1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh kiên giang

74 2K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 749,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang ” là do tôi tự nghiên cứu và hoàn thành d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN QUỐC NAM

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG,

ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN QUỐC NAM

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG,

ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN HOÀNG BẢO

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp

của sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang ” là do

tôi tự nghiên cứu và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Bảo,

trưởng khoa Kinh tế phát triển, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Các

số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc được trích dẫn rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào trước đây Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan này

Học viên thực hiện

Nguyễn Quốc Nam

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DAH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 2

CHƯƠNG 2 KHỞI NGHIỆP VÀ KHỞI NGIỆP CỦA SINH VIÊN 4

2.1 LÝ THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP 4

2.1.1 Khởi nghiệp 4

2.1.2 Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp 5

2.1.3 Khởi nghiệp sinh viên 7

2.1.4 Ý nghĩa của khởi nghiệp kinh doanh với sự phát triển kinh tế 8

2.2 MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HÀNH VI 9

2.2.1 Mô hình sự kiện kinh doanh (The Entrepreneurial Event Model) của Shapero 9

Sơ đồ 2.1: Mô hình sự kiện kinh doanh của tác giả Shapero 10

2.2.2 Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) của Fishbein 10

Sơ đồ 2.2: Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein 10

Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975 10

Trang 5

Sơ đồ 2.3: Mô hình Lý thuyết về hành vi theo kế hoạch của Ajzen 11

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 11

2.3.1 Nghiên cứu ngoài nước 11

2.3.2 Nghiên cứu trong nước 12

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 14

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 14

3.1.1 Mô hình nghiên cứu 14

3.1.2 Giả thiết nghiên cứu 15

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.2.1 Nghiên cứu sơ bộ 15

3.2.2 Nghiên cứu chính thức 16

3.2.2.1 Cách chọn mẫu 16

3.2.2.2 Xây dựng thang đo 16

3.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 18

3.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo 18

3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 19

3.3.3 Phân tích hồi qui tuyến tính bội 20

3.3.4 Kiểm định sự khác biệt 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 22

CHƯƠNG 4 23

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

4.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 24

4.1.3 Thực trạng giáo dục đào tạo của tỉnh Kiên Giang 26

4.2 ĐẶC ĐIỂM MẪU KHẢO SÁT 28

4.3 KẾT QUẢ HỒI QUY 30

4.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha 30

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 31

4.3.3 Phân tích hệ số tương quan 34

4.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 38

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 39 5.1 KẾT LUẬN 39 5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Trang 7

HSSV Học sinh sinh viên

EFA Phân tích nhân tố khám phá

Trang 8

Bảng 4.6: Tổng kết giải thích phương sai lần 2 33

Bảng 4.8: Kiểm định KMO and Bartlett biến phụ thuộc 35 Bảng 4.9: Tổng kết giải thích phương sai biến phụ thuộc 35

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định tương quan giữa các nhân tố 36 Bảng 4.12: Kết quả hồi quy sử dụng phương pháp Enter của mô hình 36 Bảng 4.13: Phân tích phương sai ANOVA trong phân tích hồi quy 37

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Mô hình sự kiện kinh doanh của tác giả Shapero 9

Sơ đồ 2.2: Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein 10

Sơ đồ 2.3: Mô hình Lý thuyết về hành vi theo kế hoạch của Ajzen 11

Trang 10

Khởi nghiệp là một đề tài đang rất được sự quan tâm của xã hội, đặc biệt là giới trẻ trong đó có lực lượng HSSV Chính phủ đã và đang có những động thái tích cực với những chính sách cụ thể nhằm giúp cho phong trào khởi nghiệp của Việt Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn

Tác giả đưa ra khái niệm về khởi nghiệp, tiềm năng của người khởi nghiệp, các đặc trưng của khởi nghiệp trong sinh viên, ý nghĩa của khởi nghiệp kinh doanh với sự phát triển kinh tế Đồng thời, đưa ra các mô hình lý thuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định hành vi gồm mô hình sự kiện kinh doanh của Shapero, mô hình lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein, mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen

Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố độc lập gồm giáo dục, thái

độ, sự đam mê, nguồn vốn, nhu cầu thành đạt và hỗ trợ khởi nghiệp đều ảnh hưởng cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên Mẫu nghiên cứu được chọn từ 300 sinh viên đang học tập tại các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Xây dựng thang đo cho các nhân tố và đề xuất phương pháp phân tích dữ liệu

Luận văn đã mô tả mẫu khảo sát, đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi qui, phân tích mối liên hệ giữa các nhân tố độc lập với nhân tố phụ thuộc Qua kết quả nghiên cứu ở phần trên chúng ta thấy rằng có 06 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của HSSV các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thì trong đó có 04 nhân tố

được xác định là có ảnh hưởng lớn nhất, đó là: sự đam mê, môi trường giáo dục, hỗ trợ

khởi nghiệp và nguồn vốn Trong đó, nhân tố sự đam mê và môi trường giáo dục có tác

động mạnh nhất ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của HSSV tại các trường này

Vì vậy, nhằm đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp trong HSSV trong thời gian tới, nhà nước và nhà trường cần có những chính sách cụ thể để tạo môi trường khởi nghiệp phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm vừa qua, kinh tế nước ta đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn của lạm phát và khủng hoảng kinh tế thế giới Kinh tế suy thoái có ảnh hưởng không ít đến vấn đề việc làm và khởi nghiệp của tư nhân nói chung và của thanh niên nói riêng Gần đây, vấn đề cần quan tâm giải quyết hàng đầu của kinh tế Việt Nam chính là tình trạng thất nghiệp, mất việc làm, thu nhập của người dân giảm sút Khi ngày càng nhiều sinh viên ra trường không có việc làm, thì khởi nghiệp là sự lựa chọn duy nhất cho những ai muốn thay đổi hoàn cảnh, tìm đến sự tự do trong công việc

Tỷ lệ khởi nghiệp trong tổng dân số Việt Nam chỉ khoảng 2%, thấp hơn nhiều

so với tỷ lệ trung bình của thế giới là 12% Khởi nghiệp tại Việt Nam dựa chủ yếu vào vốn của mình, vốn vay bạn bè, các tổ chức tín dụng Ở các nước phát triển, khi người

ta có ý tưởng, các quỹ đầu tư tài chính sẽ thẩm định và phân tích, sau đó dành khoản

hỗ trợ tài chính để biến những phát kiến, sáng tạo đó thành tiền, sản phẩm, thành doanh nghiệp Còn tại Việt Nam, người sáng tạo, phát triển ý tưởng kinh doanh sản phẩm và dịch vụ phải đau đầu với mọi vấn đề từ vốn, gia nhập thị trường và xây dựng quảng bá sản phẩm… Không chỉ thiếu kinh nghiệm, để bắt tay vào kinh doanh các bạn trẻ phải đối mặt với vô số khó khăn mà trong đó không ít khó khăn bắt nguồn từ thể chế kinh tế, chính sách quản lý, thủ tục hành chính

