1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về chứng thực của ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn huyện bến lức, tỉnh long an

83 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 668,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch, chịu trác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

CAO HUỲNH HỮU NHÂN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

CAO HUỲNH HỮU NHÂN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 8.38.01.06

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HOÀI ÂN

Nghệ An, Năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để làm hoàn thành luận văn này, trước tiên em xin chân thành cảm ơn:Trường Đại học Vinh, khoa Luật và Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập

Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến TS Lê Thị Hoài

Ận- người đã tận tình hướng dẫn thực hiện luận văn tốt nghiệp này, đến Thầy

giáo Tiến sỹ Đinh Ngọc Thắng - Trưởng khoa Luật, cùng các quý Thầy, Cô

trong khoa Luật, trường Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong thời gian tôi học tập ở đây, đến gia đình và bạn bè – những người đã giúp đỡ hết sức mình cho luận văn này được hoàn thành

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được tự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy

cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn!

Cao Huỳnh Hữu Nhân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi thực hiện Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được ai công bố trong bất cứ công trình của tác giả nào

Người cam đoan

Cao Huỳnh Hữu Nhân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU……… ……… …1 NỘI DUNG……… ……… 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ……… ……….6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về chứng thực…….6 1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về chứng thực của ủy ban nhân dân cấp xã 12 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã trên địa bàn Huyện Bến Lức……… ……26

Tiểu kết chương 1……….…….28

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CHỨNG THỰC

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN LỨC,

2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của Huyện Bến Lức, tỉnh Long An… 29 2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An ……… 30 2.3 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An……… 42

Tiểu kết chương 2……… ….57

Trang 6

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN 59

3.1 Định hướng đảm bảo thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã……… …59

3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An……… 61

Tiểu kết chương 3……….69

KẾT LUẬN……… ……… 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….71

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ

Hình 1 Tổ chức bộ máy nhân sự chứng thực tại UBND xã, thị trấn 38

Hình 2 Thống kê về trình độ chuyên ngành đào tạo của cán bộ TP - HT 40

Hình 3 Khái quát về mô hình hoạt động chứng thực……… … 41

Bảng thống kê số lượng tiếp nhận và giải quyết chứng thực……….….45

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động hành chính nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự của xã hội, duy trì sự phát triển xã hội theo định hướng của nhà

nước Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến cải cách nền hành chính nhà

nước Cải cách hành chính nhà nước đã trở thành một trong những đòi hỏi khách quan của sự phát triển và đổi mới Khẳng định tầm quan trọng của cải cách hành chính nhà nước với tư cách là một bộ phận không tách rời và quyết định thành công của đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: cải cách hành chính là nội dung trọng tâm của công cuộc đổi mới và cải cách nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Cụ thể đến thời điểm hiện nay, dân số huyện Bến Lức, tỉnh Long An có 37.200 hộ với trên 153 nghìn nhân khẩu sinh sống tại 15 xã, thị trấn Với nhiều ngành nghề phát triển và là một trong những trung tâm kinh tế của tỉnh

Do đó, nhu cầu chứng thực các văn bằng, chứng chỉ và các hợp đồng giao dịch rất lớn Trong quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” thì hoạt động chứng thực của UBND cấp xã trên địa bàn huyện Bến Lức nói riêng và cả nước nói chung đang phát triển theo hướng xã hội hóa

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được công tác này cũng đang đặt ra những yêu cầu thách thức cần đổi mới Thực tiễn đòi hỏi cần phải nâng cao việc thực hiện pháp luật về chứng thực Do đó, tác giả luận văn đã lựa chọn đề tài

“Thực hiện pháp luật về chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn

huyện Bến Lức, tỉnh Long An” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến quá trình nghiên cứu của luận văn có một số công trình khoa học được công bố, trong đó có thể kể đến một số công trình sau:

Trang 10

- Vũ Thị Thảo,“Đặc san tuyên truyền PL số 02/2015 chủ đề pháp luật về

chứng thực” [12] Đặc san đã cho khái niệm về chứng thực, phân biệt giữa công

chứng và chứng thực Đặc san phân tích hoạt động chứng thực và nội dung quản

lý nhà nước về chứng thực theo tinh thần Nghị Định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực hợp đồng, giao dịch

- Phan Thanh Hương, “Quản lý nhà nước về chứng thực trên địa bàn thị

xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công [13]

Luận văn đã phân tích hoạt động chứng thực và nội dung quản lý nhà nước về chứng thực theo tinh thần NĐ 79/2007/NĐ-CP

- Nguyễn Văn Linh, “Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành

chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ Luật

học [14] Luận án đã phân tích việc thực hiện việc giải quyết thủ tục hành chính

và hoàn thiện công tác chỉ đạo, điều hành của các CQHC cấp tỉnh trong việc thực hiện pháp luật về giải quyết TTHC

- Ngô Sỹ Chung, “Quản lý nhà nước về chứng thực hiện nay - Qua

nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội”, luận văn Thạc sỹ Quản

lý hành chính công[10] Luận văn đã phân tích hoạt động chứng thực và nội dung quản lý nhà nước về chứng thực theo tinh thần Nghị Định 79/2007/NĐ-

CP nêu lên thực trạng và thách thức trong quản lý nhà nước đối với hoạt động của chính quyền và nghành tư pháp thành phố Hà Nội Về phạm vi, luận văn

khảo sát thực tiễn ở cấp huyện và cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Đặng Văn Trường (2010), "Quản lý nhà nước về công chứng, chứng

thực ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra", Quản lý nhà nước, Học viện

Hành chính Quốc gia [9]

- Phạm Văn Tiên, “Thực hiện chứng thực tại UBND xã Thanh Xuân –

Tỉnh Thanh Hóa thực trạng và giải pháp”, Báo cáo đã phân tích hoạt động

chứng thực để thấy những tác động tích cực, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan[15]

Trang 11

Những tài liệu trên đã tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau làm rõ vấn đề chứng thực và quản lý nhà nước về chứng thực cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên đề tài này còn mới mẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện, thiếu sự định hình về lý luận Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả

có nghiên cứu một cách có hệ thống tài liệu có liên quan, cũng như hoạt động thực tiễn chứng thực, nghiên cứu chương trình, báo cáo, sơ kết của Bộ Tư pháp (BTP), Sở Tư pháp (STP), các bài báo liên quan đến công tác chứng thực…Do

đề tài mới chắn chắn cũng không tránh khỏi sơ suất thiếu sót

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng

PL và thực tiễn áp dụng PL về chứng thực ở UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Bến Lức,tỉnh Long An nhằm góp phần làm rõ và làm phong phú thêm về một số vấn đề pháp lý có liên quan tới công tác chứng thực Từ đó, đưa ra những kiến nghị cụ thể để sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập, thiếu sót trong pháp luật hiện hành, đồng thời hoàn thiện hơn cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động chứng thực phù hợp với thức tế đời sống xã hội Nhằm nâng cao hiệu quả của các xã, thị trấn trong việc thực hiện công tác chứng thực

