1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cách thức bài trí bàn thờ tổ tiên trong các gia đình người việt nam ở địa bàn thành phố hà nội hiện nay

87 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 L do c ọ ề t Người Việt Nam c truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, đây là một trong những giá trị đạo đức n i bật, g p phần tạo nên nhân cách, phẩm giá của dân tộc Đã là người V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THÙY LINH

CÁCH THỨC BÀI TRÍ BÀN THỜ TỔ TIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT NAM Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THÙY LINH

CÁCH THỨC BÀI TRÍ BÀN THỜ TỔ TIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT NAM Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là thành quả nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Thanh Hà Luận văn kế thừa một số tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đã được công bố, tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn đều được chú thích đầy đủ và có xuất xứ cụ thể,

rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn là đáng tin cậy và chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 do chọn đề tài 4

2 T ng quan t nh h nh nghiên cứu 5

3 ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 C sở l luận và phư ng pháp nghiên cứu 10

6 Đ ng g p của uận văn 10

7 ết cấu của uận văn 10

CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM 11

1 1 K ệ về t ưỡ v t ưỡ t ờ c tổ t 11

1 1 1 h i ni m t n ng ng 11

1 1 2 h i ni m t n ng ng th c ng t ti n 11

1.2 Nguồn gốc, vị trí, vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt 12

1 2 1 Nguồn gốc 12

1 2 2 Vị tr , vai trò 14

1 3 C c ì t ức t ờ c tổ t của ườ V ệt 15

1 3 1 Th c ng Quốc t 15

1 3 2 Th c ng thần hoàng làng 15

1 3 3 Th c ng T nghề 17

1 3 4 Th c ng t ti n của gia đình, dòng họ 17

1 4 T ờ c tổ t tro ột số tô o ở V ệt Na 26

1 4 1 Ý nghĩa th c ng t ti n theo quan điểm Phật gi o 26

1 4 2 Th c ng t ti n của ng i Công gi o Vi t Nam 28

T ểu kết C ươ 1 34

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁCH THỨC BÀI TRÍ BÀN THỜ TỔ TIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36

2 3 T ực trạ c c t ức b tr b t ờ tổ t tro c c a ì ườ

V ệt ở u Lo B 50

2 3 1 Một số thông tin căn bản về quận Long Bi n 50 2.3.2 Cách thức bài trí bàn thờ tổ tiên tại một số gia đình trong quận Long Biên 52

T ểu kết C ươ 2 56 CHƯƠNG 3 : Đ C ĐIỂM VÀ U HƯỚNG BÀI TRÍ BÀN THỜ TỔ TIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT SỐNG Ở THÀNH PHỐ

Trang 6

3.1.3 i u dáng ích c ch t i u màu s c số ng ch t i u và v

trí bát h ng 58

3.1.4 i u dáng ích c màu s c số ng ch t i u và v trí các đ thờ hác 58

3 2 u ƣớ b tr b t ờ tổ t tạ c c a ì ƣờ V ệt Na ở t ố H Nộ tro t ờ a tớ 59

3 2 1 Nh ng ếu tố t c động 59

3 2 2 D b o u h ng bài tr bàn th t ti n t i c c gia đình ng i Vi t Nam thành phố Hà Nội trong th i gian t i 63

3 3 Đề xuất, k ế ị 63

3 3 1 V i c c c quan quản l nhà n c 64

K T LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 75

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 L do c ọ ề t

Người Việt Nam c truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, đây là một trong những giá trị đạo đức n i bật, g p phần tạo nên nhân cách, phẩm giá của dân tộc Đã là người Việt, dù ở bất cứ thời đại, địa phư ng, dòng họ, hoàn cảnh sống nào, th người đi trước vẫn luôn nhắc nhở, dạy bảo người đi sau phải biết n t tiên, ông bà, cha mẹ, tôn trọng những người đã khuất Chính v vậy, thờ cúng t tiên đã trở thành tín ngưỡng truyền thống lâu đời, ph biến

và c lịch sử tồn tại lâu dài trên đất nước ta

Thờ cúng t tiên c nhiều yếu tố cấu thành: Đối tượng được thờ, được cúng; n i thờ, n i cúng; bàn thờ, đồ thờ; đồ cúng, lời cúng; nghi thức thờ, cúng; chủ thể thực hiện việc thờ, cúng

ặc dù là tín ngưỡng c tính ph biến, song các yếu tố vừa nêu lại c

sự khác biệt nhất định giữa các địa phư ng, vùng miền, dòng họ, gia đ nh

H n nữa, theo thời gian, trải qua những giai đoạn phát triển và cả những biến cố của lịch sử, của tự nhiên; khiến những yếu tố văn h a, xã hội không ngừng biến động Các phong tục truyền thống trong đ c thờ cúng t tiên cũng nằm trong quy luật thay đ i ấy

Chính v thế, nên các học giả, giới tri thức, những người làm công tác nghiên cứu, vẫn thường xuyên c sự t m hiểu, khảo cứu để nắm bắt được xu thế biến động cũng như những thay đ i cụ thể, qua đ kịp thời t ng kết thực tiễn, g p phần củng cố, xây dựng c sở l luận, và đưa ra những kiến c giá trị, hợp l , đúng lúc, g p phần duy tr , giữ g n, phát huy phong tục thờ cúng t tiên - một bản sắc văn h a của dân tộc

Hà Nội là Thủ đô, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn h a, tri thức của

cả nước Ở mức độ nào đ , c thể n i, Hà Nội giữ vai trò như một biểu tượng,

và là “bộ mặt” của đất nước Chính v vậy, việc nghiên cứu, t m hiểu mọi mặt

Trang 8

đời sống văn h a, tín ngưỡng của người dân cư trú trên địa bàn Hà Nội, trong

đ c tập tục thờ cúng t tiên là việc làm cần thiết, g p phần củng cố, duy tr , khẳng định nền văn h a đậm đà bản sắc của con người Việt Nam n i chung, của người dân Hà Nội n i riêng Với suy nghĩ đ , chúng tôi lựa chọn đề tài

“Cách thức bài trí bàn thờ t tiên trong các gia đ nh người Việt Nam ở địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” để thực hiện nghiên cứu

2 Tổ ua tì ì cứu

Chúng tôi nhận thấy, c rất nhiều nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở Việt Nam n i chung, ở Hà Nội n i riêng (hoặc c liên quan đến phong tục này) đã được các học giả, các nhà nghiên cứu thực hiện, trong đ c những tác phẩm rất n i tiếng ra đời cách đây đã h n 100 năm Dưới đây, chúng tôi xin nêu một số tác phẩm, bài viết:

+ Về sách:

- Năm 1915, Phan ế Bính đã c tác phẩm “Việt Nam phong tục”, sau này cuốn sách đã được tái bản nhiều lần bởi nhiều nhà xuất bản khác nhau, và trở thành cuốn sách “gối đầu giường” của nhiều thế hệ những người yêu chuộng, nghiên cứu văn h a, tín ngưỡng Dân tộc [4]

- Tác giả Toan Ánh, năm 1992, xuất bản cuốn “Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam” tại Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí inh [3]

- Học giả hắc Cung đã xuất bản cuốn “Hà Nội văn h a và phong tục” vào năm 2000, tại Nhà xuất bản Thanh Niên [9]

- Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy đã xuất bản nhiều tác phẩm về tín ngưỡng, văn h a tâm linh; nội dung c đề cập tới tín ngưỡng thờ cúng t tiên; trong đ c tác phẩm “Văn h a tâm linh” do Nhà xuất bản Văn h a Thông tin

ấn hành năm 2011 [11]

- Nh m tác giả do nhà nghiên cứu ư ng Thị Thoa làm chủ biên c tác phẩm “Tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam”, đây là cuốn sách tham khảo do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2015 [49]

Trang 9

Các cuốn sách nêu trên c chứa đựng nội dung về phong tục tập quán dân tộc, trong đ c những thông tin liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở nước ta Đáng chú là cuốn “Tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam” của các tác giả ư ng Thị Thoa (chủ biên), Đinh Văn Nghĩa, Nguyễn Thị iều Trang, Trần Nam Trung; cuốn sách

đã khái quát về nguồn gốc h nh thành và các loại h nh tín ngưỡng thờ cúng t tiên, cũng như nêu một số n t c bản về tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở một số nước ở khu vực châu Á, châu Phi, châu , và ở Việt Nam Tuy nhiên, theo chúng tôi nh n nhận, nội dung về tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở Việt Nam của cuốn sách còn tư ng đối s lược

+ Về báo, tạp chí:

- Tác giả Bùi ưu Phi hanh c bài “Nguồn gốc bản chất tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở Việt Nam”, đăng trên tạp chí Văn h a Nghệ thuật số 401, tháng 11 năm 2017 [33]

- Học giả ê Thị Cúc c bài “Tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt xưa và nay”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 5, năm 2009 [8]

- Nhà nghiên cứu Cao Văn Thanh c bài viết với nhan đề “Về tín ngưỡng thờ cúng t tiên”, đăng trên Tạp chí Giáo dục l luận, số 1, năm 2006 [43]

- Tác giả Đinh iều Nga c bài “Tín ngưỡng thờ cúng t tiên, bản sắc văn

h a của người Việt” trên website của Ban Tôn giáo Chính phủ năm 2019 [38]

- Vào tháng Hai năm 2019, tác giả Trần iều Quang c bài “Tục thờ cúng t tiên của người Việt”, đăng trên Báo Cần Th điện tử, tháng 02 năm 2019 [41]