Hiện nay, khi nhận thấy số lượng sinh viên ra trường có đủ kỹ năng và tìm được công việc đúng ngành học ngày càng giảm, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với các tổ chức hội đoàn thể, các DN thực hiện nhiều chương trình hành động nhằm giúp sinh viên phát triển các kỹ năng và kiến thức cần thiết để có thể tự mình thành lập một DN Với nền kinh tế hiện đại và năng động, sinh viên ĐH – CĐ rất dễ tiếp cận với những kiến thức và kỹ năng về khởi nghiệp Nhờ đó, sinh viên sau khi ra trường không chỉ có duy nhất con đường làm việc cho nhà nước, làm thuê cho DN mà có thể tự bản thân kinh doanh một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó để tự làm chủ ý tưởng kinh doanh của mình

Theo thống kê, Tỉnh Kiên Giang hiện có 05 trường Cao đẳng và 01 trường ĐH với gần 20.000 sinh viên đang theo học Số lượng sinh viên tốt nghiệp ở các trường cũng có xu hướng ngày càng tăng và đa phần sinh viên sau khi ra trường đều mong muốn tìm kiếm một công việc ổn định Nhưng thực tế cho thấy, qua số liệu thống kê của Tỉnh Kiên Giang số lượng sinh viên ra trường có việc làm ổn định ngày càng giảm

dần, sinh viên tìm việc đúng chuyên ngành là 60% Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Các

Trang 12

địa bàn tỉnh Kiên Giang” là cần thiết Kết quả nghiên cứu nhằm đề xuất các giải

pháp trang bị cho sinh viên những kỹ năng, thái độ, ý chí và lòng quyết tâm, qua đó gia tăng nhận thức và ý định khởi nghiệp trong sinh viên; đồng thời, đưa ra một số khuyến nghị cho các trường CĐ, ĐH xây dựng các chương trình hành động hỗ trợ và phát huy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường

CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường

CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Đề xuất các chính sách giúp các trường CĐ, ĐH và DN hỗ trợ cho sinh viên phát huy tinh thần, sáng tạo khởi nghiệp

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay?

Mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang như thế nào?

Chính sách gì giúp các trường CĐ, ĐH và DN hỗ trợ cho sinh viên phát huy tinh thần, sáng tạo khởi nghiệp?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: được thực hiện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Dữ liệu thứ cấp: được thu thập từ các báo cáo của các trường CĐ, ĐH và báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang năm 2016

Dữ liệu sơ cấp: thu thập từ các phiếu khảo sát sinh viên Thời gian thực hiện: tháng 12 năm 2016

Trang 13

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Luận văn kết cấu gồm 5 chương cụ thể như sau:

Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn

Chương 2 Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về ý định khởi nghiệp của sinh viên

Chương 3 Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo, phương pháp chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, phân tích hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày những kết quả

mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách giúp các trường CĐ, ĐH và DN hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

CHƯƠNG 2 KHỞI NGHIỆP VÀ KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN

2.1 LÝ THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP

2.1.1 Khởi nghiệp

Khởi nghiệp, là một thuật ngữ chung bao hàm nhiều vấn đề và được định nghĩa

bằng rất nhiều cách khác nhau Định nghĩa khởi nghiệp theo từ điển Tiếng Việt được

giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp Thuật ngữ này trong tiếng Anh được gọi là Entrepreneurship (hay startup) có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Entreprendre” với ý nghĩa

là sự đảm đương

Định nghĩa khởi nghiệp đã thay đổi theo thời gian với cách tư duy của các nhà nghiên cứu khác nhau Theo Richard (1734), khởi nghiệp là sự tự làm chủ doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện hơn và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó Cole (1949) định nghĩa khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi xướng, duy trì và làm mạnh thêm

xu hướng lợi nhuận của một doanh nghiệp Penrose (1959) hay Stevenson và Jarillo (1990) đều cho rằng, hoạt động tự làm chủ doanh nghiệp là một quá trình mà cá nhân khởi nghiệp xác định rõ và biết theo đuổi, nắm lấy những cơ hội trong nền kinh tế Trong khi đó Drucker (1985) khẳng định hoạt động này bao hàm ba yếu tố cơ bản như

sự cải tiến, sự chấp nhận rủi ro và sự chủ động Theo Stevenson (1989), khởi nghiệp là

"quá trình theo đó các cá nhân nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp, phát triển

ý tưởng cho việc kinh doanh, tìm hiểu quá trình trở thành một doanh nhân và thực hiện việc bắt đầu và phát triển của một doanh nghiệp" Rabboir (1995) - trích trong Schnurr

và Newing (1997) đã liệt kê ra 20 định nghĩa cho khởi nghiệp từ các nghiên cứu khác nhau về đề tài này Khởi nghiệp trẻ, theo Schnurr và Newing (1997), được định nghĩa

là "ứng dụng thực tế các phẩm chất của doanh nhân, ví dụ như sáng kiến, đổi mới, sáng tạo và mạo hiểm trong môi trường làm việc (hoặc tự khởi nghiệp việc làm hoặc việc làm trong các công ty nhỏ mới thành lập), sử dụng các kỹ năng thích hợp để thành công trong môi trường làm việc

Trang 15

Đến đầu thế kỷ 21, định nghĩa khởi nghiệp hay tự làm chủ doanh nghiệp càng được làm rõ hơn, nó được giải thích là “tư duy và quá trình tạo ra và phát triển hoạt động kinh tế bằng cách kết hợp sự chấp nhận rủi ro, sự sáng tạo và/hoặc sự cải tiến trong một tổ chức mới đang tồn tại” - theo Ủy ban cộng đồng Châu Âu (2003) Oviatt and McDougall (2005) thì cho rằng khởi nghiệp là sự khám phá, thực hiện, đánh giá và khai thác những cơ hội để tạo nên những sản phẩm và dịch vụ trong tương lai Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng (Learned, 2002)

Sự khởi nghiệp là một quá trình hoàn thiện và bền bỉ bắt đầu từ việc nhận biết

cơ hội, từ đó phát triển ý tưởng để theo đuổi cơ hội qua việc thành lập doanh nghiệp mới Theo tổ chức Global Entrepreneurship Monitor (GEM) thì một doanh nghiệp khi vừa thành lập sẽ trải qua 3 giai đoạn: từ hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động cho rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn giữa việc đi làm thuê và

tự tạo việc làm cho mình Vì vậy, khởi nghiệp là sự chấp nhận rủi ro để tự làm chủ tạo lập một doanh nghiệp mới và thuê người khác làm việc cho mình Trong nghiên cứu

này có thể định nghĩa: “khởi nghiệp là việc một cá nhân tận dụng cơ hội thị trường và

năng lực của bản thân để tạo dựng một công việc kinh doanh mới”.