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm sáng tỏ những vấn đề về thực hiện pháp luật về chứng thực

- Đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động chứng thực của UBND cấp

xã trên địa bàn huyện Bến Lức

- Xây dựng các giải pháp hoàn thiện PL hiện hành về hoạt động chứng thực tại UBND cấp xã trên địa bàn huyện Bến Lức Các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới pháp luật về chứng thực trong tình hình hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động chứng thực của UBND cấp xã

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu vấn đề thực hiện Pháp luật về hoạt động chứng thực

ở các xã trên địa bàn huyện Bến Lức với thời gian nghiên cứu là trong giai đoạn

2015 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện khái quát dưới nhiều góc độ, tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác như thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử

6 Ý nghĩa lý luận và thực tế của luận văn

Trong thực tế, Đề tài Luận văn của tác giả còn quá mới nên công trình nghiên cứu cũng chưa thật sự toàn diện Bản thân người viết chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về chứng thực của UBND cấp xã từ thực tiễn huyện Bến Lức, tỉnh Long An” làm luận văn tốt nghiệp ngoài mong muốn công trình nghiên cứu phục vụ tốt cho chuyên môn nghề nghiệp của mình và có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho những ai tìm hiểu và nghiên cứu dưới dạng các vấn đề lý luận

về PL chứng thực

7 Kết cấu của Luận văn

Kết cấu luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy

ban nhân dân cấp xã

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về chứng thực 1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về chứng thực của ủy ban nhân dân cấp

Trang 13

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật chứng thực của UBND cấp xã trên địa bàn huyện Bến Lức

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về chứng thực của Ủy ban nhân

dân cấp xã trên địa bàn Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An

2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của Huyện Bến Lức, tỉnh Long

An

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp

xã, Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An

2.3 Đánh giá thực tiễn việc thực hiện pháp luật về chứng thực của Ủy ban

nhân dân cấp xã trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An

Chương 3 Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật chứng

thực của Ủy ban nhân dân cấp xã

3.1 Định hướng đảm bảo thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy ban nhân

dân cấp xã

3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy ban nhân

dân cấp xã trên địa bàn Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An

- KẾT LUẬN

- DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò thực hiện pháp luật về chứng thực

1.1.1 Khái niệm chứng thực

Chứng thực đã xuất hiện từ rất lâu đời, cách đây hàng nghìn năm ở Hy Lạp, Ai Cập, đặc biệt là La Mã đã có người dịch văn tự Sau đó chứng thực bắt đầu phát triển mạnh vào thế kỷ thứ XIV, XV Trong thời gian này, việc chứng nhận bản sao giấy tờ, nhưng chứng nhận chủ yếu là hợp đồng, giao dịch

Ở Việt Nam, hoạt động công chứng, chứng thực chính thống như cách hiểu hiện nay là chưa xuất hiện Tuy nhiên, không thể phủ nhận các hoạt động

có tính chất xác nhận, xác thực… của chính quyền vẫn tồn tại ở nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây như một nhu cầu tất yếu của quản lý xã hội Với hoạt động công chứng, chứng thực Nhà nước ta đã ban hành nhiều Sắc lệnh quy định

về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ, quy định thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất và nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn quy định trình tự, thủ tục công chứng, chứng thực

Theo quy định của pháp luật Công chứng và chứng thực là hai việc khác nhau Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề công chứng nhằm bảo đảm an toàn pháp

lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch Chứng thực là việc là việc Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên

Trang 15

tham gia hợp đồng, giao dịch; người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch[34] Thế nhưng,

có rất nhiều người thường lẫn lộn “công chứng và chứng thực” là một, nhưng nó lại khác nhau về nhiều mặt: về tên gọi, về chủ thể, về nội dung, về phạm vi thực hiện… Hai khái niệm này, thường được gọi chung, bởi lẽ chúng được xếp vào nhóm chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của văn bản, hợp đồng Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu hai khái niệm này khác nhau về bản chất và giá trị pháp lý

Vì vậy, nhận thấy việc phân biệt thế nào là công chứng và chứng thực là một vấn đề vô cùng cần thiết

Hiện nay, có một số văn bản quy định về bản chất của hoạt động chứng thực nhưng chưa được cụ thể, rõ ràng Do đó, dưới góc độ nghiên cứu từ thực tiễn và rút kết lại đưa ra khái niệm: “Chứng thực” là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính, hoặc chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực, cũng có thể là chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch

1.1.2 Đặc điểm chứng thực

- Về chủ thể: Chứng thực là việc các cơ quan hành chính Nhà nước xác

nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản chứng thực so với bản chính Những giấy tờ, văn bản được chứng thực được lưu thông và sử dụng thuận tiện hơn trong mọi vấn đề, hay giao dịch, hợp đồng Còn đối với hoạt động Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc ngược lại mà theo quy định pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng

Trang 16

- Về thẩm quyền: hoạt động “Chứng thực” chủ yếu do cơ quan nhà nước

thực hiện là Phòng Tư pháp và UBND xã, phường, thị trấn; Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; Công chứng viên; tùy từng loại giấy tờ mà thực hiện chứng thực ở các cơ quan khác nhau Hoạt động “Công chứng” do cơ quan Bổ trợ Tư pháp thực hiện

- Về bản chất: hoạt động Chứng thực chỉ chứng nhận sự việc, không đề

cập đến nội dung, chủ yếu chú trọng về mặt hình thức Còn hoạt động Công chứng thì bảo đảm nội dung của một hợp đồng, một giao dịch, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó và qua việc bảo đảm tính hợp pháp để giảm thiểu rủi ro Do đó, việc công chứng mang tính pháp

lý cao

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về chứng thực

1.1.3.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về chứng thực

Thực hiện pháp luật chứng thực của UBND cấp xã là quá trình hoạt động

có ý thức, có mục đích của các chủ thể trong quan hệ pháp luật chứng thực, bảo đảm cho các quy định của pháp luật chứng thực được thực hiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ chứng thực Có 4 hình thức thực hiện pháp luật là: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Khi nói đến thực hiện pháp luật về chứng thực tức là các chủ thể tham gia vào quan hệ hành chính này buộc phải tuân thủ đầy đủ các hình thức thực hiện pháp luật

Pháp luật về chứng thực chỉ có thể phát huy tốt nhất chức năng bảo đảm khi pháp luật có những quy định phù hợp nhưng điều quan trọng hơn là bảo đảm cho pháp luật về chứng thực được các chủ thể pháp luật tự giác thực hiện Quá trình thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật về chứng thực nói riêng suy cho

