Chính THƠ MỚI đã mở đầu một cách rực rỡ cho thơ Việt Nam hiện đại và được ghi nhận như một bước phát triển mới của thơ dân tộc về tư duy thơ, về thi pháp, về thể loại thơ và ngôn ngữ the
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN LỘC
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Hội thoại là một trong những hình thức đặc trưng của ngôn ngữ Trong thơ ca Việt Nam, chỉ đến THƠ MỚI, tính hội thoại mới xuất hiện như một đặc điểm nổi trội Khi nghiên cứu thi pháp văn học trung đại, chúng tôi nhận thấy thơ trung đại không phát triển năng lực giao tiếp trực tiếp của lời thơ, không hướng tới trò chuyện với người đọc Giao tiếp chỉ mang tính chất gián tiếp Khi muốn “trao đổi” với bạn đọc, tác giả trung đại phải mượn lời, thác lời, kiểu vợ khuyên chồng, chị khuyên em
Nhưng bắt đầu từ THƠ MỚI - “Cuộc cách mạng về thi ca” (Hoài Thanh),
thơ ca Việt Nam đã có một bước chuyển mình vĩ đại Chính THƠ MỚI đã mở đầu một cách rực rỡ cho thơ Việt Nam hiện đại và được ghi nhận như một bước phát triển mới của thơ dân tộc về tư duy thơ, về thi pháp, về thể loại thơ
và ngôn ngữ theo hướng hiện đại hóa.Từ đó, văn đàn của chúng ta tỏa sáng những tên tuổi như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Bính… Trong đó, không thể không nhắc tới Tố Hữu - nhà thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, nhà thơ thuộc về nhân dân, dân tộc, một nhà thơ đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển nền thơ ca Việt Nam hiện đại
2 Trong suốt những thập kỉ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng trong nước như: Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hoài Thanh, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử… Với vốn hiểu biết sâu rộng và tài năng nghệ thuật, mỗi nhà nghiên cứu bằng những cách thức, bằng những con đường tiếp cận riêng của mình đã khám phá thế giới nghệ thuật mới mẻ, phong phú, độc đáo cùng với những giá trị nhân văn và thẩm mĩ sâu sắc trong thơ Tố Hữu
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Dù các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã có những đánh giá, phân tích ở nhiều góc độ như đề tài, chủ đề, nội dung, tư tưởng, hình tượng… trong thơ Tố Hữu nhưng cho đến nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về tính hội thoại - một phần quan trọng làm nên giá trị nghệ thuật của thơ ông
3 Người ta thường nói giọng điệu nổi bật trong thơ Tố Hữu là giọng trò chuyện tâm tình nhưng nhận xét đó mới chỉ dừng lại ở cảm nhận Điều quan trọng là chỉ ra biểu hiện cụ thể của giọng điệu đó qua việc phân tích ngữ văn có cơ sở khoa học Nghiên cứu tác phẩm thơ Tố Hữu trên bình diện ngôn ngữ nói chung, nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữu nói riêng là một công việc rất thú vị, hấp dẫn, có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn mặc dù
cũng hết sức khó khăn, phức tạp Có thể coi đây là “mảnh đất mới chưa được
khai khẩn, hứa hẹn cho những vụ mùa bội thu” nếu như “người lao động”
ngoài kĩ năng, vốn hiểu còn có một niềm đam mê khám phá
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn và tiến
hành nghiên cứu đề tài: Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu
2 Lịch sử vấn đề
Tố Hữu tỏa sáng trên văn đàn từ những năm 30 của thế kỉ XX Qua
tập thơ đầu tay Từ ấy, tiếp theo là các tập thơ Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa
và cuối cùng là các tập Một tiếng đờn, Ta với ta, Tố Hữu đã để lại một dấu
ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng tình yêu lí tưởng, bằng phẩm chất chính trị, bằng tấm lòng tận tụy hy sinh vì dân, vì nước và bằng một tài năng nghệ thuật lớn
Nói đến nghệ thuật thơ Tố Hữu là nói đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Điều chúng tôi quan tâm ở đây là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mang tính hội thoại được coi như là một phương tiện tạo nên giọng điệu riêng trong thơ Tố Hữu: giọng trò chuyện, tâm tình, đồng thời, cũng là phương tiện để
tạo nên “tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” (Tố Hữu)
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ở Việt Nam có hàng loạt công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu
Trong bài viết in trên Báo Mới [15], K&T gọi Tố Hữu là “Nhà thơ của
tương lai” và khẳng định giá định nghệ thuật của thơ Tố Hữu K&T cho rằng
sức hấp dẫn trong thơ Tố Hữu chính là lý tưởng của một chàng thanh niên trẻ tuổi - chàng thanh niên của tương lai
Nguyễn Văn Hạnh với bài nghiên cứu “Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu” [12] đã đề cập đến 3 vấn đề lớn trong thơ Tơ Hữu Đó là: cảm hứng xã hội,
thiên hướng tổng hợp; sức mạnh tình cảm, hơi thơ liền mạch; tình nghĩa, tâm sự; ước lệ và cách tân
Lê Đình Kỵ, tác giả cuốn chuyên luận “Thơ Tố Hữu” [16], chủ yếu đề
cập tới phong cách dân tộc đậm đà trong thơ ông thể hiện ở đề tài, đối tượng, nội dung thể hiện, ngôn ngữ Tác giả cho rằng thơ Tố Hữu đạt tới những khái quát lớn về dân tộc, thời đại
Từ cuối những năm 80, ít có những công trình nghiên cứu mới về thơ
Tố Hữu Đề cập đến thơ tố Hữu trên sách báo phần nhiều là những bài phân tích, bình giảng một số bài thơ, những đoạn hồi ức của chính tác giả hoặc những ghi chép qua trò chuyện với Tố Hữu về thơ ông
Trong cuốn “Thi pháp thơ Tố Hữu” [28], GS.TS Trần Đình Sử đã có
những nhận định, đánh giá sâu sắc về Tố Hữu và thơ Tố Hữu mà nội dung có thể tóm tắt như sau:
Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam Cái mới mà Tố Hữu đóng góp cho thơ ca tiếng Việt hiện đại là tạo ra được một kiểu nhà THƠ MỚI,
một cái Tôi hấp dẫn, mạnh mẽ, thuộc về quần chúng lao khổ và cách mạng
Tố Hữu tạo ra được một giọng thơ quyền uy duy nhất hấp dẫn lúc ấy, thể hiện tập trung sức mạnh, khí thế, ý chí, niềm tin cách mạng Vì thế, trong thơ có nhiều kiểu câu mệnh lệnh, câu cầu khiến vào bậc nhất trong thơ Việt Nam hiện đại
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tố Hữu đã xây dựng hình tượng một nhà thơ kiểu mới, một nhà thơ
giữa mọi người Điều đó biểu hiện ở hệ thống từ xưng hô, ở cái tôi trữ tình
nhiều vai Sáng tác của Tố Hữu thể hiện một quá trình tìm tòi để hình thành một kiểu thơ trữ tình - chính trị mới Trong đó có sự kết hợp khéo léo giữa chủ đề chính trị với thể tài đời tư; giữa chủ đề chính trị với thể tài lịch sử - dân tộc
Bàn về chất hội thoại trong thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử đã viết “Thơ Tố Hữu
là thơ trữ tình điệu nói, ý vị của nó ẩn trong giọng lời Đọc thơ ông phải biết thẩm giọng Chất hàm súc ở lời giọng thấm thía đậm đà”
Cuốn chuyên luận là gợi ý bổ ích cho việc định hướng, triển khai để tài của chúng tôi Mặc dù ở công trình này, tác giả chưa đề cập chi tiết đến tính hội thoại trong thơ Tố Hữu
Ngoài các tài liệu mà chúng tôi giới thiệu ở trên, có thể kể đến một số bài viết đăng trên các báo nhằm phân tích, đánh giá, cảm thụ về thơ ông như:
Nguyễn Đăng Mạnh: “Con đường thơ Tố Hữu” (in trong “Con đường
đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” Nxb Giáo dục, t4/1994)
Hà Minh Đức: “Một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc” (in
trong Tố Hữu, Thơ lời giới thiệu, in lần 2, Nxb Giáo dục, 1995)
Như vậy, tính hội thoại trong thơ bắt đầu xuất hiện trong thơ Việt Nam hiện đại và được các nhà nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học chú ý ở phương diện lý thuyết Trong khoảng mười năm trở lại đây, đã có công trình nghiên cứu đề cập tới một số khía cạnh, biểu hiện về chất hội thoại trong thơ Tố Hữu nhưng rất lẻ tẻ, thoáng qua, chưa có tính hệ thống Nói cách khác, chưa có một công trình khoa học nào, nghiên cứu một cách đầy đủ và
sâu sắc về tính hội thoại (điệu nói) trong thơ Tố Hữu - nhằm khám phá những
đóng góp to lớn của nhà thơ trữ tình - chính trị này về phương diện sử dụng ngôn ngữ Đây là vấn đề thú vị mà chúng tôi sẽ cố gắng thể hiện được trong
luận văn “Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu”
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là phát hiện, phân tích những biểu hiện về hình thức (ngôn ngữ, cơ sở tư tưởng, nghệ thuật) của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, qua đó, làm rõ thêm đặc điểm về phong cách ngôn ngữ thơ
Tố Hữu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Xác định cơ sở lí luận của việc nghiên cứu tính hội thoại trong thơ
Tố Hữu (làm rõ các khái niệm hội thoại, tính hội thoại, thơ, thơ trữ tình, thơ
điệu ngâm, thơ điệu nói,…)
2) Phân tích những biểu hiện về hình thức (ngôn ngữ) cụ thể của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu
3) Phân tích cơ sở tư tưởng, nghệ thuật và giá trị của tính hội thoại đối với phong cách thơ Tố Hữu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tính hội thoại thể hiện trong một số sáng tác thơ của Tố Hữu
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tính hội thoại trong thơ Tố Hữu thể hiện qua 4 tập thơ sáng tác ở giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống
Mĩ, cụ thể là các tập thơ Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa Sở dĩ
chúng tôi chọn các tác phẩm trong những tập thơ này để khảo sát vì đây là những tác phẩm tiêu biểu nhất của Tố Hữu thể hiện rõ tư tưởng và tài năng nghệ thuật của ông
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5.1 Phương pháp điều tra, khảo sát ngôn ngữ
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê, phân loại các phương tiện biểu hiện tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, tạo cơ sở cho sự phân tích, nhận xét, đánh giá
