An ninh và phòng thủ đ-ợc coi là cơ sở căn bản về cơ sở địa chính trị vị trí địa lý của các n-ớc Đông Nam á đã đem đến cho khu vực này một tầm quan trọng đáng kể trên ph-ơng diện an ninh
Trang 1tr-ờng đại học vinh khoa: lịch sử
-*** -
Đoàn công thuận
khóa luận tốt nghiệp đại học
chính sách đối ngoại của Australia với Đông Nam á từ giữa thập kỷ
Trang 22
quốc gia đều nổ lực tìm cho mình một chính sách đối ngoại phù hợp với lợi ích của
đất n-ớc trong lợi ích của cộng đồng khu vực và quốc tế
Trong bối cảnh chung đó, việc tìm hiểu nghiên cứu chính sách đối ngoại của các n-ớc lớn của tầm ảnh h-ởng sâu rộng đến nhiều khu vực, nhiều quốc gia trên thế giới càng trở thành nhu cầu cấp thiết Australia là một quốc gia có nền kinh tế phát triển và có tầm ảnh h-ởng lớn ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Australia bắt đầu quan tâm đến khu vực Đông Nam á, một khu vực có vị trí chiến l-ợc quan trọng trong vấn đề an ninh quốc phòng đối với Australia Từ giữa thập kỷ 70 trở đi, Australia xem Đông Nam á là một khu vực giàu tiềm năng, quan hệ đối ngoại giữa Australia và Đông Nam á b-ớc sang một thời kỳ mới trên cơ sở cân nhắc tới những mối quan tâm, những lợi ích chung của cả hai bên
Nhận thức đ-ợc tầm quan trọng của chính sách đối ngoại của Australia đối với khu vực Đông Nam á, trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học tập trung nghiên cứu vấn đề này Tuy nhiên hầu hết các công trình đó mới chỉ mang tính tổng quan, ch-a có những chuyên khảo thực sự sâu sắc về nó
Bản thân chúng tôi b-ớc đầu tiếp cận với vấn đề này nhằm mục đích:
Thứ nhất: Góp phần vào việc nhận thức đầy đủ về lịch sử của chính sách đối
ngoại của Australia với Đông Nam á từ giữa thập kỷ 70 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX Điều này sẽ góp phần làm sáng tỏ một vấn đề có liên quan khá mật thiết với Việt Nam
Thứ hai: Quan hệ đối ngoại giữa Australia và Đông Nam á đang đứng tr-ớc
những vận hội to lớn cho sự phát triển mạnh mẽ cả về "chất" lẫn "l-ợng" Vấn đề là các quan hệ ấy phải xuất phát từ đâu, theo cách thức nào để đạt đ-ợc hiệu quả cao nhất cho cả hai bên Đề tài hy vọng sẽ b-ớc đầu trình bày, kiến giải đ-ợc những vấn
đề này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chính sách đối ngoại của Australia với Đông Nam á là một trong những vấn
đề quan trọng trong việc tìm hiểu lịch sử quan hệ quốc tế ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng Từ giữa thập niên 70 của thế kỷ XX trở đi, vấn đề này đã thu hút đ-ợc
sự quan tâm của nhiều học giả Australia và một số n-ớc Đông Nam á Tiêu biểu
Trang 3nhất là năm 1980, Uỷ ban th-ờng trực về vấn đề đối ngoại và quốc phòng của Th-ợng viện Australia đã xuất bản tập tài liệu quan trọng nhan đề "Australia và ASEAN" trong đó các nhà nghiên cứu đã đ-a ra nhiều kiến nghị với chính phủ về mọi ph-ơng diện của mối quan hệ Australia - ASEAN nhằm phát triển mạnh mẽ mối quan hệ này vào lúc nó đang có nguy cơ bị tổn th-ơng và đình trệ vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
ở n-ớc ta ch-a có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của Australia với Đông Nam á đ-ợc dịch và xuất bản, ngoại trừ cuốn "Quan hệ quốc tế của Australia trong những năm 1990" của hai đồng tác giả: Gareth Evans và Bruce Grant do tập thể cán bộ - giảng viên khoa Đông Ph-ơng học - Tr-ờng Đại học KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh dịch Bên cạnh đó là một số công trình có tính chất tổng quan về Australia nh-: "Australia đất n-ớc và con ng-ời" của Phạm Hoàng Hải; hoặc một số công trình có liên quan đến chính sách đối ngoại của Australia nh-:
"Đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài ở một số n-ớc Đông Nam á" của Đỗ Đức Định (chủ biên); "Một số vấn đề kinh tế đối ngoại của các n-ớc đang phát triển ở châu á - Thái Bình D-ơng" của Lê Hồng Phúc Đặc biệt phải kể đến hai luận án tiến sĩ sử học của
Đỗ Thị Hạnh (Quan hệ Australia với Đông Nam á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
đến giữa thập niên 90) và Trịnh Thị Định (Quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn
1973 - 1995) Hai công trình này đã có những đóng góp đáng kể đầu tiên về việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của Australia đối với Đông Nam á
Mặc dù vậy, hầu hết các công trình nêu trên phần lớn là tài liệu dịch hoặc những công trình mang tính tổng quan, ch-a có những chuyên khảo thực sự sâu sắc
về vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu Mặt khác đối với sinh viên ngành Sử - Tr-ờng
Đại học Vinh vấn đề "Chính sách đối ngoại của Australia với Đông Nam á" là một vấn đề t-ơng đối mới, ch-a đ-ợc tìm hiểu đầy đủ Chúng tôi sẽ b-ớc đầu mạnh dạn tìm hiểu vấn đề này với mong muốn sẽ mở ra một h-ớng nghiên cứu mới cho sinh viên các khóa sau
3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối t-ợng nghiên cứu của đề tài là nội dung và quá trình thực thi chính sách
đối ngoại của Australia với Đông Nam á từ giữa thập kỷ 70 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Chính sách đối ngoại của Australia với Đông Nam á đ-ợc thực hiện trên nhiều mặt nh-ng khóa luận chỉ tập trung ở một số nội dung về chính trị, kinh tế, an
Trang 4á từ giữa thập kỷ 70 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX
5 Bố cục của đề tài
Giới hạn khóa luận là từ giữa thập kỷ 70 đến đầu những năm 90 của thế kỷ
XX, nh-ng để có sự nhìn nhận một cách nối tiếp, có hệ thống, do vậy khóa luận đã giành một ch-ơng để khái quát lại chính sách đối ngoại của Australia từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa thập kỷ 70 Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận bao gômg các ch-ơng sau:
Ch-ơng 1: Khái quát chính sách đối ngoại của Australia từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX
Ch-ơng 2: Nội dung chính sách đối ngoại của Australia với Đông Nam á
từ giữa thập kỷ 70 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX
Trang 6Thế kỷ XX đã diễn ra nhiều thay đổi hơn ng-ời ta t-ởng, thậm chí tr-ớc khi
thập niên cuối cùng của thế kỷ bắt đầu hai cuộc thế chiến Cuộc cách mạng theo t- t-ởng cộng sản chủ nghĩa trên quy mô toàn cầu, sự suy thoái kinh tế trầm trọng gây nên sự khủng hoảng của chủ nghĩa t- bản: chủ nghĩa phát xít và các chế độ diệt chủng Sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân và việc dùng nó làm hậu thuẫn cho sự đối
đầu t- t-ởng giữa hai khối cộng sản và t- bản đe doạ chấm dứt cả lịch sử toàn nhân loại, chủ nghĩa thực dân châu Âu suốt ba thế kỷ từng thống trị ở châu á và châu Phi
đã bị quét sạch Khu vực châu á - Thái Bình D-ơng nổi lên nh- một g-ơng mặt mới
đầy năng động của sự tăng tr-ởng kinh tế thế giới - những sự kiện chính đ-ợc điểm qua trên đây cho thấy rằng thế kỷ này là thời kỳ sôi động nhất trong lịch sử
Tr-ớc hết, không chỉ Australia và các n-ớc Đông Nam á, mà toàn thể các quốc gia nằm ở hai bờ Thái Bình D-ơng đều có lợi ích to lớn từ việc khai thác những nguồn tài nguyên phong phú trong lòng đại d-ơng mênh mông đây quả là một nguồn lợi thiên nhiên dồi dào Vì Thái Bình D-ơng là đại d-ơng lớn nhất của hành tinh Có diện tích 180 triệu km2 (kể cả các biển phụ) riêng Thái Bình D-ơng chiếm gần một nửa (1/2 tổng sản l-ợng cá toàn thế giới) bao gồm khoảng 2000 loài cá nhiệt đới và nhiều loại hải sản quý giá khác Công nghệ hải d-ơng với các thành tựu trong nuôi trồng thuỷ sản, dầu mỏ, khí đốt, khai thác năng l-ợng sóng và thuỷ triều,
đang mở ra nguồn lợi vô cùng phong phú cho các quốc gia châu á - Thái Bình D-ơng
Song nguồn lợi thiên nhiên mới chỉ là một phần (dù rất quan trọng) hợp thành tiềm năng kinh tế khổng lồ của vùng châu á - Thái Bình D-ơng là khu vực rộng lớn nhất và đông dân nhất thế giới (khoảng 2,6 tỷ ng-ời chiếm gần 1/2 dân số toàn thế giới)
Australia và các n-ớc Đông Nam á có những vị thế riêng của mình, để từ đó
họ có nhiều điều kiện hội nhập tích cực vào khu vực lớn đầy tiềm năng ngay cả
Trang 7trong các mối quan hệ của họ với nhau Diện tích tổng thể khu vực Đông Nam á (cả
đất liền và biển) có thể so sánh với Nam á hoặc Đông á còn dân số hơn 450 triệu mở
ra một thị tr-ờng có thể so sánh với châu Âu hoặc Bắc Mỹ, điều này cùng với việc
đây là khu vực rất giàu tài nguyên: Hải sản, dầu mỏ, khí đốt, lúa gạo, cao su, thiếc
dù không là một c-ờng quốc nh- Mỹ, Nhật song Australia có nhiều điều kiện và lý
do để h-ớng phát triển đến quan hệ kinh tế với khu vực Đông Nam á Australia là một quốc gia t- bản phát triển nh-ng luôn đối mặt khó khăn về sức lao động trong n-ớc, yếu tố đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ lịch sử hình thành và phát triển của đất n-ớc này Chính vì vậy mà khu vực Đông Nam á hấp dẫn các nhà đầu t- Australia ít nhất ở hai yếu tố quan trọng: nhân công và thị tr-ờng tiêu thụ, trong khi Australia có những lợi thế về vốn và kỹ thuật Có công nghệ cao trong các ngành thích hợp với đặc điểm thị tr-ờng Đông Nam á: thông tin, sinh học, nông nghiệp, y
tế, khai khoáng Trên thực tế tính đến đầu thập niên 90 các n-ớc trong hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN: Association of southeast Asean nations) chiếm vị trí thứ t- cả về thị tr-ờng xuất khẩu của Australia và với t- cách là nguồn nhập khẩu của n-ớc này
Ngày nay, xu h-ớng khu vực hóa và toàn cầu hóa trong kinh tế đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Và sự dịch chuyển trọng tâm kinh tế từ châu Âu sang châu á - Thái Bình D-ơng khiến cho không một quốc gia thành viên nào của thế giới
và khu vực không tính đến khi hoạch định chiến l-ợc phát triển nhằm đạt đ-ợc sự thịnh v-ợng trong bối cảnh nhiều thuận lợi nh-ng cũng đầy thách thức đó
Tóm lại, về kinh tế, do đặc điểm của Australia và các n-ớc Đông Nam á đều
là những thành viên của một khu vực giàu có, đầy sức sống trong điều kiện thế giới chúng ta càng trở nên nhất thể hóa hơn về kinh tế cho nên họ có thể và cần phải chia
sẻ với nhau trên cơ sở lợi ích và bình đẳng cho cả hai Song trên thực tế, những lợi ích chung này đ-ợc khai thác theo cách thức nào và chia sẽ đến mức độ nào, đem lại hiệu quả đến đâu cho cả hai bên còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố kinh tế và các yếu tố khác
1.1.2 Cơ sở địa- chính trị
Mục tiêu có tính căn bản nhất của chính sách đối ngoại Australia, việc xác
định đâu là lợi ích quốc gia đ-ợc coi là điểm khởi đầu cho việc hoạch định chính sách đối ngoại mang tính cụ thể
Lợi ích địa chính trị hoặc lợi ích chiến l-ợc chiếm địa vị cao hơn cả trong mục tiêu đạt đ-ợc lợi ích địa chính trị là việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và nền chính trị độc lập của Australia cả trên phạm vi khu vực lẫn quốc tế Đối với vấn đề chủ quyền quốc gia lợi ích này đ-ợc bảo đảm thông qua việc các quốc gia láng
Trang 88
giềng của Australia duy trì việc hòa bình ổn định và có thiện chí hay ít nhất là giữ trung lập với Australia Khu vực lợi ích an ninh của Australia trong phạm vi đối ngoại đ-ợc đề cập chính thức trong sách trắng về phòng thủ Năm 1987 của chính phủ Australia bao gồm: Sự kết hợp giữa "khu vực có lợi ích quân sự trực tiếp" (lãnh thổ Australia và các vùng biển lân cận, Indonesia, Papua, New Zealand và các vi đảo quốc vùng tây nam Thái Bình D-ơng), với khu vực đ-ợc gọi là có "lợi ích chiến l-ợc căn bản" (Đông ấn Độ D-ơng, phần còn lại của Đông Nam á và Tây nam Thái Bình D-ơng) [8; 26]
An ninh và phòng thủ đ-ợc coi là cơ sở căn bản về cơ sở địa chính trị vị trí
địa lý của các n-ớc Đông Nam á đã đem đến cho khu vực này một tầm quan trọng
đáng kể trên ph-ơng diện an ninh và quốc phòng ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng, vì một số nguyên nhân đó Đông Nam á đối với an ninh và quốc phòng của Australia là quan trọng đến mức mang tính sống còn Có đến 8 trong số 10 quốc gia
Đông Nam á (trừ Myanma và Lào) đa số nằm ở khu vực biển Đông nơi có vị trí địa
lý cực kỳ quan trọng ở Thái Bình D-ơng Với vô số eo biển, biển Đông án ngự con
đ-ờng từ Đông Bắc á đi xuống phía Nam để ra ấn Độ D-ơng, Địa Trung Hải và Australia, những eo biển nh- Malacka và Singapo có vai trò là những cửa ngõ của giao thông thế giới, trong đó cảng Singapo là một trong những hải cảng có sức chứa lớn nhất thế giới, do vậy mà đã có vai trò rất quan trọng về chiến l-ợc quân sự trong lịch sử và hiện tại
Không những thế, các tuyến đ-ờng giao thông trên biển có tính chất huyết mạch đa số đều nằm ở khu vực Đông Nam á Đây là những con đ-ờng mà hầu hết việc buôn bán của châu á - Thái Bình D-ơng đều phải đi qua, do việc chuyên chở hàng hóa chủ yếu đ-ợc thực hiện bằng tàu thuyền, vì thế mà các con đ-ờng này mang tính quan trọng đối với tất cả các n-ớc trong khu vực
Đối với Australia, các n-ớc Đông Nam á còn có một tầm quan trọng chiến l-ợc ở chỗ đó là nhóm các quốc gia láng giềng châu á gần nhất của nó và điều này
đã đ-a đến những yếu tố rất nhạy cảm về an ninh - quốc phòng của Australia Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã cho thấy Đông Nam á là khu vực mà từ đó, hoặc qua đó đối ph-ơng có thể tấn công đ-ợc vào lãnh thổ th-a thớt dân c- phía Bắc của Australia nh- Nhật Bản đã làm vào nửa đầu năm 1942
Những điều kiện đặc thù về địa lý cho thấy, cả trên lý thuyết lẫn thực tế,
Đông Nam á chiếm một vị trí chiến l-ợc quan trọng đối với an ninh và quốc phòng của các n-ớc trong khu vực rộng lớn châu á - Thái Bình D-ơng nói chung, đặc biệt
là Australia nói riêng gìn giữ an ninh cho khu vực, thiết lập một định chế trên cơ sở
đa ph-ơng để duy trì sự ổn định, bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải và hình thành các hệ thống kiểm soát để tất cả các thành viên đều đ-ợc bình đẳng trong việc chia
Trang 9sẻ lợi ích từ khu vực, rõ ràng đã trở thành vấn đề có tính mục đích và tính định h-ớng cao Tuy nhiên lợi ích về an ninh khu vực đ-ợc các thành viên nhận thức rất khác nhau và tìm cách đạt đ-ợc bằng các ph-ơng thức cũng rất khác nhau Chắc chắn những tham vọng bá chủ hoặc biến một quốc gia nào đó thành trung tâm châu
á - Thái Bình D-ơng không thể coi là sự thể hiện một quan điểm chia sẻ bình đẳng lợi ích mọi mặt những nhân tố nh-: môi tr-ờng quốc tế và khu vực, t-ơng quan giữa các siêu c-ờng, động thái về an ninh chính trị của các n-ớc Đông Nam á và những quốc gia liên quan đến nó bất kể về mục đích kinh tế hay chính trị hoặc quân sự đều
đóng vai trò rất lớn trong việc định hình hoặc thực thi quan niệm về an ninh - quốc phòng của các bên "Quả thật trên nền tảng phức tạp này do sự biến động thăng trầm của lịch sử, vấn đề nhận thức về lợi ích an ninh và quốc phòng ch-a bao giờ đạt đến
sự hợp tác của tất cả các thành viên khu vực" [14, 8]
Nh- chúng ta đã biết những đặc thù về lợi ích an ninh chung giữa Australia
và các n-ớc Đông Nam á đều nổi bật nhất là Australia chia sẽ về vị trí địa lý với các n-ớc Đông Nam á một cách trực tiếp, gần gủi hơn so với một số n-ớc khác với khu vực này, nh- Mỹ, Canada hay Nhật Bản Thực tế cho thấy Thái Bình D-ơng rộng mênh mông các đảo và bán đảo của nó chủ yếu tập trung ở bờ phía tây thuộc châu á
và Australia, trong khi đó Mỹ lại cách xa về toạ độ ở bờ bên kia "Khoảng cách từ Philippin sang kênh Panama rộng 17.000km, từ Tokyo xuống Sydney cũng trải dài
đến 8000km" [7, 19] Đặc điểm này khiến cho tính chất tác động và phụ thuộc lẫn nhau về an ninh và quốc phòng giữa Australia và cả New Zealand và các n-ớc khu vực Đông Nam á trở thành một nhân tố khá quan trọng chi phối mối quan hệ của hai bên Các chính sách phòng thủ an ninh của Australia qua nhiều giai đoạn lịch sử đều
đ-ợc xuất phát từ cơ sở nhận thức rằng, những đe doạ đối với sự ổn định và an ninh của Australia nhận thức này khiến cho ng-ời Australia đôi khi có thái độ quá "nhạy cảm", đối với tình hình chính trị Đông Nam á mà điều này không phải n-ớc nào cũng mang lại điều tốt cho Australia Có thể xem sự dính líu của Australia vào chiến tranh Việt Nam nh- là một ví dụ cho thấy điều đó
Các quốc gia Đông Nam á giành lại độc lập từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai sau nhiều thế kỷ bị thực dân ph-ơng Tây và Bắc Mỹ thống trị, hơn bao giờ hết cần một môi tr-ờng an ninh thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, ổn định các biên giới, củng cố nền độc lập non trẻ mới giành đ-ợc Từ góc độ này phải thừa nhận rằng ở một mức độ nào đó Đông Nam á có đ-ợc sự đồng cảm từ phía Australia, một quốc gia theo mô hình ph-ơng Tây lại ở kề châu á, nh-ng hầu nh- không có quá khứ thống trị các dân tộc Đông Nam á, phải chăng chính Australia cũng là một quốc gia trẻ và từ khi thành lập Liên bang (1901) đến nay, vẫn không v-ơn đến một nền
độc lập, thực sự từ thực tế lịch sử của mình và bằng con đ-ờng riêng của mình trong
Trang 1010
thực tế chính Australia cũng đã bất đồng với các n-ớc đồng minh Anh, Mỹ trong quan điểm tiến hành cuộc chiến tranh châu á - Thái Bình D-ơng khi mà Australia và các lực l-ợng kháng chiến của các dân tộc Đông Nam á, dồn toàn bộ ý chí và sức lực cho một cuộc chiến tranh không khoan nh-ợng với phát xít Nhật thì Anh và Mỹ
đã cố tình kéo dài để chờ đợi một cuộc chiến quyết định cuối cùng diễn ra giữa Nhật Bản và Liên Xô
Có thể nói, từ những đặc điểm chung và đặc thù nh- thế mà quan hệ giữa Australia với các quốc gia độc lập Đông Nam á đ-ợc bắt đầu tr-ớc tiên và về cơ sở
địa chính trị (an ninh - quốc phòng) và vấn đề này đã góp phần chi phối các quan hệ kinh tế, địa lý lẫn an ninh đều cho thấy giữa Australia và các n-ớc Đông Nam á có cơ sở mang tính lợi ích chung, không loại trừ lẫn nhau mà có thể và cần thiết phải chia sẻ với nhau, song đó mới chỉ là một vài trong rất nhiều yếu tố đóng vai trò chi phối toàn thể các mối quan hệ trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại giữa Australia và Đông Nam á
1.2 : Nội dung chính sách đối ngoại của Australia với Đông Nam á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nữa đầu thập niên 70 của thế kỷ XX
2.1.1 Chính sách đối ngoại của Australia với một số n-ớc Đông Nam á
Nếu Chiến tranh thế giới lần thứ hai là dấu mốc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các n-ớc Đông Nam á thì nó đồng thời cũng là một biến cố cực kỳ quan trọng đối với n-ớc Australia những sự kiện diễn ra trong năm
1941, 1942 với sự thất bại dễ dàng và liên tiếp của lực l-ợng Anh - Mỹ tr-ớc quân Nhật đã làm cho cả n-ớc Australia bừng tỉnh và bàng hoàng nhận thức ra tình trạng quá nguy hiểm của mình Khi họ đã trao gần nh- toàn bộ việc phòng thủ đất n-ớc vào tay "mẫu quốc" Anh không đợi đến khi chiến tranh kết thúc mà ngay trong những ng-ời tháng đen tối của năm 1942, Australia đã yêu cầu và sự tiếp nhận của
Mỹ để bảo toàn lãnh thổ tr-ớc âm m-u và các hoạt động xâm l-ợc của phát xít Nhật, những nền tảng cho một giai đoạn mới trong lịch sử đ-ờng lối đối ngoại của Australia mà tr-ớc đây vốn gần nh- nằm trong tay toàn bộ n-ớc Anh
Những điểm mang tính cụ thể hơn trong chính sách đối ngoại của Australia ở châu á - Thái Bình D-ơng là gì? Đó là việc ủng hộ liên minh với Mỹ trong chính sách "ngăn chặn" không cho chủ nghĩa cộng sản Trung Hoa lan tràn xuống khu vực
Đông Nam á, khu vực này do có vị trí của nó tiếp giáp với Trung Quốc và Việt Nam
đ-ợc Australia nhìn nhận là "khu vực đệm" giữa Trung Quốc và Australia
Các quan hệ của Australia với tất cả các quốc gia Đông Nam á sau năm 1945 hầu nh- đều mang tính khởi đầu, vốn không kể đến những hoạt động phối hợp giữa họa trong thời kỳ chống kẻ thù chung là phát xít Nhật Song vào lúc đó các n-ớc
Trang 11Đông Nam á đều còn là những thuộc địa của thực dân ph-ơng Tây (trừ Thái Lan),
do đó mà không phải mối quan hệ nào giữa Australia với các n-ớc này cũng đ-ợc thiết lập ngay sau chiến tranh, và cũng không phải có ngay khi các quốc gia này tuyên bố độc lập, mặc dù vậy những quan hệ song ph-ơng lẫn đa ph-ơng và vô số những vấn đề liên quan đến Australia với các n-ớc Đông Nam á đã hình thành Quan hệ ngoại giao cấp chính phủ đã lần l-ợt đ-ợc Australia thiết lập với hầu hết các n-ớc này trong thời kỳ từ sau năm 1945 đến nửa đầu thập niên 70
ở phần này khóa luận chỉ đề cập đến chính sách đối ngoại của Australia đối với một số n-ớc lớn trong khu vực Đông Nam á mà đ-ợc Australia chú ý quan tâm
* Các chính sách song ph-ơng
Không thể phủ nhận thực tế là vấn đề an ninh và phòng thủ, chính trị đã nổi bật lên là mối quan tâm hàng đầu của Australia lẫn các quốc gia Đông Nam á trong suốt thời kỳ này, nh- là hệ quả tất yếu của t- duy chiến tranh lạnh Điều đó đ-ợc thể hiện trong cả những quan hệ song ph-ơng lẫn đa ph-ơng cả trong đ-ờng lối đối ngoại lẫn những hoạt động đối ngoại thực tiễn, những quan hệ kinh tế một mặt bị chi phối bởi sự lo âu và ám ảnh về an ninh và những rối ren trong tình hình chính trị các n-ớc Đông Nam á Do vậy mà Australia đã thi hành một đ-ờng lối chính sách
đối ngoại của mình đối với các n-ớc Đông Nam á, để nhằm thoát ra khỏi sự lo âu và
ám ảnh về một khu vực mà Australia rất đáng l-u tâm trong sự phát triển của mình
* Chính sách đối ngoại của Australia với Indonesia
Indonesia chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Australia không chỉ ở khu vực Đông Nam á mà cả trên tr-ờng quốc tế nói chung Cựu quan chức cao cấp Bộ Ngoại giao Australia A Lan Renouf, trong cuốn sách viết về chính sách đối ngoại của Australia nhan đề: "Đất n-ớc hoảng sợ trong phần
về Indonesia” cho rºng ngoài Mỹ ra thì không có một quốc gia nào mà Australia
đáng phải thực hiện nhiều nổ lực ngoại giao nh- với Indonesia và trong t-ơng lai cũng chẳng có quốc gia nào mà Australia sẽ phải tạo ra những cố gắng nh- với Indonesia " [7, 18]
Bởi Indonesia hội tụ rất nhiều đặc điểm khiến cho nó chiếm một vị trí đặc biệt hơn cả so với các n-ớc Đông Nam á còn lại trong quan hệ với Australia, đây là n-ớc Đông Nam á gần gủi với Australia nhất về vị trí địa lý Còn nếu xét tổng thể, thì Indonesia là n-ớc láng giềng chỉ đứng sau Papua, New Guinea, về độ gần khoảng cách với Australia Thế nh-ng sẽ không có hai n-ớc láng giềng nào, ở bất cứ đâu trên thế giới lại khác biệt nhau một cách toàn diện nh- Australia và Indonesia, những khác biệt giữa họ rất căn bản và toàn diện, từ chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, phong tục tập quán, lịch sử cho đến những vấn đề về thể chế chính trị, hệ
Trang 12- Từ 1945 đến 1949: đây là giai đoạn mà Indonesia đã giành đ-ợc độc lập vào tháng 8/1945 Sự nghiệp chính nghĩa này của nhân dân d-ới sự lãnh đạo của Tổng thống Sucarno đã nhận đ-ợc sự ủng hộ đồng tình của các dân tộc Đông Nam á và các lực l-ợng tiến bộ và dân chủ khác trên thế giới Và đặc biệt là sự trợ giúp của chính phủ công đảng Australia đối với nhân dân Indonesia Chính sách tiến bộ từ khi phe Công đảng lên cầm quyền, công đảng Australia đã chống chủ nghĩa thực dân chủ nghĩa đế quốc của mình, với sự ủng hộ nhiệt tình của cánh tả trong đảng đã ủng
hộ mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh chống thực dân Hà Lan của nhân dân Indonesia
Hơn nữa xuất phát từ vị trí địa lý của chính phủ, vai trò quan trọng của Indonesia với t- cách là nơi mà các thế lực xâm l-ợc sẽ qua đó để tràn vào Australia,
do đó mà thiết lập quan hệ tốt đẹp hữu nghị với "ng-ời láng giềng" này là điều hết sức cần thiết đối với Australia
Suốt thời kỳ này, Australia đã lên án mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân Hà Lan tại Liên Hợp Quốc và kêu gọi quốc tế thừa nhận nền độc lập của Indonesia Năm 1950, Australia đỡ đầu cho việc Indonesia gia nhận Liên Hiệp Quốc với t- cách là thành viên độc lập
Với những khởi đầu tốt đẹp đó, ngay sau khi Hà Lan buộc phải thừa nhận nền
độc lập của nhân dân Indonesia Vào tháng 12/1949, quan hệ đối ngoại giữa Australia - Indonesia đã đ-ợc thiết lập, song sự chuyển biến của tình hình quốc tế và khu vực có những tác động của nó đối với chính sách đối ngoại của mỗi bên đã khiến cho mối quan hệ này đẩy vào một thời kỳ hết sức căng thẳng và không mấy tốt đẹp
- Từ 1950 - 1965
Nền độc lập non trẻ của Indonesia đã đ-ợc nuôi d-ỡng trong môi tr-ờng
có rất nhiều điểm bất lợi cả ở bên trong lẫn bên ngoài, cả khách quan lẫn chủ quan Trong khi đó ở Australia năm 1950 trở đi việc liên minh Tự do - nông thôn lên nắm quyền nhằm đáp ứng những áp lực gia tăng của các lực l-ợng chống cộng trong và ngoài n-ớc đã tạo nên cơ sở không mấy thuận lợi cho quan hệ đối ngoại giữa Australia và Indonesia Điều đó đ-ợc thể hiện thông qua chính sách
đối ngoại của Australia đối với Indonesia thời kỳ này thể hiện rõ tính chất hai
Trang 13mặt tr-ớc hết: với sức ép của bầu không chiến tranh lạnh, Australia đã có những phản ứng chống lại những động thái ngoại giao của chính phủ Sucarno bị ph-ơng Tây và Australia cho là chịu nhiều ảnh h-ởng của chủ nghĩa cộng sản Việc chính phủ này đem đến cho Indonesia vai trò là một trong những sáng lập viên của Phong trào không liên kết, những quan hệ thân thiết của chính phủ Sucarno với Liên Xô và Trung Quốc xuất phát từ những tính toán về an ninh và quốc phòng của Australia liên quan đến vị trí địa lý gần gũi với Australia đối với n-ớc này vì t- t-ởng không đủ sức để bảo vệ mình khi có sự tấn công từ bên ngoài vào, vì mối lo ngại ấy nó ám ảnh tâm trí ng-ời Australia về cái mà họ gọi là "chủ nghĩa bành tr-ớng" [9, 12] của Indonesia trong toàn bộ tính toán cân nhắc này của Australia đã
đ-ợc thể hiện rõ rệt, đặc tr-ng có hai sự kiện sau đây:
+ Vụ Tây Irian
Tây Irian, cũng nh- Đông Timo sau này, đều trở thành điểm nút bùng nổ sự căng thẳng trong quan hệ giữa Australia với Indonesia, xuất phát từ cơ sở địa - chiến l-ợc của khu vực này với Australia Australia vê vấn đề này lúc đầu ủng hộ Hà Lan cho rằng nếu Tây Irian thuộc quyền sở hữu của Hà Lan sẽ tốt hơn để cho nó rơi vào tay của chính phủ Sucarno Tuy nhiên lập tr-ờng c-ơng quyết và chính nghĩa từ phía Indonesia đối với vấn đề này khiến cho Australia phải xem xét lại chính sách đối ngoại của mình, và từ năm 1959 trong tình thế bất lợi Australia đã tuyên bố chính sách "từ bỏ" sự ủng hộ cho Hà Lan và đến năm 1962 Tây Irian đ-ợc Quốc tế công nhận là tỉnh thứ 26 của Indonesia
Mặc dù vậy, trong suốt thời gian xảy ra vụ việc này quan hệ ngoại giao giữa hai n-ớc vẫn đ-ợc duy trì Song không thể phủ nhận đi những tác hại của nó, khi Indonesia không ngần ngại tỏ ra thái độ ác cảm đối với Australia Tuy nhiên Tây Irian không phải là vụ việc ảnh h-ởng xấu nhất xét về mọi ph-ơng diện đối với quan
hệ hai n-ớc trong thời kỳ này
Thời kỳ đối đầu
Đây là giai đoạn lịch sử từ năm 1963 - 1966 mà trong đó Indonesia đã "đối
đầu" quyết liệt với việc thành lập Liên bang Malaysia, không chỉ tuyên bố bằng lời
mà còn sử dụng đến cả biện pháp vũ trang Điều đó đ-ợc thể hiện thông qua tuyên
bố trong khuôn khổ của các điêu khoản trong khối Liên hiệp Anh sẽ gửi lực l-ợng quân sự tới Malaysia để giúp n-ớc này trong tr-ờng hợp nó bị xâm l-ợc và can thiệp
Trang 1414
Về quan hệ ngoại giao giữa hai n-ớc lên đến mức căng thẳng Và đến tháng 10/1964 lực l-ợng Australia và Indonesia đã đụng độ ở Malarka, đây cũng chính là cuộc xung đột vũ trang đầu tiên của Australia đối với một quốc gia Đông Nam á độc lập
- Giai đoạn 1965 - 1975
Những yếu tố đóng vai trò nền tảng cho quan hệ hai n-ớc trong giai đoạn này
có thể tóm tắt nh- sau: chính phủ của tổng thống mới Su Hăctô đại diện cho quyền lợi của giới t- sản quan liêu, mại bản giàu có lên cầm quyền thiết lập quan hệ chặt chẽ với ph-ơng Tây, tham gia thành lập tổ chức ASEAN
Về phía Australia, tác động và ảnh h-ởng của học thuyết Nicxơn về mặt nào
đó đã mở ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc thúc đẩy mối quan hệ trở nên tốt
đẹp giữa hai n-ớc, mãi cho đến khi mối quan hệ này trở nên căng thẳng khi bùng nổ vấn đề Đông Timo tháng 12/1975
Suốt thời kỳ 1966 - 1975, hàng loạt những cuộc tiếp xúc ngoại giao ở mức chính phủ dù khi chính phủ đã đ-ợc thúc đẩy bao gồm các cuộc viếng thăm qua lại của lãnh đạo cấp cao hai n-ớc đã đ-ợc diễn ra
Vào năm 1972, hai n-ớc đã ký kết một hiệp -ớc th-ơng mại tay đôi thay thế cho hiệp -ớc đầu tiên năm 1959
Về viện trợ, mặc dù quan hệ đối ngoại giữa Australia với Indonesia có những lúc thăng trầm suốt thời kỳ từ 1945 đến năm 1975 Tuy vậy ch-ơng trình viện trợ của Australia giành cho Indonesia đ-ợc thúc đẩy mạnh mẽ từ khi tổng thống Su Hăctô lên cầm quyền tăng từ 12,7 triệu đô la năm 1967, 1968 lên đến 149,4 triệu đô
la trong giai đoạn 1974, 1975
* Chính sách đối ngoại của Australia với Malaysia
Australia và Malaysia là hai quốc gia đ-ợc thiết lập quan hệ vào năm 1957, sau khi Malaysia tuyên bố độc lập và ngay lập tức mối quan hệ giữa hai n-ớc trở nên mật thiết
Về phía Australia đây chính là thời điểm diễn ra sự chuyển biến về t-ơng quan quyền lực trong n-ớc, d-ới áp lực mạnh mẽ của những thay đổi mạnh mẽ trên tr-ờng quốc tế và chính sự chuyển biến trong chính tr-ờng Australia là một nguyên nhân quan trọng đ-a đến sự dính líu của Australia vào Malaysia
Trong đ-ờng lối đối ngoại của Australia có thể nói trong tình hình quốc tế, khu vực và trong n-ớc nh- thế việc Công đảng thất bại trong cuộc bầu cử vào năm 1949 tr-ớc liên minh Tự do - nông thôn là một chuỗi mang tính sự kiện trong và ngoài n-ớc Ngay sau khi lên nắm quyền, Thủ t-ớng Australia lúc bấy
Trang 15giờ là Robert Men Zies đã thẳng thắn tuyên bố rằng: "Các sự kiện đang diễn ra ở Malaysia nơi đ-ợc coi là có tính chất chiến l-ợc then chốt trong khu vực" [8, 122] Tiếp đó chính phủ Australia viện cớ đáp ứng những cam kết và thoả thuận với Anh trên cơ sở những lợi ích an ninh của chính phủ Australia đã quyết định gửi một đội máy bay vận tải DoKata đến Malaysia để giúp thực hiện Anh đàn áp các lực l-ợng du kích cộng sản ở đây B-ớc ngoặt có tính căn bản của quá trình Australia dính líu vào Malaysia diễn ra vào tháng 4/1955 sau chuyến đến Mỹ và Anh, Thủ t-ớng Robert Men Zies đã phát biểu trong một bài diễn văn nêu bật lên nguy cơ ảnh h-ởng của cộng sản Trung Quốc đối với Đông Nam á Điều này
đồng nghĩa với nguy cơ đối với an ninh cửa ngõ phía Bắc của Australia, Ro bert Men Zies cho rằng Australia không thể nào tự bảo vệ mình mà cần có sự hợp tác với các đồng minh có thế lực đ-a ra những quan điểm này, Ro bert Men Zies đã dần dần dựng lên cơ sở cho cái gọi là chính sách "phòng thủ tiền tiêu"[3, 82] Mà theo đó Ro bert Men Zies cho rằng một cuộc chiến tranh vì sự sống còn của Australia nên đ-ợc diễn ra "càng xa bờ biển của chúng ta bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu" [3, 90] Nh- là hệ quả của chính sách "phòng thủ tiền tiêu" Từ việc nhận
định này ngay lập tức Australia đã đ-a các đơn vị hải, lục, không quân đến Malaysia
để triển khai các chiến dịch đàn áp phong trào đấu tranh du kích Malaysia từ tháng 6/1955 bên cạnh những đơn vị quân đội Anh
Có thể nói rằng an ninh và phòng thủ là lĩnh vực đ-ợc -u tiên hơn hết trong các hợp tác Australia - Malaysia suốt thời kỳ này Năm 1957 một hiệp -ớc quân sự
đ-ợc ký kết giữa Anh và Malaysia, trong đó Anh đã chính thức xác lập sự bảo hộ
đối với vấn đề an ninh và phòng thủ của Malaysia Sau đó Australia và New Zealand
đã tham gia vào khuôn khổ của hiệp -ớc này vào năm 1959 Australia đã duy trì một căn cứ không quân trên lãnh thổ của Malaysia trong vòng 30 năm (1958 - 1988)
Vẫn trên lĩnh vực an ninh và phòng thủ, trên bối cảnh khu vực có một số thay
đổi mà Australia cùng với Anh, New Zealand và hai n-ớc Đông Nam á là Malaysia
và Singapo đã cùng thống nhất ký hiệp -ớc phòng thủ 5 quốc gia (FPDA) vào năm
1971 nh- là sự thay thế cho hiệp -ớc SEATO, trong lúc này đã mất dần đi sự hoạt
động của tổ chức FPDA đ-ợc duy trì cho đến tận ngày nay, phản ánh sự khăng khít trong hợp tác an ninh và quốc phòng, giữa các thành viên của hiệp -ớc nói chung và giữa Australia và Malaysia nói riêng
Song song với sự hợp tác an ninh và phòng thủ, chính sách đối ngoại mà Australia và Malaysia trong lĩnh vực kinh tế cũng nh- chính sách kinh tế Australia -
Đông Nam á (trừ 3 n-ớc Đông D-ơng), thời kỳ này liên tục có chiến tranh Song bên cạnh đó những nổ lực mà hai bên đã đạt đ-ợc trong chính sách đối ngoại từ phía Australia đó là: Hiệp -ớc th-ơng mại đầu tiên giữa Australia và Malaysia đ-ợc ký
Trang 1616
kết vào năm 1958 Ngoài ra còn có các Hiệp -ớc khác liên quan đến lĩnh vực kinh
tế Chẳng hạn vào năm 1964 hai n-ớc đã cùng ký kết về dịch vụ hàng không, hay một hiệp định trao đổi văn hóa ký kết vào tháng 10/1975, Australia xuất khẩu sang Malaysia các mặt hàng nh-: bột mỳ, các sản phẩm bơ sữa và ng-ợc lại nhập khẩu về Australia nh- gỗ, cao su, thiếc Tuy nhiên mãi đến năm 1975 giá trị buôn bán hai chiều vẫn còn ở mức thấp, và chênh lệch cán cân buôn bán nghiêng về phía Australia đ-ợc biểu hiện rất rõ
Một lĩnh vực khác của chính sách đối ngoại đó là viện trợ Australia là một trong những quốc gia đầu tiên thực hiện các ch-ơng trình viện trợ độc lập cũng nh- tham dự vào các tổ chức viện trợ quốc tế để hỗ trợ cho các n-ớc nghèo, chậm phát triển từ ngay sau năm 1945
Nh- vậy về lĩnh vực kinh tế so với an ninh và phòng thủ thì trong giai đoạn này Australia ch-a quan tâm đến và chú trọng đến lĩnh vực kinh tế bởi vì giai đoạn này do yếu tố an ninh và quốc phòng chi phối do vậy nó đã dẫn đến việc Malaysia không thể hoạch định ra đ-ợc sự hợp tác trong lĩnh vực kinh tế với Australia và lĩnh vực kinh tế này sẽ đ-ợc Australia và Malaysia quan tâm đến những giai đoạn tiếp theo
* Chính sách đối ngoại của Australia với Philippin
Nếu nh- quan hệ của Australia với hai quốc gia Malaysia và Singapo trong giai đoạn này cho thấy khá rõ vai trò của Anh trong việc lôi kéo sự ủng hộ của Australia để duy trì ảnh h-ởng và quyền lợi ở các lãnh thổ thuộc địa cũ của nó thì quan hệ đối ngoại giữa Australia với Philippin lại đặc biệt chịu ảnh h-ởng của việc triển khai chiến l-ợc toàn cầu của Mỹ ở khu vực Đông Nam á, mối liên quan ấy ta
có thể hình dung một cách khá rõ ràng Sau chiến tranh Philippin đã rơi vào một tình trạng phụ thuộc Mỹ nặng nề hơn so với tất cả các n-ớc Đông Nam á Tại Philippin các hiệp định Mỹ - Philippin ký vào năm 1947 và 1951 đã cho phép Mỹ đặt các căn
cứ quân sự tại lãnh thổ n-ớc này, trong đó hải quân Su bic và căn cứ không quân C lark là hai căn cứ quân sự lớn nhất đặt ngoài lãnh thổ của Mỹ Sự hội tụ những điểm t-ơng đồng giữa Australia và Philippin trong quan hệ với Mỹ đã đ-a hai n-ớc này vào trong các tổ chức và hoạt động của Mỹ ở khu vực Đông Nam á, hai n-ớc này
đều là thành viên của SEATO đều tham gia trong chiến tranh Việt Nam với t- cách
là lực l-ợng đồng minh của Mỹ
Mặc dù có những điểm khác nhau song trong quan hệ của Australia với Philippin từ sau năm 1945 đến nửa đầu thập niên 70 thành hai thời kỳ sau:
Từ năm 1946 đến 1969:
Trang 17Nếu không kể đến những hoạt động của hai bên trong các kế hoạch của Mỹ thì quan hệ Australia - Philippin trong khuôn khổ song ph-ơng đ-ợc đánh giá ở mức
độ thấp từ năm 1950 trở đi, Mỹ hối hả thiết lập các mạng l-ới hiệp -ớc an ninh và quốc phòng đa ph-ơng lẫn song ph-ơng ở châu á - Thái Bình D-ơng và lần l-ợt đến các n-ớc ký hiệp -ớc thành những mắt xích trong chuổi dây chuyền phòng thủ chiến l-ợc phục vụ cho lợi ích của t- bản Mỹ Cả Australia lẫn Philippin đều là những
"mắt xích" [4, 20] Nh- thế đều trong vai "lực l-ợng Liên Hợp Quốc" Mà thực chất
là lực l-ợng đồng minh của Mỹ tham gia chống lại n-ớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên trong cuộc chiến tranh 1950 - 1953 và Australia - Philippin tham gia vào SEATO Nh-ng ngoài các hoạt động này thì quan hệ song ph-ơng Australia và Philippin hết sức mờ nhạt không đ-ợc thúc đẩy cho sự bất đồng va chạm giữa hai phía trong những vấn đề Phía Philippin luôn chỉ trích quan điểm và hành động của Australia là mang nặng tính phân biệt chủng tộc và thiên về quan điểm thực dân chính sách "n-ớc Australia trắng" [8,14] Suốt một thời gian dài từ năm 1946 - 1950
đã phủ bóng đen lên quan hệ Australia - Philippin và hậu quả là mãi đến tận năm
1957 Australia mới bổ nhiệm đại sứ đầu tiên tại Manila
1.2.2 Chính sách đối ngoại của Australia với các tổ chức trong khu vực
Australia có quan hệ, tham dự với t- cách thành viên và đôi khi còn là sáng lập viên của một số tổ chức hoạt động ở khu vực Đông Nam á Sự hình thành của hầu hết các tổ chức liên quan đến khu vực ở giai đoạn này không thoát ra khỏi sự chi phối có tính chất quyết định của bối cảnh lịch sử hình thành trên cơ sở cơ cấu quyền lực của các siêu c-ờng quốc tế và khu vực cả mục tiêu, bản chất, cơ cấu và ph-ơng thức hoạt động
* Chính sách đối ngoại của Australia đối với Tổ chức Hiệp -ớc Đông Nam á (SEATO-The South East Asian Treaty Organization)
Do thất bại của Pháp trong trận Điện Biên Phủ đã đánh dấu một b-ớc ngoặt mới trong tình hình chính trị, an ninh của Đông Nam á Nếu đây là một chiến thắng vang dội của nhân dân Việt Nam, và là niềm tự hào của toàn thể các dân tộc thuộc
địa và phụ thuộc ở khắp á, Phi, Mỹlatinh, thì mặt khác đối với các thế lực thực dân,
đế quốc có lợi ích ở khu vực này Điện Biên Phủ đã làm chín muồi thêm nỗi bất an của họ về một Đông Nam á có nguy cơ chịu ảnh h-ởng mạnh mẽ của chủ nghĩa cộng sản Australia chia sẻ với các n-ớc lớn nh- Mỹ, Anh, Pháp về nỗi lo lắng này, xuất phát từ vị trí "láng giềng" với Đông Nam á vì thế, m-u đồ của các n-ớc lớn về việc phải có một n-ớc lớn về việc phải có một hiệp -ớc an ninh phòng thủ tập thể tại khu vực này với sự tham dự của các n-ớc Đông Nam á đã nhanh chóng tìm đ-ợc sự ủng hộ của Australia Hiệp -ớc ra đời vào tháng 9/1954 tại Manila (thủ đô Philippin) Do vậy mà còn có tên "Hiệp -ớc Manila" Với sự tham gia của Anh,
Trang 1818
Pháp, Mỹ, Australia, New Zeland, Pakistan, và hai thành viên Đông Nam á có quan
hệ chặt chẽ với Mỹ là Philippin và Thái Lan
Nếu nh- hiệp -ớc ANZUS đóng vai trò "hòn đá tảng" cho chính sách đối ngoại của Australia nói chung thì SEATO lại đặt cơ sở hợp pháp cho chính sách
"phòng thủ tiền tiêu" của nó mà chính việc quan điểm của chính sách này, Australia
đã quyết định tham chiến ở Việt Nam Australia cũng chẳng úp mở về việc tìm kiếm
sự bảo trợ của Mỹ trong khuôn khổ của hiệp -ớc này ở phạm vi địa lý Đông Nam á, qua lời tuyên bố của Ngoại tr-ởng Australia L.H.Bury vào năm 1971 rằng "SEATO
có giá trị đối với chúng ta vì Mỹ đã cam kết giúp đỡ không chỉ đối với Australia, New Zealand mà còn cả với Philippin, Thái Lan và Nam Việt Nam nữa" [9, 28] Mặc dù văn bản chính thức của Hiệp -ớc SEATO không dùng khái niệm "cộng sản" song một bản tuyên bố riêng Mỹ khẳng định, sự cam kết của họ đối với Hiệp -ớc này quy định bị cộng sản tấn công Tuyên bố này của Mỹ cùng với vai trò là "ng-ời bảo hộ" an ninh của nó đối với tất cả các thành viên còn lại vào thời điểm Hiệp -ớc này ra đời đã nói lên thực chất chống cộng của SEATO liên tiếp trong các cuộc họp của các tổ chức này các năm 1956, 1958, 1960, 1961đều đ-ợc các thành viên thảo luận về ch-ơng trình tăng c-ờng lực l-ợng vũ trang trong từng quốc gia thành viên
và sự phối hợp hoạt động quân sự giữa họ với nhau
Tại cuộc họp lần thứ 17 của tổ chức này diễn ra ở Can berra năm 1972 các thành viên của nó ra thông báo khẳng định sự kêu gọi, ủng hộ viện trợ hơn nữa cho chính quyền ở Việt Nam để giúp cho chính quyền này "đẩy lùi các cuộc tấn công của lực l-ợng Bắc Việt Nam"[14, 20] Cùng với Tổ chức hiệp -ớc Bắc Đại Tây D-ơng (NATO) ở châu Âu, tổ chức hiệp -ớc trung tâm (CENTO) ở Trung Đông, SEATO ở Đông Nam á và ANZUS ở Tây Thái Bình D-ơng, Mỹ và đồng minh đã thiết lập đ-ợc một mạng l-ới an ninh phòng thủ liên hoàn, bao vây chặt chẽ Liên Xô
và các n-ớc xã hội chủ nghĩa, kìm giữ phá hoại phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế Riêng tại khu vực châu á - Thái Bình D-ơng với sự tiếp tay của các đồng minh trong đó có vai trò của Australia, Mỹ đã xây dựng đ-ợc hệ thống phòng thủ theo 3 chiến tuyến dựa vào các hiệp -ớc song ph-ơng và đa ph-ơng ký kết giữa Mỹ và các n-ớc trong khu vực, tuyến thứ nhất lấy Nhật Bản làm trung tâm gồm có quần đảo Alaska, Philippin, Đài Loan kéo dài đến Digoarcia thuộc ấn Độ D-ơng, tuyến thứ hai lấy Guam lấy trung tâm gồm một số quần đảo nh- Caroline, Marshall và cả Australia và Singapo, tuyến thứ ba chủ yếu gồm quần đảo Hawait vừa làm hậu ph-ơng của tuyến thứ nhất và tuyến thứ hai, vừa
là tiền tiêu của n-ớc Mỹ
Mặc dù có những điểm khác nhau, song động cơ cũng nh- mục tiêu của Australia khi tham dự vào hiệp -ớc an ninh SEATO là một chiến l-ợc trong đ-ờng
Trang 19lối chính sách đối ngoại của mình Điều này đ-ợc Jo bn Carw ford, giáo s- của Đại học quốc gia Australia tóm tắt nh- sau: "về chính trị, chúng ta đ-ợc xếp vào các quốc gia chống cộng và mối đe dọa từ việc Trung cộng bành tr-ớng là điều chúng ta không định phát lờ đi, chúng ta thực sự tán thành những biện pháp đề ra nhằm thúc
đẩy cùng tồn tại hòa bình một cách hiệu quả, nh-ng đồng thời, chúng ta không xem chủ nghĩa biệt lập hoặc trung lập là biện pháp tốt nhất để bảo đảm nền an ninh của Australia, t- cách thành viên của chúng ta trong hiệp -ớc SEATO phản ánh quan
điểm này và cũng nói lên việc chúng ta không đủ khả năng để bảo đảm cho nền an ninh của mình nếu không có sự giúp đỡ của các n-ớc khác" [9, 14]
Tuy nhiên liên minh SEATO có nhiều yếu tố bấp bênh hơn so với các tổ chức quân sự khác và đã mất dần đi giá trị từ khi Mỹ tuyên bố học thuyết Nicxơn, và cũng từ đây chính sách đối ngoại của Australia với SEATO cũng thay đổi theo quan
điểm nhìn nhận lập tr-ờng từ phía Mỹ
* Chính sách đối ngoại của Australia với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN Associ ation of South East ASEAN Nations):
Quan hệ của Australia với ASEAN trên t- cách là một tổ chức từ khi nó thành lập vào tháng 8/1967 cho đến năm 1975 cho thấy một hệ quả rất thấp mà nguyên nhân đến từ cả hai phía
Vì vậy vào những năm đầu, Australia có một số sai lầm trong nhận thức về ASEAN, coi sự ra đời của tổ chức này là một trung tâm có thể quy tụ các hiệp -ớc
an ninh khu vực mới một kiểu liên minh quân sự mà Australia có thể sẽ tham gia cả tính chất khu vực chủ nghĩa, lẫn mục tiêu mà Australia đ-a ra trong tuyên ngôn thành lập Nhấn mạnh về hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa giữa các thành viên, rõ ràng đã không đ-ợc nhận thức đầy đủ và đúng đắn từ phía Australia Vì thế năm
1971 khi cán cân lực l-ợng giữa các siêu c-ờng đã b-ớc đầu có những dấu hiệu thay
đổi quan trọng, đặc biệt đó là sự nối lại quan hệ Trung - Mỹ, cải thiện quan hệ Xô -
Mỹ, các n-ớc ASEAN đã tán thành một dự án của Malaysia về việc thiết lập ở Đông Nam á "khu vực, hòa bình, tự do và trung lập" ZOPFAN thì chính phủ Australia đã cho dự án này là "không thể thực hiện"
Theo đánh giá của Frank Frost, phụ trách phòng đối ngoại trực thuộc Quốc hội Australia thì "cho đến tận năm 1972, ASEAN ch-a có vai trò gì đáng kể trong nhận thức của Australia ở Đông Nam á"[6, 12]
Có thể chính sách đối ngoại của Australia có những thay đổi đối với ASEAN
từ khi công đảng lên cầm quyền đứng đầu là Thủ t-ớng G.Whitlam lên nắm quyền ở Australia vào năm 1972 Chính phủ G.Whitlam đánh dấu một thời kỳ mới trong tiến trình đối ngoại của Australia đó là cần phải có một chính sách đối ngoại độc lập
Trang 2020
hơn Đ-ờng lối mà chính phủ công đảng theo đuổi là hạ thấp hơn vai trò của liên minh quân sự và chính trị trong các vấn đề ở khu vực châu á liên quan đến Australia, chính sách đối ngoại này nhấn mạnh nhiều hơn đến nhu cầu về hợp tác kinh tế khía cạnh rất phù hợp với mục tiêu mà ASEAN đã ghi trong tuyên ngôn Băng Cốc
Chính vì vậy mà Australia chính là n-ớc đầu tiên không phải là thành viên đã thiết lập quan hệ chính thức với ASEAN sự kiện đ-ợc ghi dấu bằng việc thành lập
"Ch-ơng trình hợp tác kinh tế Australia - ASEAN" vào tháng 4/1974 tại Canberra Ngay tại diễn đàn ASEAN - Australia đầu tiên trong khuôn khổ của ch-ơng trình này, Australia sẽ tuyên bố góp 5 triệu đô la để giúp các dự án liên doanh Australia - ASEAN Chính phủ G.Whitlam cũng bày tỏ sự tán thành ý t-ởng về ZOPFAN đ-ợc các thành viên ASEAN đ-a ra
Về phía ASEAN, mặc dù mục tiêu đã đ-ợc tuyên bố là phát triển hợp tác kinh tế, văn hóa, song thực tế thì bối cảnh ra đời của tổ chức này cho thấy các thành viên ASEAN mong muốn có một tổ chức khu vực để góp phần giảm bớt những căng thẳng và thù địch lan tràn khu vực nh-: yêu sách của Philippin về Sabah (1962)
"cuộc đối đầu" của Indonesia với Malaysia (1963 - 1966), việc Singapo tách ra khỏi Liên bang Malaysia (1965) Chính vì vậy mọi sự khởi đầu về hợp tác kinh tế giữa các n-ớc thành viên cho thấy hiệu quả thấp do phải giải quyết dứt điểm những tranh chấp, va chạm, đồng thời một yếu tố hết sức quan trọng cản trở quá trình hợp tác này, là khoảng cách về trình độ phát triển giữa các thành viên, sự mờ nhạt, thiếu hiệu quả trong hợp tác kinh tế của ASEAN với t- cách là một tổ chức đ-ợc phản ánh qua các chỉ số buôn bán của Australia chắc chắn ảnh h-ởng đến việc mở rộng hợp tác của tổ chức này bên ngoài sự khởi đầu đáng kể của ASEAN chỉ bắt đầu từ năm
1976, đ-ợc đánh dấu bằng cuộc họp th-ợng đỉnh ASEAN tổ chức tại Bali (Indonesia) Có thể nói, ngoại trừ những quan hệ song ph-ơng, mối quan hệ Australia - ASEAN chỉ đi vào quỹ đạo thực sự từ sau năm 1976, với nhiều thuận lợi song cũng xuất hiện vô vàn khó khăn mà không phải lúc nào họ cũng v-ợt qua đ-ợc
Nh- vậy chính sách đối ngoại mà Australia thực thi đối với tổ chức ASEAN
sẽ đ-ợc cụ thể hóa hơn ở các giai đoạn về sau đánh dấu bằng những mối quan hệ song ph-ơng lẫn đa ph-ơng trên tất cả các ph-ơng diện kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh khu vực và chính sách đó đạt đ-ợc những thành tựu đáng kể mà cả hai bên đều giành đ-ợc cho nhau, mặc dù có những thời kỳ mối quan hệ đó đã đi xuống Song với những gì đã nổ lực từ hai phía, ngày nay mối quan hệ đó ngày càng phát triển và
đạt đ-ợc những thành tựu đáng ghi nhận ở một tầm cao mới từ phía Australia giành cho ASEAN
Trang 222.1.1 Tình hình Đông Nam á sau chiến tranh Việt Nam
Nửa đầu thập niên 70 là khoảng thời gian chứng kiến sự biến đổi sâu sắc trong tình hình chính trị khu vực Đông Nam á, đó là sau năm 1975 khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã hoàn toàn chấm dứt Và cũng trong thời gian này, chính sách đối ngoại của Australia đ-ợc chính phủ công đảng của thủ t-ớng G.Whitlam đề ra đã có những thay đổi quan trọng với rất nhiều liên quan đến khu vực Đông Nam á Điều
đó cho thấy thay đổi trong tình hình quốc tế, và đặc biệt ở khu vực đòi hỏi sự thay
đổi hoạch định lại chính sách, đ-ờng lối, nhận thức đối với tất cả các quốc gia liên quan với nhau cả Australia và Đông Nam á [4,20] Vào thời gian này hội tụ nhiều yếu tố cực kỳ quan trọng đ-a đến những chuyển biến sâu sắc về mọi mặt ở khu vực
Đông Nam á kể từ thời điểm đó cho đến tận về sau Sự phân tích ở đây đặc biệt chú trọng đến những yếu tố liên quan đến đ-ờng lối đối ngoại của các n-ớc Đông Nam á
từ 1975 trở đi
+ ảnh h-ởng của sự kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam: Cuộc chiến tranh ở Việt Nam th-ờng đ-ợc gọi là cuộc chiến tranh Đông D-ơng lần thứ hai, để nhấn mạnh tính chất khu vực sâu sắc của nó và điều này là không phải ngẫu nhiên Do vậy, kết cục của cuộc chiến tranh tất yếu kéo theo nhiều hậu quả tác động mạnh mẽ
đến toàn thể các n-ớc Đông Nam á nó đ-ợc biểu hiện trên hai ph-ơng diện căn bản sau đây:
Thứ nhất: Với việc kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, nó thể hiện sự dính
líu, can thiệp quân sự phi lý, phi nhân đạo của Mỹ ở vùng đất liền Đông Nam á đã chấm dứt Việc rút quân đội Mỹ ra khỏi khu vực này đã đặt ra một câu hỏi mang tính chiến l-ợc cho nhiều thế lực Nếu Mỹ đã từng đóng vai trò trụ cột cho các đồng minh của Mỹ ở khu vực, thì sự thay đổi này sẽ tác động nh- thế nào đến trật tự khu vực, đến động thái ngoại giao của các n-ớc đồng minh? Hơn nữa, vai trò của Mỹ ở
Đông Nam á sẽ đ-ợc hình dung ra sao một khi không thể bỏ qua vai trò quan trọng
đó trong tất cả những vấn đề mang tính toàn cầu nói chung và ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng nói riêng Để lý giải cho câu hỏi này ta cũng phải xem hành động rút lui toàn diện của Mỹ ra khỏi Việt Nam
Trang 23Có thể thấy rằng học thuyết Nicxơn ra đời thực chất, một mặt là sự điều chỉnh chiến l-ợc trong bối cảnh Mỹ đang rơi vào tình thế khủng hoảng về vai trò của
nó trong thế giới t- bản, mặt khác chính là những thay đổi mà Mỹ buộc phải có sự chuyển biến về t-ơng quan lực l-ợng trong cuộc chiến tranh lạnh Thất bại nặng nề của Mỹ sau cuộc chiến tranh Việt Nam vào cuối thập niên 60 góp thêm một nhân tố quan trọng vào sự khủng hoảng và suy yếu đó, thúc đẩy sự hình thành những quan
điểm căn bản và sự ra đời của học thuyết Nicxơn vào năm 1969 Nh- là kết quả của học thuyết này, việc bắt tay với Trung Quốc để giải quyết cuộc chiến tranh của Mỹ
đang bị sa lầy ở Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời của "Thông báo Trung - Mỹ" tháng 2/1972; việc cải thiện quan hệ với Liên Xô đã phản ánh một tình thế mới trong quan
hệ giữa các siêu c-ờng và khu vực từ các quan điểm, các yếu tố nêu trên chúng ta có thể thấy rằng: khả năng cho một sự can thiệp quân sự của Mỹ và Liên Xô có nhiều khu vực chiến l-ợc hơn để quan tâm: Trung Đông, lục địa ấn Độ và đặc biệt là Đông Bắc á, nơi mà Mỹ và Liên Xô, Nhật Bản, Trung Quốc đều có những lợi ích hết sức quan trọng Hơn nữa, vết th-ơng tâm lý và những hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam trong lòng nhân dân Mỹ không dễ gì có thể qua đi để họ tán thành một sự can thiệp tốn kém, đau th-ơng và phi nghĩa Điều này sẽ tác động lên Quốc hội Mỹ trong tình thế nếu phải thông qua nghị quyết can thiệp quân sự Tuy nhiên Đông Nam á vẫn còn đóng một vai trò có ý nghĩa ở chỗ Mỹ cần phải duy trì các căn cứ quân sự trên đất liền cũng nh- sức mạnh hải quân của nó ở khu vực này, chủ yếu là hai căn cứ quân sự ở Philippin, và khu vực hoạt động cho các tàu chiến thuộc hạm
đội 7 của Mỹ, trong lúc căn cứ không quân ở Thái Lan (vốn phục vụ cho việc ném bom trong chiến tranh Việt Nam) Song việc sử dụng sức mạnh hải quân và ảnh h-ởng về kinh tế của Mỹ nh- là công cụ của chính sách đối ngoại để tác động đến tình hình khu vực sao cho Mỹ đ-ợc lợi, sẽ vẫn đ-ợc duy trì Về điều này nh- J.A.C Mackie, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam á, Đại học tổng hợp Monosh (Australia) đã nhận định rằng: "Hạm đội 7 sẽ tiếp tục phủ bóng đen của nó trên khu vực và ảnh h-ởng cũng nh- lợi ích chính trị của Mỹ chắc chắn là không biến mất hoàn toàn".[7,68]
Về phía Đông Nam á chắc chắn rằng những chính phủ tr-ớc đây chịu ảnh h-ởng và phụ thuộc vào Mỹ sẽ bị tác động nhiều hơn từ những thay đổi này nhất là Thái Lan và Philippin Song nhìn về tổng thể, liệu việc rút quân của Mỹ có tạo ra một trạng thái "chân không" về quyền lực ở khu vực để những thế lực khác chẳng hạn nh- Trung Quốc, Nhật Bản tìm cách lấp vào hay không? Điều đó không loại trừ những tham vọng của các thế lực, nh-ng sự ra đời và tồn tại đầy triển vọng của ASEAN từ cuối thập niên 60 cho đến thời điểm giữa những năm 70 (1975) với đặc tính khu vực chủ nghĩa đậm sắc của nó đã cho thấy một thực tế là: ASEAN đã hiện
Trang 2424
lên ngày một rõ nét hình ảnh một tổ chức khu vực có thể đ-a ra một cơ cấu, một diễn đàn giải quyết những tranh chấp có thể xẩy ra cũng nh- thúc đẩy hợp tác khu vực, giảm thiểu tối đa sự can thiệp của bên ngoài mà ASEAN nhận thức là có nguy cơ làm tổn hại đến lợi ích của các thành viên khu vực Rõ ràng đa số các n-ớc ASEAN đều thống nhất với nhau về mong muốn hình thành một khu vực Đông Nam
á đoàn kết, tự c-ờng để chống mại m-u toan muốn biến khu vực trở thành "đấu tr-ờng" của các siêu c-ờng Có thể thấy rõ điều này thông qua ý t-ởng về "nhu cầu
mở rộng" ASEAN, thậm chí là "bất chấp sự khác biệt về hệ t- t-ởng" Nh- phát biểu của phó Thủ t-ớng Thái Lan Chatichai Choanha van "Muốn biến Đông D-ơng từ chiến tr-ờng trở thànhh thị tr-ờng"[11,88 ]
Thứ hai: Chiến thắng của nhân dân Việt Nam - Lào và Cămpuchia trong cuộc
chiến tranh này đã đ-a đến sự hình thành của ba n-ớc cộng sản ở Đông D-ơng Tuy nhiên cũng cần l-u ý về chế độ chính trị ở mỗi n-ớc có thể khác nhau Cuộc chiến tranh Việt Nam với sự kết thúc nh- thế đã đ-a đến sự thay đổi trong so sánh lực l-ợng ở Đông Nam á Việt Nam thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội; n-ớc Cộng hòa nhân dân Lào ra đời tháng 12/1975, SEATO hầu nh- đã mất đi toàn bộ cơ sở lý thuyết và thực tiễn để có thể tồn tại Rõ ràng những yếu tố này đã góp phần quan trọng nhất vào sự sụp đổ không thể cứu vãn sức mạnh và ảnh h-ởng của Mỹ và các thế lực phản động ở khu vực Tuy nhiên từ một góc độ khác, sự thay đổi ấy cũng làm nãy sinh một cơ cấu đối lập mới ở khu vực Đông Nam á mà về thực chất xuất phát từ mâu thuẫn mang tính chất ý thức hệ giữa một bên là Việt Nam, Lào và bên kia là cộng đồng ASEAN, trong một bối cảnh mới với nhiều yếu tố mới sự tác động đến thế đối lập này Điều đó hiển nhiên sẽ góp phần quan trọng vào sự hình thành khuynh h-ớng chính trong đ-ờng lối đối ngoại của các chính phủ Đông Nam á Với lập tr-ờng kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội, rõ ràng Việt Nam với n-ớc thấp hơn về mức độ là Lào đã lựa chọn một con đ-ờng có nhiều khó khăn khác biệt với đa số các n-ớc còn lại của khu vực, thậm chí có tính đối lập đối với một số thế lực trong và ngoài khu vực vốn không mong muốn có một chính thể ở Việt Nam Thêm vào đó,
là sự bất đồng trong mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc đã ảnh h-ởng đến các n-ớc Đông Nam á Khi mà Trung Quốc muốn gây ảnh h-ởng của mình ở khu vực này Sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô giành cho Việt Nam trong bối cảnh ấy
nó sẽ làm cho mức độ các vấn đề liên quan đến Việt Nam trở nên lớn hơn
Tuy nhiên nh- chúng ta thấy rằng, mâu thuẫn giữa các n-ớc có đ-ờng lối phát triển theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa nh- Việt Nam, Lào với các n-ớc Đông Nam á còn lại sẽ không thể bùng nổ theo cách thức và quy mô nh- thời kỳ tr-ớc năm 1975 mặc dù bất đồng và đối lập giữa họ là một thực tế hiển nhiên, và thực tế
Trang 25đó cho thấy nó tạo nên một sự mong manh cho hòa bình, hòa dịu và an ninh của khu vực
Những điều chỉnh định h-ớng phát triển của ASEAN vào thời điểm giữa thập niên 70 nó không chỉ đánh dấu những chuyển biến sâu sắc trong tình hình chính trị
ở Đông Nam á mà đồng thời còn ghi mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của ASEAN và đây chính là điều mà khiến cho Australia đặc biệt quan tâm trong bối cảnh của bản thân, Australia cũng đang có những chính sách lớn lao trong chính sách đối ngoại của mình đối với Đông Nam á Điều đó đã dẫn đến một số yếu tố thúc đẩy ASEAN đi đến những chuyển đổi quan trọng trong ph-ơng h-ớng và biện pháp để đạt đ-ợc mục tiêu đã nêu trong tuyên bố Băng Cốc vào ngày 8/8/1967
Tr-ớc hết, các thành viên ASEAN đang phải đối diện với một n-ớc Việt Nam thống nhất, có sức mạnh lớn về quân sự trong khu vực, trong lúc các quốc gia ASEAN không còn sự bảo hộ và "gánh vác trách nhiệm" của các n-ớc đồng minh n-ớc ngoài chủ yếu là Mỹ nh- tr-ớc nữa Mặc dù không phải là tổ chức quân sự song cũng không thể phủ nhận tính chất cố kết của ASEAN một phần nào đó nhằm
đến mục tiêu đem lại sức mạnh cho họ để chống lại ảnh h-ởng của chủ nghĩa cộng sản Thời điểm mà Việt Nam giành đ-ợc thắng lợi và đi lên chủ nghĩa xã hội đã củng cố thêm vai trò, tính hiệu quả và liên kết của các thành viên tổ chức này
Một nhân tố nữa cũng không kém phần quan trọng đó là việc các nền kinh tế của ASEAN đang ở vào thời điểm có khả năng và nhu cầu cần phải đ-ợc phát triển tạo cơ sở hợp tác mạnh mẽ hơn nữa giữa các thành viên trong tổ chức, từ đó tăng hiệu quả trong việc buôn bán với bên ngoài Trong suốt từ đầu thập niên 70, nền kinh tế của các n-ớc ASEAN đã có sự tăng tr-ởng đáng kể điều đó đ-ợc biểu hiện thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 1: Tăng tr-ởng và GDP của Australia và các n-ớc Đông Nam á (1960 - 1982):
Các n-ớc
Tăng tr-ởng GDP hàng năm (%)
Trang 2626
Mặc dù vậy, sức mạnh của các nền kinh tế ASEAN trên một chừng mực khá lớn chịu sự tác động của các n-ớc t- bản phát triển, đặc biệt là hai n-ớc Mỹ và Nhật Bản Tình hình vừa nêu đ-ợc minh chứng bằng tỷ lệ tăng tr-ởng GDP bị sút giảm của các n-ớc này trong nửa đầu thập niên 70, do tác động của cuộc khủng hoảng giá dầu và những biến động trong thị tr-ờng xuất khẩu Yêu cầu đặt ra cho ASEAN là hoạt động của tổ chức này phải đ-ợc thể chế hóa và thể hiện khả năng phối hợp chặt chẽ hơn nữa để tăng c-ờng sức mạnh trong các cuộc th-ơng l-ợng trao đổi buôn bán với bên ngoài, mở rộng thị tr-ờng hàng hóa cho các nền kinh tế của ASEAN
Sự kiện đáng dấu một b-ớc ngoặt trong hợp tác kinh tế ASEAN là cuộc họp th-ợng đỉnh đầu tiên của 5 quốc gia thành viên đ-ợc tổ chức tại Bali (Indonesia) vào tháng 2/1976 Khác với tr-ớc đây các cuộc gặp gỡ của ASEAN đều diễn ra ở cấp bộ tr-ởng Hai văn kiện quan trọng đ-ợc công bố trong hội nghị này mà nội dung của
nó đã phản ánh mục tiêu, đ-ờng lối của ASEAN trong giai đoạn mới Văn kiện thứ nhất là: Hiệp -ớc thân thiện và hợp tác, trong đó đề cập đến khát vọng có một "tình hữu nghị và hợp tác muôn đời bền vững, sẽ đem đến sức mạnh, sự đoàn kết và quan
hệ chặt chẽ giữa nhân dân các n-ớc ASEAN" Văn kiện thứ hai là: "Tuyên bố hòa hợp đề cập đến việc gia tăng những tiếp xúc văn hóa, xã hội giữa các quốc gia thành viên"[12, 122]
Điểm quan trọng hơn cả, là cuộc họp nhấn mạnh đến trọng tâm của tổ chức ASEAN là các vấn đề kinh tế, nêu lên quy -ớc tổ chức cuộc họp hàng năm của các
bộ tr-ởng kinh tế thay cho cuộc họp của các ngoại tr-ởng, diễn ra từ khi thành lập tổ chức cho đến thời điểm này Từ cuộc họp tại Bali (Indonesia), hàng loạt các ch-ơng trình hợp tác kinh tế đã đ-ợc triển khai trong các n-ớc ASEAN và những cuộc họp th-ơng l-ợng trao đổi buôn bán của tổ chức này với bên ngoài cũng ngày càng đ-ợc xúc tiến, phải thừa nhận rằng chính cơ chế và sức mạnh hợp tác của ASEAN đã đem
đến cho nền kinh tế của các n-ớc thành viên ngày càng tiếp tục và đẩy mạnh từ sau năm 1976 Có thể tính từ thời điểm này ASEAN đã nổi lên nh- một tổ chức khu vực
đ-ợc tiếp thêm sinh khí và sức mạnh và điều này đòi hỏi phải có sự thừa nhận rộng rãi của quốc tế
Chính sách đối ngoại của Australia đối với ASEAN (về ph-ơng diện kinh tế)
là mảng quan hệ có ý nghĩa nhất của Australia ở khu vực trong giai đoạn này đã hình thành trong bối cảnh diễn ra những thay đổi mạnh mẽ nh- vừa nêu trên của ASEAN , cũng nh- những thay đổi quan trọng khác của tình hình chính trị, an ninh khu vực mà cả Australia lẫn các thành viên ASEAN cần phải cân nhắc kỹ l-ỡng khi hoạch định ra chính sách đối ngoại của cả hai bên
2.1.2 B-ớc tiến mới trong chính sách đối ngoại của Australia
Trang 27Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, lịch sử đối ngoại của Australia từ khi thành lập liên bang đến nay thực chất là h-ớng đến một quá trình và mục tiêu đạt
đ-ợc, một nền ngoại giao ngày càng độc lập hơn để phục vụ cho các lợi ích của quốc gia Thực tế lịch sử cho thấy nhận định này thật xác đáng, chính vì vậy mà nó
đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu lịch sử quan hệ đối ngoại của Australia trong mối quan hệ không thể tách rời với đcặc tính thay đổi của quá trình này Nh-ng một khi nêu lên những con ng-ời đã từng nh-: Hughes, Bruce, Curtin, Evatt, Spender, Casey, Hasluck đã có những nổ lực lớn lao, thúc đẩy cho nền ngoại giao của Australia ngày càng trở nên độc lập hơn, thì ng-ời dân Australia vẫn thừa nhận rằng, chính thủ t-ớng Whitlam đã đ-a ra một chính sách đối ngoại mà xét từ quan điểm tổng thể, từ quan điểm nhận thức, chính sách đến biện pháp, ph-ơng thức đã đóng vai trò quan trọng của tính chất "phân thuỷ tiến trình lịch sử đối ngoại của Australia mục tiêu
định ra hình ảnh một n-ớc Australia độc lập, chủ động trong chính sách đối ngoại của chính phủ G.Whitlam là điều phải l-u ý và đặt lên hàng đầu Trên cơ sở đó chúng ta mới xem xét cách tiếp cận của Australia đến những vấn đề liên quan tới quan hệ Australia - Đông Nam á trên nền tảng bối cảnh lịch sử chung cũng nh- riêng của khu vực Đông Nam á có nhiều yếu tố hội tụ tác động khiến cho vào thời
điểm năm 1972 đã đánh dấu sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Australia, không chỉ là các yếu tố bên ngoài mà tr-ớc tiên xuất phát từ sự phát triển lịch sử trong chính bản thân Australia Cho đến năm 1972 các đảng bảo thủ ở Australia (đảng Tự do và Đảng nông thôn) đã lên cầm quyền liên tục trong 23 năm, và mặc dầu trên nhiều ph-ơng diện Australia đã trở thành một quốc gia giàu có, song những
điều mà mang tính bất công xã hội luôn luôn tồn tại và bên cạnh đó sự phụ thuộc của Australia vào Mỹ, đặc biệt là trong chính sách đối ngoại, an ninh và quốc phòng
đã làm cho ảnh h-ởng không nhỏ đến những phản ứng gay gắt đến nhân dân Australia Điều đó đã khiến cho Chính phủ liên minh Tự do - Nông thôn lâm vào một tình trạng khủng hoảng, bất lực tr-ớc những yêu cầu và thách thức do xã hội đặt
ra Đến cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, mâu thuẫn bất đồng về quan điểm giữa phe bảo thủ cầm quyền, với phe Công đảng đối lập về những vấn đề đối nội đã trở nên sâu sắc, nh-ng chính vấn đề đối ngoại là nguyên nhân trực tiếp đ-a đến sự thất bại của chính phủ Bảo thủ do Thủ t-ớng Me Mahon đứng đầu trong cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 12/1972 Thất bại của Australia trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cho nhân dân Australia cho rằng ng-ời Australia tham gia cuộc chiến tranh này vì mục đích gì? Vấn đề đó đ-ợc Thủ t-ớng Men Zies lúc đó, khi ông quyết định gửi quân đội Australia đến chiến tr-ờng Việt Nam Nh-ng sau khi đã trả bằng x-ơng bằng máu và vật chất để nhận sự thất bại, nhiều ng-ời Australia nhận thấy sự tham chiến, rõ ràng lại không phải xuất phát từ lợi ích quốc gia Về vật chất,
Trang 2828
rõ ràng đã có những sai lầm nghiêm trọng trong sự t- duy và nhận thức đã dẫn đến
sự phụ thuộc chặt chẽ vào Mỹ trong cuộc chiến tranh này
Có thể nói những bài học mà Australia rút ra từ cuộc chiến tranh Việt Nam
điều đó nó không chỉ ảnh h-ởng trực tiếp đến Việt Nam mà nó còn ảnh h-ởng đến cả khu vực Đông Nam á, trên cơ sở đó yêu cầu Australia phải hoạch định lại chính sách đối ngoại tổng thể của mình
Riêng ở Đông Nam á, tất nhiên Australia phải đặt lại vai trò của hiệp -ớc, an ninh, tập thể, nh- kiểu CENTO trong lúc vẫn xem ANZUS là "viên đá tảng" cho chính sách an ninh và quốc phòng của mình, Australia cũng nhận thức rằng bối cảnh mới buộc Australia không chỉ dựa vào hiệp -ớc ANZUS để thúc đẩy hơn nữa đến những lợi ích của Australia ở khu vực này Bên cạnh đó một số yếu tố mà Australia
đặc biệt phải quan tâm l-u ý đó là việc rút quân của Mỹ ra khỏi khu vực Đông Nam
á và những hậu quả mang lại cho Australia, sự củng cố và tăng c-ờng tính chất khu vực của ASEAN đã đặc biệt thất vọng và khả năng phát triển kinh tế của tổ chức ASEAN từ sau cuộc họp th-ợng đỉnh tại Bali năm 1976, sự ra đời và tồn tại của quốc gia cộng sản ở Đông D-ơng sau năm 1975 với t- cách là một phần của khu vực
Đông Nam á Tất cả những điều đó tạo ra hình thức cho các đảng phái chủ yếu cũng nh- toàn thể nhân dân Australia cho rằng mình là một đồng minh trung thành của
Mỹ, liệu Australia có thể xây dựng cho mình một chính sách đối ngoại độc lập đ-ợc hay không? Điều đó đ-ợc thể hiện qua bài phát biểu của Thủ t-ớng Whitlam ông cho rằng: "Không có một quốc gia nào, thậm chí đó là siêu c-ờng chăng nữa, có thể
có một chính sách hoàn toàn độc lập, là đồng minh của Mỹ không có nghĩa là làm công cụ cho lợi ích của Mỹ"[ 6,30 ]
Từ những nhận thức nh- vậy, điểm mới trong chính sách đối ngoại của Australia đ-ợc chính Thủ t-ớng Whitlam nêu lên ngay trong lễ tuyên thệ nhậm chức của ông nh- sau: "Việc thay đổi chính phủ đang đem đến cho chúng ta một cơ hội mới để đánh giá lại một cách tổng thể hàng loạt các chính sách và quan điểm đối ngoại của Australia T- duy của chúng ta hiện nay là h-ớng về một lập tr-ờng độc lập hơn của Australia trong các vấn đề quốc tế, h-ớng về một n-ớc Australia giảm thiểu khuynh h-ớng quân sự, không mở đ-ờng cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, một n-ớc Australia sẽ có một địa vị ngày càng gia tăng với t- cách là một quốc gia
có đặc thù, rộng l-ợng, hợp tác và xứng đáng đ-ợc tôn trọng không chỉ ở châu á - Thái Bình D-ơng mà trên toàn thế giới" [ 12,76 ]
Bên cạnh đó một mục tiêu quan trọng đ-ợc thể hiện trong chính sách đối ngoại của chính phủ Whitlam và mục tiêu này cũng đ-ợc biểu hiện của một tính chất "phân thủy" rõ rệt so với thời kỳ tr-ớc đó, nhất là ở khu vực Đông Nam á, Chính phủ Công đảng tuyên bố sẽ mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ với các
Trang 29quốc gia châu á cho đến những năm 70 trong quan hệ buôn bán của Australia với bên ngoài đã diễn ra sự "đổi ngôi" ngoạn mục Nếu nh- vào năm 1951 có đến 36% khối l-ợng buôn bán của Australia là với Anh, và chỉ có 8% khối l-ợng này là với Nhật, 9% với Bắc Mỹ thì đến năm 1972 tỷ lệ % t-ơng ứng với thứ tự trên là 11%, 26% và 12%, các nền kinh tế Đông Bắc á khác nh-: Nam Triều Tiên (Hàn Quốc),
Đài Loan, Hồng Kông tiếp tục phát triển với tốc độ cao và ổn định đ-ợc thể hiện thông qua bảng sau:
át các quan hệ khác của Australia ở khu vực này Do vậy mà chính phủ Whitlam đã
đ-a ra hai mục tiêu lớn trong chính sách kinh tế đối ngoại của Australia là: ủng hộ
sự phát triển kinh tế của châu á và thúc đẩy lợi ích kinh tế lâu dài của Australia bằng việc hòa nhập nền kinh tế của Australia với các nền kinh tế khu vực lòng chảo châu
á- Thái Bình D-ơng
Có thể thấy rằng trên tổng thể này chúng ta cần phải đề cập một cách cụ thể hơn chính sách của Australia đối với Đông Nam á, một phần vì đề tài đề cập trực