Do vậy việc phân tích, tổng hợp và nghiên cứu những diễn biến chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA trong giai đoạn này là rất cần thiết, đặc biệt đối với Việt Nam để nắm rõ sự thay đổ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ MINH KHƯƠNG
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI
ĐÔNG NAM Á DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG JOE BIDEN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Hà Nội, năm 2022
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ MINH KHƯƠNG
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI
ĐÔNG NAM Á DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG JOE BIDEN
Chuyên ngành: Quản lý hoạt động đối ngoại
Mã số: 8310206
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Dương
Hà Nội, năm 2022
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Chủ tịch Hội đồng
PGS,TS Phạm Minh Sơn
Trang 4Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân học viên Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác
HỌC VIÊN
Lê Minh Khương
Trang 5thành nhất tới Tiến sĩ Nguyễn Văn Dương - Viện Quan hệ Quốc tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn cao học của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô - Phòng Đào tạo sau Đại học, Ban Đào tạo, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; các Thầy, Cô trong và ngoài Học viện đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp kiến thức và hướng dẫn em trong suốt hai năm học cao học tại Học viện
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ở bên sẻ chia, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Lê Minh Khương
Trang 6TẮT TIẾNG VIỆT TIẾNG ANH
2 APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
CA-TBD
Asia-Pacific Economic Cooperation
3 ASEAN Hiệp hội các quốc gia
ĐNA
The Association of Southeast Asian Nations
4 ARF Diễn đàn khu vực
ASEAN
ASEAN Regional Forum
5 BRI Sáng kiến Vành đai, con
đường Belt and Road Initiative
10 EAS Hội nghị cấp cao Đông Á East Asia Summit
11 EU Liên minh châu Âu The European Union
Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở
A free and open
Indo-Pacific
13 FDI Đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Foreign Direct Investment
14 FTA Hiệp định thương mại tự
do Free Trade Agreement
15 G20 Nhóm các nền kinh tế lớn Group of Twenty
Trang 720 NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc
Đại Tây Dương
North Atlantic Treaty Organization
21 NDAA Dự luật Ủy quyền quốc
phòng
National Defense Authorization Act
22 MRC Ủy hội sông Mekong Mekong River
24 RCEP Hiệp định đối tác kinh tế
toàn diện khu vực
Regional Comprehensive Economic Partnership
26 UXO Vật liệu chưa nổ Unexploded ordnance
27 PDI Sáng kiến răn đe Thái
Bình Dương
Pacific Deterrence Initiative
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 10
1.1 Tình hình thế giới và khu vực 10
1.2 Vị trí và vai trò của Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của Mỹ 21
1.3 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ 26
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 31
2.1 Chính sách đối ngoại tổng thể của Mỹ dưới thời Tổng thống Joe Biden 31
2.2 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á trong khuôn khổ hợp tác song phương 33
2.3 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với các cơ chế và vấn đề đa phương tại Đông Nam Á 57
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TRIỂN VỌNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 75
3.1 Những thành công và hạn chế trong triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đông Nam Á 75
3.2 Tác động và triển vọng chính sách đối ngoại của Mỹ đối với các nước Đông Nam Á 80
3.3 Một số khuyến nghị đối với Việt Nam 87
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
TÓM TẮT LUẬN VĂN 113
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Anh, Pháp, Đức… đóng vai trò quan trọng trong chi phối đời sống quan hệ quốc tế thông qua hoạch định và thực hiện chính sách của mình, nhất là chính sách đối ngoại Các quốc gia này có những tiềm lực, sức mạnh rất lớn cả về diện tích lãnh thổ, dân số, kinh tế, văn hóa, quân sự và khoa học công nghệ Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của những quốc gia này có thể gây xáo trộn nhất định đến đời sống chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia khác và đặc biệt làm thay đổi cán cân quyền lực, thay đổi cục diện của khu vực, trật tự thế giới Với vị thế nước lớn,
tư tưởng bá chủ, Mỹ thực hiện chiến lược an ninh, quân sự, kinh tế… mang tính toàn cầu, quan hệ với nhiều nước, đặc biệt quan tâm đến đối ngoại và tiềm lực đối ngoại với tham vọng chi phối đến hệ thống quan hệ quốc tế, các khu vực trung tâm quyền lực, địa chiến lược hiện nay
Đông Nam Á là khu vực có vị trí địa chiến lược, nằm ở “ngã tư đường” giữa châu Á và châu Đại Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương và eo biển Malacca chính là “yết hầu” của giao lộ này Đây là giao điểm của hai trong số những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới kết nối lục địa châu Á với châu Đại Dương theo hướng Bắc - Nam và Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương theo hướng Đông - Tây, ĐNA được xem là cửa ngõ để các cường quốc châu Á vươn ra thế giới Dưới góc độ kinh tế, đây là một thị trường tiềm năng với tốc độ phát triển nhanh, ổn định; tài nguyên thiên nhiên phong phú; dân số đông và trẻ Do đó, vai trò và vị thế của ĐNA trong chiến lược của nhiều nước lớn đang và ngày càng thể hiện rõ Đối với các cường quốc, ĐNA là vùng đệm quan trọng để thiết lập ảnh hưởng và triển khai các
Trang 10chiến lược lớn tại khu vực Vì vậy, tiểu khu vực này luôn là địa bàn tranh chấp của các nước lớn qua nhiều thời kỳ, giai đoạn lịch sử Các nước ĐNA phải thường xuyên đối mặt với sự áp đặt, lôi kéo của nước lớn Với xu hướng quyền lực chuyển dịch từ Tây sang Đông, ĐNA tiếp tục trở thành nơi giao thoa xung đột, cạnh tranh chiến lược của các nước lớn tại khu vực, trong đó đáng chú ý nhất là cạnh tranh Mỹ - Trung Trung Quốc xem ĐNA là điểm khởi đầu để triển khai “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI) trong khi
“Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” (IPS) của Mỹ lại lấy ĐNA làm tâm điểm kết nối hai đại dương
Sau khi Joe Biden đắc cử trở thành tổng thống thứ 46 của nước Mỹ vào tháng 11/2020 với khẩu hiệu “Xây dựng nước Mỹ tốt đẹp trở lại” (Build back better) và sau gần 02 năm cầm quyền, Joe Biden đã tạo nên những “làn gió mới” trên chính trường Mỹ, đặc biệt là sự thay đổi đáng kể trên mặt trận đối ngoại với nhiều điểm mới so với chính quyền tiền nhiệm Donald Trump, trong đó không thể đến những thay đổi trong cách tiếp cận đối với khu vực ĐNA Thừa hưởng những thành tựu của Donald Trump để lại trong “Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”, Tổng thống Joe Biden đang cùng đội ngũ nhân sự của mình xây dựng, định hình chiến lược tại khu vực ĐNA đặc biệt thông qua các quan hệ với từng nước và can thiệp trực tiếp vào những vấn đề nóng của khu vực Quan điểm của chính quyền Tổng thống Joe Biden
là tiếp tục xây dựng các liên minh, liên kết trong đó Mỹ có vai trò dẫn dắt, quay trở lại với các đồng minh và tiếp tục tập trung vào khu vực CA-TBD mà trọng tâm là khu vực ĐNA, Biển Đông nơi Trung Quốc đang ảnh hưởng mạnh mẽ [II, 2]
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực ĐNA có nhiều biến động, bất ổn; xu thế tập hợp, củng cố lực lượng diễn ra ngày càng đa dạng, nhiều tầng nấc do đó Mỹ đã có những điều chỉnh chính sách đối với ĐNA Những
Trang 11điều chỉnh chính sách của Mỹ tác động mạnh mẽ với các quốc gia trong khu vực, trong đó đặc biệt đối với Việt Nam Với vai trò là tiếng nói của ĐNA, là quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn tại khu vực, Việt Nam sẽ có những tác động lớn đối với chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và đối ngoại của Mỹ với ĐNA nói riêng Việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA giúp Việt Nam có những định hình trong triển khai chính sách đối ngoại tại khu vực giúp đưa quan hệ đối tác phát triển lên tầm cao, phù hợp với lợi ích của Chính phủ và nhân dân hai nước, đóng góp thiết thực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở ĐNA và trên thế giới; đồng thời củng cố được