Các bài viết vừa nêu đã đề cập tới tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở nước ta với một số khía cạnh khác nhau, c bài t m cách l giải nguồn gốc, bản chất,

c bài đưa ra những nhận thức, suy luận, c bài mô tả nghi lễ, h nh thức

+ Về luận văn, luận án:

- Năm 2001, Trần Đăng Sinh hoàn thành luận án tiến sĩ Triết học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí inh với đề tài “Những khía cạnh triết

Trang 10

học trong tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” [33]

- Năm 2015, luận án tiến sĩ Tâm l học với đề tài “Niềm tin của người Việt đối với tín ngưỡng thờ cúng t tiên”, được tác giả Nguyễn Thị Hải Yến bảo vệ thành công tại Học viện hoa học Xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam [60]

- Năm 2016, Vũ Đức Chính (Thích Thanh Nhiễu) hoàn thành luận án tiến sĩ Tôn giáo học với đề tài “Sự hội nhập Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng truyền thống của người dân Hà Nội hiện nay”, luận án được bảo vệ tại Trường Đại học hoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội [6]

- Cũng năm 2016, nghiên cứu sinh Phan Nhật Trinh (Thích Nguyên Hạnh) c luận án tiến sĩ Tôn giáo học với nhan đề “Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt hiện nay”, luận án cũng được bảo vệ tại Trường Đại học hoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội [52]

- Về luận văn, năm 2013, Ngô Hồng Hạnh c luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học cũng ở Trường Đại học hoa học Xã hội và Nhân văn với đề tài “Quan niệm về vũ trụ và nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ” [24]

Các luận văn, luận án vừa nêu, mặc dù tiếp cận bằng các ngành khoa học khác nhau, và ở những thời điểm, phạm vi khác nhau, nhưng đều c nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng t tiên Đ là những tài liệu giá trị để chúng ta tham khảo

3 M c c v ệ v cứu

* ục đích nghiên cứu:

Đề tài này được thực hiện với mục đích: Về mặt l luận, khái quát h a những nội dung liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng t tiên trong các gia đ nh người Việt; về mặt thực tiễn, mô tả được một cách chi tiết, chính xác cách thức bài trí bàn thờ t tiên trong các gia đ nh người Việt hiện đang sinh sống

Trang 11

ở Hà Nội (thông qua một số mô h nh c tính đặc trưng); đồng thời dự đoán được xu thế biến chuyển trong cách thức bài trí bàn thờ t tiên trong các gia

đ nh người Việt sống ở Hà Nội trong thời gian tới (ngắn và dài hạn); cũng như đưa ra được các đề xuất, kiến nghị phù hợp

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nêu trên, nghiên cứu phải thực hiện những nhiệm

vụ sau:

Thứ nhất, t ng hợp, sắp xếp được những nội dung liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng t tiên trong các gia đ nh như: Đối tượng được thờ, được cúng; n i thờ, n i cúng; bàn thờ, đồ thờ; đồ cúng, lời cúng; nghi thức thờ, cúng; chủ thể thực hiện việc thờ, cúng

Thứ hai, lựa chọn được địa bàn, đối tượng khảo cứu c tính đại diện, đặc trưng của cư dân đang sinh sống trên địa bàn Hà Nội

Thứ ba, thực hiện khảo cứu tỉ mỉ, cẩn thận, khách quan, đầy đủ về việc bài trí bàn thờ t tiên ở những đối tượng đã được lựa chọn

Thứ tư, ghi ch p đầy đủ, chính xác những thông tin, dữ liệu đã thu thập được

Thứ năm, đưa ra dự báo về xu hướng trong việc bài tríbàn thờ t tiên ở

cư dân Hà Nội trong thời gian tới, đồng thời nêu ra những vấn đề cần khắc phục cũng như một số kiến nghị liên quan

4 Đố tƣ v ạ v cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài này c đối tượng nghiên cứu là cách bài trí bàn thờ t tiên của người Việt cư trú trên địa bàn Hà Nội

Trang 12

với nhiều làng c ; th Hoàn iếm là trung tâm kinh tế, thư ng mại, với những khu phố c ; còn ong Biên là quận mới, ven đô, sinh hoạt mang nhiều tính chất của nông thôn, làng xã, và đang trong quá tr nh đô thị h a

Trong mỗi quận, lựa chọn mô h nh với các tiêu chí:

Về tiêu chí chung: Đ là gia đ nh người Việt Nam

Về tiêu chí riêng: C hai tiêu chí riêng như sau:

Thứ nhất, về nguồn gốc, thời gian cư trú ỗi quận chọn ba gia đình có thời gian cư trú tại Hà Nội khác nhau: ột gia đ nh c quê quán, nguồn gốc tại Hà Nội; một gia đ nh c quê quán ở n i khác, nhưng đã định cư ở Hà Nội được nhiều thế hệ (tính đến người giữ vị trí cao nhất trong quan hệ gia đ nh, hiện còn sống); và một gia đ nh c người chủ gia đ nh (người giữ vị trí cao nhất trong quan hệ gia đ nh, hiện còn sống, như trên) là thế hệ đầu tiên đến sinh sống ở Hà Nội

Thứ hai, về đặc điểm căn nhà ỗi quận chọn một gia đ nh đang sinh sống trong căn nhà xây trên đất nền dạng nhà liền kề; một gia đ nh sinh sống trong căn hộ chung cư; và một gia đ nh đang sống trong nhà vườn, biệt thự

ỗi gia đ nh lựa chọn khảo sát cần th a mãn tiêu chí chung, cũng như tiêu chí riêng, không c sự trùng lặp Ví dụ: Tại một quận; chọn một gia đ nh người Việt, c nguồn gốc tại Hà Nội, sống trong căn nhà dạng liền kề; một gia đ nh người Việt, c quê quán ở n i khác, nhưng đã sinh sống ở Hà Nội nhiều đời (tính đến người c vị trí cao nhất trong quan hệ gia đ nh), đang sống trong một căn hộ chung cư; và một gia đ nh người Việt, mới đến sinh sống ở

Hà Nội (người c vị trí cao nhất trong quan hệ gia đ nh là người địa phư ng khác chuyển đến sinh sống ở Hà Nội), đang sống trong một ngôi nhà dạng nhà vườn, biệt thự

- Về thời gian:

Nghiên cứu cách bài trí bàn thờ t tiên của các gia đ nh người Việt Nam đang sinh sống trên địa bàn thành phố Hà Nội ở thời điểm hiện nay (2019)

Trang 13

5 Cơ sở u v ƣơ cứu

* C sở l luận:

Chúng tôi dựa trên quan điểm ác - xít trong nhận thức về tôn giáo, tín ngưỡng; đồng thời dựa trên đường lối chủ trư ng của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Nhà nước Việt Nam hiện nay

* Phư ng pháp nghiên cứu:

- Các phư ng pháp c tính t ng thể liên ngành như: Phư ng pháp duy vật lịch sử, Phư ng pháp duy vật biện chứng của triết học; phư ng pháp khái quát, logic, t ng hợp tư liệu; phư ng pháp nhu cầu niềm tin tín ngưỡng của tín đồ, quản l tôn giáo của tôn giáo học; phư ng pháp các giai đoạn nhận thức của tâm l học…

- Các phư ng pháp c tính cụ thể của xã hội học và nhân học: Phư ng pháp t m kiếm, thu thập; Phư ng pháp điền dã; Phư ng pháp quan sát; Phư ng pháp ph ng vấn; Phư ng pháp phân tích, t ng hợp; Phư ng pháp đánh giá số liệu

6 Đ của Lu v

* Về mặt l luận:

uận văn g p phần b sung thông tin về cách bài trí bàn thờ t tiên vào

hệ thống l luận về tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở Việt Nam n i chung, ở Hà Nội n i riêng

* Về mặt thực tiễn:

uận văn giúp các c quan, t chức, cá nhân liên quan c những thông tin chính xác, đầy đủ, chi tiết về cách bố trí bàn thờ t tiên ở ở Hà Nội để phục vụ các công việc liên quan Bên cạnh đ , uận văn cũng dùng làm tài liệu tra cứu cho những đối tượng quan tâm

7 Kết cấu của Lu v

uận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, uận văn được chia làm 3 chư ng, mười tiết

Trang 14

Thông thường thuật ngữ tín ngưỡng bao gồm tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định Tín ngưỡng dân gian là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắn liền với tập tục, th i quen truyền thống N là một bộ phận của văn h a dân gian, phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người và cả cộng đồng [49, tr14-15]

1 t t c t t

Thông thường tín ngưỡng thờ cúng t tiên được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa hẹp: Tín ngưỡng thờ cúng t tiên là việc thờ cúng t tiên, ông bà, cha mẹ – những người cùng huyết thống đã mất – là những người đã c công sinh thành và nuôi dưỡng con cháu

Nghĩa rộng: Tín ngưỡng thờ cúng t tiên không chỉ là thờ cúng những người c cùng huyết thống trong gia đ nh, họ tộc, mà còn mở rộng cả t tiên của làng xã, đất nước, bao gồm việc thờ trời đất; thờ người c công dựng nước, giữ làng, c công với cộng đồng, làng x m; thờ các thần linh c liên quan đến cuộc sống thường nhật của con người [49, tr22-23]

Trang 15

1.2 N uồ ốc, vị tr , va trò của t ƣỡ t ờ c tổ t của

ƣờ V ệt

1 N uồ ốc

Theo nh m tác giả của cuốn sách “Tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở một

số quốc gia trên thế giới” do ư ng Thị Thoa chủ biên, th tín ngưỡng thờ cúng t tiên c ba nguồn gốc: Nguồn gốc xã hội; nguồn gốc nhận thức, và nguồn gốc tâm l

Về nguồn gốc xã hội, các tác giả cho rằng, nguyên nhân sâu xa dẫn tới

sự hành thành tín ngưỡng thờ cúng t tiên là do tr nh độ sản xuất hết sức thấp

k m của thời nguyên thủy Tính hạn chế của lực lượng sản xuất k o theo sự hạn chế trong quan hệ k p giữa con người với tự nhiên và giữa con người với nhau trong xã hội Còn nguyên nhân trực tiếp mang tính xã hội của tín ngưỡng thờ cúng t tiên là sự phân công lao động trong xã hội thị tộc phụ hệ, đã dẫn tới việc đề cao vai trò, vị trí của người đàn ông trong gia đ nh và xã hội Những người này, bằng uy tín của m nh đã củng cố và thiêng liêng h a sự thờ cúng t tiên đã c manh nha trong thời kỳ thị tộc mẫu quyền [49, tr29-30]

Về nguồn gốc nhận thức, cuốn sách đưa ra quan điểm, không phải ngay khi con người xuất hiện là tín ngưỡng và tôn giáo được h nh thành, trái lại tín ngưỡng và tôn giáo chỉ xuất hiện khi tr nh độ tư duy và tr nh độ xã hội của con người đạt đến một mức độ nhất định Với những phát hiện và đ ng g p của ngành khảo c học, dân tộc học, và trên c sở nghiên cứu những xã hội s khai còn tồn tại đến ngày nay, các nhà dân tộc học ngày càng miêu thuật đầy

đủ và phong phú h n rằng: “tôn giáo chỉ c điều kiện xuất hiện khi nhận thức của con người đã phát triển đến mức độ nhất định và khi xã hội con người đã được t chức tư ng đối n định” [49, tr31]

Còn về nguồn gốc tâm l , do con người quan niệm trong mỗi con người được cấu thành nên từ hai yếu tố c bản là phần “xác” và phần “hồn” Hai yếu

tố này gắn b chặt ch với nhau, không tách rời nhau khi con người còn sống

Trang 16

Đến khi con người chết, hai phần đ mới tách rời nhau, phần “xác” bị phân hủy và trở thành cát bụi, còn phần “hồn” th tồn tại vĩnh viễn và c một năng lực đặc biệt Phần hồn bước vào một thế giới mới, tạo dựng cuộc sống mới ở một n i mà dân gian hay gọi là c i âm Chính v vậy, khi con người chết, người ta không coi đ là sự chết, mà chỉ cho rằng đ chỉ là sự chuyển đ i

“trạng thái sống” từ thế giới hữu h nh sang thế giới vô h nh Trên c sở niềm tin đ , con người khi gặp phải những kh khăn trong cuộc sống, gặp phải những bất hạnh, rủi ro họ đã nghĩ đến việc cầu xin sự trợ giúp, phù hộ của t tiên, ông bà những người thân đã mất Như vậy, từ quan niệm về linh hồn t tiên, về sức mạnh mầu nhiệm ở t tiên và nhu cầu tâm l muốn tâm sự, gửi gắm, giải t a những bức xúc trong đời sống tâm linh thông qua việc thờ cúng

là một trong những c sở để tín ngưỡng thờ cúng t tiên ra đời [49, tr37]

Trên đây là những quan điểm về nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng t tiên của nh m tác giả và cuốn sách đã nêu Còn theo t m hiểu và suy nghĩ của chúng tôi, không c tài liệu khả tín để xác định tín ngưỡng thờ cúng t tiên ra đời chính xác vào thời điểm nào và bắt nguồn từ đâu Tại Việt Nam, tín ngưỡng này đã c từ rất lâu đời, và n c thể là một trong những tín ngưỡng xuất hiện sớm nhất ở nước ta (cùng tín ngưỡng thờ nhiên thần) Chúng tôi cho rằng, tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở nước ta là tín ngưỡng bản địa, phát sinh từ trong nước, nhưng không phải là tín ngưỡng riêng c của Việt Nam; mà nhiều nước khác, dân tộc khác trên thế cũng c tín ngưỡng này, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là những ví dụ

Theo chúng tôi, sự ra đời của tín ngưỡng thờ cúng t tiên ở Việt Nam dựa trên ít nhất ba c sở: ột là, niềm tin về sự tồn tại của thế giới siêu nhiên, một thế giới khác với thế giới của chúng ta; hai là, quan niệm c linh hồn của người đã chết, linh hồn ấy vẫn tồn tại song hành cùng với những người đang sống, nhất là họ hàng con cháu, những người cùng huyết thống; và ba là, cách sống uống nước nhớ nguồn, biết n t tiên, cha mẹ, ông bà của người Việt

Trang 17

Với người Việt, thờ cúng t tiên không chỉ là văn h a, tín ngưỡng, mà

đã trở thành vấn đề mang tính đạo đức, một chuẩn mực làm người

Thực tế đã chứng minh, các tín ngưỡng, tôn giáo khác, c nguồn gốc từ nước ngoài, khi vào Việt Nam, muốn phát triển được cần phải dung hòa, hội nhập với tín ngưỡng bản địa Việt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng t tiên Sự phát triển mạnh m của Đạo Phật, hay sự kh khăn trong việc phát triển tín đồ của Islam ở Việt Nam n i chung, ở Hà Nội n i riêng, một phần quan trọng cũng chính từ nguyên nhân này

Thờ cúng t tiên c nghĩa rất quan trọng đối với người Việt Ở tất cả các quy mô xã hội, thờ cúng t tiên đều được đặc biệt coi trọng Nếu như ở quy mô gia đ nh dòng họ, ngày giỗ t họ, t chi, giỗ ông bà cha mẹ, thường là ngày quan trọng nhất hàng năm của mỗi gia đ nh, dòng họ Th ở quy mô thôn làng, ngày giỗ (kỵ) thần hoàng làng thường t chức lễ hội, cúng khấn linh

đ nh, trang nghiêm, và là ngày quan trọng nhất trong năm của thôn làng

Tư ng tự như vậy, ở quy mô cộng đồng nghề nghiệp, ngày giỗ t nghề cũng

là ngày quần tụ của những người trong nghề, rồi thực hiện nghi lễ thờ cúng t nghề, t chức vui ch i, lễ hội Còn ở quy mô quốc gia, ngày Giỗ T Hùng

Vư ng (được ấn định chính thức từ thế kỷ 15 bởi vua ê Thánh Tông) luôn được t chức hết sức trang trọng, theo quy định hiện nay, vào ngày Giỗ T , phải c một vị quan chức đầu tỉnh (tỉnh Phú Thọ, n i c Đền Hùng) hoặc quan chức Trung ư ng đứng ra làm chủ lễ, vào dịp này, Nhà nước còn quy định người dân được nghỉ làm việc

Trang 18

Tín ngưỡng thờ cúng t tiên đã và c l s mãi mãi giữ vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội Việt Nam, trong tâm thức dân tộc Việt Nam, trở thành một phần đạo đức và nhân cách sống của người Việt

1.3 C c ì t ức t ờ c tổ t của ƣờ V ệt

Ở Việt Nam, về c bản, yếu tố “t tiên” xuất hiện dưới bốn h nh thức, mức độ: T tiên của cả nước; thần hoàng làng của một thôn làng; t nghề của một cộng đồng nghề nghiệp; t tiên của gia đ nh, dòng họ Trên thực tế, nhiều

vị thần vừa là thần hoàng làng vừa là t nghề, thậm chí c vị còn là t họ Ví

dụ vị thần Hoàng làng Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) Theo truyền thuyết, cách đây khoảng h n 1100 năm, bà A ã Thị Nư ng ( ã Thị Nga) là vợ của Cao Biền, thái thú Giao Chỉ, từng sống ở trang Vạn Bảo Trong thời gian ở đây, bà đã dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa Sau khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng, đồng thời cũng được cộng đồng những người làm nghề dệt lụa ở Vạn Phúc suy tôn là T nghề [62]

1.3 T c Quốc t

T tiên của cả nước Việt Nam, tính đến thời điểm này, được Nhà nước xác định để t chức nghi lễ thờ cúng, là Hùng Vư ng Hùng Vư ng được suy tôn là Quốc t , được Nhà nước lập n i thờ phụng và t chức nghi lễ thờ cúng hàng năm Đền thờ chính của Hùng Vư ng (Đền Hùng) được dựng trên núi Nghĩa ĩnh, giữa đất Phong Châu, ngày nay là xã Hy Cư ng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Ngoài ra, trên đất nước ta còn c nhiều đền thờ Vua Hùng khác cũng được xây dựng (ví dụ Đền Hùng tại thành phố Hồ Chí inh, c địa chỉ tại số 2, đường Nguyễn Bỉnh hiêm, phường Bến Ngh , quận 1)

1 3 T c t ầ oà là

Gần như tất cả các thôn làng của Việt Nam đều thờ thần hoàng làng (còn gọi là thành hoàng) Thần hoàng làng c thể là nhân thần hoặc nhiên thần, nhưng điểm chung là được nhân dân trong thôn làng tôn thờ ột vị thần c thể được nhiều thôn làng thờ phụng, tôn vinh là thần hoàng làng Và một thôn làng

Trang 19

cũng c thể suy tôn và thờ phụng nhiều vị thần hoàng làng khác nhau Thần hoàng làng thường được thờ ở đ nh, miếu, nghè C vị được phong là thành hoàng của cả một vùng dân cư rộng lớn, ví dụ thần ong Đỗ (Bạch ã) được vua Thái T phong là Thành hoàng cho cả kinh thành Thăng ong

Trong cuốn “Việt Nam phong tục” của cụ Phan ế Bính, phần ghi về Thành hoàng c nội dung như sau:

ỗi làng phụng sự một vị thần hoàng, c làng thờ hai ba vị, c làng thờ năm, bảy vị tục gọi là phúc thần Phúc thần chia làm ba hạng:

Các bực ấy đều c sự tích công trạng hiển hách và họ tên r ràng, lịch triều c m từ bao phong làm thượng đẳng thần

Trung đẳng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, c họ tên mà không r công trạng, hoặc c quan tước mà không r họ tên, hoặc những thần

c chút linh dị, tới khi nhà vua sai kỳ t nh đảo v , cũng c ứng nghiệm th triều đ nh của liệt vào tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần

Hạ đẳng thần dân xã thờ phụng, mà không r sự tích ra làm sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, th triều đ nh cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần Ngoài ba bực thần ấy, còn nhiều n i thờ bậy thờ bạ, n i th

1

Chúng tôi giữ nguyên từ sử dụng trong sách

Trang 20

thờ thần bán lợn, n i th thờ thần trẻ con, và thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần

tà dâm, thần rắn, thần rết v v… Các hạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần v dân ngu xuẩn tin bậy mà thờ chớ không được vào tự điển không c phong tặng g [4, tr75-76]

1.3 3 T c T ề

Ở Việt Nam c nhiều vị được suy tôn là t nghề, được cộng đồng những người làm nghề thờ phụng, cúng lễ C t nghề được suy tôn từ rất lâu đời như trường hợp bà A ã Thị Nư ng được suy tôn là T nghề của làng dệt lụa Vạn Phúc, hay như ngài Quốc Sư (tức Nguyễn inh hông) được suy tôn là t nghề đúc đồng Việt Nam, được thờ ở nhiều làng nghề như Yên Xá, Tống Xá (Ý Yên, Nam Định); ò Đúc, Ngũ Xã (Hà Nội),… Nhưng cũng c t nghề mới được suy tôn trong thời gian gần đây, ví dụ ông Nguyễn S n Hà, sinh năm 1894 ở Hà Nội, được cộng đồng suy tôn là ông t của nghề s n dầu Những người làm nghề c thể lập bàn thờ t nghề tại gia, và vào ngày tuần tiết, s c2, vọng3

, giỗ tết, đều c cúng cấp Nhưng ph biến h n cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền, đ nh riêng để thờ t nghề của nghề mà phường, làng m nh đang làm Đặc biệt, nhiều vị t nghề còn được thờ làm thành hoàng làng4 Trong một năm, lễ cúng t nghề quan trọng nhất là nhằm vào ngày giỗ của vị t nghề Thờ phụng t nghề, người ta cầu mong sự phù hộ cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt, hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro Sau khi công việc c kết quả, người ta làm lễ tạ n

1.3 4 T c t t của a đì , dò ọ

Bên cạnh thờ cúng t tiên là Quốc t , thành hoàng, t nghề, th người dân Việt Nam còn thờ cúng t tiên của gia đ nh, dòng họ, chi họ Đây là h nh thức thờ cúng ph biến, nhưng cũng rất đa dạng, và còn c những vướng mắc

Trang 21

nhất định Đa dạng ở chỗ, người trưởng họ, trưởng chi cũng là người chủ gia

đ nh, v vậy, việc thờ cúng t họ, t chi được thực hiện song song với thờ cúng thân nhân của người trưởng họ Với những dòng họ, chi họ chưa c nhà thờ họ, thờ chi riêng, th việc thờ phụng trong gia đ nh ông trưởng họ, trưởng chi khá phức tạp, và đang c nhiều cách nhận thức, thực hành khác nhau, nhất

là cách sắp đặt bàn thờ C địa phư ng, c gia đ nh th thờ riêng gia đ nh, t

họ, t chi ở những bàn thờ khác nhau, nhưng cũng c địa phư ng, c gia đ nh lại thờ chung trên một bàn thờ Rồi khi thờ chung, c gia đ nh đặt bát hư ng riêng, nhưng cũng nhiều gia đ nh chỉ đặt một bát hư ng chung cho tất cả các

vị được thờ Còn với những dòng họ, chi họ đã c nhà thờ họ riêng, trong không ít trường hợp, lại nảy sinh vấn đề về quyền sử dụng đất xây dựng nhà thờ ặc dù pháp luật đã c quy định về đất đai dành cho việc xây dựng các công tr nh này, tuy nhiên trên thực tế, việc phân tách giữa đất nhà thờ họ, từ đường, với đất ở của hộ gia đ nh còn nhiều vướng mắc và không phải mọi trường hợp đều r ràng hoặc dễ dàng xử l

Thờ t họ, t chi thường do người trưởng họ, trưởng chi đảm nhiệm Trưởng họ, trưởng chi bắt buộc phải là nam giới Ngày giỗ của cụ t họ, t chi còn gọi là ngày giỗ t Ngày đ , con cháu tập trung tại n i thờ cụ t , thường là ở nhà thờ họ, nhà thờ chi, hoặc tại nhà ông trưởng họ, trưởng chi (với những họ, chi chưa làm nhà thờ t ) để cúng giỗ

Với những dòng họ, chi họ chưa xây dựng được nhà thờ t riêng, đang thờ cụ t tại nhà ông trưởng, th việc thờ cúng cụ t s gặp ít nhiều vướng mắc về mặt thủ tục khi ông trưởng họ không c con trai nối d i tông đường, phải chuyển nhiệm vụ trưởng họ, trưởng chi cho một gia đ nh khác Trong trường hợp này, nhiều họ, chi xử l bằng cách chuyển bát hư ng thờ cụ t hoặc xin rút chân nhang từ bát hư ng cụ t từ nhà ông trưởng họ cũ sang nhà ông trưởng họ mới để thờ Tuy nhiên, những trường hợp như trên thường gặp những phản ứng khác nhau trong họ, trong chi, nhiều trường hợp còn gây ra mâu thuẫn, xích mích

Trang 22

Về đối tượng thờ, c nhà thờ t chỉ thờ duy nhất cụ t , nhưng cũng c nhà thờ thờ cả các vong linh khác trong họ, trong chi C nhà thờ còn thờ cả Phật, và/hoặc Quốc t Hùng Vư ng, và/hoặc thần hoàng làng, và/hoặc các vị thánh thần khác Thời gian gần đây, một số nhà thờ họ, thờ chi còn thờ cả Hồ Chí inh, V Nguyên Giáp cũng như một số vị c công

Chúng tôi vừa tr nh bày khái quát về h nh thức thờ t của dòng họ, của chi họ tại nước ta Tiếp theo chúng tôi xin tr nh bày việc thờ cúng các vong linh khác tại các gia đ nh

* Đối tượng được thờ, cúng:

- Đối tượng được thờ:

Ở Việt Nam, mỗi n i, mỗi gia đ nh, lại c quan niệm về đối tượng t tiên được thờ khác nhau C gia đ nh thờ cả bên nội và bên ngoại, nhưng nhiều gia đ nh chỉ thờ bên nội C gia đ nh thờ cả bà cô, ông mãnh và/hoặc tất

cả các vong linh là thân nhân, nhưng cũng c gia đ nh chỉ thờ một số đối tượng là kỵ, cụ, ông bà, bố mẹ

C trường phái quan niệm con người phải c trách nhiệm thờ bốn đời trước m nh (kỵ, cụ, ông bà, bố mẹ), nhưng cũng c quan điểm không giới hạn, thờ cả những đời trước đ nữa

C gia đ nh không chỉ thờ t tiên của gia đ nh mà còn thờ cả cụ t của

họ, của chi, mặc dù gia đ nh ấy không phải là trưởng họ trưởng chi, thậm chí, một số ít gia đ nh thờ cả thần hoàng làng, rồi Quốc t Hùng Vư ng, một số vị thánh thần khác Cũng như ở nhà thờ họ, thờ chi, thời gian gần đây, nhiều gia

đ nh còn thờ cả Hồ Chí inh, V Nguyên Giáp

- Đối tượng được cúng:

Thường vị nào được thờ th vị ấy cũng được cúng Việc cúng hay diễn

ra vào ngày giỗ của từng người

Vào ngày giỗ của một ai đ , các gia đ nh cũng thường cúng luôn các

hư ng linh khác Cũng c gia đ nh cúng gộp tất cả t tiên vào một ngày nhất định trong năm

Trang 23

Ngày mùng ột, Rằm (ngày S c, Vọng) cũng như những ngày lễ tiết khác, các gia đ nh ở Việt Nam cũng thường cúng các hư ng linh mà m nh đang thờ phụng

Riêng ngày Rằm tháng Bảy, theo quan niệm dân gian, rất nhiều gia

đ nh còn cúng cho cả các vong hồn lang thang, không người thờ cúng

* N i thờ, n i cúng:

- N i thờ:

N i thờ t tiên, thân nhân đại đa số là ở gia đ nh (ở nhà) Gần đây một

số gia đ nh là tín đồ hoặc tin theo đạo Phật còn đặt n i thờ t tiên, thân nhân của m nh ở một ngôi chùa nào đ Cá biệt, một số gia đ nh c người thân qua đời do tai nạn giao thông, còn đặt thêm n i thờ ở n i người đ bị tai nạn

- N i cúng:

Thường n i thờ ở đâu th n i cúng ở đ Ngoài ra, trong những dịp nhất định, một số người còn cúng t tiên, thân nhân của m nh ở chùa, ở n i mất (v tai nạn giao thông như nêu ở trên), và ở n i nào đ c đàn lễ, hoặc quang cảnh linh thiêng

* Bàn thờ, đồ thờ:

- Bàn thờ:

Về vị trí, bàn thờ t tiên, thân nhân luôn được đặt trong nhà, thường ở vị trí trang trọng Phần lớn đặt ở tầng một, hoặc ở tầng cao nhất (nếu nhà nhiều tầng) Hướng bàn thờ được đặt theo một trong hai quan niệm: Chọn theo hướng

tu i gia chủ5, hoặc theo hướng c tầm nh n đẹp, hài hòa với khung cảnh

Về nguyên liệu, bàn thờ thường được làm bằng gỗ, cá biệt c một số gia đ nh làm bằng bê tông, gạch, cát, thậm chí làm bằng sắt, bằng tôn Nếu bằng gỗ, bàn thờ thường được làm bằng gỗ mít, mọi người thường kiêng bàn thờ làm bằng các loại gỗ như đinh, lim, nghiến Nhưng dù làm bằng vật liệu

5

Gia chủ tu i nào th chọn hướng tư ng ứng, căn cứ xác định hướng theo tu i không thống nhất, mà c rất nhiều trường phái khác nhau, thậm chí trái ngược nhau

Trang 24

g , th mọi người cũng cố gắng chọn các thứ sạch s , đặc biệt, kiêng làm bàn thờ từ ván quan tài đã qua sử dụng

Về h nh thức, bàn thờ t tiên c nhiều dạng khác nhau: Tủ thờ, án thờ, bệ thờ6, bàn thờ treo7 Bàn thờ thường được chạm khắc, trang trí đẹp đ , sử dụng các h nh tượng tứ linh8, tứ qu 9; nhưng cũng c bàn thờ làm theo kiểu phẳng phiu, vuông thành sắc cạnh Bàn thờ thường c mầu nâu, cánh dán, s n son thếp vàng; ít dùng mầu trắng, xanh; và dường như không thấy mầu đen

Về kích cỡ, bàn thờ thường c kích cỡ phù hợp với gian nhà, gian phòng, ngôi nhà ích thước cụ thể thực hiện theo hai quan niệm; theo kích

cỡ của một trường phái nào đ về số đo, thường là phải dùng số lẻ, và hiện nay ph biến loại thước ỗ ban10; hoặc theo kích thước bất kỳ

Về số lượng, tùy quan niệm, mà một gia đ nh c thể c một hoặc nhiều bàn thờ t tiên, thân nhân Nếu c nhiều, các bàn thờ c thể c kiểu dáng, chất liệu, kích cỡ, mầu sắc khác nhau hi gia đ nh c người mới mất, người ta thường làm bàn thờ tạm thời riêng cho người đ , đặt thấp h n bàn thờ đang

c , sau một thời gian (tùy theo quan niệm), mà người ta đưa vong linh người mới mất ấy lên thờ ở bàn thờ chung của t tiên, hoặc ở một bàn thờ riêng chính thức khác

- Đồ thờ (trong đ c cả bát hư ng):

Ở tất cả các bàn thờ đều c bát hư ng, số lượng s tùy theo quan niệm của các gia đ nh, các trường phái tâm linh Đại đa số bát hư ng c kiểu h nh trụ, số ít h n c kiểu h nh n n cụt, số rất ít c kiểu h nh ch p cụt với bốn, sáu hoặc tám mặt bên Bát hư ng thường c chất liệu là sứ, đồng, hoặc đá ích

cỡ bát hư ng rất đa dạng, người ta thường chọn bát hư ng c kích thước phù hợp với bàn thờ Trong bát hư ng c cát hoặc tro r m để cắm hư ng

Trang 25

Trên các bàn thờ c thể còn c các đồ thờ sau: hung ảnh, ngai thờ, đỉnh đồng, con hạc, lọ hoa, lọ lộc b nh, ch n rượu, ch n nước, mâm bồng, đèn thờ, chân nến, ch e nước, nậm rượu, ống cắm hư ng, câu đối, hoành phi Đồ thờ thường c chất liệu bằng sứ, đồng, đá, gỗ, hoặc thủy tinh Với các mầu sắc như đen, nâu, trắng, đ , vàng, s n son thếp vàng Đồ thờ phải đặt ngay ngắn, và thường để đối xứng Bàn thờ thường luôn sạch s Họa tiết trên các

đồ thờ thường c hoa văn, tứ linh, tứ qu

* Đồ cúng, lời cúng:

- Đồ cúng:

Đồ cúng thường c một số chủng loại là: Hư ng; hoa, quả; thức ăn đã nấu chín (các m n ăn); thực phẩm sống (thịt sống, trứng sống, gạo sống, muối); đồ uống (rượu, bia, các loại nước); tiền “âm phủ”, đồ mã; tiền thật Các gia đ nh ở các vùng miền, địa phư ng khác nhau, và/hoặc theo các tôn giáo, tín ngưỡng, trường phái tâm linh khác nhau, và/hoặc c điều kiện kinh tế khác nhau, và/hoặc c mục đích cúng khác nhau, th cách lựa chọn chủng loại, số lượng, sắp đặt đồ cúng cũng khác nhau

Dù là đồ cúng loại g th cũng c tiêu chí là phải giữ g n, bảo quản, chế biến sạch s ột số gia đ nh cẩn thận h n, còn c quan niệm nguồn gốc đồ cúng và/hoặc tiền sử dụng để mua đồ cúng cũng phải “sạch s ”, tức là tiền c

từ nguồn gốc chính đáng, không sử dụng tiền bất chính (từ trộm, cướp,…) để mua đồ cúng

Đa phần đồ ăn, thức uống sau khi cúng t tiên xong thường được mang

ra để con cháu ăn, gọi là thụ lộc Tiền “âm phủ”, vàng mã đem đốt Gạo sống, muối rắc ở sân, đường, vườn

- ời cúng (khấn):

Trong các lễ cúng t tiên tại gia đ nh, lời cúng thường áp dụng như sau:

ột là về ngôn ngữ, c khấn bằng tiếng Việt (hoặc ngôn ngữ của dân tộc) và khấn bằng tiếng Hán Việt, cá biệt, c một số người làm nghề thầy cúng đã

Trang 26

khấn bằng thứ tiếng rất lạ, không phải là bất cứ ngôn ngữ nào đang được sử dụng, họ n i rằng đ là tiếng “thiên”11 Hai là về nội dung, c cách khấn theo suy nghĩ thực tế của người khấn, nghĩ sao khấn thế, muốn thế nào khấn như thế, thường gọi là khấn “nôm”12; và khấn bài bản theo nội dung của khoa cúng13 đã được định trước bởi các trường phái tâm linh và/hoặc người thầy cúng nào đ Thực tế hiện nay, nếu không phải là thầy cúng, th phần lớn mọi người thường khấn bằng tiếng Việt và chủ yếu khấn “nôm” Các bài khấn, cho dù khấn “nôm” hay theo khoa cúng, th cũng thường c mấy nội dungnhư sau: ột là nêu tên và địa chỉ của người cúng; hai là thỉnh mời những vong linh được cúng thông qua việc nêu tên và ngày mất (nhiều người còn nêu cả địa điểm n i c phần mộ), sau khi nêu tên cụ thể của những vong linh được cúng, thường người cúng s c câu mời chung tất cả các vong linh khác trong gia tộc; ba là nêu ngày cúng; bốn là nêu l do cúng; năm là kể tên các đồ cúng; sáu là những mong muốn vong linh phù hộ C một số người khi cúng gia tiên th đồng thời cũng luôn thỉnh mời thần linh và các vong linh khác14

đ như một thủ tục bắt buộc, đặc biệt là trước khi bắt đầu một năm mới Thậm chí c một số gia đ nh, một năm còn nhấc bát hư ng ra lau rửa đến mấy lần mỗi khi bát hư ng dính nhiều kh i bụi Rồi c quan niệm khá ph biến là đồ

Trang 27

thờ khi đã sử dụng th không được dùng vào bất cứ việc g khác, nhưng cũng nhiều gia đ nh, khi đồ thờ không dùng nữa, kể cả bát hư ng, vẫn tận dụng như một đồ vật thông thường C người quan niệm không cho, không nhận, nhưng cũng c người vẫn cho, vẫn nhận bát hư ng đồ thờ, còn cho đ là sự may mắn Rồi quan niệm bát hư ng, đồ thờ khi đang sử dụng th không thay đ i, nhưng cũng c người sẵn sàng đ i mới bát hư ng, đồ thờ khi thấy bát hư ng,

đồ thờ khác phù hợp h n

hi thay mới đồ thờ, với đồ thờ cũ, c người quan niệm phải đem ra sông hồ thả cho mát mẻ, nhưng cũng c người đem để vào n i tập kết đồ thải

để không ảnh hưởng tới môi trường

C gia đ nh không cho người ngoài, hoặc phụ nữ, thậm chí là bất cứ ai khác ngoài người đàn ông chủ gia đ nh được chạm vào đồ thờ, nhưng nhiều gia

đ nh khác th lại không hạn chế như vậy

C gia đ nh chỉ thắp hư ng lên bàn thờ vào ngày lễ, Tết, Rằm, mùng ột, nhưng nhiều gia đ nh lại thắp hư ng hàng ngày, thậm chí một ngày vài lần

hi lập mới bát hư ng, bàn thờ, nhiều gia đ nh quan niệm phải thắp

hư ng liên tục trong một khoảng thời gian nào đ (thường là 49, 50, hay 100 ngày), nhưng nhiều gia đ nh không quan niệm như thế

C quan niệm cần thờ những đối tượng khác nhau ở các bàn thờ, hoặc bát hư ng khác nhau, chẳng hạn như bà cô ông, mãnh phải lập bàn thờ riêng, không được thờ chung với các cụ, nhưng cũng c nhiều gia đ nh thờ chung tất

cả gia tiên trên một bàn thờ, c khi chỉ dùng một bát hư ng

C gia đ nh quy định, chỉ người c trách nhiệm thờ cúng mới được đặt,

hạ đồ lễ, thắp hư ng, nhưng nhiều gia đ nh khác không quy định như vậy

C gia đ nh đồ lễ trên bàn thờ, khi đã hạ xuống, th phải hạ toàn bộ, nhưng nhiều gia đ nh khác th c thể hạ từng phần

Nghi thức thờ người thân mới chết cũng rất khác nhau hi vừa mất, nhiều gia đ nh không lập bàn thờ riêng, nhiều gia đ nh lập và để một thời gian

Trang 28

(thường là 49 ngày) Sau 49 ngày cũng vậy, c gia đ nh rước ảnh người mới mất lên bàn thờ gia tiên, nhưng c gia đ nh lại thờ riêng ở một bàn thờ khác (không phải bàn thờ dùng trong 49 ngày đầu), sau khi hết tang (thường quy định là ba năm) mới đưa lên bàn thờ chung

- Nghi thức cúng:

Ở Việt Nam ta, nghi thức cúng t tiên cũng khá phong phú, và được thực hiện trong nhiều sự kiện Cúng khi c việc liên quan đến vòng đời: hi sinh (mới sinh, đầy tháng, đầy năm15), khi xây dựng gia đ nh, khi lên lão16

, khi khao thọ, khi chết (cúng lúc mới chết vào các bữa ăn, ba ngày, một tuần,

49 ngày, 100 ngày) Cúng vào ngày giỗ, lễ, Tết, ngày Rằm, mùng ột, và cúng khi c các sự kiện lớn khác của gia đ nh

Về quy tr nh cúng, trừ cúng khi mới chết, còn các lễ cúng khác khá giống nhau về thứ tự, đ là: Bước 1: Đặt đồ cúng lên bàn thờ; Bước 2: Thắp

hư ng; Bước 3: Vái (thường 3 hoặc 5 vái); Bước 4: hấn; Bước 5: Vái (thường 3 hoặc 5 vái);Bước 6: Chờ một khoảng thời gian ( để các vong linh hưởng lễ); Bước 7: Vái tạ; Bước 8: H a vàng (nếu c ); Bước 9: Hạ lễ

Về dụng cụ, khi cúng, c người dùng cả chuông và/hoặc m và/hoặc thanh la17, c người th không hi đã dùng chuông, m th , thanh la c người vừa khấn vừa g m và/hoặc rung chuông/thanh la (liên tục hoặc cách quãng), nhưng c người chỉ g m , rung chuông/thanh la trước lúc vái, khấn

Ngoài ra, một số ít trường hợp thầy cúng còn dùng các động tác c tính chất như ph p thuật khi cúng

Trang 29

phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi gia đ nh, các con thứ cũng c thể thay con trưởng thực hiện việc thờ t tiên miễn là được sự thống nhất của gia đ nh

H n nữa, tất cả các con cháu đều c quyền thể hiện t nh cảm, tấm lòng hiếu nghĩa với người thân đã khuất thông quan việc thờ phụng, nên trên thực tế, nhiều gia đ nh mặc dù là thứ hoặc là nữ cũng vẫn lập bàn thờ để thờ t tiên, cha mẹ

1 4 T ờ c tổ t tro ột số tô o ở V ệt Na

1.4.1 Ý ĩa t c t t t eo qua đ ể P ật o

Theo báo Giác Ngộ, c quan ngôn luận của Giáo hội Việt giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí inh, th việc thờ cúng t tiên theo quan điểm Phật giáo được hiểu như sau:

Kinh sách Phật giáo Bắc tông n i chung đều xác định người chết sau khoảng thời gian tối đa 49 ngày th theo nghiệp mà tái sinh vào cõi tư ng ứng trong lục đạo (Phật giáo Nam tông - Theravāda Buddhism quan niệm người chết theo nghiệp lập tức tái sinh vào cõi tư ng ứng trong lục đạo,

Trang 30

không trải qua thân trung ấm) Dĩ nhiên, tái sinh vào c i nào th theo nghiệp của c i ấy sống hết thọ mạng, khi chết lại tùy nghiệp tái sinh vào cõi khác nữa, gọi là luân hồi trong sáu nẻo

Thờ cúng ông bà t tiên là phong tục tốt đẹp của các nước Á Đông, trong đ c Việt Nam hi đạo Phật được du nhập vào th c sự giao thoa, tiếp biến c chọn lọc với các tín ngưỡng bản địa, và phong tục thờ cúng ông

bà t tiên vẫn được trân trọng, duy trì trong đời sống tâm linh của người Phật

tử Việt từ xưa cho đến tận ngày nay Bấy giờ, người Phật tử vẫn thờ cúng ông

bà t tiên nhưng với cái nh n mới, đa văn h a, vừa phù hợp với truyền thống dân tộc và vừa thuận hợp với quan điểm Phật giáo

Trước hết, người Phật tử không xem bàn thờ gia tiên là “n i ở” của ông

bà, t tiên, những người thân đã khuất n i chung (v biết r chư vị đã theo nghiệp tái sinh trong lục đạo rồi) Bàn thờ gia tiên được lập ra để tưởng niệm, ghi nhớ ân đức sinh dưỡng của t tiên, ông bà Bàn thờ gia tiên biểu trưng cho cội nguồn huyết thống (song hành với cội nguồn tâm linh - bàn thờ Phật), cây

c cội, nước c nguồn, con người có t tông ính thờ t tiên để bày t lòng hiếu thảo, thể hiện tâm nhớ n và hoài nguyện đền đáp n sâu nghĩa nặng, chính điều này đã un đúc và hình thành nên truyền thống hiếu nghĩa quý báu của người Phật tử

Cúng kiếng cũng vậy, người Phật tử cũng biết r , nếu ông bà t tiên tái sinh ngoài c i ngạ quỷ - quỷ thần (không tư ng ưng xứ) th không thể ăn uống hay thọ dụng những lễ phẩm dâng cúng ấy Đ n cử, chư thiên không ăn được v

họ thấy d bẩn, không xứng với họ Các loài trong địa ngục dù đ i khát đến mấy cũng không thể thoát ngục để tới uống ăn Chỉ riêng loài ngạ quỷ - quỷ thần là c thể ăn đồ cúng của loài người Nếu người thân của chúng ta chết rồi tái sinh là ngạ quỷ th cúng kiếng cho họ s thọ dụng được Nhưng hầu hết chúng ta lại không thể biết người thân của m nh chết rồi tái sinh về đâu Thành ra lễ phẩm dâng cúng ông bà t tiên chủ yếu nhằm thể hiện lòng thành,

Trang 31

là b n phận của con cháu, còn thọ dụng được hay không th tùy nhân duyên của các vị

Như vậy thờ cúng là để bày t tâm hiếu thảo, biết n và đền n công đức sinh dưỡng sâu nặng của cha mẹ, ông bà, t tiên Truyền thống của t tông, gia tộc là một sợi chỉ đ kết nối quá khứ với hiện tại Chúng ta tự hào về

t tiên nên nguyện sống tốt, xứng đáng là con cháu hiền thảo Nếu mất gốc rễ, không thờ cúng, quên dấu vết cội nguồn huyết thống là một sự vong bản, phi đạo đức Đ là lợi ích đầu tiên của việc thờ cúng gia tiên

ế đến, v tưởng nhớ niệm ân ông bà t tiên nên con hiền cháu thảo phát đại nguyện làm tất cả công đức thiện lành trong khả năng để hồi hướng phước báu cho họ Phật giáo khuyến khích làm phước đểhồi hướng cho người thân đã khuất, dầu họ tái sinh vào đâu cũng nhận được phước đức do con cháu hiếu thảo hồi hướng đến Cho nên người Phật tử không quá chú trọng đến mâm cao cỗ đầy rồi thù tạc linh đ nh trong những ngày tưởng niệm, giỗ chạp

mà chủ yếu là tạo phước để hồi hướng, trao truyền hiếu đạo cho người sau

Thành ra, người Phật tử không hề xem việc thờ cúng t tiên ông bà là

“thờ quỷ” như một số người vong n, bội nghĩa, bất hiếu, tà kiến quan niệm Thờ cúng t tiên để liên kết với quá khứ mà phát huy các giá trị sống tốt đẹp cho hiện tại Thờ cúng ông bà cha mẹ để thực tiễn h a niệm tri ân và báo đáp thâm ân dinh dưỡng Thờ cúng đồng thời cũng là cách giáo dục lòng hiếu thảo cho con cháu về sau Giáo l đạo Phật đề cao tinh thần hiếu đạo, kính thờ

và phụng dưỡng cha mẹ mang lại phước báo lớn… đã hòa quyện với tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt để trở thành nếp sống đạo đức, hiếu

thảo của người Phật tử [64]

1.4.2 T c t t của Cô o V t Na

Người Công giáo Việt Nam cũng c các hoạt động liên quan đến thờ cúng t tiên, tác giả ê Đức Hạnh c bài “Thờ cúng t tiên của người Công giáo Việt Nam”, đăng trên Tạp chí hoa học xã hội Việt Nam, số 1, năm

Trang 32

2016, đã tr nh bày những nghiên cứu và hiểu biết của m nh về vấn đề này với một số nội dung chính như sau:

C thể n i, c sở của việc thờ cúng t tiên ở người Công giáo xuất phát ngay trong giáo l của họ Niềm tin tôn giáo của họ được đặt trọn vẹn vào đấng tối cao là Thiên Chúa Thiên Chúa là trung tâm điểm nên mọi vấn đề, mọi

sự l giải, mọi ngôn từ diễn tả đều nhằm tôn vinh h nh ảnh của Chúa Trời Việc thờ cúng t tiên, báo hiếu t tiên là những điều thuộc về con người, giáo l đã

đề ra như là những điều luật, buộc mọi người phải thực hiện Trong “thập giới” ( ười điều răn của Thiên Chúa) th sau ba điều răn dạy con người thờ phụng Thiên Chúa, điều răn thứ tư buộc giáo dân phải “thảo kính cha mẹ” Điều này đứng sau việc tôn thờ Thiên Chúa Đây là điều rất quan trọng buộc mỗi giáo dân Công giáo phải c trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện Con cái luôn quan tâm, chăm s c cha mẹ khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa Người Công giáo tin rằng sự hiện hữu của con người là hồng

ân mà Thiên Chúa ban tặng Và con cái luôn phải biết n công dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, không ngoại trừ một l do nào, bởi đ không chỉ là b n phận

mà còn là việc làm đạo đức mà con cái dành tặng cha mẹ, cũng là việc làm đẹp dâng lên Thiên Chúa inh Thánh công nhận niềm hạnh phúc của một gia đ nh

là cha mẹ biết thư ng yêu con cái và con cái biết vâng lời, hiếu thảo với cha

mẹ Đây chính là c sở để người giáo dân Công giáo thực hành việc thờ cúng

t tiên Theo đ , thờ cúng t tiên trước hết là đạo làm người, là lòng thành kính, biết n của thế hệ sau với thế hệ trước Do đ , dù một thời gian dài bị lãng quên với tín ngưỡng thờ cúng t tiên của người Việt Nam bản địa do cách nh n hạn chế từ phía Giáo hội, nhưng việc thờ kính t tiên vẫn tồn tại trong tâm khảm đời sống tâm linh của người Công giáo Việt Nam Đây là một vấn đề mang tính lịch sử trong quá tr nh truyền giáo mở rộng “nước Chúa” của Toà thánh Vatican, Việt Nam không là ngoại lệ

C thể khẳng định rằng thờ cúng t tiên trong cộng đồng người Công giáo Việt Nam c c sở nền tảng trong chính giáo l của họ Vấn đề báo hiếu

Trang 33

t tiên là điều mọi người phải quan tâm, giáo l Công giáo đã đề ra những g

mà mọi tín đồ phải giữ, để chu toàn chữ hiếu đối với ông bà, cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời

Với người Công giáo, inh Thánh là c sở nền tảng cho giáo l và giáo luật của đạo Công giáo inh Thánh c nghĩa rất quan trọng đối với người Công giáo, trong đ họ t m thấy c sở niềm tin của họ, t m thấy lời chỉ dạy về cách sống, cách ứng xử với Thiên Chúa và với con người, trong đ bao gồm các quan hệ với cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, bạn hữu, và cả kẻ thù Chính lòng hiếu thảo được Thiên Chúa chúc phúc và ban cho con cháu được sống lâu Các tín đồ Công giáo luôn nhớ rằng, những người con không lo phụng dưỡng cha, và còn khinh thường mẹ th phạm tội rất nặng: “Như người lộng ngôn, kẻ b bê cha, kẻ khinh rẻ mẹ, là chọc giận Đấng tạo thành ra n ” Trong giáo l Công giáo, chữ hiếu rất quan trọng, buộc mỗi người phải tuân thủ v

đ là luật của Chúa Việc báo hiếu của con cái đối với cha mẹ là b n phận bắt buộc, cha mẹ không phải mang n con cái về những điều đ Đạo Công giáo rất đề cao công đức của cha mẹ trong việc sinh thành và giáo dưỡng con cái trưởng thành Đây là chiều kích sâu xa của Công giáo, cho thấy việc báo hiếu của con cái đối với cha mẹ là một b n phận, không được thoái thác b n phận

đ Đức Giêsu cũng đã lấy tiêu chí thảo kính cha mẹ là tiêu chí đầu tiên mà tín đồ phải thực hiện để được nên trọn lành inh Thánh công nhận niềm hạnh phúc trào tràn của một gia đ nh mà cha mẹ biết thư ng yêu con cái, và con cái biết kính trọng và thảo hiếu với cha mẹ

Người Công giáo tin rằng, con người c hồn và xác, cả hồn và xác đều

do Thiên Chúa tạo dựng nên, được thể hiện qua nghĩa của tr nh thuật Thiên Chúa tạo dựng nên Ađam và Êva trong inh Thánh Thủy t của loài người là Ađam và Êva

Từ c sở niềm tin như vậy, những người Công giáo c những h nh thức báo hiếu riêng với ông bà t tiên đã qua đời Trong Công giáo, thánh lễ là

Trang 34

công việc chuyển tải nhiều công phúc nhất Việc thờ cúng t tiên ở người Công giáo c những đặc trưng c bản của n như người chết được linh mục làm thánh lễ ở nhà thờ, được làm ph p mồ trong Vườn Thánh Trong ba ngày sau đ , họ hàng, làng x m s đến nhà hiếu để đọc kinh cầu nguyện cho người qua đời Trong nhiều ngày đầu, thân nhân đều ra viếng mộ mỗi ngày, có gia

đ nh thực hiện việc đ đến khi giỗ trăm ngày Các chu kỳ giỗ thông thường là mỗi năm một lần vào ngày mà người đ mất, người ta xin lễ, đọc kinh, thăm

mộ Vào những dịp giỗ trọng (như 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu ) tất cả con cháu xa gần đều phải về “ăn giỗ” để tưởng nhớ người đã qua đời và để thể hiện sự “hiếu”, sự “kính” của m nh với t tiên

ột đặc trưng nữa của việc tôn kính t tiên n i người Công giáo là: ngoài những ngày giỗ, niên lịch của Giáo hội còn dành một ngày riêng để cộng đoàn và con cháu cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, đ là ngày mồng 2 Tết Nguyên đán và ngày 2 tháng 11 Vào ngày đ , ở các xứ đạo ngoài thánh lễ do linh mục t chức tại nhà thờ, người giáo dân còn xin lễ cầu cho ông bà, cha

mẹ, các gia đ nh t chức đi thăm mộ, sửa sang mộ, dọn dẹp Vườn Thánh ột

số n i linh mục còn tiến hành dâng lễ ngay tại Vườn Thánh Trong những ngày này, người giáo dân nhắc nhở con cháu tham gia thánh lễ đầy đủ và làm việc lành với chỉ cầu nguyện cho ông bà cha mẹ và các linh hồn khác

Việc tang ma giỗ chạp trong cộng đồng Công giáo c nhiều yếu tố hội nhập với văn h a bản địa Người ta cũng đặt một bàn nh trưng hoa quả trước linh cữu người quá cố khi xác còn quàn tại nhà, c đặt lư hư ng để những người viếng xác thắp hư ng và xá người chết Trong nhà người Công giáo cũng c bàn thờ ông bà cha mẹ, và nhiều người vẫn thường thắp hư ng ở đ , nhiều gia đ nh c đặt hoa quả nhất là trong dịp giỗ, dịp tết, hay khi cây nhà c trái đầu mùa Nhưng, người Công giáo không tin người chết s hưởng dùng những hoa trái ấy, họ làm thế là để biểu lộ lòng thành kính, hiếu thảo của con cháu mà thôi Các dịp giỗ chính như giỗ bảy tuần, giỗ trăm ngày, giỗ giáp

Trang 35

năm, giỗ mãn tang, là những yếu tố được nhập từ văn h a bản địa Những mốc thời gian ấy vốn là truyền thống lâu đời của người Việt, người Công giáo

ở Việt Nam cũng vẫn giữ những truyền thống ấy Nh n chung, người giáo dân Công giáo rất quan tâm đến việc báo hiếu t tiên Điểm giống nhau giữa người Việt Công giáo với người Việt không theo Công giáo là họ đều thừa nhận sự tồn tại bất tử của linh hồn, nhưng điểm khác biệt giữa họ là quan niệm về h nh thức tồn tại của linh hồn và do đ dẫn đến sự khác biệt về h nh thức biểu lộ việc thờ cúng t tiên

hác biệt c bản là khác biệt trong quan niệm về hồn và sự tồn tại của hồn sau khi chết: trong quan niệm của người Công giáo, khi con người đã chết th họ được hưởng nhan Chúa hay đến n i luyện ngục chờ phán x t inh hồn ở n i luyện ngục s được con cháu cầu nguyện để sớm lên Thiên Đàng Còn người Việt không theo Công giáo quan niệm linh hồn sau khi rời kh i thể xác s về n i suối vàng để gặp t tiên ở đ N i đ , cũng giống như dư ng gian, t tiên cũng c những nhu cầu như ăn, mặc, ở hay các nhu cầu khác như khi còn sống T tiên ở đ khác người sống ở chỗ: t tiên không thể làm ra những thứ mà m nh sử dụng, mà phải nhờ con cháu gửi xuống Con cháu s gửi xuống những của cải vật chất cho ông bà qua những dịp giỗ, lễ tết, khi gia

đ nh c công việc g đ , hay khi con cháu cần cầu xin một điều g Những sản phẩm gửi cho t tiên bằng cách thông thường nhất là đốt vàng mã và cúng tế

Do vậy, cúng giỗ là một h nh thức báo hiếu t tiên, nếu không cúng giỗ chu toàn cho ông bà t tiên n i suối vàng s bị t tiên quở trách, thậm chí n i giận

mà c thể gây ra những điều không may cho con cháu còn đang sống ết quả điều tra xã hội học tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tiến hành các năm

1995, 1998, 2003, 2005, 2007 cho thấy c khoảng 1/5 số người được h i cho rằng một trong những nguyên nhân họ thờ cúng t tiên là bởi sợ t tiên trừng phạt ( ết quả điều tra c thể c sự khác nhau giữa các vùng, các năm) Với người Công giáo, điều duy nhất mà t tiên ông bà c thể làm là cầu Chúa

Trang 36

giáng phúc cho người thân và con cháu hay cho những người đã giúp đỡ họ đang còn sống Đây cũng là biểu hiện mối tư ng quan giữa người sống và người chết theo quan điểm của Công giáo Cho nên tín đồ Công giáo thường không sợ ông bà t tiên, họ chu toàn việc cúng giỗ theo những cách thức riêng của Công giáo chỉ nhằm mục đích duy nhất là mong cho t tiên sớm được lên Thiên Đàng V thế, những việc mà con cháu làm mang nghĩa báo hiếu, nhớ

về nguồn cội

Thờ cúng t tiên của người Công giáo và người không Công giáo c những khác biệt trong h nh thức thể hiện Với quan niệm t tiên chỉ hưởng dùng những công phúc, nên trong giỗ chạp người Công giáo thường chú trọng đến việc xin lễ, đọc kinh chung và làm những việc lành để hướng về ông bà t tiên; họ ít quan tâm đến việc sửa soạn đồ cúng, tuyệt đối không đốt vàng mã Trên bàn thờ t tiên của người Công giáo chỉ c cắm hư ng trước di ảnh tưởng nhớ ông bà, cha mẹ, một đĩa trái cây, một b nh hoa với mục đích tôn kính ông bà, cha mẹ, chứ không hàm mời ông bà, cha mẹ dùng Giỗ chạp trong Công giáo là dịp những người sống lập công phúc thay cho người chết

để họ mau đền hết tội lỗi của m nh, sớm được lên Thiên Đàng

Người Việt Nam không Công giáo do tin rằng t tiên còn hưởng dùng những của cúng nên coi trọng việc chuẩn bị giỗ và đồ lễ cúng hi mời ông

bà về với con cháu, nếu không c điều kiện kinh tế sửa soạn “mâm cao cỗ đầy” th ít ra họ cũng phải c bát c m, quả trứng, bộ quần áo bằng mã để hoá cho ông bà kh i đ i r t Nếu không làm được như vậy th con cháu s không

an lòng, thậm chí s mang tội bất kính, bất hiếu với t tiên và c thể bị t tiên giận dỗi hay trừng phạt

Về điểm tư ng đồng, trước tiên, giữa người Công giáo và người không Công giáo là quan niệm về sự chết Chết không phải là hết ặc dù cả hai

nh m xã hội - tôn giáo này c lối diễn tả khác nhau về sự tồn tại và n i cư ngụ của linh hồn sau khi chết, nhưng họ đều diễn tả một điểm: chết không

Trang 37

phải là hết V tin rằng chết không phải là hết nên cả người Công giáo và không Công giáo cùng chung một điểm nữa là luôn tin rằng t tiên s còn quan tâm đến con cháu, vẫn luôn bên cạnh con cháu trong cuộc sống hàng ngày với những vui buồn của con cháu Cho dù quan niệm như thế nào, th việc giỗ chạp trước hết là một cách thức để báo hiếu t tiên ỗi người đều c cha mẹ, đều phải mang n sinh thành của cha mẹ Hay n i cách khác, mỗi người đều được cấu thành từ những tế bào gia đ nh, lớn h n là dòng họ, t tiên V thế, xã hội hay những nh m xã hội đều c b n phận ghi n t tiên, đồng thời khuyến khích mỗi thành viên trong gia đ nh và dòng họ, trong cộng đồng phải báo hiếu t tiên Điều này rất được coi trọng trong xã hội Việt Nam

và trở thành bản sắc trong văn h a Việt Nam

ột điểm tư ng đồng nữa trong vấn đề thờ cúng t tiên giữa người Công giáo ở Việt Nam và các quốc gia khác như Trung Quốc, Philippine, Nhật Bản với người không Công giáo là thức t m về nguồn cội Trong việc báo hiếu, thờ cúng t tiên cả hai nh m xã hội - tôn giáo đều c nghĩa này Tầm quan trọng của nguồn cội là một trong những yếu tố không thể thiếu để

n định mọi mặt tâm l , t nh cảm, chí, l trí của một con người [23]

Trang 38

g c độ cộng đồng nghề nghiệp c thờ t nghề, ở g c độ dòng họ c thờ t họ, còn với gia đ nh là thờ ông bà, bố mẹ, người thân đã khuất

Đối với người Việt, thờ cúng t tiên không chỉ là hoạt động văn h a, tín ngưỡng, tâm linh, mà còn là vấn đề mang tính đạo đức

Tín ngưỡng thờ cúng t tiên c các yếu tố cần quan tâm là: Đối tượng được thờ, cúng; n i thờ, cúng; bàn thờ, đồ thờ; đồ cúng, lời cúng; nghi thức thờ, cúng; chủ thể thực hiện việc thờ, cúng

Thờ cúng t tiên ở trong cộng đồng tín đồ một số tôn giáo lớn ở Việt Nam như Phật giáo, Công giáo cũng được chú trọng Đối với Công giáo, việc thờ cúng t tiên ở người Công giáo xuất phát ngay trong giáo l của họ Thờ cúng t tiên, báo hiếu t tiên là những điều thuộc về con người, giáo l Công giáo đã đề ra như là những điều luật, buộc mọi người phải thực hiện Với đạo Phật, từ khi được du nhập vào Việt Nam đã c sự giao thoa, tiếp biến c chọn lọc với các tín ngưỡng bản địa, và phong tục thờ cúng ông bà t tiên vẫn được trân trọng, duy trì trong đời sống tâm linh của người Phật tử Việt từ xưa cho đến tận ngày nay

Chư ng 2 dưới đây chúng tôi s tr nh bày chi tiết những thông tin khảo cứu của m nh về việc bài trí bàn thờ t tiên trong các gia đ nh người Việt trên địa bàn Hà Nội hiện nay

Trang 39

Ba Đ nh với đặc trưng là trung tâm chính trị; quận Hoàn iếm là trung tâm giao thư ng, kinh doanh, buôn bán; còn quận ong Biên c đặc điểm là khu vực đang đô thị h a nhanh Về các gia đ nh khảo sát, chúng tôi lựa chọn khảo sát các gia đ nh thuần Việt, tức là gia đ nh c vợ chồng (chủ nhà) cùng là người Việt Nam Để đảm bảo tính đa dạng, chúng tôi lựa chọn tại mỗi quận các gia đ nh c thời hạn cư trú ở Hà Nội khác nhau (chủ nhà c gốc gác Hà Nội, chủ nhà đã ở Hà Nội vài đời, và chủ nhà mới đến Hà Nội sinh sống đời thứ nhất), cũng như đang sinh sống trong những căn nhà c tính đặc trưng (nhà vườn, nhà liền kề, chung cư)

2 1 T ực trạ c c t ức b tr b t ờ tổ t tro c c a ì

ƣờ V ệt ở u Ba Đì

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng

là kinh đô của hầu hết các vư ng triều phong kiến tại Việt Nam trước đây Do

đ , lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ư ng c diện tích lớn nhất cả nước

từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phư ng đứng thứ hai

về dân số với h n 8 triệu người (năm 2019), tuy nhiên, nếu tính những người

cư trú không đăng k th dân số thực tế của Hà Nội năm 2019 là gần 10 triệu người ật độ dân số của Hà Nội là 2 398 người/km², mật độ giao thông là

Trang 40

105,2 xe/km² mặt đường Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí inh là

hai đô thị loại đặc biệt

Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 14 quận, 1 thị xã và 16 huyện ngoại thành Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí inh là hai trung tâm kinh tế-xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam [62]

Hà Nội là thành phố c ba đặc trưng rất r ràng: Thứ nhất, đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn h a, của cả nước; thứ hai, là n i c hoạt động kinh doanh buôn bán sầm uất, lâu đời, là trung tâm giao thư ng của miền Bắc cũng như của cả nước; thứ ba, Hà Nội c tốc độ đô thị h a rất nhanh, làng x m đang trở thành phố phường mỗi ngày, một số lượng lớn người dân thành phố đang chuyển dần từ cuộc sống nông thôn sang cuộc sống thành thị Với từng

n t đặc trưng, song hành cùng n là nếp sống văn h a, phong tục, tập quán

tư ng ứng, trong đ c tín ngưỡng thờ cúng t tiên V vậy, để địa bàn nghiên cứu mang tính đại diện cho toàn Thành phố, chúng tôi lựa chọn ba quận c những n t đặc trưng tiêu biểu để thực hiện đề tài này Đ là các quận Ba

Đ nh, Hoàn iếm và ong Biên Ba Đ nh là quận trung tâm chính trị của Hà Nội Hoàn iếm là khu vực buôn bán kinh doanh sầm uất nhất thành phố ong Biên là quận ven đô, đang c tốc độ đô thị h a rất nhanh

Ngày đăng: 16/02/2020, 14:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w