5.2 Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, miêu tả những hình thức biểu hiện của tính hội thoại cùng hiệu quả của chúng đối với việc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong thơ Tố Hữu, hiệu quả giao tiếp thẩm mĩ qua việc tạo mối liên hệ mật thiết giữa tác giả và độc giả
5.3 Phương pháp đối chiếu - so sánh
Phương pháp này được sử dụng để so sánh tính hội thoại trong thơ
Tố Hữu với đặc tính này trong thơ cổ và thơ Mới, tìm ra những nét riêng đặc sắc của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, từ đó làm rõ nét riêng của thi pháp thơ Tố Hữu so với thi pháp thơ trung đại và Thơ Mới
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu tính hội thoại (điệu nói) trong thơ Tố Hữu có ý nghĩa
về mặt lí luận và thực tiễn
Về lí luận: Lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ
và sâu sắc tính hội thoại trong thơ Tố Hữu theo hướng tiếp cận của ngành ngôn ngữ học Việc nghiên cứu đề tài này góp phần làm sáng tỏ một đặc điểm của ngôn ngữ thơ hiện đại - tính hội thoại thông qua một tác giả tiêu biểu có
uy tín về sử dụng tiếng Việt, đồng thời, mở ra hướng nghiên cứu những biểu hiện của tính hội thoại trong các tác phẩm thơ hiện đại, qua đó, giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn đặc trưng phong cách tác giả
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng để
biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học về tiếng Vịêt, về thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca hiện đại nói chung
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Biểu hiện về hình thức của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu Chương 3: Cơ sở tư tưởng, nghệ thuật và giá trị của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Giao tiếp là một hiện tượng đặc trưng của con người và của xã hội loài người Đó là nhu cầu và cũng là điều kiện tất yếu của cuộc sống con người Chính với ý nghĩa quan trọng như vậy, vấn đề giao tiếp đã được các nhà nghiên cứu chú ý từ thời cổ Hy Lạp Nhưng phải đến thế kỉ XIX, giao tiếp mới được đặt đúng vị trí quan trọng của nó trong sự hình thành, phát triển bản chất xã hội của con người Phơ-bach, nhà triết học người Đức đã khẳng định:
“Bản chất con người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con người với con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa họ”
Bước sang thế kỉ XX, giao tiếp đã trở thành vấn đề thời sự trong khoa học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nó được xem xét dưới nhiều góc
độ như: triết học thực dụng, triết học hiện sinh, học thuyết Freud, lí thuyết thông tin và điều khiển học
Đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau khi định nghĩa về giao tiếp, tùy theo phạm vi, lĩnh vực nghiên cứu của mình
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong ngôn ngữ học, giao tiếp là đối tượng nghiên cứu của một bộ môn còn khá mới mẻ là Ngữ dụng học
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý
đã đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông báo
nhờ một hệ thống mã nào đó” [33; tr.101]
GS Diệp Quang Ban định nghĩa cụ thể hơn “Giao tiếp là một hiện
tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể khác không phải là xã hội…” [4, tr.17]
Mặc dù, còn có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng trong luận văn này, chúng tôi theo quan niệm của GS Đỗ Hữu Châu - một quan niệm được xem là phản ánh những phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong cuốn
giáo trình “Giản yếu về Ngữ dụng học”, Giáo sư đã viết: “Giao tiếp là quá
trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hành động…) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định và một tình huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định” [6; tr.8] Giao tiếp,
theo cách hiểu như vậy, đã khẳng định vai trò quan trọng đối với đời sống con người và cả xã hội loài người Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, là
nhu cầu đặc trưng và sớm nhất ở con người Như C.Mac đã nói Sự phát triển
của một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác
mà nó giao lưu một cách trực tiếp
1.1.2 Giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.2.1 Đặc điểm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ được giải thích như sau: “Giao tiếp
ngôn ngữ là việc thông báo hay truyền đạt một số nội dung trong tư duy bằng
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ngôn ngữ Giao tiếp ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người Việc truyền đạt thông báo được tiến hành qua những bước liên tục Quá trình này làm thành hệ thống giao tiếp, bao gồm các thành tố nguồn phát tin, nguồn nhận tin và mã Muốn giao tiếp thực hiện được thì nguồn phát và nguồn nhận phải cùng sử dụng chung một mã hay ít nhất hai mã được sử dụng phải có phần tương đương với nhau Ngoài ra trong giao tiếp cũng còn phải tính đến các yếu tố khác như tạp âm - đó là những trở ngại trong đường truyền đạt thông báo - và phần dư thừa, tức là phần trùng lặp có thể bù đắp phần nào những mất mát thông tin do tạp âm gây ra trong đường truyền tin…” (Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học)
[33, tr.14] Cụ thể, trong một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ có hai loại hành
động: hành động tạo lập (hoặc sản sinh) lời nói (hành động phát tin); hành động tiếp nhận (hoặc lĩnh hội) lời nói (hành động nhận tin)
Khi có nội dung D xuất hiện trong đầu, người phát tin tìm cách truyền
nó đến người nhận Vì nội dung D thuộc lĩnh vực tinh thần nên để truyền được nội dung ấy đến người nhận, người phát phải tìm cách vật chất hóa Để vật chất hóa nội dung đó, người phát sử dụng ngôn ngữ Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, quá trình chuyển nội dung D thuộc bình diện tinh thần sang nội dung D thuộc lĩnh vực ngôn ngữ được gọi là quá trình mã hóa ngôn ngữ Đó cũng chính là quá trình sản sinh, tạo lập lời nói
Ngoài vốn sống có được qua việc học hỏi ở nhà trường và đời sống của bản thân, người phát cũng như người nhận cần có vốn ngôn ngữ nhất định Vốn ngôn ngữ là những hiểu biết về ngôn ngữ nói chung cũng như những kĩ năng sử dụng vốn hiểu biết đó vào một tình huống giao tiếp cụ thể Hiệu quả của lời nói phụ thuộc rất lớn vào chất lượng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của các nhân vật giao tiếp Trong giao tiếp, vốn sống và vốn hiểu biết được thể hiện thông qua ngôn ngữ Vốn ngôn ngữ càng phong phú
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thì khả năng diễn đạt của người phát càng tinh tế và hiệu quả giao tiếp càng cao Hiệu quả ấy tỉ lệ thuận với vốn ngôn ngữ của cả người phát lẫn người nhận Khi một nội dung D được người phát truyền đi và người tiếp nhận lí giải, khôi phục lại được nội dung đó thì khi ấy một chu kì giao tiếp đã hoàn thành Nếu người nhận lí giải đầy đủ và đổi vai thành người phát thì ta có hoạt động trao đáp mới Đó là toàn bộ quá trình diễn ra hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể thực hiện theo những cách thức khác nhau: dùng ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người (nói miệng) hoặc dùng văn bản viết
1.1.2.2 Tác phẩm văn học là một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ
Nhà văn Gorki từng khẳng định Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn
học Thơ là một thể loại của văn học Không thể có thơ nếu không có ngôn
ngữ Nói cách khác, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng nhất mà nếu như thiếu nó
thì thơ không thể tồn tại
Trong thơ, phương thức biểu hiện có vai trò cực kì quan trọng
1 - Nói về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người
2 - Nhân vật giao tiếp: chàng trai và cô gái đã đến tuổi thành niên
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
pháp khác nhau (tùy vào tập quán, thói quen sử dụng ngôn ngữ, hình thức
sinh hoạt văn hóa, xã hội…) nhưng vẫn có điểm chung là: khi giao tiếp, con
người không chỉ có nhu cầu thông báo về đối tượng mà còn luôn có nhu cầu muốn biểu đạt tình cảm và bày tỏ sự đánh giá của mình về đối tượng Tác phẩm văn học cũng là một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ - giao tiếp có tính nghệ thuật
Trong thơ mình, Tố Hữu luôn hướng tới đối thoại với độc giả, với nhân vật Chính điều đó khiến thơ ông mang giọng điệu tâm tình, sâu lắng Mỗi một bài thơ là một câu chuyện buồn, vui, yêu, ghét, tự hào, căm giận… Người
viết như muốn nói với Bác, với mẹ cha, với anh chị em, với quê hương xứ
sở… Có khi để nhắn gửi tới những người mẹ sớm hôm vất vả, hết lòng vì bộ đội, vì kháng chiến; có khi là lời kêu gọi thúc giục lên đường hay để diễn tả nỗi đau khi Bác mất…
Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu
Ra đi Bác dặn: Còn non nước Nghĩa nặng, lòng không dám khóc nhiều
(Bác ơi! - 1969) Nhà thơ khiến người đọc thấy rằng: Bác mất đi nhưng sự nghiệp của Người vẫn còn sống mãi Cho nên, khi Bác mất, ta chỉ thấy vắng Bác, xa Bác,
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
như một lần Bác đi xa Với cách diễn đạt như vậy, một mặt, nhà thơ nói được nỗi đau vô hạn khi Bác mất, nhưng mặt khác, nỗi đau khiến người ta không bi lụy mà vẫn có sự lạc quan, tin tưởng bởi Bác sẽ vẫn cùng chúng ta tiếp tục dựng xây sự nghiệp này
Bác đã lên đường, nhẹ bước tiên Mác-Lê nin thế giới Người Hiền Ánh hào quang đỏ thêm sông núi Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!