vị thế
Do vậy việc phân tích, tổng hợp và nghiên cứu những diễn biến chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA trong giai đoạn này là rất cần thiết, đặc biệt đối với Việt Nam để nắm rõ sự thay đổi, triển khai chính sách của Mỹ với từng quốc gia và từng vấn đề nóng tại khu vực; làm cơ sở để đánh giá tác động từ đó có những tham mưu, điều chỉnh chính sách phù hợp với lợi ích quốc gia Việt Nam trong quan hệ với Mỹ nói riêng và đối với các nước ĐNA nói chung
Xuất phát từ yêu cầu về lý luận cũng như thực tiễn trên tác giả đã quyết
định lựa chọn đề tài: “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đông Nam Á
dưới thời Tổng thống Joe Biden” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp chuyên
ngành Quản lý hoạt động đối ngoại
2 Tình hình nghiên cứu
Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA dưới thời kỳ Tổng thống Joe Biden tuy chưa có nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu bởi thời gian nắm quyền của Joe Biden còn ngắn, tuy nhiên đây vẫn là một đề tài được các
Trang 12chuyên gia, học giả, viện nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm, chú ý và khai thác, trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật sau đây:
Công trình: “Understanding Foreign Policy Decision Making” của tác giả Alex Mintz, Karl DeRouen Jr xuất bản vào tháng 6/2012 do trường Đại học Cambridge Công trình nghiên cứu về cách tiếp cận để phân tích chính sách đối ngoại Cách tiếp cận này tập trung vào quá trình đưa ra quyết định,
và kết quả, trong đó nhấn mạnh vào vai trò của các yếu tố tâm lý trong quá trình ra hoạch định chính sách đối ngoại Cuốn sách đưa ra nhiều ví dụ điển hình bao gồm các quyết định của các lãnh đạo Mỹ, Israel, New Zealand, Cuba, Iceland, Vương quốc Anh… Công trình cũng đề cập đến những tác động từ yếu tố trong nước và quốc tế đối với việc ra quyết định
Công trình: “Foreign Policy: Theories, Actors, Cases” của các tác giả Steve Smith, Amelia Hadfield, Timothy Dunne xuất bản lần thứ 3 vào ngày 11/8/2016 do Đại học Oxford Công trình giới thiệu, phân tích về lĩnh vực chính sách đối ngoại trên 03 yếu tố gồm lý thuyết, các tác nhân và các ví dụ
cụ thể; cung cấp những ví dụ về định nghĩa chính sách đối ngoại và cách thức triển khai Các chương thể hiện rõ các mối liên hệ giữa lý thuyết quan hệ quốc
tế, khoa học chính trị và sự phát triển của chính sách đối ngoại Bên cạnh đó công trình cũng tập trung vào các chủ đề như ngoại giao công chúng, truyền thông và dư luận
Công trình “Chính sách đối ngoại của một số nước lớn” của PGS TS Phạm Minh Sơn chủ biên xuất bản vào Quý III năm 2020 Công trình cung cấp cho độc giả những nội dung cơ bản trong chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới và quan hệ của các nước đó với Việt Nam, trong đó tập trung phân tích chính sách đối ngoại của một số nước lớn tiêu biểu mà ảnh hưởng đối với đời sống chính trị như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp, Đức,
Trang 13Ấn Độ, Nhật Bản Thông qua việc tìm hiểu những mối quan hệ chủ yếu giữa các nước lớn, Đảng và Nhà nước ta có những chiến lược, sách lược đối ngoại hợp lý, đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt trong bối cảnh hiện tại
Công trình “Joe Biden: What you need to know about the 46th president” do tác giả Kendall Karson và Molly Nagle đưa ra ngày 20/1/2021 trên tờ báo abcnews Nội dung của bài nghiên cứu đưa ra những nét cơ bản nhất về tiểu sử của tân Tổng thống Joe Biden, về gia đình, quá trình hoạt động, tính cách và những thành tựu đạt được trong sự nghiệp chính trị của ông Qua tác phẩm có thể nhìn nhận sống động, cụ thể về cuộc đời của Tổng thống Mỹ thứ 46 từ đó có thể dần định hình được nhhững chính sách đối ngoại của ông sẽ triển khai trong thời gian tới
Công trình “What’s the secret of Joe Biden’s success?” của tác giả Paul Krugman đăng vào ngày 19/4/2021 trên chuyên mục Opinion của báo New York Times Bằng cách phân tích những yếu tố ngoại cảnh và nội tại, tác giả
đã đưa ra những nhận định, phân tích về sự thành công, thắng lợi của Tổng thống Joe Biden trước cựu Tổng thống Donald Trump Tác giả dựa trên những thành tựu của Joe Biden trong quá trình làm chính trị của mình, từ tâm
lý cử chi, sự ủng hộ mạnh mẽ từ Đảng Dân chủ và từ những bài phát biểu, lời
hứa của Joe Biden trong chiến dịch tranh cử
Công trình “U.S President Joe Biden’s Foreign Policy towards the Gulf” của tác giả Hassan Hamdan AlAlkim đăng trong tập 11 số 3, tháng 7/2021 của Tạp chí Khoa học Chính trị Trong đó tập trung vào phân tích 100 ngày đầu tiên tại nhiệm của J Biden, sử dụng cách tiếp cận phân tích so sánh với mục đích đánh giá tầm quan trọng của chính sách đối ngoại của J Biden, cam kết mới của Mỹ đối với sự tham gia toàn cầu có thể giúp giải quyết các vấn đề vùng Vịnh như thế nào và xác định các ưu tiên của J Biden tại vùng Vịnh và cách đối phó với các đồng minh vùng Vịnh về các vấn đề như nhân
Trang 14quyền, chiến tranh Yemen và thỏa thuận hạt nhân Iran
Công trình “U.S Foreign Policy Under Biden” do các tác giả, biên tập trên trang worldpoliticsreview.com đưa ra vào ngày 10/9/2021 Công trình tập trung vào việc phân tích những bước đi đầu tiên của Joe Biden sau khi nhậm chức Về nguyên tắc, chương trình nghị sự của Biden bắt nguồn từ việc từ chối di sản “Nước Mỹ trên hết” của Trump và khôi phục trật tự đa phương Tác giả nghiên cứu trên các lĩnh vực chính sách song phương và khu vực; liên minh và quan hệ đối tác; cạnh tranh chiến lược và đối thủ; ngoại giao và chủ nghĩa đa phương; chính sách thương mại và viện trợ
Công trình “Is Biden’s Foreign Policy Failing?” của tác giả Stephen M Walt - nhà báo chuyên mục Chính sách đối ngoại, Robert and Renée Belfer - Giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại học Harvard đăng vào ngày 30/9/2021 trên trang Foreign Policy Công trình nghiên cứu đưa ra một số nhận định về thành công ban đầu trong chính sách đối ngoại của Joe Biden: gia nhập lại Hiệp định khí hậu Paris và Tổ chức Y tế Thế giới, bắt đầu lại các cuộc đàm phán với Iran về chương trình hạt nhân, cam kết cung cấp vắc-xin nhằm chống lại Covid-19 và hàn gắn quan hệ với các đồng minh NATO Tuy nhiên công trình cũng tập trung vào những thất bại, hạn chế trong chính sách của Mỹ như các cuộc đàm phán với Iran đã không đi đến đâu, những quyết định sai lầm tại Afghanistan, đội ngũ của J Biden chậm chạp trong việc bổ sung các chức vụ ngoại giao quan trọng…
Công trình “Chính sách đối ngoại của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden đối với khu vực ĐNA: Một số đánh giá bước đầu” của tác giả Linh An đăng ngày 21/05/2021 trên Tạp chí Cộng sản Công trình trình bày sơ lược về quan điểm chiến lược và những đối sách ngoại giao mà chính quyền của tân Tổng thống Mỹ J Biden dự kiến sẽ triển khai tại khu vực ĐNA thời gian
tới thông qua bối cảnh triển khai chính sách; những bước đi cụ thể ban đầu và
Trang 15đề cập tới một số thách thức đối với triển vọng phát triển của quan hệ Mỹ - ĐNA thời gian tới
Các công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho luận văn, tuy nhiên không có công trình nào trùng lặp, do đó, công trình nghiên cứu của tác giả là duy nhất, đảm bảo tính thời sự, cấp thiết trong việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đông Nam Á dưới thời Tổng thống Joe Biden
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục tiêu
Trên cơ sở phân tích những nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA dưới thời Tổng thống Joe Biden, cũng như phân tích nội dung và thực tiễn triển khai chính sách đối với ĐNA thời gian qua, luận văn đưa ra những đánh giá và dự báo triển vọng chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA dưới thời Tổng thống Joe Biden Từ đó có những đánh giá về tác động của chính sách đối ngoại Mỹ đối với ĐNA và đưa ra những đề xuất, kiến nghị cụ thể đối với Việt Nam, khu vực trong tình hình hiện tại
- Phân tích nội dung chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA dưới thời Tổng thống Joe Biden (tập trung vào nội dung, mục tiêu chung của chính sách đối ngoại Mỹ và nội dung cụ thể đối với khu vực ĐNA)