Trang 17

cùng là làm cho những yêu cầu, quy định của PL trở thành hiện thực trong đời sống thực tiễn khi điều chỉnh hành vi của các chủ thể

1.1.3.2 Các đặc điểm của thực hiện pháp luật chứng thực:

Nhà nước phải tiến hành xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện chúng trong đời sống thực tế, làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực vì việc thực hiện pháp cũng là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước

Để thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh và hiệu quả cần có hai điều kiện sau:

- Ban hành pháp luật đúng với yêu cầu của xã hội;

- Thực hiện pháp luật chính xác, đầy đủ làm cho các yêu cầu, quy định của chúng trở thành hiện thực

1.1.3.3 Vai trò của thực hiện pháp luật chứng thực của UBND cấp xã + Pháp luật về chứng thực tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động chứng thực và quản lý chứng thực: Căn cứ vào các quy định của PL về chứng thực, cơ quan, tổ

chức, cá nhân hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình khi có yêu cầu chứng thực; các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực có cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng của mình; Về mặt quản lý nhà nước, đó là các hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan hành pháp khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được nhà nước giao trong việc quản lý chứng thực Thông qua hoạt động quản lý nhà nước, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được các nhu cầu về việc sử dụng bản sao có chứng thực, giấy tờ, văn bản có chứng thực chữ ký, qua đó, đưa

ra những chính sách phù hợp để điều chỉnh hoạt động này đúng với yêu cầu của

quản lý, tránh việc sử dụng tràn lan gây lãng phí cho xã hội

+ Pháp luật về chứng thực tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân của công dân: Do Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay

cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp PL có quy định khác Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng

Trang 18

cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch

Có thể nói, hoạt động chứng thực không chỉ mang tính chất dịch vụ công, phục vụ lợi ích thiết thực của nhân dân, mà còn là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép công dân, tổ chức thực hiện một cách hợp pháp các giao dịch của mình; điều kiện cần để các giao dịch dân sự được bảo đảm thực hiện trên thực tế và là cơ sở pháp lý để tòa án giải quyết cho các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi có tranh chấp xảy ra; công cụ hỗ trợ cho chức năng quản lý nhà nước trong thực tiễn quản lý, giản tiện những thủ tục có liên quan đến các loại giấy tờ cần thiết

+ Pháp luật chứng thực là PL về hình thức (PL về thủ tục) và có mối liên

hệ chặt chẽ với PL về nội dung thuộc các chuyên ngành khác: Pháp luật về

chứng thực là pháp luật về thủ tục, do đó phụ thuộc sâu sắc vào pháp luật nội dung thuộccác chuyên ngành khác như pháp luật về đất đai, nhà ở Pháp luật về chứng thực là pháp luật về thủ tục, vì vậy pháp luật chứng thực phải bám sát các quy định mang tính “nội dung” của PL thuộc các chuyên ngành khác Nếu PL chứng thực không bám sát nội dung của PL chuyên ngành, sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và kết quả của hoạt động chứng thực là văn bản chứng thực có thể bị vô hiệu VD: PL về Đất đai (PL nội dung) quy định người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà trên đó có ghi còn đang nợ tiền sử dụng đất thì không được thực hiện giao dịch, vì vậy nếu người thực hiện chứng thực vẫn chứng thực hợp đồng, giao dịch đối với trường hợp này thì hợp đồng, giao dịch

đó sẽ bị coi là vô hiệu

+ Pháp luật về chứng thực làm hạn chế tranh chấp, góp phần bảo đảm ổn định trật tự KT - XH, tạo thuận lợi cho người dân: Thông qua hoạt động chứng

thực, đặc biệt chứng thực hợp đồng, giao dịch, người thực hiện chứng thực đã xem xét, kiểm tra một số giấy tờ cũng như một số điều kiện pháp lý của hợp

Trang 19

đồng, giao dịch đảm bảo hợp đồng, giao dịch đó có hiệu lực PL, vì vậy hạn chế tranh chấp, kiện tụng, góp phần đảm bảo ổn định trật tự KT - XH Theo quy định, văn bản chứng thực nếu được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thì có giá trị chứng cứ không phải chứng minh Tuy UBND là cơ quan hành chính Nhà nước, với nguyên tắc hoạt động là thứ bậc, mệnh lệnh, cho phép,… cơ quan hành chính cấp trên có thể xem xét, hủy bỏ các văn bản của cơ quan hành chính cấp dưới, nhưng đặc điểm này không thể áp dụng trong hoạt động chứng thực Bởi vì, ở đây quyền tự định đoạt là của chủ sở hữu và các bên liên quan Quyền

đó không bị chi phối bởi việc cho hay không của cơ quan hành chính; cơ quan hành chính cấp trên cũng không thể tự ra một văn bản yêu cầu hủy bỏ một văn bản mà các bên đã xác lập đúng trình tự, thủ tục do PL quy định

+ Pháp luật chứng thực là “cầu nối”, là điểm giao thoa trong hệ thống

PL Việt Nam: Hệ thống PL Việt Nam rất phong phú, đa dạng, có thể nói lĩnh

vực nào của cuộc sống cũng được điều chỉnh bằng luật pháp: từ đất đai, nhà ở, hợp đồng, giao dịch,… Do đó, có thể nói, PL chứng thực có mối liên hệ chặt chẽ với tất cả các văn bản trong hệ thống pháp luật, đặc biệt PL về về dân sự, đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình Điều này thể hiện ở việc, nếu chỉ căn cứ vào riêng bản thân quy định của PL về chứng thực thì hầu hết trong nhiều trường hợp không thể giải quyết được một việc chứng thực Bởi vì, việc chứng thực luôn được đặt nằm trong một “quy trình của thủ tục hành chính” để thực hiện quyền của người dân Hiểu một cách khác là việc chứng thực nhằm để thực hiện một việc tiếp theo cụ thể nào đó: VD chứng thực lý lịch hoặc bằng tốt nghiệp để xin việc…Vì vậy, có thể nói trong đời sống dân sự có bao nhiêu lĩnh vực con người phải tiếp cận tới thì gần như có bấy nhiêu lĩnh vực hoạt động chứng thực

phải tiếp cận tới

Như vậy, xét về mục đích chung, thì thông qua hoạt động chứng thực, Nhà nước cung cấp dịch vụ công nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, tạo lập giá trị pháp lý cho các giấy tờ, văn bản được chứng thực phục

Trang 20

vụ nhu cầu sử dụng, tạo sự tin tưởng vững chắc cho các tổ chức, cá nhân khi sử dụng và thực hiện thủ tục hành chính nói chung Qua đó, giúp cho người thực hiện giao dịch của mình được thuận lợi hơn Thực tế cũng cho thấy, việc sử dụng bản sao có chứng thực một cách hợp lý đã góp phần giảm chi phí đi lại, giảm rủi ro thất lạc bản chính giấy tờ, văn bản của người dân

