Các nhà phê bình văn học trên cũng đã đưa ra những nhận xét có giá trị về tác phẩm của Nguyễn Đình Tú qua các bài viết như: “Kín”- một dòng tiểu thuyết miên man; “Từ Hồ sơ một tử tù” đến
Trang 2Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp hệ đại học của mình, trước hết em xin gửi lờicảm ơn chân thành nhất đến toàn thể quý thầy cô của trường Đại học Thủ Dầu Một, quý thầy cô của khoa Ngữ văn vì đã luôn dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức vô cùng quýbáu cho em trong suốt bốn năm học tập và rèn luyện tại trường.
Em xin cảm ơn TS Hà Thanh Vân, người đã nhiệt tình hướng dẫn em
thực hiệnthành công khóa luận tốt nghiệp Ngoài ra em xin chân thành cảm ơn các thầy cô của khoa Lịch sử vì đã luôn tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em hoàn thành khóa luận, giúpem giải đáp những thắc mắc về lý thuyết và thực tiễn.
Với vốn kiến thức hạn hẹp và quỹ thời gian tìm hiểu có hạn nên em không tránhkhỏi những thiếu sót trong bài khóa luận tốt nghiệp của mình Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của quý thầy cô Đó sẽ là hành trang quý giá giúp em hoàn thiện kiến thức của mình sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Với đề tài khóa luận tốt nghiệp Đại học: “Thế giới nhân vật trong tiểu
thuyết Xác phàm của nhà văn Nguyễn Đình Tú” , tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu ra trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Phạm Tuấn Kiệt
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.1 Về phía nhà văn – tác giả: 1
1.2 Về phía tác phẩm: 2
1.3 Về bản thân người nghiên cứu đề tài: 2
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẦN ĐỀ 4
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
5 Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN 11
6 CẤU TRÚC KHÓA LUẬN 12
CHƯƠNG 1: NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH TÚ VÀ NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 13
1.1 Khái quát chung về tình hình văn học sau năm 1975 13
1.1.1 Những bước chuyển của đất nước về lịch sử - xã hội 13
1.1.2 Những thay đổi đáng ghi nhận của văn học Việt Nam sau 1975 18 1.2 Tiểu thuyết đương đại Việt Nam – Sự vận động và tiếp cận hiện thực không ngừng nghỉ 37
1.2.1 Khái quát về thể loại tiểu thuyết 37
1.2.2 Đặc điểm tiểu thuyết sau 1975 42
1.3 Nhà văn Nguyễn Đình Tú 47
1.3.1 Con người và sự nghiệp sáng tác 47
1.3.2 Quan niệm sáng tác 50
Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT“XÁC PHÀM” 56 2.1 Khái quát về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (Magic Realism) 56
2.1.1 Yếu tố kỳ ảo 62
2.1.2 Tóm tắt tác phẩm “Xác phàm” 65
2.2 “Xác phàm” và thế giới nhân vật mang tính điển hình 66
2.2.1 Nhân vật kỳ ảo phi giới tính; nhiều linh hồn 71
Trang 52.2 3 Những người vợ liệt sĩ thời hậu chiến 97
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT “XÁC PHÀM” 109
3.1 Mang đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực 109
3.2 Người kể chuyện xa lạ 114
3.3 Dị biệt hóa nhân vật 122
3.4 Phá vỡ trật tự tuyến tính 124
3.5 Hòa hợp thế giới ảo và cuộc sống thực 126
PHẦN III: KẾT LUẬN 128
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
Trang 6PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học luôn vận động song hành cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc Nó
phát triển không ngừng về thể loại, nội dung và cả các thế hệ nhà văn - lực lượng
sáng tác, cũng liên tục được hình thành và phát triển
Từ sau năm 1986, quá trình đổi mới mở cửa và giao lưu về kinh tế; văn hóa
và tư tưởng của Việt Nam cơ bản được thúc đẩy đổi mới toàn diện Cùng với quá
trình đó thì văn học Việt Nam nói chung và thể loại văn học tiểu thuyết nói riêng đã
đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Các tác phẩm văn học ra đời theo quá trình
hội nhập và phát triển ngày càng nhiều, góp phần làm phong phú về số lượng và nội
dung phản ảnh hiện thực của văn đàn Việt Nam
Đồng thời với tình hình đó, thực tế cũng cho thấy rằng các tác phẩm văn học
nói chung và các tác phẩm thể loại tiểu thuyết đương đại nói riêng, xét về khuynh
hướng thẩm mĩ và tư tưởng cũng như cách thức thể hiện đề cập nội dung rất đa
dạng và táo bạo với những bút pháp nghệ thuật sáng tạo, trong các sáng tác luôn đầy
tính mới mẻ
1.1 Về phía nhà văn – tác giả:
Có thể thấy rằng bắt đầu từ năm 2002, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự ra
mắt của nhà văn trẻ Nguyễn Đình Tú với tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù đầy ấn
tượng gây được rất nhiều tiếng vang Ngay tiếp những năm sau, đó là sự ra đời của
tác phẩm Bên dòng Sầu Diện xuất bản năm 2005, tài năng và ngòi bút của cây bút
trẻ Nguyễn Đình Tú tiếp tục được khẳng định, cụ thể là thông qua ba cuốn tiểu
thuyết được trình làng liên tục trong ba năm: Nháp (2008), Phiên bản (2009), Kín
(2010) Đến tháng 8 năm 2014, tác giả đã thực sự khẳng định được tên tuổi và ngòi
bút năng lực của mình trong nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam bằng tác phẩm tiểu
thuyết Xác phàm
Comment [SCD1]: Bỏ
Trang 7Nguyễn Đình Tú là một cái tên còn khá mới trong văn đàn Việt Nam nhưng
năng lực sáng tác của nhà văn lại rất dồi dào và mạnh mẽ, cụ thể là qua 14 năm sáng
tác và cống hiến, nhà văn Nguyễn Đình Tú đã cho ra đời 7 đứa con tinh thần – 7
tiểu thuyết chất lượng cả về nội dung và nghệ thuật
1.2 Về phía tác phẩm:
Nội dung chứa đựng của tác phẩm, Xác phàm đã đề cập đến cuộc chiến
biên giới phía bắc Việt Nam – Trung Quốc, vào năm 1979 Về tính mới mẻ trong
việc phản ánh nội dung hiện thực lịch sử, có thể nhận xét rằng Xác phàm là cuốn
tiểu thuyết đầu tiên của văn đàn Việt Nam đề cập đến và đề cập thành công cuộc
chiến biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và Trung Quốc Nó là tiếng nói của hiện
thực, là bài ca đầy tính nghệ thuật của ngòi bút văn học Nó là cuốn tiểu thuyết
“nhỏ” nhưng dám nói lên những điều không hề nhỏ, nói lên được cái mà chưa ai
dám nói
Xét về thời điểm ra đời thì tiểu tuyết Xác phàm được ra đời chính thức vào
ngày 13 tháng 8 năm 2014 Đây là cuốn tiểu thuyết được xuất bản ngay sau sự kiện
giàn khoan HD 981 của Trung Quốc xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam vào
tháng 5 năm 2014, một sự kiện ngoài ý muốn, mang đầy tính thời sự trong và ngoài
nước
Nghệ thuật sáng tác của nhà văn, Nguyễn Đình Tú đã thể hiện trong tiểu
thuyết Xác phàm một lối sáng tác vô cùng mới mẻ và hết sức độc đáo Nhà văn kết
nối thành công được chiếc cầu nối giữa hiện thực và quá khứ, giữa hư và thực, giữa
hai vấn đề hoàn toàn trái ngược nhau, đó là câu chuyện về phẫu thuật chuyển đổi
giới tính và câu chuyện của lịch sử, của chiến tranh Tất cả nhuần nhuyễn và đan
xen nhau thông qua yếu tố kỳ ảo, nét riêng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
1.3 Về bản thân người nghiên cứu đề tài:
Người nghiên cứu đề tài nhận thấy và đánh giá được rằng:
Comment [SCD2]: Bỏ
Trang 8Khi nghiên cứu, theo đuổi đề tài Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Xác
phàm” của nhà văn Nguyễn Đình Tú người nghiên cứu đề tài sẽ hiểu được sâu
hơn quá trình vận động của văn học Việt Nam nói chung và thể loại tiểu thuyết đương đại nói riêng
Bên cạnh đó, bản thân người nghiên cứu lại yêu thích với những sáng tác Việt Nam đương đại phản ánh về chiến tranh, đặc biệt là những cuộc chiến sau năm
1975, câu chuyện về cuộc chiến biên giới Việt – Trung năm 1979 trong tiểu thuyết
Xác phàm là một điển hình Nó thật sự gây được hứng khởi từ phía bản thân người
nghiên cứu
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và các yếu tố kỳ ảo bên trong nó, luôn mang một ma lực hấp dẫn cao nơi người đọc và cả người nghiên cứu đề tài Các câu chuyện giữa hư và thực, giữa cõi nhân gian hiện tại và cõi âm quá khứ trong tiểu
thuyết Xác phàm là một cụ thể điển hình cho sự hấp dẫn trên
Khi triển khai nghiên cứu đề tài Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Xác
phàm” của nhà văn Nguyễn Đình Tú, bản thân người nghiên cứu đề tài cũng
muốn bổ sung thêm kiến thức hiểu biết của mình về một nhà văn triển vọng – cây bút trẻ Nguyễn Đình Tú
Cùng với sự mới mẻ đối với thời gian xuất bản, cuốn tiểu thuyết Xác phàm
hiện tại vẫn chưa có một công trình nghiên cứu hay đề tài nào nghiên cứu về nội
dung Xác phàm cũng như chưa có công trình nào thực hiện việc tìm hiểu sâu về thế
giới nhân vật, về yếu tố kỳ ảo của chứa đựng song hành đan xen bên trong nội dung của nó
Ngoài ra mỗi tác phẩm văn học đều có một tính thẩm mĩ, tính nhân văn và giáo dục con người, việc nghiên cứu sâu về nghệ thuật và nội dung của tác phẩm
tiểu thuyết Xác phàm sẽ góp phần bồi dưỡng cho bản thân người nghiên cứu những
điều cần nên tiếp thu và học hỏi từ tác phẩm Bởi vì đối với người nghiên cứu đề tài khóa luận, là một giáo viên Ngữ văn trong tương lai cho nên những điều thu nhận
Trang 9được từ tiểu thuyết Xác phàm của nhà văn Nguyễn Đình Tú sẽ có tác dụng không
nhỏ trong việc gợi ý, để người nghiên cứu đề tài thực hiện công việc đào tạo học
sinh trung học phổ thông sau này, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của
xã hội, đất nước và thời đại
Tại sao những tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú – tiểu thuyết Xác
phàm lại tồn tại sự thu hút nơi người đọc? Yếu tố kỳ ảo của nghệ thuật sáng tác và
thế giới nhân vật trong Xác phàm cụ thể tồn tại ra sao? Những góc khuất sâu hơn
nữa về cuộc chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1979 là gì?
Lằn ranh biên giới giữa hư và thực tồn tại như thế nào trong tiểu thuyết Xác phàm?
Ta sẽ tiếp thu và học được điều gì khi đọc tác phẩm Xác phàm? Đó là những câu
hỏi mà bản thân người nghiên cứu đề tài đặt ra, việc nghiên cứu đề tài sẽ là cách để
trả lời thấu đáo những câu hỏi trên
Và tất cả những điều vừa nói trên cũng chính là những lý do để người nghiên
cứu chọn đề tài: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Xác phàm” của nhà văn
Nguyễn Đình Tú
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẦN ĐỀ
Cây bút trẻ Nguyễn Đình Tú từ năm 2002 đến nay, tuy chỉ mới góp mặt
vào làng văn Việt Nam 12 năm nhưng đã để lại những tác phẩm sáng tác đáng ghi
nhận về số lượng và chất lượng Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về
Nguyễn Đình Tú và các tác phẩm của anh từ nghệ thuật, phong cách sáng tác đến
nội dung, các mặt hiện thực của cuộc sống được phản ánh… cũng ngày càng nhiều,
cụ thể như sau:
Bản thân Nguyễn Đình Tú là một sĩ quan quân đội, hoạt động binh nghiệp
song song với công việc sáng tác văn chương, cho nên Nguyễn Đình Tú và các sáng
tác của ông trước hết gây được sự chú ý từ các nhà văn quân đội như Nam Hà, Lê
Lựu, Khuất Quang Thụy, Chu Lai Các nhà văn trên đã có những đánh giá sắc sảo
về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Đình Tú trong các bài viết:
“Một khái niệm mới về tiểu thuyết “Hồ sơ một tử tù”; “Nguyễn Đình Tú và
“Nháp”; “Phiên bản”- một mệnh đề mang tính tường luận lý thú”
Comment [SCD3]: Ấ Comment [SCD4]: Bỏ
Trang 10Ngoài ra, cây bút trẻ Nguyễn Đình Tú còn thu hút được sự quan tâm của các nhà phê bình văn học như Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Thanh
Tú, Nguyễn Chí Hoan, Ngô Tự Lập, Văn Giá, Inrasara, Trần Tố Loan, Đoàn Minh Tâm, Đoàn Ánh Dương, Trịnh Sơn, Đào Bá Đoàn, Bùi Việt Thắng, Ngô Hương Giang Các nhà phê bình văn học trên cũng đã đưa ra những nhận xét có giá trị về
tác phẩm của Nguyễn Đình Tú qua các bài viết như: “Kín”- một dòng tiểu thuyết miên man; “Từ Hồ sơ một tử tù” đến “Nháp” - một chặng đường tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú; “Phiên bản” - Hồ sơ một sự thanh tẩy, “Hoang tâm “ hay sự trở
về với căn tính văn hóa, Thế hệ “Nháp”, “Bên dòng Sầu Diện” - Cách tiếp cận chiến tranh của người viết trẻ, Dịch chuyển tiêu cực trong tiểu thuyết “Nháp”, Lối viết nước đôi hay phép lợi thế trong tiểu thuyết “Phiên bản”
Bên cạnh đó, liên quan đến các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú cũng có những bài viết lớn, nhỏ được in trên báo chí và các diễn đàn văn học như: Hoài
Hương với “Nháp” hay sự yếm thế trong tâm hồn con người; Nguyễn Thanh Tú với “Nháp” hay sự nối dài những bi kịch; Phạm Thùy Linh với “Phiên bản” - góc tiếp cận nhân văn; Nghiêm Tuấn Anh với “Phiên bản” những mảng tối của cuộc đời, Hương Giang với “Phiên bản” của bạo lực và tình người; Phong Lan với Nguyễn Đình Tú và hé lộ “Kín”; Lãm Nguyên với “Kín – cuộc tìm lối của người trẻ”; Tiểu Quyên với “Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Nội lực sáng tạo không giới hạn”; Dương Tử Thành với Nguyễn Đình Tú không tránh sắc dục trong sách mới…
Gần đây nhất là những bài chuyên luận về nhà văn Nguyễn Đình Tú và tác
phẩm Xác phàm, cụ thể ta có: Nguyễn Thị Minh Thái với “Xác phàm” - pha trộn tinh tế hai màu đen trắng”, Ngô Hương Giang với “Xác phàm”, bước ngoặt tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú”, Nguyễn Hữu Quý với “Xác phàm”, tiểu thuyết 3 trong 1, Lam Thu với bài viết chuyên luận “Xác phàm” - cuốn sách quyết không 'chết' trên bàn kiểm duyệt, Nguyễn Đình Tú viết về chiến tranh biên giới phía Bắc; Nguyễn Hiền với “Xác phàm” – một tiểu thuyết về chiến tranh biên giới phía Bắc Nói riêng về tác phẩm tiểu thuyết Xác phàm, một số ý kiến đánh giá của các
nhà phê bình văn học đưa ra khá tổng quan và sắc sảo Như nhà phê bình văn học
Trang 11Trịnh Sơn từng đánh giá “Xác phàm” của Nguyễn Đình Tú là một cuốn tiểu thuyết phân vùng Không đơn thuần phân chia theo địa lý, mà được cắt sâu bằng lưỡi dao của thời gian, tâm linh, lịch sử, giới tính và tâm hồn Vượt khỏi địa hạt thế mạnh
là hiện thực, văn Nguyễn Đình Tú trong Xác phàm thiên về cảm luận và bay bổng lâng lâng giữa đường biên tam giác lãng mạn - tượng trưng - huyền ảo” [23] Từ ý
kiến của nhà phê bình Trịnh Sơn, ta thấy rằng Nguyễn Đình Tú sáng tác tiểu thuyết
Xác phàm bằng việc kết hợp giữa hiện thực và huyền ảo với các yếu tố kỳ ảo của
thời gian, con người, lịch sử và suy cảm tâm hồn
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Cuốn tiểu thuyết rất hấp dẫn, tôi đọc một hơi không dứt ra được cho đến khi đọc hết Một cuốn siêu tiểu thuyết, một truyện trong truyện” [28] Từ ý kiến trên của Giáo sư Trần Đình Sử, một sức hút mạnh mẽ, một ma lực thu hút độc giả tồn tại nội tại bên trong cuốn tiểu thuyết Xác phàm là có
thật Đó là lối hành văn tinh tế vừa cổ điển lại vừa sáng tác, đặc biệt với một nội dung đề tài nhạy cảm cả về mặt hiện thực chính trị lẫn hiện thực xã hội
Theo như ý kiến của nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng thì: “Với Xác phàm, tác giả có vẻ như đã làm chủ được cái khả năng "thông linh" các hình thức thể hiện nghệ thuật đời sống của tiểu thuyết hiện đại Đi vào thế giới tâm linh con người, như cách Nguyễn Đình Tú thực hiện bằng tiểu thuyết, theo tôi, là một cuộc thám hiểm, nên phải chấp nhận mạo hiểm Nhưng sự phiêu lưu, mạo hiểm bao giờ cũng gây men hứng thú, thậm chí trở thành "hưng cảm" trong hành xử của con người Tôi nghĩ, nếu nói về cảm hứng chủ đạo xui khiến sự viết của ngòi bút tác giả, trong trường hợp này, chính là một năng lượng "hưng cảm".Tác giả đã truyền cái chất men say nồng ấy sang nhân vật cho đến tận “ chân tơ kẽ tóc, không trừ ai ” [23] Có thể nói chính cảm xúc chân thực, chính quá trình muốn tìm hiểu hiện thực
lịch sử quá khứ đã nung nấu và làm cho tác giả “thai nghén” trong việc dự định
sáng tác một tác phẩm tiểu thuyết Sự ra đời của tiểu thuyết Xác phàm là một kết
quả tất yếu Sự sáng tạo đầy mạo hiểm trong việc cách tân chấp bút sáng tác thể loại tiểu thuyết đã tạo ra một hiệu ứng đáng ghi nhận
Nhận xét về mặt nội dung, nhà văn Đào Bá Đoàn cũng từng ý kiến về Xác
Trang 12phàm: “Xác phàm” thực ra là một dòng sông ký ức cuộn chảy của dân tộc Việt thời
đoạn một phần ba thế kỷ qua - Ấy là cuộc chiến vệ quốc với kẻ thù truyền kiếp; sự
khốc hại của chiến tranh; cái nhân văn trong cảnh ngộ máu; những đớn đau mất
mát của thân phận đàn bà; sự “lệch chuẩn” trong hoàn thiện nhân cách trẻ em -
những cơn buồn và những vẻ đẹp hoang đường như một mê sảng của thế giới tiếp
tục còn bị đẩy sâu vào vùng tăm tối - đường còn lắm mê loạn, cái đẹp còn còn bị
dìm, bị tàn hại bởi bao tảng đá hộc; khát vọng nhân văn còn vời vợi và bản thân nó
vẫn gây khát như người bệnh trót uống cả biển mặn mà mặt trời đã đổ lửa, rang tất
cả trong một khung trời…” [23]
Nhà văn Đào Bá Đoàn muốn nhấn mạnh về nội dung chính của cuốn tiểu
thuyết 275 trang Đó là câu chuyện về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm
1979, đó là một câu chuyện hoàn toàn có thực của lịch sử Việt Nam Song hành với
câu chuyện của mặt trận biên giới phía Bắc là những mảnh vụn hoàn hảo đề cập đến
số phận của những người “phía sau cuộc chiến”, đó là những người vợ mất chồng,
những đứa con thiếu cha, những đứa trẻ bị ám ảnh bởi ký ức chiến tranh và cả
những mặt trái của xã hội trong giai đoạn hậu chiến tranh
Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái đưa ra đánh giá khách quan: “Cuốn tiểu
thuyết đầu tiên của Tú viết về đề tài chưa ai từng viết tiểu thuyết ấy đã gặp vô vàn
khó khăn khi biên tập và xuất bản Và có thể nó không dễ tiếp nhận với số đông
người trẻ, đã luôn chỉ thấy chiến tranh trong kí ức những người già… Có thể chính
vì vậy mà tôi phát hiện thêm một nét độc đáo nữa của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú,
chính là sự hư cấu thông minh, biết dựa trên tâm thế của chính mình, là người viết
từng có nhiều quan sát và linh nghiệm, học được từ nghiệm sinh của những nhà
ngoại cảm chân chính, thực sự có tài năng” [21]
Dựa vào ý kiến trên, ta thấy nội dung và đề tài của Xác phàm đó là những đề
tài và nội dung rất cổ điển – chiến tranh Văn học Việt Nam nói chung, khi chắp
cánh bay ra khỏi biên giới tổ quốc để đến với các nước khác trên thế giới, được đọc
giả đón nhận, hầu hết là những tác phẩm liên quan đến chiến tranh mà thật sự thì tác
phẩm văn học là lời tự sự của hiện thực, là tấm gương phản chiếu hiện thực, và có lẽ
Comment [SCD5]: Bỏ
Comment [SCD6]: Dùng cách nói khác
Trang 13chính vì thể mà nhiều độc giả nước ngoài nhận định Việt Nam là một quốc gia đa
phần và vẫn còn chiến tranh?!
Bên cạnh việc các độc giả nước ngoài nhận định Việt Nam là một quốc gia
vẫn còn chiến tranh thông qua tác phẩm văn học phần nhiều nghiêng về chiến tranh
của Việt Nam, giới trẻ ngày nay ngày càng xa rời với các câu chuyện của lịch sử,
các vấn đề nóng đáp ứng nhu cầu cầu tiếp nhận của đọc giả trẻ, ngày nay đa phần là
những vấn đề của giới tính (từ văn học đồng tính; điện ảnh đồng tính; đến cả những
loại hình nghệ thuật khác), những vấn đề của thời đại và tình yêu Đâu đó đã có sự
lãng quên hoặc cố tình lảng tránh những đề tài nội dung liên quan đến chiến tranh –
những câu chuyện của quá khứ lịch sử Và thật độc đáo và tài tình khi Nguyễn Đình
Tú nắm bắt được tâm lý trên và đã thu hút thành công đọc giả trẻ đến với tiểu thuyết
thứ 7 của mình bằng một câu chuyện về phẫu thuật chuyển đổi giới tính
Nhà văn Võ Thị Xuân Hà bình luận về tiểu thuyết Xác phàm như sau:
“Những Xác phàm sinh ra làm người, có thể hoàn chỉnh, có thể thiếu hụt, dự phần
trong hòa bình hay trong chiến tranh, được đủ đầy hay thiếu vắng, sống trong hạnh
phúc hay đau khổ Nhưng cho dù là trạng huống nào, ở thể nào, con người ta vẫn
nhất quyết đi tìm cho mình một bản ngã căn cốt Và tâm hồn con người được vươn
lên ngạo nghễ từ bản ngã đó Thành công của Xác phàm được xác quyết như vậy”
[28] Vấn đề nhân vật và số phận cũng như diễn tiến của nhân vật trong Xác phàm
được nhà văn Võ Thị Xuân Hà chú ý Vấn đề Xác phàm và bản ngã của những Xác
phàm, vấn đề con người và quá trình diến tiến suy nghĩ và hành động của từng cá
nhân trong xã hội được tác giả Nguyễn Đình Tú đề cập khéo léo trong tiểu thuyết
của mình
“Xác phàm” một lần nữa đưa Nguyễn Đình Tú vào danh sách những nhà
văn có nhiều độc giả nhất hiện nay Một Nguyễn Đình Tú ngồn ngộn vốn sống, dày
dặn trải nghiệm và đặc biệt cực kỳ phong phú trí tưởng tượng Văn phong vẫn cứ
sắc ngọt, hoạt Nhưng bắt đầu chín muồi về độ triết lý [27], nhà phê bình Bùi Việt
Thắng đã từng nhận định như vậy Nguyễn Đình Tú thành công với 6 tác phẩm tiểu
thuyết trước đó và Xác phàm góp phẩn khẳng định thêm giá trị và sự điêu luyện từ
Comment [SCD7]: ?