2.1.2 Người khởi nghiệp và tiềm năng người khởi nghiệp

Trong từ điển, người khởi nghiệp là người đứng ra sáng lập một doanh nghiệp mới để cung ứng một sản phẩm hay dịch vụ cho một thị trường Knight (1921) cho rằng người khởi nghiệp là người nỗ lực dự đoán và hành động dựa trên sự thay đổi và không chắc chắn của thị trường Đối với McClelland (1961), người khởi nghiệp là người có nhu cầu cao về sự thành công hay thành tựu, là người năng động và dám nghĩ dám làm Họ cũng là người luôn tìm đến sự thay đổi, thích ứng với nó và khai thác những cơ hội Người khởi nghiệp có hiệu quả là người biết cách chuyển đổi từ nguồn sẵn có thành một “tài nguyên” có thể khai thác - Drucker (1964) Đối với Shapero (1981), một người khởi nghiệp có năng lực là người đón lấy cơ hội để thành lập doanh nghiệp, công ty riêng của mình ngay khi có cơ hội Bird (1988) giải thích người khởi nghiệp là người tạo dựng một công việc kinh doanh mới MacMillan và Katz (1992)

Trang 16

lại định nghĩa người khởi nghiệp là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc kinh doanh có tính rủi ro

Theo nghiên cứu gần đây của Jhonson (2005) thì người khởi nghiệp luôn cố gắng để phát hiện cơ hội đổi mới sản phẩm hoặc cải tiến các sản phẩm hiện có để kiếm được lợi nhuận Gần đây nhất Ronald May (2013) đã chỉ ra trong nghiên cứu của ông rằng người khởi nghiệp là người “thương mại hóa” sự sáng tạo của mình

Từ những định nghĩa nói trên có thể thấy rõ phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng người khởi nghiệp bao hàm những đặc trưng sau đây: sáng tạo, có xu hướng tìm đến sự cải tiến, nhạy bén trong việc nắm bắt những cơ hội kinh doanh và biết chấp nhận rủi ro Người khởi nghiệp thay vì làm thuê cho một doanh nghiệp, họ thích tự làm chủ công việc kinh doanh và sẵn sàng chấp nhận rủi ro và hưởng mọi lợi nhuận thu được Họ đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế bởi những kĩ năng và sáng kiến cùng sự sáng tạo của họ Tuy nhiên, một người có sẵn tố chất khởi nghiệp cũng chưa đủ để thành công mà cần phải có một chính sách kinh tế phù hợp và thuận lợi, một chiến lược ổn định và sáng suốt Khởi nghiệp gắn liền với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội là công việc có ý nghĩa đối với người thích thách thức và là cơ hội phát huy tính sáng tạo

Những người có tiềm năng khởi nghiệp kinh doanh là những người biết nắm bắt các cơ hội kinh doanh mà họ nhìn nhận được, họ còn là những người thích thách thức, chấp nhận sự rủi ro và mạo hiểm Krueger và Brazeal (1994) cho rằng các doanh nhân tiềm năng là những người sẽ chấp nhận rủi ro và tiến hành các hoạt động khi họ thấy tín hiệu của cơ hội kinh doanh Theo Begley và Tan (2001) những cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp là những người chưa từng khởi nghiệp và họ khao khát và có niềm tin vào khả năng thành công khi khởi nghiệp

Tuy các định nghĩa trên khác nhau nhưng đều thống nhất rằng khởi nghiệp cần

có sự chuẩn bị từ trước chứ không hoàn toàn là bẩm sinh Một cá nhân có tố chất khởi nghiệp chưa chắc đã thành công trong việc khởi nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Theo các nhà nghiên cứu, cá nhân có tiềm năng khởi nghiệp là những cá nhân sở hữu các đặc điểm tính cách riêng (sáng tạo, mạo hiểm, chấp nhận rủi ro) Với những tính cách đặc điểm khác nhau sẽ có tiềm năng khởi

Trang 17

nghiệp khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu trên chỉ giải thích một phần tiềm năng khởi

nghiệp

Krueger và Brazeal (1994) cho rằng một cá nhân có tiềm nằng khởi nghiệp khi

có sự mong muốn và có cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp Khi cá nhân nhận thấy tiềm năng khởi nghiệp họ sẽ có dự định khởi nghiệp và từ đó biến thành các hoạt động khởi nghiệp trong tương lai Khi cá nhân nhận thấy sự hấp dẫn của khởi nghiệp,

họ đã có cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp Có sự cảm nhận về năng lực của bản thân và nguồn lực bên ngoài, họ sẽ có niềm tin về khả năng thực hiện hành vi khởi nghiệp Lúc đó, họ cảm thấy tự tin và khả năng thành công cao với việc khởi nghiệp

Một cá nhân nếu chỉ có mong muốn khởi nghiệp, cá nhân đó sẽ không khởi nghiệp được vì họ không có sự tự tin và khả năng khởi nghiệp Ngược lại, cá nhân có

đủ tự tin về năng lực thực hiện các hoạt động khởi nghiệp sẽ không bao giờ thực hiện

vì họ không có ý định hoặc không thích và không đam mê Do đó, người có tiềm năng khởi nghiệp phải vừa có mong muốn và sự tự tin

2.1.3 Khởi nghiệp sinh viên

Theo Schnurr và Newing (1997), khởi nghiệp của sinh viên được định nghĩa là ứng dụng thực tế các phẩm chất doanh nhân của sinh viên, chẳng hạn như đổi mới, sáng tạo và mạo hiểm trong môi trường làm việc, sử dụng thích hợp các kiến thức, kỹ năng, tố chất cần thiết để thành công trong môi trường và văn hóa đó Khởi nghiệp của sinh viên là một hoạt động mà thông qua đó sinh viên học được cách làm thế nào để trở thành chủ một doanh nghiệp thành công Hoạt động này có thể mang hình thức doanh nghiệp hình thành dưới sự trợ giúp từ trường đại học thông qua quá trình tạo dựng kế hoạch kinh doanh, làm việc với các doanh nhân địa phương và các nguồn lực khác của cộng đồng để lập kế hoạch và điều hành doanh nghiệp, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào khác để hình thành nên một doanh nghiệp khi chủ doanh nghiệp vẫn còn là sinh viên khi bắt đầu khởi nghiệp

Khởi nghiệp của sinh viên có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, đối tượng khởi nghiệp có sức trẻ, sức khỏe, có trí sáng tạo và ham

muốn khởi nghiệp Đây là đặc điểm chung giữa khởi nghiệp của sinh viên với khởi nghiệp của giới trẻ

Trang 18

Thứ hai, sinh viên là những người được đào tạo bài bản, có kiến thức chuyên

sâu về ngành mình chọn và được rèn luyện những kĩ năng cần thiết ở đại học

Thứ ba, sinh viên chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc bởi họ là những người

trẻ tuổi, chưa được va chạm và trải nghiệm nhiều cuộc sống kinh doanh

Thứ tư, hầu hết các sinh viên tham gia khởi nghiệp là muốn thể hiện mình, thử

sức mà chưa nghĩ kĩ về ngành nghề kinh doanh cũng như định hướng phát triển trong tương lai

Thứ năm, sinh viên thường thiếu sót trong việc nghiên cứu thị trường Phần

lớn, sinh viên khởi nghiệp thường chọn mặt hàng kinh doanh rồi mới nghiên cứu thị trường Vì vậy có thể mặt hàng họ chọn không phù hợp với thị hiếu của khách hàng dẫn đến sự thất bại trong kinh doanh

