Trong luận văn này,chúng tôi không thể tìm hiểu được cả một giai đoạn văn học với những biểu hiện, khía cạnh đa dạng của nó mà chỉ có thể đi vào một biểu hiện cụ thể đó là: “Nhân vật quầ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cách mạng tháng Tám là một biến cố lịch sử to lớn đã làm đổi thay sâu sắc đất nước và con người Việt Nam Tháng Tám năm 1945 mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc ta, chấm dứt hàng ngàn năm chế độ phong kiến và giật tung xiềng xích hơn tám mươi năm đô hộ của thực dân Pháp để bắt đầu kỷ nguyên độc lập và dân chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội của nước Việt Nam Cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám, một nền văn học mới chính thức khai sinh Trong những thành tựu chung của văn học sau 1945, văn xuôi kháng chiến chống Pháp có một vị trí đặc biệt với những đóng góp to lớn Các nhà văn kháng chiến đã thiên về ghi chép
và phản ánh nhanh nhạy để kịp thời động viên quần chúng Hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng các nhà văn vẫn nỗ lực tìm kiếm, sáng tạo và cho
ra đời nhiều tác phẩm có giá trị, bước đầu khẳng định giá trị về cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc, dân chủ trong thời kỳ này, báo hiệu sự phồn thịnh của loại hình tự sự ở thời kỳ sau
Thành công của văn xuôi kháng chiến chống Pháp biểu hiện ở nhiều khía cạnh và biểu hiện lớn nhất, mới nhất là sự xuất hiện con người mới Kiểu con người này khác hẳn với mọi loại nhân vật tích cực trong văn học
cũ Nó không còn là những cá nhân riêng lẻ, độc lập mà là kiểu nhân vật tập thể – quần chúng cách mạng Loại hình nhân vật này đã làm cho văn học nói chung và văn học 1945 – 1954 nói riêng mang một màu sắc mới, dáng vẻ mới Nhân vật trong văn xuôi kháng chiến là những người nông dân, công nhân, trí thức, người lính họ đã từng ít nhiều xuất hiện trong văn học trước cách mạng tháng Tám Tuy nhiên, cái mới, cái đặc biệt ở đây
Trang 2là họ đã biết tập hợp dưới một tổ chức, một tập thể Họ là những nhân vật tập thể – quần chúng cách mạng triệt để đánh Pháp, kiên quyết thanh toán phong kiến, mang những mầm cứng cáp của thời đại mới.Họ tiên phong trên các chiến trường, lao động sản xuất, họ mang trong mình những phẩm chất mới
Sự xuất hiện con người mới trong văn học 1945-1954 đã khắc phục được tình trạng bế tắc không lối thoát trong việc xây dựng con người tích cực cuả văn học công khai 1930-1945.Việc đi tìm nhân vật tích cực như trên đã xác nhận bước chuyển mạnh mẽ trên một đường ray mới của văn học sau 1945
Vì vậy trong chương trình văn học ở phổ thông, tìm hiểu nền văn học 1945-1954 mà cụ thể là hình tượng nhân vật kiểu mới là một vấn đề hết sức quan trọng Khi khái quát tiến trình nền văn học nước nhà không thể bỏ qua giai đoạn văn học 1945-1954 và cũng không thể không nói tới những thành công của văn xuôi kháng chiến về mặt sáng tạo nhân vật.Đi tìm hiểu một vấn đề có tính lý luận, tính thi pháp của một bộ phận văn học là một đề tài phong phú , hứa hẹn nhiều thú vị
Trong luận văn này,chúng tôi không thể tìm hiểu được cả một giai đoạn văn học với những biểu hiện, khía cạnh đa dạng của nó mà chỉ có thể
đi vào một biểu hiện cụ thể đó là: “Nhân vật quần chúng trong văn xuôi kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954” Chúng tôi mong muốn sẽ khám phá sâu hơn, cụ thể hơn một vấn đề thuộc lý luận văn học, thi pháp học, mỹ học Đó là quan niệm về con người, cách xây dựng nhân vật của một bộ phận văn học, qua đó khẳng định vị trí, những đóng góp to lớn, mới mẻ, độc đáo của văn xuôi kháng chiến chống Pháp trong nền văn học nước nhà
Trang 3cũng như trong công cuộc đấu tranh đánh đuổi giặc Pháp Là người giáo viên ở bậc THPT, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi được đi sâu hơn, hiểu biết nhiều hơn về một vấn đề thuộc phương pháp sáng tác, về các tác phẩm văn xuôi kháng chiến và quá trình giảng dạy về giai đoạn văn học này, chắc chắn sẽ có kết qủa tốt hơn
Đó là lý do ra đời của luận văn này
2 Lịch sử nghiên cứu
Quá trình sưu tầm tài liệu đã cho chúng tôi đi đến một nhận xét: Đề tài này cho tới nay đẫ có nhiều bài viết đề cập tới nhưng chưa có ai nghiên cứu cho cụ thể Nhìn chung ở mức độ đậm nhạt khác nhau, các nhà phê bình nghiên cứu đã có nhiều nhận định, ý kiến về vấn đề này
Hoàng Như Mai trong cuốn “Văn học Việt Nam hiện đại 1945 - 1960”(Nxb Giáo dục 1961) đã đi vào tìm hiểu ba tác phẩm “Xung kích” (Nguyễn Đình Thi), “Con trâu” (Nguyễn Văn Bổng), “Vùng mỏ” (Võ Huy Tâm), tuy nhiên ông tiếp cận ba tác phẩm trên theo lối phân tích tác phẩm cộng với sự so sánh đối chiếu với các tác phẩm văn xuôi cùng thời Bài viết
đã làm rõ được nhiều vấn đề xung quanh các tác phẩm trong đó có đề cập đến vấn đề con người nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược, chưa
có hệ thống
Trong tác phẩm “Mấy vấn đề về văn xuôi Việt Nam 1945 – 1970”, ở chương “Con người mới trong cuộc sống và nhân vật trung tâm trong tác phẩm”, Nxb Khoa học xã hội 1972 – Phong Lê đã khẳng định: một trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật đều đem đến cho ta hình ảnh của một kiểu người Tác giả đưa ra một số dẫn dụ:con người trong văn chương Tự lực văn đoàn, con người trong văn học hiện thực phê phán, trong văn học cách
Trang 4mạng trước 1945, từ đó nói lên tính mới mẻ của con người trong nền văn học mới Tác giả đã nêu được một số đặc điểm của con người mới trong văn xuôi 1945 – 1975 Tuy nhiên giải quyết những vấn đề lớn trong một bài viết có dung lượng không dài như vậy thì sẽ không thể đi vào phân tích những tác phẩm cụ thể để từ đó nghiên cứu vấn đề nhân vật quần chúng trong các tác phẩm văn xuôi 1946 – 1954 như một đối tượng nghiên cứu độc lập
Tác phẩm “Văn học kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986 có bài: “Nhân vật trung tâm của văn xuôi: con đường tìm kiếm và nhận diện” của các tác giả: Phong Lê, Vũ Tuấn Anh, Vũ Đức Phúc viết về vấn đề nhân vật trung tâm trong văn xuôi 1945 –
1954, các tác giả lại đi vào tìm hiểu con đường tìm kiếm và nhận diện nhân vật trung tâm cho nên bài viết chỉ chú ý đến việc nhà văn đã tìm kiếm và xây dựng nhân vật như thế nào Tuy phát hiện được nhân vật trung tâm là quần chúng cách mạng nhưng tác giả chưa đi vào phân tích được những đặc điểm và đóng góp của kiểu nhân vật đó cho văn xuôi kháng chiến chống Pháp cũng như văn xuôi 1945 – 1954
Trong “Một thời đại mới trong văn học”, nhiều tác giả, Nxb Văn học, 1995, bài viết của Trần Đình Sử: “Con người trong văn học Việt Nam sau 1945” đã nêu được quan niệm về con người qua các thời kỳ văn học:
1945 – 1954, 1954 – 1964, văn học trong những năm kháng chiến chống
Mỹ Ở nhiều thể loại, tác giả đã chứng minh vấn đề đó qua một số tác phẩm tiêu biểu, khẳng định mặt ưu điểm, những thành công trong việc xây dựng con người mới của 40 năm văn học Đó là mô hình con người quần chúng, con người cộng đồng, mang tính chất sử thi Bên cạnh đó tác giả
Trang 5còn nêu ra một số hạn chế trong quan niệm con người mới của nhà văn So với các công trình trên thì bài viết của giáo sư Trần Đình Sử đã đi sâu vào quan điểm về con người trong văn học, về nhân vật trung tâm của văn học
1945 – 1954: nhân vật quần chúng cách mạng Song chỉ trong 52 trang sách
mà tác giả đã nêu lên và giải quyết một vấn đề lớn – tìm hiểu con người trong văn học Việt Nam 40 năm sau cách mạng tháng Tám – thì chưa có thể có sự phân tích kỹ lưỡng được
Với tư cách là một tiểu luận khoa học chúng tôi một mặt tiếp thu, kế thừa những bài viết của các nhà phê bình, nghiên cứu đi trước, mặt khác cố gắng đưa ra những kiến giải của mình Ở tiểu luận này, chúng tôi xem xét vấn đề một cách cụ thể, chứng minh nó qua việc phân tích một số tác phẩm văn xuôi kháng chiến để từ đó khẳng định sự mới mẻ, độc đáo, sự cách tân trong việc xây dựng nhân vật quần chúng cách mạng cũng như những đóng góp to lớn của văn xuôi kháng chiến 1945 – 1954 cho nền văn học dân tộc, trong việc phát hiện và xây dựng kiểu con người mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu nhân vật quần chúng trong văn xuôi kháng chiến 1945 –
1954 trước hết là để dựng lên hình ảnh con người kháng chiến chống Pháp
Và thấy được con người này trước năm 1945 và sau năm 1945 đều là đối tượng của văn học Vậy con người quần chúng trong văn xuôi 1945 – 1954
có nét gì đặc sắc so với trước cách mạng?
Để làm nổi bật được đề tài của luận văn này chúng ta phải nêu được tác động to lớn của cuộc cách mạng tháng Tám đối với đất nước và con người Việt Nam Sự thay đổi về chất trong quan niệm nghệ thuật của các nhà văn và bước chuyển biến mạnh mẽ của văn học sau năm 1945 được thể
Trang 6hiện qua việc xây dựng kiểu nhân vật độc đáo, mới mẻ nhân vật quần chúng cách mạng
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong một phạm vi một luận văn tốt nghiệp cuối khoá cũng như điều kiện thời gian và khả năng hạn chế của bản thân, chúng tôi xin đi vào khảo sát một vấn đề thuộc quan niệm về con người: “Nhân vật quần chúng cách mạng trong các tác phẩm văn xuôi kháng chiến 1945 – 1954” ở một số tác phẩm tiêu biểu, thể hiện tập trung, rõ nét hình tượng nhân vật quần chúng cách mạng
Đó là các tác phẩm:
- Truyện ngắn “Đôi mắt”(Nam Cao) viết năm 1948
- Tiểu thuyết “Xung kích” (Nguyễn Đình Thi) viết năm 1951
- Tiểu thuyết “Vùng mỏ”(Võ Huy Tâm) viết năm 1951
- “Truyện Tây Bắc” (Tô Hoài) viết năm 1952
- Tiểu thuyết “Con trâu” (Nguyễn Văn Bổng) viết năm 1953
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát: Đây là một phương pháp nghiên cứu quan trọng bởi vì chúng ta sẽ khảo sát xem có bao nhiêu kiểu nhân vật Đặc biệt
là việc khắc họa loại hình nhân vật này trong các tác phẩm văn xuôi kháng chiến 1945 – 1954
- Phương pháp phân tích: Đây chính là phương pháp truyền thống, việc tiến hành phân tích các tác phẩm, các chi tiết tiêu biểu, điển hình nhằm làm nổi bật đặc điểm của nhân vật quần chúng
Trang 7- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Con người quần chúng trước năm
1945 và sau năm 1945 đều là đối tượng của văn học Chính vì thế việc tiếp cận hệ thống sẽ giúp chúng ta tìm ra nét độc đáo, mới mẻ của loại hình nhân vật này trong văn xuôi kháng chiến 1945 – 1954
- Phương pháp so sánh: Việc đặt vấn đề “Nhân vật quần chúng trong văn xuôi kháng chiến 1945 – 1954” trong mối quan hệ với nhân vật quần chúng của các giai đoạn văn học trước đó là một việc làm thú vị, làm nổi bật sự thay đổi về chất trong quan niệm nghệ thuật của các nhà văn cũng như việc thể hiện nhân vật quần chúng
Ngoài ra, chúng tôi còn đi vào một số phương pháp bổ trợ như: thống kê, tổng hợp để rút ra những nhận định chung, khái quát
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC NÓI CHUNG VÀ TRONG VĂN HỌC KHÁNG CHIẾN NÓI
RIÊNG
1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
Con người bao giờ cũng là vấn đề trung tâm của văn học thời đại Trong các yếu tố thể hiện đặc sắc sự phát triển của văn học, con người trong văn học là yếu tố có nghĩa hơn cả Con người vừa là đối tượng nhận thức, đối tượng chủ yếu của văn học, vừa là cái đích để văn học vươn tới Con người trong văn học là nơi thể hiện trình độ tổng hợp của nhận thức
và thể hiện nghệ thuật, là phương pháp sáng tác, phong cách, thế giới quan của nhà văn trong sự vận động, phát triển
Tầm vóc của một nền văn học thể hiện ở cách đặt vấn đề về con người Nghệ thuật cổ đại Hy Lạp, nghệ thuật Phục hưng, nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn, nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực đã xuất phát từ nguyên lý văn học là nhân học, bắt đầu qúa trình sáng tạo bằng cách cảm nhận, chiếm lĩnh con người nên đã tạo được những giá trị văn học rực rỡ
Trên tinh thần cách mạng, M.Gorki đã đặt lại vấn đề con người: con người viết hoa, con người lao động, con người trong sự phát triển không ngừng các đặc điểm giá trị của cá nhân, vấn đề tương lai, hạnh phúc của con người, sự phục sinh của con người Nhờ vậy ông đã mở đầu cho một thời đại văn học với một tầm cỡ mới Các nhà lý luận văn học nổi tiếng như: K.Gây, Phi Lendơ, I.Pêrênin trong những bài phê bình nghiên cứu về
Trang 9văn học Nga có những nhận định đề cao vai trò của con người trong sáng tạo văn chương “Con người trong sự miêu tả của nhà văn là một trong những trung tâm điểm từ đó tạo ra các sợi dây chi phối cơ chế nghệ thuật của tác giả Là một tiêu điểm mà qua đó phong cách nhà văn được thể hiện một cách sáng tỏ hơn bao giờ hết và cũng chính những nguyên tắc miêu tả con người ấy đã cung cấp chìa khoá để giúp ta hiểu được phương pháp sáng tạo của nhà nghệ sĩ”(1)
Văn học là một sáng tạo nghệ thuật Nhiệm vụ của các nhà văn là sáng tác ra những con người trong tác phẩm nghệ thuật, họ tất yếu phải hình dung con người trên phương diện nghệ thuật Quan niệm về con người
là cách hiểu, cắt nghĩa về con người Quan niệm đó chi phối, quy định chiều sâu của việc miêu tả cũng như việc giải quyết chủ đề, đề tài, hình thức nghệ thuật với tầm quan trọng đó, vấn đề con người trở thành một trong những trung tâm chú ý của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học trên toàn thế giới
Với nền văn học Việt Nam, vấn đề con người đa và đang được chú ý nghiên cứu, tìm hiểu Tiêu biêu là các công trình của Trần Đình, Sử Lê Ngọc Trà và một số nhà phê bình nghiên cứu khác Đây là công cụ khoa học hữu hiệu giúp cho việc khám phá yếu tố trung tâm trong thế giới nghệ thuật của sáng tác, đóng vai trò chi phối các yếu tố hình thức miêu tả và thể hiện nghệ thuật
Nhà thơ Đức J.Bêsơ đã nói: “ Nền văn học mới bao giờ cũng ra đời cùng lúc với con người mới ” Tuy nhiên, một thời gian dài trong lý luận phê bình văn học của ta khái niệm “con người mới ”chủ yếu là một khái
(1) I Pêrênin “Văn học Nga cổ”, Mátxcơva – Lêningrat, Nxb “Hayka” 1966, (trang 219)
Trang 10niệm xã hội và chính trị, nó thích hợp để xem văn học từ các phương diện
ấy
Nhưng văn học là một sáng tạo nghệ thuật Nhiệm vụ của các nhà văn là sáng tác ra những con người trong tác phẩm nghệ thuật, họ tất yếu phải hình dung con người trên phương diện nghệ thuật Chính trên sự hình dung đó mà các nghệ sĩ đã làm ra cái mới cho nghệ thuật
Trong xã hội loài người đã có rất nhiều cách quan niệm về con người Luận điểm khái quát của Mác về bản chất xã hội của con người :
“Con nguời là tổng hoà các mỗi quan hệ xã hội”, điều này chỉ đúng trong trường hợp con người là sản phẩm của đời sống xã hội Triết học hiện đại
có cách quan niệm về con người rất độc đáo bởi vì người ta đứng ở góc độ riêng, đào sâu vào một vài khía cạnh của con người Mancô - nhà hiện sinh chủ nghĩa của Pháp - đã quan niệm: con người là tổng số kinh nghiệm về những điều bất hạnh mà nó đã trải qua Pốcnô - nhà văn, nhà triết học Mĩ- lại cho rằng: con người là sự tổng hợp những tai hoạ mà nó phải trải qua
Quan niệm của Mancô và Pốcnô đều nảy sinh trong xã hội tư sản phương Tây hiện đại, khi mà sứ mệnh con người bị xếp xuống bình diện thứ hai sau sứ mệnh của kĩ thuật, công nghệ Những quan niệm này chưa thấy được vai trò to lớn của nhân tố con người trong sự phát triển của xã hội
Cũng trong cách nhìn nhận về con người, M.Gorki lại có quan điểm khác Ông khẳng định: vinh quang thay chức phận làm người trên trái đất Quan niệm này đã đặt con người đúng vị trí của nó, tức là ở bình diện thứ nhất Đó là những quan niệm về con người, mỗi quan niệm đi vào một khía cạnh, một biểu hiện tương đối cụ thể nhưng chưa đầy đủ
Trang 11Vậy nghệ thuật quan niệm về con người như thế nào? Khác với quan niệm về con người trong triết học, đạo đức học, sinh vật học, tâm lý học, xã hội học Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu như “các nguyên tắc cắt nghĩa con người ” bằng các phương tiện nghệ thuật, phản ánh “giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thồng nghệ thuật, khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời”, phản ánh trình độ của tư duy nghệ thuật và nó cũng chịu ảnh hưởng của mặt bằng ý thức, văn hoá, thẩm mĩ thời đại Mỗi thời đại văn học có những giá trị độc đáo của riêng mình do gắn bó và nhằm đáp ứng những đòi hỏi cụ thể của từng giai đoạn cuộc sống Mỗi thời đại nhất định có một “mẫu số chung” cho quan niệm nghệ thuật về con người của thời đại mình Quan niệm về con người của một tác phẩm, một tác giả, một thời kỳ, giai đoạn văn học có độc đáo hay không là nhờ ở cái “tử số” của nó Con người trong thực tại và con người trong quan niệm của nhà văn luôn luôn biến đổi theo thời gian cho phù hợp với quy luật cuộc sống, quy luật sáng tạo
Tóm lại, phạm trù quan niệm nghệ thuật thuộc phạm vi ý thức của văn học, gắn liền với ý thức về chức năng, nhiệm vụ, khả năng của văn học Trong lịch sử văn học chẳng những con người với tư cách là đối tượng thể hiện của văn học đổi thay mà quan niệm nghệ thuật của nhà văn cũng thay đổi làm cho khả năng chiếm lĩnh con người trong văn học ngày càng sâu sắc, phong phú, tạo thành lịch sử của sự cảm nhận, miêu tả con người Có một quan niệm nghệ thuật không ngừng mở rộng, đổi mới thì nhà văn có khả năng phản ánh các chiều sâu, các biểu hiện đa dạng của nhân vật
Trang 12Quan niệm nghệ thuật về con người không nhất thiết đã được nhà văn ý thức một cách rõ rệt Rất có thể nó hiện diện một cách vô thức và khi miêu tả nhân vật, nhà văn tập trung chú ý vào nhân vật chứ không nhất thiết chú ý đến quan niệm của chính mình
Xét về phương diện tác phẩm, viện sĩ M.B.Khrápchencô nhận xét:
“Khái niệm quan niệm nghệ thuật, một khái niệm hợp lý xét về thực chất, tuy vậy đôi khi mang tính chất hết sức mơ hồ Những liên hệ, tương quan của quan niệm nghệ thuật với cấu trúc của từng tác phẩm, với các thành tố tạo thành của nó, với những tác phẩm khác của nhà văn chưa được phác ra
đủ sức sáng tỏ”.(2)
Tuy nhiên, các nhà văn lớn khi ý thức về sứ mệnh nghệ thuật của mình đã có ý thức sáng tạo ra quan niệm nghệ thuật mới
Không thể xây dưng các nhân vật văn học, nếu như không hiểu cặn
kẽ về con người trong cuộc sống Nhưng trong vô vàn những biểu hiện phong phú, phức tạp của hiện thực, ngòi bút của nhà văn sẽ hướng về đâu,
về con người nào, những phương diện nào của con người để thực sự tạo ra sức hấp dẫn cho nghệ thuật, có ích cho cuộc đời? Đó là những câu hỏi thường xuyên của các nhà văn, của ý thức nghệ thuật trong quá trình xây dựng nền văn học mới
Trở lại với nền văn học dân gian, do chưa xuất hiện cá tính của nhà văn nên mô hình con người của nó sẽ là những điểm chung nhất chi phối cách xây dựng nhân vật trong các thể loại Trong thời cổ đại, trình độ trí tuệ, ý thức con người phát triển chưa cao Con người cổ đại nhìn chung
(2) M.B.Khrápchencô “Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người” Nxb KHXH, H 1985 (Tập 2 trang 195)
Trang 13chưa thoát khỏi sự bao vây của tự nhiên, vũ trụ đối với họ là một thế giới đầy bí ẩn Họ thường dùng các hiện tượng thiên nhiên để giải thích, trình bày khát vọng của mình Nhân vật trong truyện cổ dân gian có mô hình nghệ thuật chung đó là các nhân vật mang tính chức năng, gọi là nhân vật chức năng Con người chưa có cá tính, chưa có biểu hiện tâm lý Tác giả dân gian đã trao cho nhân vật vai trò nhất định để thể hiện cách nhìn của mình về thế giới, thể hiện khát vọng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù hai chân và bốn chân Nhân vật Thánh Gióng trong truyện thần thoại “Thánh Gióng” sinh ra chỉ làm một việc là đánh giặc, còn nhân vật Tấm trong truyện cổ tích “Tấm Cám” là nhân vật đại diện cho cái thiện nên chức năng
là để tiêu diệt cái ác
Ttong văn học phương Đông, do anh hưởng của triết học phong kiến Nho – Phật – Lão, con người thường được nhìn như một thành phần hoà nhập với tự nhiên Mô hình con ngườiphổ biến là con người vũ trụ Người
ta gọi con người là “nhân thân tiểu thiên địa”(con người là một vũ trụ nhỏ ), “ thiên nhân tương dữ” (thiên nhiên và con người có mối quan hệ thân thiết, tương trợ nhau) Nhà văn trung đại không mô tả trực tiếp con người
mà mô tả qua cách nhìn vũ trụ, lấy tiêu chuẩn thiên nhiên để đánh giá Con người dưới thời trung đại thường là con người lệ thuộc vào người khác có quyền hơn mình, lệ thuộc vào tự nhiên, có những phẩm chất của tự nhiên là vĩnh cửu khi con người được mô tả bằng các phẩm chất của tự nhiên Đó chính là sự đánh giá, quan niệm của nhà văn về chính nhân vật của mình Theo quan niệm của người xưa : cái gì thuộc về thiên nhiên đều vĩnh cửu Nhà văn trung đại lấy thiên nhiên để mô tả con người một cách toàn diện
Trang 14Con nguời trung đại thường hình dung con người, một gia đình, một họ tộc như một cái cây
Từ quan điểm triết học đã nêu ở trên, văn học trung đại không chỉ hình thành kiểu con người thiên nhiên mà còn có cả kiểu quan niệm về con người phi ngã Văn học trung đại thường ca ngợi con người bề tôi hơn là con người tôi Con người bề tôi là những con người lệ thuộc có nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với tôn ti và trật tự phong kiến Quan điểm tạo ra những nhân vật không có gì sắc sảo, nó tròn trặn, mẫu mực, trang nghiêm, thể hiện những chuẩn mực sống mà chế độ phong kiến đã đề ra:
“Tam cương ngũ thường đối ” với nam và “tam tòng tứ đức” đối với
nữ
Trong con người bề tôi, ý thức về cá nhân mờ nhạt, do đó biểu hiện tâm lý cá nhân cũng mờ nhạt, đó là con người nghĩa lý chứ không phải là con người tâm lý Loại nhân vật này để thực hiện được lý tưởng, nghĩa vụ của nó, nó sẵn sàng bày tỏ ý chí của mình bằng các hành động phi thường Con người phi ngã ý thức cá nhân mờ nhạt, cho nên nó cũng không phù hợp với những ý tưởng sáng tạo cá nhân Mọi ứng xử ở đời của nó là tuân thủ lễ giáo, luôn luôn cho người già là mẫu mực, quá khứ là tấm gương
