số trường hợp
cụ thể quy định tại Điều 38, uật TN TCNN o đó uật TN TCNN nói chung
và trong THA S nói riêng đã giới hạn quyền khiếu nại, tố cáo và quyền được bồi thường về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
1.2.3 quan tr n ệm ồ t ường trong oạt động t àn n
n sự
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án được quy định tại Điều 40 uật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009 và được hướng dẫn bởi Điều 4, 5 Nghị định 16/2001/NĐ-CP, theo đó:
Về Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự quy định tại khoản 2 Điều 40 uật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định như sau:
a Trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là công chức của Tổng cục Thi hành án dân sự thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Tổng cục Thi hành án dân sự
b Trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là công chức của Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Cục Thi hành án ộ Quốc phòng thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Cục Thi hành án ộ Quốc phòng
c Trường hợp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là công chức của Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện, Phòng Thi hành án cấp quân khu thì cơ quan
có trách nhiệm bồi thường là Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện, Phòng Thi hành án cấp quân khu
Về Xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường:
a Xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án
Trang 31Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 14 và Điều 40 uật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Điều 3, Điều 4 của Nghị định này
Trong trường hợp người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường có thẩm quyền theo quy định tại Chương IV của Nghị định này xác định
cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo thủ tục sau đây:
+ Trường hợp người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản của người bị thiệt hại, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường phải có văn bản xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
+ Trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì thời hạn ban hành văn bản xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể được k o dài nhưng không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản của người bị thiệt hại Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường được tiến hành như sau:
- Theo yêu cầu của người bị thiệt hại, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc gây ra thiệt hại
để xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
- Trong trường hợp không có sự thống nhất về việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường quyết định một cơ quan trong số các cơ quan có liên quan là cơ quan có trách nhiệm bồi thường
+ Văn bản xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải được gửi ngay cho người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường để thực hiện
b Xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng + Việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng được thực hiện theo quy định tại các Điều 29, 30, 31, 32 và 33 uật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trang 32+ Trong trường hợp người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, ộ Công an, ộ Quốc phòng và ộ Tư pháp
1.3 Các yếu tố t c động đến việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự
1.3.1 Trách nhiệm trong hoạt động giải quyết bồ t ường
Số lượng vụ việc giải quyết bồi thường trong thời gian qua còn thấp Theo
số liệu báo cáo thống kê, trong vòng hơn 07 năm chỉ có có hơn 38 vụ việc yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực THA S là chưa phản ánh đúng thực tế tình hình vi
phạm pháp luật trong hoạt động THADS
Còn tình trạng một số yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, đã có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng bị cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường đùn đẩy, né tránh, chậm trễ không thụ lý giải quyết bồi thường theo đúng quy định, dẫn đến còn tình trạng nhiều vụ việc người bị thiệt hại đã kiện yêu cầu bồi thường ra Tòa án không qua thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN
Nhiều vụ việc giải quyết bồi thường không được thực hiện theo đúng quy
định của pháp luật, thực hiện không đảm bảo thời hạn luật định Trên cơ sở kết
quả theo dõi công tác bồi thường nhà nước trong lĩnh vực THA S trên địa bàn cả nước, Cục BTNN nhận định, hầu hết các vụ việc đã được giải quyết và đang được giải quyết đều k o dài hơn so với quy định của Luật TN TCNN, cho đến thời điểm hiện nay chỉ có 01 vụ việc được ghi nhận là được thực hiện theo đúng
thời hạn luật định
Việc thẩm định hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường còn có nhiều tồn tại
và thường bị kéo dài so với thời gian luật định Hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi
thường của các cơ quan giải quyết bồi thường không đầy đủ các văn bản, tài liệu liên quan, quá trình bổ sung tài liệu thường k o dài Quy định hiện hành giao cho nhiều cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ thẩm định hồ sơ, Tổng cục THA S là cơ
Trang 33sang Vụ Kế hoạch - Tài chính tiếp tục thẩm định và nếu có vướng mắc thì Tổng cục THADS hoặc Vụ Kế hoạch - Tài chính lại đề nghị Cục BTNN có ý kiến
Thực tế này làm kéo dài thời gian thẩm định cấp kinh phí bồi thường
1.3.2 Yếu tố về quản lý n à nước về công tác bồ t ường
Công tác tuyên truyền, tập huấn nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước trong THA S chưa được thực hiện chuyên sâu và đến tất cả các chấp hành viên, công chức ngành thi hành án nên nhận thức pháp luật về bồi thường nhà nước
còn chưa có sự đồng đều
Các cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong THA S chưa thực sự chủ động trong thực hiện các nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra hoạt động giải quyết bồi thường, chi trả, xem xét thực hiện trách nhiệm hoàn trả, các hoạt động này chủ yếu chỉ thực hiện khi có đơn thư, công văn xin ý
kiến hoặc có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền
Đối với hoạt động tập huấn, bồi dư ng công tác bồi thường nhà nước, Tổng cục THA S và cơ quan THA S các địa phương chưa có sự chủ động trong việc
tổ chức, tập huấn bồi dư ng nghiệp vụ giải quyết bồi thường đối với đội ngũ công chức ngành mình
1.3.3 Yếu tố chủ quan từ phía ngành THADS
Nhận thức của một số công chức, công chức tại một số cơ quan thi hành án
về ý nghĩa và vai trò của Luật TN TCNN chưa cao, do đó, việc triển khai thực hiện Luật TN TCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành tại một số cơ quan thi hành án và công chức làm công tác bồi thường chưa hiệu quả Công chức thực hiện giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự nói riêng chưa nắm chắc các quy định của pháp luật, chưa có kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện công tác bồi thường nhà nước, đồng thời, chưa được sắp xếp, bố trí đảm bảo sự chuyên nghiệp, chuyên môn hóa nên làm hạn chế kết quả của công tác này
Hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong lĩnh vực THA S chưa được cơ quan có trách nhiệm chủ trì thực hiện thường xuyên quyết liệt, còn mang tính giải quyết theo sự vụ hoặc theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền
Cơ quan THA S chưa có sự chủ động rà soát các vụ việc có khiếu nại, tố cáo mà kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo là chấp nhận một phần hoặc toàn bộ
Trang 34nội dung khiếu nại hoặc khẳng định một phần hoặc toàn bộ nội dung tố cáo là có
cơ sở để chủ động phương án giải quyết bồi thường khi có phát sinh
1.3.4 Yếu tố k quan t động đến việc thực hiện pháp luật về trách nhiệm
bồ t ường n à nước trong thi hành án dân sự
Một bộ phận người dân còn chưa nhận thức đầy đủ quy định của pháp luật, nên dẫn đến thực hiện yêu cầu bồi thường không đúng hoặc có sự thiếu hợp tác trong hoạt động giải quyết bồi thường Bên cạnh đó, người bị thiệt hại còn có tâm
lý e ngại khi yêu cầu Nhà nước bồi thường, do vậy, nhiều người dân mặc dù thực
tế đã bị thiệt hại nhưng họ đã không tiến hành thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường hoặc dễ dàng chấp nhận các hình thức thương lượng khác không theo quy định của Luật TNBTCNN
Giải quyết bồi thường trong THADS có tính chất phức tạp, cần có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau Tuy nhiên, trên thực tế sự phối hợp giữa các cơ quan THA S có trách nhiệm bồi thường với các cơ quan, đơn vị có liên quan chưa được thực hiện có hiệu quả và thiếu tính chủ động, dẫn đến hoạt