Thứ sáu, sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung đều gặp phải khó khăn khi

khởi nghiệp là nguồn vốn còn hạn chế; tiếp cận với khởi nghiệp như một sự thử sức chứ chưa có định hướng, kế hoạch rõ ràng; phản ứng trước sự thay đổi của thị trường

và những khó khăn vướng mắc trong quá trình kinh doanh còn kém

2.1.4 Ý nghĩa của khởi nghiệp kinh doanh với sự phát triển kinh tế

Tạo việc làm cho người lao động và tăng chất lượng cuộc sống: mức độ sử

dụng lao động tăng có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam, một nước có dân số đông, chịu sức ép của dân số và vấn đề việc làm dẫn đến hiện tượng di cư vào đô thị Các doanh nghiệp thu hút nhiều việc làm, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường, thu hút người lao động nhàn rỗi nhất là ở nông thôn Từ giải quyết vấn đề việc làm, nhiều doanh nghiệp nhỏ xuất hiện sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm thiểu đói nghèo, thất nghiệp

Góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch kinh tế: với những ngành có

nhiều doanh nghiệp tham gia, các doanh nghiệp luôn tìm cách để thúc đẩy cạnh tranh, củng cố và nâng cao vị trí của mình Theo Ghulam và Linán (2011) khởi nghiệp tạo ra

cơ chế làm giảm tính không hiệu quả của nền kinh tế Các doanh nghiệp ở nông thôn, vùng núi sẽ làm giảm tỷ trọng nông nghiệp ở những vùng này và tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ

Tạo nên tính đa dạng thị trường: những người khởi nghiệp góp phần tạo nên

cho thị trường những ý tưởng, sự đổi mới, tính sáng tạo Nhờ quy mô nhỏ mà các

Trang 19

doanh nghiệp có khả năng chuyển đổi mặt hàng nhanh, phù hợp với nhu cầu thị trường Các doanh nghiệp cạnh tranh nhau sẽ phải đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Họ luôn phải đổi mới sản phẩm của mình để tạo nên tính khác biệt trong thị trường

Tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới trong sản xuất: việc gia tăng các doanh

nghiệp nhỏ dấn đến gia tăng sự cạnh tranh Các doanh nghiệp muốn cạnh tranh cần phải luôn luôn thay đổi, tìm cách đổi mới công nghệ, giảm thiểu chi phí đầu vào, chi phí sản xuất Họ luôn là những người tiên phong trong việc tìm tòi những phương thức sản xuất mới Những sáng kiến của họ đôi khi không được áp dụng vào thực tiễn nhưng đã được các doanh nghiệp lớn mua lại để phát huy

Sử dụng tốt vốn tri thức và năng lực của con người: thành lập doanh nghiệp

là cơ sở cho gia tăng việc khai thác, vận dụng các tri thức mới một cách hiệu quả hơn Một cá nhân có thể khởi nghiệp cần có đầy đủ năng lực phẩm chất, tầm nhìn chiến lược Đây cũng là môi trường để cá nhân học hỏi tiếp thu, rút ra các bài học đồng thời cũng sử dụng tốt khả năng vốn có của bản thân Sự gia tăng trao đổi giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh là cơ sở cho các hoạt động đổi mới và phát triển công nghệ, kinh tế

2.2 MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HÀNH VI

2.2.1 Mô hình sự kiện kinh doanh (The Entrepreneurial Event Model) của Shapero

Mô hình này xem xét việc kinh doanh là một sự kiện có thể được giải thích bằng sự tương tác giữa sáng kiến, khả năng, quản lý, quyền tự chủ tương đối và rủi ro Theo mô hình này, ý định kinh doanh phụ thuộc vào 3 yếu tố: (1) sự ham muốn kinh

doanh, (2) xu hướng hành động, và (3) sự sẵn sàng kinh doanh

Trang 20

Sơ đồ 2.1: Mô hình sự kiện kinh doanh của tác giả Shapero

Nguồn: Krueger và Carsrud, 1993; Summers 1998; Krueger và ctg 2000 và Fayolle,

Sơ đồ 2.2: Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein

Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975

Trang 21

2.2.3 Mô hình Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (The Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen

Ajzen (1991) định nghĩa lý thuyết về hành vi có kế hoạch với tiền đề rằng hành

vi bất kỳ đòi hỏi một số kế hoạch nhất định và nó có thể được dự đoán bởi ý định áp dụng các hành vi đó Kết quả của nghiên cứu này giải thích sự hình thành của ý định thông qua 3 yếu tố: (1) thái độ của chủ thể đối với các hành vi, (2) các quy chuẩn chủ quan như sự nhận thức về ý kiến của người khác đối với hành vi được đề xuất, và (3) kiểm soát hành vi về nhận thức

Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của mô hình TRA bằng cách thêm vào một biến nữa là kiểm soát hành vi về nhận thức Nó đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một người để thực hiện một công việc bất kì Mô hình TPB được xem như tối

ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của một người trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu

Sơ đồ 2.3: Mô hình Lý thuyết về hành vi theo kế hoạch của Ajzen

Nguồn: Ajzen, 1991

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.3.1 Nghiên cứu ngoài nước

Zahariah Mohd Zain và ctg (2010) với nghiên cứu “Entrepreneurship Intention Among Malaysian Business Students”, Canadian Social Science, Vol 6, No 3, 2010, pp.34-44 Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ý định kinh doanh của sinh viên thông qua khảo sát 228 sinh viên kinh tế từ các trường ĐH công ở Malaysia Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha, thống

kê mô tả, kiểm tra hệ số tương quan Pearson để phân tích số liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy ý định kinh doanh của sinh viên kinh tế Malaysia là khá cao (67,1%) Tham gia các khóa học kinh doanh, ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh của các thành

Trang 22

viên trong gia đình, đặc điểm cá nhân là các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh

của sinh viên kinh tế ở Maylaysia

Abdullah Azhar và ctg (2010) nghiên cứu chủ đề “Entrepreneurial Intentions among Business Students in Pakistan”, Journal of Business Systems, Governance and Ethics, Vol 5, No 2 Nghiên cứu tập trung chính vào việc đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên kinh tế ở Pakistan Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert, phương pháp chọn mẫu phân tầng, cỡ mẫu là 376, đối tượng mục tiêu là sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh và những doanh nhân mới Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, sử dụng hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy để

xử lý số liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy: các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm, nền tảng giáo dục và công việc của gia đình; các yếu tố hành vi như sự thu hút chuyên nghiệp (Professional Attraction), năng lực kinh doanh, đánh giá

xã hội, kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh, giáo dục kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến

ý định kinh doanh Trong đó, sự thu hút chuyên nghiệp có tác động mạnh mẽ nhất đến

ý định kinh doanh

Wenjun Wang và ctg (2011) với nghiên cứu “Determinants of Entrepreneurial Intention among College Students in China and USA”, Journal of Global Entrepreneurship Research, Winter & Spring, 2011, Vol 1, No 1, pp.35-44 Mục tiêu của nghiên cứu là tập trung so sánh các yếu tố quyết định ý định kinh doanh của sinh viên Trung Quốc và Mỹ Thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm đối với 399 sinh viên của 3 trường ĐH ở Trung Quốc, 4 trường ở Mỹ và

sử dụng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, các công cụ kiểm định để xử lý số liệu Kết quả phân tích cho thấy sự ham muốn kinh doanh, sự sẵn sàng kinh doanh và kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến ý định kinh doanh ở cả hai nước Ngoài ra, nền tảng kinh doanh của gia đình, đạo đức kinh doanh (entrepreneurial personality) cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định kinh doanh Tuy nhiên, nếu như ở Trung Quốc kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp cũng như gián tiếp tới ý định kinh doanh thì ở Mỹ nhân tố này không có ảnh hưởng Ngược lại, tình trạng thu nhập của gia đình có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định kinh doanh của sinh viên Mỹ Nền tảng kinh doanh gia đình có tác động tích cực đến sự

Trang 23

ham muốn kinh doanh ở sinh viên Trung Quốc trong khi tác động tích cực đến sự sẵn

sàng kinh doanh ở sinh viên Mỹ

2.3.2 Nghiên cứu trong nước

Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ĐHQG TP Hồ Chí Minh” Đề tài Nghiên cứu Khoa học Euréka, 2011 Nghiên cứu nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng và mức

độ ảnh hưởng của những yếu tố đó đến ý định khởi nghiệp sau khi ra trường của sinh viên các trường thành viên ĐHQG TP HCM Số liệu của nghiên cứu được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp với đối tượng là sinh viên tại các trường

ĐH thuộc ĐHQG TP HCM, số mẫu thực tế là 514 Thông qua phần mềm SPSS, số liệu từ mẫu điều tra được xử lý để kiểm định lại mô hình đo lường và các giả thuyết trong mô hình; thang đo được kiểm định sơ bộ bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phương pháp phân tích hồi quy bội được tác giả sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu Kết quả cho thấy ý định khởi nghiệp của sinh viên ĐHQG TP HCM chịu tác động chủ yếu bởi 2 nhóm yếu tố: (1) các yếu tố cá nhân: sự sẵn sàng kinh doanh, tính cách cá nhân và sự ham muốn kinh doanh; (2) yếu tố môi trường: nguồn vốn

Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thị Thanh Chi (2013) nghiên cứu về “Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP Hồ Chí Minh” Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP HCM Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nữ học viên các khóa học QTKD của các Trường ĐH Kinh tế, ĐH Bách khoa và ĐH Mở TP HCM được chọn theo phương pháp thuận tiện với quy mô mẫu thực tế là 222 Số liệu của nghiên cứu được thu thập bằng bảng câu hỏi tự trả lời gửi đến địa chỉ email các lớp MBA Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (EFA), phân tích tương quan và hồi quy đa biến để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu; phân tích mô tả được dùng để mô tả, giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA là: đặc điểm cá nhân, nguồn vốn cho khởi nghiệp, động cơ đẩy, hỗ trợ từ gia đình, động cơ kéo và rào cản gia đình; trong đó tác động mạnh nhất là yếu tố đặc điểm cá nhân Đây là điểm mà các nhà hoạch định chính sách chính phủ, các tổ chức xã hội và các cá nhân quan tâm để đề ra các đường lối đúng đắn trong việc thúc đẩy khởi nghiệp từ một nguồn lực là các nữ học viên

Trang 24

MBA, gia tăng lực lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần phát triển kinh tế quốc

gia

Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành Quản trị kinh doanh tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn Thành phố Cần Thơ” Dữ liệu nghiên cứu thu thập từ 400 sinh viên ngành QTKD tại các trường đại học/cao đẳng trên địa bàn thành phố Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 7 nhân tố tác động đến ý định KSDN bao gồm giáo dục, quy chuẩn chủ quan, kinh nghiệm làm việc, thái độ, nguồn vốn, sẵn sàng kinh doanh và sự đam mê kinh doanh Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám khá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu này Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 4 nhân tố tác động đến

ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD bao gồm thái độ và sự đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục Trong đó, yếu tố thái độ và sự đam mê có tác động mạnh đến ý định KSDN của sinh viên ngành QTKD

Các nghiên cứu trên ban đầu đã xác định được ý định khởi nghiệp của sinh viên Tuy nhiên, vẫn còn phạm vi hẹp ở một khối ngành nhất định Tác giả chưa tìm thấy các nghiên cứu đến vấn đề phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định của sinh

viên trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày về khởi nghiệp và khởi nghiệp của sinh viên Tác giả đưa ra khái niệm về khởi nghiệp, tiềm năng của người khởi nghiệp, các đặc trưng của khởi nghiệp trong sinh viên, ý nghĩa của khởi nghiệp kinh doanh với sự phát triển kinh tế Đồng thời, đưa ra các mô hình lý thuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định hành vi gồm mô hình sự kiện kinh doanh của Shapero, mô hình lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein, mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen Trình bày các

mô hình thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến đề tài Những cơ sở lý thuyết này giúp tác giả đề tài xây dựng được khung phân tích và mô hình nghiên cứu cho các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Trang 25

Giáo dục

Nhu cầu thành đạtNguồn vốn

Sự đam mê

Thái độ

Ý định khởi nghiệp

Hỗ trợ khởi nghiệp

CHƯƠNG 3

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU

3.1.1 Mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết về khởi nghiệp và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên của các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Biến phụ thuộc của mô hình là ý định khởi nghiệp của sinh viên, các nhân tố độc lập bao gồm giáo dục, thái độ, sự đam mê, nguồn vốn, nhu cầu thành đạt và hỗ trợ khởi nghiệp

Sơ đồ 3.1 : Mô hình nghiên cứu

Nguồn: Theo đề xuất của tác giả, 2016

Trang 26

3.1.2 Giả thiết nghiên cứu

Giả thuyết H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa nhân tố giáo dục đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Giả thuyết H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa nhân tố thái độ đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Giả thuyết H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa nhân tố sự đam mê đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Giả thuyết H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa nhân tố nguồn vốn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Giả thuyết H5: Có mối quan hệ cùng chiều giữa nhân tố nhu cầu thành đạt đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Giả thuyết H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa nhân tố hỗ trợ khởi nghiệp đến

ý định khởi nghiệp của sinh viên

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Nghiên cứu sơ bộ

Phần nghiên cứu sơ bộ này mục đích tác giả đưa ra và thảo luận nhằm khai thác các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Dựa trên các nghiên cứu có liên quan, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố Sau đó tác giả tiến hành phỏng vấn chuyên gia, những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và chuyên gia về khởi nghiệp Qua đó, cũng thảo luận với các chuyên gia về bảng câu hỏi phỏng vấn Tiến hành phỏng vấn thử 15 sinh viên để hoàn thiện bảng câu hỏi Sau đó tiến hành nghiên cứu chính thức

3.2.2 Nghiên cứu chính thức

3.2.2.1 Cách chọn mẫu

Theo Nguyễn Đình Thọ (2011, tr499), cỡ mẫu tối thiểu là n > 50 + 8*p với p là

số biến độc lập Vậy cỡ mẫu tối thiểu là n > 8*6 + 50 <=> n > 98 Trong nghiên cứu này tác giả chọn cỡ mẫu nghiên cứu là 300 sinh viên Hiện tại trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 05 trường Cao đẳng và 01 trường Đại học, tác giả chọn mỗi trường 50 sinh viên để phỏng vấn

Nguồn dữ liệu của luận văn: Sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