Tuy nhiên cũng trong nền văn học đó, không phải nhà văn nào cũng hoàn toàn lệ thuộc vào quy tắc nghệ thuật, của thời đại mình Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương đã vượt qua các quy tắc ấy bằng cách xoá bỏ trong thơ mình con người lệ thuộc, đề cao con người tự do “Truyên Kiều ” được coi
là cuộc cách mạng về con người Nguyễn Du đã để cho Thuý Kiều phá bỏ, đạp đổ bức tường cản trở của phong kiến, cũng chính là phá vỡ bước tường
Trang 15tư tưởng của xã hội trung đại cầm tù con người bao nhiêu thế kỷ, làm cho trái tim con người bị đè nén không dám đập, hồn thơ ngạt thở giữa gông cùm
Nếu như hai kiểu nhân vật này thuộc về yếu tố bất biến mang tính chất ổn định trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học trung đại Bởi vì nó chính là công thức mô tả, một kiểu định chế nghệ thuật khi
mô tả con người trong văn học trung đại Chuẩn mực của cái đẹp mang tính chất chính thống Loại yếu tố bất biến này có tác dụng tiêu cực, cản trở cá tính sáng tạo của nhà văn Trong khi đó, cá tính sáng tạo của nhà văn lại là một hiện tượng tất yếu mang tính quy luật, là động lực của tiến bộ nghệ thuật Sự cản trở càng lớn, càng khắc nghiệt bao nhiêu thì cá tính sáng tạo càng có khát vọng bừng dậy bấy nhiêu Từ đó đã xuất hiện loại yếu tố khả biến Và những mầm mống đầu tiên của con người cá nhân trong “Truyện Kiều”, trong thơ Hồ Xuân Hương là mô hình con người khả biến Tuy nhiên, con người cá nhân vừa xuất hiện, vừa trỗi dậy liền bị những thế lực thù địch với con người khống chế Nó sớm lâm vào bi kịch Trong văn học thường xuất hiện những con người nạn nhân như một sáng tạo của nhà văn
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học bao giờ cũng có
sự phát triển đi lên Bước sang văn học hiện đại, con người với tư cách cá nhân là nhân vật trung tâm, ý thức cá nhân và phát triển rất cao Nó là hệ quả tất yếu của một nền kinh tế xã hội mới mang tính chất tư sản Con người lúc này vừa là con người tự do vừa là con người lệ thuộc Đó là sự lệ thuộc vào hàng hoá
Trong văn học lãng mạn 1930 - 1945, các nhà văn đề cao cá nhân như một thế giới đối lập với cộng đồng, không lệ thuộc vào thứ tôn ti nào
Trang 16Văn học lãng mạn coi cái tôi cá nhân là trung tâm của thế giới, là đỉnh cao nhất của giá trị trong cách nhìn của nhà văn Cái tôi ấy tự tách rời cộng đồng để tìm kiếm cho mình một không gian riêng, thời gian riêng Nét độc đáo của nó là đã khẳng định một cách ngang nhiên, tích cực khát vọng giải phóng của con người:
“ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
(Xuân Diệu)
Vì tách khỏi cộng đồng nên khi thất bại nó không tìm được sức sống của mình trong sức sống chung của thời đại, của dân tộc như văn học cách mạng Chính vì vậy, mô hình nhân vật của nó là cá nhân cô đơn đối lập với môi trường xung quanh, khao khát tự do vô tận:
“Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”
(Xuân Diệu) Trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 có mô hình con người chung là nhân vật bi kịch Tuy vậy, mỗi nhà văn lại có con người bi kịch riêng của mình Ngô Tất Tố đi vào con người bi kịch không bị tha hoá (“Tắt đèn”), Nam Cao đi vào xét mặt triết lý của con người, đó là vấn đề con người bị tha hoá, đánh mất mình hoặc tất cả, hoặc một phần (Chí Phèo, Sống mòn, Một bữa no…) Còn Nguyễn Công Hoan lại đi vào xây dựng nhân vật bi hài kịch, đồ vật hoá, vật hoá con người, biến con người thành trò hề, thành những nhân vật gây cười, song đó lại là tiếng cười ra nước mắt (Đồng hào có ma, Người ngựa ngựa người…) Đi vào xây dựng, mô tả con người bi kịch chứng tỏ nhà văn đã có một cách nhìn khác về con người
Trang 17và cũng chứng tỏ sự bế tắc trong tư tưởng của các nhà văn hiện thực phê phán
Cũng trong giai đoạn văn học 1930-1945,các nhà văn cách mạng lại
có cái nhìn khác về con người.Con người trong văn học cách mạng trước hết là con người từ nạn nhân bắt đầu xuất hiện với tư cách chủ nhân Nó gắn liền với sự phát triển của ý thức dân chủ của nhân loại: con người tự làm chủ số phận mình, làm chủ lịch sử Con người cá nhân trong văn học cách mạng được khẳng định trong mỗi quan hệ với cộng đồng dân tộc, giai cấp Nó không thoát ly cuộc sống, thoát ly lịch sử như trong văn học lãng mạn
2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học kháng chiến
Trong thành tựu văn học sau cách mạng tháng Tám, văn học kháng chiến có vị trí đặc biệt Đó là một bước ngoặt khác hẳn về chất so với lịch
sử văn học trước đó.Đồng thời,đó cũng là thời kỳ đắp móng xây nền, tích luỹ những kinh nghiệm, những bài học nghệ thuật cho sự vận động và phát triển của văn học trong sự gắn bó với những nhiệm vụ, với cuộc sống cách mạng của dân tộc trong những giai đoạn về sau
Nhu cầu phục vụ kịp thời cho cuộc sống chiến đấu của nhân dân và nhiệt tình sáng tạo của không chỉ người cầm bút, mà của tất cả những ai có thể sử dụng ngòi bút làm vũ khí cổ vũ, động viên, thúc giục toàn dân đánh giặc, đã làm cho những thể loại ngắn trở thành món ăn tinh thần phổ biến đối với những người yêu văn học
Nhiều người đã nói đến truyện ngắn như một thành tựu của văn xuôi kháng chiến Tìm hiểu những thành tựu âý, những đóng góp của truyện
Trang 18ngắn kháng chiến với văn học, với cuộc sống từ góc độ quan niệm nghệ thuật về con người là một việc làm có ý nghĩa… Chúng tôi đồng tình với ý kiến cho rằng: lịch sư văn học cần được xác định bằng “giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống khả năng thâm nhập của nghệ thuật vào các miền khác nhau của cuộc đời”.(3)
Cách mạng tháng Tám năm1945 đã đem lại những biến đổi kỳ diệu cho con người Việt Nam Đó không chỉ là biến người nô lệ thành người tự
do của một nước Việt Nam độc lập, mà còn tập hợp, liên kết mọi người trong một cộng đồng dân tộc, trong các đoàn thể, tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc và nhân dân, đặt mỗi con người vào trong cộng đồng, sống vời sống chung của dân tộc và đất nước, trong dòng chảy xiết của lịch sử, thức tỉnh ở mỗi con người ý thức công dân và tinh thần dân tộc tiềm tàng Từ những cá nhân yếu đuối, rời rạc, nhỏ bé trong xã hội cũ giờ đây đã trở thành con người của dân tộc, của tập thể, của sự nghiệp chung Từ thanh niên, thiếu niên, phụ nữ, phụ lão, nông dân, công nhân, bộ đội, tri thức… ai cũng tìm thấy đoàn thể của mình Mọi người dân hầu như sống một cuộc sống chung duy nhất của sự nghiệp độc lập, tự do của kháng chiến Chỉ trong sự nghiệp chung của dân tộc, con người mới cảm thấy hạnh phúc, tự
do, có tầm quan trọng, có ý nghĩa Người ta đi vào cách mạng như trẩy hội, cái chung lấn át cái riêng tư, đời sống hàng ngày nhường chỗ cho đời sống chính trị, đời sống chung được cảm nhận như đời sống riêng tư của mỗi người “Đó là hình thái lịch sử khách quan của con người trong các thời đại
(3) Trần Đình Sử “Thi pháp thơ Tố Hữu”, TPM 1987 (trang 97)
Trang 19cách mạng và cũng là cơ sở khách quan của quan niệm con người trong văn học cách mạng nói chung và văn học kháng chiến nói riêng”.(4)
Nếu con người lý tưởng của văn học trung đại chủ yếu là những kẻ
sĩ, những tài tử giai nhân, nếu văn học 1930 - 1945 chú ý đến những thanh niên trí thức hoặc hướng về tìm hiểu số phận, phẩm chất của những con người nhỏ bé, những nạn nhân, thì trong giai đoạn 1945 - 1954, thực tế cách mạng đã mang lại cho người cầm bút những định hướng mới về quan niệm con người Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người dưới ánh sáng và ảnh hưởng của cách mạng tháng Tám đã chi phối sự phát triển của văn học nói chung, của chuyện ngắn nói riêng ngay sau 1945 Tầm quan trọng và những yêu cầu cấp bách của sự thay đổi đó về lý luận được đánh dấu bằng nhiều bài báo (của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng ) tiêu biểu là “Nhận đường” (1948) của Nguyễn Đình Thi “Sống được cuộc sống kháng chiến của dân tộc, hiểu được hướng đi tới của xã hội
ta hiện thời, cảm xúc được những cảm xúc mới của kháng chiến, tất cả vấn
đề sáng tác quyết định ở điểm ấy (…) Hàng vạn hàng triệu các anh đang đem sức tay, sức óc xây dựng đất nước mới Con người mới của dân tộc, người anh hùng của thời đại chính là những người bình thường mà lớn lao như vậy”(5)
Về sáng tác, sự thay đổi quan niệm về con người ấy đã trở thành cảm hứng chủ đạo của nhiều tác phẩm, tiêu biểu là “Đôi mắt” (1948) của Nam Cao.Trong cuộc gặp lại vợ chồng Hoàng, Độ đã hy vọng và rồi thất vọng vì thái độ và cách nhìn nhận của họ trước những thay đổi to lớn ngoài cuộc
(4) Nhiều tác giả “Một thời đại mới trong văn học ”, Nxb Văn học (trang 45)
(5) “TLKT Văn học Việt Nam 1945 – 1954”, Gd 1981(trang 35 - 36)
Trang 20đời Lý do không viết được của Hoàng không phải là vì hoàn cảnh tản cư khó khăn, “ngay đến một cái bàn viết ra hồn cũng không có nữa” như anh
ta nói - mà là vì “anh đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi (…) Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người
ta càng thêm chua chát và chán nản”- Vấn đề của văn học nói chung sau
1945 là vấn đề quan niệm của con người
Cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc là trường học, lớn lao mở rộng tầm mắt, rèn luyện ý chí, nuôi dưỡng tình cảm lành mạnh cho người làm công tác văn nghệ Từ xã hội cũ bước sang cuộc sống mới, từ chỗ mỗi người là một thế giới nội tâm riêng biệt chuyển sang cuộc sống tập thể đông vui, ở mỗi người văn nghệ sĩ không phải đã hết tiếng tơ đàn riêng lẻ
từ quá khứ vọng về Nhưng rồi cuộc kháng chiến của nhân dân như bản giao hưởng hùng tráng cuồn cuộn vang lên cuốn hút tất cả nnhững âm thanh riêng lẻ và âm hưởng chung của thời đại
Nhà văn là một công dân đồng thời với sự nhạy cảm của người nghệ
sĩ, đã cảm nhận được điều biến đổi lớn lao ấy Cách mạng tháng Tám, rồi kháng chiến đã đem lại cho nhà văn sự phát hiện lớn lao: phát hiện ra sức mạnh quật khởi của dân tộc và con người Việt nam hiện ra trong một vẻ đẹp mới lạ của đời sống cộng đồng Nguyễn Đình Thi viết: “chúng ta đã tìm thấy bao trùm lên chúng ta, bao trùm làng xóm, gia đình chúng ta là một cái gì lớn lao chung- ấy là dân tộc” Còn Hoài Thanh thì đã có nhận định rất đúng đắn trên tạp chí “Tiên phong” số 2/1945: “Thực đẹp đẽ vô cùng cái quang cảnh của một dân tộc vươn mình đến ánh sáng, cảnh tưng bừng của cả dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy Tôi cảm thấy khắp nơi ở quanh tôi và trong lòng chúng tôi một cuộc tái sinh màu nhiệm Đoàn thể
Trang 21tái tạo chúng tôi, và trong bầu không khí mới của giang sơn, chúng tôi - những nạn nhân của thời đại chữ tôi hay muốn gọi là tù nhân cũng được - chúng tôi thấy rằng đời sống của cá nhân không có ý nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể”
Học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng xã hội là cơ sở ý thức, và thực tiễn lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc là nền tảng cuộc sống cho quan niệm con người của nền văn học mới Rất nhiều lần chúng ta khẳng định: “xuất phát
từ quan điểm quần chúng nhân dân lao động là người sáng tạo ra lịch sử, chúng ta chủ trương văn nghệ phục vụ nhân dân, chủ yếu là phục vụ công - nông - binh”(6)
Điều đó cho thấy sự ý thức bước đầu về quan niệm mới về con người Cho đến cuộc tranh luận văn nghệ năm 1949 ở Việt Bắc, và suốt cuộc kháng chiến chống Pháp quan niệm con người quần chúng ngày càng được khẳng định trong sáng tác như một phát hiện nghệ thuật quan trọng và hết sức mới mẻ của thời đại
Nhân vật quần chúng cách mạng được thể hiện trong phần lớn tác phẩm của văn học kháng chiến chống Pháp, từ tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, đến thơ Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư…cho đến các tác phẩm văn xuôi của: Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm…Nhân vật trữ tình của thơ là con người xuất thân từ quần chúng, kiểu trữ tình nhập vai như nhân vật trong các bài thơ:“Phá đường”, “Bầm
(6) BCHTƯ Đảng “Những bức thư của BCHTƯ Đảng gửi các Đại hội văn nghệ”,Nxh Sự thật HN 1975 (trang 12)
Trang 22ơi”, “Thăm lúa”…Hoặc nửa nhập vai như trong: “Bà bủ”,“O tiếp tế”… Các đại từ như “chúng tôi”, “chúng ta”, “lũ chúng ta”… xuất hiện rất nhiều trong thơ Có khi nhà thơ thu mình lại để trở thành người suy tôn quần chúng (Lên Tây Bắc, Cá nước…)
Với sự thắng lợi của cách mạng, sự thay đổi quan niệm về con người của người cầm bút đã như được giải quyết về lý trí, nhưmg chưa có máu thịt về bề sâu cảm xúc Đó cũng là một biểu hiện của không khí thời đại Chính vì thế, ở đại hội văn nghệ I (1948) các nhà văn nói đến tình trạng không viết được Vì chưa có sự thúc đẩy của nội tâm, và trong kháng chiến,
có lúc họ thấy “tìm sống” quan trọng và cấp bách hơn “tìm hiểu”(7) Chủ trương “kháng chiến hoá văn hoá, văn hoá hoá kháng chiến”, rồi “cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt” là tiếp tục tạo cho nhà văn những tiềm lực nghệ thuật từ những cảm xúc phong phú nảy sinh trên sự gắn kết với cuộc sống sôi động của nhân dân để đổi “tầm văn hoá” của ngòi bút tái hiện, nhìn nhận phán xét cuộc đời Đó là một quá trình, song trùng với những thay đổi về quan niệm về con người là những dấu hiệu, những đóng góp mới mẻ của văn học Nhìn trên sáng tác truyện ngắn sau 1945, ta cũng thấy rõ điều ấy
Trong các tác phẩm của mình, các nhà văn kháng chiến đã nhìn con người trên cấp độ tập thể, đám đông quần chúng cách mạng Con người tập thể quần chúng cách mạng cũng xuất hiện trong trong thơ giai đoạn này nhưng thể hiện đa dạng, phong phú, sâu sắc, cụ thể hơn ở văn xuôi Quần chúng ở đây không đơn thuần là một đám đông vô tổ chức mà là quần chúng cách mạng được tập hợp trong một tổ chức có tôn ti, trật tự Trong
(7) Nguyễn Đình Thi – Văn nghệ số 10 (3/1949)
Trang 23tập thể có nhân vật có tên tuôỉ , có nhân vật vô danh, nhưng không vì thế
mà mờ nhạt Nhân vật quần chúng xuất hiện cụ thể trong các tác phẩm văn xuôi: Đôi mắt, Vùng mỏ, Con trâu, Xung kích… Các tiểu thuyết kiểu vừa như: Xung kích, Con trâu, Vùng mỏ có rất nhiều nhân vật và tác giả đã xây dựng nhân vật chính thường có vị trí đẳng lập với các nhân vật phụ
Đảng luôn luôn chỉ rõ quần chúng nhân dân là đối tượng phản ánh và phục vụ chủ yếu, là đối tượng thẩm mỹ chính của văn học.“Muốn sáng tác tốt, các nhà văn nghệ không thể tách rời quần chúng”(8)
Lúc này các nhà văn kháng chiến chống Pháp còn nhìn con người trong tư thế là chủ nhân của đất nước Đây là sự kế thừa và phát triển quan niệm về con người trong văn học cách mạng trước 1945 Quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn kháng chiến là quan niệm mới mẻ, tiến
bộ, phù hợp với chân lý cuộc sống , với yêu cầu lịch sử Để có quan niệm như vậy, bên cạnh các yếu tố khách quan như: sự đòi hỏi của cuộc sống, sự phát triển của văn học thì nhân tố nhà cũng rất quan trọng Sau hội nghị văn nghệ toàn quốc tại Việt Bắc tháng 7 – 1948 và khi tác phẩm “Đôi mắt” của Nam Cao được công bố thì văn nghệ đã nhận ra được con đường đi đúng đắn của mình
“Văn nghệ phải ghi lấy các sắc thái của xã hội Việt Nam đương biến chuyển, phải hoà hợp với bước đi của dân tộc đương tiến tới tương lai Ghi được cách nhìn, biểu cảm nỗi nghĩ của người Việt Nam kháng chiến, ghi được cái tình kháng chiến “(Tạp chí văn nghệ số 4 năm 1948) Ở hội nghi tranh luận hội nghị Việt Bắc (9-1948) các nhà văn nhận thấy: sáng tác văn
(8) BCHTW Đảng “Những bức thư của BCHTW Đảng gửi các ĐH văn nghệ” Nxb Sự thật, HN 1975 (trang 12)
Trang 24nghệ đòi hỏi phải “hiểu nổi quần chúng… nhận định đúng cuộc đời… sáng tác phải có cảm xúc… cảm xúc của ta phải là cảm xúc của quần chúng và cảm xúc của quần chúng phải được thể hiện trong văn nghệ”, nhà văn phải
“nhận xét đúng cuộc sống, con người Quan niệm rõ con người mới và vẽ lên cuộc sống mới”(9)
Nhà văn phải đi vào cuộc sống của nhân dân và phản ánh chân thực cuộc sống đó, đi thâm nhập thực tế cuộc kháng chiến để phản ánh những vấn đề mới mẻ nảy sinh trong hoàn cảnh chiến tranh Những lần đi vào quần chúng cách mạng, đi đầu quân, đi chiến dịch và cầm súng trực tiếp đánh giặc, nhà văn đã có một cái nhìn khác hẳn về con người so với các giai đoạn văn học trước Để có được cách nhìn mới mẻ này, nhà văn phải trải qua sự trăn trở, lột xác, tìm tòi của quá trình “nhận đường” và để nhận được con đường đi đúng đắn cho mình, nhà văn phải đổ cả máu lẫn nước mắt, thậm chí cả hy sinh mất mát
Một nền văn học thường tương ứng với nó có một kiểu nhà văn Nền văn học dân gian các sáng tác chủ yếu là của dân gian, nó không có tác giả
cụ thể Văn học trung đại thì kiểu nhà văn chủ yếu là nhà nho Giai đoạn văn học 1930 – 1945, những người tri thức tiểu tư sản lại đóng vai trò là kiểu nhà văn chính
Và mỗi kiểu nhà văn có một quan niệm nghệ thuật riêng về con người Một quan niệm riêng lại có kiểu nhân vật tương ứng Đó là lý thuyết
ba cấp độ, nhìn vào giai đoạn văn học sau năm 1945, chúng ta cũng thấy rõ điều đó Văn học sau năm 1945 là nền văn học mới tương ứng với nó có kiểu nhà văn mới: nhà văn chiến sĩ Họ xuất thân ở mọi tầng lớp, giai cấp,
(9) Tạp chí văn nghệ tháng 11, 12/1949 (trang 58)
Trang 25họ có một quan niệm mới về con người Chính từ quan niệm về con người quần chúng đã dẫn đến sự ra đời của loại hình nhân vật độc đáo, mới mẻ: nhân vật tập thể – quần chúng cách mạng Quan niệm này đã làm cho các nhà văn kháng chiến phát hiện ra những phẩm chất đẹp đẽ tiềm tàng trong con người quần chúng và ghi một dấu ấn đậm nét trong sự phát triển của văn học dân tộc
“Như vậy quan niệm con người quần chúng đã cải tạo lại cấu trúc bên trong của hình tượng nghệ thuật Lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà, quần chúng được nhận thức và lí giải như là người chủ nhân của đất nước, người trực tiếp tham gia sáng tạo ra lịch sử của mình Họ là những nhân vật chính diện, nhân vật trung tâm của văn học”.(10)
3 Khái niệm về nhân vật quần chúng
Không thể xây dựng các nhân vật văn học nếu như không hiểu cặn
kẽ về con người trong cuộc sống Nhưng trong vô vàn những biểu hiện phong phú, phức tạp của hiện thực, ngòi bút của nhà văn sẽ hướng về đâu,
về những con người nào, những phương diện nào của con người để thực sự tạo ra sức hấp dẫn cho nghệ thuật, có ích cho cuộc đời? Nhân vật được sáng tạo ra, hư cấu ra là để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ của nhà văn đối với cuộc sống Ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời, xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời Do vậy tìm hiểu nhân vật
là tìm hiểu cách hiểu về con người và cuộc đời, tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của người cầm bút đối với con người
Nhân vật được biểu hiện trong văn học bằng các phương tiện văn học Trong tác phẩm tự sự, nhân vật là con người được tác giả kể ra, tả ra
(10) Nhiều tác giả “Một thời đại mới trong văn học” Nxb Văn học 1995 (trang 48)
Trang 26bằng lời kể Chính nhà văn dùng lời gọi tên nhân vật, gọi tên các hành động, trạng thái tâm hồn của nhân vật Nhân vật trong văn học có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện Nhân vật có khi là một người, có khi là cả một tập thể người rộng lớn Loại nhân vật tập thể quần chúng xuất hiện nhiều trong văn xuôi kháng chiến 1945 – 1954 Không phải ngẫu nhiên mà các tác giả lại tập trung nhiều vào loại hình nhân vật này Và nhân vật trung tâm của văn xuôi giai đoạn 1945 – 1954 là con người mới, là người cầm vũ khí trong kháng chiến chống ngoại xâm Nhưng nhận thức về con người mới, về người lính cách mạng đối với người cầm bút còn diễn ra theo một quá trình phức tạp Những người nông dân, công nhân, bộ đội với tất cả những mặt phong phú của họ không phải
là một hiện tượng tĩnh, dễ nắm bắt Vì vậy việc tìm hiểu, phát hiện, khái quát thành những tính cách nhân vật, số phận đi đôi việc tìm đường, định hướng cả việc thay đổi quan điểm thẫm mỹ của nhà văn
Quần chúng là một khái niệm để chỉ đề tài và chủ đề: văn học biểu hiện quần chúng “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ao ước của nhân vật quần chúng”(11) Quần chúng là nguyên tắc xây dựng nghệ thuật, là tiêu chuẩn đánh giá nghệ thuật Phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng
“Không thể lấy cái “tôi” làm tiêu chuẩn Người nghệ sĩ phải tự hỏi quần chúng xem bài này thế nào? Quần chúng có cảm xúc không? Những nỗi niềm của quần chúng có được nêu lên ở đây không?”(12) Quan niệm về con người quần chúng quy định cách đặt vấn đề về con người và thể hiện
(11) Hồ Chí Minh, “Về công tác văn hoá, văn nghệ” Nxb Sự thật, HN 1971 (trang 16)
(12) Tố Hữu, “Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta”, Nxb Văn học
HN 1973 (trang 46)
Trang 27con người trong tác phẩm cũng như phạm vi chiếm lĩnh của văn học Đề cương văn hoá năm 1943 của Đảng đã đề ra đường lối cho văn nghệ Việt Nam là dân tộc hoá, đại chúng hoá, khoa học hoá Đại chúng hoá tức là yêu cầu nhà văn phải lấy quảng đại quần chúng làm đối tượng, làm mục đích sáng tạo Nhà văn phải phản ánh những hiện tượng, những sự kiện, đặt ra những vấn đề có ý nghĩa đối với vận mệnh của nhân dân Người cầm bút phải đứng trên lập trường tư tưởng, tình cảm của nhân dân để giải quyết những sự kiện, hiện tượng văn học Đồng thời dùng hình thức nghệ thuật phù hợp với nhận thức của quần chúng
Con người quần chúng là một phát hiện nghệ thuật quan trọng bậc nhất của nền văn học thời kháng chiến chống Pháp và nó còn tiếp tục chi phối văn học các giai đoạn sau cho đến năm 1975 Các nhà văn, nhà thơ đã trưởng thành trong kháng chiến, họ đã có cái nhìn đúng đắn về đối tượng
và mục đích sáng tác Nhà văn đến với quần chúng, tiếp súc và đưa họ vào tác phẩm của mình Tuy nhiên nhân vật quần chúng trong văn học 1945 –
1954 và nhất là trong văn xuôi kháng chiến chống Pháp không phải là hình tượng quần chúng chung chung mà là quần chúng cách mạng Họ là những công nhân, nông dân, tiểu tư sản được tập hợp trong một tổ chức, một đoàn thể lớn nhỏ khác nhau nhưng đều có chung phẩm chất cách mạng Quần chúng trong kháng chiến đã trưởng thành về ý thức cộng đồng, ý thức giai cấp, tinh thần đoàn kết chính vì thế đã tạo nên được một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn góp phần làm nên chiến thắng
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÂN VẬT QUẦN CHÚNG TRONG VĂN
XUÔI KHÁNG CHIẾN (1945 – 1954)
1 Nền văn học mới với việc thể hiện nhân vật quần chúng
Văn xuôi năm đầu cách mạng thừa hưởng những thành tựu của mấy chục năm trước đã đạt được Nó phản ánh được hiện thực lúc ấy, song văn xuôi đầu cách mạng xét về cả nội dung và hình thức, giá trị văn học còn non yếu Tuy nhiên, những sáng tác ấy nếu chưa tạo ra được cái gì lớn lao thì cũng là bước chuyển quan trọng có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển tiếp theo
“Nói cách khác nó cũng như gian nhà dựng tạm sau này người ta phá
nó đi để xây dựng những toà nhà chính thức, quy mô hơn Nhưng dù sao nó cũng có vai trò trong lịch sử của nó”(13)
Chín năm kháng chiến tạo nên một bước phát triển mới của văn xuôi Văn xuôi phát triển theo tiến trình “nhận đường” (1947 – 1948) Cuộc
“nhận đường” này không chỉ diễn ra với các nhà văn sáng tạo từ trước cách mạng mà cả với các nhà văn ra đời và trưởng thành trong cách mạng và kháng chiến cùng quyết tâm tất cả cho kháng chiến, tất cả cho dân tộc
Các tác phẩm văn xuôi nói chung cùng với truyện ngắn “Đôi mắt” của Nam Cao thể hiện rõ cuộc “nhận đường” của các văn nghệ sĩ: hướng đến cuộc sống mới, nhất là con người nông dân mặc áo lính Thay đổi “Đôi mắt” tức là thay đổi cách nhìn cuộc sống, từ đó thay đổi quan niệm sáng tác, khẳng định một kiểu nhà văn mới Không phải tự nhiên Nam Cao nêu
(13) Hoàng Như Mai “Văn học Việt Nam hiện đại” Nxb GD H 1961 (trang 88)
Trang 29và giải quyết được đúng và sâu sắc vấn đề “Đôi mắt” – Vấn đề cách nhìn – ngay từ những ngày đầu Yêu cầu của cách mạng là phải chống triệt để mọi thái độ bàng quan, kiêu ngạo, đứng ra ngoài cuộc kháng chiến, đứng lên trên quần chúng, do đó mà đặt ra cho người nghệ sĩ cái yêu cầu phải cải tạo con người cũ của mình, trước hết và chủ yếu là cải tạo tư tưởng, cải tạo cách nhìn Từ tình trạng bế tắc “chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai”, Độ đã tìm thấy niềm vui, niềm tự tin ở sự dẻo dai, “đi hàng mười lăm cây số”, “ngủ ngay trong nhà in, đèn sáng và máy chạy ầm ầm”, tìm thấy “những cảm hứng mới cho văn nghệ” khi “ đi theo
bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền, nhập bọn với các đoàn văn hoá kháng chiến”, khi đã thay đổi “trong cuộc thay đổi lớn của dân tộc chúng ta”
Hình tượng những người dân quê, như lời các nhân vật trong “Đôi mắt” trò chuyện: “Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân, phát xít, phạm động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả tân dân chủ nữa ”, những người “răng đen mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buốn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm, mà không hề bận tâm đến vợ con nhà cửa như họ vẫn thường thế nữa” Luôn hướng về những công việc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc là những dấu hiệu cơ bản của kiểu nhân vật “làm nhiệm vụ trung, nghĩ sự nghiệp chung” rất phổ biến trong truyện ngắn kháng chiến
Trong “Đôi mắt” có những hình tượng nhân vật chỉ thoáng xuất hiện nhưng tính chất đại diện cho dân tộc lộ ra rất rõ khi họ được miêu tả với ý thức chung của cộng đồng Một anh thanh niên vắc bó tre đi ngăn quân thù
Trang 30mang ý thức “cuộc trường kỳ kháng chiến của ta phải chia làm ba giai đoạn ”
Từ năm 1951 trở đi là thời kỳ được mùa của phong trào sáng tác Tiểu thuyết xuất hiện là cho bứa tranh đời sống kháng chiến có thêm đường nét, màu sắc mới Tuy ra đời muộn nhưng các tác phẩm đã góp phầp rất lớn trong việc khẳng định sự ra đời và phát triển của một loại hình nhân vật mới mẻ, độc đáo
“Xung kích” (1951) của Nguyễn Đình Thi là tác phẩm dài đầu tiên viết về cuộc chiến đấu của bộ đội ở chiến trường Tác phẩm phản ánh một quy mô lớn cuộc sống của bộ đội trên mặt trận Đại đội Trần Phú tham ra chiến dịch Vĩnh Yên đã hành quân ngót mười ngày đêm ròng rã từ biên giới phía Bắc về Vừa tới vị trí tập kết đã phải lao ngay vào công việc chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị đầy đủ nhanh chóng để kịp thời nổ súng đúng kế hoạch Ở đây người đọc thấy rõ con người mới, đoàn kết trong đấu tranh giải phóng dân tộc Sức mạnh người lính được lý giải từ cuội nguồn gắn bó với nhân dân, quê hương đất nước Hình ảnh con người mới hiện lên rõ nét Những quan niệm về cuộc sống của họ hình thành và phát triển thể hiện quá trình vận động từ bộ phận, phiến diện đến nhận thức đầy đủ toàn diện
“Vùng mỏ” (1951) của Võ Huy Tâm mô tả cuộc đấu tranh của công nhân mỏ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cuộc đấu tranh đòi những quyền lợi kinh tế, từ đó đoàn kết công nhân thành một tổ chức mạnh mẽ chuẩn bị phối hợp với lực lượng vũ trang bên ngoài để giải phóng mỏ, giành quyền làm chủ cho giai cấp công nhân Ở đây đã diễn ra cuộc đầu tranh quyết liệt giữa hai lực lượng đối lập: một bên là đế quốc, chủ mỏ, chủ thầu, bọn mật
Trang 31thám tay sai có cộng cụ đàn áp mạnh mẽ là quân đội, nhà tù; một bên là toàn thể những người công nhân “trong đau khổ đã kết chặt với nhau vùng dậy đấu tranh với giặc dưới sự lãnh đạo của Đảng” Với tinh thần hữu ái giai cấp anh em thợ cũ đã giúp đỡ anh em thợ mới vượt qua khó khăn, giữ vững tinh thần đấu tranh, giành thắng lợi
Trong những tác phẩm viết về nông thôn chiến đấu, “Con trâu” (1953) của Nguyến Văn Bổng viết từ chiến trường liên khu V, có một vị trí nhất định Tác phẩm tập trung miêu tả cuộc chiến tranh du kích của đồng bào chiến đấu bảo vệ trâu, bảo vệ sản xuất tức là bảo vệ lực lượng kháng chiến Cho nên vấn đề bảo vệ trâu đưa đến vấn đề tổ chức du kích, tổ chức làng kháng chiến Bảo vệ trâu không dơn giản là vấn đề con trâu mà lớn hơn, khái quát hơn là bảo vệ tinh thần kiên trì cách mạng, kiên trì chiến đấu.Thông qua việc bảo vệ trâu và những người du kích bám làm đánh giặc, tác giả phản ánh cả một quá trình phát triển và trưởng thành của cuộc kháng chiến, của người nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng có đủ cơ sở tinh thần và vật chất để làm thất bại âm mưu địch và đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi
Nhìn chung cả ba tiểu thuyết đều ghi vào ký ức của người đọc những
ấn tượng tốt đẹp về tinh thần hy sinh anh dũng và chiến đâú lạc quan của những con người mới Trong các tác phẩm, nhân vật chính là đám đông, là tập thể: một tổ ba người, một đơn vị chiến đấu, một cơ quan, một tập thể lãnh đạo, một trung đội, một đại đội, một tiểu đội, một địa phương, một đội
du kích tác giả đã nêu lên được sức mạnh tập thể và tính chất tập thể của con người mới
Trang 32“Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài viết năm 1952 đã dựng lên những con người, những khung cảnh chiến đấu hiểm trở và giầu có của Tây Bắc nước ta.“Truyện Tây Bắc” là một tập gồm ba truyện: Mường giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ Cả ba truyện hợp lại là hình ảnh của các dân tộc Tây Bắc (chủ yếu là Thái, Dao, Hmông) đã chịu khổ trong mấy năm giặc chiếm, lòng luôn luôn hướng về kháng chiến, quật cường bất khuất chiến đấu cho đến ngày giải phóng hoàn toàn
“Mường giơn” là tiểu thuyết đầu tiên trong tập truyện được ra mắt bạn đọc Mường giơn điển hình cho bao nhiều làng xóm khác ở Tây Bắc từ phong cảnh đến con người, từ âm mưu tội ác của giặc đến phong trào chiến đấu của ta ở đấy Truyện “Mường giơn” có ba phần, cũng là thời kỳ chính của nhân dân Mường giơn từ sau cách mạng tháng Tám trải qua giặc chiếm đóng đến khi được giải phóng hoàn toàn Ở “Mường giơn” vấn đề dân tộc
đã được biểu hiện lên một cách đúng đắn Tinh thần đoàn kết dân tộc được bật rõ lên trong tác phẩm Dao, Mường, Hmông, Thái, Kinh thân yêu nhau như một nhà, không thể nào chia rẽ được Bọn giặc và tay sai cố gây ra những luận điệu xuyên tạc chia rẽ dân tộc và đồng bào ta ít nhiếu có mắc phải Những việc làm thực tế do tinh thần đoàn kết dân tộc sẵn có của nhân dân ta đã đập tan những luận điệu đó Những hình ảnh đồng bào Dao đem tre nứa giúp đồng bào Thái dựng lại nhà, đồng bào Hmông chặn giặc trên núi, những hình ảnh anh đại đội trưởng người Kinh về làng, chị cán bộ Mường ngồi bên chị Thái đã tạo nên những ấn tượng sâu sắc về đoàn kết dân tộc Ở đây thật là một đại gia đình dân tộc nhất trí bên nhau gắn chặt bằng một sợi dây tình cảm thiêng liêng “Tinh thần yêu nước đó thấm
Trang 33nhuần trong mọi hành động của nhân dân Mường giơn, kết tinh lại ở một lòng tin: tin tưởng ở kháng chiến, ở chính phủ, ở cụ Hồ”(14)
“Con đường cái nghìn nghịt bộ đội và dân công lẫn lộn trong bụi đất đỏ Những cây con hai bên đường bị dẫm nát như rạp xuống Là nguỵ trang rụng đầy đường”(15) Giữa đám người nghìn nghịt đó khó ai có thể biết được tên tuổi, quê quán người bạn đường đi bên mình Sự thần tốc của cuộc kháng chiến không cho phép họ có thời gian hỏi thăm về nhau Mỗi người tự thấy cái phần đóng góp của mình, thấy mình đã và đang hoà vào không khí sôi động chung của cuộc kháng chiến Đến nỗi anh công an viên như không tin vào mắt mình đã thốt lên: “Người ở đâu đổ ra lắm thế! Mấy nghìn, mấy vạn cứ như thế này suốt đến sáng”(16)
Ở “Vùng mỏ” nhân vật đám đông là tập thể những người thợ mỏ Họ đến từ mọi miền đất nước, thuộc nhiều thành phần giai cấp khác nhau Họ
(14) Tô Hoài – Về tác gia và tác phẩm (trang 227)
(15) Nguyễn Đình Thi “Xung kích”, (Trang 56)
(16) Nguyễn Đình Thi “Xung kích”, (Trang 67)
Trang 34đấu tranh với chủ mỏ, với thực dân để giành lại quyền lợi chính đáng cho mình: “Mấy trăm người vừa nói vừa xông vào đám bụi như trẻ em cướp pháo ngày hội Một phút, bao nhiêu truyền đơn bị thu hết, đưa cho một số người cầm Không ai thèm xem Mọi người đi lên trực”(17, đấu tranh đòi phát gạo đúng kỳ “Cổng kho đã thấy một hàng người dài đến quá kho gỗ, Min đứng sau, nhưng sau Min vẫn còn bao nhiêu người nữa nối mãi vào”(18) Sự đoàn kết của những người công nhân vô danh kiến cho kẻ thù cũng phải run sợ: “Hàng ngũ lại thẳng tắp, người mỗi ngày tiếp đến một đông sáu, bảy ngàn người đen ngòm trước cửa kho tụi quan hai sở và quan hai nhà binh cho lính đi tuần ngoài phố mặt đỏ gây sấn đến tưởng chừng có thể bắn từng người ấy hay có thể bỏ tù từng người ấy được Nhưng khi đến gần, khối người coi có vẻ thép quá, cương quyết quá, đứng đắn quá, đông quá Thằng quan hai bỏ hai tay vào túi quần đi vào bàn giấy chủ nhất”(19) Sự liên kết giữa những con người cùng chung số phận khổ đau, áp bức đã làm cho mỗi người thấy mình tự tin, vững vàng hơn Người công nhân trưởng thành lên trong tập thể, trong đấu tranh cách mạng
Trong “Con trâu” nhân vật đám đông là những người nông dân, những du kích ngày đêm bám giữ làng, bảo vệ trâu, chống lại sự càn quét của địch, tiếng hét xung phong vang dội tràn khắp các xóm, khắp cả thôn Đồng bào, du kích ở đâu sau các lùm cây, các bụi rậm hai bên bờ sông trồi lên, toả ra, vung lên nào dao, rựa, giáo, mác, cuốc, vồ, cây, gậy ”(20)
Khí thế đồng bào xã Hồng phong chính là khí thế tấn công của muôn người như
(17) Võ Huy Tâm “Vùng mỏ”, (Trang 73)
(18) Võ Huy Tâm “Vùng mỏ”, (Trang 94)
(19) Võ Huy Tâm “Vùng mỏ”, (Trang 96)
(20) Nguyễn Văn Bổng “Con trâu”, (Trang 172)