- Phân tích thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA dưới thời Tổng thống Joe Biden, cụ thể đối với: các quốc gia trong khu vực; các cơ chế và vấn đề đa phương tại ĐNA
Trang 16- Đánh giá về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA dưới thời Tổng thống Joe Biden; tác động đối với tình hình thế giới, khu vực và Việt Nam; dự báo triển vọng chính sách đối ngoại Mỹ đối với ĐNA trong thời gian tới từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị cho Việt Nam trong thúc đẩy quan hệ với Mỹ, các nước ĐNA
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Phân tích nội dung và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ đối với ĐNA dưới thời Tổng thống Joe Biden đối với từng quốc gia ĐNA và đối với những cơ chế đa phương như ASEAN, Tiểu vùng sông Mekong, điểm nóng ở khu vực như Biển Đông
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện được mục tiêu và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề
ra, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử - logic, phân tích
- tổng hợp, so sánh và dự báo; phân tích chính sách đối ngoại (FPA)…
6 Những đóng góp của luận văn
Với kết quả nghiên cứu đạt được luận văn đã cơ bản làm rõ, định hình được các nội dung ban đầu, những trọng tâm chính sách đối ngoại của Mỹ đối
Trang 17với ĐNA dưới thời Tổng thống Joe Biden (từ 2020 đến nay) và sự thay đổi, khác biệt so với chính sách dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump từ đó đưa
ra những nhận định, đánh giá dự báo về chính sách của Mỹ thời gian tới đối với
ĐNA để các nước, đặc biệt Việt Nam có cách ứng xử, chính sách phù hợp
Luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo đối với chuyên ngành quản
lý hoạt động đối ngoại cũng như các cá nhân quan tâm đến vấn đề này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được cấu trúc trong 3 chương sau:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á: Làm rõ, phân tích các nhân tố như tình hình thế
giới, khu vực, vị trí vai trò của ĐNA trong chính sách đối ngoại của Mỹ, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Joe Biden
Chương 2: Nội dung và triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đông Nam Á: Tìm hiểu, nghiên cứu cách tiếp cận của Mỹ đối với khu vực
ĐNA thông qua khuôn khổ song phương với các nước đồng minh, các nước trong khu vực và các cơ chế đa phương như Tiểu vùng sông Mekong, ASEAN và vấn đề Biển Đông
Chương 3: Đánh giá và dự báo triển vọng chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á: Đưa ra những đánh giá về tác động của chính
sách đối ngoại của Mỹ đối với thế giới, khu vực và Việt Nam; từ đó đưa ra các
dự báo về triển vọng chính sách của Mỹ đối với ĐNA trong nhiệm kỳ Tổng thống Joe Biden và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách của Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
1.1 Tình hình thế giới và khu vực
1.1.1 Tình hình thế giới
Sau Chiến tranh Lạnh, với sự sụp đổ của trật tự hai cực Yalta (1989 - 1991), thế giới đang từng bước chuyển từ lưỡng cực với sự cạnh tranh trực tiếp giữa Mỹ và Liên Xô đại diện cho hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa sang trật tự thế giới theo hướng đa cực, đa trung tâm và ngày càng định hình rõ nét hơn Trong đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt ưu tiên cao cho mục tiêu phát kinh tế nhằm gia tăng sức mạnh và năng cao vị thế quốc gia Kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của quốc gia và là động lực chính của xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa
Hòa bình, hợp tác, phát triển là xu thế chủ đạo, nhưng mâu thuẫn, xung đột sắc tộc, chính trị, cục bộ, môi trường an ninh quốc tế vẫn diễn biến phức tạp, khó lường Các quốc gia cơ bản thực hiện chính sách đối ngoại theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa, thúc đẩy xu thế hợp tác khu vực, liên kết quốc tế Do đó, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn luôn là xu hướng lớn trong quan hệ quốc tế Nhìn chung hầu hết các nước lớn, nhỏ trên thế giới đều đã điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tạo dựng môi trường bên ngoài thuận lợi để tham gia hiệu quả vào quá trình hợp tác, liên kết, hội nhập quốc
tế Chiều hướng tập hợp lực lượng có sự thay đổi, trong đó ý thức hệ không còn là chuẩn mực cao nhất mà được thay thế bằng lợi ích dân tộc, do đó nguy
cơ chiến tranh thế giới tiếp tục giảm đi dù vẫn tồn tại những xung đột, mâu thuẫn khu vực [10, tr14] Một trong những xung đột lớn gần đây đó là chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga với Ucraina từ ngày 24/2/2022, đã có ảnh
Trang 19hưởng lớn đối với không chỉ ĐNA, mà toàn thế giới Xung đột Nga – Ucraina
có những tác động lớn đối với an ninh khu vực, thế giới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh lương thực khi Nga là nước xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới; khủng hoảng năng lượng, khí đốt tại châu Âu nói riêng và thế giới nói chung; và khủng hoảng nhân đạo khi số lượng thương vong, đói nghèo tăng đáng kể
Quá trình toàn cầu hóa trở thành xu thế khách quan, ngày càng lôi kéo nhiều quốc gia, dân tộc tham gia Toàn cầu hoá mang tính cách mạng, làm thay đổi tư duy, nhận thức của nhân loại trên mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…, xoá mờ ranh giới giữa các quốc gia, đẩy nhanh tốc độ thay đổi cấu trúc kinh tế - chính trị trong quan hệ quốc tế Bên cạnh đó, toàn cầu hoá thiết lập mục tiêu về một thế giới phẳng, một thế giới không ngừng giao lưu, học hỏi và kết nối [29, tr15] Trong điều kiện của toàn cầu hóa, lợi ích của các quốc gia đan xen với nhau và ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Trong bối cảnh sự hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng lớn, các quốc gia phát triển chậm chủ động nắm bắt cơ hội thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, tận dụng thành quả của khoa học và công nghệ để vươn lên mạnh mẽ nhằm giảm bớt chênh lệch khoảng cách với các quốc gia phát triển Các quốc gia phát triển cũng tranh thủ thời cơ gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia thông qua việc “phổ biến”, “mở rộng” các giá trị của mình ra toàn cầu Bởi vậy, toàn cầu hóa chính là một cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc gia và những cá thể mạnh hơn sẽ có nhiều lợi thế hơn [10, tr15]
Môi trường quốc tế thay đổi khiến các nước lớn đều điều chỉnh chính sách đối ngoại để duy trì, mở rộng ảnh hưởng, cạnh tranh lợi ích trên nhiều mặt Quan hệ giữa các nước lớn khá đa dạng về cấp độ: đồng minh, đối tác chiến lược, đối tác xây dựng, đối thoại chiến lược, đối thủ trực tiếp, đối thủ tiềm tàng và quan hệ giữa các nước lớn cũng luôn tồn tại tính hai mặt, đó là
Trang 20vừa hợp tác, vừa đấu tranh; vừa mâu thuẫn, vừa hòa giải; vừa tiếp xúc, vừa kiềm chế Trong khi đó, để đảm bảo lợi ích của mình, nhìn chung, các nước lớn đều tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ Các nước lớn đều gia tăng can dự, mở rộng ảnh hưởng đối với những khu vực có vị trí địa - chiến lược quan trọng, lôi kéo các quốc gia trong khu vực đó đi theo quỹ đạo của mình Đặc điểm nổi bật của bối cảnh quốc tế mới đó là sự duy trì hợp tác, gia tăng cạnh tranh cùng với quá trình tập hợp lực lượng của các nước lớn đang thúc đẩy xu thế đa cực hóa ngày càng mạnh mẽ và trọng tâm cạnh tranh chiến lược của các nước lớn đang dịch chuyển về CA-TBD Cụ thể, Mỹ chủ động tăng sức ép toàn diện nhằm kiềm chế Trung Quốc, trong đó tập trung vào các vấn đề thương mại, Triều Tiên, Biển Đông, Đài Loan, gián điệp công nghệ và an ninh mạng; gia tăng cọ xát cạnh tranh với Nga về chính trị, an ninh và quân sự, nhất là ở Trung Đông; tập hợp lực lượng mới thông qua đẩy mạnh triển khai chiến lược “Ấn
Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP) EU ngày càng thể hiện tính tự chủ và độc lập hơn với Mỹ, song vẫn ủng hộ Mỹ gây sức ép với Trung Quốc, Nga trong một số vấn đề chiến lược Các cường quốc tầm trung ở khu vực (Nhật Bản, Ấn Độ, Australia) triển khai các chính sách ngoại giao phòng ngừa, khai thác, tìm chỗ đứng trong các khoảng trống luôn thay đổi giữa các nước lớn, điều chỉnh chính sách đối với Mỹ, Trung Quốc theo hướng cân bằng hơn, tranh thủ cạnh tranh Mỹ - Trung, Mỹ - Nga để mở rộng vai trò và nâng cao lợi ích quốc gia, dân tộc, liên kết với nhau theo nhiều hình thức để đảm bảo có vai trò lớn hơn
Sự đan xen giữa mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, phạm vi và sự liên quan của các mối đe dọa cũng ngày càng rộng và khó tách biệt Đến nay, nhiều điểm nóng an ninh truyền thống trên thế giới vẫn tồn tại, chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết tận gốc Trong khi đó, xung đột dân tộc - sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp nguồn tài nguyên
Trang 21thiên nhiên, chủ nghĩa ly khai, cực đoan, nhất là chủ nghĩa khủng bố quốc tế lại nổi lên ở nhiều nơi, đe dọa nghiêm trọng hòa bình và an ninh thế giới Sự xuất hiện của một loạt vấn đề toàn cầu (ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khủng hoảng tài chính, khủng bố quốc tế ) đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh con người cũng như hòa bình, ổn định thế giới Điều này đặt ra nhu cầu cần có sự tham gia hợp tác đa phương của nhiều quốc gia mới có thể giải quyết được Vai trò của các thể chế đa phương toàn cầu và khu vực ngày càng cao Thời gian gần đây tình trạng, nguy cơ khủng bố đã dần có xu hướng quay trở lại và hoạt động mạnh mẽ tại các khu vực như Afghanistan, Pakistan, Iraq Bên cạnh đó, các vụ tấn công mạng trên thế giới gia tăng, chủ yếu nhằm vào cơ sở hạ tầng trọng yếu, hệ thống ngân hàng - tài chính, sử dụng công nghệ cao, tác động vào các vấn đề chính trị… buộc chính phủ nhiều nước phải ban hành, điều chỉnh luật an ninh mạng và phối hợp với các tập đoàn công nghệ lớn để kiểm duyệt thông tin Hậu quả của biến đổi khí hậu đã gây thiệt hại lớn về người và của khiến tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, điển hình là sự bùng phát của dịch bệnh Covid-19 trong giai đoạn từ năm
2019 đến năm nay tác động lớn đến kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu Đại dịch cũng làm dịch chuyển nhanh chóng và phức tạp hơn so sánh lực lượng giữa các nước lớn Trung Quốc tìm cách mở rộng ảnh hưởng trên thế giới thông qua đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền về thành tựu phòng chống dịch; triển khai hàng loạt hoạt động viện trợ trang thiết bị y tế và chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch cho các nước để tạo dựng hình ảnh “nước lớn có trách nhiệm”, đưa ra sáng kiến “Con đường tơ lụa về sức khỏe” trong khuôn khổ chiến lược “Vành đai và con đường” (BRI)
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đem lại nhiều thành tựu mới Nó làm thay đổi sâu sắc các yếu tố sản xuất, tác động sâu sắc đến kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ
Trang 22đối ngoại của các quốc gia, dân tộc trên thế giới và mở ra khả năng cho các nước kém phát triển hơn có thể tận dụng những thành tựu đó để đi tắt, đón đầu phục vụ cho mục tiêu phát triển của quốc gia Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng sâu sắc và toàn diện hơn, giúp thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, song cũng khiến cạnh tranh giữa các quốc gia gay gắt hơn, đưa đến nhiều cơ hội và thách thức mới, cả ở cấp độ toàn cầu, khu vực và với từng quốc gia, dân tộc Mỹ với vai trò dẫn dắt lối chơi trong quan hệ quốc tế vẫn có những chính sách quan trọng, cốt lõi đối với các khu vực địa chiến lược, trong đó hiện nay tập trung vào AĐD-TBD với trọng tâm là ASEAN
Bên cạnh đó, Trung Quốc là một nhân tố quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đối với việc hoạch định, triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ không chỉ tại khu vực Đông Nam Á CA-TBD mà còn trên toàn thế giới, tại bất kỳ khu vực chiến lược, cụ thể: Thứ nhất: Trung Quốc có vị trí địa lý, cùng mối quan hệ văn hóa-lịch sử lâu đời với nhiều quốc gia tại Đông Nam Á cùng với quyết tâm không để khu vực láng giềng rơi vào tay Mỹ, Trung Quốc đã đưa ra loạt sáng kiến, cơ chế hợp tác kinh tế với Đông Nam Á Thứ hai: Vai trò và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á đang ngày càng lớn
và chiếm ưu thế hơn so với Mỹ trên nhiều lĩnh vực:
Về chính trị: Trung Quốc thường xuyên tổ chức các chuyến thăm cấp
cao đến các nước Đông Nam Á, cụ thể vừa qua chuyến thăm 5 nước ĐNA của Ngoại trưởng Vương Nghị sẽ kéo dài 12 ngày từ ngày 3/7-14/7 với một lịch trình dày đặc
Về kinh tế: Thông qua sáng kiến BRI, Trung Quốc tỏ ra vượt trội Mỹ ở
khía cạnh kinh tế khi nhiều nước trong khu vực chịu sự chi phối, thậm chí là
lệ thuộc vào Bắc Kinh Với chiêu bài cho vay các khoản vốn ưu đãi để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, dòng vốn của Trung Quốc đã ngấm vào huyết mạch dự án trọng điểm, nền kinh tế của loạt quốc gia ĐNA Những năm qua, quan hệ
Trang 23thương mại giữa Trung Quốc với ĐNA đã phát triển theo cấp số nhân Trong khi đó, việc rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã giáng một đòn mạnh vào lợi ích của Mỹ tại khu vực Đó là lý do tại sao Tổng thống Biden đang tìm mọi cách để cứu vãn lại tầm ảnh hưởng tại ASEAN Ông đã công bố Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPEF) trong chuyến thăm châu Á vào hồi tháng 5 vừa qua Tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Mỹ ở Washington, Tổng thống Mỹ Biden đã quyết định chi hơn
150 triệu USD ủng hộ sáng kiến của các nước Đông Nam Á Trong 12 năm qua, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, riêng năm 2020, thương mại song phương đạt 685,28 tỷ USD (gấp đôi nước đứng ở vị thứ 2 là Mỹ) Hơn nữa, theo ước tính, trong giai đoạn 2016 - 2030, các nước Đông Nam Á sẽ cần 2.759 tỷ USD để đầu tư cơ sở hạ tầng [35]
Về quân sự: Trong báo cáo gần đây, Bộ Quốc phòng Mỹ cảnh báo Trung Quốc “có khả năng đã xem xét” thiết lập cơ sở hạ tầng hậu cần và căn
cứ quân sự tại 5 quốc gia Đông Nam Á: Campuchia, Indonesia, Myanmar, Thái Lan và Singapore Các chuyên gia quốc tế cho rằng Bắc Kinh có thể cân nhắc mô hình đầu tư phát triển để tiếp cận cơ sở hạ tầng thương mại ở nước ngoài rồi âm thầm thiết lập cơ sở hậu cần hoặc căn cứ quân sự với lực lượng đóng quân Mô hình này từng được Bắc Kinh sử dụng từ năm 2017 để thiết lập căn cứ nước ngoài đầu tiên ở Djibouti Trong khi tình hình eo biển Đài Loan nóng lên, ngày 14/8, Mỹ và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đồng thời tiến hành các cuộc tập trận quân sự ở Đông Nam Á nhằm tăng cường ảnh hưởng của mình tại đây Bắt đầu từ ngày 14/8, quân đội Trung Quốc và Không quân Thái Lan sẽ tiến hành cuộc tập trận chung trên không mang mật danh “Falcon Strike 2022” Mỹ cũng bị Trung Quốc bỏ lại phía sau trong chính sách ngoại giao vaccine đối với Đông Nam Á Theo số liệu trực tuyến của “Our World in Data”, tỷ lệ người được tiêm chủng tại Campuchia hiện
Trang 24đứng thứ hai trong ASEAN (13,7%), nhờ nguồn cung cấp từ Trung Quốc và Nga Đặc biệt tại khu vực Tiểu vùng Sông Mekong, Trung Quốc có lợi thế hơn hẳn Chính vì những lý do trên đã ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á, đòi hỏi Mỹ phải gia tăng ảnh hưởng, tái định hình lại những ưu tiên tại khu vực, tránh để Trung Quốc chiếm được lợi thế và ảnh hưởng rộng lớn tại khu vực trung tâm CA-TBD này
1.1.2 Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động và ngày càng chiếm giữ vị trí địa - kinh tế, địa chính trị quan trọng trong tính toán chiến lược của các nước lớn Khu vực này tập trung phần lớn các tuyến giao thông quốc tế huyết mạch bao gồm cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường hàng không Thái Bình Dương chính là cầu nối Đại Tây Dương và Ấn
Độ Dương tới Vịnh Persic Vị trí của khu vực này có thể sử dụng làm các căn
cứ quân sự, các căn cứ quan sát theo dõi tàu ngầm qua lại, đặt các trạm rađa, thông tin, các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè cũng như xây dựng các căn cứ để bảo vệ giao thông vận tải biển và làm các căn cứ xuất phát cho những cuộc tấn công trên bộ Không những thế, đây cũng là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, không chỉ về loại hình mà còn ở quy mô, trữ lượng
Từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đến nay, CA-TBD luôn là khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới và sự phát triển năng động của khu vực thông qua hàng loạt các cơ chế hợp tác, liên kết trong khu vực với nhiều tầng nấc và mở rộng trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế cho đến chính trị, an ninh Có thể thấy, sự phát triển năng động của khu vực đã trở thành một trong những căn nguyên
để khu vực này trở thành nơi hội tụ lợi ích chiến lược của các nước lớn Đồng thời, tương quan lực lượng giữa các nước lớn từng bước có sự thay đổi do sự lớn mạnh của Trung Quốc, Ấn Độ, Nga nên các nước lớn không ngừng cạnh tranh gia tăng ảnh hưởng trong khu vực Vì thế, sự va chạm lợi ích giữa các nước trong khu vực là điều không tránh khỏi
Trang 25Mặt khác, khu vực CA - TBD còn có thêm một điểm nổi bật khiến các nước lớn không ngừng can dự sâu vào các vấn đề an ninh của khu vực,
đó là do khu vực tồn tại rất nhiều “điểm nóng” như vấn đề Đài Loan, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề Biển Đông Đối với Mỹ, CA-TBD tuy không phải là địa bàn chiến lược truyền thống như châu Âu, Trung Đông
- châu Phi và Nam Mỹ nhưng nơi đây hiện diện khá nhiều thách thức về kinh tế và an ninh đe dọa lợi ích của Mỹ trong khu vực, nổi bật là các tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền trên Biển Đông và biển Hoa Đông; xu hướng chạy đua vũ trang trong khu vực; các vấn đề an ninh phi truyền thống và xuất hiện nhiều đối thủ tiềm tàng như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc Bởi vậy, trước việc Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ và trở thành đối thủ có đủ tầm đe dọa vị thế siêu cường của Mỹ, cạnh tranh mạnh mẽ với Mỹ tại khu vực, Mỹ buộc phải tập trung nhiều hơn vào khu vực CA-TBD để duy trì lợi ích chiến lược, kinh tế và chính trị
Cấu trúc an ninh - chính trị khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương đang có
xu hướng chuyển sang cạnh tranh quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ Cả hai cường quốc đều triển khai những chiến lược lớn, như Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) của Trung Quốc và Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP) của Mỹ nhằm gia tăng vị thế của mình trong cấu trúc quyền lực khu vực Mức độ chênh lệch quyền lực trong phân bố giữa
Mỹ và Trung Quốc chưa đủ tương đương để có thể đối đầu quyết liệt Xu hướng hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau vẫn đủ mạnh để góp phần kiềm chế cạnh
tranh gia tăng thành xung đột quyền lực công khai Các nước vừa và nhỏ trong
khu vực ngày càng bị đặt trước nguy cơ phải “chọn bên” nhưng vẫn có thể có những lựa chọn khác, chẳng hạn như “phòng bị nước đôi” (hedging) mà hiện nay nhiều nước trong khu vực đang theo đuổi [16, tr10]
Trang 261.1.3 Tình hình khu vực Đông Nam Á
Hiệp hội các Quốc gia ĐNA (viết tắt là ASEAN) là một tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực ĐNA được thành lập ngày 8/8/1967 với các thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines, nhằm biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên ASEAN có diện tích 4,46 triệu km², chiếm 3% tổng diện tích thế giới và có dân số khoảng 600 triệu, chiếm 8,8% dân số thế giới [8, tr10] Vùng biển của ĐNA có diện tích gấp ba lần so với diện tích đất Nếu coi ASEAN là một thực thể duy nhất thì thực thể này sẽ xếp hạng 10 trong số các nền kinh tế lớn nhất trên thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản,
Ấn Độ, Đức, Nga, Pháp, Canada, Tây Ban Nha, Brazil, Anh và Ý Dự kiến đến năm 2030, kinh tế ASEAN có thể vươn lên thứ 4 thế giới [8, tr27]
Trong đầu thế kỷ XXI, khu vực ĐNA có nhiều chuyển biến quan trọng ĐNA, cụ thể là ASEAN đã xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN và đang thực thi các tầm nhìn Cộng đồng năm 2025, Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN năm 2040 [14, tr26] Trong bối cảnh khu vực hóa và toàn cầu hóa đang lan rộng, ASEAN tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các cấu trúc hợp tác khu vực và thế giới ĐNA vẫn là địa bàn cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn, đặc biệt giữa Mỹ - Trung Quốc Với Mỹ, sau khi kết thúc Thế chiến II, Mỹ luôn coi ĐNA là khu vực có tầm quan trọng trong chiến lược toàn cầu của mình Mỹ có đồng minh và đối tác trong khu vực như Philippines và Thái Lan Với Chiến lược an ninh “Trục và Nan hoa”, Mỹ đã xây dựng được một mạng lưới các liên minh ở các nước châu Á nói chung và ĐNA nói riêng Đối với Trung Quốc, ĐNA và ASEAN cũng là khu vực có tầm quan trọng địa chiến lược vô cùng lớn đối với chính sách phát triển và tạo ảnh hưởng của Trung Quốc Hiện nay khu vực ĐNA bên cạnh những phát
Trang 27triển vượt bậc về kinh tế (mặc dù bị ảnh hưởng bởi Covid-19, các nền kinh tế ĐNA được dự báo sẽ tăng trưởng 5,1% trong năm 2022) [9, tr15], chính trị, các quốc gia đang có những quan điểm độc lập, chính sách ngày càng gắn kết, tạo nên một khu vực với sức mạnh mới Tuy nhiên thời gian gần đây trước sự ảnh hưởng của dịch bệnh, ĐNA cũng xuất hiện những bất ổn nhất định như trường hợp tại Myanmar, khủng bố gia tăng và căng thẳng tại Biển Đông
Thời gian qua, trước bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19, căng thẳng Myanmar, xung đột Nga - Ucraina, căng thẳng tại Biển Đông đã tác động lớn đối với các nước ĐNA trong hoạch định và triển khai chính sách Các nước ĐNA đã thể hiện được sự đoàn kết và thống nhất nội khối ASEAN, giữ vững lập trường nguyên tắc về đề cao thượng tôn pháp luật, tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin, kiềm chế, không làm phức tạp tình hình, giải quyết hòa bình các khác biệt trên cơ sở luật pháp quốc tế đối với những vấn đề tác động tới hòa bình, ổn định, an ninh khu vực Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp tại Myanmar, hiệp hội đã nhanh chóng đạt được và đang nỗ lực triển khai Đồng thuận 5 điểm nhằm hướng tới một giải pháp hòa bình không chỉ vì lợi ích và sinh kế của người dân Myanmar mà còn vì hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng của khu vực nói chung Trải qua những thăng trầm với biến chuyển của tình hình thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua, ĐNA với vị trí địa chiến lược quan trọng, là trung tâm của khu vực rộng lớn kết nối hai vùng biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương
đã định vị được chỗ đứng của mình với vai trò hạt nhân trong các tiến trình đối thoại, hợp tác đa phương, đa tầng nấc ở khu vực
Mẫu số lợi ích chung gắn kết các quốc gia ĐNA hơn 5 thập niên qua càng được nhân lên trong bối cảnh khó khăn, thử thách Cho dù chặng đường phía trước có thể có những khó khăn, song sự tỉnh táo trước thách thức, sự
Trang 28chủ động, linh hoạt trong ứng phó và sự gắn kết trong hành động sẽ tiếp tục là kim chỉ nam để các quốc gia ĐNA tự tin trên bước đường tiếp theo, xây dựng một Cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững mạnh, tự cường, đóng góp quan trọng vào hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng chung của khu vực
Tình hình tại khu vực Đông Nam Á thời gian qua cũng chịu sự tác động nặng nề, đa chiều bởi cuộc chiến Nga - Ucraina, cụ thể:
Thứ nhất, xung đột Nga - Ucraina tác động đến lòng tin chính trị của ĐNA Mặc dù các quốc gia ĐNA có những phản ứng khác nhau về xung đột này nhưng có điểm chung là các nước không có khả năng cũng như nhu cầu thể hiện lập trường của mình vì cho rằng việc lựa chọn phe giữa các cường quốc sẽ làm phức tạp thêm vấn đề an ninh và các nước ĐNA cũng có truyền thống và nhu cầu để duy trì nền độc lập đối ngoại của họ Đối với Mỹ, ĐNA
sẽ có phần hoài nghi về khả năng “ô an ninh” của Mỹ đối với khu vực này bởi Ucraina là một ví dụ
Thứ hai, xung đột Nga - Ucraina tác động đến tinh thần hợp tác nội khối của ASEAN cũng như vai trò quốc tế của khối này Xung đột Nga - Ucraina và căng thẳng Nga - phương Tây đã đặt việc “liên minh các nước nhỏ” vào trong hoàn cảnh khó khăn ĐNA chủ yếu là các nước nhỏ, tầm trung và đang có nhiều nghi hoặc chỉ đang dừng lại ở mức độ “liên kết mà không liên minh”, giữ một vai trò tương đối hạn chế trong cục diện quốc tế hiện nay Điều này có lợi cho các quốc gia bên ngoài, nhất là các nước lớn trong việc lôi kéo tập hợp lực lượng, theo đó nguy cơ chọn bên đối với các nước ĐNA ngày càng gia tăng
Thứ ba, xung đột Nga - Ucraina tác động đến hợp tác của ĐNA với Nga khi Nga là một đối tác then chốt đối với các quốc gia ĐNA, nhất là trong lĩnh vực mua sắm vũ khí quân sự Từ năm 1999 - 2018, Nga liên tục chiếm vị trí hàng đầu về nhập khẩu vũ khí của ĐNA, chiếm 26% tổng kim ngạch nhập khẩu của khu vực Với Việt Nam, gần 80% thiết bị quân sự của Việt Nam do
Trang 29Nga cung cấp kể từ năm 2000 [9, tr35] Các nước ĐNA thực hiện chính sách
“phòng ngự nước đôi” để hợp tác với cả hai siêu cường (Mỹ, Trung Quốc) đồng thời đa dạng hóa quan hệ với các nước khác Vì vậy việc mua vũ khí từ Nga được coi là phù hợp và chấp nhận được khiến các bên không căng thẳng
1.2 Vị trí và vai trò của Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của Mỹ
Về vị trí địa chính trị, ĐNA đóng vai trò địa chính trị quan trọng, nhiều
quốc gia khu vực AĐD-TBD, nhất là phía tây Thái Bình Dương phụ thuộc lớn vào ĐNA Khu vực ĐNA cấu thành điểm giao nhau giữa châu Á và châu Đại Dương, giữa Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương cũng như là khu vực trung tâm của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Các tuyến thương mại trên biển trải dài từ bờ biển phía tây Thái Bình Dương và Đông Á đến Đông Phi, Tây Phi và Nam Á đều phải đi qua các eo biển của ĐNA Trong đó, eo biển Mallaca được coi là khu vực thương mại năng động nhất thế giới, giữ vị trí quan trọng Tương tự, hoạt động thương mại, nhất là các mặt hàng năng lượng, khoáng sản của các cường quốc như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và một số nền kinh tế nhỏ khác ở Đông Á cũng chủ yếu diễn ra trên các tuyến đường biển đi qua khu vực ĐNA Tiếp đó, Tầm nhìn FOIP của Mỹ sẽ khó đạt được mục tiêu chính (ngăn ngừa và kiềm chế sự nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc) nếu thiếu vắng sự tham gia của ASEAN, bởi vị trí địa chính trị quan trọng của khu vực này ĐNA là nơi hội tụ của các nhà nước đa dạng, mà một vài trong số đó vẫn còn ở tình trạng chưa phát triển về kinh tế và nền dân chủ, đồng thời duy trì nhiều quan hệ liên minh lỏng lẻo Dù tồn tại hạn chế, ASEAN với tư cách là một trong nhiều cấu trúc đa phương của châu Á, với các cuộc họp thường niên đóng vai trò là mặt trận quan trọng để thể hiện các
ý tưởng (cạnh tranh, hợp tác, vừa cạnh tranh vừa hợp tác) giữa các cường quốc trên thế giới Điều này thể hiện tầm quan trọng của vị thế địa chiến lược
Trang 30của tổ chức này trong các cấu trúc khu vực, trong đó có Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ được công bố vào tháng 2/2022
Về kinh tế, ĐNA là nền kinh tế lớn thứ 3 ở châu Á, sau Trung Quốc và
Nhật Bản ĐNA là một thị trường lớn, với dân số gần 650 triệu người, diện tích trên 4,4 triệu km2, tổng GDP, trao đổi thương mại và thu hút đầu tư quốc
tế năm 2019 lần lượt là 3,17 nghìn tỷ USD, 2,82 nghìn tỷ USD và 160,6 tỷ USD; dự báo GDP của khu vực ĐNA sẽ tăng 5,1% trong năm 2022 [9, tr29] Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập của ASEAN đánh dấu một cột mốc, giai đoạn quan trọng mới với việc tuyên bố xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN (AC), trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Tuy nhiên, AEC không phải là điểm kết thúc của hợp tác và hội nhập khu vực, mà các quốc gia ASEAN sẽ tiếp tục tiến trình liên kết kinh tế gắn kết chặt chẽ, sâu rộng hơn để tiến lên một nấc thang mới Điều này được thể hiện bằng việc các quốc gia, thành viên thông qua “Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng ASEAN 2025”, trong đó có Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC 2025 ASEAN cũng đã xây dựng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, 2030 Mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế đảm bảo các tiêu chí như: hội nhập cao và gắn kết; tạo
ra sự tăng trưởng kinh tế cân bằng và toàn diện hơn; thúc đẩy tăng năng suất mạnh mẽ thông qua đổi mới, phát triển công nghệ và nguồn nhân lực; thúc đẩy các nguyên tắc quản trị tốt; mở rộng kết nối người dân, thể chế và hạ tầng ASEAN; tạo ra một ASEAN năng động và có sức bật hơn để có khả năng ứng phó và thích nghi với những thách thức mới; củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc hợp tác an ninh, kinh tế khu vực Triển vọng phát triển
và hình thành khu vực ASEAN gắn kết hơn vào năm 2025 như được vạch ra trong Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 được kỳ vọng giúp ASEAN cũng như các thành viên của khối cải thiện khả năng cạnh tranh và vị thế khu vực
và quốc tế của mình, đặc biệt là vị thế trong các cấu trúc hợp tác khu vực Trong sản xuất, cung ứmg và phân phối hàng hóa, dịch vụ trong khu vực và
Trang 31trên thế giới Đây là cơ hội tốt để Mỹ tranh thủ sự phát triển trong hợp tác, thúc đẩy phát triển giao thương, kinh tế nhất là trong bối cảnh đang chịu nhiều sự trừng phạt từ phía Nga trong căng thẳng Nga - Ucraina Thời kỳ hậu Covid-19 khi đầu tư và thương mại quốc tế đang có xu hướng dịch chuyển, đặc biệt khi dòng đầu tư quốc tế đang có xu hướng chuyển dịch nhiều sang các nước ĐNA, khu vực này trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và cung ứng toàn cầu để giúp giải quyết những đứt gãy của chuỗi cung ứng do phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc
Về hợp tác, ASEAN đóng góp tích cực vào hợp tác khu vực, nhất là
khu vực CA-TBD, giúp Mỹ tranh thủ trong chiến lược lôi kéo sự ủng hộ của các quốc gia trong các vấn đề khu vực ASEAN đã đóng vai trò quan trọng với tư cách trung gian hòa giải các bất đồng và xung đột giữa các quốc gia trong khu vực như tranh chấp lãnh thổ giữa Malaysia và Philippines, tranh chấp chủ quyền biển giữa Malaysia và Indonesia Vì vậy, ASEAN có lợi ích trong việc định hình cấu trúc hợp tác của khu vực nhằm đảm bảo hòa bình, an ninh, sự ổn định và thịnh vượng ở ĐNA cũng như ở khu vực CA-TBD Bên cạnh đó, nhiều cơ chế hợp tác trong khu vực CA-TBD đã được thiết lập và đang hoạt động ổn định như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế CA-TBD (APEC); các
cơ chế do ASEAN dẫn dắt như EAS, ASEAN+, ARF và ADMM+ Những cơ chế hợp tác về các vấn đề mang tính chiến lược được nêu ở trên cũng chính là những cơ chế cấu thành cấu trúc an ninh khu vực CA-TBD hiện nay Tuy nhiên, trong một môi trường cạnh tranh chiến lược mới, vai trò trung tâm của ASEAN đối diện với không ít thách thức, đặt ra những hoài nghi về khả năng thực chất của ASEAN có thể phát huy vai trò của mình trong cấu trúc hợp tác khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Tuy nhiên thời gian tới và cụ thể trong nhiệm kỳ Tổng thống Joe Biden, ĐNA vẫn đóng vai trò và vị trí quan trọng trong việc hoạch định triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ trên nhiều mảng như chính trị, kinh tế, hợp tác, an ninh và quân sự
Trang 32Đặc biệt, chính sách đối ngoại của Mỹ thời gian qua đã cho thấy được tầm quan trọng, vị thế, vai trò của ĐNA sau những nội dung đạt được tại Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Mỹ - ASEAN lần đầu tiên được tổ chức tại Washington DC, Mỹ vào ngày 12-13/5/2022 Sự kiện này được tổ chức vào năm Mỹ và ASEAN kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ Tổng thống Joe Biden nhận định đây là cuộc họp lịch sử, đánh dấu cho việc khởi động một kỷ nguyên mới trong quan hệ giữa Mỹ và ASEAN Việc đưa ra được Tuyên bố tầm nhìn chung Mỹ - ASEAN đã cho thấy cam kết mạnh mẽ nhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai bên trên nhiều khía cạnh Có thể thấy, điểm hội tụ lợi ích giữa Mỹ và ASEAN là cả Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Chính quyền J Biden (2022) và Tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của ASEAN (2019) đều chia sẻ các nguyên tắc cơ bản có liên quan trong việc thúc đẩy một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và dựa trên luật lệ, trong đó ASEAN là trung tâm, bên cạnh các đối tác cùng thực hiện các mục tiêu này Trong Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ công bố vào tháng 02/2022, Mỹ đảm bảo rằng ASEAN vẫn là một khu vực hàng đầu và vai trò trung tâm của khối tạo động lực an ninh khu vực sẽ được duy trì Hội nghị thượng đỉnh diễn ra sau khi Mỹ công bố chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương cho thấy sự coi trọng và triển khai cụ thể của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương đặc biệt là coi trọng vai trò trung tâm của ASEAN trong chiến lược của Mỹ đối với khu vực
Mặc dù vị thế của Mỹ có phần sụt giảm so với thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh do gặp phải những bất lợi, cản trở từ các cường quốc mới nổi, tuy nhiên
Mỹ vẫn đóng vai trò là một siêu cường với khả năng chi phối đến tất cả các mối quan hệ quốc tế cũng như việc hoạch định chính sách của các nước Mỹ tiếp tục thể hiện sức mạnh, tiềm lực quốc gia vô cùng to lớn trên nhiều khía cạnh, lĩnh vực Mỹ không những rộng lớn về mặt địa lý với diện tích 9,6 triệu
km2 chiếm 6,2% diện tích toàn cầu (lớn thứ tư thế giới) và quy mô dân số
Trang 33khoảng 330 triệu người mà còn có nền kinh tế lớn nhất thế giới, GDP (năm 2021) đạt hơn 23 nghìn tỷ USD, kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ chiếm khoảng 12,22%; dân số chưa tới 5% dân số thế giới nhưng Mỹ lại chiếm tới gần 23,6% sản lượng kinh tế thế giới [16] Nước Mỹ không chỉ có thị trường nội địa lớn nhất cho các loại hàng hóa, mà còn chiếm vị trị tuyệt đối trong thị trường dịch vụ Qua nhiều biến động lớn về kinh tế toàn cầu, giá trị đồng đôla
Mỹ (USD) vẫn không bị sụt giảm, đồng USD vẫn là đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch quốc tế và luôn chiếm tỷ trọng cao trong lượng
dự trữ tiền tệ toàn cầu Mỹ là quốc gia có nền khoa học công nghệ đứng đầu thế giới, hàng năm, chính phủ Mỹ dành ra ngân sách lớn để tập trung nghiên cứu và phát triển công nghệ Các tập đoàn công nghệ điển hình tại Mỹ có thể
kể đến như Google, Microsoft, Apple, Amazon, Facebook Giá trị nguồn tài nguyên đứng cao thứ hai thế giới Mỹ tham gia cơ bản vào các Hiệp định và
và có vai trò chủ đạo tại các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO)…
Tại khu vực CA-TBD, Mỹ vẫn là nước đứng đầu Xét trên cấp độ quốc
gia, Mỹ có những ưu thế vượt trội đáng kể trong ba thành tố cơ bản của sức mạnh tổng hợp quốc gia, đó là quân sự, kinh tế và khoa học - công nghệ Trên cấp độ hệ thống, Mỹ có ưu thế hơn các cường quốc khác với mạng lưới đồng minh trong khu vực Chưa kể, Mỹ còn có thêm sự “tiếp sức” từ hệ thống - cấu trúc toàn cầu mà Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương là một bộ phận Có thể nói, Mỹ là quốc gia luôn được các nước khác đặc biệt chú trọng trong quan hệ
và nhất là với khu vực ĐNA Việc thúc đẩy quan hệ, tranh thủ được cơ hội kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh với một siêu cường như Mỹ sẽ khiến các nước ĐNA tăng thêm tiềm lực quốc gia, mở rộng nhiều kênh hợp tác và nâng
cao vị thế, tiếng nói tại khu vực, trên trường quốc tế
Trang 341.3 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ
Các Tổng thống tiền nhiệm đều có những chính sách đối ngoại hoàn toàn riêng biệt và có nét riêng đối với khu vực ĐNA: Sau Chiến tranh Lạnh,
Mỹ tiếp tục đề ra chiến lược “Can dự và Mở rộng”, nhấn mạnh việc xây dựng một cộng đồng CA-TBD mới với ba trụ cột chính là kinh tế, an ninh và chính trị dưới thời Tổng thống Bill Clinton Tiếp theo dưới thời Chính quyền Tổng thống W Bush, Mỹ coi ĐNA là mặt trận thứ hai sau Afghanistan và Mỹ cần
có sự quan tâm đối với khu vực này Đến thời Tổng thống B Obama, Mỹ thực hiện các chính sách của chiến lược xoay trục sang CA-TBD ngày càng rõ ràng và khi đó Joe Biden là Phó Tổng thống do đó những chính sách hiện tại của Tổng thống Joe Biden ít nhiều ảnh hưởng và kế thừa từ cựu Tổng thống
B Obama, đề cao vai trò ĐNA và tiếp tục đẩy mạnh chiến lược xoay trục
Thời chính quyền B Obama, Mỹ thực thi chính sách xoay trục sang châu Á nhằm thiết lập thế tái cân bằng ảnh hưởng để thể hiện vai trò lớn hơn của Mỹ trong khu vực Sự phát triển của mối quan hệ Mỹ và ĐNA thực sự bắt đầu từ thời chính quyền của cựu Tổng thống Mỹ B Obama với chiến lược
“tái cân bằng CA-TBD” Thành tựu quan trọng của chính quyền cựu Tổng thống B Obama là đã thiết lập các khuôn khổ hợp tác với các nước ĐNA, tăng cường hợp tác chính trị và quân sự với các đồng minh ở khu vực CA-TBD, khởi xướng Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Dưới thời Tổng thống B Obama, các hoạt động ngoại giao, kinh tế, quân sự, văn hóa… mà Mỹ triển khai ở khu vực ĐNA diễn ra khá sôi động và toàn diện Đây được đánh giá là giai đoạn Mỹ triển khai “chính sách can dự mang tính xây dựng” tại ĐNA, duy trì một mối quan hệ hài hòa, tuy nhiên lại được cho
là thiếu hiệu quả Mỹ đã không đạt được mục tiêu đặt ra là kiềm chế sức mạnh
và ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc đối với khu vực, trong khi Trung Quốc với tiềm lực ngày càng lớn mạnh và triển khai một chính sách ngoại giao thực dụng, phát huy “sức mạnh mềm”, xây dựng được mối quan hệ
ngày càng gần gũi, ràng buộc với nhiều đối tác trong khu vực
Trang 35Sự chú trọng đến khu vực được thể hiện một lần nữa, mạnh mẽ hơn dưới thời cựu Tổng thống D Trump khi ông đưa ra Chiến lược “Ấn Độ - Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở - FOIP” Đây có thể được coi là sự điều chỉnh cách tiếp cận mới của Mỹ đối với khu vực châu Á trong bối cảnh mới
và nhiều thách thức từ phía Trung Quốc Chiến lược đã được phát triển mạnh
mẽ dưới thời Tổng thống D Trump và đến thời Joe Biden, đây được xem là thành tựu để học hỏi, phát triển và công cụ để kiềm chế, kìm hãm sự phát triển, sức mạnh của Trung Quốc Như vậy có thể thấy ĐNA luôn có vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ, là khu vực giúp
Mỹ duy trì sức mạnh cũng như đảm bảo vai trò bá quyền của Mỹ Bên cạnh
đó, khu vực ĐNA là nơi có những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới
và có tầm quan trọng cao về mặt địa chính trị, địa chiến lược, nên Mỹ xác định tương lại của Mỹ nằm trong mối quan tâm đối với khu vực này Vì tầm quan trọng như vậy của khu vực nên Mỹ xác định thúc đẩy hỗ trợ nhằm đảm bảo rằng quan hệ kinh tế trong khu vực được xây dựng và phát triển dựa trên môi trường đầu tư mở, thương mại công bằng, có đi có lại và trên cơ sở các thỏa thuận minh bạch giữa các quốc gia
Tuy nhiên, chính sách đối ngoại bảo thủ của Tổng thống tiền nhiệm Donald Trump đã tác động không nhỏ đến việc hoạch định chính sách của Tổng thống J Biden đối với ĐNA, nhất là trong giải quyết các khó khăn mà
D Trump để lại Trong thời kỳ chính quyền của Tổng thống Mỹ D Trump, quan hệ Mỹ - Trung Quốc từng bước leo thang căng thẳng, nhanh chóng rơi vào tình trạng đối đầu, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế - thương mại, quyền
sở hữu trí tuệ và các vấn đề về Tân Cương, Đài Loan, Hồng Kông Cuộc đối đầu mang tính ý thức hệ Mỹ - Trung Quốc với những giằng co và các lệnh trừng phạt liên tiếp, bên cạnh đó là hàng loạt những biện pháp ngoại giao được hai cường quốc triển khai nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng trên thực tế
Trang 36đã đẩy các nước ĐNA rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí là bế tắc chiến lược trong triển khai quan hệ với Mỹ Sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đã làm trầm trọng thêm tình hình và thu hẹp đáng kể không gian hợp tác của các nước ASEAN, vốn có quan hệ mật thiết với Mỹ Xu thế đơn phương mà chính quyền của cựu Tổng thống D Trump thúc đẩy trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại và quốc phòng cũng như việc thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong chính sách đối ngoại (Mỹ rút khỏi TPP; vị trí Đại sứ Mỹ tại ASEAN luôn bị bỏ trống; cựu Tổng thống D Trump gần như chưa từng tham dự Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á như tất cả các chính quyền tiền nhiệm trước đó) cũng đã khiến nhiều nước ĐNA, vốn ưu tiên hợp tác đa phương
và thúc đẩy toàn cầu hóa để tăng cường tiềm lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đã giảm sút đáng kể lòng tin đối với Mỹ
Chính quyền của Tổng thống J Biden triển khai chính sách đối ngoại đối với khu vực CA-TBD trong điều kiện có nhiều thay đổi Chính sách và các biện pháp cứng rắn của chính quyền tiền nhiệm đã đẩy quan hệ Mỹ - Trung Quốc lên mức căng thẳng nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh Bên cạnh đó, nhận thức trong nội bộ Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ cũng như người dân Mỹ đã thay đổi triệt để trong vài năm qua theo hướng thống nhất coi Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh trực tiếp, toàn diện với Mỹ Rõ ràng, Mỹ không thể quay lại chiến lược can dự ôn hòa như thời chính quyền của Tổng thống B Obama, mà cần có một cách tiếp cận mới hiệu quả hơn Trong Cương lĩnh tranh cử của mình, Tổng thống J Biden từng bày tỏ mục tiêu tham vọng giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc, đồng thời cam kết tăng cường hợp tác quốc phòng với các đồng minh trong khu vực Mặt khác, chính quyền của Tổng thống J Biden cũng cho biết s n sàng hợp tác với Trung Quốc trong các vấn
đề, như bảo vệ môi trường, y tế toàn cầu và giải trừ quân bị, đồng thời nhấn
Trang 37mạnh ngoại giao phải là công cụ quan trọng hàng đầu trong việc hiện thực hóa sức mạnh của Mỹ Duy trì một mối quan hệ “cứng rắn nhưng không quá khiêu khích”; cạnh tranh khi cần thiết, hợp tác khi có thể và đối đầu khi bắt buộc, được Mỹ xác định là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ của Mỹ đối với Trung Quốc và rõ ràng điều này sẽ là một chỉ dấu ngoại giao quan trọng để các nước ĐNA điều chỉnh chính sách, linh hoạt thích ứng trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc vẫn là một vấn đề gai góc, lâu dài và phức tạp
Bên cạnh đó, quan điểm, thái độ của chính quyền và cá nhân Tổng thống Joe Biden cũng ảnh hưởng lớn tới chính sách đối ngoại của Mỹ đối với
ĐNA Với khẩu hiệu “Nước Mỹ trở lại” và chú trọng thực thi “chính sách
ngoại giao trung tâm”, Tổng thống Joe Biden quan tâm hơn đến việc sử dụng sức mạnh của các thiết chế đa phương, mạng lưới liên minh và đồng minh/đối tác để thúc đẩy các giá trị của Mỹ trên toàn cầu, khắc phục chính sách “đơn phương”, “biệt lập” của chính quyền Trump; khôi phục vị thế, ảnh hưởng, uy tín lãnh đạo quốc tế Mỹ tại các khu vực trọng yếu, chiến lược trong đó có ĐNA Đối với các nhân vật chủ chốt trong bộ máy chính quyền Tổng thống Joe Biden cũng có những góc nhìn, góc tiếp cận hết sức lưu tâm đến khu vực ĐNA Có thể nhận thấy điều này thông qua hàng loạt các chuyến thăm gần đây của các quan chức cấp cao Mỹ đến ĐNA như Ngoại trưởng Antony Blinken (8/12/2021) lần lượt thăm Indonesia, Malaysia, Thái Lan; Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề Ðông Á Daniel Kritenbrink (27/11/2021 - 4/12/2021) thăm 4 nước Ðông Nam Á (gồm Indonesia, Malaysia, Singapore
và Thái Lan); Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris (24-26/8/2021) thăm Việt Nam; Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin (28-30/7/2021) thăm Việt Nam; Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề Ðông Á - Thái Bình Dương Daniel Kritenbrink đã từng làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam nhiệm kỳ 2017 - 2021
Trang 38Tiểu kết chương 1
Đông Nam Á là một khu vực luôn được các nước lớn dành sự quan tâm hàng đầu, một phần quan trọng trong hoạch định chính sách đối ngoại của các nước lớn do vị trí địa chiến lược và địa kinh tế đặc thù của khu vực
Về vị trí địa lý, ĐNA tiếp giáp với các cường quốc như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga và Australia, mang một vị trí địa chiến lược Về kinh tế, ĐNA nằm trên con đường thông thương quan trọng hàng đầu thế giới, khả năng tăng trưởng nhanh chóng, nền kinh tế năng động Với vai trò và vị trí quan trọng như vậy, ĐNA luôn nắm giữ ưu tiên trong tính toán chiến lược đối ngoại của Mỹ dưới các đời Tổng thống Trong bối cảnh Tổng thống Joe Biden mới nhậm chức vào tháng 01/2021, cùng với thách thức toàn cầu, những tác động đến từ sự tập hợp lực lượng trên thế giới, các vấn đề nội bộ
và quốc tế, an ninh phi truyền thống, đòi hỏi Mỹ cần có những chính sách
nhất quán và hiệu quả tại khu vực ĐNA Bởi đối với Mỹ, CA-TBD có vai trò
hết sức quan trọng trong lợi ích chiến lược và an ninh của họ, với mục tiêu duy trì sự lãnh đạo lâu dài tại khu vực và toàn cầu, cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc, Nga; Thúc đẩy thương mại tự do, bình đẳng; Duy trì không gian biển và bầu trời mở trong khu vực; Giải quyết hiệu quả các thách thức
an ninh phi truyền thống Chính quyền Tổng thống Joe Biden vẫn tiếp nối chiến lược của người tiền nhiệm, nhưng chính sách mới có nhiều đổi mới và khẳng định: Thúc đẩy hợp tác chiến lược với các đồng minh, đối tác; Tăng cường can dự cả về kinh tế, chính trị, an ninh; Cạnh tranh chiến lược, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không; Bảo vệ lợi ích, an ninh của Mỹ và đồng minh, đối tác; Giữ vị thế, ảnh hưởng của Mỹ, ngăn chặn, kiềm chế sự “trỗi dậy” của Trung Quốc tại ĐNA
Trang 39CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
2.1 Chính sách đối ngoại tổng thể của Mỹ dưới thời Tổng thống Joe Biden
Trong Cương lĩnh tranh cử của đảng Dân chủ năm 2020, có thể nhận
ra các kế hoạch của Chính quyền Joe Biden nhằm xây dựng quan hệ đối ngoại và thúc đẩy các lợi ích của Mỹ ở nước ngoài [II, 18] Qua hơn 2 năm nắm quyền, chính sách đối ngoại chung, tổng thể của Mỹ dưới thời Tổng
thống Joe Biden nhằm: (i) Ưu tiên khôi phục, củng cố lại lòng tin chiến lược
với các đồng minh chủ chốt và đối tác quan trọng tại châu Âu, Bắc Mỹ và
Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, tham gia trở lại các cơ chế đa phương mà
Mỹ có lợi ích cốt lõi; (ii) Triển khai chính sách ngoại giao đa phương, khẳng
định “ngoại giao trở lại trung tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ”, lấy các giá trị dân chủ cốt lõi của Mỹ làm điểm tựa (bảo vệ tự do, duy trì các quyền phổ biến, tôn trọng pháp quyền, đối xử công bằng), gia tăng cam kết của Mỹ trong ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống (như di cư, biến đổi khí hậu, đại dịch Covid - 19, khủng hoảng nhân đạo tại các khu vực
chiến sự ); (iii) Kiềm chế hai đối thủ chiến lược là Nga và Trung Quốc,
trong đó xác định Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh lớn nhất, còn Nga là đối
thủ cạnh tranh chiến lược; (iv) Khẳng định vai trò của Mỹ trong kiểm soát
các vấn đề khu vực khác như Triều Tiên, Iran, Iraq/Afghanistan, Israel - Palestine, Syria và Đài Loan
Châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá tiếp tục là khu vực ưu tiên trong chính sách đối ngoại của chính quyền Biden, được tiếp cận theo hướng
kế thừa chọn lọc Chiến lược AĐD-TBD của chính quyền D Trump, nhưng có
Trang 40thể điều chỉnh tên gọi và nội hàm theo hướng: (i) Đưa ra các sáng kiến mới về
an ninh - kinh tế - khoa học công nghệ, mở rộng nội hàm hợp tác giữa Mỹ với các nước trong khu vực về an ninh năng lượng, chống biến đổi khí hậu nhằm
tập hợp lực lượng, tiếp tục kiềm chế Trung Quốc; (ii) Tái cam kết bảo vệ các
đồng minh đối tác truyền thống của Mỹ tại khu vực, lấy “Bộ Tứ” làm hạt
nhân cho việc triển khai chính sách của Mỹ tại AĐD - TBD; (iii) Tiếp tục đẩy
mạnh thể chế hóa và hợp thức hóa can dự vào các liên kết khu vực và tiểu khu vực (MUSP, QUAD ), coi trọng và ủng hộ vai trò của ASEAN trong cấu
trúc khu vực; (iv) Mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực thông qua các
cơ chế đa phương, đồng thời duy trì chính sách “hai mặt” về vấn đề dân chủ,
nhân quyền; (v) Coi Tiểu vùng sông Mê Kông là một phần quan trọng trong
triển khai chiến lược mới, dự định nối lại các hoạt động hợp tác công nghệ, năng lượng, hạ tầng, kết nối các nước Tiểu vùng sông Mekong với Mỹ và Nhật Bản, Úc… để cạnh tranh ảnh hưởng và góp phần ngăn chặn các nước rơi vào quỹ đạo chi phối của Trung Quốc Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực này sẽ có sự kế thừa nhất định những di sản của chính quyền Trump, coi trọng lợi ích trực tiếp, ngắn hạn, song sẽ có những điều chỉnh theo hướng cân bằng hơn, từng bước quay trở lại tham gia và duy trì, thúc đẩy cấu trúc kinh tế khu vực để bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh đối tác
Đối với khu vực Đông Nam Á: Khu vực ĐNA/ASEAN đã được nêu
đích danh ở trang 78 của Cương lĩnh tranh cử của Tổng thống Joe Biden:
“Chúng tôi sẽ khôi phục cam kết can dự mạnh mẽ với các thể chế đa phương trong khu vực như ASEAN, và điều này sẽ giúp chúng tôi thúc đẩy pháp quyền cũng như tăng trưởng kinh tế bền vững và bao trùm ở cả hai bờ Thái Bình Dương” [II, 18] Đoạn mô tả chính sách này cho thấy cái nhìn sâu sắc về kế
hoạch can dự với ASEAN thời gian sắp tới của Tổng thống J Biden Về tổng thể, trong Chiến lược AÐD - TBD, Mỹ xác định thúc đẩy, củng cố vai trò