động giải quyết bồi thường không được thực hiện hiệu quả hoặc bị kéo dài
Quy định pháp luật còn nhiều bất cập, chưa có quy định cụ thể trách nhiệm đối với những người có thẩm quyền không thực hiện giải quyết bồi thường hoặc giải quyết không đúng quy định của pháp luật nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động giải quyết bồi thường
Nhìn chung, trong thời gian qua, việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đang dần đi vào nề nếp Cơ quan THA S ngày càng thực hiện tốt hơn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có phát sinh yêu cầu Các vụ việc phát sinh trong lĩnh vực THA S cũng được dự báo là sẽ phát sinh nhiều hơn trong thời gian tới khi người dân, tổ chức và doanh nghiệp ngày càng biết nhiều hơn đến Luật TN TCNN Đây sẽ là một thách thức không nhỏ đối với cơ quan THADS các cấp nhưng chúng tôi cho rằng, đây cũng sẽ đồng thời là một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hiệu quả hoạt động của cơ quan THA S trên phạm vi toàn quốc Bên cạnh đó, với một số bất cập tồn tại trong các quy định của pháp luật cũng đặt ra những yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật TN TCNN để qua đó, tạo thuận lợi hơn nữa cho người bị thiệt hại khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường cũng như cho cơ quan THA S thực hiện việc giải quyết bồi thường
Trang 35Tiểu kết chương 1
TNBTCNN là một loại trách nhiệm pháp lý được Nhà nước thừa nhận và chịu trách nhiệm khôi phục những thiệt hại về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật
Hoạt động THADS là một trong những hoạt động mà pháp luật về
TN TCNN điều chỉnh Bản thân tác giả đã đi sâu phân tích khái niệm, đặc điểm cũng như ý nghĩa của TNBTCNN trong hoạt động THADS với mong muốn giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến TNBTCNN trong hoạt động THADS
Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích các quy định của pháp luật hiện hành
về TNBTCNN trong hoạt động THA S như các vấn đề về phạm vi, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cơ quan có trách nhiệm bồi thường, nguyên tắc bồi thường, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, thời hiệu yêu cầu bồi thường và trách nhiệm hoàn trả…Từ những cơ sở này chỉ ra một số bất cập trong các quy định của pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THA S…
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Tình hình thi hành n d n sự và những sai phạm xảy ra trong thi hành
n d n sự ở tỉnh Đồng Nai
Tìn ìn t àn n n sự tỉn Đồng Na
Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai được thành lập theo Quyết định
số 380/QĐ-THA ngày 08/6/1993 của ộ trưởng ộ Tư pháp, trên cơ sở tách ra từ Phòng Thi hành án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, với hệ thống gồm: Phòng Thi hành án cấp Tỉnh và 08 Đội thi hành án cấp huyện trực thuộc
Tại thời điểm bàn giao, tổng số cán bộ công chức ngành thi hành án dân sự trong toàn tỉnh là 45 người, trong đó có 16 chấp hành viên, Phòng Thi hành án dân sự tỉnh có 12 người, với 04 chấp hành viên, phần lớn cán bộ, công chức của
cơ quan Thi hành án là cán bộ, công chức của Toà án chuyển sang và công chức mới tuyển dụng hầu hết đều chưa qua đào tạo, thậm chí nhiều công chức khi vào ngành mới tốt nghiệp Trung học cơ sở, tuổi đời còn rất trẻ, chưa có kinh nghiệm
về chuyên môn, do vậy chất lượng công tác thi hành án dân sự không đáp ứng được yêu cầu và mục đích đã đặt ra, do đó kết quả thi hành án nhiều năm liền đạt hiệu quả chưa cao
Được sự đặc biệt quan tâm của ộ, ngành và nhất là các cấp ủy, chính quyền địa phương, 25 năm qua, ngành Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai đã có bước phát triển lớn mạnh vượt bậc cả về số lượng và chất lượng
Về ấu tổ chức bộ máy: Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai được
thành lập theo Quyết định số 3033/QĐ-BTP ngày 6/11/2009 của Bộ Tư pháp, trên cơ sở nâng cấp cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai Theo Quyết định
bổ sung số 2917/QĐ-BTP ngày 6/11/2012 của Bộ Tư pháp thì cơ cấu tổ chức của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai có 05 Phòng chuyên môn gồm: Văn phòng, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án, Phòng Kiểm tra, giải quyết khiếu nại và tố cáo và Phòng Tài chính Kế toán, với 11 Chi cục Thi hành án dân sự các huyện, thị xã Long Khánh và thành phố Biên Hòa
Trang 37Tính đến 31/3/2018, cơ cấu, tổ chức bộ máy Cục THADS tỉnh Đồng Nai
đã được thực hiện như sau:
ấu lãn đạo:
- ãnh đạo Cục: gồm Cục trưởng, 03 Phó Cục trưởng (đủ số lượng phân bổ);
- ãnh đạo phòng chuyên môn: Hiện có 01/05 Trưởng phòng; 02/05 Phòng giao Quyền Trưởng phòng, 01/05 Phòng giao Phó trưởng phòng phụ trách, thiếu
04 Trưởng phòng (Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Nghiệp vụ, Phòng Kiểm tra và Phòng Tài chính – Kế toán) và 03 Phó Trưởng phòng và còn thiếu 07 Phó trưởng phòng (Văn Phòng, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Tài chính kế toán, Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án và Phòng Kiểm tra, giải quyết khiếu nại và tố cáo)
Nguyên nhân thiếu là do việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo các phòng chuyên môn còn chậm do công chức còn thiếu tiêu chuẩn về trình độ lý luận chính trị, 01 công chức lãnh đạo có vi phạm trong nhiệm kỳ do đó chưa xem x t
bổ nhiệm lại (Trưởng phòng Nghiệp vụ), bên cạnh đó, theo nội dung Công văn chỉ đạo số 4562-CV/TU ngày 27/02/2018 của an Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai
về việc tạm ngưng thành lập mới tổ chức bộ máy và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý và Ban thường vụ Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Đồng Nai đã có văn bản chỉ đạo việc quán triệt thực hiện chỉ đạo của an Thường vụ Tỉnh ủy về công tác cán bộ
- Lãn đạo Chi cục THADS: Hiện có 10/11 Chi cục có Chi cục trưởng;
01/11 Chi cục giao Phó Chi cục trưởng phụ trách Toàn tỉnh có 16 Phó Chi cục trưởng, phân bố tại 11/11 Chi cục, trong đó các đơn vị đã đảm bảo kiện toàn đội ngũ lãnh đạo gồm iên Hòa, ong Thành, Nhơn Trạch, Long Khánh, Trảng Bom (mỗi đơn vị có 01 trưởng và 02 phó) các đơn vị còn lại có 01 trưởng và 01 phó (gồm Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú, Thống Nhất, Cẩm Mỹ và Xuân Lộc) Các
vị trí thiếu là do nhân sự chưa đủ điều kiện để bổ nhiệm Chi cục trưởng, thiếu Chấp hành viên để kiện toàn Phó chi cục trưởng, nguồn để bổ nhiệm Chấp hành viên hạn chế, nên khó khăn cho công tác kiện toàn bộ máy lãnh đạo các Chi cục
ấu ngạch công chức
Trang 38- Ngạch Chấp hành viên: Hiện toàn tỉnh có 94 Chấp hành viên (chiếm
46%), trong đó có 01 Chấp hành viên cao cấp; 10 Chấp hành viên trung cấp; 83 Chấp hành viên sơ cấp
- Ngạch Thẩm tra viên: hiện toàn tỉnh có 11 Thẩm tra viên (01 Thẩm tra
viên chính và 10 Thẩm tra viên), trong đó có 03 Thẩm tra viên (01 Thẩm tra viên chính và 02 Thẩm tra viên) thuộc Cục; 07 Thẩm tra viên thuộc Chi cục (04 Chi cục chưa có Thẩm tra viên)
- Số lượng T ư ký THA: hiện có 30, trong đó có 27 Thư ký thi hành án; 03
Thư ký trung cấp thi hành án
- Công chức khác: 95 công chức (trong đó có 62 công chức và 33 hợp đồng
68), toàn tỉnh có 20 kế toán (trong đó Cục có 04 Kế toán, các Chi cục 16 kế toán);
01 Chuyên viên chính; 20 Chuyên viên; 04 Cán sự; 03 Thủ kho; 02 Thủ quỹ; 12 chức danh còn lại
- Về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và quản lý nhà nước:
+ Về trình độ chuyên môn: 03 Thạc sỹ, 194 Cử nhân, 02 Trung cấp
+ Về Lý luận chính trị: 35 Cử nhân chính trị, 19 Cao cấp; 58 Trung cấp + Về trình độ Quản lý Nhà nước: 01 Chuyên viên cao cấp; 10 Chuyên viên chính; 81 Chuyên viên
Với đội ngũ cán bộ, công chức và việc ra quyết định của Toà án trong các
vụ án thi hành án dân sự, kết quả thi hành án ở Đồng Nai đã đạt nhiều kết quả Trước đây năm 1993, khi nhận bàn giao số lượng án tồn đọng được Tòa án bàn giao sang các cơ quan thi hành án để tiếp tục tổ chức thi hành là 9.506 việc với tổng số tiền phải thi hành gần 12 t đồng và nhiều tài sản khác Sau 25 năm kết quả công tác thi hành án dân sự đã có sự chuyển biến tích cực được thể hiện qua
tỉ lệ thi hành án về việc, về giá trị Kết quả thi hành về việc từ năm 1993 đến
2012 đã thụ lý 184.975 việc, trong đó có 177.680 việc có điều kiện thi hành và đã giải quyết xong được 175.434 việc đạt 98% Kết quả thi hành án về giá trị, tổng