1.2 Nội dung thực hiện pháp luật về chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã

1.2.1 Cấp bản sao từ sổ gốc

- Cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc

Những cá nhân, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc:

Cá nhân, tổ chức được cấp bản chính, Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo uỷ quyền của cá nhân, tổ chức được cấp bản chính hoặc cha, mẹ, con; vợ, chồng; anh, chị, em ruột; người thừa kế khác của người được cấp bản chính trong trường hợp người đó đã chết

- Thủ tục cấp bản sao từ sổ gốc

- Người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc phải xuất trình bản chính hoặc bản sao có chứng thực Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị sử dụng

để người tiếp nhận hồ sơ kiểm tra

Trong trường hợp người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc là cha, mẹ, con;

vợ, chồng; anh, chị, em ruột;người thừa kế khác của người được cấp bản chính thì còn phải xuất trình giấy tờ chứng minh quan hệ với người được cấp bản chính, trừ trường hợp cơ quan, tổ chức cấp bản sao từ sổ gốc đã biết rõ về họ

- Cơ quan, tổ chức căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao cho người yêu cầu; nội dung bản sao phải ghi theo đúng nội dung đã ghi trong sổ gốc Trường hợp không còn lưu trữ được sổ gốc hoặc trong sổ gốc không có thông tin về nội dung yêu cầu cấp bản sao thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu

Trang 21

- Trường hợp người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc gửi yêu cầu qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này, 01 phong bì dán tem ghi rõ họ tên, địa chỉ người nhận cho

cơ quan, tổ chức cấp bản sao

Thời hạn cấp bản sao từ sổ gốc phải được bảo đảm ngay trong ngày cơ quan, tổ chức tiếp nhận yêu cầu hoặc trong ngày làm việc tiếp theo, nếu tiếp nhận yêu cầu sau 15 giờ Trong trường hợp yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc được gửi qua hệ thống bưu chính thì thời hạn được thực hiện ngay sau khi cơ quan, tổ chức nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo dấu bưu điện đến

dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

- Trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực bản sao và người thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính

Để bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch của các quy định; nâng cao trách nhiệm của cá nhân người yêu cầu chứng thực, Nghị định này đã bổ sung quy định mới về trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực bản sao và người thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính (Điều 19) Theo quy định này, người yêu cầu chứng thực bản sao phải chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp lệ, hợp pháp của bản chính giấy tờ, văn bản dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao; không được yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao Người thực hiện chứng thực chỉ chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao là đúng với bản chính

1.2.3 Thủ tục chứng thực bản sao từ bản chính

Trang 22

So với Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, Nghị định này quy định cụ thể hơn các bước mà người yêu cầu chứng thực và người thực hiện chứng thực phải làm,

cụ thể như sau:

Trước hết, người yêu cầu chứng thực phải xuất trình bản chính giấy tờ, văn bản làm cơ sở để chứng thực bản sao và bản sao cần chứng thực Trong trường hợp bản chính giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc xác nhận thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật trước khi yêu cầu chứng thực bản sao; trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại Trường hợp người yêu cầu chứng thực chỉ xuất trình bản chính thì cơ quan, tổ chức tiến hành sao chụp từ bản chính để thực hiện chứng thực, trừ trường hợp cơ quan, tổ chức không có phương tiện để sao chụp

Người thực hiện chứng thực kiểm tra bản chính, đối chiếu với bản sao, nếu nội dung bản sao đúng với bản chính thì thực hiện chứng thực như sau:

- Ghi đầy đủ lời chứng chứng thực bản sao từ bản chính theo mẫu quy định;

- Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu của cơ quan, tổ chức thực hiện chứng thực

- Gia hạn thời gian chứng thực bản sao từ bản chính

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP thì: “Việc tiếp

nhận yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính trong thời gian làm việc buổi sáng hoặc buổi chiều thì phải được thực hiện chứng thực ngay trong buổi làm

Trang 23

việc đó; trường hợp yêu cầu chứng thực với số lượng lớn thì việc chứng thực có thể được hẹn lại để chứng thực sau nhưng không quá 2 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận” [24]

Tuy nhiên, trên thực tế để giải quyết yêu cầu chứng thực ngay trong buổi làm việc là rất khó (rất ít địa phương thực hiện được theo quy định này) Bên cạnh đó, do Nghị định số 79/2007/NĐ-CP không có quy định như thế nào

là “số lượng lớn” nên đã gây khó khăn cho người thực hiện chứng thực

Vì vậy, Điều 7 Nghị định đã quy định thời hạn thực hiện yêu cầu chứng thực phải được bảo đảm ngay trong ngày cơ quan, tổ chức tiếp nhận yêu cầu hoặc trong ngày làm việc tiếp theo, nếu tiếp nhận yêu cầu sau 15 giờ[24] Tuy nhiên, để tạo điều kiện linh hoạt cho cơ quan thực hiện chứng thực, Điều 21 Nghị định cho phép cơ quan thực hiện chứng thực thỏa thuận với người yêu cầu chứng thực để kéo dài hơn thời hạn thực hiện chứng thực nếu trường hợp cùng một lúc yêu cầu chứng thực nhiều loại giấy tờ, văn bản; bản chính có nhiều trang; yêu cầu số lượng nhiều bản sao; nội dung giấy tờ phức tạp khó kiểm tra, đối chiếu nên cơ quan, tổ chức thực hiện chứng thực không thể đáp ứng được thời hạn quy định tại Điều 7 thì thời hạn chứng thực bản sao từ bản chính được kéo dài thêm không quá hai ngày làm việc hoặc có thể dài hơn theo thỏa thuận bằng văn bản với người yêu cầu chứng thực

- Những loại giấy tờ, văn bản không được chứng thực bản sao từ bản chính

Theo quy định tại Điều 22 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì bản chính những loại giấy tờ, văn bản sau đây không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao:

- Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ

- Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung

- Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp

Trang 24

- Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức; vi phạm bí mật đời tư cá nhân

- Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc xác nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 Điều 20 của Nghị định này

- Bản chính đã hết thời hạn sử dụng, nếu người yêu cầu chứng thực không chứng minh được mục đích của việc yêu cầu chứng thực bản sao

- Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền[27]