(Bác ơi - 1969) Như vậy, mỗi một tác phẩm văn học là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ Qua đó, người đọc hiểu những điều mà tác giả muốn gửi gắm, muốn chia
sẻ, tâm tình
1.2 Hội thoại và tính hội thoại
1.2.1 Khái niệm hội thoại và đặc điểm của hội thoại
1.2.1.1 Khái niệm hội thoại
Vấn đề hội thoại được đặc biệt quan tâm trong Ngữ dụng học Nó là bộ phận chủ yếu của Ngữ dụng học vĩ mô Theo Mey, Ngữ dụng học chia thành
hai bộ phận: Ngữ dụng học vi mô và Ngữ dụng học vĩ mô (các vấn đề về lí
thuyết hội thoại, siêu ngôn ngữ học và ngôn ngữ học xã hội)
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý định nghĩa: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời, ở dạng nói, giữa các
nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra…” [33; tr.122])
Theo GS Đỗ Hữu Châu “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên,
phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [5; tr.20]
Ở cuốn “Ngữ dụng học”, GS Nguyễn Đức Dân đã đưa ra một định nghĩa
rõ ràng và cụ thể hơn: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phản hồi trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến và căn bản nhất của con người là hội thoại…” [7; tr.76]
1.2.1.2 Đặc điểm của hội thoại
Theo GS Đỗ Hữu Châu [5; tr.76], một cuộc hội thoại có thể khác nhau
ở những điểm như sau:
Thứ nhất là đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn
ra cuộc hội thoại Thoại trường có thể là nơi công cộng hoặc riêng tư
Thứ hai là số lượng người tham gia Có thể là từ hai đến số lượng lớn hơn Thứ ba là cương vị và tư cách những người tham gia hội thoại
Thứ tư là các cuộc thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích Thứ năm là các cuộc thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có
hình thức
GS Nguyễn Đức Dân, trong cuốn “Ngữ dụng học” [7; tr.80], đã trình
bày những đặc điểm khái quát của một cuộc thoại gồm: những đặc điểm nội tại và những đặc điểm bên ngoài
Những đặc điểm nội tại gồm: 1 Sự tương tác qua lại (nguyên tắc luân phiên lượt lời) 2 Sự liên kết (nguyên tắc liên kết hội thoại) 3 Tính mục
đích 4 Nguyên lí hội thoại (nguyên lí cộng tác và nguyên lí tế nhị)
Những đặc điểm bên ngoài gồm: 1 Về số lượng người tham dự 2 Về
quan hệ giữa những người tham dự 3 Về chu cảnh của những cuộc thoại (thời gian và không gian) Trong đó, tác giả cũng đưa ra những lưu ý về không gian hội thoại: sự có mặt của người đối thoại có tầm quan trọng đáng
kể trong hội thoại Theo quan điểm ngữ dụng, sự có mặt hiện thực hoặc tưởng tượng của người đối thoại là yếu tố cần thiết cho sự dùng ngôn ngữ được bình thường trong quá trình hội thoại Có những câu hỏi, câu chào, câu gọi, câu cầu khiến; có những đại từ như: này, kia, như vậy… mà sự quy chiếu của
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chúng liên quan tới người nói, người nghe, ngữ cảnh, sự định hướng không gian… nghĩa là chúng chỉ được xác định khi đứng trong hoàn cảnh có mặt người đối thoại Chúng ta sẽ thấy rõ những đặc điểm này trong thơ Tố Hữu
1.2.2 Các hành vi ngôn ngữ trong hội thoại
Người xây dựng nền móng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà triết học người Anh, John L.Austin Lý thuyết hành vi ngôn ngữ còn gọi là lý thuyết hành động lời nói, nghiên cứu mối quan hệ giữa ký hiệu ngôn ngữ và việc dùng chúng vào mục đích giao tiếp
Austin thấy rằng, trong ngôn ngữ học truyền thống, cho tới thời điểm
đó, các nhà logic và các nhà ngôn ngữ chỉ quan tâm tới những câu có thể đánh giá được là đúng hay sai về ngữ nghĩa xét theo tiêu chuẩn logic Đó là những câu miêu tả, câu trần thuật, câu khẳng định, phủ định Tuy nhiên, có khá nhiều câu về hình thức rất giống với các câu trần thuật nhưng lại không thể quy cho chúng theo tiêu chuẩn đúng hay sai Làm sao có thể xác định được một lời chào, một lời gọi, là có giá trị logic đúng hay sai? Điều quan trọng
là phát ngôn đó được hình thành như thế nào? Người ta dùng với mục đích gì,
nó có tác động ra sao?