số tiền phải thu của toàn Tỉnh là 4.954 t 564 triệu đồng, trong đó số tiền có điều kiện giải quyết là 3.844 t 049 triệu đồng và toàn Tỉnh đã thu hoặc đã giải quyết
do đình chỉ, ủy thác hoặc trả đơn là 3.404 t 429 triệu đồng
Qua mỗi giai đoạn, số lượng án thụ lý mới liên tục tăng cao, đặc biệt là từ năm 2008 đến nay, do tác động của khủng hoảng kinh tế nên số vụ, việc, tiền thụ
Trang 39lý mới tăng một cách đột biến, bất thường Đồng Nai với đặc điểm là trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng nhiều khu công nghiệp và t lệ di dân tự do cao, nên việc phát sinh tranh chấp về kinh tế, dân sự, hôn nhân gia đình và việc hình sự ngày càng tăng Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai được xem là một trong những đơn vị trọng điểm của ngành, với số việc phải thi hành đứng hàng thứ 3 cả nước; với số tiền phải thi hành đứng hàng thứ 4 cả nước
Mặc dù vây, với sự đoàn kết và quyết tâm của toàn thể cán bộ, công chức trong Ngành Thi hành án dân sự tỉnh, nên đã giải quyết đạt được kết quả đáng phấn khởi, với số liệu đạt được xong rất lớn, cụ thể số liệu của năm 2017 như sau:
* Kết quả thi hành về việc
- Tổng số việc đã thụ lý: 30.816 việc,(trong đó: số cũ chuyển sang 11.896 việc; số mới thụ lý: 18.965 việc)
- Số việc đã ủy thác: 566 việc
- Số việc phải thi hành: 30.295 việc (tăng 2,9 % so với cùng kỳ), trong đó: + Số việc có điều kiện thi hành: 23.851 việc (chiếm 78,73 % so với việc phải thi hành)
+ Số việc chưa có điều kiện thi hành: 6.444 (chiếm 21,27% so với việc phải thi hành)
+ Đã giải quyết xong 18.092 việc (chiếm 75,85% so với số có điều kiện thi hành; tăng 2,32% so với cùng kỳ); trong đó: đã thi hành xong hoàn toàn 17.510 việc (chiếm 73,41% so với số có điều kiện thi hành; tăng 2,47% so với cùng kỳ) + Số việc chuyển kỳ sau là 12.203 việc (tăng 2,18% so với cùng kỳ)
* Kết quả thi hành về tiền
- Tổng số tiền đã thụ lý: 4.034.008.497.000 đồng, (trong đó: số cũ chuyển sang 2.591.386.900.000 đồng; số mới thụ lý: 1.442.621.597.000 đồng)
- Số tiền đã ủy thác: 271.487.104.000 đồng
- Số tiền phải thi hành: 3.762.521.393.000 đồng (tăng 9,44% so với cùng kỳ), trong đó:
Trang 40+ Số tiền có điều kiện thi hành: 2.285.448.909.000 đồng (chiếm 60,74% so với tiền phải thi hành)
+ Số tiền chưa có điều kiện thi hành: 1.477.072.484.000 đồng (chiếm 39,26% so với tiền phải thi hành)
+ Đã giải quyết xong 848.075.424.000 đồng (chiếm 37,11% so với số tiền
có điều kiện thi hành; tăng 4,19% so với cùng kỳ); trong đó: đã thi hành xong hoàn toàn 585.026.232.000 đồng (chiếm 25,6% so với số có điều kiện thi hành; tăng 2,06% so với cùng kỳ)
+ Số tiền chuyển kỳ sau là 2.914.445.969.000 đồng (tăng 10,22% so với cùng kỳ)
Như vậy, toàn ngành THA S tỉnh Đồng Nai đạt 4 chỉ tiêu được giao (về việc đạt 75.85% (vượt 5.85% so với chỉ tiêu 70% ngành giao); về tiền đạt 37.11% (vượt 7.11% so với chỉ tiêu 30% ngành giao); về án chuyển sang năm sau đạt 9% (vượt 1% so với chỉ tiêu 8% ngành giao); về tiền chuyển sang năm sau đạt 11% (vượt 5% so với chỉ tiêu 6% ngành giao)
- Trong tổng số vụ việc giải quyết trong năm, Ngành Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai giải quyết các vụ việc liên quan án tín dụng ngân hàng tổng số là
769 việc, tương ứng với số tiền là 2.043.612.365.000 đồng (chiếm 2,49% về việc
và 50,66% về tiền so với tổng số việc và tiền phải giải quyết) Kết quả: trong số việc loại này, đã giải quyết được 192 việc thu được số tiền là 471.276.513.000 đồng, đạt t lệ 24,97% về việc và 23,06 % về tiền Giải quyết các vụ việc liên quan thu ngân sách cho Nhà nước là 21.544 việc (chiếm 69,81% về việc với tổng
số việc phải giải quyết) Kết quả: trong số việc loại này, đã giải quyết được 13.765 việc, đạt t lệ 84% về việc
- Trong 01 năm, từ ngày 01/10/2016 đến hết ngày 30/9/2017, các cơ quan Thi hành án dân sự đã ra quyết định áp dụng biện pháp cư ng chế thi hành án đối với 537 trường hợp, do có 85 trường hợp đương sự tự nguyện thi hành án, nên thực tế số vụ việc phải tổ chức cư ng chế là 452 trường hợp , trong đó có 280 cuộc cư ng chế có huy động lực lượng liên ngành và có 172 trường hợp không huy động lực lượng liên ngành
N ững sa p ạm xảy ra trong t àn n n sự ở tỉn Đồng Na