So với quy định tại Điều 16 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ

về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký thì Điều 22 đã quy định cụ thể hơn các loại giấy tờ, văn bản không được chứng thực Bên cạnh đó, Điều 22 Nghị định đã bỏ quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP (bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc giả mạo) Việc bỏ quy định này nhằm giảm nhẹ trách nhiệm cho người thực hiện chứng thực, vì việc phát hiện giấy tờ cấp sai thẩm quyền hoặc giả mạo là rất khó khăn, trong khi đó, người yêu cầu chứng thực mới là người phải chịu trách nhiệm về nội dung của bản chính giấy tờ, văn bản yêu cầu chứng thực Tuy nhiên, trong trường hợp người thực hiện chứng thực phát hiện bản chính giấy tờ, văn bản là giả mạo hoặc cấp sai thẩm quyền thì vẫn có quyền từ chối chứng thực và lập biên bản tạm giữ theo quy định tại khoản 5 Điều 9 của Nghị định này[24]

Chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản

Trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực chữ ký và người thực hiện chứng thực chữ ký

Cũng giống như việc chứng thực bản sao từ bản chính, người yêu cầu chứng thực chữ ký phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của giấy tờ, văn

Trang 25

bản mà mình ký vào để yêu cầu chứng thực chữ ký Không được yêu cầu chứng thực chữ ký đối với giấy tờ, văn bản có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức, vi phạm bí mật đời tư cá nhân

Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực về chữ ký của người yêu cầu chứng thực trong giấy tờ, văn bản đó là chữ ký của người yêu cầu chứng thực, không chịu trách nhiệm về nội dung của giấy tờ, văn bản

Thủ tục chứng thực chữ ký

- Để tạo thuận lợi cho người yêu cầu chứng thực và người thực hiện chứng thực, Điều 24 Nghị định đã quy định cụ thể hồ sơ yêu cầu chứng thực và trình tự, thủ tục thực hiện chứng thực chữ ký Theo đó, người yêu cầu chứng thực chữ ký của mình phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

+ Bản chính hoặc bản sao có chứng thực Giấy chứng minh nhân dân hoặc

Hộ chiếu còn giá trị sử dụng (Nghị định này không cho phép người yêu cầu chứng thực xuất trình các giấy tờ tùy thân khác có giá trị thay thế như quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP);

+ Giấy tờ, văn bản mà mình sẽ ký vào đó

Người thực hiện chứng thực phải kiểm tra giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực xuất trình Nếu người yêu cầu chứng thực chữ ký không phải là người trong Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc giấy tờ đó là giả mạo, không còn giá trị sử dụng thì có quyền từ chối chứng thực Bên cạnh đó, người thực hiện chứng thực chữ ký còn phải kiểm tra nội dung của giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực sẽ ký vào, nếu nội dung của giấy tờ không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức, vi phạm bí mật đời tư cá nhân và

Trang 26

người yêu cầu chứng thực hoàn toàn minh mẫn, nhận thức, làm chủ được hành

Thủ tục chứng thực chữ ký tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã trên toàn quốc đã tổ chức triển khai thực hiện thủ tục chứng thực tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông (người yêu cầu chứng thực nộp hồ sơ và nhận kết quả tại bộ phận “một cửa”) Việc triển khai hoạt động chứng thực theo cơ chế “một cửa” trên thực tế đã tạo thuận lợi hơn cho người dân, tiết kiệm chi phí, đi lại, giảm bớt thời gian giải quyết yêu cầu chứng thực của tổ chức, cá nhân, nâng cao trách nhiệm của cơ quan chứng thực[35]

Tuy nhiên, cơ chế này cũng đã và đang phát sinh một số tồn tại, hạn chế, nhất là đối với địa phương chưa bố trí được cán bộ Phòng Tư pháp tại bộ phận

Trang 27

“một cửa” hoặc chưa tổ chức được bộ phận “một cửa” theo hướng độc lập, chuyên trách Việc phải bố trí cán bộ từ các phòng nghiệp vụ khác tại bộ phận

“một cửa” đã dẫn đến những khó khăn, phức tạp cho người dân có yêu cầu chứng thực Bởi sau khi nộp hồ sơ tại bộ phận “một cửa”, người dân lại phải đến Phòng Tư pháp để trực tiếp ký trước mặt người có thẩm quyền chứng thực, rồi sau đó mới đến lấy kết quả Quy trình này vừa gây phiền hà, lãng phí thời gian cho người dân, vừa làm giảm vai trò của mô hình “một cửa” Để khắc phục hạn chế này, khoản 3 Điều 24 Nghị định đã quy định thủ tục chứng thực chữ ký tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông Theo đó, về cơ bản, thủ tục chứng thực chữ ký cũng giống như trường hợp chứng thực chữ ký thông thường chỉ có một quy định khác là người tiếp nhận

hồ sơ tại bộ phận một cửa sẽ phải có một số trách nhiệm, cụ thể như sau:

Công chức tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra giấy tờ yêu cầu chứng thực, nếu thấy đủ giấy tờ theo quy định, giấy tờ mà người yêu cầu chứng thực sẽ ký vào không có nội dung thuộc trường hợp cấm và tại thời điểm chứng thực nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì đề nghị người yêu cầu chứng thực ký trước vào giấy tờ cần chứng thực và chuyển giấy

tờ cho người có thẩm quyền ký chứng thực

Việc ghi lời chứng, ký và đóng dấu vào văn bản chứng thực được thực hiện như trường hợp chứng thực chữ ký thông thường

Những trường hợp không được chứng thực chữ ký

Nghị định số 79/2007/NĐ-CP chỉ quy định một số trường hợp không được chứng thực bản sao từ bản chính mà không có quy định về các trường hợp không được chứng thực chữ ký Vì vậy, trong thực tiễn thi hành, người thực hiện chứng thực không có cơ sở pháp lý để từ chối chứng thực nếu phát hiện giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực sẽ ký vào có nội dung trái pháp luật hoặc giấy tờ, văn bản được dịch là giả mạo, cũ nát Do đó, Nghị định này ngoài việc quy định cụ thể hơn các trường hợp không được chứng thực bản sao

Trang 28

từ bản chính, đã bổ sung quy định về những trường hợp không được chứng thực chữ ký Do đó, cơ quan, tổ chức thực hiện chứng thực không được thực hiện chứng thực chữ ký trong các trường hợp sau đây:

- Tại thời điểm chứng thực, người yêu cầu chứng thực chữ ký không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

- Người yêu cầu chứng thực chữ ký xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu không còn giá trị sử dụng hoặc giả mạo

- Giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực ký vào có nội dung nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức, vi phạm bí mật đời tư cá nhân

- Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch, trừ trường hợp chứng thực chữ ký trong Giấy ủy quyền đối với việc ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản

Áp dụng trong trường hợp đặc biệt

Trên thực tế có những trường hợp người yêu cầu chứng thực không biết

ký hoặc không thể ký được do khuyết tật, do đó, để bảo đảm thuận lợi cho người dân, Điều 26 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đã quy định về việc áp dụng trong trường hợp đặc biệt Theo đó, trình tự, thủ tục chứng thực chữ ký nêu trên và trường hợp không được chứng thực chữ ký cũng được áp dụng trong trường hợp chứng thực điểm chỉ khi người yêu cầu chứng thực chữ ký không ký được;

trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký, không điểm chỉ được

Tùy theo từng trường hợp, nội dung lời chứng được ghi theo mẫu quy định tại Nghị định này

Theo quy định này, trong trường hợp người yêu cầu chứng thực chữ ký không ký, không điểm chỉ được thì không nhất thiết phải có người làm chứng,

Trang 29

người thực hiện chứng thực sẽ đồng thời là người làm chứng trong trường hợp này thông qua lời chứng

1.2.4 Chứng thực hợp đồng, giao dịch

-Trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực hợp đồng, giao dịch

Theo quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP thì khi thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch, người thực hiện chứng thực có trách nhiệm: xác định năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu chứng thực và xét thấy nội dung hợp đồng đã được soạn thảo không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì thực hiện chứng thực (Khoản 3 Điều 41 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP) Như vậy, người thực hiện chứng thực phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch và văn bản được chứng thực có giá trị ngang với văn bản được công chứng[21]

Để đạt được mục tiêu đưa hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch về đúng với bản chất của hoạt động chứng thực (chứng thực hình thức), tại Điều 34 Nghị định về chứng thực đã quy định rất cụ thể trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực và người thực hiện chứng thực Theo đó, người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Người thực hiện chứng thực chỉ chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch

Tuy nhiên, trong trường hợp người thực hiện chứng thực phát hiện ra nội dụng của hợp đồng, giao dịch trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức, vi phạm bí mật đời tư cá nhân thì có quyền từ chối chứng thực

- Thủ tục chứng thực hợp đồng, giao dịch

Do Nghị định này hướng tới mục tiêu đưa hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch về đúng với bản chất của hoạt động chứng thực (mang tính hình thức Do đó, tại Điều 36 Nghị định chỉ quy định chung một trình tự, thủ tục

Trang 30

chứng thực hợp đồng, giao dịch khá đơn giản, người thực hiện chứng thực tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu chứng thực, nếu hồ sơ có đủ các giấy tờ theo quy định, người yêu cầu chứng thực có đủ năng lực hành vi dân

sự theo quy định của pháp luật, các bên tự nguyện giao kết hợp đồng thì thực hiện chứng thực Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Khoản 1 Điều 36 Nghị định 23/2015-NĐ-CP quy định người

yêu cầu chứng thực nộp 01 (một) bộ hồ sơ yêu cầu chứng thực, gồm các giấy tờ sau đây:

+ Dự thảo hợp đồng, giao dịch (người thực hiện chứng thực không có trách nhiệm soạn thảo hợp đồng, giao dịch cho người yêu cầu chứng thực);

+ Bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị sử dụng của người yêu cầu chứng thực;

+ Bản sao giấy tờ liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có, như giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc bản sao giấy tờ thay thế đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, trừ trường hợp người lập di chúc đang bị cái chết đe dọa đến tính mạng

Bản sao giấy tờ nêu trên được xuất trình kèm bản chính để đối chiếu

Thứ hai: Sau khi tiếp nhận hồ sơ của người yêu cầu chứng thực, người

thực hiện chứng thực kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu chứng thực, nếu hồ sơ đầy đủ, tại thời điểm chứng thực các bên tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn

tự nguyện, minh mẫn và nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì thực hiện chứng thực (khoản 2 Điều 36)

Thứ ba: Các bên tham gia hợp đồng, giao dịch phải ký trước mặt người

thực hiện chứng thực Tuy nhiên, đối với trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp đã đăng ký chữ ký mẫu tại

cơ quan thực hiện chứng thực thì có thể ký trước vào hợp đồng; người thực hiện chứng thực phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện chứng thực, nếu nghi ngờ chữ ký trong hợp đồng khác với chữ ký

Trang 31

mẫu thì yêu cầu người đó đến ký trước mặt mình Trong trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký được thì phải điểm chỉ; nếu người đó không đọc được, không nghe được, không ký, không điểm chỉ được thì phải có hai người làm chứng

Thứ tư: Sau khi hoàn tất các thủ tục, người thực hiện chứng thực ghi lời

chứng tương ứng với từng loại hợp đồng, giao dịch theo mẫu quy định; ký, ghi

rõ họ tên, đóng dấu của cơ quan thực hiện chứng thực và ghi vào sổ chứng thực Đối với hợp đồng, giao dịch có từ 02 (hai) trang trở lên, thì từng trang phải được đánh số thứ tự, có chữ ký của người yêu cầu chứng thực và người thực hiện chứng thực; số lượng trang và lời chứng được ghi tại trang cuối cùng của hợp đồng, giao dịch Trường hợp hợp đồng, giao dịch có từ 02 (hai) tờ trở lên thì phải đóng dấu giáp lai (khoản 4)

Trong trường hợp một trong các bên tham gia hợp đồng, giao dịch không thông thạo tiếng Việt thì phải có phiên dịch, người phiên dịch có trách nhiệm dịch đầy đủ, chính xác nội dung của hợp đồng, giao dịch, nội dung lời chứng cho người yêu cầu chứng thực và ký vào từng trang hợp đồng với tư cách là người phiên dịch

bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch được thực hiện tại cơ quan đã chứng thực hợp đồng, giao dịch đó.Tuy nhiên, để bảo đảm thuận tiện cho người yêu cầu chứng thực thì trong trường hợp sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần

Trang 32

hoặc toàn bộ di chúc thì có thể chứng thực tại bất kỳ cơ quan có thẩm quyền chứng thực nào; cơ quan, tổ chức đã thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan

đã chứng thực trước đây về nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc để ghi chú vào Sổ chứng thực hợp đồng, giao dịch

Thủ tục chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực được thực hiện theo quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương này

Sửa sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực

Cơ quan thực hiện chứng thực chỉ thực hiện việc sửa lỗi sai sót trong ghi chép, đánh máy, in hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực theo thỏa thuận bằng văn bản của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, nếu không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch

Khi sửa lỗi sai sót, người thực hiện chứng thực gạch chân lỗi sai sót cần sửa, đóng dấu của cơ quan thực hiện chứng thực và ghi vào bên lề của hợp đồng, giao dịch nội dung đã sửa, họ tên, chữ ký của người sửa, ngày tháng năm sửa

Cơ quan thực hiện chứng thực đang lưu trữ hợp đồng, giao dịch có trách

nhiệm cấp bản sao có chứng thực từ bản chính hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực theo yêu cầu của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng, giao dịch Để có căn cứ cấp bản sao từ bản gốc hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực, người yêu cầu cấp bản sao phải xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn giá trị sử dụng để người thực hiện chứng thực kiểm tra

Thủ tục chứng thực bản sao từ bản chính hợp đồng, giao dịch được thực hiện tương tự như việc chứng thực bản sao từ bản chính

1.2.5 Quản lý nhà nước về chứng thực

1.2.5.1.Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về chứng thực

Trang 33

Điều 43 của Nghị định quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về chứng thực

Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về chứng thực trong địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện các việc chứng thực thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Nghị định này; tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật

về chứng thực; cấp bản sao có chứng thực từ bản chính hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực; lưu trữ sổ chứng thực, Văn bản chứng thực; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền; định kỳ 6 tháng và hằng năm, tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định

Công chức TP-HT giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, trừ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo mẫu chữ ký khi ký chứng thực cho Sở Tư

Trong trường hợp người thực hiện chứng thực gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức do lỗi của mình thì sẽ bị xử lý kỷ luật, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Người dịch mà gây thiệt hại cho người yêu cầu dịch do lỗi của mình thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Trang 34

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật chứng thực

của UBND cấp xã trên địa bàn huyện Bến Lức

1.3.1 Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng

Để bảo đảm việc thực hiện PL về chứng thực được hiệu quả, nghiêm minh thì vấn đề quan trọng đặt ra đó là Đảng phải tăng cường sự lãnh đạo của mình đồng thời phải phối kết hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trong cả hệ thống chính trị cũng như của các tổ chức, cá nhân khác có liên quan Đây vừa là nguyên tắc, vừa là điều kiện bảo đảm việc thực hiện PL và tăng cường pháp chế XHCN Đây là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ riêng của một cơ quan nhà

nước nào mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị

1.3.2 Tổ chức bộ máy

Hoạt động thực hiện PL là hoạt động của các cá nhân, các tổ chức và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền Do đó, để nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật, ngoài các biện pháp áp dụng đối với các tầng lớp nhân dân, còn rất cần thiết phải tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng và cán bộ, công chức

trong hoạt động thực hiện PL chứng thực

1.3.3 Chất lượng hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật

Để nâng cao ý thức PL chứng thực cho các đối tượng, chủ thể khác nhau, trước hết cần phải đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục PL chứng thực cho họ bằng nhiều hình thức khác nhau Tuyên truyền, phổ biến giáo dục

PL chứng thực là sự tác động chủ động, tích cực của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích cung cấp, trang bị kiến thức pháp luật, hình thành tình cảm, thái độ tích cực đối với PL chứng thực, tạo lập thói quen tuân

thủ, chấp hành và sử dụng PL chứng thực cho các đối tượng xã hội

1.3.4 Điều kiện vật chất, kỹ thuật

Một trong những yếu tố quan trọng để tổ chức thực hiện pháp luâ ̣t có hiệu quả, đòi hỏi phải có kinh phí và những trang thiết bị vật chất - kỹ thuật nhất

Trang 35

định, như: chi phí cho công tác tuyên truyền, PBGDPL; chi phí phục vụ hoạt động ADPL; chi phí mua sắm máy móc, thiết bị kỹ thuật phục vụ công việc;

Vì vậy, để bảo đảm cho việc thực hiện PL về chứng thực thì cần phải bố trí đủ kinh phí, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động thực hiện pháp luật

1.3.5 Mức độ hoàn thiện của PL về chứng thực

Hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về chứng thực nói riêng được xây dựng tương đối hoàn thiện, đồng bộ, phát huy được vai trò, hiệu quả trong thực tế Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản QPPL quy định chỉ thực hiện được khi có văn bản hướng dẫn thi hành

Trang 36

Kế luận chương 1

Tóm lại, công tác chứng thực luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Bến Lức, sự phối kết hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, tổ chức có liên quan Ngay sau khi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động chứng thực có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo phòng Tư pháp triển khai thực hiện một cách đồng bộ trên địa bàn huyện, sao cho các công việc liên quan đến chứng thực được giải quyết nhanh gọn, kịp thời cho người dân

Công tác chứng thực tại Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trực thuộc huyện Bến Lức đã được cấp ủy đảng và Ủy ban nhân dân các cấp quan tâm thực hiện, hoạt động chứng thực trên địa bàn đã từng bước đi vào nề nếp và đạt được những kết quả nhất định Việc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện tương đối tốt, kịp thời hồ sơ được nhận và trả ngay trong ngày làm việc

Các công chức Tư pháp tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp xã

về công tác chứng thực duy trì thường xuyên lịch giao ban hàng quý, để nghe cán bộ tư pháp cấp xã báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ hàng quý, những khó khăn vướng mắc, kịp thời báo cáo đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp huyện có hướng chỉ đạo, giải quyết, góp phần đưa công tác chứng thực đi vào nề nếp Hiện nay, đa số các đơn vị hành chính cấp xã, chứng thực được thực hiện theo

cơ chế “Một cửa”, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, đúng quy trình thủ tục, mức thu lệ phí được niêm yết công khai, hạn chế tối đa hiện tượng sách nhiễu, gây phiền hà cho công dân, tổ chức đến chứng thực

Trang 37

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CHỨNG THỰC

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của Huyện Bến Lức, tỉnh Long An

Huyện Bến Lức là cửa ngõ phía Tây của Thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ và ngược lại, có hệ thống giao thông thuận tiện: Quốc lộ 1A nối thị trấn Bến Lức với Thành phố Tân An đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và với Thành phố Hồ Chí Minh, từ đây nối với các tỉnh miền Đông Nam

Bộ Tuyến đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Trung Lương, tuyến đường Quốc lộ N2 đi qua địa bàn huyện góp phần tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn huyện Các tuyến tỉnh lộ

830, 832, 835 nối với Quốc lộ 1A và các tuyến hương lộ tạo thành mạng lưới giao thông đường bộ khá hoàn chỉnh và rất thuận tiện trong việc giao lưu với Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác trong và ngoài tỉnh Ngoài các tuyến đường bộ, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, hệ thống giao thông thủy cũng rất phát triển Sông Vàm Cỏ Đông đổ ra Biển Đông, có cảng quốc tế BourBon Bến Lức được đưa vào khai thác từ năm 2005 với ngành nghề chính là chế biến, đóng gói và kinh doanh khai thác cảng, dịch vụ cảng ( Cảng vụ ), bốc xếp hàng hóa xuất nhập khẩu và dịch vụ kho bãi, nhà xưởng tại cảng Đây là một lợi thế mà ít địa phương nào có được