Comment [SCD8]: ầ
Trang 14ngòi văn của anh Chính vốn sống đa dạng và dày dặn, trí tưởng tượng đúng mực của một nhà văn mặc áo lính, của một trái tim và khối óc đầy những suy cảm về cuộc sống và đời người đã giúp tạo nên thành công của nhà văn
Đồng thời với những nhận xét đánh giá và những bài viết báo, những chuyên luận trên thì vẫn còn có một số báo cáo khoa học, tiểu luận và khóa luận tốt nghiệp cũng nghiên cứu các khía cạnh khác nhau trong sáng tác của Nguyễn Đình Tú, mà chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết
Cụ thể như: luận văn thạc sĩ của Phạm Anh Hào với đề tài “Hiện thực đương đại trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú” chuyên ngành Lý luận văn học; mã số
60.22.32 được bảo vệ tại đại học Vinh năm 2011; Nguyễn Thị Phương Nhi với đề
tài luận văn thạc sĩ“Yếu tố tính dục trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú” chuyên
ngành văn học Việt Nam; mã số 60.22.36 được bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm
2012; Dương Thị Hương với đề tài khóa luận“Đặc điểu tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú” chuyên ngành văn học Việt Nam; mã số 60.22.34 được bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Nguyễn Trọng Hiếu với “Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú từ góc nhìn phân tâm học” được bảo vệ tại Đại học Tiền Giang, Phạm Thị Huyền Trang với “Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú”, Phan Thị Trang Nhung với “Hình tượng không gian và thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú”…
Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu trên ngoài các báo cáo khoa học
và khóa luận chuyên sâu thì phần nào mới chỉ dừng lại trên phạm vi nhỏ hẹp nên chưa có cái nhìn toàn diện về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú,
đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về tác phẩm tiểu thuyết Xác phàm Điều đó tạo tiền đề cho, người nghiên cứu đề tài tiếp tục khai thác sâu hơn
về nội dung Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Xác phàm” của nhà văn Nguyễn
Đình Tú, từ đó khẳng định sự độc đáo trong nghệ thuật sáng tác, cũng như cách tiếp
cận nội dung, những đóng góp cho thể loại tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Đình Tú trong dòng chảy vô tận của văn học Việt Nam nói chung và văn học Việt Nam đương đại nói riêng
Trang 153 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khi tiến hành thực hiện khóa luận với đề tài nghiên cứu Thế giới nhân vật
trong tiểu thuyết “Xác phàm” của nhà văn Nguyễn Đình Tú, người thực hiện đề tài
xác định đối tượng khóa luận là việc khám phá, nghiên cứu về các nhân vật và sự
vận động diễn tiến từ hành động suy nghĩ và những thông điệp đầy tính nhân văn
biểu hiện trong tiểu thuyết Xác phàm của nhà văn Nguyễn Đình Tú
Về phạm vi nghiên cứu, để thực hiện trọn vẹn đề tài nghiên cứu trên, người
thực hiện đề tài chú trọng vào cuốn tiểu thuyết Xác phàm của nhà văn Nguyễn Đình
Tú, xuất bản ngày 13 tháng 8 năm 2014, nội dung chính thức 275 trang Đồng thời
người nghiên cứu đề tài cũng khảo sát thêm một vài các tiểu thuyết đã xuất bản của
Nguyễn Đình Tú để tìm hiểu cụ thể xem các nhân vật và mật mã nhân vật xuất hiện
và tồn tại như thế nào trong các tiểu thuyết của anh Ngoài ra, người thực hiện đề tài
cũng đọc tham khảo thêm những tiểu thuyết tiêu biểu của các tác giả Việt Nam và
các sáng tác của các nhà văn nước ngoài tiêu biểu về cách sáng tác theo chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo, trong tác phẩm có chứa các yếu tố kỳ ảo để có căn cứ đánh giá
góp phần làm sáng rõ hơn đối tượng nghiên cứu của khóa luận, sáng rõ hơn về bức
màn nhân văn đầy ý nghĩa ẩn chứa trong từng nhân vật của tiểu thuyết “Xác phàm”
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực hiện khóa luận này, người thực hiện đề tài chủ yếu sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau: Trước hết là phương pháp tổng hợp và phương pháp hệ thống
- cấu trúc Bằng 2 phương pháp này chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp các nhân vật và
các yếu tố kỳ ảo theo những hệ thống, cấu trúc đã đặt ra
Bên cạnh đó, với phương pháp so sánh chúng tôi sẽ tiến hành so sánh tác
phẩm “Xác phàm” với các tác phẩm có liên quan nhằm làm nổi bật các khía cạnh
cần bàn đến Song song với các phương pháp trên thì phương pháp phân loại và
phân tích nhân vật được người nghiên cứu đề tài chú trọng thực hiện, thông qua các
hành động và ngoại hình, số phận nhân vật, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận định
nhằm có một cái nhìn tốt nhất về từng nhân vật trong thế giới nhân vật hết sức đa
Comment [SCD9]: Bỏ
Comment [SCD10]: Bỏ
Comment [SCD11]: hai
Trang 16dạng của tác phẩm Phương pháp cuối cùng được chúng tôi sử dụng đó là phương
pháp đối chiếu lịch sử - xã hội, với phương pháp này, bản thân người nghiên cứu đề
tài rất tâm đắc và yêu thích, cụ thể những câu chuyện và sự kiện; những địa điểm -
di tích hư cấu trong tác phẩm sẽ được đối chiếu với thực tế để thấy rõ những nét
mới lạ đầy tính sáng tạo trong điểm nhìn và cách tiếp cận hiện thực của tác giả
Đây là khóa luận với đề tài đầu tiên nghiên cứu về thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết Xác phàm của nhà văn Nguyễn Đình Tú Thông qua việc thực hiện
nghiên cứu khóa luận này, bản thân người thực hiện đề tài muốn bồi đắp thêm tri
thức cho mình về văn học đương đại Việt Nam, về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và
các nhân vật trong tác phẩm văn học viết về chiến tranh, cụ thể là qua sáng tác của
nhà văn Nguyễn Đình Tú với tác phẩm tiểu thuyết Xác phàm
Đồng thời việc nghiên cứu đề tài khóa luận này còn giúp người thực hiện đề
tài có cái nhìn tổng quan hơn về sự tồn tại và phát triển của văn học Việt Nam từ
sau năm 1975 đến nay
Đất nước chúng ta đang xây dựng và phát triển với nhiều hạn chế và tích
cực, nội dung tái hiện trong tác phẩm là cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung
năm 1979 và hiện thực con người - xã hội Việt Nam thời hậu chiến, tồn tại như một
bài học lịch sử quá khứ và lịch sử đương đại sinh động, thật sự đáng trân trọng và
tiếp thu Đó là một cách giúp người thực hiện đề tài hiểu thêm về lịch sử dân tộc
Việt Nam, hiểu thêm phần nào về những mặt hạn chế của xã hội trong thời kỳ quá
độ xây dựng xã hội chủ nghĩa và đổi mới phát triển đất nước
Ngoài ra việc nghiên cứu này còn giúp làm sáng rõ thêm ý đồ của nhà văn,
một ý đồ mang đầy tính thời sự và cấp bách nhất là khi cả dân tộc Việt đang trong
giai đoạn chung tay bảo vệ lãnh hải và biên giới quốc gia trước các thế lực thù địch
Comment [SCD12]:
Comment [SCD13]: Bỏ
Comment [SCD14]: Việt Nam
Comment [SCD15]: ,
Trang 176 CẤU TRÚC KHÓA LUẬN
Xét về cấu trúc, khóa luận với đề tài Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
“Xác phàm” của nhà văn Nguyễn Đình Tú, có 4 phần
Phần I là mở đầu, trong phần này người thực hiện đề tài sẽ khái quát và trình
bày về lý do chọn đề tài, tóm tắt sơ lược về các ý kiến đánh giá và nhận xét về
những sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Tú được thực hiện bởi các chuyên gia và
các nhà nghiên cứu khác, đồng thời đưa ra ý kiến cá nhân người thực hiện đề tài cho
từng nội dung trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề về tiểu thuyết Xác phàm Ngoài
ra trong phần I có các các mục nội dung như đối tượng và phạm vi nghiên cứu;
phương pháp nghiên cứu đề tài; ý nghĩa của khóa luận khi thực hiện hoàn thành…
Phần II là phần nội dung gồm 3 chương chính Cụ thể như sau Chương I:
Những vấn đề chung; Chương II: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Xác phàm”;
Chương III: Một số đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết “Xác phàm”
Phần tiếp theo là phần III, trong phần kết luận này người thực hiện nghiên
cứu đề tài sẽ tổng kết về nội dung đã nghiên cứu phía trên, đồng thời cũng sẽ đưa ra
những khuyến nghị nếu có Cuối cùng là phần IV - phần tài liệu tham khảo và phụ
lục, trong phần này những tài liệu tham khảo và trích dẫn sẽ được ghi chú ứng với
nội dung sử dụng và trích dẫn trong khóa luận Những tài liệu kèm theo nếu có sẽ
được thể hiện tại phần này
Comment [SCD16]:
Comment [SCD17]: Trong phần mở đầu,
Comment [SCD18]: , Comment [SCD19]: này còn có
Comment [SCD20]: Bỏ Comment [SCD21]: chính Comment [SCD22]: bỏ Comment [SCD23]: : Comment [SCD24]: Trong phần kết luận,
Comment [SCD25]: Bỏ
Trang 18CHƯƠNG 1:
NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH TÚ VÀ NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM
SAU NĂM 1975 1.1 Khái quát chung về tình hình văn học sau năm 1975
1.1.1 Những bước chuyển của đất nước về lịch sử - xã hội
Việt Nam là một quốc gia nằm sát biển, có đường bờ biển khá dài Đây là
một quốc gia với bề dày lịch sử và văn hóa hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước
Bằng lăng kính của lịch sử chúng ta sẽ nhìn lại những bước chuyển của Việt Nam
về tình hình lịch sử và xã hội sau năm 1975
Cách đây đúng 40 mùa xuân, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi và thành công tuyệt đối trên mặt trận giải phóng
dân tộc – một dân tộc nhỏ bé nhưng đầy sức mạnh và khí phách Việt Nam đã gây
nên một tiếng vang to lớn cho nhân dân trên toàn thế giới bằng thắng lợi thành công
đầy vẻ vang trong công cuộc kháng chiến chống lại Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai
Vào mùa Xuân năm 1975, chúng ta đã đánh bại đế quốc Mỹ - một đế quốc có thế
lực kinh tế, quân sự hùng mạnh vào bậc nhất thế giới
Có thể nhận định rằng, sau chiến thắng vẻ vang mang tên Điện Biên Phủ
trong cuộc chiến tranh chống Pháp 1945 – 1954 chấn động địa cầu thì việc tiếp tục
chiến thắng thành công Đế quốc Mỹ vào năm 1975 thật sự là một trong những chiến
thắng lịch sử oanh liệt và lẫy lừng của toàn thể nhân dân dân tộc Việt Nam Một kỷ
nguyên mới, một chân trời mới rộng lớn và đầy sức sống đã được mở ra đón chào
cho sự phát triển rực rỡ của đất nước Việt Nam
Sau chiến thắng năm 1975, đó là kỷ nguyên cả nước được độc lập, thống
nhất Toàn thể nhân dân hai miền Nam – Bắc cùng nhau phát triển mạnh mẽ đi lên
theo con đường chủ nghĩa xã hội
Mặc dù đã thắng lợi trong việc bảo vệ biên giới và bờ cõi quốc gia thế nhưng
nỗi đau và những tàn dư của chiến tranh để lại cho dân tộc ta lại không hề nhỏ và
Comment [SCD26]: Bỏ
Comment [SCD27]: Mục này phải là 1.1 chứ
em?
Comment [SCD28]: Bỏ Comment [SCD29]: Tương tự, mục này là 1.1.1 Comment [SCD30]:
Comment [SCD31]: ,
Comment [SCD32]: năm
Comment [SCD33]: Việt Nam
Comment [SCD34]: Chú ý: không dùng cách nói
có sự phân biệt, kỳ thị, cần có cách diễn đạt khác
Comment [SCD35]: tháng 4 Comment [SCD36]: tương tự như trên
Trang 19đơn giản Hàng vạn những công trình và nhà cửa đã bị phá hủy; đất đai canh tác
nông nghiệp hòa mình với bom đạn và những chất độc vô hình luôn ẩn mình đe dọa
nhân dân ta; những thế địch thù địch từ phía bên ngoài và cả bên trong luôn tìm
cách phá hoại quá trình khôi phục và phát triển đi lên theo con đường chủ nghĩa xã
hội của nhân dân ta Con đường thống nhất nước nhà và phát triển của dân tộc ta
theo chủ nghĩa xã hội sau năm 1975 khó khăn và gian nan hơn bao giờ hết
Trong giai đoạn chiến tranh giải phóng miền Nam 1954 – 1975, nhân dân
miền Bắc vừa phải khôi phục đổ vỡ chiến tranh, vừa phải xây dựng chủ nghĩa xã
hội và vừa cả phải làm nhiệm vụ của hậu phương lớn Miền Bắc đã phải trực tiếp
chống lại cả hai cuộc chiến tranh phá hoại của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho
nên “Kinh tế miền Bắc chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, cơ chế
quản lý vốn nặng về tập trung quan liêu bao cấp, lại bị chi phối thêm bởi quy luật
chiến tranh nên càng bị méo mó, phi kinh tế”[26] Cơ bản, tình hình kinh tế và phát
triển của miền Bắc lúc này vẫn chưa phát huy được tính khả thi, chưa thu được kết
quả đáng ghi nhận
Sau năm 1975, đến lúc khi mà Nam – Bắc thống nhất, chiến tranh kết thúc cơ
bản trên phạm vi lãnh thổ toàn dân tộc thì tình hình Việt Nam nói chung và miền
Bắc nói riêng, được ghi nhận bằng những điểm đáng chú ý sau:
Về mặt kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế lại bộc lộ rõ hơn những bất cập và
mặt trái của nó Quan hệ sản xuất và trao đổi giao thương có dấu hiệu của sự khủng
hoảng Do vậy, việc chấn chỉnh lại cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với quy luật
vận động là một vấn đề cấp thiết nhưng lại hết sức khó khăn khi tiến hành thực
hiện
Về mặt xã hội, chiến tranh đã làm xáo trộn và gây tổn thất lớn cho lực lượng
lao động, hàng vạn những thanh niên mang trên mình những vết thương và sự mất
mát Vết thương và nỗi đau từ chiến tranh để lại hậu quả rất nặng nề và kéo dài cho
những người còn lại sau cuộc chiến và cả một dân tộc Việt thời hậu chiến
Comment [SCD37]:
Comment [SCD38]:
Comment [SCD39]: C
Comment [SCD40]: C
Trang 20Đối với miền Nam, về kinh tế, do chính sách thực dân kiểu mới, “yếu tố tư
bản chủ nghĩa đã xâm nhập mạnh vào các ngành công nghiệp, thương nghiệp, tài
chính ngân hàng ” [25] Trong chừng mực nhất định, kinh tế ở các vùng bị tạm
chiếm đã phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, ở miền Nam ruột thịt đã hình
thành các đô thị kiểu Mỹ và Pháp với cách thức phát triển kinh tế hết sức đa dạng
nhưng phần nào lại trái ngược với lối phát triển theo chủ nghĩa xã hội của Đảng và
nhà nước đã đề ra vào tình hình lịch sử lúc bấy giờ
Mặc dù được miền Nam hình thành các đô thị và vận động giao thương kinh
tế theo lối “Mỹ - Pháp”, nhưng nếu xét về tổng thể thì kinh tế miền Nam chủ yếu
vẫn là sản xuất nhỏ, cơ cấu mất cân đối và lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên
ngoài Vì vậy, khi Mỹ rút quân, cắt giảm viện trợ, nền kinh tế miền Nam lập tức rơi
vào khủng hoảng Nhiệm vụ khôi phục và phát triển một nền kinh tế vốn mang tính
lệ thuộc cao như vậy trở nên hết sức khó khăn Đó là chưa kể đến khó khăn ở những
vùng bị tàn phá bởi chiến tranh, bị hủy diệt bởi chất độc hóa học
Sau giải phóng ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam còn có sự phức tạp về
mặt xã hội Chiến tranh và quá trình cưỡng bức đô thị hóa của Mỹ đã gây xáo trộn
trong phân bố lực lượng lao động, Mỹ ép buộc quy hoạch những vùng thuộc miền
Nam Việt Nam để biến chúng trở thành những khu đô thị nhằm mục đích phục vụ
nhu cầu và quân sự của Mỹ
Nông thôn ở miền Nam Việt Nam rất nghèo nàn - Nông nghiệp thiếu lao
động Các vùng đô thị, mật độ dân số quá đông, không tương xứng với sự phát
triển về kinh tế Những di hại do chế độ thực dân mới của Mỹ gây ra và để lại cũng
rất nặng nề như tệ nạn ma túy, lưu manh, bụi đời, mại dâm ; số người thất nghiệp,
đặc biệt là số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư
Về vấn đề bảo vệ bờ cõi quốc gia Sau năm 1975, mặc dù cơ bản nước ta đã
đi vào trạng thái hòa bình thống nhất, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng vây xâm
lược nhưng đâu đó vẫn còn những cuộc chiến xâm lược từ phía các nước láng
Comment [SCD41]: Thay bằng: đã
Comment [SCD42]: , ngành n
Comment [SCD43]: :
Trang 21giềng Nổi bật và tiêu biểu cho cả biên giới hai miền Nam – Bắc đó là chiến dịch
bảo vệ biên giới phía Tây- Nam ở miền Nam và chiến dịch phản công bảo vệ biên
giới phía Bắc ở miền Bắc
Ở miền Nam Việt Nam, chiến dịch bảo vệ biên giới Tây- Nam xuất hiện ngay
sau sự kiện giải phóng hoàn toàn miền Nam Đây là một loạt các chiến dịch quân sự
do Việt Nam tiến hành nhằm phản công lại các hoạt động quân sự của quân Khmer
Đỏ tấn công vào lãnh thổ ở miền Nam Việt Nam Quân Khmer Đỏ tàn độc giết chết
thảm sát diệt chủng người dân và đốt phá làng mạc Việt Nam trong những năm
1975-1978
Ở biên giới phía Bắc của thủ đô Hà Nội, chiến tranh giữa Việt Nam - Trung
Quốc đã chính thức nổ ra vào năm 1979, sau này thường được gọi là Chiến tranh
biên giới phía Bắc Việt - Trung năm 1979 Đây là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc
liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,
nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam
trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước
Cả hai cuộc chiến tranh ở Biên giới Tây Nam và Biên giới phía Bắc, 1979
đều có liên quan với nhau về mặt chiến lược quân sự của các thế lực thù địch
Về tình hình sự kiện kinh tế - xã hội Năm 1986 gắn liền với một sự kiện
quốc gia làm thay đổi tích cực hơn về cục diện nhiều mặt Đây là năm diễn ra Đại
hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Trước những kết quả không khả quan cho
việc phát triển nền kinh tế theo hướng “tự cung tự cấp”, tổng Bí thư Nguyễn Văn
Linh tuyên bố “cởi trói”, “đổi mới tư duy”, với rất nhiều “việc cần làm ngay” [29]
Đảng và nhà nước ta đã chính thức thay đổi tư duy và cách thức trao đổi giao
thương với các nước trong khu vực và thế giới về các mặt kinh tế; chính trị; văn
hóa; văn học nghệ thuật… Tất cả, theo hướng hội nhập và phát triển
Kể từ năm 1986 trở đi là thời kỳ “mở cửa” phát triển và hội nhập của Việt
Nam, và cũng chính việc thay đổi tư duy và đường lối phát triển kinh tế đã nhanh
Comment [SCD44]: :
Comment [SCD45]:
Trang 22chóng thúc đẩy cho Việt Nam có những bước chuyển mình đáng ghi nhận về các
mặt kinh tế; chính trị và cả văn học nghệ thuật
Với việc mở cửa hội nhập nên tình hình giữa Việt Nam và các nước từng là
“phía bên kia chiến tuyến” đã nhanh chóng bắt kịp xu thế “bình thường hóa”, cả
Việt Nam và các nước “phía bên kia chiến tuyến” đã tạm quên đi quá khứ xung đột
để cùng nhau phát triển lợi ích quốc gia
Việt Nam đã và luôn quan hệ với Trung Quốc theo phương thức hữu nghị
hòa bình Thế nhưng với âm mưu và tham vọng bá quyền của mình, muốn làm chủ
khu vực Châu Á và thế giới, Trung Quốc đã và đang nhiều lần tiến hành chống phá
xâm lược và vô cớ lấn át bờ cõi biên cương đất liền lẫn hải đảo của Việt Nam
Đó là sự kiện ồn ào về tranh chấp lãnh hải ở đảo Gạc Ma; Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam, gần đây nhất dư luận trong nước và thế giới lại rúng động
và xôn xao với việc Trung Quốc thi hành chính sách của cái gọi là “đường lưỡi bò”
trên biển Đông một cách ngang ngược và trái với luật pháp quốc tế, bên cạnh đó sự
việc chính quyền Trung Quốc bồi lấp biển một cách trái phép ở đảo Chữ Thập,
thuộc vùng biển Việt Nam thành đảo lớn nhất trong hệ thống quần đảo của Trường
Sa với diện tích hết sức to lớn, lên tới 49 hecta, lớn hơn cả đảo Ba Bình vốn lớn
nhất trước đây
Sự kiện Trung Quốc đánh phá và bắn hại tàu cá của ngư dân Việt Nam tại
ngư trường Hoàng Sa – Trường Sa; sự kiện Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự
một cách phi pháp trên lãnh thổ thuộc quần đảo Hoàng Sa; sự kiện Trung Quốc hạ
đặt trái phép giàn khoan HD981 trên biển Đông thuộc vùng biển chủ quyền của Việt
Nam… Tất cả những điều trên đã như những giọt nước làm tràn ly, bộc lộ hoàn toàn
những sai trái trong cách hành xử của một quốc gia với bề dày lịch sử và văn hiến
lâu đời như Trung Quốc
Giai đoạn này, chúng tôi nhận định rằng đây là cơ hội để văn học phản ánh
những hiện thực mới trong thời kỳ mới, là cơ hội để văn học tái phản ánh những
Comment [SCD46]: ,
Comment [SCD47]: V Comment [SCD48]: đã khiến
Trang 23hiện thực trong quá khứ lịch sử, là thời kỳ phù hợp để văn học tiếp tục thực hiện sứ
mệnh thiêng liêng của mình - “phục vụ tuyên truyền” cho dân tộc Việt Nam
Tóm lại, tình hình đất nước sau Đại thắng mùa Xuân 1975 mặc dù có nhiều
thuận lợi nhưng đồng thời cũng có rất nhiều khó khăn và cả những phức tạp mà
chúng ta chúng ta chưa lường được hết Sau 1975 chiến tranh vẫn luôn nổ ra trên
mặt trân đất liền biên giới và hải đảo biển Đông tổ quốc, và khi dân tộc Việt Nam bị
xâm lược bờ cõi thiêng liêng thì bao giờ nhân dân Việt cũng đứng lên kháng chiến
bảo vệ đất mẹ yêu thương
1.1.2 Những thay đổi đáng ghi nhận của văn học Việt Nam sau 1975
Do đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài khóa luận là tiểu thuyết “Xác
phàm”, một nhánh của thể loại văn xuôi, cho nên bản thân người nghiên cứu sẽ chủ
yếu nhấn mạnh những thay đổi đáng ghi nhận của văn học sau năm 1975 ở khía
cạnh văn xuôi, đặc biệt là thể loại sáng tác tiểu thuyết
Kể từ sau năm 1975 cho đến nay, văn học Việt Nam đã trải qua hơn 40 năm
lịch sử với nhiều thăng trầm và những lần thay đổi chuyển mình Như đã nói ở phần
trên, văn học luôn gắn liền với quá trình thay đổi và phát triển của tiến trình lịch sử,
cho nên kể từ sau khi thống nhất nước nhà, sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, văn
học đã có những thay đổi đáng ghi nhận về cách thức thể hiện nội dung và cả về
nghệ thuật
Dựa vào tiến trình lịch sử Việt Nam cho đến nay, chúng tôi tạm chia văn học
Việt Nam sau 1975 ra thành 2 thời kỳ, giai đoạn cụ thể 1975 – 1985 và 1985 –
2015
Giai đoạn lớn thứ nhất 1975 – 1985
Đây là thời kỳ giai đoạn mà văn học Việt Nam vẫn còn những đặc trưng và
mang hơi hướng của văn học cách mạng, văn học sử thi 1945 – 1975 Trong giai
đoạn 10 năm này thì văn học Việt Nam đã có những thay đổi bước đầu đáng ghi
nhận, khi mà từng bước nhẹ nhàng thể hiện sự chuyển mình ở khía cạnh nội dung
Comment [SCD49]: :
Comment [SCD50]: Mục này là 1.1.2 Comment [SCD51]:
Comment [SCD52]: chúng tôi
Comment [SCD53]: bỏ
Comment [SCD54]: Nên đặt tên mục theo số
thứ tự: 1.1.2.1
Trang 24và hình thức nghệ thuật của bản thân văn học từ văn học sử thi thời chiến sang văn
học Việt Nam thời hậu chiến
Ở giai đoạn trước, 1945 – 1975, nội dung phản ánh của văn học chủ yếu là
những vấn đề chung hết sức to lớn, mang tầm vóc sử thi Con người trong giai đoạn
đỉnh cao của văn học thời chiến những năm 1945 – 1975, được nhắc đến và đề cập
thể hiện bằng những hình ảnh chung, những nhân vật, những số phận điển hình của
hoàn cảnh điển hình Họ được khắc họa và miêu tả thông qua góc nhìn từ xa của tác
giả
Sau năm 1975, lịch sử Việt Nam chuyển qua một thời đại mới, văn học có
những sự đổi mới về cách thức sáng tác và nội dung Tuy nhiên văn học sau 1975
vẫn “vận động theo một quán tính nhất định của văn học thời chiến”[31] Mặc dù
vẫn tập trung hướng về đề tài chiến tranh và người lính, thế nhưng điều đáng ghi
nhận đó là số phận và những nhân vật người lính trong văn học của giai đoạn này
được thể hiện rõ hơn Họ được ngòi bút của tác giả tập trung thể hiện nhiều hơn, thể
hiện và khắc họa chân thực hơn với một cự li gần hơn Có thể liệt kể ra một số tác
phẩm tiêu biểu cho dạng sáng tác “cự li gần” như “Năm 75 họ đã sống như thế” của
Nguyễn Trí Huân; “Tháng ba ở Tây Nguyên” của Nguyễn Khải…
Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc vào năm 1975 đã thành công
trọn vẹn Và khi tiếng súng; tiếng bom mìn - những âm thanh chết chóc của chiến
trường yên ắng, các tác giả - nhà văn lại có thêm thời gian và khoảng rộng của
những khoảnh khắc suy tư để chiêm nghiệm lại những gì đã qua
Các nhà văn trong giai đoạn này chủ động nhìn lại cuộc chiến tranh, phản
ánh những mất mát hy sinh của các chiến sĩ, những người đã nằm xuống mặt trận để
góp mình cao đẹp cho sự chiến thắng của tổ quốc Những số phận và câu chuyện
của những người đã hy sinh, được tái hiện sinh động trong tác phẩm văn học sau
1975, và đó như một cách làm tăng thêm lòng yêu nước cho độc giả, như một cách
khẳng định ý nghĩa của sự hy sinh và vất vả gian lao của chiến thắng quân thù
Comment [SCD55]: Bỏ
Comment [SCD56]: Bỏ
Trang 25Tiếng súng của chiến tranh đã yên ắng Tổ quốc Việt Nam bước vào giai
đoạn của hòa bình và thống nhất Thế nhưng tất cả chỉ là bước đầu, sau chiến tranh
ngoài sự bình yên và hòa bình thống nhất thì cả dân tộc còn phải đối mặt với rất
nhiều thử thách và khó khăn Các tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn như tập truyện
ngắn “Năm hòa bình đầu tiên”, tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại”; hay sáng
tác “Miền cháy” của Nguyễn Minh Châu… đều là những tác phẩm thể hiện rõ nhất
điều này
Bước vào những năm 1980, tình hình kinh tế; xã hội và cả văn học của Việt
Nam gặp nhiều khó khăn hơn bao giờ hết Các đề tài sáng tác văn học dần rơi vào
ngõ cụt, rất nhiều tác giả - nhà văn lâm vào tình trạng chung là bối rối, đuối sức và
không tìm thấy phương hướng để giải thoát cho ngòi bút sáng tác và cả chính lối đi
cho chính bản thân họ Những thay đổi đột ngột của thời cuộc lịch sử làm cho các
ngòi bút sáng tác chưa kịp thích nghi, cho nên những sáng tác của họ lâm vào tình
trạng chung là trở nên lạc lõng với độc giả và quần chúng nhân dân trong thời kỳ
mới
Thêm vào đó, ngay trong tình hình lịch sử lúc bấy giờ, trong một quãng thời
gian tương đối dài về giai đoạn thời kỳ văn học, khoảng 30 năm từ 1945 đến 1975,
phần đông độc giả Việt Nam “chỉ được tiếp xúc với nền văn học cổ điển châu Âu
qua một số đỉnh cao từ thế kỉ XIX đổ về trước” [31]
Các sáng tác văn học nước ngoài trong giai đoạn 1945 – 1975 vì lý đo khách
quan từ thời cuộc và cả chủ quan về tư tưởng chính trị, cho nên khi du nhập vào
Việt Nam rất hạn chế về sự đa dạng, chiếm đa số vẫn là các sáng tác từ các nước
thân hữu trong phe Xã hội chủ nghĩa Chính những khó khăn nói trên đã như một
cách kích thích cho sự vươn mình đổi mới và phát triển của văn học Bản thân văn
học không thể ngưng lại so với tiến trình phát triển của lịch sử, cho nên các tác giả
cũng không thể tụt lùi, họ tìm cho mình những suy cảm với chiều sâu tâm hồn đầy
tinh tế
Comment [SCD57]: Bỏ
Comment [SCD58]: ,
Trang 26Văn học từ các nước khác khi du nhập sang Việt Nam luôn phải trải qua công đoạn dịch, cho nên sau năm 1975, cảnh tượng của văn học dịch hoàn toàn thay đổi Các sáng tác kinh điển của văn học đương đại Âu-Mỹ lần lượt xuất hiện Hầu hết đó phần đông là những tác phẩm được giải Nobel, những tác phẩm ưu tú của các tác gia đương đại thuộc các trường phái nghệ thuật hết sức khác nhau, như tượng trưng, siêu thực, hiện sinh, trường phái hiện đại, hậu hiện đại… tất cả đã được dịch ra tiếng Việt, bày bán tràn ngập trong các cửa hàng sách Những tác phẩm mà trước đây bị cấm đoán thì cũng lần lượt được dịch để đáp ứng thị hiếu mới của độc giả trong thời kỳ mới
Mảng văn học dịch này có tác động vô cùng lớn lao tới quá trình đổi mới văn
học ở Việt Nam Nó thay đổi nội tại bên trong nó cho phù hợp với người đọc, nhưng
ngược lại chính bản thân nó lại làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên Bởi thế cho nên những nhà văn từng sáng tác trong thời kỳ chiến tranh đều “nhận ra những điều mới trong thời kỳ mới”, họ nhận ra rằng nếu cứ tiếp tục sáng tác và viết như cũ, họ sẽ tự đánh mất độc giả và vô hình chung nếu cứ tiếp tục như cũ mà không thay đổi, họ sẽ giết chết chính bản thân mình bằng ngòi bút của mình
Như vậy thì hoàn toàn có thể khẳng định, văn học dịch như một điều kiện nhất định, nó vừa là yêu cầu mới đầy khó khăn của thời đại, nhưng khi văn học dịch
ra đời thì bản thân nó cũng là một thuận lợi để làm giàu thêm tính chất của văn học Việt Nam – tức là nội tại bản thân văn học dịch đã buộc các nhà văn Việt Nam phải đổi mới cách viết
Một số những nhà văn nhạy cảm đã nhận ra nhu cầu mới của thời cuộc xã hội và độc giả, họ thay đổi ngòi bút sáng tác cho phù hợp với “ngoại cảnh” xung quanh Những nhà văn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học ở giai đoạn này tiêu biểu như là nhà văn Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn… Họ là những nhà văn kỳ cựu từng sáng tác từ trước những năm 1975 Đóng góp của các nhà văn này – các nhà văn tiên phong trong phong trào thay đổi
Trang 27cách viết và tiếp cận hiện thực cho công cuộc đổi mới của văn học ở Việt Nam chủ
yếu thể hiện vẫn nhiều nhất là ở lĩnh vực văn xuôi
Giai đoạn văn học sau năm 1975, chủ yếu mạnh mẽ phát triển nghiêng về
mảng thể tài đời tư và thể tài đạo đức - thế sự Cùng với sự định hình trong cách
sáng tác và đề cập nội dung hiện thực, sau một thời gian nhất định thể tài đời tư và
thể tài đạo đức - thế sự đã chính thức trở thành thể tài trung tâm của văn xuôi sau
năm 1975
Có thể kể đến các tác giả và các tác phẩm thuộc thể tài này như nhà văn
Nguyễn Khải với “Cha và con, và…”, “Giữa cõi nhân gian bé tí”…; nhà văn
Nguyễn Minh Châu với “Bức tranh”, “Bến quê”, “Khách ở quê ra”…; ngòi bút Vũ
Huy Anh với tác phẩm “Cuộc đời bên ngoài”; Vũ Tú Nam đột phá mạnh mẽ với tác
phẩm “Sống với thời gian hai chiều”; Lê Lựu ghi dấu ấn trong làng văn Việt Nam
lúc bấy giờ với “Thời xa vắng”, nhà văn Dương Thu Hương với “Những bông bần
li”, “Ngôi nhà trên cát”…; Bùi Hiền với “Tâm tưởng”; Xuân Thiều với “Gió từ
miền cát”, “Người mẹ tội lỗi”… Nhìn chung, những nhà văn và sáng tác theo dạng
đổi mới nghiên về thể tài đời tư và thể tài đạo đức - thế sự của họ trong giai đoạn
này chưa cần xét đến nội tại tác phẩm mà ngay cả cách đặt tên tác phẩm cũng rất
gần gũi và mang tính suy tư rõ rệt về cuộc đời và số phận
Giai đoạn lớn thứ hai 1986 – 2015
Năm 1985 trở đi, sự đổi mới diễn ra vô cùng quyết liệt và mạnh mẽ trên tất
cả các “mặt trận” của văn học nghệ thuật Đó là sự đổi mới trên các lĩnh vực nghệ
thuật, từ văn học, hội hoạ, âm nhạc, cho tới sân khấu, điện ảnh… Tất cả đều có
những hướng đi riêng cho mình, mới hơn, thoáng hơn và luôn chất chứa trong đó
những suy cảm tư tưởng vô cùng sâu lắng trong tâm hồn
Mặc dù lấy năm 1986, với sự kiện Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
là dấu mốc cho sự đổi mới văn học nghệ thuật, thế nhưng quá trình đổi mới văn học
của một quốc gia nào đó, không phải đơn giản là một tờ giấy hai mặt, không đơn
Comment [SCD59]: 1.1.2.2
Trang 28giản là chuyện lật đóng hay lật mở một cánh cửa sổ Thật ra, bản chất của của quá
trình đổi mới của nền văn học nghệ thuật Việt Nam, đã xảy ra vào những năm 1980
trong giai đoạn 1975 – 1985 và cao điểm là sau mốc giai đoạn năm 1986 Hàng loạt
những tác phẩm “mới” được ra đời là minh chứng rõ nhất cho điều này
Giai đoạn lớn thứ hai 1986 – 2015 là một giai đọan văn học - lịch sử gắn liền
với sự đổi mới Bản chất của quá trình đổi mới văn học nếu xét đến tận cùng, thì
đơn giản vẫn là sự làm cho mới hơn, cho khác hơn về quan điểm nhận thức Trong
bài nhận định “Nhìn lại bước đi, lắng nghe những tiếng nói”, được đăng trên trang
“Nghiên cứu và dịch thuật” của mình, nhà phê bình lý khóa luận học Lã Nguyên
từng nhận định rằng: “Đổi mới văn học suy đến cùng là đổi mới quan niệm: quan
niệm về con người, về đời sống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật.”
Quá trình đổi mới văn học nói rộng ra là quá trình thay đổi góc nhìn và suy
nghĩ dẫn tới sự thay đổi về tiếp nhận và đánh giá của độc giả và giới phê bình văn
học Chủ trương đổi mới của Đảng đã tạo nên động lực mới trong đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội Giờ đây, các nhà văn đề cao tinh thần nhân văn mới và nỗ lực cách
tân nghệ thuật theo hướng hiện đại Trong lĩnh vực lý luận, phê bình, các nhà lý
luận, phê bình bắt đầu nói nhiều hơn đến những phương pháp tiếp cận giá trị văn
học từ bản chất nghệ thuật đặc thù của nó
Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam rất quan tâm đến “công cụ phục vụ”
cách mạng, rất quan tâm đến các sáng tác văn học Bằng chứng là vào tháng 11 năm
1987, nghị quyết 5 về vấn đề văn hóa, văn học nghệ thuật đã được ra đời Đây được
coi là nghị quyết cởi mở nhất từ trước đến nay, nó đã tạo nên một động lực sáng tác
cho các tác giả và nhà văn vì nghị quyết đã chú ý thích đáng đến vai trò sáng tạo
nghệ thuật của nghệ sĩ cũng như tính đặc thù của hoạt động sáng tạo và tiếp nhận
văn chương
Về mặt nội dung thì giai đoạn 1986 đến 1990 là giai đoạn mà nội dung văn
học được giải phóng Trong giai đoạn này, những cuộc tranh luận bàn tròn về văn
Comment [SCD60]: Bỏ
Trang 29học ở Việt Nam đã được diễn ra, sôi nổi hơn bao giờ hết Lúc bấy giờ, người ta thoải mái hưởng thụ cuộc sống mới một cách dân chủ hóa theo cách thức mới, được phát biểu chính kiến một cách công khai và minh bạch, nhân dân và cả các các thế
hệ nhà văn trong giai đoạn này hầu như được hít thở trong một bầu không khí tương
đối dân chủ, lành mạnh Và cũng chính bầu không khí sôi nổi này đã góp phần tạo
nên sự khởi sắc trong sáng tác văn học của giới văn nghệ sĩ
Kể từ sau năm 1986, văn học Việt Nam đặc biệt ở mảng văn xuôi đã chuyển
mình một cách mạnh mẽ, có những thay đổi đáng để ghi nhận từ nội dung tác phẩm
và cách thức sáng tác của nhà văn Sự tự giác nhận thức và tiến hành đổi mới của các nhà văn đã có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạn trước hình thành và bộc lộ khá rõ nét Cụ thể cho sự tự nhân thức đổi mới trong văn xuôi là sự góp mặt của các ngòi bút có kinh nghiệm như Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lê Lựu… tất cả trong số họ đã bắt đầu có những tư duy và sản phẩm văn học theo lối “đổi mới trong ngoại cảnh mới”
Yếu tố đổi mới ở đây không dừng lại nhỏ hẹp ở phạm vi đề tài hay vấn đề
mà đấy là một sự tổng hợp toàn bộ sản phẩm văn học và tác giả theo khía cạnh tư duy nghệ thuật, cảm hứng, cách viết… Nhìn chung để cắt nghĩa, lý giải hiện thực, nhà văn đi sâu phân tích đời sống tinh thần con người, chỉ ra những tồn tại trong ý thức hệ tư tưởng Các tiểu thuyết của các tác giả giai đoạn đổi mới, cho thấy rõ rệt một sự phản ứng đối với quan niệm duy ý chí một thời, cái thời mà với lối tư duy bảo thủ và thói vị kỷ, những kẻ nhân danh gia đình, đoàn thể có thể áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác
Trong số những nhà văn này không thể không kể đến tên tuổi của nhà văn Nguyễn Minh Châu, là một nhà văn từng mặc áo lính, Nguyễn Minh Châu ý thức sâu sắc về sứ mệnh cao cả, nhiệm vụ thiêng liêng của người cầm bút trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Tâm niệm sáng tác duy nhất trong ông lúc này là hướng đến cuộc chiến đấu vì sự sống còn của cả dân tộc,
Trang 30đất nước, do vậy nhà văn đã dành phần nhiều của cuộc đời để tìm tòi, khám phá,
thành tâm và say sưa ngợi ca vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo của cuộc sống và tâm hồn con
người trong chiến tranh - Đó chính là những tác phẩm được viết bởi cảm hứng sử
thi - anh hùng ca, một cảm hứng chủ đạo của văn học thời kỳ chống Mỹ Ông đã
mang đến sự đổi mới rất sớm trong những sáng tác của mình, và ngay từ những
sáng tác đầu tay mang tính chất đổi mới của nhà văn Nguyễn Minh Châu, chúng ta
thấy đâu đó là một sự “tiên tri”, phỏng thấy và dự phần tương lai của hiện thực và
văn học Việt Nam
Ngay từ sau 1975 và nhất là những năm đầu thập niên 80 Nguyễn Minh
Châu nổi bật giữa làng văn học nghệ thuật Việt Nam với “Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành” “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” là câu chuyện về
người đàn bà tên Quỳ, một người phụ nữ với rất nhiều những kỷ niệm thời chiến
tranh Một câu chuyện hết sức bình dị nhưng đầy ngang trái giữa Quỳ với người yêu
là Hòa - trung đoàn trưởng, một con người đáng mặt nam nhi quân tử, tập trung “tất
cả tinh hoa của nam giới” Yêu Hòa - một người lính cách mạng thời chiến đầy
gian khổ nhưng cô Quỳ lại luôn đòi hỏi ở bản thân Hòa những điều khôn tưởng, cô
muốn anh phải như một “thánh nhân” Rồi thì mất mát của chiến tranh cũng đến,
Hòa hy sinh và tiếp ngay sau đó là nỗi ám ảnh của kẻ ở lại, Quỳ luôn dằn dặt, khổ
đau, … và rồi cô lấy Ph (bạn cũ của Hòa) làm chồng Nhưng tai họa lại tiếp tục rơi
xuống, Ph bị đi tù Quỳ luôn sống trong những mộng tưởng vô thực và những day
dứt trong tâm hồn
Hình tượng nhân vật Quỳ đã tạo nhiều ám ảnh ở người đọc Qùy là con
người cô đơn, suốt đời “lang thang đi tìm cái chân trời của những giá trị tuyệt đối
hoàn mỹ” [4] Nơi cánh rừng Trường Sơn trong những cuộc chiến khốc liệt nhất
Qùy đã từng là “nàng công chúa” nhưng lúc quay về đời thường người đàn bà này
lại mang căn bệnh mộng du Những suy tư, trăn trở bao lâu mà Quỳ ấp ủ bằng trái
tim rỉ máu, bằng khát vọng mãnh liệt đã trở thành hài hước và cứng nhắc giữa cuộc
đời thường nhật Quỳ tự hiểu mình, hiểu người, hiểu đời, hiểu tất các những nỗi
Comment [SCD61]: ,
Comment [SCD62]: -
Trang 31đau riêng chung tê dại Hòa bình đã không thể làm lành hết những vết thương ở
trong cô Có lẽ vì thế Quỳ luôn phải sống cô đơn, phiêu du cùng hoài niệm Đó
chính là sự khắc nghiệt của chiến tranh! Sự khắc nghiệt đó đã in dấu lên cuộc đời
của mỗi thân phận con người bé nhỏ “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” viết
về một đề tài không dễ, đề tài mà văn học Việt Nam hiện đại phải “quên đi” Đề tài
về người phụ nữ trong chiến tranh và số phận của họ sau chiến tranh, một số phận
không giản đơn, không ngọt ngào, bởi những bi kịch của chiến tranh không hề mất
đi mà bám dai dẳng vào từng số phận con người
Lê Lựu và các nhà văn cùng thời trong quá trình vận động của văn học theo
xu hướng đổi mới đã nhận thức rất rõ điều đó và họ tỏ thái độ phản ứng khá mạnh
mẽ qua việc tái hiện mâu thuẫn giữa các thế hệ Dẫn chứng một sáng tác của nhà
văn ưu tú Lê Lựu - “Thời xa vắng” - Tác phẩm này ra đời song song cùng với
khuynh hướng nhận thức lại hiện thực trong tác phẩm của Lê Lựu Trong giai đoạn
văn học trước, các nhà văn luôn hướng đến con người sử thi, nhằm đề cao vẻ đẹp
của người dân Việt Nam giữa thời kì chiến tranh ác liệt Giờ đây, thời hậu chiến
tranh, đề tài thế sự và đời tư là những gì mà nhà văn muốn truyền đạt, muốn gửi
gắm đến độc giả Với một nền văn học non trẻ - văn học thời kì đổi mới thì Lê Lựu
là một trong những ngòi văn đầu tiên nhìn nhận hiện thực đời sống xã hội một cách
tỉnh táo và khách quan
Trong “Thời xa vắng”, cuộc đời nhân vật chính – Giang Văn Sài đã chịu sự
áp đặt một cách phi lý bởi những quan niệm, niềm tin của người khác, của “cái
chung và lý tưởng” Soi chiếu từ bản thân là một người nông dân khoác áo lính, nhà
văn Lê Lựu luôn lấy nông thôn và nông dân làm đề tài mà ông hướng đến Ông luôn
hiểu về tâm tư tình cảm của những thanh niên lên đường nhập ngũ vì chính ông
cũng là một phần trong họ Chính vì thế vấn đề trung tâm đặt ra trong tác phẩm
“Thời xa vắng” là số phận con người, là những ước muốn hạnh phúc, những khát
khao cuộc sống theo mong muốn của bản thân Bi kịch số phận nhân vật Giang
Minh Sài cũng là bi kịch về hạnh phúc con người
Comment [SCD68]: ,
Comment [SCD69]: ,
Trang 32Giang Minh Sài là con út của một thầy đồ, sống trong gia đình mang nặng tư
tưởng phong kiến, từ nhỏ, anh đã chịu sức ép từ những tập tục lạc hậu Do vậy, dù
mới mười tuổi, Sài đã được gả vợ - Tuyết - cô vợ hơn Sài ba tuổi Ở cái tuổi ăn chưa
no, lo chưa tới thì tình yêu làm sao có được, Sài phải chịu nỗi uất ức vì “tự nhiên có
một con bé cứ theo nó kè kè để mách bố mách mẹ nó”, chính vì vậy, Sài rất ghét
Tuyết, ghét tất cả những gì liên quan đến cô Nhưng Sài không thể trốn tránh nghĩa
vụ làm chồng trước mặt mọi người vì sợ gia đình, sợ xã hội dị nghị, chỉ có đêm đến
mới là khoảng thời gian Sài được sống theo mong muốn bản thân Những yếu tố tác
động từ xã hội, sức ép từ gia đình đã khiến cho Sài đánh mất đi cuộc sống, con
người của chính anh Dư luận trở thành gọng kìm kẹp chặt số phận con người,
không cho Sài được yêu với chính trái tim yêu thương dành cho Hương – cô bạn
học ngày xưa anh yêu mến
Sự sợ hãi khi phải đối mặt với gia đình, xã hội, hàng ngày đối mặt với Tuyết
đã khiến cho Sài quyết định nhập ngũ, như một cuộc chạy trốn hiện thực Vào quân
ngũ, ngỡ đâu sẽ được sống với một tâm hồn tự do, nhưng Sài đã lầm, cuốn nhật kí
anh dùng để viết những tâm sự, những mong ước yêu thương bị người ta soi mói,
gán cho anh cái tội có suy nghĩ tiểu Tư sản Chuyện đó qua đi, Sài lại trở thành một
thanh niên gương mẫu và được xét có đủ phẩm chất để đứng vào hàng ngũ của
Đảng Một lần nữa, họ tác động đến cái điều mà anh sợ nhất: “Chi bộ họp nhất trí
kết nạp Sài với hai điều kiện được sáng tỏ: đã yêu vợ thực sự chưa và kiểm tra lại
vài điểm ở gia đình vợ” Họ tìm mọi cách bắt Sài yêu vợ, nhưng đến khi anh cho họ
thấy anh “yêu” vợ rồi thì họ lại là xem đó lí do cản trở con đường tiến thân của anh,
vì gia đình nhà vợ có một lí lịch không trong sáng Thực ra, Giang Minh Sài không
sai, tổ chức cũng không sai, nhưng trong thời ấy, đôi khi những việc được xem là
tốt, lại là sợi dây buộc chặt con người vào những quy định khuôn mẫu cứng nhắc
mà chỉ bản thân người trong cuộc mới cảm thấy đau khổ
Hòa bình lặp lại, là thời điểm Sài quyết định sống với một tình yêu nồng
cháy, Sài chọn Châu – một cô gái thành thị sành đời, như một tình yêu vội vã, hấp
Comment [SCD70]: , đó là Tuyết, cô vợ…
Trang 33tấp, để cho thỏa đáng những bức bách mà anh phải chịu đựng khi làm theo ý mọi
người trước kia Sài yêu và cưới Châu bằng một tình yêu nhu nhược, bỏ qua mọi lời
khuyên bảo của những người thân Chịu đựng những lần Châu lớn tiếng xỉ vả, như
trái ngược lại hoàn toàn với thái độ trước kia của anh và Tuyết Một cuộc hôn nhân
như thế, thì chuyện đổ vỡ là một điều tất yếu Trước ngày li hôn, Sài nhận ra rằng:
“Nửa đời người phải yêu cái người khác yêu, nửa đời còn lại yêu cái mình không
có” Có thể thấy, “Thời xa vắng” đã hướng hoàn toàn vào việc khám phá con người
dưới góc độ cá nhân, đời tư Giang Minh Sài là một người lính, nhưng nhà văn Lê
Lựu không xây dựng lên hình ảnh một anh hùng cách mạng như các nhà văn thời
trước Mà đây là một góc nhìn hoàn toàn mới, mang đậm tính nhân bản, phản ảnh
những gì chân thật nhất của cuộc đời con người Mà cụ thể là một bộ phận thanh
niên lên đường nhập ngũ ngày đó
Ma Văn Kháng ghi dấu ấn trong làng văn của Việt Nam thời kỳ đổi mới bằng
các sáng tác tiêu biểu “Mùa lá rụng trong vườn”, “Đám cưới không có giấy giá
thú” Nhân vật Cừ trong “Mùa lá rụng trong vườn” là một đứa con hư hỏng, bị
những suy nghĩ sai lầm biến thành kẻ nhỏ nhen, ích kỷ, thành người “coi tất cả
chuẩn mực đạo đức là giả trá, vô bổ, vô lý, coi các quan hệ tình cảm thiêng liêng
với Tổ quốc, gia đình, bố mẹ, anh chị em là vô nghĩa”[13;6] Cuối cùng, bằng
chuỗi thất bại cay đắng trong cuộc đời mình, Cừ đã nhận ra tất cả Nhưng trong lá
thư anh gửi về cho cha, cứ nhức nhối một suy nghĩ: “Con đã thấy ba cố duy trì cái
nền nếp có trăm ngàn điều nhỏ nhặt ấy mà cốt lõi là xây dựng một gia đình hòa
thuận, trên kính dưới nhường, trọng nghĩa khinh tài, hướng về sự phát triển đạo
đức, tinh thần là chủ yếu Con đã được sống trong cái nền nếp đó với tất cả những
sung sướng và phiền hà do nó gây ra, cũng như con được hưởng tình thương yêu và
sự hà khắc - yêu cho vọt - của ba mẹ”[13;7]
Nỗi ấm ức của một đứa con không chịu được những quy phạm cứng nhắc
của bố mẹ đã khiến nhân vật Cừ cho rằng tất cả chỉ là đạo đức giả Chính suy nghĩ
sai lầm ấy đã dẫn anh đến những sa ngã của cuộc đời Nhưng bi kịch của Cừ khiến
Comment [SCD71]: , và
Trang 34người đọc phải băn khoăn rằng liệu chăng cách giáo dục con cái bằng sự nghiêm
khắc có phần áp đặt của ông Bằng liệu có phải là một trong những nguyên nhân dẫn
đến chuỗi sai lầm trong cuộc đời Cừ?
Mở rộng vấn đề bị áp đặt của nhân vật Cừ và sự áp đặt khuôn mẫu của người
cha thì đâu đấy là sự tồn tại của những tầng ý nghĩa rất sâu mà nhà văn Ma Văn
Kháng nói riêng và các nhà văn đổi mới của Việt Nam nói chung luôn luôn thể hiện
Trong tác phẩm này, Ma Văn Kháng đã để cho nhân vật Cừ nhận thức được những
sai lầm, ngộ nhận của mình Sau những nếm trải cay đắng, Cừ nhận ra “phá bỏ đạo
đức thì gặp ngay hung bạo, khinh rẻ giá trị tinh thần thì đời trống rỗng hoang tàn”
[13;11], “sợ sự hà khắc của ba để giữ gìn luân lý cho con với sự tự do ở đây, thì cho
con chọn sự hà khắc ở ba” [13;12], nhân vật Cừ đã mất khá lâu thời gian, anh đã
mất gần như cả cuộc đời để đến được với nhận thức mới mẻ và đấy tính giải thoát
ấy
Nếu Nguyễn Quang Sáng trước đây nhẹ nhàng truyền thống cách mạng lý
tưởng với các tác phẩm trước đổi mới như “Chiếc lược ngà”, “Mùa gió chướng”,
“Chị Nhung”… thì sau tiếng còi bắt đầu của sự đổi mới, liên tục là sự ra đời của
các tác phẩm cho sự đổi mới nhận thức, thay đổi góc nhìn về vấn đề con người như
“Tôi thích làm vua”, “Thế võ”…
Có thể thấy rằng, trước một hiện thực mới, một thế hệ những độc giả mới,
một hoàn cảnh dân chủ mới… nhà văn không được phép viết như cũ Sự chọn lọc
tồn tại ở trong tự nhiên để nhằm mục đích “làm biến mất” những sinh vật yếu kém
và mất khả năng phát triển trong môi trường mới Bản thân văn học cũng giống như
một môi trường tự nhiên luôn tồn tại sự chọn lọc và bản thân mỗi nhà văn là một
thực thể tự nhiên, là một “sinh vật”, nếu bản thân nhà văn không thay đổi cho phù
hợp để thích nghi và phát triển thì “môi trường tự nhiên” - văn học sẽ thực hiện việc
chọn lọc để làm biến mất những nhà văn yếu kém và mất khả năng phát triển trong
môi trường mới Sự đổi mới của các nhà văn được nhận định gần như là một điều
kiện tất yếu mang tính chất sống còn của chính họ
Comment [SCD72]: ,
Trang 35Đặc biệt với sự xuất hiện của một loại cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt
và diện mạo của văn xuôi Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang
Lập, Tạ Duy Anh… đã mang lại cho văn xuôi những sắc thái mới mẻ Đọc những
cây bút này, người ta có thể chê trách điều này, điều nọ, thảo luận lại nhiều vấn đề,
nhưng không thể không thừa nhận những đổi mới mà họ đã đem đến trong văn xuôi
giai đoạn này
Tình hình văn học từ năm 1990 đến nay, bên cạnh việc phản ánh cuộc
chiến đấu giữ nước hào hùng của giai đoạn văn học trước, người cầm bút thời hiện
đại của cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI dần hướng ngòi bút và góc nhìn nghệ
thuật của mình tới đời sống thường nhật với nhiều bộn bề, đa đoan, phức tạp Nếu ở
giai đoạn trước, vị trí trung tâm của tác phẩm chính là những hình tượng nhân vật
sử thi thì giờ đây trung tâm của hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học lại là
những con người cá nhân với đủ những cung bậc tình cảm vô cùng phức tạp không
dễ khám phá
Có thể nói, những tiêu chí đổi mới văn học đều ít nhiều liên quan đến văn
học về chiến tranh Bản thân văn học sau 1990 về phía nghệ thuật đã liên tục có
những cách tân nghệ thuật đáng ghi nhận, đặc biệt là việc sử dụng các yếu tố kỳ ảo
của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo xuất phát từ các nhà văn các nước thuộc Châu Mỹ
Latinh Số lượng các sáng tác ra đời mặc dù không ồ ạt và mạnh mẽ như ở giai đoạn
trước nhưng cũng ít nhiều gây được sự chú ý từ phía độc giả và giới phê bình văn
học Cho đến nay, chiến tranh đã lùi xa hơn bốn thập kỉ nhưng người cầm bút vẫn
không ngừng viết về nó Các tác phẩm đoạt giải thưởng hàng năm và mùa bội thu
tiểu thuyết sử thi từ 2004 đến 2010 là những minh chứng rõ rệt
Cụ thể trong khoảng thời gian năm 1990 đến 2000, lần lượt là sự ra đời các
tác phẩm tinh tế của những tác giả trẻ như Nguyễn Khắc Trường với “Mảnh đất lắm
người nhiều ma”; Bảo Ninh với “Nỗi buồn chiến tranh”; Nguyễn Việt Hà với “Cơ
hội của chúa”; Tạ Duy Anh với “Đi tìm nhân vật”…
Comment [SCD73]: :
Trang 36Bất cứ một nền văn học nào trong sự vận động và phát triển của nó đều nhằm
đề cập và giải quyết ở mức độ nhất định những vấn đề mà thời đại đó đặt ra và nó
có thể dự báo những vấn đề chủ yếu của con người và thời đại trong bước tiến của lịch sử Văn học cách mạng, văn học thời kỳ chiến tranh của chúng ta là sự phát triển tiếp nối của truyền thống yêu nước trong văn học dân tộc Âm hưởng chung của văn học giai đoạn này là cái anh hùng, cái hào hùng Ý thức chung của nền văn học đó là hướng tới sự phản ánh cái cao đẹp của chiến tranh nhân dân, vì vậy mang đậm giai điệu sử thi Và nếu cái chất sử thì ấy có lấn cái đau thương, cái đời thường thì cũng là lẽ đương nhiên và cũng dễ hiểu trong sự cảm nhận của người đọc hôm qua, hôm nay và cả mai sau
Từ góc độ khám phá hiện thực khác nhau, nhà văn đã cố gắng thể hiện số phận con người với những chiến công và chiến bại, những niềm vui lẫn day dứt đau thương, có khi rất riêng tư trong sâu thẳm của tâm hồn, có khi lại hòa đồng với
những lo toan, trăn trở đi lên của dân tộc Có thể xem tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh – một thành tựu đặc sắc của văn học thời kỳ đổi mới
giai đoạn 1990 – 2000, ở mảng đề tài viết về chiến tranh sau chiến tranh, là một ví
dụ “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh xuất bản lần đầu tiên vào năm 1990 với tiêu đề do các biên tập viên Nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn trao giải: “Thân phận của tình yêu” Dù nhan đề “Thân phận tình yêu” hay “Nỗi buồn chiến tranh”
cũng chỉ là một Đó là: Một chuyện tình đau đớn trong chiến tranh
Tác phẩm không có cốt truyện, tình tiết rành mạch mà chỉ là những mảng hồi
ức của nhân vật Kiên, một người lính của tiểu đoàn 27 độc lập hoạt động trên địa bàn B3 còn sống sót, về cuộc chiến tranh đẫm máu vừa qua và về mối tình với cô bạn học trường Bưởi tên là Phương Chiến tranh, trong ký ức của Kiên đồng nghĩa với cái chết và sự hủy diệt Có những cái chết buồn thảm như cái chết của cha và dượng Kiên, có cái chết bi thảm như cái chết của những người đồng đội của Kiên trong cuộc chiến Trong ký ức của Kiên, chiến tranh còn là những hình ảnh buồn bã
về ngày chiến thắng trĩu nặng những dự cảm kinh hoàng về sự tổn hại của nhân tính
Trang 37trong nhà ga hàng không Tân Sơn Nhất với câu nói của một người chiến sĩ: “Liệu
mà coi chừng nhân tính” khi chứng kiến cảnh một người lính cao xạ quẳng xác của một người phụ nữ bên địch ra giữa sân bê tông loáng nước mưa
Tình yêu, trong ký ức của Kiên, là mối tình tuyệt đẹp mà đau xót với cô bạn học Phương Tình yêu cho dù bị đày đọa, vẫn tồn tại như một thách thức làm cho người ta mê đắm Tình yêu của Kiên và Phương như là biểu tượng của cái đẹp, đối lập với chiến tranh khốc liệt Giữa một vùng bom đạn xé toạc bầu trời Hà Nội trong những ngày đầu của cuộc chiến, Phương tắm bên hồ “ung dung”, “bình thản”, cái đẹp ngạo nghễ trước bạo lực Tình yêu của Phương, sắc đẹp của Phương bị chiến tranh hủy hoại, chỉ còn lại ký ức mênh mông và huyền ảo, và “nỗi buồn” về thân phận tình yêu Bằng những ký ức chắp nối, tác phẩm như là những độc thoại của Kiên về thân phận con người Tình yêu và chiến tranh, hai chủ đề, hai nỗi buồn thấm vào nhau, hòa lẫn nhau, da diết, xót xa, hủy diệt
Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong 30 năm qua là bản anh hùng ca của lịch sử Nó là nguồn chất liệu vô cùng tận để bao thế hệ nhà văn phản ánh và sáng tạo Các nhà văn, bằng lao động và tài năng nghệ thuật của mình đã tạo nên diện mạo tinh thần – nghệ thuật cho một dân tộc chịu nhiều thử thách và đau thương
do chiến tranh gây nên Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh, sự quan tâm chủ yếu của nhà văn là sự tồn vong của tổ quốc, sự sống còn của dân tộc Chính vì vậy, chủ
đề tổ quốc và dân tộc vẫn là chủ dề trung tâm của văn học lúc bấy giờ Dĩ nhiên thông qua những chủ đề đó, dòng cuộn chảy vẫn là số phận nhân dân, số phận con người Nhà văn nhận thức và thể hiện con người cá nhân gắn chặt với số phận cộng đồng dân tộc Nhận thức về cái riêng lúc bấy giờ, trước yêu cầu của lịch sử thường gắn chặt với cái chung, số phận con người hòa quyện trong số phận cộng đồng dân tộc, con người cá nhân với vẻ đẹp và lẽ sống cao cả mãi mãi là những hình tượng đẹp dể chúng ta chiêm ngưỡng Đối với Bảo Ninh, viết về đề tài chiến tranh và con người trong chiến tramh sau khi kết thúc cuộc chiến, có độ lùi cần thiết; ông đã nhìn nhận, khám phá hiện thực chiến tranh ở một góc độ khác Ông đã nhìn thấy bộ mặt gớm ghiếc của chiến tranh, sự bất an của con người Đúng như dự cảm của
Trang 38Phương trong một buổi đi dạo bên Hồ Tây với Kiên: “Em nhìn thấy tương lai – Đấy
là sự đổ nát”, “ngọn lửa thiêu các bức tranh, thiêu đốt cha và luôn cả đời em”
[11;13]
Nỗi cô đơn, sự yếu ớt, thậm chí cả sự thấp hèn vẫn đồng hành trong cuộc
sống của con người Và xét ở một khía cạnh nào đó của tâm lý, càng đạt vinh
quang, đến một lúc nào đó, vẫn có thể nhận ra nỗi cay đắng và cô đơn như thường
Bảo Ninh đã viết về cái “Cay đắng và cô đơn” đó của con người sau chiến tranh Đó
là thân phận con người trong chiến tranh, sự sám hối trước những món nợ của chiến
tranh, suy tư về nhân tính trong chiến tranh và sau chiến tranh Điểm nhìn cơ bản để
nhà văn nhìn sâu vào khuôn mặt chiến tranh và tình yêu là nỗi buồn Nỗi buồn của
chiến tranh và nỗi buồn của tình yêu cứ xoắn kết trong Kiên khiến cho tác phẩm
mang giọng điệu nhức nhối, đau đớn và hoài tiếc không nguôi
Tuy thế, vượt qua những ám ảnh của quá khứ, Kiên đã nhận ra ý nghĩa cao cả
của cuộc chiến tranh, cái mà bạo hành và cái chết không thể hủy diệt được Đó là
“vĩnh cửu những tình người” Điều đó như một sự cứu rỗi: “Kể lại, viết lại, làm
sống dậy những linh hồn đã mai một, những tình yêu đã tàn phai, làm bừng sáng
những giấc mộng xưa, đó là con đường cứu rỗi của Kiên”, đó là “một thứ chân lý
cao cả, được giác ngộ từ những trải nghiệm đau đớn” Cho dù chiến tranh là nỗi
buồn nhưng là “nỗi buồn mênh mông, nỗi buồn cao cả, vượt lên trên nỗi niềm hạnh
phúc, mọi nỗi bất hạnh … nhưng đó là cuộc đời tốt đẹp nhất mà chúng tôi có thể
mơ ước, cuộc sống trong hòa bình.” [11;14]
Đó là thành công của Bảo Ninh trong khi xử lý đề tài về chiến tranh: Ông đã
đào sâu hiện thực chiến tranh bằng những trải nghiệm cá nhân để làm phong phú
thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử Nhìn thẳng bộ mặt tàn khốc của
chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm họa của chiến tranh để lại sau
chiến tranh, nhưng đồng thời dựng lại hình ảnh của những con người bằng sự chịu
đựng và sức mạnh anh hùng đã làm nên sức mạnh cho cuộc chiến, làm nên chiến
thắng hôm nay
Comment [SCD74]: Đưa ra phía sau dấu ngoặc
vuông
Trang 39Hình ảnh người đàn bà bị câm trong tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của
nhà văn Bảo Ninh là một sự thật, là một hàm ý đầy tinh tế của tác giả Trước hết nó
đại diện cho việc các nhà văn thời trước muốn nói nhưng chưa dám nói và dần lâu
cứ như một người phụ nữ lặng lẽ trong gác xép vĩnh viễn im lặng chỉ dám đứng
nhìn hiện thực trôi qua trong bất lực can thiệp, đấy là một sự mã hóa hình tượng với
tầng bậc nội dung mang tải đầy tinh tế Bên cạnh đó, hình tượng người đàn bà bị
câm thực sự là một sự cứu rỗi từ phía tác giả dành cho nhân vật Kiên, anh là một
chàng lính hậu chiến, anh trở về từ sau cuộc chiến, là một kẻ sống trong khi rất
nhiều đồng đội đã chết và hy sinh, xã hội xa lạ với anh, không ai hòa nhập với đời
lính thời bình, người phụ nữ câm chính là kẻ chỉ nghe anh nói và để cho anh nói
Nhận thức về số phận con người gắn liền với hạnh phúc và đau khổ, dường như đó
là tất cả những gì thực sự ý nghĩa trong cuộc đời con người Văn học quan tâm đến
hạnh phúc cũng như nỗi buồn của cá nhân con người là góp phần nâng cao giá trị
của con người, bồi dưỡng nhân cách và hoàn thiện con người hơn
Bảo Ninh viết về “Nỗi buồn chiến tranh”, đọc tác phẩm này chúng ta hiểu
con người đau khổ, trăn trở, nhận thức như thế nào về quá khứ, về chiến tranh, về
những gì được mất trong cuộc đời Đó là một bước tiến trên con đường hiện đại hóa
tiểu thuyết Việt Nam – con đường đi tới diễn tả số phận tinh thần của con người,
tăng thêm chiều sâu tư tưởng, nâng cao vai trò của chủ quan nhà văn trong sáng tạo
nghệ thuật “Nỗi buồn chiến tranh” đã làm cho bức chân dung về con người trong
văn học những năm gần đây đầy đủ hơn bằng sự diễn tả quá trình tự ý thức của con
người về lịch sử, về số phận bằng việc thêm vào đó nỗi đau tinh thần, khát khao đến
vô vọng về hạnh phúc và sự day dứt, trăn trở không nguôi về quá khứ Vả lại, bản
chất của văn chương là nỗi đau đời, là sự nuối tiếc không nguôi về thời gian, về
thân phận, về những gì không lặp lại
Trong giai đoạn lịch sử - văn học 2000 đến 2014, văn học lại có thêm
những sự thay đổi về nội dung và cách thức thể hiện thủ pháp nghệ thuật Nội dung
của các tác phẩm trong giai đoạn này đầy mới mẻ nhưng cũng phảng phất ít nhiều
Comment [SCD75]: ,
Trang 40những sáng tác “tái phản ánh” thời kỳ cũ, tái thể hiện trong giai đoạn văn học đương
thời những hiện thực lịch sử đã qua trong quá khứ
Văn học 2000 – 2014 còn phát triển tiếp tục và ta gọi đó là văn học đương
thời, văn học hiện đại Vấn đề chiến tranh luôn là một vấn đề lớn của văn học, đó là
mảnh đất trù phú và màu mỡ để các nhà văn chiêm nghiệm và sử dụng nó như một
nguyên liệu đa dạng và dồi dào góc cạnh để sáng tác
Các tác phẩm văn học đương đại ngày nay nói chung và thể loại tiểu thuyết
nói riêng đã và đang tiếp nối “thuộc tính” phản ánh hiện thực – phục vụ chính trị và
cách mạng của văn học giai đoạn trước và phản ánh tinh tế đầy khách quan những
vấn đề mới của thời đại mới Những vấn đề nhức nhối của xã hội được phản ánh vô
cùng chân thật trong những tác phẩm văn học giai đoạn này – đó là những vấn đề về
tính hai mặt của kinh tế thị trường; là những vấn đề về nạn buôn lậu, về người tốt và
kẻ xấu về những người siêu giàu có và mánh khóe làm giàu bất lương của họ,
những vấn đề về gia đình, về tấm màn hư ảo của cõi trần gian và thiên đàng hoặc
ngạ quỷ và đâu đó cũng có thể chính là những góc khuất của cuộc sống và tạo hóa
– của giới tính…
Tuy nhiên nổi bật nhất trong những vấn đề trên, bắt đầu từ năm 1999 – 2000
là sự nở rộ đồng loạt của các cây bút trẻ với những sáng tác liên quan đến vấn đề
đồng tính hay vấn đề phẫu thuật chuyển đổi giới tính – một vấn đề hoàn toàn mới và
đầy táo bạo trong cách thức tiếp cận hiện thực cũng như vô cùng khó khăn cho tác
giả khi phải tinh tế làm sao để có thể triển khai ngòi văn ý tưởng thành một tác
phẩm hoàn chỉnh vừa phải chân thật, thật hay và đầy tính thẩm mỹ nhân văn
Từ lâu, vấn đề giới tính nói chung và vấn đề đồng tính nói riêng đã thật sự
trở thành một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu cũng như trong cách
tiếp cận và nhìn nhận Giới tính là một trong những vấn đề mà từ khi con người
chưa sinh ra, còn nằm trong bụng mẹ với tư cách là một thai nhi, đã được đề cập
mãi cho đến khi lớn lên, nó chứa đựng nhiều góc cạnh tư tưởng và màu sắc hiện
thực khác nhau
Comment [SCD76]: ,