1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách đối ngoại của australia đối với khu vực châu á thái bình dương từ đầu thế kỷ xxi đến nay

164 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách đối ngoại của australia đối với khu vực châu á - thái bình dương từ đầu thế kỷ xxi đến nay
Tác giả Hồ Thị Mỹ Hạnh
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Nam Tiến
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm lại quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Australia đối với châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI có thể đưa đến một hình dung toàn cảnh và đầy đủ các mối quan h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



HỒ THỊ MỸ HẠNH

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA AUSTRALIA ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 60.31.50

Thành phố Hồ Chí Minh, 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



HỒ THỊ MỸ HẠNH

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA AUSTRALIA ĐỐI VỚI KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 60.31.50

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN NAM TIẾN

Thành phố Hồ Chí Minh, 2017

Trang 3

Tên tôi là Hồ Thị Mỹ Hạnh, học viên cao học lớp Châu Á học, khóa 2013

-2015, khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh

Với tinh thần trách nhiệm của một người làm côn tác nghiên cứu khoa học, tôi xin cam đoan:

Luận văn Thạc sĩ ngành Châu Á học, đề tài “Chính sách đối ngoại của Australia đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương từ đầu thế kỷ XXI đến nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Nam Tiến

Những vấn đề trình bày trong luận văn là trung thực, và kết quả của sự tổng hợp đúc kết từ nhiều nguồn tài liệu

Nếu có bất kì điều gì trái với tinh thần trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2017

Học viên

Hồ Thị Mỹ Hạnh

Trang 4

Xin trân trọng gửi đến Thầy Trần Nam Tiến sự biết ơn sâu sắc, vì những chỉ

dẫn nhiệt tình và có góp ý chính xác, tỉ mỉ để tôi có thể hoàn thành luận văn sau thời

gian dài thực hiện Mặc dù công việc có nhiều bận rộn, Thầy vẫn dành thời gian

quan tâm và theo sát, chỉnh sửa rất nhiều lần cho đề tài này Đây thực sự là điều làm

tôi cảm thấy rất trân trọng và cảm kích

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, những người thân yêu luôn bên cạnh ủng hộ

động viên, không những thế, còn hỗ trợ rất nhiều trong quá trình tôi tiếp cận tài liệu

Cám ơn Quý Thầy cô Khoa Đông Phương học đã tạo điều kiện thuận lợi cho

tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại khoa Cám ơn anh Lục Minh Tuấn, thủ

thư thư viện khoa Quan hệ quốc tế, đã dành cho tôi thời gian quý báu để tư vấn tài

liệu cũng như giúp đỡ tôi rất nhiều

Cám ơn các bạn bè lớp Châu Á học khóa 2013 – 2015, các bạn luôn là nguồn

động viên cổ vũ lớn không chỉ về tinh thần, mà còn đóng góp rất nhiều cho tôi trong

quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời tri ân sâu sắc đến những ai đã giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong quá

trình thực hiện đề tài này Chân thành cám ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4/2017

Trang 5

Lời cam đoan 3

Lời cảm ơn 4

Lời nói đầu 1

DẪN NHẬP 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Lịch sử nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10

7 Bố cục đề tài 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI AUSTRALIA 12

1.1 Quốc gia tầm trung Australia và đặc thù chính sách đối ngoại 12

1.1.1 Australia – quốc gia tầm trung 12

1.1.2 Những nhân tố bên trong tác động đến chính sách đối ngoại Australia 16

1.1.3 Quá trình hình thành chính sách đối ngoại trong hệ thống chính trị 19

1.2 Nhân tố bên ngoài tác động đến chính sách: Bối cảnh quốc tế và khu vực đầu thế kỉ XXI 23

1.2.1 Sự phát triển thần tốc của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 23

1.2.2 Chiến tranh năng lượng và khủng bố, các vấn đề toàn cầu 25

1.2.3 Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Vấn đề Biển Đông 25

1.3 Khái quát chính sách đối ngoại của Australia với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trước thế kỷ XXI 26

1.3.1 Khái quát về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 26

1.3.2 Mỹ 27

1.3.3 Đông Nam Á 29

1.3.4 Các cường quốc ở Đông Bắc Á 32

1.4 Nội dung chính sách đối ngoại Australia đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương những năm đầu thế kỷ XXI 37

1.4.1 Đặc thù chính sách/hành vi của các quốc gia tầm trung trên thế giới 37

1.4.2 Tôn chỉ của Australia khi thực hiện chính sách đối ngoại 39

1.4.3 Nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại Australia 41

Tiểu kết 43

Trang 6

KỶ XXI 45

2.1 Đối với Mỹ 45

2.1.1 Chính trị - quân sự 45

2.1.2 Kinh tế 51

2.1.3 Sự thay đổi trong thế kỉ mới 52

2.1.4 Thách thức 54

2.2 Đối với Nhật Bản 55

2.2.1 Chính trị - quân sự 55

2.2.2 Kinh tế - Giáo dục 58

2.2.3 Thách thức 61

2.3 Đối với Trung Quốc 63

2.3.1 Chính trị - quân sự 63

2.3.2 Kinh tế 65

2.3.3 Giáo dục 68

2.3.4 Thách thức 72

Tiểu kết 75

CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI AUSTRALIA ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 77

3.1 Đối với ASEAN 77

3.1.1 Chính trị - quân sự 78

3.1.2 Kinh tế 79

3.1.3 Giáo dục 82

3.1.4 Lĩnh vực khác 84

3.2 Đối với Indonesia 85

3.2.1 Chính trị - quân sự 86

3.2.2 Kinh tế 88

3.2.3 Lĩnh vực khác 90

3.3 Đối với các nước khác 91

3.3.1 Singapore 91

3.3.2 Malaysia 94

3.3.3 Brunei – Philippines – Thái Lan 96

3.3.4 Campuchia – Lào – Myanmar 98

Trang 7

3.3.6 Việt Nam 102

3.4 Vấn đề biển Đông 106

Tiểu kết 109

Chương 4 KẾT QUẢ - TRIỂN VỌNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI AUSTRALIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 110

4.1 Kết quả 110

4.1.1 Thành tựu và thách thức 110

4.1.2 Đặc trưng nổi bật nhất trong chính sách đối ngoại 116

4.2 Triển vọng 121

4.2.1 Tác động đến quốc tế 121

4.2.2 Chính sách đối ngoại Australia hiện tại và tương lai 123

4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 127

4.3.1 Định hướng chính sách đối ngoại Việt Nam 127

4.3.2 Chính sách đối ngoại trong một khu vực nhiều điểm nóng 129

KẾT LUẬN 135

PHỤ LỤC 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

Tài liệu Tiếng Việt 148

Tài liệu Tiếng nước ngoài 149

Internet 154

Danh mục hình ảnh Hình 1 Vị trí Australia trên bản đồ thế giới 12

Hình 2-1 Giao thương hai chiều giữa Australia với Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản (2013-2015) 52

Hình 2-2 Thị trường xuất khẩu Australia giai đoạn 1990-91 và 2010-11 59

Hình 2-3 Đối tác xuất khẩu của Australia (2013-2015) Đơn vị: Triệu đô la Úc 60

Hình 2-4 Xuất khẩu hàng hóa từ Australia đến Trung Quốc (2000-2015) 66

Hình 2-5 Đối tác chủ chốt về xuất khẩu hàng hóa của Australia (1985-2013-14) 67

Hình 2-6 Xuất khẩu giáo dục của Australia từ 1997-2007 69

Trang 8

Hình 3-1 Sự phát triển của các 15 thị trường thương mại của Australia (2013-2014) 80

Hình 3-2 Giao thương hàng hóa của Australia với ASEAN-10 (2010-1015) 81

Hình 3-3 Top 10 thị trường xuất khẩu giáo dục của Australia năm 2007 83

Hình 3-4 Giao thương hàng hóa Australia với Indonesia (2010-2015) 89

Hình 3-5.Giao thương hàng hóa của Australia với Việt Nam (2010-2015) 1044

Hình 4-1 Thị trường xuất khẩu của Australia (giai đoạn 1990-1991 và 2010-2011) 111

Trang 9

Lời nói đầu

Quan hệ quốc tế thế kỷ XXI được mở đầu bằng sự kiện chấn động “11-9”, bên cạnh đó sự trỗi dậy của con rồng châu Á – Trung Quốc tạo nên sự đổi chiều cơ bản trong quan hệ quốc tế Khu vực năng động nhất trên thế giới bấy giờ đã dịch chuyển sang phía Đông với châu Á – Thái Bình Dương phát triển từng ngày Với nhiều thách thức trong thế kỷ mới, các quốc gia trong đó có Australia đang có những điều chỉnh tích cực, phù hợp với bối cảnh, vị thế và lợi ích quốc gia, từ đó thực hiện chính sách phát triển một cách hiệu quả

Australia những năm gần đây đã tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực trên nhiều bình diện: chính trị, an ninh, kinh tế, giáo dục, văn hóa Chính vì vậy mối quan hệ hai chiều giữa Australia và châu Á – Thái Bình Dương cũng có những chuyển biến đáng kể, phù hợp xu thế thời đại Điểm lại quá trình triển khai chính sách đối ngoại của Australia đối với châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI

có thể đưa đến một hình dung toàn cảnh và đầy đủ các mối quan hệ tại khu vực này Ngoài ra, thông qua phân tích chính sách đối ngoại, người viết hy vọng có thể phần nào nêu lên những xu hướng trong chính sách của Australia với từng quốc gia cụ thể trong tương lai Đề tài nghiên cứu cũng đề cập đến quan hệ Australia đối với Việt Nam, cung cấp những thông tin cần thiết trong mối quan hệ song phương, góp phần đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, không chỉ với một quốc gia là Australia mà còn trong điều chỉnh quan hệ với các nước khác

Đề tài “Chính sách đối ngoại của Australia đối với khu vực Châu Á – Thái

Bình Dương từ đầu thế kỷ XXI đến nay” mong muốn cung cấp những hiểu biết về

chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối ngoại của Australia nói riêng, đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương những năm đầu thế kỷ XXI, bên cạnh đó đem đến những thông tin cần thiết trong hợp tác giữa Australia và các nước trên nhiều lĩnh vực Thông qua nội dung và thực hiện chính sách đối ngoại của Australia, người viết cũng đưa ra những phân tích và đánh giá, cùng những dự báo cho quan hệ quốc tế trong khu vực Đề tài nghiên cứu cũng mong muốn mang đến những lý giải trong

Trang 10

quan hệ giữa các yếu tố nguồn lực quốc gia đối với việc tạo dựng ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế, việc một quốc gia tầm trung thể hiện vai trò và tìm kiếm vị thế của mình trong bối cảnh phức tạp của thế giới ngày nay

Quá trình thực hiện đề tài hẳn còn nhiều hạn chế, thiếu sót Người viết mong muốn nhận được nhiều đóng góp, chỉnh sửa của Quý Thầy Cô để đề tài có thể hoàn thiện, có thể là nguồn tư liệu hỗ trợ cho nghiên cứu và học tập dành cho những ai quan tâm

Trang 11

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI chứng kiến nhiều biến chuyển to lớn của thế giới, bắt đầu từ bất ổn

về an ninh, kinh tế - xã hội, gây tác động rất lớn đến quan hệ quốc tế Tình trạng đơn cực trong quan hệ quốc tế không còn, thay vào đó là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, cùng với sự trỗi dậy của nhiều quốc gia phương Đông, đáng chú ý là khu vực Châu Á– Thái Bình Dương Khu vực Châu Á– Thái Bình Dương hiện nay là khu vực năng động bậc nhất thế giới, có vị trí địa chiến lược, là cửa ngõ an ninh – kinh tế Đông – Tây Trước sự trỗi dậy của Trung Quốc làm dấy lên những lo ngại về một cường quốc, thì các quốc gia tầm trung tại khu vực cũng đang có những nỗ lực nhất định nhằm tăng cường sức mạnh quốc gia và khẳng định mình trong quan hệ quốc tế Trong số đó, Australia nổi lên như một quốc gia “đặc biệt” Nói đặc biệt vì Australia là một quốc gia đa dân tộc, tuy nằm ở Châu Á về vị trí địa lí, nhưng lại chịu tác động mạnh mẽ của phương Tây (đặc biệt là Anh và Mỹ) trên phương diện văn hóa,

an ninh – chính trị Quyền lợi của Australia trong quá khứ, có thể gắn bó với phương Tây sâu sắc Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh thế giới thập niên đầu thế kỷ XXI, Australia khó có thể lờ đi các đối tác với các quốc gia trong khu vực Vì sự gắn bó hết sức chặt chẽ với Châu Á về mặt địa lý, văn hóa, cùng với sự suy giảm tương đối vai trò của Anh và Mỹ, thêm vào đó là sự biến đổi tích cực của khu vực Châu Á– Thái Bình Dương đã khiến cho yếu tố “gần gũi với Châu Á”, “thuộc về Châu Á” được các nhà lãnh đạo Australia tích cực phát huy Giới cầm quyền Australia với nỗ lực không ngừng trong tìm kiếm một tiếng nói riêng, một màu sắc riêng, thể hiện một Australia như một trung cường của thế giới, lại càng muốn “xích lại gần Châu Á hơn nữa” Cần phải nhấn mạnh rằng Australia của thế kỷ mới đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, từ dân tộc - văn hóa đến vấn đề can thiệp quân sự, cho tới tổ chức khủng bố “nhà nước Hồi giáo IS”, giải quyết những điểm nóng này không chỉ cần những điều chỉnh trong chính sách đối nội, đó còn là vạch ra hướng đi chiến lược

Trang 12

trong chính sách đối ngoại với các nước láng giềng Với vị trí hiện tại là một trung cường, Australia cần có những chiến lược cụ thể và xây dựng chính sách đối ngoại nhằm thể hiện chính sách khu vực nhất quán, bền vững, đóng góp cho sự phát triển quốc gia

Richard N Haass trong cuốn The Politics of Power đã chỉ rõ “Không thể xem

xét khái niệm sức mạnh quốc gia ở dạng tĩnh mà cần đặt trong một bối cảnh nhất định (context) Điều quan trọng trong chính trị quốc tế không chỉ dừng lại ở việc một quốc gia có bao nhiêu sức mạnh, mà còn phải tính đến sức mạnh của các quốc gia khác và cách họ sử dụng nó Bản thân sức mạnh quốc gia không phải là mục đích cuối cùng,

mà chính khả năng chuyển hóa những sức mạnh ấy thành ảnh hưởng mới thật sự quan trọng” [Richard N Hass 2005: 60-65].” Chính sách đối ngoại chính là một minh chứng cho khả năng chuyển hóa sức mạnh quốc gia thành ảnh hưởng ấy

Nghiên cứu về “Chính sách đối ngoại của Australia đối với khu vực Châu Á– Thái Bình Dương từ đầu thế kỷ XXI đến nay” sẽ cho thấy được bước đi chiến lược của một quốc gia đang cố gắng thể hiện vị trí một cường quốc bậc trung trên bản đồ thế giới Những giải pháp cho vấn đề mà Australia đang phải đối mặt sẽ cho thấy một cái nhìn rõ ràng hơn trong những khúc mắc về nguồn lực, bản sắc quốc gia cũng như khả năng tạo ảnh hưởng của quốc gia đó Không những thế, nghiên cứu còn đưa tới cái nhìn khách quan, góp phần dự báo được tình hình quan hệ quốc tế khu vực Châu Á– Thái Bình Dương những năm sắp tới của thế kỷ XXI

Việc đi sâu nghiên cứu đề tài này còn đóng góp nguồn tư liệu tham khảo cho các bạn Đông phương học nói chung và Châu Á học nói riêng, trong bối cảnh tư liệu về chuyên ngành Úc học về quan hệ quốc tế còn hạn chế

Là một cử nhân Quan hệ quốc tế, học viên luôn mong muốn có cơ hội đi sâu hơn nghiên cứu các lĩnh vực trong quan hệ quốc tế Xuất phát từ niềm yêu thích cá nhân đối với “Sức mạnh mềm”, mà chính sách đối ngoại là một phần trong chiến lược đó, người viết mong muốn được đi sâu hơn nghiên cứu chính sách đối ngoại quốc gia, với một quốc gia “đặc biệt” tại khu vực Châu Á– Thái Bình Dương, Australia Ngoài ra,

Trang 13

việc tham gia những chuyên đề Châu Á học giúp tôi có những hiểu biết nhất định, cũng là lợi thế rất lớn khi nghiên cứu về quốc gia này

Australia và quan hệ quốc tế có thể kể đến cuốn Australia’s Foreign Relations in

the World of 1990s (2nd edition, Melbourne: Melbourne University Press, 1995) của

hai tác giả Gareth Evans và Bruce Grant, đã được dịch sang tiếng Việt với tựa “Quan

hệ quốc tế của Australia trong những năm 90” (Nxb Giáo dục, 1999) Cuốn sách thể hiện quan hệ đối ngoại của Australia thập niên 90, bao quát tất cả các khu vực trên thế giới và hầu hết những quốc gia và lãnh thổ trong khu vực ấy Ngoài ra công trình này còn thể hiện tình hình tất cả các khu vực, quốc gia trên thế giới vào thập niên 90, từ góc nhìn chính sách ngoại giao của Australia Đây là tư liệu quý giá trong những nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Australia được viết bởi hai học giả nổi tiếng, đặc biệt Gareth Evans với tư cách Bộ trường ngoại giao Australia Cho đến nay, đây

có thể nói là công trình đầy đủ và tiêu biểu nhất cho nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Australia những năm cuối thế kỷ XX

Trang 14

Bên cạnh đó, một công trình nghiên cứu có sức nặng về hoạch định chính sách

đối ngoại của Australia phải kể đến, là Making Australian Foreign Policy (2nd edition, Cambride University Press, 2007) của hai tác giả Allan Gyngell và Michael Wesley, với kinh nghiệm hoạt động trong bộ máy ngoại giao Australia từ 1969 của Allan và những nghiên cứu chuyên sâu của giáo sư Michael trong học viện an ninh quốc gia Australia, cuốn sách thể hiện rõ ràng và sâu sắc những nhân tố quyết định đến hoạch định chính sách đối ngoại, cùng với đó là quan điểm về giá trị và vị thế của Australia trên thế giới Có thể nói, đây là công trình có nhiều ảnh hưởng trong nghiên cứu chính sách đối ngoại của Australia từ sau chiến tranh lạnh

Australia trong quan hệ với Châu Á– Thái Bình Dương có thể kể đến cuốn

Australia as an Asia Pacific regional power – Friendship in flux?

(Abingdon: Routledge, 2007) của tác giả Brendan Taylor - một chuyên gia về an ninh Đông Bắc Á, chính sách đối ngoại Mỹ, quản trị kinh tế và liên minh chính trị Trong cuốn sách này, Brenden Taylor xem xét sự thay đổi bản sắc và vai trò của Australia trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, với sự quan tâm đặc biệt đối với sự điều chỉnh, sắp xếp về an ninh và các mối quan hệ liên minh Tác giả thảo luận về cách thức Australia đối mặt với những thách thức an ninh mới, các vấn đề quan hệ quốc tế Châu Á–Thái Bình Dương trong mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực, chẳng hạn: Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia và Ấn Độ

Những quan điểm lý thuyết trong quan hệ quốc tế của Australia có thể kể đến

cuốn An Introduction to International Relations: Australian Perspectives (Cambridge:

Cambridge University Press, 2007) của các tác giả Richard Devetak, Anthony Burke, Jim George Đây là công trình nghiên cứu rất hữu ích nghiên cứu về lý thuyết, các nhân tố và các vấn đề trong quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI, dưới góc nhìn của các học giả Australia

Một công trình khoa học đáng chú ý gần đây là Bản báo cáo “Australia: Background and U.S Relations” (Congressional Research Service) của hai chuyên gia đối ngoại Châu Á là Bruce Vaughn và Thomas Lum, tháng 12 năm 2015 Bản báo

Trang 15

cáo đã khảo sát chi tiết mối quan hệ đối ngoại của Australia và các quốc gia cũng như vùng lãnh thổ quan trọng, trong đó nhấn mạnh những đối tác chiến lược như Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc Trong đó điểm qua chính sách đối ngoại của Australia từ trong lịch sử và đi sâu phân tích những định hướng đối ngoại quan trọng những năm đầu thế kỉ XXI Ưu điểm của bản báo cáo này chính là cập nhật nhanh chóng những dấu mốc quan hệ quốc tế, cho thấy rõ chuyển biến trong chính sách của Australia Ngoài những công trình nghiên cứu tiêu biểu, rất nhiều bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Australia cũng cho thấy mức độ quan tâm của Australia đối với Châu Á – Thái Bình Dương, điển hình có bài phát biểu của Ngoại trưởng Kevin Rudd tại

Washington tháng 3/2011 về thế kỷ Châu Á – Thái Bình Dương: Australian Foreign

Policy and the Asia Pacific Century Giới cầm quyền Australia dường như thống nhất

quan điểm cho rằng Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực chiến lược đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển và nâng cao vị thế của Australia ngày nay

• Ở Việt Nam

Hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Australia,

chủ yếu trong mối quan hệ với Đông Nam Á Điển hình là cuốn sách Quan hệ của

Australia với Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (Nxb Giáo dục,

1999) của tác giả Đỗ Thị Hạnh Đây có thể nói là xem là công trình tiên phong trong nghiên cứu về chính sách đối ngoại Australia đối với Đông Nam Á tại Việt Nam Tác giả cung cấp cái nhìn toàn diện về lịch sử mối quan hệ Australia với Đông Nam Á từ sau 1945, phân tích khá rõ nét về chính sách đối ngoại của Australia đối với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á qua các thời kỳ, cùng với đó đã đưa ra những cơ sở

dụ báo, tác động hướng đến phát triển mối quan hệ hai chiều này trong tương lai

Tiếp theo có thể kể đến cuốn Chính sách của Australia đối với ASEAN (1991-

đến nay): thực trạng và triển vọng (Nxb Khoa học xã hội, 2004) của tác giả Vũ Tuyết

Loan Trong sách này, tác giả phác họa quan hệ Australia đối với các quốc gia ASEAN, với điển hình là các quốc gia: Campuchia, Indonesia, Malaysia, Singapore

và Việt Nam Đây là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về

Trang 16

toàn bộ mối quan hệ của Australia – ASEAN (với tư cách là một tổ chức) và Australia với các nước thành viên của ASEAN, đồng thời đánh giá về mặt khoa học

và thực tiễn mối quan hệ hai chiều này, qua đó đưa ra những nhận định về triển vọng quan hệ giữa Australia và ASEAN thời gian sắp tới

Cuốn Nghiên cứu về Australia (Nxb Giáo dục, 1999) do Bùi Khánh Thế (chủ biên), và Đường vào Australia (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999) của nhiều tác giả

là hai tập sách tập hợp các bài phân tích, nghiên cứu về Australia trên nhiều bình diện Đáng chú ý là các bài viết “Australia và chiến lược Châu Á– Thái Bình Dương trong thập niên 90” tác giả Trần Tịnh Đức, “Australia nhìn về Đông Nam Á” của Nguyễn Tấn Đắc, “Mục tiêu trở thành quốc gia Châu Á– Thái Bình Dương của Australia – nhìn từ góc độ lịch sử và quan hệ Australia – Châu Á” tác giả Đỗ Thị Hạnh đều đề cập đến chính sách đối ngoại của Australia đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương Gần đây nhất, trong Hội thảo khoa học “Nước Úc – con đường hội nhập Châu Á”, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những nhận định sâu sắc về Australia trong quá trình khẳng định vị thế trung cường tại Châu Á, trong đó bài nghiên cứu “Châu Á trong chính sách đối ngoại của Australia – lịch sử và hiện tại” của tác giả Trần Nam Tiến đã cung cấp cái nhìn đầy đủ về lựa chọn của Australia trên con đường trở thành “một phần của Châu Á”, những thành tựu và hạn chế của quá trình triển khai chính sách hướng Á của Australia qua các giai đoạn lịch sử

Những công trình nghiên cứu trên đây chỉ là một phần trong nguồn tài liệu phân tích khá chi tiết, đầy đủ quan hệ giữa Australia và Đông Nam Á, Châu Á– Thái Bình Dương theo chiều tác động chủ yếu từ Australia trên nhiều phương diện như ngoại giao, chính trị, an ninh – phòng thủ, kinh tế Mặc dù vậy, hầu hết những công trình này tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XX, những nghiên cứu mối về chính sách đối ngoại Australia đối với Châu Á– Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI một cách đầy đủ và hệ thống thì chưa có tài liệu tiếng Việt thực hiện

Có chăng cũng là những bài nghiên cứu thể hiện quan điểm với lượng thông tin còn hạn chế Mỗi giai đoạn lịch sử với nhà lãnh đạo khác nhau đều có những dấu ấn và điều chỉnh nhất định, tìm hiểu về chính sách đối ngoại Australia giai đoạn hiện nay

Trang 17

hẳn sẽ đóng góp một phần vào kho kiến thức về chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối ngoại Australia nói riêng, đây là động lực khiến người viết thực hiện

đề tài này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Chính sách đối ngoại của Australia

Giới hạn không gian: Khu vực Châu Á– Thái Bình Dương Cụ thể, người viết lựa chọn các quốc gia và khu vực lần lượt là Mỹ, Đông Bắc Á (Nhật Bản và Trung Quốc) và Đông Nam Á

Giới hạn thời gian: vì phạm vi đề tài không cho phép, người viết chỉ nghiên cứu những năm đầu của thế kỷ XXI, cụ thể từ 2001 đến nay, khi quan hệ quốc tế có nhiều biến động, cũng như những triển khai, điều chỉnh của Australia được thể hiện rõ nét hơn cả Giới hạn bình diện: phân tích dưới góc nhìn Quan hệ quốc tế

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

• Về mặt khoa học, đề tài nghiên cứu và phân tích chính sách đối ngoại mà

Australia đang thể hiện những năm đầu thế kỉ XXI, lấy trọng điểm là khu vực Châu Á– Thái Bình Dương Không dừng lại ở đó, đề tài đi sâu phân tích triển khai chính sách đối ngoại Australia với các quốc gia cụ thể, qua đó sẽ đánh giá lại quá trình hợp tác và có những phân tích, dự báo cho mối quan hệ trong thời gian sắp tới Đề tài cũng đóng góp một góc nhìn của người viết trong lĩnh vực Quan hệ quốc tế với trường hợp của Australia – quốc gia đang ngày càng có nhiều ảnh hưởng hơn nữa trong khu vực, có sự gắn bó sâu sắc hơn với Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng

• Về mặt thực tiễn, đề tài đem đến cho người đọc những hiểu biết cơ bản về

chính sách đối ngoại, cùng với đó là sự kết hợp giữa lý thuyết chính sách này và thực tiễn triển khai của Australia từ đầu thế kỷ XXI đến nay Đề tài cũng làm rõ mối quan

hệ giữa nguồn lực quốc gia và sức mạnh quốc gia trong thời đại mới, thời đại các quốc gia có những lựa chọn quyết định cho chiến lược phát triển của mình

Trang 18

Đề tài cũng cung cấp nguồn tư liệu cho những ai quan tâm và nghiên cứu đến chính sách đối ngoại Australia trong giai đoạn hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

• Phương pháp nghiên cứu: Trong đề tài này, người viết sử dụng phương pháp

lịch sử và logic, cùng các phương pháp so sánh, áp dụng các kiến thức kinh tế học, xã hội học, logic học, các lý thuyết trong quan hệ quốc tế nhằm làm sáng tỏ nhiều khía cạnh vấn đề Đối với từng chương mục khác nhau, trong hoàn cảnh cụ thể tôi áp dụng những phương pháp đặc thù, ví dụ nghiên cứu chính sách đối ngoại Australia qua các thời kỳ người viết sử dụng phương pháp phân kỳ lịch sử, với các chính sách quốc tế, người viết nhấn mạnh đến các tình huống…

• Nguồn tư liệu: các công trình nghiên cứu về Australia và Quan hệ quốc tế, các

bài báo khoa học trên tạp chí trong và ngoài nước, các website nghiên cứu về Australia

7 Bố cục đề tài

Nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra, đề tài gồm 3 phần chính như sau:

Chương 1 Cơ sở hình thành chính sách đối ngoại Australia

Trong chương này người viết đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn: hệ thống chính trị, quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Australia Phần thứ hai của chương phân tích các nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại Australia, phần ba đưa ra bức tranh khái quát về chính sách đối ngoại Australia trước thế kỷ XXI

Chương 2.Quá trình triển khai chính sách đối ngoại Australia đối với các cường quốc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Chương này đặt trong bối cảnh những năm đầu thế kỷ XXI, thể hiện nội dung chính sách đối ngoại Australia trên các lĩnh vực và đối tác, vấn đề cụ thể Với tôn chỉ

“thích ứng với thời đại”, Australia đã có những điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp với sự trỗi dậy của Trung Quốc.Tuy nhiên, quan hệ chiến lược với những đồng minh thân cận, đặc biệt là Mỹ, thì vẫn là ưu tiền hàng đầu.Người viết lựa chọn những

Trang 19

đối tác cụ thể là Mỹ, Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản) để làm nổi rõ thế chân kiềng trong quan hệ quốc tế phức tạp tại khu vực Những thay đổi trong chính sách đối ngoại Australia phụ thuộc rất lớn vào cục diện quan hệ quốc tế khu vực và thế giới, cũng như các nhiệm kỳ Thủ tướng của nước này

Chương 3.Chính sách đối ngoại của Australia đối với Đông Nam Á

Đông Nam Á mà đại diện là ASEAN là tổ chức khu vực gần gũi và có nhiều mối quan hệ trực tiếp nhất đến Australia, trong chương này tập trung phân tích chính sách đối ngoại của Australia với các quốc gia và nhóm quốc gia cụ thể, ưu tiên số một

là Indonesia, láng giềng trung cường tại khu vực, tiếp dến là nhóm các nước phát triển (Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei, Philippines) và đang phát triển (Campuchia, Đông Timor, Lào, Myanmar, Việt Nam), cùng với đó là đề cập đến chính sách của Australia với vấn đề nóng hiện nay là Biển Đông

Chương 4 Kết quả - triển vọng của chính sách đối ngoại Australia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương này đánh giá toàn bộ kết quả gồm thành tựu cũng như hạn chế trong chính sách đối ngoại Australia với các quốc gia trong khu vực, làm nổi bật vai trò của Australia sau khi thực hiện một loạt các chính sách đối ngoại, phân tích tác động của những hoạt động đối ngoại này trong quan hệ quốc tế: đối với Australia nói riêng và khu vực nói chung Chương 4 cũng dự đoán xu hướng chính sách của Australia trong thời gian tới, khi môi trường quốc tế có nhiều thay đổi Ngoài ra còn có một phần liên

hệ thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, không những trong vấn đề cấp thiết Biển Đông, mà còn là chiến lược trong chính sách đối ngoại trong bối cảnh khu vực đang trở nên nóng hơn bao giờ hết

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI AUSTRALIA 1.1 Quốc gia tầm trung Australia và đặc thù chính sách đối ngoại

1.1.1 Australia – quốc gia tầm trung

Australia là quốc gia có diện tích đứng thứ sáu toàn cầu (7,741,220 km2) [cia.gov; The World Factbook 2016], phần lãnh thổ chiếm đại đa số diện tích Châu Đại Dương và đây cũng là quốc gia lớn nhất nằm ở Nam bán cầu Các quốc gia láng giềng của Australia là Papua New Guinea, Indonesia và East Timor ở phía Bắc, Vanuatu và Solomon Islands phía Đông Bắc và New Zealand phía Đông Nam Australia là một quốc đảo, không có biên giới đất liền với các quốc gia khác Hiện nay, Australia nằm trong khu vực phát triển năng động bậc nhất thế giới là Châu Á – Thái Bình Dương

Hình 1 Vị trí Australia trên bản đồ thế giới1

Những cư dân đầu tiên xuất hiện tại đây khoảng 40.000 năm trước khi người châu Âu có cuộc khai phá Australia đầu tiên vào thế kỷ XVII Năm 1770, đại úy James Cook chính thức tuyên bố chủ quyền phần phía đông của vùng đất này cho nước Anh, sau đó những gì thuộc Australia được coi thuộc chủ quyền của Vương quốc Anh từ năm 1829 Trên cơ sở gắn kết lịch sử phát triển với Vương quốc Anh, vùng đất này đã triển mạnh mẽ và thành lập Liên bang Australia vào năm 1901 trên cơ

1 http://ontheworldmap.com/australia/australia-location-map.html

Trang 21

sở một cuộc trưng cầu dân ý và được sự đồng ý của Anh Từ khi thành lập Liên bang cho đến khi bùng nổ chiến tranh Châu Á – Thái Bình Dương (1941-1945) Australia chịu sự ảnh hưởng khá lớn của Anh Từ trong Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Australia dần tìm một sự ảnh hưởng khác đáng tin cậy hơn từ Hoa Kỳ

Trong những thập kỷ gần đây, Australia đã nắm bắt lợi thế quốc gia, từng bước vươn lên mạnh mẽ và đóng góp tiếng nói quan trọng trong khu vực phát triển nhanh nhất của nền kinh tế thế giới Châu Á – Thái Bình Dương Với dân số khoảng 22,751,014 người, xếp thứ 56 trên toàn thế giới (Tính đến tháng 6/2015) [The World Factbook 2016], những mối quan tâm dài hạn hiện nay của chính phủ là vấn đề dân số,

áp lực lên cơ sở hạ tầng, và các vấn đề môi trường và khủng bố Australia hiện là lục địa có người ở khô cằn nhất trên trái đất, làm cho nó đặc biệt dễ bị tổn thương với những thách thức của biến đổi khí hậu Không những thế, quốc gia rộng lớn không có đường biên giới đất liền này dường như cũng là một “châu lục cô đơn” trước những thách thức trong quan hệ quốc tế Xét về mặt địa lý, lãnh thổ, Australia là một quốc gia “khá lớn”, còn trong quan hệ quốc tế, vị trí của Australia hiện nay, đó là được xem xét như một quốc gia “tầm trung” tại khu vực

Trong quan hệ quốc tế, xưa nay các học giả nghiên cứu thường đưa ra khái niệm rạch ròi “nước lớn” trong đối sánh với “nước nhỏ, yếu” dựa trên các nguồn lực quốc gia Các thành tố thường được sử dụng để làm tiêu chuẩn phân tầng quốc gia, đó là: dân cư, lãnh thổ, quân sự, kinh tế, công nghệ và các yếu tố tinh thần của một quốc gia [Hoàng Khắc Nam 2011:11] Quốc gia nào càng sở hữu nhiều những yếu tố nguồn lực trong đối sánh với các quốc gia khác, hẳn nhiên được coi là có quyền lực hơn.Tuy nhiên, quan hệ thế giới ngày càng phức tạp, và khi quá trình toàn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, sự đa dạng của các quốc gia ngày càng tăng,các nguồn lực mà họ

có có thể sẽ lớn hơn một số quốc gia, nhưng vẫn chưa đủ tầm để so với các quốc gia nổi bật lên hẳn, hơn nữa, hành vi và bản chất của họ trên trường quốc tế trở nên phức tạp hơn, không thuộc cả hai nhóm nước trên Đây chính là tiền đề cho việc hình thành

lý thuyết về “quốc gia tầm trung” (middle power), hay còn gọi là “trung cường”, được các học giả, chính khách Australia và Canada xây dựng vào khoảng cuối thập niên

1980, đầu thập niên 1990 Sự phát triển nghiên cứu về các trung cường đưa ra hai cách

Trang 22

phân loại các quốc gia trong nhóm này

Thứ nhất, đó là dựa trên các thước đo năng lực, sức mạnh quốc gia (sức mạnh cứng và sức mạnh mềm), như chỉ số tổng sản phẩm quốc gia (GNP)/tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lợi thế cạnh tranh về kinh tế, sức mạnh quân sự, diện tích lãnh thổ, dân số tài nguyên thiên nhiên, sức hấp dẫn của văn hóa và mô hình chính trị, vị trí địa chính trị – địa kinh tế, uy tín/ảnh hưởng quốc tế (vị trí/ưu tiên trong chính sách đối ngoại của các nước khác, đặc biệt là các nước lớn)…[Vũ Lê Thái Hoàng – Lê Linh Lan 2014] Hiện nay, các quốc gia có xu hướng kết hợp sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, hình thành nên sức mạnh thông minh (smart power – khái niệm do J.S Nye đưa ra)

Thứ hai, thay vì lấy “lượng và nguồn lực” quốc gia, các nhà nghiên cứu đi sâu

dựa trên kiểu hành vi/chính sách đặc thù của quốc gia, đặc biệt là ưu tiên sử dụng

phương thức ngoại giao đa phương trong chính sách đối ngoại Điều này được thể

hiện qua các tổ chức hoặc cơ chế hợp tác vượt ngoài lãnh thổ quốc gia mà quốc gia đó đang tham gia, mức độ tham gia của quốc gia trên những vấn đề quốc tế, khả năng đóng góp cho các vấn đề toàn cầu, hay thậm chí là khả năng ảnh hưởng, tác động như thế nào đến các nước lớn

Cả hai cách phân loại đều có những tính toán nhất định, tuy nhiên, theo cách thứ nhất sẽ cho chúng ta hình dung ban đầu về một bức tranh toàn cảnh của một quốc gia, nguồn lực mà quốc gia có, tiềm năng mà quốc gia có thể đạt đến Còn cách thứ hai, sẽ cho thấy rõ hơn, đường đi nước bước, tính toán của quốc gia về mặt chiến lược, quốc gia sẽ có những động thái cụ thể nào với nguồn lực mình đang có Từ đây có thể nói, nếu coi năng lực, sức mạnh quốc gia là lớp vỏ, thì chính “hành vi và chính sách” của quốc gia đó, chính là nội dung bên trong, tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh hình thành nên quốc gia tầm trung Các quốc gia ngày nay, đều có xu hướng, tích cực phát huy sức mạnh thông minh, điều chỉnh hành vi để có thể khắc phục những hạn chế về

“lớp vỏ” của họ, mà điều này, thường rất khó thay đổi Có thể thấy, ngày nay, thuật ngữ “quốc gia tầm trung” phổ biến dùng để mô ta những quốc gia mặc dù không có địa vị nước lớn, nhưng họ lại có những ảnh hưởng quốc tế đáng kể Họ phát huy thế mạnh của mình ở tầm khu vực, các diễn đàn họ tham gia Do vậy, các trung cường này

Trang 23

có xu hướng theo đuổi các giải pháp đa phương trong các vấn đề quốc tế, hướng đến hợp tác đối thoại, trên một hình mẫu “công dân quốc tế” Vì không đóng vai trò là quốc gia áp đặt hay quyết định luật chơi hay cục diện trong quan hệ quốc tế, họ mong muốn một khu vực cũng như môi trường toàn cầu mang tính ổn định lâu dài Các quốc gia tầm trung luôn muốn hướng đến trật tự thế giới không có nhiều xáo trộn, ảnh hưởng tiêu cực về an ninh, chính trị

Theo tiêu chí phân loại trên, có thể coi Australia là quốc gia được quốc tế thừa nhận là một quốc gia tầm trung ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Về sức mạnh, Australia là quốc gia quần đảo lớn trong khu vực, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, diện tích lớn thứ sáu trên toàn thế giới (7,741,220 km2), dân số khoảng 23 triệu người, xếp thứ 56 trên hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Tổng GDP tính đến 2015 là 1.241 tỉ USD, xếp thứ 19 toàn thế giới GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 65.400 USD [The World Factbook 2016], xếp thứ 14 toàn thế giới Australia đóng vai trò chủ động, tích cực trong các tổ chức kinh tế lớn như Tổ chức Thương mại thế giới, APEC, Nhóm G20 và nhiều diễn đàn khác Ngoài ra, duy trì mối quan hệ bang giao hữu hảo với các quốc gia trong khu vực cũng như những cường quốc trên thế giới như Mỹ, Nhật, Trung Quốc khiến ảnh hưởng của Australia trong khu vực và toàn cầu không hề nhỏ

Quá trình bang giao của Australia cũng thể hiện rõ hành vi/chính sách của một trung cường, ưu tiên đẩy mạnh ngoại giao mang tính chiến lược, dài hạn, tăng cường ngoại giao đa phương trên nền tảng tư tưởng độc lập, tự chủ và tự cường quốc gia, tự cường khu vực, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại Trong một cuộc phỏng vấn Bộ trưởng ngoại giao Alexander Downer, quan điểm trung cường được ông nhấn mạnh, Australia là một quốc gia “không kích động”, “chúng ta là một trung cường với khả năng gây ảnh hưởng tới những sự kiện Chúng ta phải tạo nên lối đi riêng trong khi các quốc gia khác thì không.” [Alexander Downer 1999] Một trong những thể hiện rõ nhất cho đường lối đối ngoại đặc biệt này là kế hoạch “Hướng về châu Á” Minh chứng cho quyết tâm này, phía Australia dưới thời Thủ tướng Paul Keating có rất nhiều nỗ lực nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Thành công của APEC được nhìn nhận như một tiến triển đáng kể nhằm

Trang 24

phục vụ lợi ích của các bên tham gia, đưa nền thịnh vượng an ninh khu vực lên một tầm cao mới Đối thoại, hợp tác được đẩy mạnh giữa Australia và các quốc gia trong khu vực Đặc biệt, riêng với khu vực láng giềng lân cận ASEAN, Australia còn tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn ASEAN – Australia, Chương trình Kinh tế ASEAN – Australia (AAECP)…

Đến thời kỳ cầm quyền của Thủ tưởng John Howard, thì Australia cho dù có uyển chuyển điều chỉnh từ “Hướng về châu Á” sang “Trở về với phương Tây”, họ vẫn giữ thái độ hợp tác tích cực, đóng vai trò người hòa giải, kêu gọi hợp tác đa phương với các quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề toàn cầu Như cựu Thủ tướng John Howard từng nói “Lợi ích quốc gia của Australia không bao giờ có được nếu ngoảnh mặt đi trước hiện thực của quốc tế hoặc tách mình ra khỏi khu vực” [Vũ Tuyết Loan 2004: 294]

1.1.2 Những nhân tố bên trong tác động đến chính sách đối ngoại

Australia

Theo định nghĩa, Chính sách đối ngoại (Foreign Policy) là những chiến lược có lợi cho quốc gia (self-interest strategies) được lựa chọn bởi quốc gia nhằm “bảo vệ” quyền lợi quốc gia và đạt được những thành tựu trong quan hệ quốc tế đó.1 Trên chuyên trang từ điển Cambridge cũng thể hiện rất rõ rằng, chính sách đối ngoại của một chính phủ nhằm “đối phó” với những quốc gia khác, chẳng hạn vấn đề liên quan đến Thương mại hoặc Phòng thủ.2 Nhà hoạch định chính sách Allan Gyngell của Australia cho rằng, chính sách đối ngoại, chính là phần mở rộng chính sách liên quan đến thế giới bên ngoài [Allan Gyngell, Michael Wesley 2007: 8] Hay như khái niệm của giáo sư Đại học Yale, ông John Lewis Gaddis thì, chính sách đối ngoại chính là việc là sáng tạo “một môi trường quốc tế dẫn truyền đến lợi ích quốc gia” [John Lewis Gaddis 2002] Qua đó, có thể thấy, chính sách đối ngoại của quốc gia là tất cả những chiến lược, những gì quốc gia có thể làm, với mục tiêu tối thượng là bảo vệ lợi ích quốc gia Để thực hiện định luật Bảo toàn lợi ích của quốc gia khi tham gia cuộc chơi quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia đều dựa vào tiềm lực, đặc điểm của mình, từ đó hoạch định những chính sách đối ngoại thích hợp Australia cũng không nằm ngoài số đó

1 https://en.wikipedia.org/wiki/Foreign_policy truy cập 15/05/2016

2 http://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/foreign-policy , truy cập 15/05/2016

Trang 25

Những nhân tố quan trọng quyết định đến chính sách đối ngoại của họ được thể hiện trong phân tích dưới đây

Nhiều nhà nghiên cứu trước đây đều nhất trí những nền tảng căn bản của chính sách đối ngoại của Australia bao gồm (1) Tính chất TBCN của hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội Australia (2) Đặc thù địa lý – dân cư dẫn đến yếu tố tiên quyết là giữ An ninh – phòng thủ của một quốc gia lẻ loi, đơn độc [Đỗ Thị Hạnh 1999: 24] [Vũ Tuyết Loan 2004: 18] Những luận giải này được đưa ra có căn cứ khoa học và rất hợp lý Tuy vậy, người viết xin phép được đưa ra một cách nhìn mới, dựa trên hiểu biết của người viết, xin thay đổi vị trí nền tảng chính sách đối ngoại này của Australia Có nghĩa là, khi nói điều gì quy định chính sách đối ngoại của Australia từ trước đến nay, người viết cho rằng, yếu tố cần đề cập trước tiên là Vấn đề địa chính trị của Australia Sau đó, mới đến tính chất nhà nước đó Bởi vì, chính yếu tố chính trị này, dẫn đến khả năng phòng thủ kém của Australia, ngoài ra, đây là cơ hội để thực dân phương Tây tiếp cận và gây ảnh hưởng lớn đối với Australia Phân tích dưới đây sẽ làm rõ hai yếu

tố quy định chính sách đối ngoại Australia

Đây là một quốc gia KHÁ ĐƠN ĐỘC

Như đã đề cập ở trên, Australia như “con cừu béo bở mà cô đơn” tại lục địa của mình, mỏng manh và luôn tồn tại khả năng bị tổn thương, như Werner Levery đã nhận xét “Trong tất cả các cuộc thảo luận của Australia về quan hệ đối ngoại, thường xuyên

có một mối quan hệ ngấm ngầm…Nỗi lo ngại đó là chủ đề xuyên suốt trong lập luận của Australia về chính sách đối ngoại và người Australia không bao giờ thiếu một kẻ xâm lăng tiềm ẩn” [Thông tấn xã Việt Nam, TLTKĐB 2002: 4] Kẻ xâm lăng tiềm ẩn

mà ông đề cập, phải chăng đó là sự lẻ loi, cô độc tại châu lục Người Australia thường diễn đạt về mình bằng cụm từ “tình thế lưỡng phân về bản sắc” (dilemma of identity), đây là tình trạng dẫn đến cảm giác lẻ loi, cô độc, đầy lo sợ của họ giữa một cộng đồng khác biệt quá căn bản, điều này dẫn đến tình trạng Australia có mối quan hệ đầy khó khăn, bất trắc, va chạm và xung đột giữa Australia với các nước châu Á [Đỗ Thị Hạnh

1999 (1): 220] Do đó, họ, một quốc đảo lớn với lãnh thổ thuộc Châu Á – Thái Bình Dương, nhưng lại chịu ảnh hưởng văn hóa, chính trị từ phương Tây vì cho rằng mình không thể dung hòa tại châu Á Từ đó lại dẫn đến tình trạng tiếp nối sự lẻ loi, cô độc

Trang 26

và tâm thế “ngoại lai”, “bất an” luôn thường trực trong quá trình tồn tại và phát triển của họ Do đó, tâm lý được bảo vệ, luôn cần một “người bảo hộ” [Đỗ Thị Hạnh 1999 (2): 25] trong quá trình phát triển của Australia là điều đương nhiên Tâm lý này luôn thường trực và nhiều khi tạo nên một áp lực rất lớn cho các nhà hoạch định chính sách

về con đường mà nước Úc lựa chọn, một sự thất bại là điều rất kinh khủng, Thủ tướng Paul Keating từng nhấn mạnh “Nếu chúng ta không là những người “làm ra” chính sách đối ngoại, thì chúng ta sẽ phải kết thúc như những kẻ chỉ “nhận lấy” chính sách đối ngoại”[Paul Keating 2002] Do đó, ý chí được an toàn và bảo đảm sẽ là nhân tố quyết định hàng đầu cho chính sách của Australia

Mối liên hệ chặt chẽ với các quốc gia “bảo hộ”

Australia là quốc gia của những người thổ dân, được những người ngoại bang khai phá và “giới thiệu” ra toàn thế giới Lãnh thổ tự nhiên của Australia vốn được đánh dấu bởi những thổ dân, sau đó có sự xuất hiện của những người Anh Với các đặc điểm địa chính trị tạo nên một quốc gia đơn độc và lẻ loi, với mật độ dân số thấp, cảm giác bất an luôn tồn tại trong quốc gia này Sự dòm ngó từ các quốc gia mạnh hơn lúc bấy giờ cộng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành nên Liên bang Australia vào năm 1901 Từ đó, nền văn hóa trộn lẫn giữa sắc màu bản địa và quá trình khai phá của người da trắng cộng với tâm lý “bất an” song hành phát triển Cho đến cuối thế kỷ XX, đánh dấu bởi chiến tranh thế giới thứ hai, Australia sau một thời gian dài nhờ bóng bảo hộ của người Anh, đã đến lúc nhận ra Anh không thể đảm bảo hoàn toàn cho một Australia bình yên ngoài chiến tranh thế giới Năm 1942, khi nước Nhật tham vọng bành trướng châu Á-Thái Bình Dương, đụng chạm đến quyền lợi của Anh tại Đông Nam Á, ném bom xuống Darwin, Broom và có đe dọa nhất định đến Sidney của Australia, đã thay đổi cách nhìn của Australia về thế giới Australia đã thấy rằng cần phải tìm một ông lớn bảo hộ chắc chắn hơn Sự lựa chọn lần này là Mỹ, một quốc gia đầy tham vọng khi nhảy vào nửa cuối thế chiến hòng trục lợi và gây ảnh hưởng Sự bảo hộ của người Mỹ được thể hiện rõ ràng ở Australia từ cuối thế chiến hai cho đến tận những năm đầu thế kỷ XXI, chỉ là màu sắc đậm nhạt có khác đi mà thôi Vì chính Australia sau một lần “dung con mắt của người Anh” để theo dõi chiến sự quốc tế, thì cũng nhận ra rằng sau cùng họ nên đảm bảo an ninh và

Trang 27

tự quyết an ninh ngay trên chính lãnh thổ của mình Australia tích cực tham gia các tổ chức nhằm xây dựng cơ chế phòng thủ chắc chắn hơn, ví dụ năm 1954, Australia tham gia SEATO Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á

Có thể thấy, chính sách đối ngoại Australia được quyết định bởi (1) đặc điểm địa – chính trị quốc gia, sự lẻ loi, đơn độc và khả năng phòng thủ yếu; (2) mối liên hệ chặt chẽ với các quốc gia bảo hộ

Chính hai yếu tố này đã hình thành nên một Australia với những tôn chỉ nhất định khi thực hiện chính sách đối ngoại

1.1.3 Quá trình hình thành chính sách đối ngoại trong hệ thống

chính trị

Với vị trí của một quốc gia tầm trung, Australia nỗ lực giữ cân bằng (ở mức cao nhất có thể) trong quan hệ với các nước lớn và đóng góp vào duy trì sự cân bằng quyền lực giữa các nước lớn Từ khi hình thành quốc gia, “việc cấy ghép các ý tưởng

và thể chế xã hội của Anh, sự tồn tại lâu dài của Anh sau khi các thuộc địa của Australia giành được chính quyền tự trị, sự tôn trọng văn hoá Anh liên tục trong thế

kỷ XX, kể cả văn hóa Mỹ sau đó, cả hai tác động này luôn khiến những người Australia kích động và điên cuồng tập trung vào việc tìm kiếm độc lập và bản sắc dân tộc [Joan Beaumont 2003: 2]”, không những thế, họ còn nhận thức được tầm quan trọng của việc thúc đẩy, mở rộng các khái niệm mới về an ninh như an ninh phi truyền thống, an ninh con người, an ninh hợp tác, an ninh toàn diện…; phát triển các nguyên tắc, sáng kiến an ninh đa phương; thúc đẩy thể chế hóa đối thoại, liên kết chặt chẽ giữa giới tinh hoa hoạch định chính sách và thành phần học giả, các nhà nghiên cứu Với định vị về chính sách đối ngoại như trên, thì đường hướng chính sách của Australia trở nên rõ ràng hơn, khi thực thi với một bộ máy hoàn chỉnh và độc lập về ngoại giao

Bộ thương mại và Bộ Ngoại giao Australia là hai trong số những Bộ đầu tiên của Khối thịnh vượng chung khi nó ra đời Sau gần chín mươi năm, hai bộ này hợp nhất năm 1987, được gọi là Bộ Ngoại giao và Thương mại

Tiền thân Bộ Ngoại giao là Department of External Afairs, ra đời ngày

Trang 28

1/1/1901 Từ tháng 11/1916 được gọi là External Affairs thuộc quản lý của Văn phòng Thủ tướng Mọi hoạt động ngoại giao của Bộ Ngoại giao Australia lúc này đều phụ thuộc Văn phòng ngoại giao Anh, Đến 1940, Australia mới có hoạt động chính thức của mình ngoài London, tại Washington D.C Giờ đây, mạng lưới Bộ Ngoại giao phủ khắp toàn cầu 80 Văn phòng ngoại giao và 22 đại diện cơ quan thương mại.Bộ Thương mại ra đời ngày 17/1/1901, với tên gọi Bộ Thương mại và Hải quan (Department of Trade and Customs), ngày 11/3/1983 đổi tên thành Bộ Thương mại (Department of Trade) Từ ngày 24/7/1987 hai Bộ Ngoại giao và Thương mại hợp nhất, gọi thành Bộ Ngoại giao và Thương mại (Department of Foreign Affairs and Trade1

Người đứng đầu Bộ Ngoại giao và Thương mại là Bộ trưởng phụ trách Ngoại giao và Thương mại, sẽ báo cáo trực tiếp cho Thủ tướng Phần chính yếu của một tuyên bố về chính sách đối ngoại, do hai vị Bộ trưởng chuyên trách về hành chính của

Bộ Ngoại giao và Thương mại đề xuất, đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại,

và Bộ trưởng Bộ phát triển Thương mại và hải ngoại, hỗ trợ cho những vị này ngoài ra còn có Bộ trưởng phụ trách Phát triển quốc tế và các vấn đề Thái Bình Dương Hỗ trợ cho hoạt động của Bộ trưởng là Thư ký Quốc hội Các quan chức khác của Bộ còn có

Bộ trưởng Du lịch và giáo dục quốc tế cùng với Trợ lý quản lý Thương mại và Đầu tư

Bộ Ngoại giao và Thương mại bao gồm các cơ quan Quản lý vấn đề ở nước ngoài, về Thương mại, An ninh chính trị cũng như Giáo dục, Du lịch, những vấn đề toàn cầu Ngoài các cơ quan đại diện Bộ ngoại giao và Thương mại, Australia còn có những cơ quan chuyên trách với từng quốc gia cụ thể, chẳng hạn Viện nghiên cứu Australia – Indonesia, Quỹ Australia – Hàn Quốc, Quỹ Australia – Nhật Bản…

Các vấn đề quan trọng thường được đem ra thảo luận trong Nội các, trên cơ sở chấp thuận của Thủ tướng Những cuộc thảo luận còn nhận được sự tham vấn của các

vị bộ trưởng khác về vấn đề chuyên môn, chẳng hạn Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nhập cư…Quá trình tham khảo ý kiến này nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác, giảm áp lực lên các vị bộ trưởng Rõ ràng, Bộ Ngoại giao và Thương mại có quyền đưa ra các quyết định quan trọng, đảm bảo cho hoạt động quốc tế được trơn tru, nhưng

1 Website Bộ ngoại giao Australia: http://dfat.gov.au/about-us/department/pages/our-history.aspx

Trang 29

mọi quyết định phải được thông qua bởi một kênh quan trọng: Thủ tướng

Các Thủ tướng Australia rất lưu tâm đến vấn đề đối ngoại, những thay đổi trong quan hệ quốc tế, điển hình là đề nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, vận động chống khai thác mỏ và khoan dầu ở Nam Cực, hay Sáng kiến khu vực về vũ khí hóa học của Australia là ba điển hình quan trọng cho những sáng kiến

về chính sách đối ngoại, mà Thủ tướng chính là người khởi xướng

Trên thực tế, Australia có một hệ thống chính trị dựa trên “ảnh hưởng” của các quốc gia phương Tây về văn hóa, cấu trúc và giá trị chính trị mang tính dân chủ phương Tây điển hình Có lẽ vì vậy mà những chính sách đối ngoại của Australia đều

đi chung một con đường, hướng mình đến mối quan hệ chặt chẽ với các quốc gia tư bản phương Tây, phát triển chế độ tư hữu và duy trì nền kinh tế thị trường, trên đường ray phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa Quan sát tình hình chính trị ở Australia, các cuộc bầu cử có kết quả là hai Đảng chủ chốt thay phiên nhau cầm quyền, đó là Đảng Lao động và Đảng Liên minh với một nhóm chính thức của Đảng Tự do và đối tác nhỏ của mình, Đảng Quốc gia Trong văn hóa chính trị Australia, Liên minh được coi là trung hữu và Đảng Lao động được coi là trung tả Những quyết định trong chính sách Chính phủ đều phụ thuộc rất lớn vào những nhà lãnh đạo, thuộc Đảng Lao động hay Liên minh Nhưng cho dù là Công đảng (Đảng Lao động – Labour Party) hay đảng Tự do – Quốc gia (Liberal – National Party) thì họ vẫn cho thấy sự thống nhất trong đường lối đối ngoại, gắn chặt với sự phát triển bản chất tư bản chủ nghĩa, từ đó ủng hộ tích cực cho tư bản chủ nghĩa trên thế giới Như Giáo sư Đại học tổng hợp Sydney, J.R.Angel đã nhận định “…hầu như chẳng có gì đáng ngạc nhiên về việc Australia đóng vai trò một loại quốc gia nguyên trạng (status quo power) trong cộng đồng thế giới, về căn bản nó ủng hộ cho phương Tây (Tư bản chủ nghĩa – Thế giới) thống trị hệ thống kinh tế và chính trị quốc tế…Nỗ lực của Australia được hướng về phía điều chỉnh hệ thống quốc tế này sao cho đáp ứng được những nhu cầu thay đổi, chứ không phải là đối đầu với hệ thống ấy hoặc ủng hộ cho sự thay đổi có tính cấp tiến Những thách thức có tính cấp tiến đối với hệ thống này, chẳng hạn, nảy sinh từ cách mạng vô sản hoặc từ các lực lượng cách mạng dân tộc chống thực dân nhìn chung được Australia nhìn nhận là chống lại lợi ích của cả cộng đồng thế giới lẫn của

Trang 30

Australia” [J.R.Angel 1984: 8-25]

Theo Gareth Evans, chính sách đối ngoại có ba mặt: (i) Chính trị – mặt này thể hiện qua vai trò của bộ trưởng ngoại giao, sự sắp xếp nhân sự trong guồng máy, bắt đầu từ thủ tướng có vai trò tác động, khuyến cao hoặc trực tiếp hướng dẫn (ii) Lĩnh vực ngoại giao chuyên nghiệp – đây là hoạt động của các nhà ngoại giao, ngoại giao truyền thống và luôn giữ tầm quan trọng trong chính sách đối ngoại (iii) Ngoại giao diện rộng: là ngoại giao tuyến 2, ở Việt Nam gọi là ngoại giao nhân dân hay ngoại giao quần chúng, cách gọi này phân biệt với phần truyền thống thuộc về nhà nước ở (i) và (ii) Mặt chính trị của chính sách đối ngoại là chính sách đối ngoại trong nội các chính phủ [Gareth Evans - Bruce Grant 1999: 71] Chính sách đối ngoại được quyết định chủ yếu bới những nhà cầm quyền (số ít tinh hoa – cá nhân)

Phần chính yếu của một tuyên bố về chính sách đối ngoại do hai vị Bộ trưởng chuyên trách về hành chính của Bộ ngoại giao và thương mại đề xuất: Bộ trưởng Bộ ngoại giao và Thương mại, Bộ trưởng Bộ phát triển Thương mại và hải ngoại

Những khi có biến cố dồn dập (chỉ một số ít vấn đề là được giao cho toàn thể nội các hoặc một ủy ban đặc trách để thảo luận kỹ lưỡng dựa trên cơ sở của các tuyên

bố chính thức trước đây đã phổ biến Đôi khi các vấn đề còn được bàn bạc một cách kín đáo trong nội các, không phải dưới sự chỉ đạo chính thức mà trên cơ sở của sự chấp thuận của Thủ tướng

Các vấn đề cũng được tham vấn với các bộ trưởng khác, tham khảo ý kiến thông qua thông báo, trò chuyện, họp chính thức hoặc không chính thức Sự hợp tác chặt chẽ giữa các bộ, các nhà hoạch định chính sách, bao gồm Thủ tướng, và các Bộ trưởng Mỗi khi có cá nhân nào lên nắm quyền (Thủ tướng) kéo theo sự thay đổi một loạt cách chính sách ngoại giao, tuy vậy, một chân lý không hề thay đổi, đó là các chính sách xoay quanh trục đảm bảo an ninh phòng thủ cao nhất cho Australia theo bối cảnh quốc tế tại thời điểm đó, và cố gắng tạo dựng mối quan hệ quốc tế theo hướng thuận lợi cho Australia phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa

Trang 31

1.2 Nhân tố bên ngoài tác động đến chính sách: Bối cảnh quốc tế và khu

vực đầu thế kỉ XXI

Bức tranh phát triển của thế giới những năm đầu thế kỉ XXI rực rỡ sắc màu và cũng đầy biến động Điều này chắc hẳn tác động không nhỏ đến Australia Từ rất lâu trước đó, đầu thế kỉ XX, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Australia Hughes đã thừa nhận

“Bối cảnh quốc tế hiện đại là một trong những điều kiện đáng lo ngại và phức tạp, với

sự gia tăng khoa học ứng dụng, sự phát minh các giai đoạn xã hội và đời sống kinh tế,

và với sự gia tăng liên tục của giao tiếp, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia là điều khiến cho không quốc gia nào có thể tập trung hoàn toàn vào các vấn đề đối nội” [W.M.Hughes 1936-1937], rằng thế giới bên ngoài mà mỗi quốc gia vận hành quan hệ quốc tế trong đó, đều tác động không nhỏ đến chính sách, cách hành xử của quốc gia Australia là một trung cường, và cũng không nằm ngoài xu thế ấy Những biến đổi trong khu vực và quốc tế đều là một mắt xích Từ những đột phá trong khoa học công nghệ, sự phát triển đến không thể ngờ của các đầu đạn hạt nhân, bước tiến kinh tế của những quốc gia châu Á, cho đến những cuộc khủng bố đẫm máu, hay các cuộc chiến tranh vì dầu mỏ đều là một cú hích

Điểm lại những tác động này, ta thấy được những vấn đề nổi bật nhất gây ảnh hưởng đáng kể cho chính sách đối ngoại Australia gồm có:

1.2.1 Sự phát triển thần tốc của khu vực Châu Á – Thái Bình

Dương

Thế giới ngày nay phát triển hết sức nhanh chóng, có lẽ đúng với các quốc gia châu Á, sự tăng tốc thần kỳ của các khu vực kinh tế năng động tạo nên một thế giới mới hài hòa hơn, sức cạnh tranh cao và cuộc chạy đua cũng trở nên khốc liệt hơn Hơn bao giờ hết, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang là một điểm nóng với sức hấp dẫn rất lớn Về an ninh quân sự, như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panette tuyên

bố, Mỹ sẽ “tái cân bằng cần thiết hướng tới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”, và

“vào năm 2020 từ mức chia xấp xỉ giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương sẽ thành mức 60/40 thay vì 50/50 [Ely Ratner 2013: 21-38]” Ngoại trưởng Mỹ Hillay Clinton còn nhấn mạnh, Mỹ sẽ “xây dựng một mạng lưới các quan hệ đối tác và các thể chế trên khắp Thái Bình Dương, lâu bền và phù hợp với các lợi ích và giá trị của Mỹ như

Trang 32

mạng lưới chúng ta đã xây dựng ở khắp Đại Tây Dương”[Hillary Clinton 2011] Qua

đó có thể thấy tầm quan trọng của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong thế kỉ mới Sự phát triển năng động hay những quyền lực đang trỗi dậy khiến khu vực này ngày càng phức tạp Nhưng cũng chính vì thế mà xu hướng ngoại giao của thế giới hiện nay là ủng hộ một cơ chế ngoại giao đa phương để một thế giới đa cực, nơi mà các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia tầm trung được thể hiện tiếng nói của mình trong quan hệ quốc tế một cách rõ ràng hơn

Trong Sách trắng 2000, chính phủ Australia cũng đề cập đến khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với những điểm cốt lõi sau:

Mặc dù kinh tế vẫn đối mặt với nguy cơ suy thoái trong từng thời kỳ, khu vực châu Á Thái Bình Dương dường như vẫn là khu vực năng động trong thế giới trong vài thập kỷ tới Tăng trưởng kinh tế là nền tảng xây dựng sự ổn định Bên cạnh

đó những căng thẳng trên các mối quan hệ cũ vẫn tiềm ẩn, nhiều kỳ vọng mới và cả cám dỗ xuất hiện bên trong khu vực dường như vô cùng phức tạp

Vấn đề quan trọng nhất đối với các an ninh của toàn bộ khu vực là bản chất của mối quan hệ giữa cường quốc khu vực - Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga và Hoa

Kỳ Các nước này có tầm quan trọng rất lớn đến an ninh của Australia Sự thăng trầm trong mối quan hệ của họ sẽ thiết lập cho xu hướng an ninh toàn khu vực

Mỹ là trung tâm của Châu Á Thái Bình Dương Hệ thống an ninh, và vai trò của nó sẽ rất quan trọng trong việc duy trì an ninh trong những thập kỷ tới Sự hiện diện của Mỹ tại châu Á tạo nên khả năng đối mặt với những vấn đề khó khăn và phức tạp trong mối quan hệ tại khu vực, phát triển các mối quan hệ chiến lược trong tương lai - đặc biệt là trong mối quan hệ với Trung Quốc

Mối quan hệ tay ba giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ sẽ xác định khuôn khổ chiến lược Đông Á Quan hệ Mỹ - Trung Quốc nếu đạt được sự ổn định trong quan hệ hợp tác sẽ mang đến những lợi ích tuyệt vời cho đôi bên, đồng thời quan hệ hai nước cũng có thể sẽ là nguồn gốc của sự căng thẳng trong khu vực trong những năm tới Mối quan hệ Mỹ-Nhật Bản là trụ cột quan trọng của sự gắn kết chiến lược của Mỹ ở châu Á Sức mạnh của an ninh Mỹ cam kết với Nhật Bản, và quy mô Mỹ triển khai quân sự ở Đông Bắc Á với đồng minh quan trọng Nhật Bản là tiền đề quan trọng để

Trang 33

duy trì sự ổn định chiến lược trong toàn bộ khu vực Điều này vô cùng quan trọng đến

an ninh Australia

1.2.2 Chiến tranh năng lượng và khủng bố, các vấn đề toàn cầu

Thế kỉ XXI đánh dấu bằng cuộc khủng bố rúng động ngày 11/9/2001 tại tòa tháp đôi của Mỹ Không dừng lại ở đó, những cuộc khủng bố trên quy mô lớn tại Pháp,

Bỉ do tổ chức hồi giáo cực đoan IS cầm đầu, hay những cuộc di dân ào ạt tới châu Âu

do chiến tranh Sirya khiến thế giới hoang mang khiếp sợ, chiến tranh năng lượng tranh giành mỏ dầu cũng là một trong những đề tài gây nhức nhối trên toàn thế giới Những vấn đề toàn cầu cần đến sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các quốc gia tầm trung, về lực lượng tham chiến, hỗ trợ hậu cần, tái thiết và gìn giữ hòa bình, viện trợ nhân đạo…

1.2.3 Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Vấn đề Biển Đông

Con rồng châu Á – Trung Quốc đã tỉnh giấc, dường như những năm đầu thế kỉ XXI là thời khắc của người Trung Quốc Khi mà họ có những phát triển vượt bậc, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ Là quốc gia đông dân nhất thế giới, tăng trưởng cao với nền quy mô kinh tế không ngừng mở rộng trên toàn cầu, không dừng lại đó, những yếu tố sức mạnh mềm của Trung Quốc cũng đang được dư luận hết sức quan tâm vì tầm bén rễ và lan rộng của nó Sự phát triển quá nhanh của một quốc gia có thể không khiến các nước dè chừng nhiều đến thế, nếu đi cùng đó không phải là sự ầm ĩ trên bình diện đối ngoại của một quốc gia đất rộng người đông bậc nhất trên thế giới Trung Quốc bấy giờ được xem là “thực thể trỗi dậy toàn cầu, khơi dậy nỗi sợ hãi cũng như niềm hy vọng [Ingrid d’Hooghe 2010: 37]” Để bắt kịp những nhu cầu của thị trường khổng lồ như Trung Quốc, cũng như quan hệ với họ trên mặt trận ngoại giao, không những Australia, mà những quốc gia khác trên toàn cầu cũng hết sức thận trọng và đặt quan hệ với Trung Quốc lên làm yếu tố ưu tiên hàng đầu

Có lẽ chưa bao giờ vấn đề biển Đông lại trở nên nóng bỏng như hiện nay Hàng loạt các quốc gia tại khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc, tuyên bố chủ quyền của mình tại các vùng biển đảo Đặc biệt sự xuất hiện của đường lười bò do Trung Quốc đưa ra gây nên ồn ào rất lớn trong quan hệ quốc tế Những gây hấn mà Trung Quốc tạo ra trong khu vực tự nhận là thuộc lãnh thổ Trung Quốc làm dấy lên làn sóng bất

Trang 34

bình không chỉ của các quốc gia Đông Nam Á

Có thể thấy, những biến đổi của thế giới, sự toàn cầu hóa, sự phát triển nhảy vọt của khoa học kĩ thuật, những tổ chức quốc tế, vấn đề chủ quyền lãnh thổ

1.3 Khái quát chính sách đối ngoại của Australia với khu vực Châu Á –

Thái Bình Dương trước thế kỷ XXI 1.3.1 Khái quát về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương được hưởng lợi ích không nhỏ từ khai thác nguồn tài nguyên khổng lồ của đại dương lớn nhất thế giới với diện tích 155.557 triệu km2, bỏ xa Đại Tây Dương xếp thứ hai với 76.762 triệu km21 Tiềm năng to lớn trong ngành nuôi trồng thủy sản, khai thác khoảng sản, dầu mỏ, khí đốt, làm nhạt nước biển, khai thác năng lượng sóng và thủy triều…đang mở ra nguồn lợi vô cùng phong phú cho các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương

Trên đây mới chỉ là một phần trong tiềm năng kinh tế khổng lồ của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Bao gồm các quốc gia ven bờ Thái Bình Dương như được thể hiện trên đây, ngoài ra trong nhiều nghiên cứu, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương gắn với các quốc gia như Mỹ, Canada, Chile… Đây là khu vực rộng lớn nhất

và đông dân nhất thế giới, gồm các quốc gia đông dân là Trung Quốc, Indonesia, với

sự hiện diện của nhiều siêu cường như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, những “con rồng” kinh tế như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, và nhiều nền kinh tế khác đang cất cánh Năm 1983, lần đầu tiên chỉ số thương mại xuyên Thái Bình Dương đã vượt thương mại Đại Tây Dương, càng khẳng định rằng Thái Bình Dương sẽ thay thế Đại Tây Dương như trong lịch sử diễn ra sự thay thế Địa Trung Hải bằng Đại Tây Dương vậy [Đỗ Thị Hạnh 1999:31] Với nhiều yếu tố, thiên thời, địa lợi, nhân hòa, tạo nên mức phát triển mạnh mẽ trong sản xuất và thương mại khiến các nhà nghiên cứu cho rằng trong tương lai không xa, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương sẽ là trung tâm kinh tế thế giới

Hiện diện trong một điểm nóng toàn cầu, Australia ngày càng thể hiện họ không muốn dừng lại ở vai trò “cầu nối” Âu – Á, chỉ làm người trung gian, Australia muốn là “người đồng hành của các quốc gia trong vùng” (châu Á) [Gareth Evans

1 https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/zh.html

Trang 35

1991:10]

Thủ tướng Paul Keating sau khi nhậm chức năm 1991 đã khẳng định mạnh mẽ

“Hơn bao giờ hết, Australia sẵn sang, cả về đối nội cũng như đối ngoại, trở thành một

bộ phận của châu Á Đất nước này đã làm mọi điều để thúc đẩy quyết tâm của mình

để được hòa nhập vào nền kinh tế năng động của khu vực” [Thông tấn xã Việt Nam, TLTKĐB 1993:13]

Trong Sách trắng 1987, Bộ trưởng Quốc phòng mô tả “khu vực có lợi ích chiến lược hàng đầu” [Gareth Evans – Bruce Grant 1999: 137] đối với Australia trong lĩnh vực an ninh bao gồm “Nam Thái Bình Dương, Đông Nam Á và vùng phía Đông Ấn

Độ Dương” Tuy nhiên không phải vì vậy mà sự quan tâm của Australia cho các quốc gia khác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bị xem nhẹ Thực tế chứng minh, cho đến trước thế kỷ XXI, Australia vẫn có những quan tâm nhất định đến các quốc gia khu vực Đông Bắc Á và Nam Á

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương không chỉ rộng và phân tán về mặt địa lý, đây còn là khu vực chia sẻ với nhau một không gian đa dạng văn hóa với lịch sử, truyền thống lâu đời Những khác biệt về lịch sử, văn hóa này cũng góp phần đem đến những mâu thuẫn mang tính “truyền thống” Australia, đóng vai trò một thành viên trong khu vực, tất nhiên hướng đến việc tích cực thể hiện vai trò, tiếng nói của mình trong tạo ảnh hưởng cũng như giữ gìn an ninh chung Có thể nói, thế kỷ XX với kết thúc của chiến tranh lạnh, với sự khởi đầu của toàn cầu hóa, những đổi thay trong từng quốc gia, đã kéo gần khoảng cách giữa các nước Châu Á và các cường quốc như Mỹ, Liên Xô và các nước Cộng đồng châu Âu, do đó, vai trò của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương càng được nhấn mạnh hơn bao giờ hết

1.3.2 Mỹ

Sự gắn bó giữa Australia và Mỹ là điều không thể phủ nhận Từ trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, cho đến Chiến tranh lạnh, Australia luôn tìm kiếm một người bảo hộ an toàn, và có thể hỗ trợ trong vai “đồng minh chiến lược” trong những chiến dịch Mỹ thực hiện, cho dù vấp phải sự phản đối của dư luận, chẳng hạn trong sự kiện chiến tranh Việt Nam Rõ ràng, Australia đã quen với việc một cường quốc như

Mỹ, can thiệp vào những vấn đề toàn cầu, là điều tất yếu Do đó, việc Australia thực

Trang 36

hiện sự gắn bó và duy trì quan hệ đồng minh với Mỹ là một ưu tiên quan trọng trong chính sách đối ngoại

Bản thân Australia và Mỹ cũng có nhiều điểm tương đồng, là những quốc gia chịu ảnh hưởng nhất định từ Anh, dùng chung ngôn ngữ là tiếng Anh, chế độ dân chủ, xuyên suốt lịch sử quan hệ đối ngoại của họ Chỉ khác một điều, khi Mỹ đã thoát khỏi

sự kiểm soát của Anh, tách mình thành một quốc gia độc lập, thì Australia vẫn còn thuộc khối Liên hiệp Anh, đến nay vẫn duy trì mối liên hệ mật thiết với Anh thông qua Khối Thịnh vượng chung, mặc dù họ đã là một nước độc lập Quan hệ gắn bó, liên minh giữa Australia và Mỹ đã được chứng minh bởi lịch sử Những sự ủng hộ “hết mình” mà Australia dành cho Mỹ dưới thời Tổng thống Lyndon Barnes Johnson trong chiến tranh Việt Nam, nỗ lực trong hàn gắn mối quan hệ Mỹ - Newzealand Trong quan hệ với Mỹ, Australia cũng không muốn lún sâu vào “mối quan hệ đặc biệt”, khi

mà mối quan hệ đặc biệt này sẽ dẫn đến sự lười biếng, thụ động và – trong trường hợp

tệ nhất – sẽ dẫn đến sự què quặt, thụ động trong chính sách đối ngoại Nhận thức được điều này, Australia duy trì với Mỹ một mối quan hệ về chất, bao gồm các vấn đề lịch

sử, thương mại, văn hóa và lợi ích sâu sắc của đôi bên trong việc duy trì sự có mặt của

Mỹ trên toàn cầu cũng như trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Về an ninh, Australia, một quốc gia dần ý thức được sự tự lực, dốc hết mình trong phòng thủ, đưa ra các sáng kiến trong giải quyết vấn đề Campuchia, khủng hoảng vùng vịnh Trước một Châu Á đang có những bước tiến đáng kể thay da đổi thịt,

Mỹ không quên thể hiện vai trò của một ông lớn tại khu vực này, không chỉ với tư cách một thế lực kinh tế lớn, mà còn là nhân tố cho sự ổn định an ninh Mỹ muốn tiếp tục bảo vệ lợi ích của mình trên tuyến đường biển quan trọng xuyên khu vực, thông qua gầy dựng ảnh hưởng đến một loạt quốc gia, xây dựng căn cứ an ninh quân sự ở một số quốc gia đồng minh Các quốc gia trong khu vực, trong đó có Australia, nghiễm nhiên xem sự ảnh hưởng này như một lợi ích mang đến cho họ, trước hết là về mặt an ninh

Về hợp tác thương mại, có thể thấy rõ, nhập khẩu của Australia từ các quốc gia, trong đó có Mỹ, từ những năm 1975 cho đến 2000, luôn ở mức ổn định và có xu hướng tăng dần, khác hẳn với nhập khẩu từ Anh trước đó luôn ở mức cao Có thể thấy,

Trang 37

xu hướng hợp tác thương mại với Mỹ (và Nhật) đang gia tăng Về nhập khẩu thương mại, các sản phẩm Australia xuất khẩu tới Mỹ cũng ổn định qua các năm, là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Australia

Sự thắt chặt mối quan hệ hai nước, còn phụ thuộc nhiều vào sự bền vững của lợi ích chung, vào bối cảnh quốc tế và khả năng thích nghi với sự thay đổi tình hình Tuy vậy suy cho cùng, lợi ích chung mà hai quốc gia theo đuổi phụ thuộc rất nhiều vào đặc tính, quan điểm, giá trị truyền thống của dân tộc Từ những nét chung tiêu biểu của cả Australia và Mỹ, về dân chủ, tự do, bản chất nền kinh tế, có thể nhận thấy, mối quan hệ hợp tác giữa hai bên sẽ bền lâu, tiếp tục đáp ứng những thay đổi trong quan hệ quốc tế, để thay đổi thế giới, ít nhất là theo hướng có lợi cho cả hai trước nhất, sau đó, vì một thế giới ổn định và an toàn hơn

1.3.3 Đông Nam Á

Australia và Đông Nam Á có những khác biệt nhất định về nhận thức Australia

có nguồn gốc Anh và trong suốt chiều dài phát triển của mình, họ không phải trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập nào Trong khi đó, Đông Nam Á là điểm đến béo bở của các quốc gia phương Tây và hầu hết (trừ Thái Lan) đều trở thành thuộc địa của tư bản phương Tây Họ phải trải qua những cuộc chiến đấu cam go ác liệt để có được độc lập Australia, với nguồn gốc và chủng tộc châu Âu, lối sống và truyền thống văn hóa in đậm bản sắc phương Tây khiến Australia trong mắt các quốc gia láng giềng là một khu vực tách biệt về truyền thống cũng như kinh nghiệm Vì là tập hợp các quốc gia nhỏ, Đông Nam Á xem trọng mối liên kết với các nước lớn, chủ yếu che chở và bảo vệ họ về an ninh quân sự, thì sợi dây liên kêt giữa Australia với các nước lớn như Anh và Mỹ, không chỉ về mặt an ninh, sâu trong đó còn có các yếu tố truyền thống văn hóa lâu đời, một sự gắn bó hơn cả về sự liên minh trong hay sau thế chiến Một yếu tố quan trọng không kém, cũng thể hiện khác biệt lớn, đó là tôn giáo Đông Nam

Á là nơi quy tụ một lượng khổng lồ người theo Hồi giáo, tập trung ở các quốc gia Indonesia, Malaysia, Brunei Các quốc gia khác nơi mà Phật giáo chiếm ưu thế có: Myanmar, Thái Lan Trong khi cư dân Australia thì tôn giáo chủ đạo là Công giáo Dĩ nhiên, giữa các quốc gia, khu vực luôn luôn tồn tại khác biệt Qua thời gian, thì sự khác biệt này sẽ được lợi dụng để làm tốt đẹp hơn mối quan hệ hai bên, nếu có được

Trang 38

sự nỗ lực từ hai phía

Đông Nam Á bao gồm các nước ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)

và Đông Timor, quốc gia đang có nhiều cố gắng để được gia nhập tổ chức khu vực này ASEAN được thành lập năm 1967 với năm quốc gia thành viên ban đầu Australia là quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ đối ngoại chính thức với ASEAN năm

1974 Các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Indonesia, Đông Timor là những nước láng giềng có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Australia, đây là khu vực lân cận có vị trí địa chiến lược, vai trò “thử lửa” [Gareth Evans - Bruce Grant 1999: 246] cho việc hòa nhập với khu vực

Kể từ sau Thế chiến hai, khi mà các quốc gia khu vực Đông Nam Á có những bước phát triển mạnh mẽ, thậm chí bứt tốc để trở thành con rồng châu Á (Singapore) hay những nước công nghiệp mới (Thái Lan, Malaysia), và khi mà vấn đề “sự đe dọa của chủ nghĩa Cộng sản” ở các nước Đông Dương không còn là vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh Australia, thì nhận định của Australia về Đông Nam Á đã có những chuyển biến quan trọng Rõ ràng, ngoài Đông Bắc Á thì những đối tác làm ăn ở Đông Nam Á cũng có tiềm năng lớn không kém Để thúc đẩy kinh tế phát triển, thì các tổ chức khu vực cần có cơ chế mở, sự phân biệt về văn hóa hay chủng tộc không nên là nhân tố kìm chân sự phát triển nữa

Australia lần đầu tiên sử dụng cụm từ “comprehensive engagement” (hợp tác toàn diện) trong chiều hướng chính sách với Đông Nam Á trong tuyên bố của chính phủ (đi đôi với cụm từ “constructive commitment – cam kết có tính xây dựng, tích cực, được dùng cho vùng Nam Thái Bình Dương), được dùng bởi Thượng nghị sĩ Gareth Evans trong bài phát biểu An ninh khu vực Australia ngày 6/12/1989 Chính sách này

mở đầu cho sự đề cập của Australia, muốn được “tham dự” vào các vấn đề quốc tế ở Đông Nam Á Trong bài phát biểu An ninh khu vực Australia, Gareth Evans đã mô tả những điểm cốt lõi trong chính sách “hợp tác toàn diện” của Australia như sau:

Thiết lập thêm những mối quan hệ đa phương vững chắc với các quốc gia Đông Nam Á để trên cơ sở quan hệ tích cực với Australia, lợi ích quốc gia của họ sẽ cùng thăng tiến

Tiếp tục ủng hộ ASEAN – Hiệp hội hiện có trong vùng – và hợp tác với các

Trang 39

quốc gia khu vực để thành lập các tổ chức như APEC, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực

Tích cực tham gia vào việc phát triển một cộng đồng an ninh khu vực dựa trên

cơ sở chia sẻ quyền lợi về an ninh

Trong nỗ lực theo đuổi lợi ích quốc gia trong khu vực, Australia phải ý thức rằng mình nên đóng vai trò của một quốc gia bè bạn tất yếu đáng tin cậy trong một khu vực láng giềng đa dạng chứ không phải là một quốc gia biệt lập về văn hóa do nghịch cảnh địa lý gây ra [Gareth Evans & Bruce Grant 1999: 466]

Từ những năm ASEAN bắt đầu hình thành, với năm quốc gia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan cho đến năm 1995, hợp tác thương mại giữa Australia và các quốc gia ASEAN (gồm các nước sáng lập) có nhiều bước phát triển Các nhà lãnh đạo Australia nhận thức được tầm quan trọng của các quốc gia trong tổ chức này, lượng giao thương xuất nhập khẩu của Australia với các nước tăng

dần, đỉnh điểm đến 1995 tăng lên đáng kể

Các quốc gia ASEAN luôn tích cực, năng động trong hợp tác, duy trì các mối quan hệ trong khối và ngoài khối, phù hợp với tôn chỉ kích thích hợp tác song phương, đàm phán đối thoại tích cực của cường quốc tầm trung Australia Hai bên cùng nhau tham gia nhiều cuộc họp cấp cao với sự tham gia của các quốc gia đối thoại (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…) với chủ đề về chính trị, kinh tế, môi trường Đáng kể trong đó là hoạt động thương mại giữa Australia và các quốc gia thành viên ASEAN Quan hệ đối ngoại giữa Australia và các quốc gia Đông Nam Á cũng nhờ tiến trình này mà có nhiều khởi sắc, bắt nguồn từ chính sách hướng về châu Á dưới thời Thủ tướng Paul Keating Diễn đàn ASEAN – Australia lần thứ 14 diễn ta vào năm 1991 nhất trí mở rộng tiêu chí hợp tác dựa trên cơ sở quyền lợi và lợi ích của các bên, ngoài an ninh chính trị còn có các lĩnh vực như giáo dục, môi trường, khoa học công nghệ Australia còn tham gia vào hàng loạt các cuộc họp tư vấn với ASEAN trong đó có Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn ASEAN – Australia, Các hội nghị sau cấp Bộ trưởng (PMC) 9+1 và 9+10, Chương trình Kinh tế ASEAN – Australia (AAECP)…

Về hợp tác an ninh quốc phòng, có thể thấy chiến lược của Australia là thúc đẩy hợp tác Trong bối cảnh khu vực hậu chiến tranh lạnh, Chính phủ Paul Keating ưu tiên cho

Trang 40

việc phát triển các mối quan hệ chiến lược (Strategic Partnership) với Đông Nam Á, đặc biệt là các quốc gia ASEAN, do đó, việc khuyến khích sự phát triển “một cộng đồng an ninh khu vực ở Đông Nam Á và rộng hơn là toàn bộ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương sẽ là những biện pháp giảm khả năng bất ổn và xung đột cho khu vực của Australia [Strategic Review 1993: 39]

1.3.4 Các cường quốc ở Đông Bắc Á

Về lợi ích kinh tế, Đông Bắc Á là một trong những khu vực có tiếng nói quan

trọng trên trường quốc tế Đây vừa là một khu vực có thế lực kinh tế, vừa là một trung tâm đầu não trên thế giới về an ninh – chính trị Với các cường quốc tiêu biểu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đây là khu vực nhận được nhiều quan tâm trong chia sẻ lợi ích của Australia Liên tục nửa sau thế kỷ XX, nền kinh tế của các quốc gia Đông Bắc Á đều có những bước phát triển thần tốc với nền công nghiệp thần lỳ, tỉ lệ tăng trưởng của khu vực ở mức cao Đông Bắc Á đang nhanh chóng trở thành một trong ba trung tâm sản xuất, thương mại và tín dụng hàng đầu thế giới Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của khu vực này không những đạt mức cao nhất từ trước tới nay mà còn luôn duy trì ở mức ổn định

Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ vượt qua châu Âu để trở thành cường quốc đứng thứ hai thế giới chỉ sau

Mỹ Đây cũng là quốc gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực sản xuất hàm lượng chất xám cao (sản xuất ô tô, hàng điện tử gia dụng, nghiên cứu ứng dụng robot trong công nghiệp, chế tạo chất bán dẫn ) Hàn Quốc đi từ quốc gia lệ thuộc Mỹ trở thành một nền kinh tế có mức thu nhập khá, trở thành khu vực kinh tế tăng trưởng mạnh Trung Quốc cuối thế kỷ XX có những đầu tư đáng kể cho nền kinh tế, chuẩn bị cho việc lấy lại vị trí “cường quốc” của họ ở Châu Á

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng này gắn liền với chính sách quản lý hiệu quả, hướng ngoại nền kinh tế, nền kinh tế đầu tư vào xuất khẩu cung cấp nhiều sản phẩm chất lượng cho thị trường thế giới Không những thế, các cường quốc Đông Bắc

Á là tiêu biểu cho việc cập nhật ứng dụng khoa học kỹ thuật quốc tế Xu hướng thực hiện một nền kinh tế hướng ngoại, năng động là động lực phát triển cho các cường quốc này Những thành quả họ đạt được đã tạo cơ hội đáng kể cho Australia tiếp cận

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bob Hawke, Phát biểu tại Hội thân hữu Thành viên Nghị viện Australia-Nhật Bản, Tokyo, 19/9/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát biểu tại Hội thân hữu Thành viên Nghị viện Australia-Nhật Bản
3. Danh Đức 2016, Chặng đầu của nỗ lực quốc tế về Biển Đông, Tuổi Trẻ cuối tuần số 20-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chặng đầu của nỗ lực quốc tế về Biển Đông
4. Dương Minh Tuấn 2015, Cách tiếp cận đa phương hóa đối với các tiến trình liên kết Đông Á và Châu Á – Thái Bình Dương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 12, tháng 12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Minh Tuấn 2015, "Cách tiếp cận đa phương hóa đối với các tiến trình liên kết Đông Á và Châu Á – Thái Bình Dương
5. Đỗ Thị Hạnh 1999 (1), Mục tiêu trở thành quốc gia Châu Á– Thái Bình Dương của Australia – nhìn từ góc độ lịch sử và quan hệ Australia – Châu Á, in trong Đường vào Australia, Nhiều tác giả, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Hạnh 1999 (1), "Mục tiêu trở thành quốc gia Châu Á– Thái Bình Dương của Australia – nhìn từ góc độ lịch sử và quan hệ Australia – Châu Á
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
6. Đỗ Thị Hạnh 1999 (2), Quan hệ của Australia đối với Đông Nam Á: từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hà Nội, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của Australia đối với Đông Nam Á: từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Gareth Evans và Bruce Grant 1995, Australia’s Foreign Relations in the World of 1990s, 2nd edition, Melbourne University Press. Bản dịch “Quan hệ quốc tế của Australia trong những năm 90”, nhóm dịch Nguyễn Bảo Thanh Nghi, Kim Liên, Hữu Chí, Hoa Huy, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australia’s Foreign Relations in the World of 1990s", 2nd edition, Melbourne University Press. Bản dịch “"Quan hệ quốc tế của Australia trong những năm 90
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Hoàng Khắc Nam 2011, Quyền lực trong quan hệ quốc tế, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lực trong quan hệ quốc tế
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
9. Hoàng Minh Lợi 2012, Quan điểm của một số quốc gia Đông Bắc Á về sự gia tăng quyền lực mềm, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8, tháng 8/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của một số quốc gia Đông Bắc Á về sự gia tăng quyền lực mềm
10. Lê Văn Sang 2014, Cục diện địa chính trị Đông Á trong bối cảnh Mỹ xoay trục chiến lược về Châu Á – Thái Bình Dương, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 2, tháng 2/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục diện địa chính trị Đông Á trong bối cảnh Mỹ xoay trục chiến lược về Châu Á – Thái Bình Dương
11. Lương Văn Kế 2013, Ý nghĩa địa chiến lược của Biển Đông đối với cục diện quan hệ quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4, tháng 4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa địa chiến lược của Biển Đông đối với cục diện quan hệ quốc tế
12. Nguyễn Mạnh Cầm 1993, Trên đường triển khai chính sách đối ngoại theo định hướng mới, in trong Chính sách đối ngoại Việt Nam, Nguyễn Vũ Tùng (biên soạn), NXB Thế giới 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường triển khai chính sách đối ngoại theo định hướng mới
Nhà XB: NXB Thế giới 2007
13. Nguyễn Văn Lịch 1999, Australia – người láng giềng nhìn từ Đông Nam Á, in trong Đường vào Australia, Nhiều tác giả, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australia – người láng giềng nhìn từ Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1999
14. Nguyễn Thu Mỹ 2011, Sự trỗi dậy của Trung Quốc: nhìn từ phía Mỹ, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3 – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự trỗi dậy của Trung Quốc: nhìn từ phía Mỹ
15. Ross Garnaut 1898, Báo cáo Australia và sự cất cánh của vùng Đông Bắc Á, đệ trình lên Thủ tưởng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại, Canberra Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Australia và sự cất cánh của vùng Đông Bắc Á, đệ trình lên Thủ tưởng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại
16. Tài liệu tham khảo đặc biệt 2002, Thông tấn xã số 34, 4. Quan hệ Australia - Indonesia. (27/02/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tấn xã số 34
84. Bình Lê 2013, ASEAN và các nước trung cường trên bàn cờ Mỹ - Trung, http://dienngon.vn/blog/Article/asean-va-cac-nuoc-trung-cuong-tren-ban-co-my-trung, 20/01/2013 Link
86. Euan Graham, The lion and the kangaroo: Australia’s strategic partnership with Singapore, http://www.lowyinstitute.org/publications/australias-singapore-strategic-partnership-singapore-lion-kangaroo, Lowy Institute 2016 Link
87. Fergus Hunter 2016, Malcolm Turnbull issues rallying cry for 'irreplaceable anchor' of US in Asia, http://www.smh.com.au/federal-politics/federal-election-2016/malcolm-turnbull-issues-rallying-cry-for-irreplaceable-anchor-of-us-in-asia-20160609-gpfv8p.html, 10/6/2016 Link
89. Kerry O'Brien 2010, Gillard on Afghanistan, The 7.30 Report, http://www.abc.net.au/7.30/content/2010/s3030288.htm Link
98. Website Bộ ngoại giao và thương mại Australia, http://dfat.gov.au/ 99. Website The World Factbook 2016 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w