Theo lý thuyết của Austin những câu như: Ôi trời! Tôi cuộc với anh là
trận này Việt Nam sẽ thắng Anh cho biết bây giờ là mấy giờ rồi? không
nhằm trình bày một kết quả khảo nghiệm, một sự miêu tả về các sự vật, sự kiện, chúng không đưa ra những báo cáo về hiện thực mà nhằm làm một việc
gì đó như việc bộc lộ cảm xúc, việc đánh cuộc, việc hỏi của người nói Austin gọi những phát ngôn như vậy là những phát ngôn ngữ vi Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi nói người ta đồng thời thực hiện luôn cái việc được
biểu thị trong phát ngôn Như khi chúng ta nói "Tôi cuộc với anh" tức là tôi đã
"cuộc rồi" Hoặc khi đưa ra một phát ngôn "Tôi xin cam đoan những lời khai
trên là đúng sự thật Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm", thì tôi đã
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thực hiện ngay hành vi bảo đảm Chính nhờ sự phân biệt trên, Austin phát hiện
ra bản chất hành động của ngôn ngữ Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn
ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết)
Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc đọc) Sp2 trong ngữ cảnh
Theo Austin, có 3 loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn: hành vi
tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời Trong đó, hành vi tạo lời được
hiểu là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết
hợp từ thành câu để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Hành vi mƣợn lời là những hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ nói cho đúng hơn
là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người
nghe, người nhận hoặc ở chính người nói Hành vi tại lời (HVTL) là những
hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Có hàng loạt các hành vi ngôn ngữ khác
nhau, nhưng theo Austin phân loại có 5 phạm trù, đó là: phán xét, hành sử, cam kết, trình bày, ứng xử
Theo các nhà nghiên cứu, bảng phân loại của Austin còn có những điều chưa thoả đáng Ngay chính Austin cũng nhận thấy còn có chỗ chồng chéo, có
chỗ còn mơ hồ không xác định được một cách rõ ràng Trong bài "Sự phân
loại các hành vi tại lời" năm 1977, Searle cũng phê bình cách phân loại của
Austin Searle cho rằng vì Austin không định ra các tiêu chí phân loại do đó
kết quả phân loại có khi dẫm đạp lên nhau Searle đã dùng 4 trong số 12 tiêu
chí để phân loại 5 hành vi ngôn ngữ như sau:
Tái hiện: sau này Searle gọi là lớp khẳng định Các HVTL của lớp
này là: khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tin, giải thích Những hành vi này chứa giá trị "đúng" hay "sai" Đích tại lời cũng như "sự ăn khớp" của chúng là phản ánh đúng thế giới
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Điều khiển (chi phối) gồm những HVTL như: ra lệnh, yêu cầu, đề
nghị, thách thức, hỏi, cho phép
Cam kết: Gồm những HVTL như: cam đoan, thề, hứa hẹn, cho,
tặng, biếu
Biểu cảm: Gồm những HVTL như: xin lỗi, chúc mừng, tán thưởng,
cảm ơn, mong muốn, ruồng rẫy, biểu lộ tình cảm (vui thích/ khó chịu)
Tuyên bố: Gồm những HVNN: tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ
Ngoài hai cách phân loại trên, còn có cách phân loại của D.Wunderlich, F.Recanati và của K.Bach và R.M.Harnise Tuy nhiên, chúng tôi chọn cách phân loại của Searle là lý thuyết cơ bản để soi sáng cho thực tiễn khi nghiên cứu biểu hiện của các hành vi ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu
Trong thơ Tố Hữu cũng xuất hiện 5 hành vi ngôn ngữ kể trên Cụ thể:
Lớp tái hiện (biểu hiện):
Hành vi này trước đó được Searle gọi tên là xác tín Đích ở lời là miêu
tả lại một sự tình đang được nói đến Các mệnh đề này có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai logich
Ví dụ: - Chúng run lên, xông tới trói chặt Anh hơn
Đôi môi anh đã khô cháy căm hờn:
Phải chiến đấu như một người cộng sản Trái tim lớn không sợ gì súng đạn !
(Hãy nhớ lấy lời tôi - 1964)
Lớp điều khiển (chi phối):
- Đích tại lời: Đặt người nghe vào sự thực hiện một hành động nào đó
Có thể là mệnh lệnh, yêu cầu như:
- Xé tan đồn nát xác chúng ra!
- Giết, bắt sống, không mống nào được thoát!
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Giặc trước mặt phải xông mà giết
Thù sau lưng phải triệt chẳng tha
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta - 1955)
- Đừng quên giấy quên kim
Cho các em các chị
(Bài ca lái xe đêm - 1965)
Lớp cam kết: Các hành vi ngôn ngữ thuộc lớp cam kết cũng xuất
hiện trong thơ Tố Hữu Đích tại lời của hành vi ngôn ngữ này là gán trách nhiệm vào người nói thực hiện một hành động nào đó
Có thể tìm thấy các phát ngôn dưới những hình thức như sau:
- Dù ai chia núi ngăn sông
Cũng không thể cắt được lòng Việt Nam
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta - 1955)
- Máu dù chảy hai miền thấm đỏ
Nghìn đầu rơi xuống cỏ không lui
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
- Ta sẽ khai những mỏ dầu, mỏ sắt
Đóng những con tàu đi khắp đại dương
(Bài ca xuân 71)
Lớp biểu cảm: Đích tại lời là biểu thị trạng thái tâm lý phù hợp với
hành vi tại lời như: xin lỗi, chúc mừng, cảm ơn, mong muốn
Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong thơ Tố Hữu, các hành vi tại lời của lớp biểu cảm rất phong phú, đó cũng là phần quan trọng làm nên chất giọng tâm tình, gần gũi của thơ Tố Hữu Những lời chúc mừng, cảm ơn, những biểu
lộ tình cảm (vui thích/ khó chịu ) được Tố Hữu thể hiện hết sức chân thật Có
lẽ khoảng cách giữa tác giả với bạn đọc đã được xích lại gần hơn qua những lời tâm tình sâu lắng với đủ các cung bậc tâm trạng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Cảm ơn Người, Hồ Chí Minh vĩ đại
(Xưa Nay )
- Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên - 1954)
Lớp tuyên bố (tuyên bố, buộc tội)
- Đích ở lời là nhằm làm cho có tác dụng nội dung của hành vi hướng khớp ghép vừa là lời - hiện thực, vừa là hiện thực lời
Ví dụ: Anh thét lớn: Hãy nhớ lấy lời tôi
Đả đảo đế quốc Mỹ!
Đả đảo Nguyễn Khánh
(Hãy nhớ lấy lời tôi -1964)
Lịch sử muốn bay cúi đầu tội lỗi Dưới gươm thiêng hùng khí Thủ đô
Cả bốn biển hoan hô Hà Nội Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ
(Việt Nam máu và hoa - 1973)
Lý thuyết các hành vi ngôn ngữ của J.Austin chỉ xem xét các hành vi một cách riêng rẽ, độc lập với những hành vi khác Trong hội thoại, mỗi phát ngôn đều có quan hệ trực tiếp đến những phát ngôn đi trước nó hoặc định
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hướng cho những phát ngôn tiếp theo Như vậy, các HVNN không hề đứng biệt lập, hành vi này kéo theo hành vi kia, lượt lời này kéo theo lượt lời kia
Và hình thành nên khái niệm "cặp thoại" Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Chúng được tổ chức theo một quy cách chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại Quan hệ này phản ánh sự tác động của hiệu lực tại lời của HVNN ở lượt lời thứ nhất lên lượt lời thứ hai Chúng ta thấy có các cặp HVNN: hỏi - đáp, chào - đáp, đề nghị - đáp ứng, đề nghị - bác bỏ, mệnh lệnh - tuân theo
1.2.3 Khái niệm tính hội thoại
Như vậy, tính hội thoại được hiểu là tính chất của lời nói mang tính trao
đổi, trò chuyện, tâm tình, trong đó, chủ thể giao tiếp hướng tới đối thể giao tiếp được xác định rõ ràng Theo cách hiểu này thì lời nói có tính hội thoại không chỉ là lời đối thoại mà còn có thể chỉ là lời tác giả nhưng chứa đựng những phương tiện ngôn ngữ hướng trực tiếp, rõ rệt tới đối thể giao tiếp (Ví dụ: Bác ơi, Lượm, Chị là người mẹ, Người con gái Việt Nam, Mẹ Tơm…)
Qua khảo sát, có đến 90% sáng tác của Tố Hữu đều mang tính hội thoại Trong luận văn này, chúng tôi sẽ phân tích những biểu hiện của tính hội thoại
trong thơ ông Chỉ có một số ít bài thơ tính hội thoại mờ nhạt như bài: Sợ,
Mục Nam Quan, Hoa tím, Qua Liễu châu,
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Khi xem xét các cặp HVNN trong thơ Tố Hữu mà cụ thể là cặp HVNN hỏi - trả lời (đáp), chúng tôi cũng tránh tìm hiểu một cách máy móc hoặc chỉ chú tâm vào phân tích phần cấu trúc xơ cứng Bởi phần quan trọng nhất trong một cuộc thoại là người ta làm nhiều điều khác nữa chứ không đơn thuần tạo
ra những cặp thoại
Khi tạo lập những đoạn đối thoại, sử dụng phong phú, phù hợp sinh động các kiểu câu đặc trưng của ngôn ngữ hội thoại, thơ Tố Hữu đã trở thành tiếng nói gần gũi, tâm tình đối với bạn đọc Cũng đúng như quan niệm của
nhà thơ: "Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, là tiếng nói đồng chí"
1.2.3.2 Đặc điểm của lời nói mang tính hội thoại
Ngôn ngữ hội thoại là hệ thống những yếu tố ngôn ngữ được sử dụng
trong một cuộc thoại Những yếu tố ngôn ngữ đó chính là lời được các nhân vật hội thoại xây dựng nên từ những đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ (bao
gồm các phương tiện ngữ âm, từ vựng ngữ pháp)
Là một dạng thức cơ bản của giao tiếp cho nên ngôn ngữ hội thoại là loại ngôn ngữ có tính hướng đích rõ rệt, cụ thể, tức là lời nói được phát ra hướng tới một hay một số người cụ thể nhằm đạt được mục đích giao tiếp nào đó Ngôn ngữ hội thoại chứa đựng những yếu tố tác động của người nói đến người nghe và nó nhằm tạo nên mối quan hệ giữa những người tham gia hội thoại
Lời nói mang tính hội thoại có những đặc điểm chính sau:
- Hàm chứa những lời đối thoại
- Xác lập chủ thể, đối thể giao tiếp một cách rõ ràng và biểu hiện sinh động mối quan hệ giao tiếp giữa chủ thể và đối thể giao tiếp
- Sử dụng các từ ngữ, các kiểu câu đặc trưng cho ngôn ngữ hội thoại (câu hỏi, câu cầu khiến, câu chào, câu gọi)
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3 Thơ và thơ trữ tình
1.3.1 Thơ và đặc trưng của thơ
Từ buổi bình minh của xã hội loài người, thơ đã có một vị trí hết sức quan trọng Khi chưa có chữ viết, con người đã sáng tác và thưởng thức thơ qua con đường truyền miệng Những sáng tác sớm nhất của lịch sử văn học nhân loại mà ngày nay chúng ta biết đến, hầu như là thơ
Khi so sánh thơ với các ngành nghệ thuật khác, nhà triết học Đức,
G.Hêghen trong cuốn Mỹ học nhận xét: Thơ ca xét về nội dung là một nghệ
thuật phong phú nhất, ít bị hạn chế nhất Còn nhà phê bình văn học Nga
V.G.Biêlinxki cho rằng: Thơ là loại hình nghệ thuật cao nhất Thơ ca bao
gồm cả mọi yếu tố của các ngành nghệ thuật khác Đại diện cho các nhà mỹ
học phương Đông - Khổng Tử cũng quan niệm: Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quần,
khả dĩ oán có nghĩa là: thơ có công dụng khởi phát tư tưởng, đoàn kết mọi người, phê phán cái xấu
Ở Việt Nam, thơ cũng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa và đời sống xã hội Hầu hết các tác phẩm văn học dân gian và một số tác phẩm văn học viết lớn nhất của dân tộc là thơ Có thể kể đến: Ca dao, Sử thi Đăm săn (dân tộc Ê đê), Tiễn dặn người yêu (dân tộc Thái)… Gần hơn, đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam cũng là thơ như: Thơ yêu nước thời
Lý - Trần, Truyện Kiều (Nguyễn Du), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Thơ
Hồ Xuân Hương, Thơ Nguyễn Khuyến… Trong lịch sử văn học ta, từ thế kỷ XVIII trở về trước, nói đến văn học là nói đến thơ ca Có lẽ vì thế, nhà phê
bình văn học Hoài Thanh đã khẳng định: Từ bao giờ đến bây giờ, từ Homerơ
đến Kinh Thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại Nó ra đời giữa những buồn vui của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế Thơ không chỉ thỏa mãn nhu cầu thưởng
thức nghệ thuật, là một thú chơi tao nhã mà còn là một phương tiện giao tiếp
xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”, các tác giả đã chọn ý kiến bàn về thơ của Sóng Hồng như một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh: “Thơ là
một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường, thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ (còn gọi là chất thơ)”
[10; tr.310]
Qua đó, các tác giả khẳng định “Lí tưởng và khát vọng của đông đảo
nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mỗi thời đại Chất thơ là điều kiện cơ bản của thơ, không có chất thơ thì nhất quyết không có thơ hay”
Chúng tôi tán thành những quan điểm trên đây vì nó phản ánh đúng bản chất của thơ Đồng thời chúng tôi cũng nhận thấy những quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thơ Tố Hữu mà chúng tôi xác định là đối tượng nghiên cứu trong luận văn này
1.3.2 Thơ trữ tình và một số đặc điểm của thơ trữ tình xét theo quan điểm giao tiếp
1.3.2.1 Thơ trữ tình
Có thể phân loại thơ theo nhiều tiêu chí khác nhau, tùy theo yêu cầu
nghiên cứu Dựa vào phương thức phản ánh, người ta có thể chia thành thơ tự
sự và thơ trữ tình Dựa vào thể luật, có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự do
Xét theo cách gieo vần, có thể chia thành: thơ có vần và thơ không vần Cũng
có khi thơ được phân chia theo thời đại: thơ Đường, thơ Lí Trần, thơ trung
đại, thơ hiện đại… hay phân loại theo nội dung: thơ tình yêu, thơ chính trị, thơ triết lí, thơ thế sự… Ở đây, chúng tôi đề cập đến thơ trữ tình được phân
chia theo phương thức phản ánh
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” đưa ra định nghĩa về thơ trữ tình như sau: “Thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó
những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học…” [10; tr.317]
Nếu như ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng cốt truyện mà trong đó các nhân vật có đường đi và số phận riêng của chúng thì ở tác phẩm kịch, thông qua đối thoại và độc thoại, tác giả thể hiện tính cách và hành động của nhân vật qua mâu thuẫn, xung đột kịch Còn ở tác phẩm trữ tình thì thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa được bày tỏ trực tiếp và trở thành nội dung chủ yếu
Ngay từ ca dao dân ca đến các bài thơ trung đại, hiện đại, tất cả đều mang dấu hiệu chung của thơ trữ tình là biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của con người
Nói như thế, không có nghĩa là tác phẩm trữ tình không phản ánh thế giới khách quan Mọi cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của con người đều phải bắt nguồn trước một hiện thực, một vấn đề cụ thể nào đó Cũng có những bài
thơ kể ít nhiều sự kiện có tính chất liên tục như bài: Quê hương của Giang Nam;
Núi đôi của Vũ Cao; Màu tím hoa sim của Hữu Loan; Bà mẹ Việt Bắc, Lượm
của Tố Hữu… Nhưng chức năng chủ yếu của hệ thống sự kiện là tái hiện đối thể để chủ thể bộc lộ quá trình cảm xúc, suy tưởng của mình Điều đó đã khiến cho tình cảm được bộc lộ dễ dàng, gợi cảm và chân thực
Có thể nói, “Tác phẩm trữ tình làm sống dậy cái thế giới chủ thể của
hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư, tâm
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trạng, nỗi niềm, một phương diện rất năng động, hấp dẫn của hiện thực…”
[20; tr.358] Cũng không nên tuyệt đối hóa cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ trong thơ trữ tình Bởi việc miêu tả sự vật, chi tiết, hiện thực đời sống khách quan cũng là vô cùng quan trọng Từ những chi tiết chân thực sống động được phát hiện trong đời sống mới có thể khơi dậy những tình cảm sâu sắc, mới mẻ
Điều này có thể thấy rất rõ trong những bài thơ như Sông lấp của Tú Xương;
Nhớ của Hồng Nguyên; Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa; Việt Bắc của
Tố Hữu Sẽ là sai lầm nếu cho rằng tác phẩm thơ trữ tình chỉ thể hiện những rung động thầm kín, chủ quan, cá biệt Nhà thơ trữ tình bộc lộ nỗi niềm riêng
tư, những suy nghĩ thầm kín của bản thân mình, cũng chính vì vậy mà những suy tư trữ tình ấy có thể vang động, lan truyền, thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người như: sự sống - cái chết, tình yêu, lí tưởng, khát vọng, hạnh phúc, tương lai…
Thơ trữ tình không bị ràng buộc vào yêu cầu tái hiện trọn vẹn một tính cách, một số phận, một hành động như trong tự sự và kịch Nó có thể đạt tới những khái quát nghệ thuật hết sức phổ biến Có biết bao câu thơ đã đi vào đời sống như tục ngữ, như cách ngôn, trở thành khẩu hiệu hành động như:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”
bình Hoài Thanh có lần nhắc lại: Tố Hữu có lần nói nghe chim kêu, thấy nắng
đẹp mà không nghĩ là do đâu mà có thì đánh giá mọi thứ đều sai
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Như vậy, sức hấp dẫn của thơ trữ tình chính là ở sự hòa quyện giữa cảm xúc, tư tưởng, suy nghĩ của nhà thơ với hiện thực phong phú, sống động, đầy màu vẻ
1.3.2.2 Đặc điểm của thơ trữ tình xét theo quan điểm giao tiếp
1.3.2.2.1 Thơ điệu ngâm
Thuật ngữ thơ điệu ngâm và thơ điệu nói được GS Trần Đình Sử đề cập trong chuyên luận “Thi pháp thơ Tố Hữu” [28] Theo tác giả, thơ cổ điển
thuộc lối thơ trữ tình điệu ngâm với những đặc điểm cơ bản như sau:
Quan niệm Thi dĩ ngôn chí (Thơ là để nói chí) trong quan điểm mỹ học
Nho gia đã có ảnh hưởng sâu sắc tới thơ Trung Quốc cũng như thơ Việt Nam trung đại Thơ nói được chí tức là nói được tâm hồn và quan niệm sống của tác giả
Nhà thơ Tô Đông Pha (đời Tống) nói: “Tựa như sông núi có mây mù,
cỏ cây có hoa quả, khi nào khí chất đầy đủ ở bên trong thì biểu hiện ra bên ngoài” Nhà thơ Vương Sung (đời Hán) cũng nói tới chí nhưng hướng vào tác
dụng xã hội theo quan điểm “hành đạo” của Nho gia: “Có ích dụng cho đời
thì một trăm thiên cũng vô hại Không ích dụng cho đời thì một chương cũng
vô bổ” Cái đẹp mang màu sắc duy lí như vậycũng được nhiều nhà thơ, nhà
nghiên cứu Việt Nam tâm đắc
Nhà bác học Lê Quý Đôn nhận xét: “Vô luận cổ văn hay kim văn, tuy
thể loại và câu văn có khác nhau nhưng đại để đều phải có nội dung là đạo”
Một điều chắc chắn là khi tác phẩm sáng tạo chủ yếu để “duy lí”, để nói đến
cái chí của mình thì tác phẩm không thể có được sự đa dạng, sinh động mà đời sống vốn có Trong những tác phẩm ấy, tác giả nói đến tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của mình như là “của người khác”, của vũ trụ, như là “không của ai cả” Từ đó mà thông qua bút pháp gián tiếp đầy ngụ ý, kí thác chứ không mang dấu hiệu của lời nói
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thơ trữ tình ngôn chí trả lời cho câu hỏi: Nhà thơ muốn gì? Hướng tới
cái gì? Nhưng không hướng tới trả lời câu hỏi: Ta là ai? như trong thơ trữ
tình điệu nói sau này Từ đó, thơ cổ không phát triển nguyên tắc giao tiếp trực tiếp, thiếu hẳn các dấu hiệu của lời nói Từ ngữ trong bài được nối với nhau bởi niêm, luật, số câu, số chữ hạn định nghiêm ngặt… theo các quy luật siêu ngôn ngữ
Hạn chế tối đa vai trò của lời nói nên thơ trữ tình điệu ngâm tăng cường
yếu tố họa trong thơ Đặc điểm “thi trung hữu họa” trong thơ cổ là như vậy
Người đọc không phải lắng nghe lời nói trong thơ mà lắng nghe những ý vị của hình ảnh, tình điệu
Thơ điệu ngâm là thơ trong đó ngôn ngữ thơ ca tách rời ngôn ngữ nói
1.3.2.2.2 Thơ điệu nói và tính đối thoại trong thơ
Khác với thơ điệu ngâm, thơ điệu nói đưa ngôn ngữ nói vào thơ ca Trong thơ ca dân gian, chúng ta thấy đã mang ít nhiều yếu tố điệu nói: xuất hiện đại từ ngôi thứ nhất, thứ hai, các lời nhắn, lời than, lời kể Tuy nhiên, hình thức lời nói ít phát triển và chỉ có những lời hát theo làn điệu hoặc
theo một số mô tip cụ thể Trong ca dao, có mô tip “Thân em”; “Trèo lên”…
- “Thân em như dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
- “Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi”
- “Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…”
Một số những sáng tác cổ điển đã bắt đầu đưa lời nói vào thơ một cách sáng tạo, giàu sức thuyết phục như trong thơ của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Tuy nhiên, khi trữ tình sâu lắng, nghiêm trang, các nhà thơ lại trở về với lối thơ điệu ngâm
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
THƠ MỚI là bước ngoặt quan trọng trong quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam Đó là giai đoạn mà hình thức lời nói được đưa vào thơ làm phong phú cho thơ, tạo thành thơ trữ tình điệu nói Về căn bản, THƠ MỚI đã góp phần cải tạo thơ Việt, chuyển từ tâm thế sáng tạo ý, hình sang lời, giọng, điệu;
từ thơ trữ tình “vũ trụ” sang giọng thơ của con người, cho con người Tên tuổi các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Nguyễn Bính và đặc biệt là Xuân Diệu đã khẳng định chắc chắn sự hình thành
và phát triển của thơ trữ tình điệu nói Như G.S Trần Đình Sử khẳng định:
“Phong trào THƠ MỚI trong quá trình đổi mới thơ Việt từ cổ điển sang hiện đại là tạo ra thơ trữ tình điệu nói, lấy lời nói, giọng điệu tự nhiên của con người làm cơ sở cho cấu trúc lời thơ… [29; tr.117]
Trong trào lưu đó, Tố Hữu - nhà THƠ MỚI cách mạng, đã phát triển thơ trữ tình điệu nói trong lĩnh vực thơ trữ tình - chính trị như Xuân Diệu ca
ngợi “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”
So với thơ trữ tình điệu ngâm, thơ trữ tình điệu nói có những đặc điểm
ưu việt Một trong những đặc điểm đó là hướng tới đối thoại trong thơ Việc
sử dụng các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất cho phép nhà thơ thể hiện rõ ràng, dứt khoát lập trường, tư tưởng, tình cảm của mình Các lời chêm xen, hô ngữ, thán ngữ, lời chào, mời gọi…khiến cho lời thơ đầy ắp những giọng điệu và cảm xúc khác nhau Việc sử dụng các kiểu câu khác nhau, nhiều chỗ tái hiện lời đối thoại, độc thoại mang giọng điệu cụ thể đã làm nên những đặc trưng của thơ trữ tình điệu nói
1.3.2.2.3 Sự hình thành và phát triển của cái Tôi trong thơ trữ tình
Trong thơ trung đại, cách biểu hiện chủ thể của nhà thơ là một hiện tượng đặc biệt Khác với thơ trữ tình phương Tây, thơ trung đại hầu như
không có cách biểu hiện trực tiếp chủ thể trữ tình dưới dạng thức tôi, chúng
tôi, ta, chúng ta Vì thiếu chủ thể xác định nên câu thơ có một cảm nhận mơ
hồ, phiếm chỉ
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thơ trữ tình cổ điển Việt Nam có số lượng sáng tác hết sức phong phú,
đa dạng và chịu nhiều biến đổi trong lịch sử, được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Nhân vật trữ tình hiện diện trong bài thơ thông qua một loạt các động từ
biểu hiện cảm giác và động tác trữ tình thẹn, cười, khóc, hỏi, hẹn, đoái trông,
nghe, cúi đầu… Xung quanh họ là nhật nguyệt, càn khôn, sơn thủy… phẩm
chất của họ được thấy thông qua tùng, trúc, cúc, mai, long, li, quy, phượng
Họ mang nặng trên vai hai gánh cương thường, nợ tang bồng hồ thỉ, chí nam nhi… Nhà thơ trung đại thường một mình trước vũ trụ, để tất cả lắng đọng qua tim mình, từ đó mới suy ngẫm đến lẽ thịnh suy, hưng vong, đến ý nghĩa của sự tồn tại đời người… Sự xa cách với thế giới của người khác khiến cho
nhà thơ phải nhắn, gửi, hẹn, hỏi Sự xa cách ấy hoàn toàn chỉ là cách biểu
hiện chứ không phải vì lý do địa lý
Với kiểu hình tượng tác giả này, nhà thơ trung đại hầu như chỉ biểu hiện tình cảm một cách gián tiếp, kín đáo Càng kín đáo, càng bóng gió thì thơ càng hàm súc, thanh nhã Việc biểu hiện trực tiếp bị coi là dấu hiệu của sự khiếm nhã Đó là kiểu nhà thơ không giao tiếp trực tiếp mà đóng kín bản thân
mình, hạn chế khả năng đối thoại với người cùng thời Trường hợp tiếng nói và
giọng điệu trực tiếp đi vào thơ không nhiều Có thể đến đại thi hào Nguyễn Du,
bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương… cũng có lúc đã bộc lộ tương đối rõ ràng cái Tôi-cá nhân trong thơ mình Đến thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, dấu
hiệu đối thoại trở nên rõ ràng hơn
“Năm nay tớ đã bảy mươi tư Rằng lão, rằng quan tớ cũng ừ Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu Khi buồn ngâm láo một câu thơ”
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tuy nhiên, con số các nhà thơ có phong cách, có dấu ấn cá tính sáng tạo ở thơ trung đại Việt Nam không nhiều
Chỉ đến THƠ MỚI, thơ ca Việt Nam hiện đại mới nở rộ về phong cách,
về dấu ấn cá nhân ở hàng loạt tác giả Bởi lúc này, cái Tôi trữ tình đã trở
thành một phương thức biểu hiện trữ tình Người ta biết được giới hạn “eo
hẹp” của lối thơ vô ngã, phi ngã trung đại và khao khát đến với chân trời bao
la, rộng rãi của cái Tôi trữ tình giàu cá tính sáng tạo của THƠ MỚI hiện đại
Chỉ đến THƠ MỚI, người đọc mới bắt gặp cái Tôi trữ tình - cái Tôi bản
ngã không còn khép kín, không còn né tránh mà trực tiếp giao tiếp với người
đọc, tâm sự với mọi người về “muôn nỗi cuộc đời” Cái Tôi đứng giữa trung
tâm cảm hứng, giãi bày, thổ lộ
- Tôi chỉ là một khách tình si
- Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa
- Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
- Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối
Các nhà THƠ MỚI thực sự thành công khi đưa được cái Tôi trữ tình vào thơ ca với tư cách là cái Tôi hiện thực có những phẩm chất riêng không
mang tính ước lệ Tuy nhiên, THƠ MỚI chưa hòa theo dòng chảy của thời cuộc, chưa đề cập tới những vấn để lớn lao của dân tộc mình - một dân tộc đang mất tự do
Điều đáng ghi nhận ở các nhà THƠ MỚI là họ đã để cho giọng điệu đích thực của tâm hồn bộc lộ một cách trực tiếp và đậm đà cá tính Dù là vui,
dù là buồn, là réo rắt, ảo não hay kiêu bạc, ngông nghênh… thì cũng là một
cái Tôi chân thực Với giọng điệu trực tiếp của lời nói, của tiếng kêu, tiếng
gọi, tiếng chào, tiếng than… Thơ Mới đã tạo nên thơ trữ tình điệu nói Khác
với thơ cổ điển sử dụng giọng thơ trữ tình điệu ngâm (giọng trữ tình ngâm
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nga nội tại vang lên trong ý thức sâu thẳm với cái Tôi giấu kín khuất lấp, thể hiện qua những hình thức niêm luật nghiêm ngặt, cơ hồ như đã gột sạch cá tính), THƠ MỚI trở thành tiếng lòng gần gũi, hơi thơ tâm tình Nói chuyện
mình, cảm xúc của mình cũng là nói chuyện người, cảm xúc của người Không còn thế giới, không gian nào cách biệt giữa chủ thể trữ tình với người đọc Tâm trạng của chủ thể trữ tình đã lan truyền, đồng điệu với bạn đọc và
do đó hé mở cho câu văn xuôi, lời nói tâm sự, lời giảng giải, lời phân tích, lời giận dữ, lời yêu thương, lời nhung nhớ và cả những hờn ghen vào trong thơ
Đến thơ kháng chiến, đó là cả một sự trăn trở lớn vượt qua câu hỏi “Ta
là ai” để đến được với câu hỏi “Ta vì ai” của cả một thế hệ nhà thơ hiện đại
Việt Nam Điều đặc biệt cần nói đến là thơ cách mạng đã hướng tới sáng tạo
hình tượng cái Tôi trữ tình trong dạng khái quát, đại diện cho cộng đồng, dân tộc, đất nước, cách mạng - cái Tôi sử thi Nhiều người cho rằng thơ kháng chiến là thơ “hướng ngoại” G.S Trần Đình Sử gọi là thơ trữ tình điệu nói Nhưng không nên hiểu “hướng ngoại” là chỉ chú trọng miêu tả sự vật, sự
kiện bên ngoài mà không có hoặc ít nội tâm, tâm trạng, cảm xúc Cần hiểu trữ
tình “hướng ngoại” là hướng vận động của tâm trạng, cảm xúc của cái Tôi trữ tình là từ cái Tôi đến với cái Ta, từ mình hướng sang người khác, cá nhân
hướng tới và thực sự hòa nhập với cộng đồng, giai cấp, nhân dân, dân tộc Điều này thể hiện ở ngôn ngữ thơ kháng chiến cũng có biến đổi mạnh mẽ so với ngôn ngữ thơ giai đoạn trước Xu hướng chung là đưa ngôn ngữ phát triển gần với hiện thực đời sống, gần với tiếng nói hàng ngày tự nhiên, bình dị, sinh động Từ ngữ, cách nói mang tính khẩu ngữ, lối so sánh ví von,…được sử dụng khá phổ biến và nhiều trường hợp tạo nên chất liệu hiện thực với sắc thái riêng độc đáo của bài thơ
Thành tựu lớn nhất của THƠ MỚI là đem lại cho thơ Việt một diện
mạo mới Sự xuất hiện của cái Tôi-cá nhân đã làm nên muôn vẻ sắc màu
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phong cách và in đậm cá tính sáng tạo của những nhà văn lớn sau này như:
Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điểm, Chế Lan Viên, Quang Dũng, Hoàng Cầm…
Có thể nói, sự hình thành và phát triển cái Tôi trong thơ trữ tình là bước quan trọng để tạo nên diện mạo của cả nền văn học Việt Nam hiện đại
1.4 Vài nét về Tố Hữu và thơ Tố Hữu
ca Cả hai đã truyền cho con tình yêu tha thiết đối với văn học dân gian
Quê hương của Tố Hữu là vùng Thừa Thiên - Huế có phong cảnh sông núi nên thơ, có nền văn hóa đậm đà màu sắc dân tộc, gồm cả nền văn hóa cung đình và văn hóa dân gian Quê hương và gia đình là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng và làm nảy nở tài năng thơ Tố Hữu
Tuổi thơ Tố Hữu sớm phải chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn tình cảm Bước vào tuổi thanh niên, Tố Hữu nhanh chóng tìm đến với con đường cách mạng Tố Hữu tham gia và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế rồi được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1938 Thời gian này, Tố Hữu đã đến với thơ và năm 1937 đã đăng những bài đầu tiên trên các tờ báo cách mạng ở Huế và Sài Gòn
Trong gần ba mươi năm, Tố Hữu giữ nhiều cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Ông từng là Trưởng ban tuyên huấn; Bí thư TW Đảng, được bầu là Ủy viên Bộ chính trị tại đại hội lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (1981) và giữ cương vị Phó chủ tich Hội đồng bộ trưởng đến năm 1986
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tố Hữu mất tại Hà Nội ngày 9 tháng 12 năm 2002 sau một thời gian lâm bệnh nặng
Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phận của sự nghiệp cách mạng
1.4.2 Đặc điểm thơ Tố Hữu
Điểm nổi bật nhất ở Tố Hữu là sự thống nhất giữa nhà cách mạng và nhà thơ, giữa con đường cách mạng và con đường thơ Thơ Tố Hữu là một phần của sự nghiệp cách mạng, phục vụ cho lý tưởng cách mạng Các chặng đường thơ ông luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hy sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc đồng thời cũng là những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng
và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ Chặng đường thơ Tố Hữu được đánh dấu bằng những tập thơ sau:
Tập thơ TỪ ẤY (1932-1946): Tập thơ được in lần đầu năm 1946
Trong lần tái bản có sửa chữa năm 1959 mới đặt tên là Từ ấy Tập thơ gồm có
bảy mươi mốt bài, chia làm ba phần: Máu Lửa; Xiềng Xích; Giải Phóng
Tập thơ VIỆT BẮC (1947-1954) in lần đầu vào cuối năm 1954, gồm
có hai mươi tư bài thơ được tác giả sáng tác trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (trong đó có năm bài thơ dịch)
Tập thơ GIÓ LỘNG (1955-1961) dạt dào bao nguồn cảm hứng lớn lao
Nhà thơ hướng về quá khứ để thấm thía nỗi đau khổ của cha ông, công lao của các thế hệ đi trước mở đường, từ đó ghi sâu ân tình cách mạng Tập thơ gồm có hai mươi lăm bài, khai thác hai nguồn cảm hứng lớn: niềm vui, tự hào, tin tưởng vào cuộc sống mới XHCN ở miền Bắc và đau nỗi đau chia cắt với miền Nam ruột thịt
Tập RA TRẬN (1962-1971) gồm có ba mươi mốt bài Tập MÁU VÀ
HOA (1972-1977) gồm có mười ba bài Hai tập là chặng đường thơ Tố Hữu
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong một thời kì đau thương và hào hùng bậc nhất của lịch sử dân tộc: cuộc kháng chiến chống Mĩ, bảo vệ Miền Bắc, giải phóng Miền Nam và giành độc lập, thống nhất Tổ quốc
Hai tập thơ viết trong thời bình là MỘT TIẾNG ĐỜN (1979-1992) và
TA VỚI TA (1992-1999) thuộc chặng cuối thơ Tố Hữu, đánh dấu bước
chuyển biến mới trong thơ ông Tố Hữu tìm đến những chiêm nghiệm mang tính phổ quát về cuộc đời và con người, kiên định niềm tin vào lý tưởng và
con đường cách mạng, tin vào chữ Nhân luôn tỏa sáng ở mỗi người
Như vậy, thơ Tố Hữu là một thành công xuất sắc của thơ ca cách mạng
và kế tục truyền thống tốt đẹp của thơ ca Việt Nam qua nhiều thời đại Chính vì những đóng góp lớn lao của mình, Tố Hữu đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý: Giải Nhất Giải thưởng Văn học của Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-1955)
cho tập thơ Việt Bắc; Giải thưởng văn học ASEAN - 1996 cho tập Một tiếng
đờn và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1996) Tố Hữu xứng
đáng được coi là cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam
1.5 Bình diện ngôn ngữ và bình diện văn học trong nghiên cứu tính hội trong thơ Tố Hữu
1.5.1 Bình diện ngôn ngữ
Trong hội thoại, con người dùng câu để trao lời và đáp lời cho nhau Trong những lời trao đổi, người nói thể hiện thái độ và có ý định thực hiện một hành động nào đó khi nói, nhằm tác động đến người nghe như nói để hỏi, nói để nhờ, muốn người nghe làm một việc gì, nói để thông báo hoặc nói để thiết lập quan hệ giao tiếp Khi nói, người nói cũng bộc lộ thái độ tôn trọng hoặc thân hữu đối với người nghe Những hành động được thực hiện trong việc nói như vậy, được gọi là hành động nói
Khi nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữu trên bình diện ngôn ngữ, chúng tôi chú ý vào những đặc điểm sau:
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Tạo lập những lời đối thoại trong thơ
- Xác lập và biểu hiện sinh động mối quan hệ giao tiếp mang tính đối thoại
- Sử dụng phong phú, phù hợp, sinh động các kiểu câu đặc trưng cho ngôn ngữ hội thoại
Chúng tôi cũng luôn hiểu rằng văn học lấy ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt Nhà văn, nhà thơ lấy ngôn ngữ làm chất liệu, cùng vốn sống và tình cảm của mình để tạo nên tác phẩm văn chương Ngôn ngữ là phương tiện, hình thức để chứa đựng, truyền tải những tâm tư, tình cảm, tâm sự, nỗi lòng của người nghệ sĩ
1.5.2 Bình diện văn học
Khi nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữu trên bình diện văn học, chúng tôi nghiên cứu cơ sở tư tưởng và nghệ thuật của sự hình thành tính hội thoại
Ví dụ: Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc, căn cứ vào sự kiện chính trị
thời kì những năm 1954 Cụ thể là tháng 10 năm 1954, TW Đảng và chính phủ rời Việt Bắc về thủ đô Hà Nội, cảm xúc trong buổi chia tay giữa đồng bào miền núi với cán bộ kháng chiến đã khiến Tố Hữu xúc động viết lên bài thơ này Cuộc chia tay có kẻ ở, người đi với bao tình cảm lưu luyến nhớ thương
Khi tìm hiểu bài thơ Việt Bắc hay bất cứ bài thơ nào cũng vậy, người đọc không chỉ phải chú ý đến cách sử dụng từ ngữ, kiểu câu mà còn phải chú
ý tới những yếu tố khác liên quan và tác động đến sự hình thành tác phẩm như hoàn cảnh, lập trường quan điểm, hệ thống hình tượng…Như vậy việc nghiên cứu đánh giá về tác phẩm đó mới trở nên toàn diện
1.5.3 Sự kết hợp hai bình diện
Nghiên cứu tác phẩm văn chương không chỉ nghiên cứu trên bình diện ngôn ngữ mà còn phải kết hợp với bình diện văn học Bởi để tác phẩm ra đời, ngoài tài năng sử dụng ngôn ngữ, nhà văn còn bị chi phối bởi lập trường,
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
quan điểm sáng tác Đây là những yếu tố tác động tới tình cảm của nhân vật,
hệ thống hình tượng, các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ…
Việc kết hợp bình diện ngôn ngữ với bình diện văn học trong nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữu đòi hỏi sự phân tích, lí giải những hiện tượng ngôn ngữ thể hiện tính hội thoại phải dựa trên cơ sở tư tưởng nghệ thuật chi phối hiện tượng đó
Hai bình diện này luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Một tác phẩm chính xác về cấu trúc nhưng không gợi cảm và sâu sắc về nội dung thì cũng không thể coi là một tác phẩm có giá trị và ngược lại
Tiểu kết:
Toàn bộ chương I của luận văn là những vấn đề cơ sở lí luận, trong đó, chúng tôi đã trình bày rất rõ những nội dung lý thuyết sau: Giao tiếp, giao tiếp bằng ngôn ngữ; hội thoại, tính hội thoại, thơ, đặc trưng của thơ, bình diện ngôn ngữ và bình diện văn học trong nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữu
Những vấn đề lí luận trên đã giúp chúng tôi định hướng nội dung và có
cơ sở vững chắc để tiến hành nghiên cứu tính hội thoại trong thơ Tố Hữ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 2
BIỂU HIỆN CỦA TÍNH HỘI THOẠI TRONG THƠ TỐ HỮU
2.1 Tạo dựng những lời đối thoại trong thơ
cử chỉ, điệu bộ”[34; tr.93]
Xem xét định nghĩa này, chúng ta thấy hình thức đối thoại phù hợp với các thể loại tự sự nhiều hơn là với thơ trữ tình Những đoạn thoại rõ ràng, mạch lạc và có phần khô cứng, “suồng sã” khó có thể phù hợp với một thể loại có vần điệu và chắt lọc câu chữ như thế Bởi vậy, chúng ta thấy không nhiều các nhà thơ nổi trội về vấn đề này Việc đưa ngôn ngữ hàng ngày vào thơ trữ tình như thế nào cho đúng, cho hợp lý và có tính nghệ thuật thì không phải nhà thơ nào cũng biết làm và làm được hiệu quả như Tố Hữu
Có thể nói, những thành công của Tố Hữu là xuất phát từ chính quan
niệm của ông về thơ “Thơ hay thường mộc mạc, chất phác, không cần trang
sức… Thơ hay càng trần trụi, chân chất càng gây cảm xúc sâu sa trong lòng người đọc…” [17; tr.97] Và vì thế, ngôn ngữ mà Tố Hữu dùng trong các bài
thơ cũng không hề cầu kì, kiểu cách “…nó không chỉ là chữ a, chữ b mà là cả
cái tiếng vang lên trong chữ, tiếng vang của cả những khoảng cách giữa những chữ, những dòng…” [17; tr.98] Những điều như thế khiến chúng ta lý
giải được vì sao Tố Hữu có thể đưa những lời nói thường vào thơ một cách thật hấp dẫn và có giá trị nghệ thuật
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.2 Đặc điểm của lời đối thoại trong thơ Tố Hữu
2.1.2.1 Xét theo số lượng
Trong tổng số 99 bài thơ được khảo sát, chúng tôi thấy có tới 82 bài mang tính hội thoại, chiếm tỷ lệ là 83% Tuy nhiên, ở phần này, chúng tôi chỉ
đề cập tới những đoạn đối thoại đích thực có trong 4 tập thơ của Tố Hữu, tức
là những đoạn đối thoại có sự xuất hiện trực diện của Sp1 và Sp2 để trao đổi một nội dung U nào đó Có tất cả 16/82 bài có những đoạn đối thoại như vậy
Những bài này được phân bố cụ thể như sau: có 6 bài trong tập Việt Bắc, 2 bài trong tập Gió lộng, 6 bài trong tập Ra trận, 2 bài trong tập Máu và hoa
2.1.2.2 Xét theo cấu tạo
Sau khi thống kê 16 bài, chúng tôi tiến hành khảo sát và có kết quả cụ thể như sau: Có 13 bài thơ chứa các đoạn đối thoại; có 3 bài từ đầu đến cuối
là một cuộc đối thoại trọn vẹn
Như vậy, chủ yếu trong thơ Tố Hữu là những đoạn đối thoại xen kẽ Cách sử dụng này rất có hiệu quả, bởi nếu tác giả quá lạm dụng đối thoại sẽ khiến cho các bài thơ trở nên đơn điệu Cái khéo léo của nhà thơ là ở chỗ luôn
tìm cách thay đổi hình thức biểu hiện, làm cho cái Tôi - chủ thể trữ tình thật
đa dạng để người đọc không có cảm giác tác giả lúc nào cũng là cái loa phát thanh cho nhân vật trong thơ mình Các nhân vật “được” tự nhiên trò chuyện, trao đổi một cách chân thực những vấn đề đặt ra trong đời sống chính trị và xã hội Gần như không thấy có sự gò ép, khô cứng nào trong các bài thơ có đối thoại Thậm chí, các đoạn đối thoại còn khiến lời thơ trở nên gần gũi, chân thực và sống động
2.1.2.3 Xét theo nhân vật tham gia đối thoại
Các cuộc đối thoại có thể được diễn ra giữa tác giả với nhân vật hoặc giữa nhân vật với nhân vật Cụ thể:
- Có 11 đoạn đối thoại giữa tác giả với các nhân vật, xuất hiện trong
các bài thơ như: Giữa thành phố trụi, Bài ca người du kích, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt,