Việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Sơn La nhằm đề ra các biện pháp quản lý phù hợp
Trang 1Trước những yêu cầu đổi mới của sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa với chủ trương đa phương hóa trong quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, ngoại ngữ càng trở nên cần thiết Ngoại ngữ có nhiệm vụ góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối, phương châm giáo dục của Đảng, vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường phổ thông Trong Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020" của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ mục tiêu: Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [29]
Đổi mới công tác quản lý trong HĐDH nói chung và quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ nói riêng là yếu tố quan trọng, mang tính chủ động của ngành GD-ĐT trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Nói đến nhà trường là nói đến dạy và học Quản lý nhà trường thực tế là quản lý hoạt động dạy và học Đó là hoạt động chủ đạo, là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường Trước yêu cầu của đổi
Trang 2- 2 -
mới GD phổ thông, việc nâng cao chất lượng GD là yêu cầu cấp thiết mang tính chiến lược, trong đó việc đổi mới công tác quản lý hoạt động dạy của người thầy giáo giữ vai trò quan trọng, mang tính chủ đạo của ngành giáo dục, khởi nguồn cho sự chuyển biến chất lượng GD – ĐT
Tuy nhiên, xét từ nhu cầu phát triển của đất nước và đặt việc dạy học ngoại ngữ trong bối cảnh phát triển chung của thế giới và khu vực, chúng ta cũng đã nhận thấy việc quản lý hoạt động dạy và học ngoại ngữ vẫn còn nhiều bất cập, rất lúng túng, hiệu quả thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra Việc dạy và học còn mang nặng tính hình thức, bệnh thành tích Giảng viên ít sử dụng các phương tiện dạy học khi lên lớp, khả năng tiếp cận với công nghệ thông tin phục vụ cho bài giảng còn hạn chế Sinh viên, đặc biệt là những em
ở vùng xa, dân tộc thiểu số thường cảm thấy xấu hổ, không tự tin khi được yêu cầu nói bằng ngoại ngữ trước các bạn trong lớp
Việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Sơn
La nhằm đề ra các biện pháp quản lý phù hợp là việc làm cần thiết và có ý
nghĩa thực tế Vì vậy, đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Sơn La” được lựa chọn và tiến hành nghiên cứu, với mong muốn đóng góp
thiết thực vào sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục ở tỉnh Sơn La nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý dạy học ngoại ngữ,
đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý HĐDH ngoại ngữ ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Sơn La
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 3- 3 -
Hoạt động quản lý dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường
CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường
CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
4 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về khách thể khảo sát:
- Trưởng, phó bộ môn trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL
- GV ngoại ngữ trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL
- HSSV trường CĐSL, trường ĐHTB, trường CĐYTSL
5 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường CĐ,
ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La hiện nay đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp thì hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Sơn La sẽ được nâng cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về dạy học ngoại ngữ và quản
lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở trường CĐ, ĐH
6.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
6.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp các tài liệu về lý luận có liên quan đến quản lý dạy học ngoại ngữ
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 4- 4 -
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng các mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia về các biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn
ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La; kiểm chứng tính cần thiết, khả thi của các biện pháp một cách khách quan nhằm tránh những sai sót trong quá trình nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi ý kiến với các cán bộ quản lý,
các GV có kinh nghiệm trong dạy học ngoại ngữ về các biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và
tính khả thi của biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ được đề xuất
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết, đánh giá thực trạng
dạy học và quản lý việc dạy học ngoại ngữ của tổ bộ môn
7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Dùng một số công thức toán học để xử lý số liệu thu được trước khi rút
ra kết luận định tính
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận – khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở trường cao đẳng, đại học
Chương 2: Thực trạng biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng
bộ môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDH ngoại ngữ của TBM ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
Trang 5- 5 -
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ
CỦA TRƯỞNG BỘ MÔN Ở ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng dạy học và hiệu quả đào tạo là vấn đề quan trọng, rất cần được sự quan tâm Về vấn đề này các nhà nghiên cứu ở các vị trí, góc độ khác nhau đã tìm ra nhiều các biện pháp quản lý dạy học hiệu quả phù hợp với từng điều kiện cụ thể
Có nhiều công trình nghiên cứu được viết dưới dạng bài báo, sách tham
khảo, giáo trình Phạm Phương Luyện - Hoàng Xuân Hoà (1999) với "Bồi
dưỡng phương pháp giảng dạy Tiếng Anh", Nhà xuất bản giáo dục Đỗ Thị
Châu (2001) với "Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên ngoại ngữ trong sự
nghiệp CNH – HĐH" đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia Đại học
ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội Bùi Hiền (1999) với "Phương pháp hiện đại dạy
- học ngoại ngữ", NXB Đại học quốc gia, Hà Nội
Và một số đề tài nghiên cứu về quản lý HĐDH, quản lý HĐDH ngoại ngữ như:
- Đề tài "Biện pháp tăng cường quản lý HĐDH ở trường THPT chuyên Nguyễn Huệ tỉnh Hà Tây" của tác giả Nguyễn Thị Hảo
- Đề tài "Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ tiếng Anh cho GV Quốc phòng" của tác giả Võ Minh Thuý, luận văn thạc sỹ
Khoa học Giáo dục, năm 2008
- Đề tài "Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh tại trường ĐH Điện lực" của tác giả Trần Thị Bích Hải, luận văn thạc sỹ Khoa
học Giáo dục, năm 2008
Trang 6- 6 -
- Đề tài "Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học tiếng Anh chuyên ngành ở trường ĐH Lao động - Xã hội" của tác giả Trương Thị Tuyết Hạnh,
luận văn thạc sỹ Khoa học Giáo dục, năm 2008
- Đề tài "Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh tại trường CĐ kinh tế kỹ thuật công nghiệp I" của tác giả Lê Ngọc Hạnh, luận
văn thạc sỹ Khoa học Giáo dục, năm 2007
- Đề tài "Các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn tiếng Anh cho
SV hệ chính quy ở Học viện Hành chính Quốc gia" của tác giả Trương Thị
Thu Thuỷ, luận văn thạc sỹ Khoa học Giáo dục, năm 2008
Các đề tài trên nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ ở một số trường học, cơ sở giáo dục đào tạo nhưng chúng tôi nhận thấy rằng nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường ĐH, CĐ trên địa bàn các tỉnh miền núi, đặc biệt là tỉnh Sơn La thì chưa được nghiên cứu sâu, vẫn còn nhiều vấn
đề cần tiếp tục được nghiên cứu Chúng tôi mong muốn từ thực trạng tình hình hoạt động dạy và học ngoại ngữ; thực trạng quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
để tìm ra được các biện pháp cụ thể, phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học ngoại ngữ, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương
1.2 Hoạt động dạy học ngoại ngữ trong trường CĐ, ĐH
1.2.1 Hoạt động dạy học
Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân
HĐDH là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Do đó nó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp cho học sinh lĩnh hội tri thức của loài người
Trang 7- 7 -
HĐDH làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống Hoạt động này làm cho phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở người học thế giới quan khoa học, lòng yêu quê hương đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh
HĐDH được thực hiện thông qua các thành tố: mục tiêu dạy học; nội dung dạy học; PPGD; phương tiện dạy học; hình thức tổ chức dạy học; kết quả dạy học
HĐDH luôn bị chi phối bởi các yếu tố môi trường Các thành tố cấu trúc của HĐDH quan hệ tương tác lẫn nhau, bổ sung, phối hợp với nhau trong tác động của môi trường tự nhiên và xã hội Việc tác động tốt vào mối quan
hệ đó là cơ sở và điều kiện để làm tăng hiệu quả của HĐDH, nâng cao chất lượng giáo dục Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của HĐDH được phản ánh trong quá trình dạy học, với vai trò điều khiển của thầy và tự điều khiển của trò
Có thể nói HĐDH trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường
1.2.2 Hoạt động dạy học ngoại ngữ
Dạy học NN góp phần hình thành những phẩm chất đạo đức cho người học, góp phần nâng cao trình độ văn hóa cho người học Ngoài ra nó còn trang bị cho người học một công cụ giao tiếp mới, mà công cụ giao tiếp là bản chất của bất kỳ một ngôn ngữ nào Tuy nhiên lúc bắt đầu học NN, khi NN chưa là công cụ giao tiếp của người học, thì quan hệ giữa trình độ NN, trình
độ tư duy, trình độ văn hóa của người học chưa được xác lập Khi mối quan
hệ này được xác lập thì NN luôn ở mức khởi đầu, còn trình độ tư duy và hiểu
Trang 8- 8 -
biết văn hoá của người học luôn tương ứng với trình độ học vấn khi bắt đầu học NN Do vậy, trình độ NN, trình độ tư duy và văn hoá thường có một khoảng cách Khoảng cách này mất đi khi người học có thể tư duy trực tiếp bằng tiếng nước ngoài và khi NN thực sự trở thành công cụ giao tiếp, tức là
NN có thể được dùng làm trao đổi thông tin một cách trực tiếp, tự nhiên như tiếng mẹ đẻ của người sử dụng nó Chính vì thế, mà nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng của việc dạy học NN là nhanh chóng rút ngắn và xoá hẳn khoảng cách đấy
Dạy học NN là một hoạt động truyền thụ và lĩnh hội một thứ tiếng nước ngoài một cách có mục đích, chương trình, nội dung, phương pháp, kế hoạch Biện pháp tổ chức rõ ràng nhằm hình thành ở người học khả năng hiểu biết, thu nhận tái tạo và sử dụng ngôn ngữ được học, mục tiêu đã định
Kỹ năng sử dụng NN được chia thành: kỹ năng thu nhận (bao gồm: nghe, đọc) và kỹ năng tái tạo (bao gồm: nói, viết)
1.2.3 Đặc trưng của hoạt động dạy học NN ở trường CĐ, ĐH
Quá trình dạy học, về bản chất là quá trình nhận thức độc đáo của SV được tiến hành dưới vai trò tổ chức, điều khiển của GV nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở ĐH Dạy học ở ĐH có đặc điểm khác biệt so với dạy học ở bậc phổ thông là: Dạy học ở ĐH là dạy cách học, cách tự học, phát triển năng lực nghiên cứu, năng lực QL, năng lực lãnh đạo cho SV
Dạy học NN ngày nay được thực hiện theo xu hướng: Dạy học bằng giao tiếp với 5 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và tư duy bằng chính NN đang học Mục tiêu dạy học NN ở các trường CĐ - ĐH là hình thành, bổ sung và phát triển ở SV những kiến thức, kỹ năng cơ bản về NN được học, góp phần phát triển trí tuệ cần thiết để có thể tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động Phương pháp dạy học NN ở trình độ CĐ, ĐH là bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu Sau khi hoàn thành chương trình, SV phải sử dụng NN được học thể hiện bằng việc nghe, nói,
Trang 9- 9 -
đọc và viết các tài liệu chuyên ngành, giao tiếp thông thường, góp phần hỗ trợ cho việc học tập, nghiên cứu sau này
1.2.4 Bản chất và mục đích của quá trình dạy học ngoại ngữ
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập
và phát triển thì NN là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu Để hoà nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực sự trong thế giới ngày nay, chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc dạy và học NN trong nhà trường
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ
đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học NN trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta nhằm phục vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 43/TTg về phương hướng và nhiệm vụ dạy và học NN ở các trường ĐH, trung học chuyên nghiệp và các trường phổ thông
Ngày 7 tháng 9 năm 1972, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số TTg về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy học NN trong các trường phổ thông
251-Điều 40 luật giáo dục (2005) cũng khẳng định vị trí quan trọng của NN trong nội dung học vấn CĐ và ĐH
Tháng 9/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Dự thảo “Đề án giảng dạy, học tập NN trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015”
Ngoại ngữ là một môn học trong chương trình giảng dạy ở trường ĐH Việt Nam SV các trường ĐH đều phải học một NN (không tính các trường chuyên ngữ) hiện tại hầu hết các trường đều dạy tiếng Anh Việc phát triển
Trang 101.3 Quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường CĐ, ĐH
1.3.1 Quản lý
Quản lý là nhân tố cơ bản, quyết định sự tồn tại, phát triển hay diệt vong của một tổ chức Trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH đều có hoạt động QL, như QL kinh tế, QL giáo dục, QL văn hoá Tuy mỗi lĩnh vực đều có những nét đặc thù riêng song chúng đều có những điểm chung nhất về bản chất của hoạt động QL Hoạt động QL luôn luôn góp phần quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả của từng tổ chức, từng con người trong một hệ thống nhất định QL là một nhân tố tất yếu của sự phát triển Nó vừa là
hệ quả, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển XH
Theo Đặng Quốc Bảo [4] thì trong thời đại KH&CN ngày nay, việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu KH&CN mới vào thực tiễn QL là xu hướng của QL hiện đại, nên QL còn được xem là công nghệ, công nghệ điều hành, phối hợp, sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) và thông tin của một tổ chức để đưa tổ chức đạt tới mục tiêu
Quản lý là một thuộc tính lịch sử của mọi quá trình lao động Nó là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, C.Mác đã nói: "Bất cứ lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân
Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát
Trang 11- 11 -
sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần
phải có một nhạc trưởng" [26;19]
Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu về quản lý:
Theo Afanaxev: "Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy
sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân" [1;27]
Harold Koontz, Cyril Odonnell và Hei Weihrich cho rằng: "Quản lý là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất mà đạt được kết quả cao nhất" [17;33]
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: "Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội" [11;55 ]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: Quản lý trường học có thể là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến [21]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định" [29;5]
Trang 12- 12 -
Có nhiều cách hiểu từ nhiều góc độ khoa học khác nhau nhưng có thể
nói: Quản lý là hệ thống tác động có chủ định, phù hợp qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và vận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động
Sơ đồ 1.1 Hoạt động quản lý [26;8]
Bốn chức năng cơ bản của QL là:
Chức năng hoạch định: Vạch ra mục tiêu cho bộ máy; xác định các
bước đi để đạt mục tiêu; xác định các nguồn lực và các biện pháp để đạt tới mục tiêu
Chức năng tổ chức:
- Tổ chức bộ máy: Sắp xếp bộ máy đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu
và các nhiệm vụ đảm nhận
- Tổ chức công việc: Sắp xếp công việc hợp lý, phân công phân nhiệm
rõ ràng để mọi người hướng vào mục tiêu chung
Chức năng điều hành (chỉ đạo): Tác động đến con người bằng các
mệnh lệnh, làm cho người dưới quyền phục tùng và làm đúng với kế hoạch,
Trang 13- 13 -
đúng với nhiệm vụ được phân công Tạo động lực để con người tích cực hoạt động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng kể cả trách phạt
Chức năng kiểm tra: Là thu thập thông tin ngược để kiểm soát hoạt
động của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời các sai sót, lệch lạc để bộ máy đạt được mục tiêu.[31]
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy học
1.3.2.1 Quản lý hoạt động dạy học
Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào hoạt động trung tâm đó Vì vậy, trọng tâm của việc quản lý trường học là quản lý HĐDH và giáo dục Đó chính là quản lý hoạt động lao động sư phạm của người thầy, hoạt động học tập rèn luyện của học sinh mà nó diễn ra chủ yếu trong HĐDH
Quản lý HĐDH là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: mục đích và nhiệm vụ DH, nội dung DH, phương pháp và phương tiện DH, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập, kết quả dạy học
Quản lý HĐDH là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Cụ thể hoá mục tiêu dạy học qua các nhiệm vụ dạy học nhằm nâng cấp tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thành, phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho người học
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung dạy học Nội dung dạy học phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học
- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV (biên soạn giáo trình, xây dựng
đề cương chi tiết, chuẩn bị đồ dùng dạy học, lên lớp, giúp đỡ kiểm tra SV học tập)
- Quản lý hoạt động học tập của SV (nề nếp, thái độ, kết quả học tập)
Trang 14Để tồn tại con người phải lao động, khi xã hội ngày càng phát triển thì
xu hướng lệ thuộc lẫn nhau trong cuộc sống và lao động cũng phát triển theo
Vì vậy, con người có nhu cầu lao động tập thể, hình thành nên cộng đồng và
xã hội Trong quá trình hoạt động của mình, để đạt được những mục tiêu, cá nhân phải có biện pháp như là dự kiến kế hoạch, sắp xếp tiến trình, tiến hành
và tác động lên các đối tượng bằng cách nào đó theo khả năng của mình Hay nói cách khác, đây chính là các biện pháp quản lý giúp con người đạt được mục tiêu đã định Trong quá trình lao động tập thể lại càng không thể thiếu được các biện pháp quản lý, chẳng hạn như: xây dựng kế họach hoạt động, sự phân công điều hành chung, sự hợp tác và tổ chức công việc, các tư liệu lao động
Có nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp quản lý, theo F.W Taylor:
"Biện pháp quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, đạt mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý"
* Biện pháp quản lý hoạt động dạy học
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học là các phương pháp hoặc nhóm các phương pháp của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra Các biện pháp phải làm cho sinh viên chủ động, tích cực, tự giác trong học tập và nghiên cứu, kết hợp tự học và nghiên cứu khoa học nhằm lĩnh hội và làm chủ tri thức của mình Biện pháp quản lý hoạt động dạy học cần phải cụ thể, được sử dụng linh hoạt tuỳ thuộc
Trang 15- 15 -
vào các hoàn cảnh, đối tượng khác nhau nhằm đạt được hiệu quả tối ưu trong quản lý
1.3.3 Quản lý HĐDH ngoại ngữ của TBM ở trường CĐ, ĐH
1.3.3.1 Chức năng nhiệm vụ của trưởng bộ môn ở trường CĐ, ĐH
Trưởng bộ môn do Hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm trên cơ sở thăm
dò ý kiến của các thành viên trong khoa, trong tổ bộ môn TBM là người đứng đầu tổ chuyên môn, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của trưởng khoa TBM có trách nhiệm QL trực tiếp hoạt động chuyên môn của tổ bộ môn Tiêu chuẩn của TBM là người có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức lối sống tốt, có năng lực chuyên môn cao, có khả năng trong công tác QL Hoạt động QL chuyên môn của TBM trong các trường CĐ, ĐH là tác động vào các đối tượng đang thực hiện nhiệm vụ chuyên môn (đội ngũ GV, SV) bằng các biện pháp cụ thể, tích cực nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao của tổ bộ môn: nội dung đào tạo, chất lượng đào tạo, chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo TBM có trách nhiệm cụ thể như sau khi thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình:
- Tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, KHGD, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo đúng chương trình chung của khoa, nhà trường
- Chỉ đạo cải tiến chương trình đào tạo hàng năm
- Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học/học phần, tài liệu giảng dạy do trưởng khoa giao
- Theo dõi và kiểm tra việc giảng dạy và học tập trên lớp của GV và SV trong tổ bộ môn theo đúng qui chế của Bộ GD & ĐT của trường và của khoa
- Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV, CBVC thuộc tổ bộ môn
- Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện việc NCKH của GV và SV trong tổ
bộ môn
Trang 16- Chịu trách nhiệm chính về học thuật trong việc cải tiến chương trình đào tạo các môn học/học phần do bộ môn quản lý
- Quản lý nhân sự bộ môn theo đúng những qui định của Luật lao động Việt Nam, qui chế tổ chức và hoạt động của trường
- Quản lý cơ sở vật chất mà bộ môn được ủy quyền quản lý
1.3.3.2 Nội dung QL HĐDH ngoại ngữ của TBM ở trường CĐ, ĐH
* Quản lý hoạt động giảng dạy ngoại ngữ của giảng viên
Trong các trường CĐ-ĐH, việc QL hoạt động dạy NN của GV được thực hiện qua hai nội dung cơ bản đó là: QL hoạt động giảng dạy trên lớp và
QL hồ sơ chuyên môn của GV Trưởng bộ môn quản lý hoạt động giảng dạy của GV bao gồm:
- Quản lý việc xây dựng đề cương chi tiết môn học
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
- Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị lên lớp của GV
- Quản lý nền nếp lên lớp giảng dạy lý thuyết và thực hành của GV
- Quản lý nhiệm vụ vận dụng và cải tiến PPGD
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV
- Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
- Quản lý hoạt động tự bồi dưỡng, NCKH của GV
* Quản lý hoạt động học ngoại ngữ của SV
Trang 17- 17 -
Hoạt động học tập của SV là hoạt động song song cùng tồn tại với hoạt động dạy của GV Quản lý hoạt động học tập của SV là QL việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghề nghiệp của SV SV có những đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán khác nhau, quá trình rèn luyện, học tập, cũng như kết quả đạt được cũng khác nhau Việc QL hoạt động học tập của
SV phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện và mang tính giáo dục cao Nội dung cơ bản của nó bao gồm:
- Chỉ đạo việc giáo dục động cơ, thái độ học tập tích cực
- Quản lý nề nếp học NN trên lớp
- Quản lý hình thành và phát triển kỹ năng học NN trên lớp
- Quản lý nền nếp tự học NN
- Quản lý hình thành và phát triển kỹ năng tự học NN
- Quản lý hoạt động NGLL hỗ trợ hoạt động học tập chính khóa
Hoạt động tự học luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập và phát triển của mỗi người, đặc biệt với SV trong quá trình đào tạo ở trường
ĐH Tự học sẽ giúp SV nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai Việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu để tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học cho SV hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực trước mắt và lâu dài, nó không chỉ giúp SV rèn luyện và nâng cao khả năng độc lập, sáng tạo trong học tập, trong cuộc sống mà còn góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền GD nước nhà, làm cho nước ta rút ngắn khoảng cách, vươn lên ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
* Quản lý CSVC trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy - học ngoại ngữ, các điều kiện đảm bảo hoạt động dạy - học ngoại ngữ
CSVC kỹ thuật phục vụ cho giảng dạy NN là điều kiện tiên quyết trong quá trình giảng dạy NN CSVC kỹ thuật đồng bộ, hiện đại và phù hợp với hình thức tổ chức và PPGD tạo điều kiện thuận lợi cho GV truyền thụ kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ cho SV, tạo cho SV sự hứng thú trong học tập, góp
Trang 18- 18 -
phần tích cực nâng cao chất lượng đào tạo Vì vậy quản lý CSVC kỹ thuật phục vụ cho dạy - học là nhiệm vụ quan trọng, không thể thiếu được trong hoạt động quản lý đào tạo và quản lý nhà trường Để tăng cường hiệu quả hoạt động dạy - học thì phải đảm bảo điều kiện về CSVC như các giảng đường với trang thiết bị đầy đủ cho việc học tiếng, tạo môi trường NN, phòng
tự học, thư viện, tài liệu, sách giáo khoa và các trang thiết bị cho SV tự học
NN như đài cát xét, đầu video, băng hình, đầu đĩa hình, các chương trình phần mềm dạy NN
Quản lý các điều kiện phục vụ, dịch vụ khác tuy không phải là nội dung trực tiếp của quản lý hoạt động dạy - học NN nhưng nó cũng có ảnh hưởng đến hoạt động dạy - học NN, điều này đòi hỏi cán bộ quản lý cần quan tâm đến
Muốn nâng cao chất lượng dạy và học nhằm đào tạo thế hệ trẻ đủ sức đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước, tiến kịp các nước tiên tiến trên thế giới đòi hỏi người cán bộ QL phải có những biện pháp QL hoạt động chuyên môn thực sự phù hợp với thực tế trường mình, đơn vị mình QL và tổ chức thực hiện các biện pháp đó một cách có hiệu quả cao
Dạy và học là hoạt động trọng tâm của nhà trường được diễn ra thường xuyên, hàng ngày Nắm vững lý luận về quản lý HĐDH nói chung và quản lý
Trang 191 Quản lý hoạt động dạy ngoại ngữ của GV
- Quản lý việc xây dựng đề cương chi tiết môn học
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
- Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị lên lớp của GV
- Quản lý nền nếp lên lớp giảng dạy lý thuyết và thực hành của GV
- Quản lý nhiệm vụ vận dụng và cải tiến PPGD
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV
- Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
- Quản lý hoạt động tự bồi dưỡng, NCKH của GV
2 Quản lý hoạt động học ngoại ngữ của SV
- Chỉ đạo việc giáo dục động cơ, thái độ học tập tích cực
- Quản lý nề nếp học NN trên lớp
- Quản lý hình thành và phát triển kỹ năng học NN trên lớp
- Quản lý nền nếp tự học NN
- Quản lý hình thành và phát triển kỹ năng tự học NN
- Quản lý hoạt động NGLL hỗ trợ hoạt động học tập chính khóa
3 Quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học ngoại ngữ
Trang 20- 20 -
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
NGOẠI NGỮ CỦA TRƯỞNG BỘ MÔN Ở CÁC TRƯỜNG CAO
ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA
2.1 Vài nét về các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh Sơn La 2.1.1 Trường đại học Tây Bắc
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ GV, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - văn hoá ở Tây Bắc; trên cơ sở Trường Sư phạm Khu thành lập năm 1956, ngày 30/6/1960 Bộ giáo dục đã ra Quyết định số 267/QĐ về việc thành lập Trường Sư phạm cấp II liên tỉnh, trong đó có Trường Sư phạm cấp
II Tây Bắc
Đến tháng 10/1972 nhà trường chính thức được Bộ giáo dục ra quyết định nâng cấp thành Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của nhà trường trong giai đoạn mới
Ngày 6/4/1981 Hội đồng chính phủ đã ra Quyết định số 146/CP nâng cấp Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc thành Trường cao đẳng Sư phạm Tây Bắc
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ cao cho các tỉnh Tây Bắc, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH, ngày 23/3/2001 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 39/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Trường ĐHTB trên cơ sở Trường cao đẳng Sư phạm Tây Bắc
Bộ máy tổ chức của Trường đại học Tây Bắc bao gồm: Ban Giám hiệu,
15 phòng ban trung tâm, 13 khoa tổ, bộ môn Số CBGV là 400 người
Phấn đấu đến năm 2015, trường ĐHTB thực thụ trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu của khu Tây Bắc Hiện nay, trường đã mở được 25 ngành đào tạo ĐH chính quy, trong đó
có 17 ngành sư phạm, 07 ngành khối Nông - Lâm - Kinh tế; 28 ngành đào tạo
Trang 21- 21 -
CĐ, 3 ngành liên thông từ trung cấp lên ĐH và 25 ngành liên thông từ CĐ lên
ĐH Quy mô SV 11.296 trong đó có 7.456 SV chính quy
CSVC của trường tiếp tục tăng cường để đảm bảo cho việc triển khai các hoạt động đào tạo nghiên cứu Tổng diện tích mặt bằng của trường là 1.053.222,5m2; 107 phòng học với tổng diện tích 18.466 m2
, bình quân 2,48m2 /SV; tổng diện tích nhà làm việc là 6,739,6m2; diện tích thư viện là 553m2;ký túc xá hiện nay đã đưa vào sử dụng 232 phòng với tổng diện tích 11.536 m2; thư viện hiện có 132.973 đầu sách phục vụ giảng dạy và học tập;
có 417 máy tính phục vụ học tập và làm việc; tổng diện tích phòng thí nghiệm
là 1.240m2 Các phòng thực hành thí nghiệm được trang bị nhiều máy móc, trang thiết bị hiện đại
Trường tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, củng cố các tổ chức đơn vị hiện có và thành lập thêm một số đơn vị Tiếp tục gửi đi đào tạo tiến sỹ trong nước 04 người, đào tạo cao học 30 người, đào tạo lý luận cao cấp 02 người,
cử đi tập huấn nước ngoài 04 người Trong năm qua trường đã có thêm 01 tiến sỹ và 03 nghiên cứu sinh đã hoàn thành bảo vệ luận văn cấp cơ sở
Khoa ngoại ngữ mới thành lập nên luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng uỷ, Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng trong trường Đội ngũ cán bộ giảng dạy được tăng thêm về số lượng, nâng cao về chất lượng, các GV trong khoa nhiệt tình yêu nghề, yên tâm công tác Khoa được trang bị các TBDH hiện đại đáp ứng nhu cầu đổi mới PPGD Tuy nhiên là khoa mới nên cán bộ lãnh đạo cấp khoa, bộ môn còn thiếu kinh nghiệm trong việc điều hành QL GV, cán bộ và QL SV Đội ngũ GV còn thiếu, số giờ dạy vượt còn khá nhiều, nên chưa thật sự đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học, trau dồi, bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên ngành Vị trí của trường ở xa trung tâm nên không có môi trường học NN, khó khăn trong việc lựa chọn các tài liệu tham khảo và giáo trình giảng dạy Tổng số GV, cán bộ trong Khoa NN
là 19 đồng chí trong đó có 01 giáo vụ khoa, 02 GV tiếng Trung và 16 GV
Trang 22- 22 -
tiếng Anh Khoa hiện đang có 13 thạc sĩ Khoa NN được giao nhiệm vụ: Giảng dạy NN cho tất cả các lớp chính qui tập trung, lớp vừa học vừa làm trong nhà trường; Giảng dạy NN cho cán bộ GV trong trường; Phối hợp với trung tâm Tin học – Ngoại ngữ giảng dạy tiếng Anh, Trung giao tiếp trình độ
A, B, C; Dạy NN cho các lớp chuyên ngữ
Các cán bộ GV tốt nghiệp tại trường ĐHNN - ĐH quốc gia Hà Nội, trường ĐHNN Hà Nội, trường ĐH Thái Nguyên Số lượng GV có trình độ chuyên môn là thạc sỹ chiếm 2/3 Trong năm học tới các GV còn lại đã có kế hoạch ôn và thi cao học đảm bảo trong năm 2015 100% CBGV trong khoa có trình độ thạc sỹ
Độ tuổi các CBGV trong khoa còn rất trẻ, 100% CBGV có tuổi đời từ
35 trở xuống Đó là sự thuận lợi lớn cho khoa là có sự năng động, sáng tạo của sức trẻ đồng thời cũng là khó khăn bởi các GV trẻ đều chưa có nhiều kinh nghiệm đặc biệt trong công tác QL, còn vướng bận công việc gia đình ảnh hưởng đến công tác
2.1.2 Trường cao đẳng Sơn La
Trường CĐ Sơn La tiền thân là Trường Sư phạm dân tộc cấp I tỉnh Sơn
La, được thành lập ngày 15 tháng 10 năm 1963; Tháng 9/1970 được nâng cấp thành trường Trung học Sư Phạm tỉnh Sơn La
Ngày 15/5/2001 công bố nâng cấp từ Trường Trung học Sư Phạm tỉnh Sơn La thành trường CĐ Sư Phạm Sơn La theo Quyết định số 5521/QĐ-BGD&ĐT-TCCB của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo ngày 13/12/2000
Ngày 19/11/2008 công bố đổi tên trường CĐ Sư Phạm Sơn La thành trường CĐ Sơn La theo Quyết định số 7599/QĐ-BGD & ĐT của Bộ trưởng BGD & ĐT ngày 12/11/2008;
Chiến lược phát triển đào tạo của nhà trường là mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng đa ngành, đa hệ
Trang 23- 23 -
Quy mô và ngành nghề đào tạo của nhà trường là đào tạo CĐ chuyên nghiệp và CĐ nghề; Trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề
Tổng số CNVC - LĐ: 298, trong đó có: 255 GV, 43 CBVC hành chính, phục vụ Trong đó có 05 Tiến sĩ và NCS, 130 Thạc sĩ và Cao học, 130 ĐH; CBVC hành chính, phục vụ: 03 cao đẳng, 26 Trung cấp, 14 Sơ cấp và trình độ khác
Tháng 6/2009, theo quyết định số 195 ngày 08/06/2009 của Hiệu trưởng trường CĐ Sơn La, khoa Ngoại ngữ được tách ra từ tổ Chính trị ngoại ngữ với 10 biên chế Trong khoa Ngoại ngữ có hai tổ bộ môn: tổ bộ môn ngoại ngữ cơ bản và tổ bộ môn ngoại ngữ chuyên ngành
Cùng với sự phát triển của nhà trường, khoa Ngoại ngữ cũng trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Trong những năm đầu thành lập trường,
bộ môn NN chỉ có 2 - 3 đồng chí cán bộ giảng dạy và bộ môn NN sinh hoạt cùng bộ môn chính trị trong Tổ Chính trị - NN Đến năm 2007, bộ môn NN
có 10 cán bộ GV Tới tháng 6/2009, theo quyết định số 195 ngày 08/06/2009 của Hiệu trưởng trường CĐSL, bộ môn NN được tách ra thành Khoa NN với
10 biên chế Để duy trì và thuận tiện trong việc sinh hoạt chuyên môn, trong khoa NN có hai tổ bộ môn, đó là: tổ bộ môn NN cơ bản và tổ bộ môn NN chuyên ngành
Khoa NN với chức năng và nhiệm vụ là: Quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhân lực có trình độ CĐ và thấp hơn thuộc các chuyên ngành NN; tham gia giảng dạy NN cho các ngành đào tạo, các lớp bồi dưỡng của nhà trường theo chương trình đào tạo, bồi dưỡng; tham gia các hoạt động dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng NN đáp ứng yêu cầu xã hội theo quy định của pháp luật
Mục tiêu đào tạo NN của nhà trường là đào tạo cử nhân ngành tiếng Anh có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất chính trị, đạo đức tác phong nghề nghiệp và sức khoẻ tốt có thể làm việc hiệu quả trong các lĩnh
Trang 24- 24 -
vực chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và của nền kinh tế trong quá trình hội nhập Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình, khoa NN luôn phát huy vai trò làm chủ tập thể, CBGD bộ môn NN luôn là những Đảng viên ưu tú, đi đầu trong mọi hoạt động của Chi bộ, của nhà trường
Ngoài số lượng CBGD của 2 tổ bộ môn còn một số đ/c công tác ở các đơn vị khác và tham gia một phần giảng dạy tại đơn vị như: Trung tâm Bồi dưỡng dạy nghề có 01 đ/c, Trung tâm ngoại ngữ có 04 đ/c, Phòng NCKH và QHQT có 01 đ/c
Các GV tốt nghiệp tại Trường ĐHNN - ĐH quốc gia Hà Nội, Trường ĐHNN Hà Nội, Trường ĐH Thái Nguyên Số lượng GV có trình độ là thạc sỹ rất ít, tiến sỹ chưa có Đây cũng là vấn đề khó khăn trong công tác chuyên môn của khoa
Số lượng và đội ngũ cán bộ giảng dạy bộ môn NN đã tăng đáng kể trong từng năm, trong đó số các đồng chí CBGD là nữ giới chiếm đa số (9/12 đồng chí).Cũng như trường ĐHTB, tuổi đời các CBGV trong khoa còn rất trẻ (GV nhiều tuổi nhất là 35 tuổi), khoa gặp nhiều khó khăn trong công tác chuyên môn; kinh nghiệm QL chưa có; số lượng GV là nữ đông, đang trong
độ tuổi sinh đẻ, ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian công tác
2.1.3 Trường cao đẳng Y tế Sơn La
Trường cao đẳng Y Tế Sơn La được thành lập vào năm 1959, tiền thân là trường trung học Y tế Sơn La, nâng cấp lên trường cao đẳng năm 2009
Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn cán bộ y tế cho tỉnh nhà, các tỉnh trong khu vực và 07 tỉnh phía Bắc nước CHDCND Lào, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực và xu thế phát triển của ngành y, dược trong nước
Nhà trường hiện có 51 cán bộ, trong đó có 14 đ/c có trình độ sau ĐH,
01 đ/c đang nghiên cứu sinh, 05 đ/c đang học cao học Nhà trường rất chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ nhằm đáp ứng chiến lược phát triển trường CĐ Y tế trong giai đoạn tới Công tác tổ chức cán bộ thường xuyên
Trang 25Về CSVC, nhà trường đã tiếp nhận các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy từ Dự án Hà Lan với tổng trị giá hơn 70.000 Euro Nhà trường
đã xây mới và đầu tư TBDH với 04 phòng học với tổng diện tích 200m2
Bộ môn NN ở trường CĐYTSL với đội ngũ rất ít, chỉ có 3 GV Bộ môn đảm nhiệm khối lượng công việc rất lớn là giảng dạy môn NN cho toàn bộ HSSV, các khối lớp trong nhà trường, mỗi GV phải lên lớp vượt gấp đôi số giờ tiêu chuẩn Mặc dù công việc nhiều khó khăn, các GV trong bộ môn đều
nỗ lực phấn đấu, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo việc giảng dạy bộ môn NN trong nhà trường được duy trì, có hiệu quả cao
2.2 Thực trạng HĐDH ngoại ngữ ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
Nghiên cứu thực trạng quản lý HĐDH ngoại ngữ trong các trường CĐ,
ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La, đề tài tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
- Nhận thức của các CBQL, GV, SV về tầm quan trọng của NN
- Thực trạng HĐDH NN ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
2.2.1 Thực trạng nhận thức của các CBQL, GV, SV về tầm quan trọng của ngoại ngữ
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của ngoại ngữ - chìa khoá của sự hội nhập và phát triển trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Đảng uỷ, Ban giám hiệu trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL đã rất quan tâm, chú ý
mở các mã ngành tiếng Anh, tiếng Trung sư phạm và ngoài sư phạm Trong
Trang 26- 26 -
những năm vừa qua, trong buổi hội nghị, hội thảo về công tác chuyên môn,
NN dạy cho các khối lớp chuyên và không chuyên ở các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La đặc biệt được nhấn mạnh về vị trí, vai trò của
nó Các nhà trường luôn tạo điều kiện cho GV ngoại ngữ được tham dự các buổi hội thảo Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm lãnh đạo nhà trường đều cử
GV tham dự lớp tập huấn bồi dưỡng ngoại ngữ trong và ngoài nước
Để thấy rõ hơn về nhận thức của các CBQL, đội ngũ GV về tầm quan trọng của ngoại ngữ, chúng tôi tiến hành điều tra 47 khách thể (trong đó là CBQL, GV ở ba trường: trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL) kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của ngoại ngữ
Nhu cầu của GV - với tư cách người học là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để xác định nội dung và chương trình bồi dưỡng Động cơ tiếp cận NN của GV cũng rất khác nhau: Có người thực sự có động cơ học tập tốt vì cho rằng NN là công cụ cần thiết cho mình nâng cao hiểu biết, phục vụ tốt chuyên
Trang 27- 27 -
môn, nghiệp vụ của bản thân Có một số người thì cũng thích học NN vì có cơ hội đi học tập, có khả năng giao lưu ở nước ngoài, có thêm kiến thức về văn hoá, xã hội của một nước tiên tiến trên thế giới
Tuy nhiên, cũng còn khá nhiều người không đánh giá cao vai trò của NN trong đời sống xã hội hiện nay Qua phỏng vấn, trao đổi, một số người chưa hiểu hết khía cạnh về tầm quan trọng của ngoại ngữ Có người cho rằng NN là không cần thiết, chưa thấy hết được tầm quan trọng của NN trong việc khai thác, cập nhật thông tin, mở rộng giao lưu quốc tế Đặc biệt họ nghĩ rằng ngoại ngữ không cần thiết đối với người dân miền núi, bởi vì ở miền núi như Sơn La không có điều kiện, môi trường công tác để sử dụng, không có điều kiện đi nước ngoài Một số khác thì bận nhiều việc, không có thời gian để đầu
tư cho việc dạy và học thêm NN, họ chưa được cung cấp các điều kiện cần thiết như thời gian, kinh phí, CSVC để nâng cao trình độ NN
Để khảo sát mức độ nhận thức của SV về tầm quan trọng của NN, chúng tôi tiến hành điều tra 175 khách thể (trong đó có 63 SV chuyên Anh, 112 SV các khoa Sư phạm tự nhiên, khoa Sư phạm nghệ thuật, khoa Nông lâm, khoa Nội vụ, khoa Y học lâm sàng) kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2.2 Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của NN
Mức độ SV chuyên SV không chuyên Tổng cộng
Trang 28- 28 -
các màu da, sắc tộc Ngoại ngữ xích chúng ta lại gần nhau hơn, ngoại ngữ là thông điệp cho chúng ta nhận biết giống người có ngôn ngữ riêng để giao tiếp gắn bó với nhau, NN là chìa khóa mở cửa mọi mấu chốt trong đời sống xã hội hiện nay Không có em nào đánh giá ở mức độ quan trọng và không quan trọng Thế nhưng, một con số khá lớn các em SV là đối tượng học NN như là một môn chung, đặc biệt là các em dân tộc thiểu số chưa nhận thức được rõ tầm quan trọng của việc học NN với rất nhiều lý do: nói tiếng Kinh chưa sõi thì nói gì đến NN; không có tiền mua thêm sách vở học NN, học xong không
để làm gì vì không gặp người nước ngoài bao giờ, học NN rất khó, không có năng khiếu học NN, sợ phải đi học…
Nhận thức về tầm quan trọng của NN của CBQL, GV, SV như phân tích trên, chúng ta có thể nêu ra một số nguyên nhân sau đây:
- Công tác qui hoạch đội ngũ GV chưa tính đến trình độ NN do vậy NN chưa thực sự được coi trọng
- Sự quan tâm kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ của lãnh đạo các cấp chưa thường xuyên, chưa nghiêm khắc Một số nơi, các lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức, chưa tạo điều kiện thuận lợi và thời gian cho cán bộ đi học thêm ngoại ngữ
- Ý thức vươn lên, tinh thần vượt khó của một số CBGV, SV chưa cao, chưa liên tục
- Công tác tuyển chọn đầu vào chưa chặt chẽ nên chất lượng không đồng đều; SV nản trong học tập vì không theo kịp bạn khác, GV chán dạy vì SV không hứng thú với môn học
- Việc tổ chức, kiểm tra, đôn đốc, duy trì nề nếp học tập và đảm bảo CSVC, điều kiện học tập của nhà trường tuy đã có nhiều cố gắng song vẫn còn chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới
Trang 29- 29 -
- Nhà trường chưa có qui chế gắn trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi của người học Chưa có chính sách khuyến khích, động viên khen thưởng, kỷ luật kịp thời Vì vậy, chưa kích thích được sự cố gắng, nỗ lực của cán bộ, GV
- PPGD chưa thực sự thu hút được sự hứng thú học tập của SV
2.2.2 Thực trạng HĐDH ngoại ngữ ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
2.2.2.1 Thực trạng hoạt động dạy ngoại ngữ
Khoa ngoại ngữ trường ĐHTB, trường CĐ Sơn La, tổ bộ môn NN trường CĐ Y Tế Sơn La có nhiệm vụ giảng dạy ngoại ngữ cho các khối lớp chuyên và không chuyên trong toàn trường
Quán triệt nhiệm vụ chuyên môn, ngay từ hè năm học trước, tổ NN ở các trường đã tiến hành tổ chức cho GV được tập trung học tập, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn của Bộ GD & ĐT, Sở GD & ĐT tỉnh Sơn La chỉ thị về nhiệm vụ năm học, dự kiến thảo luận nội dung chương trình đào tạo, tổ chức các chuyên đề theo kế hoạch của trường, phòng Đào tạo, của khoa tổ đề ra Khi đã tiếp thu và lĩnh hội được các nội dung trên, TBM các tổ phân công chuyên môn giảng dạy và xếp thời khoá biểu cho GV Căn cứ vào chương trình đào tạo, căn cứ vào sự phân công giảng dạy của TBM giảng viên xây dựng đề cương chi tiết các học phần mình đảm nhiệm và nộp TBM, trưởng khoa phê duyệt trước khi đưa vào giảng dạy 7 ngày
Theo Luật GD 2005, nhà giáo nói chung, GV nói riêng có những nhiệm
vụ như giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý GD, thực hiện đầy đủ và
có chất lượng chương trình GD, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới PPGD, được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, Trên cơ
sở những nhiệm vụ chung đó, GV khoa ngoại ngữ trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL trong những năm qua đã phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được phân công Hàng năm, ngoài số giờ được giao theo tiêu chuẩn,
Trang 30- 30 -
các GV còn tham gia sinh hoạt chung khác: tham gia giảng dạy, dịch thuật theo hợp đồng ở các trung tâm trong và ngoài trường; tham gia NCKH; hướng dẫn SV thực tập, thực tế; tổ chức các hoạt động ngoại khoá; tham gia sinh hoạt các tổ chức như chi bộ Đảng, công đoàn, Đoàn TNCS HCM; làm công tác xã hội từ thiện
Về vấn đề học ngoại ngữ, SV cần tích luỹ đủ lượng kiến thức cần được trang bị theo chương trình giáo dục ĐH SV phải đảm bảo đủ thời gian trên lớp theo quy chế của nhà trường Ngoài giờ học ngoại ngữ trên lớp có sự hướng dẫn của GV, SV tự học ngoại ngữ chủ yếu ở các giảng đường tự học, ở thư viện và ở ký túc xá
Để hiểu rõ hơn nữa về thực trạng công tác dạy học ngoại ngữ ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La, chúng ta hãy nghiên cứu một số kết quả khảo sát dưới đây Chúng tôi tiến hành điều tra 12 CBQL, 35 GV ngoại ngữ và 175 SV của 3 trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL
Bảng 2.3 Mức độ thực hiện hoạt động dạy ngoại ngữ của GV
Trang 31cương ban đầu và theo lịch
lên lớp của khoa/ trường
32 14,4 57 25,7 99 44,6 34 15,3 0 0
7 Môn học/học phần có
giáo trình, tài liệu tham
khảo đầy đủ Nội dung thực
Trang 32- 32 -
huống thực tế giúp người
học hiểu bài tốt
11 Giảng viên luôn nhiệt
tình, giảng giải khi người
học chưa hiểu bài trên lớp
24 10,8 58 26,1 47 21,2 69 31,1 24 10,8
12 Giảng viên đã tạo điều
kiện cho người học tích cực
tham gia thảo luận, phát
biểu, nêu câu hỏi trên lớp và
kích thích sự động não và
tập phong cách làm việc tự
tin
22 9,9 36 16,2 70 31,5 71 32 23 10,4
13 Giảng viên quan tâm
hướng dẫn kỹ năng làm việc
theo nhóm trong quá trình
15 Tham gia thao giảng, dự
giờ, rút kinh nghiệm thường
Trang 33- 33 -
độ chuyên môn
18 Tham gia NCKH phục
GV ngoại ngữ ở ba trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La đã thực hiện
tốt ở các nội dung như: Nắm vững nội dung chương trình dạy học; Mục tiêu
và đề cương môn học được GV giới thiệu r ràng ngay t những tiết đầu của môn học học phần; Xây dựng ĐCCT theo đúng nội dung chương trình, đúng tiến độ; Môn học học phần c sự liên hệ tốt giữa lý thuyết và thực hành, các bài tập tình huống thực tế giúp người học hiểu bài tốt; Thực hiện KT, thi nghiêm túc, đánh giá đúng kết quả HT của SV và Tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ SP, trình độ chuyên môn Ngay từ cuối năm học trước, TBM yêu
cầu các GV rà soát, rút kinh nghiệm về nội dung chương trình đào tạo trong năm học qua để kịp thời đưa ra các biện pháp cải tiến, hiệu chỉnh, hoặc xây dựng chương trình cho các mã nghành mới Sau đó, TBM tập hợp nội dung đề xuất với hội đồng NCKH của khoa để hội đồng thẩm định để đưa vào thực hiện cho năm học mới Như vậy GV trong khoa, tổ bộ môn nắm khá chắc về nội dung chương trình dạy học Hàng năm các thầy cô giáo có kế hoạch tham gia các hình thức tự học, tự bồi dưỡng và đạt được nhiều kết quả tốt Nhà trường, khoa, tổ bộ môn luôn tạo điều kiện cho các GV tham gia các đợt tập huấn của Dự án Việt Bỉ, dự án tập trung vào nội dung áp dụng PPGD tích cực, lấy người học làm trung tâm, các GV đã tích luỹ cho mình và chia sẻ lại cho đồng nghiệp những kinh nghiệm bổ ích có giá trị để cùng nhau thực hiện nhiệm vụ chuyên môn tốt Trước đây, GV phải xây dựng KHGD cá nhân và được TBM phê duyệt trước khi giảng dạy Từ năm 2010 này quy định GV phải xây dựng đề cương chi tiết theo đúng nội dung chương trình và được phê duyệt của TBM trước khi lên lớp 7 ngày
Trang 34- 34 -
Bên cạnh đó, ở một số nội dung chỉ thực hiện được ở mức độ tương đối
tốt như giảng viên lên lớp và kết thúc môn học học phần đúng theo quy định của nhà trường và tiến độ môn học học phần luôn theo đúng đề cương ban đầu và theo lịch lên lớp của khoa trường Quy định về thời lượng cho một
học phần là 15 tuần, nội dung, tiến độ thời gian được thể hiện trong KHGD cá nhân, phiếu báo giảng GV rất quan tâm đến vấn đề đảm bảo kết thúc học phần của mình đúng thời hạn vì không có quỹ thời gian dự trữ để dạy bù Nhưng trong khi khảo sát có đến 15,3% các em đánh giá việc thực hiện này ở mức độ chưa thực sự tốt Vấn đề này chủ yếu là do yếu tố khách quan mang lại Khối lượng công việc, hoạt động khác mà các GV phải tham gia đảm nhiệm là rất lớn Các đoàn thể trong nhà trường CĐ, ĐH trong một năm học
tổ chức rất nhiều các hoạt động và việc xê dịch thời khoá biểu môn học là
điều rất dễ xảy ra Giảng viên giới thiệu kỹ thuật kỹ năng thực hành tương đối r ràng, dễ hiểu, tuy nhiên chưa thực sự nhiệt tình, giảng giải khi SV chưa
hiểu bài trên lớp bởi lý do các em luôn cho rằng học NN rất khó nhưng các
em không tự mình học hỏi tìm hiểu thêm, gặp bất cứ hiện tượng về ngữ pháp, đặt câu, dịch câu là các em hỏi GV thường bị ức chế khi gặp những câu hỏi như thế và cho rằng SV hỏi nhiều vấn đề mà lẽ ra các em để ý một chút trong quá trình nghe giảng là có thể tự giải quyết được Trong quá trình lên
lớp, còn khá nhiều SV cho rằng giảng viên chưa thực sự tạo điều kiện cho người học tích cực tham gia thảo luận, phát biểu, nêu câu hỏi trên lớp và kích thích sự động não và tập phong cách làm việc tự tin (có đến trên 10,4% đến
32% các em nhận định như vậy) SV đánh giá khá nhiều giảng viên quan tâm tới việc hướng dẫn kỹ năng làm việc theo nhóm trong quá trình học, thực
hành Việc đối công bằng, th ng thắn với người học được các em đánh giá
ở mức khá và trung bình khá là khá cao
Ở một số nội dung như: các GV thường uyên tham gia thao giảng, dự giờ, rút kinh nghiệm; thường uyên s dụng các trang thiết bị đồ dùng dạy
Trang 35- 35 -
học; và việc thực hiện nội dung tham gia NCKH chỉ đạt ở mức độ trung bình
với tỷ lệ % tương đối cao Trong năm học, ở trong khoa quy định 2 lần GV phải đăng ký giờ thao giảng để các GV trong khoa dự giờ, đánh giá xếp loại giờ dạy và thường thì GV chuẩn bị chu đáo đầu tư cho hai tiết dạy đó để được xếp loại cao, còn lại trong năm do khối lượng giảng dạy lớn, tham gia các hoạt động khác trong nhà trường nhiều nên các GV ít khi đi dự giờ học hỏi chuyên môn, rút kinh nghiệm giờ dạy cho nhau được Vẫn còn có một số GV
chưa nhận thức được việc s dụng các trang thiết bị, đồ dùng dạy học trong giảng dạy các tiết học hàng ngày là vô cùng cần thiết và hữu ích Các GV này
chưa nhận ra rằng: TBDH chính vừa là “công cụ lao động” của người GV vừa
là công cụ nhận thức của SV Nhờ TBDH mà nội dung dạy học được cụ thể hoá, phương pháp đào tạo được vật chất hoá; đồng thời TBDH tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hoá mục tiêu đào tạo, góp phần làm cho quá trình đào tạo có chất lượng, hiệu quả Một số không ít GV còn ngại đầu tư cho việc sử dụng các trang thiết bị này vì sợ mất thời gian cho việc nghiên cứu và áp dụng
mà không đem lại hiệu quả cho giờ học Nhà trường chưa đầu tư đầy đủ TBDH cho các khoa tổ Ở trường CĐSL, 2 GV chung nhau một đài cát xét, chỉ có một phòng lap và một máy chiếu cho cả khoa Việc viết giấy đăng ký mượn thiết bị, lãnh đạo khoa phải xem xét bố trí hợp lý để không mượn trùng nhau mất nhiều thời gian cho GV, GV mượn được mang lên lớp lắp cũng tốn một khoảng thời gian Vấn đề NCKH thường hay được gắn tới lợi ích thiết thực của cá nhân như NCKH để đảm bảo không bị trừ vào giờ tiêu chuẩn, NCKH để cuối năm nhà trường có cơ sở đánh giá xếp loại thi đua Còn lại các
GV thường rất ngại bỏ thời gian để nghiên cứu, lý do chủ yếu cũng là công việc chuyên môn nhiều, tuổi đời các GV ngoại ngữ trẻ, chưa có kinh nghiệm nghiên cứu, bận rộn việc gia đình nhiều Như vậy ở một số nội dung rất quan trọng trên đòi hỏi cần xem lại về vấn đề QL và cách nhìn nhận suy nghĩ của từng cá nhân GV trong tập thể
Trang 36- 36 -
2.2.2.2 Thực trạng hoạt động học ngoại ngữ của SV
Bảng 2.4 Bảng thống kê số lượng SV học ngoại ngữ chuyên trong các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La năm học 2009 – 2010
Môn ngoại ngữ được dạy cho toàn bộ SV trong nhà trường nên số lượng
SV rất lớn, đây cũng là một khó khăn rất lớn cho khoa, tổ chuyên môn ngoại ngữ ba trường
Bảng 2.5 Bảng thống kê số lượng SV học ngoại ngữ không chuyên trong các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La năm học 2009 - 2010
Số lượng SV chuyên ngữ tập trung ở 2 trường ĐHTB và CĐSL, đặc biệt
là trường ĐHTB với số SV chuyên ngoại ngữ tương đối lớn trong cả hai hệ
Trang 37- 37 -
hiện công tác chuyên môn Các em được học đầy đủ các kiến thức về ngôn ngữ, các kỹ năng cơ bản, đảm bảo cả lý thuyết lẫn thực hành, luyện tập Trong khi đó các SV mặc dù đều đã được học ngoại ngữ ở bậc phổ thông tối thiểu là
hệ ba năm nhưng vốn kiến thức ngoại ngữ có được còn rất hạn chế, chính vì vậy đến khi được học tại các trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL
đã ảnh hưởng không ít đến kết quả dạy học bộ môn này nói riêng và hiệu quả công tác GD và ĐT của các nhà trường nói chung
Qua bảng tổng kết việc khảo sát 12 CBQL, 35 GV ngoại ngữ 3 trường: trường ĐHTB, trường CĐSL, trường CĐYTSL về quá trình học ngoại ngữ, chúng ta có thể rõ thêm phần nào thực trạng hoạt động học ngoại ngữ ở ba trường như sau:
Bảng 2.6 Mức độ thực hiện các yêu cầu đối với hoạt động học ngoại ngữ của SV
4 SV có giáo trình, tài liệu
tham khảo đầy đủ 0 0 11 23 15 32 21 45 0 0
Trang 389 SV tích cực tham gia thảo
luận, phát biểu, nêu câu hỏi, có
SV tuyệt đối nắm vững hay không nắm vững về hai nội dung trên Tình hình
SV lên lớp và kết thúc môn học/học phần đúng theo quy định của nhà trường
là ổn định Do nội quy quy chế của các nhà trường tương đối chặt chẽ, các
GV chủ nhiệm lớp quan tâm sâu sát đến SV, đội ngũ cán bộ lớp có năng lực,
Trang 39- 39 -
tinh thần trách nhiệm cao luôn giữ được sĩ số lớp ổn định Qua quan sát lớp học GV nhận thấy rằng SV có giáo trình, tài liệu tham khảo chưa đầy đủ Thứ nhất là do thư viện nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu Thứ hai là các em không chịu bỏ tiền ra trang bị cho mình giáo trình, tài liệu tham khảo, đặc biệt
là các môn không phải chuyên ngành của không được các em coi trọng Thứ
ba, Sơn La là tỉnh miền núi, các tài liệu tham khảo khó cập nhật thường xuyên Thứ tư, các em SV phần lớn là các dân tộc, ở vùng sâu vùng xa, điều kiện kinh tế thiếu thốn, không có máy tính để truy cập, tìm kiếm thông tin trên
internet Kỹ năng SV thực hành chưa thuần thục, chưa c sự liên hệ tốt giữa
lý thuyết và thực hành, lý các bài tập tình huống c n k m SV khi chưa
hiểu bài trên lớp đã không kịp thời tìm cách bổ sung kiến thức Điều này cũng ảnh hưởng bởi do ngay từ khi tuyển sinh đầu vào trình độ SV rất thấp, đối tượng SV rất khác nhau, nhiều thành phần không tương quan, đồng nhất với nhau; Ngoài một số rất ít là con em sinh sống ở thị trấn, thành phố còn lại đa phần SV từ các huyện xa trung tâm thành phố Sơn La, ở các huyện nghèo, miền núi, và đặc biệt là số SV cử tuyển thuộc diện con em đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, chưa được học ngoại ngữ ở phổ thông hoặc nếu đã học thì chỉ học tiếng Anh hệ ba năm chắp vá với tình trạng GV vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chuyên môn, trang TBDH ở các trường phổ thông đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đa phần là con em người dân tộc thiểu số cực kỳ thiếu thốn, nghèo nàn Những điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu kiến thức, khả năng sáng tạo, nhanh nhạy của các em trong học
tập Việc SV tích cực tham gia thảo luận, phát biểu, nêu câu hỏi trên lớp, c
sự động não và phong cách làm việc tự tin hay SV c kỹ năng làm việc theo
nh m trong quá trình học, thực hành được 31% đến 38% các CBQL và GV
nhìn nhận ở mức khá Chỉ có tiêu chí mà các CBQL và GV đánh giá ở mức
cao nhất đạt 89% đó là SV hứng thú với các TBDH hiện đại, hiệu quả học tập cao Như vậy đòi hỏi các CBQL vì chất lượng giáo dục cần phải quan tâm
Trang 40- Khoa ngoại ngữ trường ĐHTB, trường CĐSL được trang bị mỗi 01 phòng Lab với 30 máy và 01 phòng học có máy tính, máy chiếu, bảng chống loá Thực tế khoa chỉ được sử dụng phòng Lab còn phòng học kia được sử dụng chung cho toàn trường Trường CĐ YT Sơn La chưa có phòng học đảm bảo được trang bị thiết bị nghe nhìn phục vụ cho việc dạy học ngoại ngữ
- Thư viện rộng rãi, sạch sẽ, điều kiện mượn trả thuận tiện, nhanh chóng SGK phục vụ cho công tác dạy học ngoại ngữ theo đề xuất của khoa
NN đã được trang bị trong thư viện, nhưng không có đủ cho SV mượn, các
em phải đi mua ngoài Đặc biệt là các tài liệu, tạp chí phục vụ cho việc tham khảo, tự học, tự nghiên cứu về NN là rất ít, hầu như không có
Tóm lại, trong 3 năm gần đây, Ban giám hiệu các trường đã có sự quan tâm đến việc đầu tư mua sắm trang TBDH hiện đại phục vụ cho việc công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên cũng chưa đầy đủ để
có thể đáp ứng thực tiễn HĐDH ngoại ngữ trong nhà trường
2.3 Thực trạng quản lý HĐDH ngoại ngữ của trưởng bộ môn ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La
Việc quản lý hoạt động dạy và học ngoại ngữ ở các trường CĐ, ĐH trên địa bàn tỉnh Sơn La thực sự không đơn giản, dễ dàng và thuận lợi Công tác này bao gồm việc quản lý hoạt động dạy của GV và quản lý hoạt động học của SV cùng với các thành tố có liên quan, hỗ trợ cho quá trình dạy học