Huyện Bến Lức được chia ra thành hai vùng: Vùng phía Nam của huyện với hệ thống giao thông thủy, bộ thuận tiện, có tiềm năng, lợi thế phát triển công nghiệp, thương mại – dịch vụ, dân cư tập trung đông đúc, có nhiều khu đô thị và khu cụm công nghiệp nên có thể xem đây là địa bàn "động lực" phát triển của huyện Vùng phía Bắc chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với các loại cây trồng chủ lực là mía, chanh, thơm, và gần đây, với sự phát triển chung của tỉnh, nhiều

Trang 38

khu - cụm công nghiệp mới được hình thành theo trục tỉnh lộ 830 đã mở ra cơ hội mới cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến hợp tác, đầu tư

Huyện Bến Lức gồm 15 xã và 01 Thị Trấn Trong đó Thị trấn Bến Lức là một đơn vị quan trọng, trọng điểm trong việc điều hành quản lý phát triển kinh

tế văn hóa xã hội trên địa bàn Huyện Là nơi thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước và ngoài nước với hai khu công nghiệp lớn hơn 20.000 dân địa phương và nhập cư trên địa bàn.Từ những điều kiện thuận lợi về KT-XH nên việc biến động về đất đai, kinh doanh, việc làm tăng nhanh làm cho lưu lượng chứng thực các giao dịch, giấy tờ có liên quan ngày một nhiều hơn

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã, Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An

Cơ sở pháp lý của việc thực hiện pháp luật về chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã, Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An

+ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm

“chứng thực” là gì: Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”[21]

+ Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không

có khái niệm chung về “chứng thực” mà chỉ đưa ra khái niệm về chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký: “Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính”; “Chứng thực chữ

ký là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực”[24]

Trang 39

Giao việc chứng thực, xác nhận chữ ký cho UBND cấp xã và được thực hiện theo nghị định 79/2007/ NĐ-CP

Nghị Định 79/2007/NĐ-CP ra đời thể hiện tinh thần cải cách hành chính một cách mạnh mẽ đáp ứng được mong mỏi của nhân dân trong vấn đề bản sao

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ kế thừa một số quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về giải thích từ ngữ như giải thích về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và sổ gốc Sửa đổi, bổ sung một số giải thích mới về chứng thực hợp đồng, giao dịch, bản chính, bản sao, văn bản chứng thực, người thực hiện chứng thực[27]

2.2.1 Tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật chứng thực của ủy ban nhân dân cấp xã, Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An

Tổ chức bộ máy, nhân sự thực hiện PL tại UBND các xã của Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An đã đáp ứng cơ bản yêu cầu phục vụ cho hoạt động chứng thực tại UBND các xã, phường khi thực hiện chứng thực theo Nghị Định 79/2007/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 Nhất là nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của CP về việc chứng thực bản sao từ bản chính văn bản, giấy tờ bằng tiếng việt, chứng thực chữ ký/ điểm chỉ giấy tờ, văn bản bằng tiếng việt[27] Cụ thể:

Chủ thể của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động chứng thực trên địa bàn Huyện Bến Lức là trách nhiệm của chính quyền: UBND Huyện Bến Lức, UBND các xã trên địa bàn Huyện Bến Lức Trên nguyên tắc tổ chức và hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhiệm vụ này được phân công, phân cấp cho các cơ quan chuyên môn và cán bộ chuyên trách trực tiếp quản lý ở đây

là phòng Tư pháp của Huyện Bến Lức, và cán bộ Tư pháp của các xã, thị trấn Trong đó phòng Tư pháp là “đầu mối” quản lý hoạt động chứng thực của Huyện đối với các xã, thị trấn, còn mỗi UBND xã, thị trấn là “chủ thể” quản lý trên địa

Trang 40

bàn Mỗi cơ quan có thẩm quyền quản lý về chứng thực được PL quy định có thẩm quyền và trách nhiệm cụ thể, không chồng chéo đảm bảo sự tách bạch và khoa học trong quản lý

Theo quy định của pháp luật, phòng Tư pháp Huyện Bến Lức là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Huyện Bến Lức, giúp UBND Huyện Bến Lức thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực Tư pháp, bao gồm: Xây dựng văn bản pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản pháp luật, PBGDPL thi hành án dân sự, công chứng, chứng thực, trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở và công tác pháp lý khác theo sự ủy quyền của UBND Huyện Bến Lức Phòng Tư pháp chịu

sự quản lý, chỉ đạo toàn diện của UBND Huyện Bến Lức, đồng thời chịu sự kiểm tra hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Sở tư pháp

- UBND xã, thị trấn thực hiện quản lý nhà nước về chứng thực trên địa bàn, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

+ Thực hiện các việc chứng thực thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã theo quy định tại Nghị định này;

+ Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 29/11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ/TW
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
9. Đặng Văn Trường (2010), “Quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí quản lý nhà nước, số 168, tr.48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra”", Tạp chí quản lý nhà nước
Tác giả: Đặng Văn Trường
Năm: 2010
10. Ngô Sỹ Chung (2009), Quản lý nhà nước về chứng thực hiện nay - Qua nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công, học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luậ
Tác giả: Ngô Sỹ Chung
Năm: 2009
13. Phan Thanh Hương (2014), Quản lý nhà nước về chứng thực trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công, học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: L
Tác giả: Phan Thanh Hương
Năm: 2014
14. Nguyễn Văn Linh, “Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay”
15. Phạm Văn Tiên, “Thực hiện chứng thực tại UBND xã Thanh Xuân – Tỉnh Thanh Hóa thực trạng và giải pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hiện chứng thực tại UBND xã Thanh Xuân – Tỉnh Thanh Hóa thực trạng và giải pháp
16. Bộ Tài chính (2008), Thông tư liên tịch số 92/2008/BTC-BTPngày 17/10/2008 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp bản sao, lệ phí chứng thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 92/2008/BTC-BTP
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
17. Bộ Tài chính (2013), Thông tư liên tịch số 62/2013/BTC-BTP ngày 13/05/2013 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí chứng thực hợp đồng, giao dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 62/2013/BTC-BTP
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
19. Bộ Tư pháp (2015), Thông tư số 158/2015/TTLT-BTC-BTP liên tịch ngày 20/10/2015 quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 158/2015/TTLT-BTC-BTP liên tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2015
20. Bộ Tài chính(2016), Thông tư số 226/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 11/11/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí chứng thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 226/2016/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
21. Chính phủ (2000), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
3. Trong Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa Khác
4. Quốc hội (2013), Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
5. Quốc hội (2014), Luật công chứng số 53/2014/QH13 ngày 20 tháng 06 năm 2014 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
6. Quốc hội (2014), Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
7. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2015 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
8. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Khác
11. Nguyễn Duy Giang (2013), Quản lý nhà nước đối với hoạt động chứng thực huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công, học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Vũ Thị Thảo (2015), Đặc san tuyên truyền pháp luật số 02/2015 về chủ đề pháp luật về chứng thực Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w