Trang 27

Dữ liệu sơ cấp: chọn mẫu theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, bằng cách phỏng vấn trực tiếp sinh viên tại các trường Cao đẳng, Đại học trong tỉnh Tiến hàng sàng lọc dữ liệu để được dữ liệu chính thức

Dữ liệu thứ cấp: Sử dụng dữ liệu của các nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố (số liệu từ luận văn thạc sĩ trong nước, từ tạp chí nước ngoài, tạp chí trong nước), từ các nghiên cứu này tác giả rút ra được những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

3.2.2.2 Xây dựng thang đo

Trên cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng và các nghiên cứu liên quan Tác giả xây dựng thang đo ý định khởi nghiệp của sinh viên Thang đo được thiết kế theo thang đo Likert như sau:

1 Sinh viên rất không đồng ý

2 Sinh viên không đồng ý

3 Sinh viên trung hòa

cộng sự (2016) GD3

Trường tôi thường tổ chức những hoạt động định hướng về khởi nghiệp cho sinh viên (các hội thảo khởi nghiệp, cuộc thi khởi nghiệp)

Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016)

GD4 Nhà trường phát triển kĩ năng và khả năng kinh doanh của tôi Nguyễn Quốc Nghi và

cộng sự (2016)

TD1 Tôi rất hứng thú với việc khởi nghiệp Nguyễn Quốc Nghi và

cộng sự (2016)

Trang 28

TD2 Tôi rất hài lòng nếu trở thành chủ của một

NV3 Tôi có thể huy động vốn từ những nguồn vốn khác (ngân hàng, quỹ tín dụng,…) Nguyễn Thị Yến và

cộng sự (2011)

NCTD1 Tôi thích đặt ra cho mình các mục tiêu cao Nguyễn Thị Yến và

cộng sự (2011)

NCTD2 Khi làm một việc gì đó tôi không chỉ hoàn

thành công việc mà phải hoàn thành tốt

Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011) NCTD3 Tôi muôn đứng tên một thương hiệu lớn Phỏng vấn chuyên gia

HTKN HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP

HTKN1 Các thành viên trong gia đình sẽ ủng hộ tôi Phỏng vấn chuyên gia

Trang 29

nếu tôi quyết định khởi nghiệp

HTKN2 Bạn bè sẽ ủng hộ tôi nếu tôi quyết định khởi

nghiệp

Phỏng vấn chuyên gia

HTKN3 Những người quan trọng khác sẽ ủng hộ tôi

nếu tôi quyết định khởi nghiệp

Phỏng vấn chuyên gia

HTKN4 Nhà nước có chính sách hỗ trợ khởi nghiệp Phỏng vấn chuyên gia

YDKN1 Tôi quyết định sẽ tạo ra một công ty trong

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

3.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo

Việc đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị của thang đo được thực hiện bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploring Factor Analysis) thông qua phần mềm xử lý SPSS 16.0 để sàng lọc, loại bỏ các biến quan sát không đáp ứng tiêu chuẩn độ tin cậy Trong đó:

Cronbach’s Alpha là phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ (khả năng giải thích cho một khái niệm nghiên cứu) của tập hợp các biến quan sát thông qua hệ

số Cronbach’s Alpha Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008, tr.257, 258) cùng nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng khi hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị từ 0.6 trở lên là sử dụng được Về mặt lý thyết, Cronbach’s Alpha càng cao thì càng tốt (thang đo càng có độ tin cậy cao) Tuy nhiên, nếu Cronbach’s Alpha quá lớn (0.95) thì xuất hiện hiện tượng trùng lắp (đa cộng tuyến) trong đo lường, nghĩa là nhiều biến trong thang đo không có khác biệt gì nhau (Nguyễn Đình Thọ, 2011, tr.350 - 351)

Tuy nhiên, bên cạnh hệ số Cronbach’s Alpha, người ta còn sử dụng hệ số tương quan biến tổng (Iterm - Total correlation), do hệ số Cronbach’s Alpha không cho biết

Trang 30

biến nào nên loại bỏ và biến nào nên giữ lại; theo đó những biến nào có tương quan biến tổng < 0.3 sẽ bị loại bỏ (Nguyễn Đình Thọ, 2011)

3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA

Phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng phổ biến để đánh giá giá trị thang đo (tính đơn hướng, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt) hay rút gọn một tập biến Trong nghiên cứu này, phân tích nhân tố được ứng dụng để tóm tắt tập các biến quan sát vào một số nhân tố nhất định đo lường các thuộc tính của các khái niệm nghiên cứu Tiêu chuẩn áp dụng và chọn biến đối với phân tích nhân tố khám phá EFA bao gồm:

Tiêu chuẩn Bartlett và hệ số KMO (Kaiser - Mayer - Olkin) dùng để đánh giá

sự thích hợp của EFA Theo đó, giả thuyết H0 (các biến không có tương quan với nhau trong tổng thể) bị bác bỏ và do đó EFA được gọi là thích hợp khi: 0.5 ≤ KMO ≤ 1 và Sig < 0.05 Trường hợp KMO < 0.5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với dữ liệu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008, tr.262)

Tiêu chuẩn rút trích nhân tố gồm chỉ số Engenvalue (đại diện cho lượng biến thiên được giải thích bởi các nhân tố) và chỉ số Cummulative (tổng phương sai trích cho biết phân tích nhân tố giải thích được bao nhiêu % và bao nhiêu % bị thất thoát) Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), các nhân tố có Engenvalue < 1 sẽ không có tác dụng tóm tắt thông tin tốt hơn biến gốc (biến tiềm ẩn trong các thang đo trước khi EFA) Vì thế, các nhân tố chỉ được rút trích tại Engenvalue > 1 và được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50% Tuy nhiên, trị số Engenvalue và phương sai trích là bao nhiêu còn phụ thuộc vào phương pháp trích và phép xoay nhân tố Theo Nguyễn Trọng Hoài (2009, tr.14), nếu sau phân tích EFA là phân tích hồi qui thì có thể sử dụng phương pháp trích Principal components với phép xoay Varimax

Tiêu chuẩn hệ số tải nhân tố (Factor loadings) biểu thị tương quan đơn giữa các biến với các nhân tố, dùng để đánh giá mức ý nghĩa của EFA Theo Hair và ctg, Factor loading > 0.3 được xem là đạt mức tối thiểu; Factor loading > 0.4 được xem là quan trọng; Factor loading > 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn Trường hợp chọn tiêu chuẩn Factor loading > 0.3 thì cỡ mẫu ít nhất phải là 350; nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì nên chọn tiêu chuẩn Factor loading > 0.55; nếu cỡ mẫu khoảng 50 thì Factor loading >

Trang 31

0.75 (Nguyễn Trọng Hoài, 2009, tr.14) Ngoài ra, trường hợp các biến có Factor loading được trích vào các nhân tố khác nhau mà chênh lệch trọng số rất nhỏ (các nhà nghiên cứu thường không chấp nhận < 0.3), tức không tạo nên sự khác biệt để đại diện cho một nhân tố, thì biến đó cũng bị loại và các biến còn lại sẽ được nhóm vào nhân tố tương ứng đã được rút trích trên ma trận mẫu (Pattern Matrix)

3.3.3 Phân tích hồi qui tuyến tính bội

Quá trình phân tích hồi qui tuyến tính được thực hiện qua các bước:

Bước 1: Kiểm tra tương quan giữa các biến độc lập với nhau và với biến phụ

thuộc thông qua ma trận hệ số tương quan Theo đó, điều kiện để phân tích hồi qui là phải có tương quan giữa các biến độc lập với nhau và độc lập với biến phụ thuộc Tuy nhiên, nếu hệ số tương quan > 0.85 thì cần xem xét vai trò của các biến độc lập, vì có thể xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (một biến độc lập này có được giải thích bằng một biến khác)

Bước 2: Xây dựng và kiểm định mô hình hồi qui

Y = β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + + βkXk

Được thực hiện thông qua các thủ tục:

Lựa chọn các biến đưa vào mô hình hồi qui, sử dụng phương pháp Enter - SPSS 16.0 xử lý tất cả các biến đưa vào cùng một lượt

Đánh giá độ phù hợp của mô hình bằng hệ số xác định R2 (R Square) Tuy nhiên, R2 có đặc điểm càng tăng khi đưa thêm các biến độc lập vào mô hình, mặc dù không phải mô hình càng có nhiều biến độc lập thì càng phù hợp với tập dữ liệu Vì thế, R2 điều chỉnh (Adjusted R Square) có đặc điểm không phụ thuộc vào số lượng biến đưa thêm vào mô hình được sử dụng thay thế R2 để đánh giá mức độ phù hợp của

mô hình hồi qui bội

Kiểm định độ phù hợp của mô hình để lựa chọn mô hình tối ưu bằng cách sử dụng phương pháp phân tích ANOVA để kiểm định giả thuyết H0: (không có mối quan

hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc với tập hợp các biến độc lập β1=β2=β3=βK= 0)

Nếu trị thống kê F có Sig rất nhỏ (< 0.05), thì giả thuyết H0 bị bác bỏ, khi đó chúng ta kết luận tập hợp của các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích cho sự biến thiên của biến phụ thuộc Nghĩa là mô hình được xây dựng phù hợp với tập dữ liệu, vì thế có thể sử dụng được

Trang 32

Xác định các hệ số của phương trình hồi qui, đó là các hệ số hồi qui riêng phần

βk đo lường sự thay đổi trung bình của biến phụ thuộc khi biến độc lập Xk thay đổi một đơn vị, trong khi các biến độc lập khác được giữ nguyên Tuy nhiên, độ lớn của βk phụ thuộc vào đơn vị đo lường của các biến độc lập, vì thế việc so sánh trực tiếp chúng với nhau là không có ý nghĩa Do đó, để có thể so sánh các hệ số hồi qui với nhau từ đó xác định tầm quan trọng (mức độ giải thích) của các biến độc lập cho biến phụ thuộc, người ta biểu diễn số đo của tất cả các biến độc lập bằng đơn vị đo lường độ lệnh chuẩn beta

Bước 3: Kiểm tra vi phạm các giả định hồi qui

Mô hình hồi qui được xem là phù hợp với tổng thể nghiên cứu khi không vi phạm các giả định Vì thế, sau khi xây dựng được phương trình hồi qui, cần phải kiểm tra các vi phạm giả định cần thiết sau đây:

Có liên hệ tuyến tính gữa các biến độc lập với biến phụ thuộc

Phần dư của biến phụ thuộc có phân phối chuẩn

Phương sai của sai số không đổi

Không có tương quan giữa các phần dư (tính độc lập của các sai số)

Không có tương quan giữa các biến độc lập (không có hiện tượng đa cộng tuyến)

Trong đó:

Công cụ để kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính là đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa (Scatter) biểu thị tương quan giữa giá trị phần dư chuẩn hóa (Standardized Residual) và giá trị dự đoán chuẩn hóa (Standardized Pridicted Value)

Công cụ để kiểm tra giả định phần dư có phân phối chuẩn là đồ thị tần số Histogram, hoặc đồ thị tần số P-P plot

Công cụ để kiểm tra giả định sai số của biến phụ thuộc có phương sai không đổi

là đồ thị phân tán của phần dư và giá trị dự đoán hoặc kiểm định Spearman’s rho

Công cụ được sử dụng để kiểm tra giả định không có tương quan giữa các phần

dư là đại lượng thống kê D (Durbin - Watson), hoặc đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa (Scatter)

Công cụ được sử dụng để phát hiện tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến là độ chấp nhận của biến (Tolerance) hoặc hệ số phóng đại phương sai (Variance inflation factor -

Trang 33

VIF) Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008, tr.217 - 218), quy tắc chung là VIF > 10 là dấu hiệu đa cộng tuyến; trong khi đó, theo Nguyễn Đình Thọ (2011, tr.497), khi VIF > 2 cần phải cẩn trọng hiện tượng đa cộng tuyến

Phân tích phương sai (ANOVA) được sử dụng trong trường hợp các yếu tố nhân khẩu học có ba thuộc tính trở lên, vì thế chia tổng thể mẫu nghiên cứu làm ba nhóm tổng thể riêng biệt trở lên (chẳng hạn, thời gian sử dụng dịch vụ của khách hàng, bao gồm: dưới 1 năm, từ 1 - 3 năm, trên 3 năm) Điều kiện để thực hiện ANOVA là các nhóm so sánh phải độc lập và được chọn một cách ngẫu nhiên; các nhóm so sánh phải có phân phối chuẩn hoặc cỡ mẫu đủ lớn để tiệm cận với phân phối chuẩn; phương sai của các nhóm so sánh phải đồng nhất

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Chương 3 trình bày mô hình và phương pháp nghiên cứu Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố độc lập gồm giáo dục, thái độ, sự đam mê, nguồn vốn, nhu cầu thành đạt và hỗ trợ khởi nghiệp đều ảnh hưởng cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên Mẫu nghiên cứu được chọn từ 300 sinh viên đang học tập tại các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Xây dựng thang đo cho các nhân tố và đề xuất phương pháp phân tích dữ liệu

Trang 34

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Kiên Giang thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 6.348,53 km2, bằng 1,9% diện tích cả nước Phía Đông Bắc giáp tỉnh An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang; phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan; phía Bắc giáp Campuchia có đường biên giới dài 56,8km, với hơn 200 km bờ biển và 105 hòn đảo nổi lớn nhỏ

Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Kiên Giang

Nguồn: Văn phòng UBND Tỉnh Kiên Giang

Dân số năm 2015 là 1.762.281 người, trong đó dân tộc chủ yếu là người Kinh, Khmer và Hoa Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và ở một số đảo lớn Tỉnh Kiên Giang có số lượng lao động dồi dào với lực lượng trong độ tuổi lao động trên 1,2 triệu người Cơ cấu lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51,37%; khu vực công nghiệp

và xây dựng chiếm 13,19%; khu vực dịch vụ chiếm 35,44% Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 52%, trong đó đào tạo nghề đạt 43%

Trang 35

Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên

và 13 huyện (Kiên Lương, Giang Thành, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Phú Quốc và Kiên Hải) có địa hình tương đối bằng phẳng, được phân chia thành 4 tiểu vùng: Tiểu vùng

Tứ giác Long Xuyên, Tiểu vùng Tây sông Hậu, Tiểu vùng U Minh Thượng, Tiểu vùng biển đảo

Nhìn chung Kiên Giang có lợi thế mạnh về nông nghiệp, du lịch, có tiềm năng

về đất, rừng rất thích hợp để trồng trọt và chăn nuôi Về sản xuất công nghiệp có nguồn tài nguyên đá vôi dồi dào Thủy sản là một trong những thế mạnh của tỉnh, nguồn lợi biển đa dạng, phong phú có ngư trường khai thác rộng lớn; diện tích mặt nước, kênh rạch, ao hồ lớn thích hợp cho các loại cá nước ngọt sinh sống, cũng là một nguồn tài nguyên thủy sản nội địa hết sức phong phú Mặt khác là một tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh là cơ hội để phát triển ngành du lịch

Lĩnh vực nông – lâm – thủy sản duy trì mức tăng trưởng khá, bình quân 5,75%/năm và giữ vai trò quyết định đối với tốc độ tăng trưởng của tỉnh Sản lượng lương thực năm 2015 đạt 4,65 triệu tấn, trong đó lúa chất lượng cao chiếm 70% Đã hình thành một số vùng nuôi tôm công nghiệp tập trung, nuôi tôm - lúa, nuôi cá ven các đảo…có hiệu quả Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 674.845 tấn

Lĩnh vực công nghiệp – xây dựng phát triển khá, tăng bình quân 11,30%/năm Tạo điều kiện phát triển các nhà máy chế biến thủy sản gắn với vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực chế biến công nghiệp Triển khai xây dụng kết cấu hạ tầng, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư, đã thu hút được nhiều dự án vào khu công nghiệp Thạnh Lộc – Châu Thành, cụm công nghiệp Vĩnh Hòa Hưng Nam – Gò Quao…

Các ngành dịch vụ tăng trưởng khá, bình quân tăng 14,91%/năm Hoạt động thương mại đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Đẩy mạnh đầu

Trang 36

tư phát triển du lịch, nhất là đối với đảo Phú Quốc thu hút lượng khách lưu trú bình quân tăng 17,79%/năm, doanh thu tăng bình quân 27%/năm

Kinh tế biển có bước phát triển khá toàn diện, góp phần quan trọng vào kinh tế của tỉnh, tốc độ tăng trưởng đạt 11,4%/năm, tỷ trọng kinh tế biển chiếm 75,6% GDP của tỉnh

Các công trình trọng điểm đã được đầu tư hoàn thành và đưa vào sử dụng như: Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc; đường tránh thành phố Rạch Giá; cầu sông Cái Lớn, Cái Bé, cầu 3/2, cầu Rạch Sỏi và cầu An Hòa; điện lưới được kéo ra Phú Quốc và Hòn Tre; nâng cấp mở rộng quốc lộ 61; đưa vào sử dụng một số cảng biển, cảng cá, khu neo đậu tránh bảo như: Lình Huỳnh, Hòn Tre, Thổ Châu, An Thới, Xẻo Nhàu

Việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước đạt được kết quả tích cực Đã thu hút

621 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 216.000 tỷ đồng; đã có 261 dự án đi vào hoạt động với số vốn đầu tư 28.360 tỷ đồng Nhiều dự án lớn đã triển khai đầu tư và hoàn thành đưa vào khai thác như: dự án khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp Vipearl (Phú Quốc), một số nhà máy chế biến thủy sản ở huyện Kiên Lương, Tắc Cậu - Châu Thành, khu công nghiệp Thạnh Lộc …

Tuy nhiên, kinh tế của tỉnh còn nhiều khó khăn, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh; tăng trưởng kinh tế chậm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt mục tiêu; một số chỉ tiêu quan trọng như nuôi tôm công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu, xây dựng nông thôn mới, huy động vốn đầu tư … đạt thấp Đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn; chất lượng nguồn nhân lực chuyển biến chưa nhiều; hạn chế, yếu kém ở lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường chậm khắc phục (Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X)

4.1.3 Thực trạng giáo dục đào tạo của tỉnh Kiên Giang

Trong giai đoạn 2011 - 2015, tỉnh Kiên Giang không ngừng đầu tư xây mới, nâng cấp các trường học, cơ sở đào tạo, dạy nghề Toàn tỉnh hiện có 694 cơ sở giáo dục và đào tạo, tăng 20 cơ sở so với năm 2010, trong đó có: 136 trường mầm non, 514 trường phổ thông, 5 trường cao đẳng, 4 trường trung cấp nghề, 4 trường nghiệp vụ , 15 trung tâm bồi dưỡng chính trị, 14 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trường chính trị tỉnh

và 1 trường Đại học Kiên Giang Các cơ sở giáo dục và đào tạo đã góp phần đáp ứng

Trang 37

nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động nâng cao trình độ, tay nghề, góp phần giải quyết việc làm trên địa bàn toàn tỉnh

Tỷ lệ người dân biết đọc biết viết so với dân số đạt 95,21% tăng 1% so với năm 2010; người dân trong độ tuổi học hết tiểu học so với dân số đạt 99,7% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông bình quân hàng năm trong giai đoạn 2011-2015 là 98,95%, tăng 25% so giai đoạn trước và tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào đại học, cao đẳng là 37,66%

Về đào tạo đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý ngành Giáo dục và Đào tạo, được các cấp quan tâm Toàn ngành hiện có 23.568 người (ngoài công lập là 303 người trong đó cán bộ quản lý: 1.494 người; giáo viên: 18.488 và nhân viên là 3.586 người; so với năm học 2010-2011, tăng 2.026 người (cán bộ quản lý 217, giáo viên 1.263, nhân viên 546) Tỷ lệ cán bộ, giáo viên trẻ được đào tạo chính quy, đào tạo đạt chuẩn, trên chuẩn ngày càng tăng, bình quân mỗi năm tăng hơn 500 cán bộ, giáo viên các cấp, hiện có trên 99% cán bộ, giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, trong đó có 03

tiến sĩ , 214 thạc sĩ, 71 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú Nhìn

chung, đội ngũ giáo viên ngày càng lớn mạnh, số lượng đào tạo chính quy ngày càng nhiều, cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy theo quy định Hầu hết giáo viên, cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, tinh thần trách nhiệm cao, tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, và có chí phấn đấu vươn lên

Về công tác đào tạo nghề: Trong những năm qua, công tác đào tạo nghề có chuyển biến tích cực Đảng bộ và chính quyền các cấp trong tỉnh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dư ng phát triển nguồn nhân lực của tỉnh, kịp thời ban hành các chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật; dành hiều ngân sách cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần qua các năm Năm 2015, tỷ lệ lao động được qua đào tạo chung của tỉnh đạt 52%, trong

đó đào tạo nghề đạt 43%, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung, đào tạo nghề đạt mục tiêu quy hoạch đề ra Mạng lưới dạy nghề trong tỉnh được mở rộng theo hướng huy động tối đa cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn vốn, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề được thành lập đã tập trung đào tạo cho các vùng kinh tế và đào tạo nghề cho lao động nông thôn của tỉnh Cùng với việc thực hiện

Ngày đăng: 03/04/2018, 22:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm