Đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 2009)” nhằm trình bày một cách khách quan khoa học, logic về chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống G.Bush đối với khu vực Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên) giai đoạn từ năm 2001 2009.Từ đó nêu lên những tác động đối với Việt Nam và những cơ hội, thách thức mà Việt Nam cần giải quyết trong thời gian sắp tới
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Thế giới
KHÓA 34 (2010 - 2014)
Cán bộ hướng dẫn:
HÀ VĂN THỊNH
Trang 2HUẾ, 06/2014Lời Cảm Ơn
Để thực hiện và hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân
và tổ chức Với tình cảm chân thành và lòng quý trọng, chophép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Thầy giáo Hà Văn Thịnh - khoa Lịch sử trường Đại họcKhoa học Huế, người thầy, người hướng dẫn khoa học đã tậntình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thựchiện khóa luận
Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Huế; Ban chủnhiệm và quý thầy cô trong khoa Lịch sử trường ĐHKH Huế đãquan tâm và tận tình chỉ dạy trong suốt thời gian tôi học tậptại trường
Tôi xin chân thành cám ơn Thư viện Quân đội, Thư việnQuốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Nghiêncứu châu Mỹ, Học viện Ngoại giao, Thông tấn xã Việt Nam,Trung tâm học liệu ĐH Huế, Thư viện Tổng hợp Tỉnh, phòng
Tư liệu khoa Lịch sử trường ĐHKH và ĐHSP Huế đã cungcấp những tài liệu quý giá, khoa học và thiết thực giúp tôihoàn thành đề tài này
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi được sự giúp
đỡ, động viên của gia đình, người thân, bạn bè, với một lòngbiết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cám ơn đến họ
Dù rất cố gắng, song khóa luận không tránh khỏi nhữngthiếu sót, kính mong quý thầy cô, các bạn học đóng góp ýkiến để khóa luận được hoàn chỉnh hơn Tôi xin chân thànhcám ơn
Tác giả
Trang 3Nguyễn Thị Ánh Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Bảng chữ cái viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 7
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Bố cục của khóa luận 8
CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG BẮC Á TRƯỚC NĂM 2001 10
1.1 Khái quát chiến lược toàn cầu của Mỹ trước năm 2001 10
1.1.1 Thời kỳ Chiến tranh lạnh (1945 - 1991) 10
1.1.2 Sau Chiến tranh lạnh (1991 - 2001) 12
1.2 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á trước năm 2001 14
1.2.1 Khái niệm khu vực Đông Bắc Á 14
1.2.2 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á trước năm 2001 15
1.2.2.1 Thời kỳ Chiến tranh lạnh (1945 - 1991) 15
1.2.2.2 Sau Chiến tranh lạnh (1991 - 2001) 24
CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG BẮC Á DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG GEOGRE WALKER BUSH
Trang 5(2001 - 2009) 30
2.1 Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á (2001 - 2009) 30
2.1.1 Tình hình thế giới, khu vực và nước Mỹ đầu thế kỷ XXI 30
2.1.2 Sự điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống G.W.Bush (2001 - 2009) 38
2.2 Vị trí của khu vực Đông Bắc Á trong toan tính chiến lược toàn cầu của Mỹ dưới thời Tổng thống G.W.Bush (2001 -2009) 43
2.2.1 Lợi ích về kinh tế 43
2.2.2 Lợi ích về an ninh - chính trị 45
2.3 Chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống G.W.Bush (2001 - 2009) 46
2.3.1 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản 46
2.3.2 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Hàn Quốc 50
2.3.3 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Quốc 53
2.3.4 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với CHDCND Triều Tiên 58
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG BẮC Á DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG GEOGRE WALKER BUSH (2001 - 2009) 65
3.1.Tác động của chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực và Việt Nam 65
3.1.1 Tác động đối với khu vực 65
3.1.2 Tác động đối với Việt Nam 69
3.2 Những thuận lợi và khó khăn, thách thức đối với Mỹ trong việc triển khai chính sách đối ngoại ở khu vực Đông Bắc Á hiện nay 72
3.3.Một số dự báo về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc 75
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ADB : The Asian Development Bank-Ngân hàng Phát triển châu Á.
ANZUS : Australia, New Zealand, United States Security Treaty -Khối
Hiệp ước an ninh Úc - New Zealand và Mỹ
APEC : AsiaPacific Economic Cooperation -Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương.
CHDCND : Cộng hòa Dân chủ Nhân dân.
EAEG : East Asian Economic Group -Nhóm kinh tế Đông Á.
FDI : Foreign Direct Investment-Vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài.
GDP : Gross Domestic Product-Tổng sản phẩm quốc nội.
IAEA : International Atomic Energy Agency-Cơ quan Năng lượng
Nguyên tử Quốc tế.
IMF : International Monetary Found -Quỹ tiền tệ quốc tế.
KAMD : Korean Air & Missile Defense -Hệ thống phòng thủ tên lửa và
phòng không Hàn Quốc.
KEDO : Korean peninsula Energy Development Organization- Tổ
chức Phát triển Năng lượng bán đảo Triều Tiên
NAFTA : North America Free Trade Agreement- Hiệp định Thương mại
Tự do Bắc Mỹ.
Trang 8NATO : North Atlantic Treaty Organization -Tổ chức Hiệp ước Bắc
Đại Tây Dương.
NDM : National missile Defence -Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia.
NIEs : Newly Industrialized Economies-Các nền kinh tế công nghiệp mới.
NPT : Non - Proliferat ion Treaty -Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt
nhân.
PNTR : Permanen Normal Trade Relation -Quy chế thương mại bình
thường vinh viễn.
POW/MIA : Prisoners of War/Missing In Action -Tù binh chiến tranh/Lính
Mỹ mất tích khi thi hành nhiệm vụ.
SCM : Supply Chain Management -Hội nghị Hiệp thương an ninh
SPI : Security Policy Initiative -Sáng kiến an ninh Hàn - Mỹ.
TMD : Theatre High Anti - Aircraft Defence -Hệ thống phòng thủ tên
lửa chiến trường.
USD : United States dollar -Đô la Mỹ.
WTO : World Trade Organization -Tổ chức Thương mại thế giới.
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, nước Mỹ với những sức mạnh quân sự vượt trội vềquân sự và kinh tế nên vẫn là “siêu cường duy nhất”, chi phối sâu sắc nền chínhtrị thế giới Tuy nhiên, cục diện quan hệ quốc tế đã thay đổi khi xuất hiện nhiềunhân tố và nhiều đối thủ mới trỗi dậy có tham vọng tranh giành địa vị “siêucường duy nhất” của Mỹ, vì vậy, khi trở thành vị Tổng thống thứ 43 của Hoa
Kỳ, Geogre Walker Bush đã coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện chiến lược,sách lược đối ngoại phù hợp để ngăn ngừa, răn đe các thế lực cạnh tranh với Mỹ.Trong số đó, biện pháp được Mỹ thực hiện nhất quán và xuyên suốt là tìm mọicách đứng chân, can thiệp, củng cố vị trí ở những địa bàn chiến lược trên thế giới
mà khu vực Đông Bắc Á cũng không nằm ngoài toan tính đó của Mỹ
Trước những biến động sâu sắc của tình hình thế giới, khu vực châu Á Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Bắc Á nói riêng nổi lên là khu vực
-có vai trò ngày càng tăng trong chiến lược đối ngoại của nhiều nước lớn, trong
đó có Hoa Kỳ Đông Bắc Á là khu vực tập trung nhiều lợi ích chính trị, an ninh,kinh tế quan trọng của Mỹ Về kinh tế, Đông Bắc Á cùng với Tây Âu và Bắc Mỹhợp thành ba trung tâm kinh tế chủ chốt của thế giới, với ba nền kinh tế chủ yếucủa khu vực (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) đã chiếm tới 1/5 GDP, hơn15% tổng giá trị mậu dịch và ¼ dân số thế giới Về chiến lược, Đông Bắc Á làđiểm giao thoa và hội tụ lợi ích và mâu thuẫn giữa các nước lớn nằm liền kềnhau là Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga Cả bốn cường quốc này đều có lợiích toàn cầu xung đột nhau, đã liên kết dưới hình thức liên minh tay đôi hoặc tay
ba chống lại một hoặc hai nước kia1 Về mặt an ninh, kết cấu chính trị quân sựthời Chiến tranh lạnh chưa bị loại bỏ tạo ra nguy cơ tiềm ẩn về xung đột, căngthẳng nhất là bán đảo Triều Tiên vẫn bị chia cắt, eo biển Đài Loan vẫn nóngbỏng và một số tranh chấp về hải đảo, lãnh thổ, lãnh hải…Trong khi đó, ĐôngBắc Á, khác với các khu vực khác như Đông Nam Á, Nam Á, Tây Âu, Trung
1 Như liên minh Mỹ - Xô - Trung trong CTTG II chống lại Nhật Bản; liên minh Xô - Trung trong thời kỳ đầu Chiến tranh lạnh chống lại liên minh Mỹ - Nhật; cấu kết Mỹ - Nhật - Trung chống lại Liên Xô trong giai đoạn sau của Chiến tranh lạnh; đối tác chiến lược Trung - Nga hiện nay chống lại Mỹ trong một số vấn đề
Trang 10Đông, Nam Mỹ, Đông Phi…là một khu vực duy nhất chưa hề có một tổ chứcliên kết khu vực về kinh tế cũng như về an ninh Lý do của sự phi liên kết nàychủ yếu là do đối kháng, nghi kỵ lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực và lợiích chồng chéo của các cường quốc trong và ngoài khu vực Thực trạng này lànguyên do và tạo ra cơ hội để Mỹ tiếp tục tăng cường sự hiện diện quân sự trongkhu vực.
Sau sự kiện 11/9/2001, chống khủng bố trở thành ưu tiên hàng đầu trongchiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ và chính quyền G.Bush đã sử dụng vấn đềnày để làm ngọn cờ tập hợp lực lượng Mỹ xem Đông Bắc Á là mặt trận quantrọng cùng với mặt trận Trung Đông trong cuộc chiến chống khủng bố Đồngthời, thách thức an ninh của Mỹ trước hết là sự lớn mạnh về mọi mặt của TrungQuốc sau Chiến tranh lạnh đã đe dọa tới sự lãnh đạo của Mỹ tại khu vực Do đó,chính sách của chính quyền G.Bush đối với khu vực Đông Bắc Á cũng theo đó
đã có sự điều chỉnh quan trọng nhằm đảm bảo lợi ích an quốc gia của Mỹ và cácđồng minh ở khu vực
Là một nước liền kề với Trung Quốc và các nước đồng minh của Mỹ, ViệtNam có vị trí địa - chính trị quan trọng ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương,hơn nửa thế kỷ qua luôn nằm trong tính toán chiến lược và chịu ảnh hưởng qualại của các mối quan hệ giữa nhiều nước lớn Chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệgiữa Việt Nam với nhiều nước lớn, đặc biệt với Mỹ có sự thay đổi sâu sắc.Tuynhiên, ở mức độ khác nhau, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam ít nhiều đềuchịu ảnh hưởng của những chính sách liên quan đến các vấn đề của khu vực Do
đó, việc tìm hiểu chính sách đối ngoại, an ninh của Mỹ nói chung cũng nhưchính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á nói riêng là một điều hết sứccần thiết, từ đó có thể giúp các nhà hoạch định chính sách tham khảo và đưa ranhững đối sách phù hợp nhằm đảm bảo an ninh và tăng cường quan hệ, hợp tácgiữa Việt Nam với Mỹ và các quốc gia khác trong khu vực
Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 - 2009)”làm Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Khoa Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Thế giới
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nước Mỹ là quốc gia có vai trò ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt của đời sốngquốc tế Do vậy việc triển khai chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ ở mỗithời kỳ đều có tác động nhất định đến các khu vực và mỗi quốc gia có liên quantrên thế giới Từ ý nghĩa thực tiễn đó mà chính sách đối ngoại của Mỹ từ rất sớm
đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Vấn
đề này đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu Nổi bật là các tác
phẩm như: “Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu” (Lý Thục Cốc, 1996), “Hoa
Kỳ cam kết và mở rộng”(Lê Bá Thuyên, 1997), “Bàn cờ lớn” (Zbigniew Brzezinski, 1999), “Ông chủ thứ 43 của Nhà Trắng” (Lê Huy Hòa, 2002), “Vấn
đề trừng phạt kinh tế trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” (Nguyễn Thái Yên Hương (chủ biên), 2003), “Học thuyết Bush” (Jamie Glozov, 2003), “Nước
Mỹ nửa thế kỷ - chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh” (Thomas J.McCormick, 2004), “Nhìn lại chiến lược đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh lạnh” (Hà Mỹ Hương, 2007), Nước Mỹ sau sự kiện 11/9 (W.Langewiesche, 2007), “Chiến lược toàn cầu của Mỹ sau Chiến tranh lạnh”
(Nguyễn Vũ Tùng, 2008)…Trong những công trình này, các tác giả đã trình bàymột cách khái quát bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình nước Mỹ trong từngthời kỳ làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối ngoại, cũng như nhữngđiều chỉnh trong chiến lược toàn cầu của Mỹ sau Chiến tranh lạnh để rút ranhững sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại dưới thời Tổng thống B.Clinton (1993
- 2001) và Tổng thống G.Bush (2001 - 2009)
Không chỉ nghiên cứu về chính sách đối ngoại tổng thể của Mỹ mà việchoạch định và triển khai chính sách đối với từng khu vực cũng được các nhànghiên cứu quan tâm khai thác Trong hai thập niên trở lại đây, châu Á - TháiBình Dương - một khu vực phát triển năng động nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nhân
tố bất ổn đã thu hút được sự chú ý của các Tổng thống Mỹ Do đó, một số lượng
lớn các công trình về chủ đề này cũng được công bố Đó là “Chính sách châu Á
- Thái Bình Dương của Mỹ từ Bill Clinton tới George W.Bush” (Lê Kim Sa, 2001); “Chiến lược an ninh Đông Á - Thái Bình Dương của Mỹ: từ Clinton đến Bush” (Lê Linh Lan, 2003); “Điều chỉnh chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Á sau Chiến tranh lạnh” (Ngô Hải Nam, 2003) Qua những tác phẩm
Trang 12này, một châu Á - Thái Bình Dương với những đặc điểm về kinh tế, chính trị, anninh được trình bày một cách sinh động Trên cơ sở đó, sự triển khai chính sáchcủa Mỹ trên nhiều lĩnh vực đối với khu vực này dưới thời Clinton và G Bush đãđược các tác giả phân tích và bình luận thấu đáo Ngoài ra, có nhiều công trìnhtiếp cận vấn đề dưới góc độ khác, đó là trình bày chính sách đối ngoại của Mỹ vềchâu Á - Thái Bình Dương trong sự đan xen với lợi ích chiến lược của các cườngquốc khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Nga Có thể kể đến tác giả Nguyễn Hữu
Cát với “Châu Á - Thái Bình Dương trong chiến lược của một số lớn ở khu vực”(1997); Ngô Xuân Bình với tác phẩm “Châu Á - Thái Bình Dương trong chính sách của Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc” (2008)
Đối với Đông Bắc Á, đầu tiên phải kể đến bài viết liên quan đến khái
niệm Đông Bắc Á như “Bàn thêm về khái niệm khu vực châu Á - Thái Bình Dương” (Trần Anh Phương, 2004), “Chính trị khu vực Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh lạnh” (Trần Anh Phương chủ biên, 2007) Ngoài ra, còn có các
công trình nghiên cứu chính sách đối ngoại, quan hệ giữa Mỹ và các nước ĐôngBắc Á từ sau Chiến tranh lạnh Trước hết đối với Nhật Bản đã có những công
trình nghiên cứu sau: “Quan hệ Mỹ - Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh” (Ngô Xuân Bình, 1995), tác giả Lê Linh Lan có các bài viết “Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật liên minh cho thế kỷ XXI” (Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, 1996), “Về những phương châm mới trong quan hệ an ninh Mỹ - Nhật” (Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, 1997) Trong bài viết “Liên minh an ninh Mỹ - Nhật: Sự chuyển biến và tái xác định” của Hà Hồng Hải trong cuốn “Quan hệ của Mỹ với các
nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương” (NXB Chính trị Quốc gia 2003)
đã nêu lên những chuyển biến trong mối quan hệ giữa hai nước Mỹ và Nhật Bảntrong bối cảnh mới
Về Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên, đây là hai chủ thể trên bán đảoTriều Tiên - một khu vực địa chiến lược của người Mỹ sau Chiến tranh thế giớithứ hai đến nay cũng được các học giả đặc biệt quan tâm Đầu tiên có thể kể đến
tác phẩm như: “Nóng bỏng bán đảo Triều Tiên” của Thông tấn xã Việt Nam xuất
bản năm 2004 Công trình đã tái hiện nhiều sự kiện quan trọng trên các lĩnh vựcchính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục của bán đảo Triều Tiên trong quákhứ cũng như tại Song vì nội dung bao quát nhiều vấn đề nên khía cạnh mà đề tài
Trang 13này đề cập chỉ được nhắc đến một cách sơ lược, khái quát Tiếp đó là “Liên minh
an ninh chính trị giữa Hàn Quốc và Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh” (Lê Văn Anh - Bùi Thị Kim Huệ, 2005); “Tổng quan về quan hệ Hàn - Mỹ” (Bùi Thị Kim
Huệ, 2007) đã trình bày sự phát triển của liên minh Mỹ - Hàn qua các giai đoạnlịch sử, ứng với nó là sự chuyển hóa tính chất liên minh, từ lệ thuộc hoàn toàn
sang phụ thuộc lẫn nhau Kế đó là công trình “Hợp tác an ninh, quân sự Mỹ - Hàn Quốc thời kỳ sau Chiến tranh lạnh” của Đỗ Trọng Giang (2004); Nguyễn Thị Mỹ Hạnh có tác phẩm “Hàn Quốc và Nhật Bản trong chiến lược an ninh Đông Bắc Á của Mỹ” (2009): nêu bật tầm quan trọng của liên minh Mỹ - Hàn trong tổng thể
chiến lược Đông Bắc Á của Mỹ, so sánh quan hệ Mỹ - Hàn Quốc với liên minh
Mỹ - Nhật Bản và đánh giá về triển vọng của liên minh này
Vị trí của CHDCND Triều Tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ khôngkém phần quan trọng Có thể khái quát tình hình nghiên cứu về vấn đề này như
sau: “Nhìn lại quan hệ Mỹ - Bắc Triều Tiên thời gian qua” của Đỗ Trọng Quang (2005); Nguyễn Xuân Sáng với công trình “Chính sách của Mỹ đối với CHDCND Triều Tiên những năm đầu thế kỷ XXI” (2009) đã trình bày một cách
khái quát CHDCND Triều Tiên trong lợi ích chiến lược của Mỹ cũng như chínhsách của Mỹ đã triển khai đối với quốc gia này trong và sau Chiến tranh lạnh.Qua đó, mối quan hệ chiến lược chồng chéo giữa Mỹ - Hàn Quốc - CHDCNDTriều Tiên đã được phản ánh một cách chân xác Ngoài ra, sự kiện nổi bật trênchính trường quốc tế đầu thập niên 90 đến nay đó là việc CHDCND Triều Tiêncông khai phát triển vũ khí hạt nhân đã trở thành vấn đề an ninh, chính trị lớnbuộc Mỹ và cộng đồng quốc tế phải chú ý giải quyết Do đó, rất nhiều bài viết đã
tập trung khai thác đề tài này Điển hình là tác giả Nguyễn Văn Tuấn với “Vấn
đề hạt nhân ở CHDCND Triều Tiên - thực trạng và nguyên nhân” (2009); tác giả Phạm Ngọc Uyển với nhiều công trình được công bố như “Vấn đề khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên - triển vọng giải quyết” (2004); “Về lập trường các bên trong vòng đàm phán thứ 4 về phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên” (2005); “Giải pháp nào cho cuộc đàm phán sáu bên về phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên” (2005); Đỗ Trọng Quang “Nhìn lại quá trình thương lượng Mỹ - Bắc Triều Tiên về tên lửa và vũ khí hạt nhân” (2005); “Nước Mỹ trước thái độ của Bắc Triều Tiên và Iran về chương trình hạt nhân” (2007)
phản ánh chính sách và cách xử lý của các cường quốc, trong đó có Mỹ về vũ
Trang 14khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên.
Về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Quốc gần đây có một số
công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài như: “Quan hệ Mỹ Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực” do Nguyễn Thái Yên Hương chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, 2011); “Quan
-hệ Trung - Mỹ có gì mới” của Nguyễn Văn Lập (NXB Thông Tấn 2001); “Những sự kiện quan trọng trong quan hệ Mỹ - Trung” của tác giả Phi
Bằng (NXB Trẻ, 2011)
Ngoài các công trình kể trên, nghiên cứu về đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 - 2009)”còn xuất hiện trên một số tài liệu khác như: tài liệu nước ngoài,
tài liệu tham khảo đặc biệt, tin tham khảo chủ nhật của Thông tấn xã Việt Nam,các bài viết nằm rải rác ở các tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, tạp chí Châu Mỹ ngàynay, Nghiên cứu Đông Bắc Á Bên cạnh đó, vấn đề này cũng là chủ đề của cáckhóa luận tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ, đề tài cấp bộ Mặc dù mỗi công trìnhphản ánh vấn đề ở những khía cạnh, lĩnh vực cũng như khoảng thời gian khácnhau nhưng thực sự là những tài tiệu quý giá để những người nghiên cứu đi sau
có thể kế tục và phát triển
Tuy nhiên, trong số các công trình được công bố, chưa có công trình nàonghiên cứu về chính sách của Mỹ đối với Đông Bắc Á trong thời gian 8 nămcầm quyền của Tổng thống G.Bush (2001 - 2009) một cách đầy đủ và mang tính
hệ thống Do đó, đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 - 2009)” sẽ góp phần
làm phong phú thêm cho mảng đề tài này
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 - 2009)” nhằm trình bày một cách
khách quan khoa học, logic về chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổngthống G.Bush đối với khu vực Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,
Trang 15CHDCND Triều Tiên) giai đoạn từ năm 2001 - 2009.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Đông Bắc Á (2001 2009) phải đặt trong bối cảnh quan hệ quốc tế, khu vực và những biến động phứctạp của thế giới, đặc biệt là sau sự kiện 11/9/2001
Nghiên cứu chính sách của Mỹ dưới thời Tổng thống G.Bush (2001 2009) đối với các nước Đông Bắc Á trên các lĩnh vực: an ninh - quân sự, chínhtrị, kinh tế Trong đó trọng tâm vẫn nhấn mạnh đến chính sách an ninh - chínhtrị
Rút ra được những tác động, ảnh hưởng của chính sách đối ngoại củachính quyền Bush đối với khu vực Đông Bắc Á và Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận không trình bày dàn trải chính sách đối ngoại của Mỹ đối vớikhu vực Đông Bắc Á trên tất cả các lĩnh vực mà tập trung vào các lĩnh vực quantrọng như chính trị, kinh tế và đặc biệt là an ninh - quân sự
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với
khu vực Đông Bắc Á từ năm 2001 - khi G.W.Bush lên làm tổng thống thứ 43 củaHoa Kỳ, đặc biệt từ sau khi sự kiện 11/9/2001, Mỹ triển khai cuộc chiến chốngkhủng bố trên toàn cầu nói chung và Đông Bắc Á nói riêng; mốc kết thúc là tháng1/2009 sau khi Tổng thống G.Bush kết thúc hai nhiệm kỳ cầm quyền của mình
- Về không gian: Khóa luận phản ánh chính sách đối ngoại của Mỹ đối
với khu vực Đông Bắc Á trong bối cảnh chung của tình hình quốc tế và khu vựctrong những năm đầu của thế kỷ XXI
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng và kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháplogic trong quá trình nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó, người viết còn dựa vào cácphương pháp nghiên cứu bộ môn: sưu tầm, tập hợp, thống kê, so sánh đối chiếu,
Trang 16phân tích các tư liệu lịch sử và tiến hành các bước đi cụ thể để hoàn thành nhữngnhiệm vụ đặt ra cho đề tài.
5.2 Các nguồn tư liệu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả cố gắngtập hợp và khai thác các nguồn tài liệu chủ yếu sau đây:
- Một số bài diễn văn phát biểu của lãnh đạo Mỹ liên quan đến việc triển
khai chính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á cũng như trên toàn thếgiới
- Các Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia, Báo cáo quốc phòng bốn nămmột lần và Báo cáo đánh giá tình hình hạt nhân của Mỹ
- Các công trình có nội dung phản ánh trực tiếp đến lịch sử của nước Mỹ,của riêng mỗi nước trong khu vực Đông Bắc Á và của cả khu vực
- Các bài nghiên cứu liên quan đến đề tài đăng tải trên các báo, tạp chí vàInternet
6 Đóng góp của đề tài
-Về mặt khoa học: Dựng lên bức tranh cơ bản hoàn thiện về chính sách
đối ngoại của Mỹ đối với bốn nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc vàCHDCND Triều Tiên trong giai đoạn Tổng thống G.Bush cầm quyền từ 2001 -
2009 Từ việc tìm hiểu chính sách đối ngoại đối với khu vực Đông Bắc Á, từ đókhóa luận làm rõ những tác động, ảnh hưởng của chính sách đó đối với khu vực
và Việt Nam đồng thời đưa ra dự báo về khả năng, tiến triển vọng thực hiệnchính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực này
-Về mặt thực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Chính sách đối
ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 - 2009)” tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ về mặt tư liệu
cho những ai quan tâm, nghiên cứu lịch sử thế giới, đặc biệt là quan hệ quốc tếthời kỳ hiện đại Từ kết quả nghiên cứu cùng với những kinh nghiệm thực tiễn
về chính sách đối ngoại giữa các nước, từ đó có thể rút ra những bài học kinhnghiệm và phương thức ứng xử thích hợp trong quan hệ đối ngoại ngày nay
Trang 177 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cục củakhóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1.Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á
trước năm 2001
Chương 2.Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á
dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 - 2009)
Chương 3.Một số nhận xét về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu
vực Đông Bắc Á dưới thời Tổng thống Geogre Walker Bush (2001 - 2009)
Trang 18CHƯƠNG 1.CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI
KHU VỰCĐÔNG BẮC Á TRƯỚC NĂM 2001
1.1.Khái quát chiến lược toàn cầu của Mỹ trước năm 2001
1.1.1 Thời kỳ Chiến tranh lạnh (1945 – 1991)
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới xuất hiện hai hệ thống đối đầunhau, XHCN và TBCN mà đứng đầu là Liên Xô và Mỹ Đây là đặc điểm quantrọng nhất lúc bấy giờ, làm thay đổi tương quan lực lượng và mối quan hệ quốc
tế trong suốt hơn 40 năm kể từ sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai Sau chiếntranh, Mỹ đưa ra chiến lược toàn cầu với nội dung chủ yếu là: phát triển kinh tế,quân sự, chính trị làm nền tảng thực hiện tham vọng bá chủ thế giới; thực hiện
“chính sách đối đầu”, “ngăn chặn” chống Liên Xô, hệ thống XHCN và phongtrào cộng sản quốc tế, khống chế các nước đồng minh phương Tây trong quỹ đạocủa Mỹ và ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Do đó, mườitháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ triển khai thực hiện chiến
lược toàn cầu, được gọi là “Chiến lược ngăn chặn” Chiến lược “ngăn chặn
CNCS” của Mỹ từ khi ra đời vào năm 1946 đến khi Liên Xô và các nước XHCN
ở Đông Âu sụp đổ (1990 - 1991) đã trải qua năm lần điều chỉnh
Người đặt nền tảng lý luận cho Chiến lược ngăn chặn (ContainmentStrategy) chính là George Kennan Ngày 22/2/1946, đại diện thường trú tạiMoskva là G.Kennan đã gửi bức điện báo dài 8000 chữ cho Quốc vụ viện Mỹ,
đề nghị Washington ngăn chặn Liên Xô mở rộng ảnh hưởng Đồng thời ôngcũng nêu lên căn cứ lý luận cho việc Mỹ nên áp dụng chính sách cứng rắn đốivới Liên Xô [7, tr.14] Từ quan điểm của Kennan, tổng thống Truman đã bổ sungnhững khía cạnh còn lại để hoàn thiện chiến lược này và xây dựng Học thuyếtTruman (1946 - 1952) Nội dung chính dựa trên sự độc quyền vũ khí hạt nhân và
ưu thế quân sự của Mỹ nhằm mục đích chủ yếu là ngăn chặn, đẩy lùi Liên Xô vàCNCS, dựa vào liên minh quân sự với các nước Tây Âu do Mỹ chi phối đểkhống chế các nước Tây Âu trong quỹ đạo của Mỹ và mở các thị trường mớiquan trọng cho nền kinh tế Hoa Kỳ; liên minh với các nước phương Tây khácnhằm ngăn chặn, đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc Có thể coi đây là chính
Trang 19sách ngoại giao của nước Mỹ trong kỷ nguyên mới Ở các đời tổng thống tiếptheo, chính sách này được bổ sung để phù hợp với tình hình mới, và đôi lúc có
sự khác nhau về mức độ ưu tiên cũng như biện pháp tiến hành, nhưng những nộidung cơ bản của nó đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, vẫn mang đậm tinhthần Truman
Những năm cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Truman, Mỹ chuyển hướngsang chiến lược quân sự toàn cầu “trả đũa ồ ạt” và chính sách ngoại giao “bênmiệng hố chiến tranh” (1953 - 1960) Mục tiêu của Mỹ là ép đồng minh tham giachạy đua vũ trang để thành lập các liên minh quân sự; xây dựng hệ thống căn cứquân sự trên toàn cầu; lôi kéo Liên Xô vào vòng đua nhằm làm kiệt sức nướcnày; thực hiện viện trợ, can thiệp vào các cuộc xung đột khu vực để thay thế chế
độ thực dân cũ bằng chế độ thực dân mới của Mỹ
Trên thực tế, chiến lược “trả đùa ồ ạt” đã không ngăn chặn được sự pháttriển của cách mạng thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc, đồng thời
Mỹ bị mất ưu thế chiến lược do sự lớn mạnh về tiềm lực hạt nhân và tên lửachiến lược của Liên Xô Do vậy, từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Mỹ đã điềuchỉnh chiến lược lần thứ hai mang tên “phản ứng linh hoạt” dưới thời Tổngthống Kennedy Chiến lược này cho phép Mỹ đối phó với ba loại hình chiếntranh: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ bằng vũ khí thông thường vàChiến tranh thế giới bằng vũ khí hạt nhân Nhưng sự thất bại ở chiến trườngmiền Nam Việt Nam đã phá sản hoàn toàn chiến lược “phản ứng linh hoạt” của
Mỹ, điều đó buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu một lần nữa và chuyểnsang một chiến lược mới: Chiến lược “răn đe thực tế” (1969 - 1980) thông quaHọc thuyết Nixon Theo học thuyết này, Mỹ một mặt sử dụng lực lượng đồngminh, vũ khí và tiền bạc để tiến hành chiến tranh xâm lược, mặt khác thi hànhchính sách hòa hoãn với Liên Xô, tranh thủ Trung Quốc, làm suy yếu lực lượngcách mạng thế giới Chiến lược này mặc dù thu được một số kết quả nhất địnhsong việc thực hiện nó lại ngày càng bộc lộ nhiều mâu thuẫn và cuối cùng Mỹ lạiphải điều chỉnh bằng chiến lược “đối đầu trực tiếp” (1981 - 1989) dưới thờiTổng thống Reagan Nội dung chính của chiến lược này là dùng những biệnpháp cứng rắn, quyết liệt đối phó với Liên Xô và các lực lượng đe dọa đến lợiích của Mỹ, dùng ngân sách Nhà nước tăng cường đầu tư nhằm thúc đầy nền
Trang 20kinh tế phát triển Vào cuối những năm 1980, trong điều kiện Liên Xô và Mỹdiễn ra thế cân bằng chiến lược về quân sự, hệ thống XHCN rơi vào khủnghoảng, chính quyền Washington muốn tạo ra một cục diện mới, trong đó duy trìmục tiêu lãnh đạo thế giới và giành thắng lợi trước Liên Xô, nhưng không đểchiến tranh xảy ra Tổng thống Mỹ lúc này là G.Bush (cha) đã điều chỉnh chiếnlược “ngăn chặn” thành chiến lược “vượt trên ngăn chặn”.
1.1.2 Sau Chiến tranh lạnh (1991 - 2001)
Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ trở thành “siêu cường duy nhất” trên thếgiới, mưu đồ chi phối, làm bá chủ thế giới.Tuy nhiên, khi trật tự thế giới hai cựcsụp đổ, Mỹ là cực duy nhất cò lại nhưng thế giới không phải là đơn cực Mặc dùChiến tranh lạnh kết thúc đã đem lại cho Mỹ nhiều thuận lợi, nhiều quyền lợi,nhưng đồng thời trong giai đoạn chuyển tiếp để hình thành một trật tự thế giớimới, cũng khiến cho Mỹ có nhiều kẻ thù Mỹ đóng vai trò khống chế trong nhiềuvấn đề của thế giới, nhưng lại bị sức mạnh tổng hợp của thế giới còn lại tìm cáchchống trả sự thống trị, sức ép của Mỹ lên các vấn đề khác trong quan hệ quốc tế.Các nước lớn, các trung tâm quyền lực và các chủ thể trong quan hệ quốc tế lúcbấy giờ như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Tây Âu đang nổi lên nhằmchiếm một vị thế có lợi trên trường quốc tế Rõ ràng với những biến đổi sâu sắctrên các mặt chính trị, an ninh, kinh tế của tình hình thế giới đã đặt ra những cơhội và thách thức mới cho việc triển khai chiến lược toàn cầu của Mỹ, do đó:
“Một thiểu số (trong chính giới Mỹ) lập luận rằng đối với Hoa Kỳ, thế giới sau Chiến tranh lạnh không phải là ít đe dọa hơn, mà lại có những nguy cơ và cơ hội mới”[59, tr.5] Vì thế, một trong những vấn đề đặt ra cho chiến lược toàn cầu
sau Chiến tranh lạnh của Mỹ là ngăn chặn khả năng xuất hiện một siêu cườnghoặc một nhóm có tiềm lực liên kết với nhau, đe dọa đến vị trí siêu cường duynhất của Mỹ
Chiến lược toàn cầu của Mỹ sau Chiến tranh lạnh được định hình dướichính quyền G.H.Bush (Bush cha), thông qua việc điều chỉnh chiến lược “vượttrên ngăn chặn” Trong đó nhấn mạnh đến mục tiêu của Mỹ tìm kiếm sự hòanhập của Liên Xô vào hệ thống quốc tế, thúc đẩy tự do dân chủ và cải thiệnchính trị - kinh tế ở Liên Xô; thiết lập “trật tự thế giới mới” và vai trò lãnh
Trang 21đạokhông thể thiếu của Mỹ Dưới chính quyền B.Clinton, với Bản đánh giá từdưới lên trên (9/1993), Chiến lược an ninh quốc gia cam kết và mở rộng (ANational Security Strategy of Engagement and Enlargement) vào tháng 2/1995
và sau đó là Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới của Mỹ vào tháng12/1999 đã từng bước xác định toàn diện chiến lược an ninh để bảo vệ lợi íchquốc gia của Mỹ Với việc đưa ra cách lý giải mới về vai trò lãnh đạo của Mỹ,các nhà hoạch định chiến lược Mỹ hy vọng rằng chiến lược mới sẽ tỏ ra thực tếhơn, hấp dẫn hơn đối với đồng minh và không gây nên phản đối tiêu cực từ phíacác nước chống đối Chiến lược mới của B.Clinton đã bác bỏ quan điểm của chủnghĩa biệt lập và nhấn mạnh rằng, sau Chiến tranh lạnh, Mỹ cần phải “can dự”,phải “lãnh đạo” các công việc quốc tế; phải mở rộng các “cộng đồng tự do, cácnền dân chủ” trên thế giới, trước hết là mở rộng dân chủ Mỹ, giá trị Mỹ ra toànthế giới Để thực hiện mục tiêu này, ba trụ cột chủ yếu được các nhà hoạch địnhchiến lược Mỹ xác định đó là:
Thứ nhất, phục hưng nền kinh tế Mỹ với mục tiêu “về lâu dài sẽ mang lại cho Mỹ mức tăng trưởng kinh tế cao hơn, sản phẩm được tăng cao, nhiều việc làm chất lượng hơn và một vị trí cạnh tranh kinh tế được cải thiện trên thế giới” [5].
Thứ hai, duy trì, củng cố ưu thế quân sự của Mỹ trên thế giới để làm công
cụ răn đe chiến lược, nhằm khống chế và kiềm chế các nước đồng minh và đốithủ, đối phó với các cuộc xung đột khu vực
Thứ ba, thúc đẩy dân chủ và nhân quyền ở nước ngoài, phát huy ưu thế
chính trị của Mỹ trên thế giới nhằm xây dựng một trật tự quốc tế mới với nềndân chủ kiểu phương Tây, một thế giới không có cộng sản
Rõ ràng, so với Tổng thống G.Bush (cha), chính quyền B.Clinton đã cónhững bước sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ cho phùhợp với tình hình mới Tuy nhiên, mục tiêu xuyên suốt không thay đổi trongtất cả các chiến lược đó là vẫn duy trì, củng cố vị thế siêu cường thế giới duynhất và khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ trong quan hệ quốc tế, không chomột nước hay một nhóm nước nào nổi lên thách thức bá quyền lãnh đạo thếgiới của Mỹ
Trang 221.2 Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc
Á trước năm 2001
1.2.1 Khái niệm khu vực Đông Bắc Á
Theo cách hiểu truyền thống, người ta vẫn xác định khu vực theo vị trí địa
lý Chẳng hạn, tùy theo các vị trí địa lý, sắc tộc, màu da…khác nhau mà từ lâu đã
có sự hình thành nên các khái niệm khu vực khác nhau như châu Á, châu Âu,châu Mỹ, châu Phi…Và tương tự ngay trên cùng một châu lục như châu Á, nếucăn cứ thêm cả tiêu thức phương hướng, vị trí lãnh thổ…lại có thể phân thànhcác khái niệm tiểu khu vưc khác nhau như Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Á,Nam Á…Tuy nhiên việc định nghĩa về khái niệm khu vực trên thế giới ngày naykhông nhất thiết chỉ giới hạn về tiêu thức địa lý, hay địa lý - kinh tế, mà ngàycàng mở rộng ra nhiều tiêu thức có liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội…cùng quan tâm của các thành viên tương tác trong khu vực đó
Riêng đối với khu vực Đông Bắc Á trong cách hiểu của nhiều học giả vàchính khách về khái niệm khu vực Đông Á lâu nay vẫn được coi là bao gồm cảhai khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á Tuy nhiên đã có một thời khi nói đếnĐông Á là chủ yếu nói về Đông Bắc Á - nơi mà những năm 1970 - 1980 đã từngxuất hiện một số nền kinh tế thần kỳ Đông Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, HồngKông và Đài Loan
Điều đáng lưu ý về khái niệm khu vực Đông Bắc, nếu chỉ căn cứ và tiêuthức địa lý thì khu vực này ngoài các nước và lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông), Đài Loan, còn có một số quốc gia khácnhư CHDCND Triều Tiên, Mông Cổ và toàn bộ khu vực Viễn Đông nước Nga.Thế những hiện nay, khi nhắc đến khu vực Đông Bắc Á đã có không ít người chỉquan niệm đó là khu vực vực bao gồm các quốc gia, lãnh thổ đang có vị trí, vaitrò quan trọng, chi phối sự phát triển khu vực này và có ảnh hưởng đến cả khuvực Đông Á nói riêng và toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung.Với khái niệm này thì khu vực Đông Bắc Á theo cách hiểu phổ biến hiện nayđược giới hạn hẹp hơn về qui mô, chỉ bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, CHDCNDTriều Tiên và Trung Quốc (kể cả Hồng Kông), Đài Loan và vùng Viễn Đôngnước Nga những nơi giáp ranh với Nhật Bản và Trung Quốc [28, tr.21]
Trang 231.2.2.Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á trước năm 2001
1.2.2.1.Thời kỳ Chiến tranh lạnh (1945 - 1991)
Điểm qua các chiến lược của Mỹ đã triển khaitrong Chiến tranh lạnh, cóthể thấy trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ thời kỳ này vẫn nằm ở châu Âu
và mục tiêu chủ yếu là ngăn chặn, đẩy lùi Liên Xô và CNCS Tuy vậy, kể từ sauchiến tranh thế giới hai, những thay đổi trong cục diện chính trị ở châu Á nóichung và Đông Bắc Á nói riêng đã đem lại vị thế mới cho khu vực này Sự xuấthiện của các nước XHCN như Việt Nam, CHDCND Triều Tiên và đặc biệt làCHND Trung Hoa đã gây cho Mỹ nhiều mối lo sợ về sự lan rộng của CNCS ởchâu Á, đặc biệt là khu vực Đông Á Đồng thời, đây cũng là thời điểm phongtrào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, cản trở đến việc triển khai chiếnlược toàn cầu của Mỹ Trong mục tiêu tổng thể nhằm đẩy lùi những nguy cơ đó,
Mỹ đã triển khai những biện pháp an ninh, đối ngoại cụ thể tại Đông Bắc Á, thểhiện ở các động thái sau:
➢ Thứ nhất, Mỹ tiếp tục xây dựng và bảo đảm các hiệp ước an ninh với các đồng minh thân cận ở khu vực, hình thành chiến lược an ninh theo kiểu hình nan quạt, khác hẳn với cơ chế đối ngoại an ninh tập thể mà Mỹ thiết lập ở
châu Âu lúc này Những hiệp ước được ký kết là một bộ phận cấu thành quantrọng trong hệ thống chiến lược quân sự kiềm chế sau đó đi đến ngăn chặnCNCS của Mỹ tại khu vực, đồng thời bước đầu tạo nên thế bao vây hình bánnguyệt đối với cả châu Á
Trong số các hiệp ước an ninh, chính trị mà Mỹ đã ký với các đồng minh
ở khu vực, các hiệp ước song phương có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, trong đónổi bật nhất là Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật Bản và Hiệp ước an ninh Mỹ - HànQuốc Đây cũng là đặc trưng chủ yếu của chính sách đối ngoại của Mỹ ở ĐôngBắc Á trong thời kỳ Chiến tranh lạnh
* Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật
Ban đầu, chính sách của Mỹ là kiềm chế, không cho Nhật Bản phục hồinhanh chóng sau chiến tranh để ngăn chặn sự quay trở lại của quân phiệt Nhật.Nhưng nguy cơ của CNCS lan rộng khiến Mỹ phải thay đổi chiến lược trongquan hệ Nhật Bản Mỹ nhìn nhận Nhật sẽ trở thành đồng minh chiến lược quan
Trang 24trọng nhằm hỗ trợ đắc lực cho Mỹ trong việc cạnh tranh ảnh hưởng với Liên Xô
và kiềm chế sự lớn mạnh của Trung Quốc ở Đông Bắc Á Cuộc chiến tranhTriều Tiên vào tháng 6/1950 cũng là yếu tố tác động đến việc Mỹ và đồng minhsớm ký kết hiệp ước hòa bình với Nhật Bản tại San Francisco (9/1951) Hòa ướcnày chính thức trao trả độc lập cho Nhật Bản và chấm dứt quy chế chiếm đóngnước Nhật Hiệp ước nhấn mạnh Nhật Bản có quyền ký kết các Hiệp ước liênminh quân sự và có thể có quân đội, căn cứ quân sự nước ngoài trên đất Nhật [9,tr15] Với nội dung này, Hòa ước San Francisco được coi là văn kiện dọn đườngcho Mỹ biến Nhật Bản thành liên minh chính trị, quân sự quan trọng bậc nhất ởkhu vực Đông Bắc Á, phục vụ cho chính sách ngăn chặn Liên Xô và TrungQuốc cũng như các nước XHCN khác trong khu vực Năm 1952, Mỹ chính thức
ký kết với Nhật Bản Hiệp ước về an ninh và quân sự song phương, theo đó Mỹchịu trách nhiệm hoàn toàn về an ninh quân sự của Nhật Bản nói riêng và ĐôngBắc Á nói chung Nhật Bản cho Mỹ toàn quyền sử dụng những căn cứ quân sựtrên lãnh thổ nước Nhật, Nhật Bản cũng phải có nghĩa vụ gánh vác một phần chiphí của quân Mỹ đóng trên đất Nhật Tháng 6/1960, hiệp ước này được sửa đổithành Hiệp ước Hợp tác và an ninh Mỹ - Nhật Đến năm 1972, chủ quyền trên tất
cả các đảo do Mỹ quản lý trong đó có quần đảo Riukiu (Okinawa) được trao trảcho Nhật Tháng 10/1978, hai bên đưa ra phương châm phòng thủ Mỹ - Nhật, cụthể hóa các lĩnh vực hợp tác giữa Mỹ và Nhật Bản trong khuôn khổ liên minh anninh song phương
Liên minh an ninh Mỹ - Nhật là lợi ích thiết yếu của Nhật Bản trong thời
kỳ Chiến tranh lạnh Tuy nhiên, Nhật Bản không thể thi hành những trách nhiệm
an ninh theo quy định của Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật vì Điều 9 Hiến phápNhật Bản cấm Nhật sở hữu các lực lượng bộ binh, hải quân và không quân, cấmxuất khẩu vũ khí cũng như không được phép đưa quân ra nước ngoài, dù là thamgia vào hoạt động gìn giữ hòa bình Không những thế, Thủ tướng Nhật Bản Sato
đã đưa ra 3 nguyên tắc phi hạt nhân: Nhật sẽ không bao giờ được sở hữu, chế tạocũng như được phép đưa vào đất Nhật vũ khí hạt nhân Như vậy, có thể nói đónggóp của Nhật đối với các vấn đề an ninh Nhật - Mỹ chỉ là một nước đồng minhcung cấp căn cứ quân sự, hậu phương cho các lực lượng Mỹ Với những hạn chếnhư vậy, Nhật Bản tiếp tục dựa vào “chiến ô hạt nhân” của Mỹ để duy trì anninh, phát triển kinh tế trong thời kỳ Chiến tranh lạnh
Trang 25Rõ ràng, Hiệp ước Hợp tác an ninh Mỹ - Nhật là một bước đi khôn ngoan,đầy toan tính và mang tầm nhìn lâu dài trong chính sách đối ngoại của Mỹ khôngchỉ đối với Nhật Bản mà cả toàn bộ khu vực Đông Bắc Á nói riêng và châu Á -Thái Bình Dương nói chung Nhật Bản từ chỗ là kẻ thù với Mỹ nay trở thànhmột đồng minh trung thành của Mỹ và căn cứ quân sự lâu dài của Mỹ ở ĐôngBắc Á, trở thành tiền đồn ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Quốc vàCNXH đang phát triển mạnh mẽ ở khu vực Điều đó cũng đồng nghĩa với việc,
Mỹ có thể nằm quyền kiểm soát cũng như kiềm chế, đàn áp lực lượng dân chủđang phát triển mạnh mẽ ở ngay tại nước Nhật, khống chế sự phát triển của NhậtBản - một thách thức trong việc thực hiện bá quyền lãnh đạo của Mỹ
*Hiệp ước An ninh Mỹ - Hàn Quốc
Từ chỗ chưa có sự lưu tâm nào đến bán đảo Triều Tiên thì sau sự kiệnTrân Châu Cảng (7/12/1941), Mỹ đã nhận thức được tầm quan trọng của bán đảonày Triều Tiên có thể giúp Mỹ kiểm soát và dập tắt giấc mộng “Đại Đông Á”của Nhật Bản Sau đó, lo sợ rằng một khi phát xít Nhật thất bại sẽ tạo ra khoảngtrống quyền lực để Liên Xô nhảy vào nên ở giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranhthế giới thứ hai (cuối năm 1943), âm mưu của Mỹ nhằm chia cắt Triều Tiên đãthể hiện rõ Chính sách này của Mỹ là để dựng lên giới tuyến giữa hai phe ởĐông Bắc Á, “ngăn chặn” và “kiềm chế” phong trào cách mạng tại bán đảo,khoanh vùng ảnh hưởng của thế giới tư bản và đẩy mạnh ý đồ bá chủ của mìnhtại khu vực Kết quả là Hàn Quốc - nước được Mỹ bảo trở, sau đó trở thành đồngminh của Mỹ ra đời vào năm 1948
Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)cũng là nguyên nhân trực tiếpnhất dẫn tới việc thiết lập liên minh Mỹ - Hàn với cơ sở ban đầu là Hiệp ướcphòng ngự chung Mỹ - Hàn được ký kết vào ngày 1/10/1953 Mỹ còn ký vớiHàn Quốc bản Hiệp định về địa vị quân Mỹ đóng tại Hàn Quốc vào ngày9/7/1966 Tiếp đó là những văn kiện quan trọng như: Hội nghị Hiệp thương anninh Mỹ - Hàn (SCM), Bộ Chỉ huy quân sự liên hợp Mỹ - Hàn (CFC) và Hiệpđịnh chi viện thời chiến cũng dần trở thành những bộ phận hợp thành của cơchế hợp tác an ninh Mỹ - Hàn Chính vì thế, Liên minh Mỹ - Hàn được coi làmột liên minh có nhiều căn cứ pháp luật nhất, cơ chế kiện toàn nhất và hệ thốngchỉ huy tác chiến hoàn chỉnh nhất trong số các liên minh quân sự song phương
Trang 26của Mỹ tại Đông Bắc Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai Theo Mỹ, Hàn Quốckhông chỉ là tuyến đầu trong hệ thống phòng thủ ở châu Á mà còn là một đồngminh trung thành có giá trị với Mỹ Việc thiết lập liên minh này không chỉ có ýnghĩa quân sự to lớn mà còn mang ý nghĩa chính trị rõ rệt, nó đã đưa Hàn Quốcvào hệ thống an ninh Đông Bắc Á của Mỹ, làm cho Hàn Quốc trở thành trọngđiểm chiến lược tại khu vực trong sự đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô, cũng từ đó đãquyết định thế chiến lược cơ bản tại bán đảo Triều Tiên trong suốt thời kỳ Chiếntranh lạnh.
Từ đó có thể thấy, liên minh quân sự Mỹ - Hàn mặc dù là kết quả trực tiếpnhất của chiến tranh Triều Tiên, song ngay từ mới bắt đầu hình thành, nó đãkhông đơn thuần chỉ là một liên minh song phương, mà còn là công cụ để Mỹduy trì cân bằng thực lực khu vực trong toàn bộ chiến lược toàn cầu của mình.Mục tiêu chiến lược của liên minh Mỹ - Hàn trước hết nhằm vào Bắc Triều Tiên,bảo vệ Hàn Quốc trước mối đe dọa Bắc Triều Tiên, song quan trọng hơn là ngănchặn sự “bành trường” của CNCS tại Đông Bắc Á cũng như toàn bộ khu vựcĐông Á, kiềm chế sự lớn mạnh của Liên Xô Như vậy, Liên minh Mỹ - Hàntrong thời kỳ Chiến tranh lạnh đã có chức năng kép, vừa kiềm chế Triều Tiên,vừa ngăn chặn nguy cơ của CNCS
➢Thứ hai, Mỹ tiếp tục thực hiện chính sách can dự vào các cuộc chiến tranh cục bộ tại khu vực: Chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)
Hàn Quốc - CHDCND Triều Tiên là hai nhà nước ra đời trực tiếp từ sựthỏa thuận của hai cường quốc đại diện bởi hai ý thức hệ khác nhau nên từ năm
1948, bán đảo Triều Tiên đã bị bao phủ gam màu của sự đối đầu gay gắt, các bênluôn tìm cách kiềm chế và thâu tóm lẫn nhau
CHDCND Triều Tiên, dưới sự hậu thuẫn của Trung Quốc, Liên Xô đãnhiều lần thảo luận về kế hoạch tấn công Hàn Quốc để thống nhất đất nước Vềphía Hàn Quốc, trong diễn văn trước Quốc hội ngày 7/2/1949, Synman Rhee đã
tuyên bố: “Nếu Ủy ban về Triều Tiên của LHQ giúp đỡ mà không sáp nhập được Bắc Triều Tiên bằng đường lối hòa bình thì quân đội quốc gia tất nhiên phải đánh Bắc Triều Tiên”[14, tr.11].Cả hai bên đều có sự chuẩn bị lực lượng và
phương tiện đề phòng lẫn nhau và có thể tiến hành giành lại bán đảo bằng vũ lựckhi có cơ hội
Trang 27Từ giữa năm 1949, quân đội hai bên có sự hậu thuẫn của các cường quốcđều trong tư thế chiến đấu đã được triển khai dọc theo vĩ tuyến 38 Một điểm cầnlưu ý là nếu thời gian trước đó, Liên Xô không tán thành việc thống nhất TriềuTiên bằng còn đường chiến tranh vì lo sợ dẫn đến xung đột giữa Liên Xô và Mỹthì đến tháng 1/1950, Liên Xô thay đổi thái độ qua nhận định của Staline rằng:
“tình hình quốc tế đã có sự thay đổi” Sự thay đổi thái độ Liên xô dựa trên tuyên
bố của Ngoại trưởng Acheson lúc bấy giờ thì bán đảo Triều Tiên là địa bàn “nằmngoài tuyến phòng ngự” của Mỹ ở Đông Bắc Á Điều đó có thể xua đi nỗi hoàinghi của Staline lo sợ Mỹ đưa quân can thiệp vào chuyện nội bộ của Triều Tiên.Nhưng thực tế diễn ra đã hoàn toàn trái ngược với lời tuyên bố đó
Rạng sáng ngày 25/6/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ Khởi đầu,quân đội CHDCND Triều Tiên, với quy mô tương đối lớn vượt vĩ tuyến 38xuống phía Nam, nhanh chóng chiếm được Seoul và hầu hết lãnh thổ phía Nam[14, tr.12]
Sự thất bại quá nhanh của quân đội Hàn Quốc khiến Mỹ quyết định thamchiến nhằm cứu vãn tình thế có thể mất toàn bộ ảnh hưởng tại miền Nam Ngày26/6/1950, Mỹ đề nghị Hội đồng Bảo an LHQ họp khẩn cấp và ra nghị quyết lên
án CHDCND Triều Tiên, coi đó là hành động vi phạm hòa bình Mỹ yêu cầu cácthành viên của LHQ giúp đỡ để thực thi nghị quyết này.Vào thời gian này, Liên
Xô đang từ chối tham gia các cuộc thảo luận của Hội đồng Bảo an LHQ để gâysức ép về việc đưa nước CHND Trung Hoa vào vị trí Ủy viên Thường trực LHQ
mà Trung Hoa Dân Quốc đang nắm giữ.Liên Xô tuyên bố không công nhận tínhhợp pháp của bất cứ quyết định nào được thông qua với sự tham gia của nướcTrung Hoa Dân Quốc Dù Liên Xô vắng mặt nhưng dưới sự điều khiển của Mỹ,Hội đồng Bảo an đã nhanh chóng có quyết định trừng phạt Bắc Triều Tiên
Cùng với nghị quyết của Hội đồng Bảo an, Mỹ bắt đầu can thiệp vào cuộcchiến.Chính phủ Mỹ cho phép tướng Mac Acthur - Tư lệnh tối cao các lực lượngĐồng minh ở Nhật cung cấp thiết bị quân sự cho Hàn Quốc.Và khi nhận đượcthông điệp của quân đội Hàn Quốc xin hỗ trợ, ngày 27/6/1950, Tổng thốngTruman đã ra lệnh cho các lực lượng hải quân, không quân Mỹ chi viện choquân đội Hàn Quốc Ngày 29/6, Tổng thống Mỹ ra quyết định cho phép tướngMac Acthur đưa hai sư đoàn lục quân Mỹ ở Nhật đổ bộ lên đất Triều Tiên, tuyên
Trang 28bố phong tỏa toàn bộ bờ biển Triều Tiên Với những hành động đó, Mỹ đã thực
sự nhập cuộc, trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến tranh, âm mưu biến bán đảothành một căn cứ quân sự để kiềm chế ảnh hưởng của CNCS ở Đông Bắc Á và
uy hiếp phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này Ngoài ra, Mỹ cũng muốnlợi dụng chiến tranh Triều Tiên để kích thích nền kinh tế vừa bị khủng hoảng(1948 - 1949), thu lợi nhuận cho tư bản độc quyền Mỹ
Hưởng ứng với Mỹ, nhiều nước khác trong LHQ hứa sẽ chi viện quân sựcho Hàn Quốc Đến tháng 9/1950, quân đội 15 nước, dưới danh nghĩa LHQ, đặtdưới sự chỉ huy của Mỹ đã cùng Hàn Quốc tham chiến
Từ khi chiến tranh nổ ra cho đến thời điểm quân Mỹ tham chiến, lợi thếnghiêng về quân đội Bắc Triều Tiên Ngày 13/9/1950, quân đội Bắc Triều Tiên
đã chiếm được 95% đất đai và 97% dân số miền Nam Nhưng sau đó, tình thế bịđảo lộn Ngày 1/10, quân Mỹ đẩy lùi quân Bắc Triều Tiên ra khỏi lãnh thổ phíaNam vĩ tuyến 38 Đến đây, quân đội Mỹ vẫn tiếp tục vượt qua vĩ tuyến 38 tiếnvào Bắc Triều Tiên bất chấp những khuyến nghị của cộng đồng quốc tế và giữatháng 10 thì tiến sát biên giới Triều - Trung Trước nguy cơ an ninh biên giớiphía Đông Bắc bị uy hiếp, chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần cảnh báo rằngTrung Quốc không thể làm ngơ trước việc quân Mỹ tiến vào Bắc Triều Tiênnhưng Mỹ phớt lờ lời cảnh báo này vì đánh giá thấp khả năng tham chiến trực
tiếp của quân đội Trung Quốc: “Thật nực cười khi cho rằng Trung Quốc cũng như Liên Xô sẽ can thiệp vào bán đảo Triều Tiên một cách kín đáo”[38, tr.17].
Ngày 18/10/1950, Mao Trạch Đông đã lệnh cho quân Chí nguyện TrungQuốc vượt sông Áp Lục (Yalu) tiến vào Bắc Triều Tiên.Sự tham chiến củaTrung Quốc đã làm cho tính chất quốc tế của cuộc chiến tranh Triều Tiên trở nên
rõ nét Với lực lượng gần 250.000 người, quân Chí nguyện Trung Quốc và quânđội CHDCND Triều Tiên đã chiến đấu đẩy chiến tuyến về sát vĩ tuyến 38 Tháng11/1950, Liên Xô điều động thêm 2 sư đoàn không quân đến biên giới TrungQuốc (nhưng hoàn toàn bí mật và trá hình).Với sự giúp đỡ này, quân Chí nguyệnTrung Quốc và quân đội CHDCND Triều Tiên bắt đầu giành lại thế chủ động.Sau khi chiến tuyến bị đẩy lùi về Nam vĩ tuyến 38, chính quyền Truman đã từ bỏmục tiêu dùng vũ lực để thống nhất Triều Tiên và chuyển sang theo đuổi mụctiêu có hạn chế là duy trì tình trạng trước chiến tranh, thăm dò ý định của Trung
Trang 29Quốc và Liên Xô thông qua con đường ngoại giao để giải quyết vấn đề Chỉriêng tướng Mac Acthur vẫn giữ ý định mở rộng chiến tranh, thậm chí có ý đồoanh tạc các địa điểm xung yếu chiến lược của Trung Quốc bằng vũ khí hạtnhân Nhưng Tổng thống Truman đã không chấp nhận ý kiến này, ngược lại còncách chức tướng Mac Acthur Sở dĩ Tổng thống Truman không đi theo hướng
mở rộng chiến tranh vì lo ngại kết quả cuộc chiến sẽ bất lợi cho Mỹ Tổng thống
đã biện minh nếu mở rộng chiến tranh thì “Chúng ta sẽ gánh cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba trên vai không có đồng minh Trái lại, Trung Âu và có thể Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Italia và Bắc Phi cũng như nhiều vùng giàu có về dầu mỏ ở Cận Đông, sẽ rơi vào sự kiểm soát của người Nga Rất đơn giản, tôi không bắt đầu cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba Tôi biết là tôi có lý” [5, tr.383].
Mặc dù quân đội Trung - Triều đã chiếm Seoul, làm chủ thủ đô NamTriều Tiên vào đầu tháng 1/1951 nhưng những người lãnh đạo Trung Quốckhông muốn đẩy cuộc chiến đi quá xa Quân đội Trung Quốc đã được lệnh dừng
ở vĩ tuyến 38 với quan điểm cho rằng: không nên dùng vũ lực để giải quyết vấn
đề thống nhất Triều Tiên Như vậy, cho đến thời điểm năm 1951 các bên liênquan trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đều nhận thấy sự cần thiết của việc tìmkiếm một giải pháp hòa bình cho bán đảo Triều Tiên, trong khi chiến sự vẫnđang tiếp diễn
Từ tháng 4/1951, chiến sự cầm cự ở vùng vĩ tuyến 38, các bên cảm thấychiến tranh không còn là giải pháp tích cực cho vấn đề thống nhất Triều Tiên vàchỉ có đàm phán mới có thể chấm dứt chiến tranh, trên cơ sở duy trì nguyêntrạng giới tuyến quân sự tạm thời ở vĩ tuyến 38 Việc Trung Quốc không choquân đội của mình vượt qua vĩ tuyến 38 và Mỹ cách chức tướng Mac Acthur làmột dấu hiệu tìm kiếm sự thương lượng Còn Liên Xô thì ngay từ tháng 1/1951
đã đưa ra đề nghị đình chiến và rút hết quân đội nước ngoài ra khỏi Triều Tiên
Ngày 23/6/1951, đại diện Liên Xô tại LHQ đã đề nghị các bên tham chiến
mở cuộc thương lượng về ngừng bắn và cùng rút quân khỏi vĩ tuyến 38 Đề nghịnày được Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên hưởng ứng và tuyên bố sẵn sàngthương lượng Mặc dù nghi ngờ nhưng Mỹ cũng cho biết họ sẵn sàng đàm phán.Ngày 10/7/1951, cuộc đàm phán bắt đầu trong khi chiến sự nổ ra trên bán đảoTriều Tiên nhưng ở mức độ thấp.Tham gia đàm phán có đại diện của LHQ, Mỹ,
Trang 30Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên Riêng đại diện Hàn Quốc phản đối vàkhông tham gia đàm phán Sau một quá trình đàm phán gay go, căng thẳng với
sự nhượng bộ nhất định của hai bên, ngày 27/7/1953, Hiệp định đình chiến đãđược ký kết tại Bàn Môn Điếm giữa đại diện của CHDCND Triều Tiên, TrungQuốc và LHQ
Cùng với sự thiệt hại về người và của, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã dẫnđến sự nghi kỵ, thậm chí là thù địch nhau giữa hai miền Nam - Bắc Sự thamchiến của Mỹ (dưới danh nghĩa LHQ) và quân Chí nguyện Trung Quốc đã địnhhình một cách rõ nét tính chất quốc tế của cuộc chiến này Với thực lực vốn có,
Mỹ thừa sức phát động một cuộc chiến tranh quy mô lớn để tiến hành thống nhấtTriều Tiên theo mô thức của mình Nhưng Mỹ đã không xem việc tái chiếm BắcTriều Tiên là một ý tưởng hay bởi vì nước Mỹ cho rằng đối thủ nguy hiểm nhấtcủa mình là Liên Xô, chứ không phải Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc Mỹ longại về một cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba mà trong đó gánh nặng sẽ đặt lênvai Mỹ và lúc đó, khu vực này cũng như nhiều khu vực khác có thể rơi vào sựkiểm soát của người Nga Vả lại, Mỹ cũng muốn chiến tranh Triều Tiên pháttriển đến độ “đủ nóng” để cùng với các mặt trận khác như Nhật Bản, Đài Loan,Đông Dương cùng chạy đua vũ trang với Liên Xô Âm mưu này của Mỹ đãkhiến cho cuộc chiến tranh Triều Tiên khép lại bằng một Hiệp định đình chiến.Hiệp định này chỉ mới dừng lại ở việc đình chỉ chiến sự, tức mới giải quyết vềmặt quân sự còn về mặt chính trị bao gồm các quyền dân tộc, vấn đề thống nhấtdân tộc vẫn chưa được giải quyết Và vì thế, hai quốc gia Hàn Quốc vàCHDCND Triều Tiên vẫn ở trong tình trạng chiến tranh và sự căng thẳng, nghi
kỵ, thiếu tin tưởng lẫn nhau luôn là “màu sắc” nổi trội nhất khi nhìn vào tổng thểbức tranh chính trị ở bán đảo Triều Tiên
➢Thứ ba, Mỹ có sự thay đổi chính sách đối với Trung Quốc, đây cũng
là một trong những đặc điểm chủ đạo trong chiến lược an ninh của Mỹ đối vớiĐông Bắc Á trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Trung Quốc là một nước lớn ở khuvực và có ảnh hưởng quan trọng đến cục diện an ninh ở khu vực thời kỳ này Lànước XHCN lớn nhất ở châu Á, Trung Quốc trở thành mục hàng đầu trong chiếnlược ngăn chặn, kiềm chế CNCS của Mỹ Tuy vậy, xuất phát từ những thay đổicủa tình hình, Mỹ đã nhiều lần điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc
Trang 31Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trong thời kỳ Chiến tranh lạnhđược chia thành hai giai đoạn rất rõ rệt.Giai đoạn thứ nhất từ đầu thập niên 50đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX.Ở giai đoạn này, chính sách của Mỹ đốivới Trung Quốc nằm trong chiến lược toàn cầu nhằm ngăn chặn CNCS Thựcchất, quyết định can thiệp và dính líu quân sự của Mỹ vào cuộc chiến tranh TriềuTiên cũng phần nào bị chi phối bởi mục tiêu ngăn chặn sự mở rộng ảnh hưởngcủa “cộng sản Trung Quốc” ở Đông Bắc Á Mỹ xem việc Trung Quốc đưa quânchí nguyện vào Triều Tiên là cuộc xâm lược của cộng sản, từ đó đặt Triều Tiênvào tuyến phòng thủ hàng đầu của Mỹ ở Viễn Đông và áp đặt lệnh cấm vậnchống Trung Quốc Mặt khác, Mỹ cũng công khai bảo vệ Đài Loan, coi ĐàiLoan là “hàng không mẫu hạm không chìm” ở khu vực Đông Bắc Á Từ căn cứquan trọng này, Mỹ tăng cường, củng cố sự hiện diện của mình ở Đông Bắc Á
và châu Á - Thái Bình Dương, song quan trọng hơn, đây cũng là vành đai Mỹdựng lên để kiềm chế Trung Quốc Ngay từ khi bắt đầu triển khai Chiến lượcngăn chặn, Tổng thống Mỹ H.Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 của Mỹ canhchừng khu vực eo biển Đài Loan, ngăn chặn bất cứ cuộc xâm nhập nào củaTrung Hoa lục địa đối với Đài Loan
Đến đầu những năm 1970, những diễn biến mới của tình hình thế giới vàkhu vực đã buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược đối với Trung Quốc Giai đoạnnày, quan hệ giữa các nước trong phe XHCN đã có xuất hiện những dấu hiệumâu thuẫn và ngày càng có chuyển biến theo hướng tiêu cực, trầm trọng khôngthể hòa giải, đặc biệt là trong quan hệ Xô - Trung Sau Đại hội Đảng Cộng sảnlần thứ IX, Trung Quốc coi Liên Xô là “kẻ thù chính và nguy hiểm nhất củanhân dân thế giới”.Mâu thuẫn giữa hai bên đã chuyển thành thù địch mà đỉnhđiểm là sáu tháng chiến tranh biên giới vào năm 1969 Trong khi đó, Mỹ đangđứng trước nguy cơ sa lầy ở chiến trường Việt Nam Chính vì những yếu tố đó
đã khiến Hoa Kỳ quyết định điều chỉnh chiến lược bằng cách sử dụng “con bài”Trung Quốc để chống Liên Xô Năm 1971 Cố vấn An ninh Quốc gia của Mỹ
là Henry Kissinger đã hai lần bí mật viếng thăm Trung Quốc để lập lại mối quan
hệ hữu nghị và mùa hè năm đó, sau thiện chí được xây dựng nhờngoại giao bóngbàn, Tổng thống Richard M Nixon cũng tuyên bố rằng ông sẽ tới thăm TrungQuốc năm sau để tiến hành các cuộc đàm phán chính thức nhằm bình thường hóaquan hệ giữa hai nước Đến tháng 2/1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã đến
Trang 32Bắc Kinh và ký bản Thông cáo Thượng Hải Thông cáo đã đề cập tới vấn đề ĐàiLoan vốn là vướng mắc cơ bản và lâu dài trong quan hệ hai bên, theo đó, chínhquyền Nixon công nhận Đài Loan là một bộ phần lãnh thổ của Trung Quốc vàcam kết sẽ rút quân đội và căn cứ quân sự ra khỏi Đài Loan, hạn chế buôn bán
vũ khí với Đài Loan Mỹ cũng nhượng bộ cho Trung Quốc thay thế Đài Loan ởLHQ, kể cả ghế Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ Đến tháng 12/1978,
để thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Mỹ đã chính thức chấp nhận bađiều kiện của Trung Quốc là: chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan, rútquân đội Mỹ ra khỏi Đài Loan và hủy bỏ Hiệp ước phòng thủ ký với Đài Loannăm 1954 Như vậy, mặc dù Đài Loan là một mắt xích quan trọng của Mỹ trongchiến lược ngăn chặn CNCS ở Đông Bắc Á nhưng Mỹ vẫn chấp nhận hy sinh lợiích của mình ở Đài Loan để đổi lấy lợi ích lớn hơn ở Trung Quốc Địa vị chiếnlược của Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực trong thờigian này cực kỳ quan trọng.Đến tháng 1/1979, Mỹ - Trung chính thức thiết lậpquan hệ ngoại giao
Tuy nhiên, quan hệ Mỹ - Trung lại một lần nữa trở nên căng thẳng vàonhững năm 1980 - thời điểm Chiến tranh lạnh đang đi vào hồi kết Xu thế hòahoãn trong quan hệ Xô - Mỹ cộng thêm những biến động trên chính trường Liên
Xô và các nước Đông Âu khiến cho giá trị của Trung Quốc trong chiến lược của
Mỹ suy giảm, Mỹ không cần thiết sử dụng Trung Quốc để chống Liên Xô nhưtrước Nhân sự kiện Thiên An Môn ở Bắc Kinh vào tháng 6/1989, Mỹ đã thihành chính sách bao vây cấm vận Trung Quốc, đồng thời tiếp tục duy trì quan hệvới Đài Loan, tăng cường vũ khí và máy bay quân sự cho Đài Loan
1.2.2.2 Sau Chiến tranh lạnh (1991 - 2001)
Những mục tiêu của Mỹ sau Chiến tranh lạnh đều liên quan chặt chẽ đếnchính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vựcĐông Bắc Á vì tại đây Mỹ có lợi ích kinh tếrất lớn, lại có những đồng minh và đối thủ quan trọng, có những căn cứ quân sựkhổng lồ, những điểm nóng dễ dàng bùng nổ thành xung đột và những nước có chế
độ chính trị khác với Mỹ Thực thi tốt về chiến lược an ninh đối ngoại tại khu vựcĐông Bắc Á là bảo đảm chắc chắn cho Mỹ đạt được mục tiêu chiến lược toàn cầucủa mình Nội dung chính trong chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực ĐôngBắc Á sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc được biểu hiện ở những mặt sau:
Trang 33➢Thứ nhất, tiếp tục duy trì và nâng cấp các liên minh quân sự song phương, đây là hạt nhân quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ ở khu vực
Các Hiệp ước an ninh song phương mà Mỹ đã ký với các nước đồngminh khu vực là Nhật Bản và Hàn Quốc từ sau Chiến tranh thế giới hai vẫnđược duy trì trong suốt Chiến tranh lạnh là nhằm tập hợp lực lượng, ngănchặn ảnh hưởng của Liên Xô và CNCS ở khu vực và duy trì vị trí “sen đầm”của Mỹ ở đây Tuy nhiên, Chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ củaLiên Xô, mối đe dọa chính đối với Mỹ và các nước đồng minh biến mất, trongnội bộ Mỹ đã có nhiều ý kiến nhắc tới sự tồn tại không cần thiết của các hiệpước an ninh song phương này Trong bối cảnh đó, các nhà hoạch định chínhsách của Mỹ đã chỉ ra một số mối quan tâm chủ yếu mà theo họ việc duy trìcác hiệp ước này là cần thiết Đó là mối đe dọa từ Trung Quốc đang trỗi dậy,những căng thẳng kéo dài trên bán đảo Triều Tiên và eo biển Đài Loan, vàtrong tương lai một nước Triều Tiên thống nhất có thể gây ra những vấn đềkhó lường trước được Họ cho rằng các mối quan hệ an ninh song phươngmạnh mẽ giữa Mỹ và các nước đồng minh khu vực chính là nền tảng để đốiphó với những thách thức này
Chính vì những lý do đó, Mỹ tiếp tục coi các liên minh quân sự songphương là một trụ cột quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại, an ninh của
Mỹ ở Đông Bắc Á sau Chiến tranh lạnh Khi hoạch định chính sách an ninh của
Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh lạnh, chínhquyền Bush (cha) đã đề ra chính sách an ninh “hình nan quạt” lấy Mỹ làm tâmđiểm, các đồng minh là các nan quạt Đối với khu vực Đông Bắc Á, Nhật Bản vàHàn Quốc chính là những nan quạt đó Dưới chính quyền B.Cliton, Mỹ vẫn tiếptục khẳng định cam kết và tăng cường các mối quan hệ với Nhật Bản và HànQuốc Mặc dù có nhữn bất đồng sâu sắc, thậm chí có lúc căng thẳng về kinh tếvới Nhật Bản, song Mỹ vẫn xác định Nhật Bản là trụ cột liên minh quan trọngnhất của Mỹ ở Đông Bắc Á, là nhân tố chính đảm bảo an ninh châu Á Đối vớiHàn Quốc, Mỹ khẳng định quan hệ an ninh Mỹ - Hàn là nhân tố quan trọngtrong việc duy trì ổn định trên bán đảo Triều Tiên và Mỹ vẫn còn có trách nhiệmđối với an ninh nước này
Trang 34➢Thứ hai, Mỹ cắt giảm sự hiện diện quân sự ở khu vực nhưng tăng cường lực lượng triển khai nhanh
Trong những năm đầu sau Chiến tranh lạnh, căn cứ vào những đánh giában đầu về tình hình thế giới và khu vực, Báo cáo chiến lược Đông Á năm
1990 của chính quyền Bush (cha) vạch ra kế hoạch rút dần quân Mỹ khỏi khuvực với giai đoạn 1 kết thúc vào cuối năm 1992 giảm khoảng 10 - 12% trongtổng số 135.000 quân đóng tại đây [21, tr.40].Trong giai đoạn 10 năm sẽ cắtgiảm lực lượng xuống còn khoảng 100.000 quân
Tuy nhiên, Báo cáo chiến lược Đông Á 1995 lại khẳng định việc duytrì sự hiện diện của quân Mỹ ởmức 100.000 quân Bản Báo cáo Chiến lượcĐông Á 1998 một lần nữa tái khẳng định lại cam kết và cho rằng “quân Mỹđóng tại châu Á là nhân tố uy hiếp quan trọng”, ngoài ra “còn quyết định môi
an ninh, khiến về cơ bản không có khả năng nảy sinh sự thách thức nào”
[36] Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ William Cohen cũng từng khẳng định “sự dính líu quân sự của Mỹ thúc đẩy ổn định khu vực, ngăn chặn sự hiếu chiến
và đe dọa hàng ngày ở khu vực” [12, tr.46] Lực lượng quân đội Mỹ đóng tại
khu vực nằm dưới sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy khu vực châu Á - Thái BìnhDương của Mỹ, được cơ cấu chủ yếu vào lực lượng hải quân viễn chinh số 3
và lực lượng không quân số 5 ở Nhật Bản, đội quân số 8 và lược lượng khôngquân số 7 ở Hàn Quốc, trong đó “các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật Bản vàHàn Quốc là một bộ phận quan trọng trong chiến lược ngăn chặn và phản ứngnhanh của Mỹ tại khu vực” [19] Các đường lối cơ bản về sự hiện diện củalực lượng quân sự Mỹ tại Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn được giữ nguyên nhưthời kỳ Chiến tranh lạnh, theo đó, các quốc gia này có nghĩa vụ đóng góp vềmặt cơ sở vật chất cho quân Mỹ Bên cạnh đó, Mỹ nhấn mạnh tới tầm quantrọng của các chương trình diễn tập giữa lực lượng quân sự với quân độiđồng minh Việc phối hợp các hoạt động và các cuộc tập trận chung thườngđược tiến hành hàng năm trên cơ sở Mỹ muốn chia sẻ gánh nặng với cácnước đồng minh, liên minh và tạo điều kiện cho hòa nhập khu vực Ngoài ra,
Mỹ cùng tham gia các hoạt động kết hợp huấn luyện, trao đổi chuyên giaquân sự
Trang 35➢Thứ ba, Mỹ chuyển từ cấu kết Mỹ - Trung sang cô lập và kiềm chế Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX khi Liên Xô rơi vào khủng hoảngtoàn diện, sâu sắc và đứng trước nguy cơ tan rã, Mỹ cho rằng mục tiêu chiếnlược cao nhất của Mỹ trong Chiến tranh lạnh là làm sụp đổ Liên Xô về cơ bản đãđược thực hiện, do đó Trung Quốc không còn là đối tượng cần lợi dụng nữa Mặtkhác, Mỹ cũng có những lý do khách quan để triển khai ý đồ kiềm chế TrungQuốc vì sự vươn lên về sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc tác động trựctiếp đến lợi ích của Mỹ tại Đông Bắc Á Nhưng nếu như trước đây, Mỹ thổiphồng nguy cơ đe dọa từ phía Liên Xô để tập hợp lực lượng ngăn chặn CNCS,khi mà Liên Xô không còn là mối đe dọa trực tiếp đối với Mỹ và các nước đồngminh, thì nay Mỹ lại nhắc tới mối đe dọa từ phía Trung Quốc nhằm phân hóa vàtập hợp lược lượng có lợi cho Mỹ Trong nội bộ Mỹ, các thế lực chống TrungQuốc còn đưa ra thuyết “mối đe dọa về Trung Quốc”, một mặt vừa thuyết phụcQuốc hội Mỹ có thái độ cứng rắn với Trung Hoa, một mặt cảnh báo các nướctrong khu vực về mối đe dọa từ phía Trung Quốc
Lợi dụng sự kiện Thiên An Môn (6/1989), Mỹ đã thực hiện chính sáchcấm vận toàn diện đối với Trung Quốc Trong quan hệ song phương, Mỹ gây sức
ép mạnh với Trung Quốc về vấn đề nhân quyền, thương mại, phổ biến vũ khí hạtnhân, cảnh báo Trung Quốc chạy đua vũ trang, cắt đứt các cuộc tiếp xúc cấp cao
và quan hệ hợp tác quân sự với Trung Hoa đồng thời phối hợp với các nướcđồng minh phương Tây và các tổ chức tài chính quốc tế đình chỉ các khoản chovay và viện trợ cho Trung Quốc Trong quan hệ đa phương, Mỹ tăng cường vàcủng cố các liên minh quân sự song phương trong khu vực nhằm thiết lập vanhđai bao vây, kiềm chế Trung Quốc Đồng thời, Mỹ vẫn tích cực dính líu, ủng hộĐài Loan chống lại hành động đe dọa vũ lực để thống nhất đất nước của TrungQuốc như quyết định bán vũ khí, giúp nâng cấp khả năng quốc phòng, bán máybay chiến đấu F.16 cho Đài Loan
Đến thời của Tổng thống B.Clinton chính sách đối với Trung Quốc đã cónhững điều chỉnh Mục tiêu mà Mỹ đưa ra trong chính sách với Trung Hoa làkhuyến khích sự phát triển kinh tế thị trường và thúc đẩy cải cách chính trị ởTrung Quốc, khuyến khích đa nguyên chính trị, gây sức ép về nhân quyền, bên
Trang 36cạnh đó cũng tăng cường tiếp xúc cấp cao và từng bước lôi kéo Trung Quốctham gia vào diễn đàn an ninh và hợp tác khu vực Để đạt được mục tiêu đó,dưới thời B.Clinton Mỹ đã đề ra chính sách “tiếp xúc” thông qua ba biện pháp:hạn chế, gây ảnh hưởng và điều hòa Một mặt, tăng cường tiếp xúc ngoại giaocủa các đoàn cấp cao, mở đường cho chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống
Mỹ B.Clinton vào năm 1998 Thông qua các cuộc viếng thăm nay, hai nước đãbày tỏ mong muốn và quyết tâm xây dựng “mối quan hệ đối tác chiến lược”,đồng thời đưa ra chính sách “ba không” trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan.Hành động này của Mỹ đã góp phần làm dịu đi sự căng thẳng Mỹ - Trung xungquanh vấn đề eo biển Đài Loan Cuối năm 1999, Mỹ ký thỏa thuận với TrungQuốc, cam kết ủng hộ nước này gia nhập WTO…Những động thái trên đều nằmtrong chiến lược tiếp cận mềm (soft approach) nhằm lôi kéo Trung Quốc trongquá trình triển khai chính sách của Mỹ đối với khu vực Tuy nhiên, chính quyềnB.Clinton vẫn tiếp tục thi hành chính sách kiềm chế quốc gia này thông qua mộtloạt sự kiện xảy ra trong quan hệ hai nước ở những năm 1990 Cùng với việc tiếptục chính sách cấm vận (kéo dài tới năm 1997), Mỹ cũng luôn gây căng thẳngvới Trung Quốc về vấn đề nhân quyền, dân tộc và việc Trung Quốc cung cấp vũkhí, kỹ thuật tên lửa cho Iran, Pakistan Sự kiện Mỹ và NATO phớt lờ LHQ (tức
bỏ qua vai trò của Trung Quốc) tấn công Kosovo (3/1999) và vụ ném bom Đại
sứ quán Trung Quốc tại Belgrade (Nam Tư) cũng làm trầm trọng thêm quan hệhai nước Bên cạnh đó, vấn đề Đài Loan cũng thường xuyên được Mỹ sử dụngnhư một “con bài” trong mục tiêu kiềm chế và mặc cả lợi ích với Trung Quốc
Tóm lại, nhìn thấy được tầm quan trọng của khu vực Đông Bắc Á, Mỹ đã
có những chính sách đối ngoại cho phù hợp với từng thời kỳ, với những toantính, mục đích rất rõ ràng Trước năm 2001, đường lối đối ngoại của Mỹ ở ĐôngBắc được chia thành hai thời kỳ với những điểm nổi bật sau:
-Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ thực hiện nhất quán Chiến lược ngănchặn được đề ra từ những năm 1950 Mặc dù có sự thay đổi để phù hợp với hoàncảnh cũng như những biến động chính trị diễn ra ở Đông Bắc Á nhưng mục tiêutổng thể của Mỹ luôn luôn muốn ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ CNCS.Việc xây dựng cơ chế an ninh phòng thủ (chủ yếu là song phương) với các đồngminh trong khu vực, hành động can dự và dính líu đến cuộc chiến tranh cục bộ ở
Trang 37Triều Tiên cũng như sự điều chỉnh chiến lược với Trung Hoa cũng đều nằmtrong mục đích khống chế, ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Quốc vàlàn sóng Đỏ ở Đông Bắc Á nói riêng và Đông Á nói chung Đồng thời đây cũng
là cách Mỹ thiết lập sự hiện diện quân sự ở khu vực, làm tiền đề cho việc thựchiện chính sách bá quyền của Mỹ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc
- Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, chính sách đối ngoại của Mỹ ở ĐôngBắc Á có những thay đổi khi đặt mục tiêu an ninh kinh tế lên hàng đầu nhằmchấn hưng nền kinh tế Mỹ đang bị tụt dốc trong Chiến tranh lạnh Chính phủ Mỹ
đã tỏ ra quan tâm hơn tới khu vực Đông Bắc Á, một khu vực được xem có nềnkinh tế phát triển năng động và cũng là nơi tập trung nhiều lợi ích chiến lược của
Mỹ Hoa Kỳ đã đạt được một số kết quả bước đầu trong việc nâng cấp Hiệp ước
an ninh Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn; cải thiện quan hệ với các cường quốc trong khuvực, đặc biệt là đối với Trung Quốc; củng cố hơn nữa liên minh an ninh với cácđồng minh truyền thống khác ở khu vực; tăng cường sự hiện diện của Mỹ cả vềkinh tế lẫn quân sự
Tuy nhiên, lợi ích của Mỹ ở Đông Á trong thời kỳ này cũng phải chịunhững thách thức nghiêm trọng do sự nổi lên của Trung Quốc, tình hình căngthẳng ở bán đảo Triều Tiên có nguy cơ bùng phát thành xung đột và sự mất đingọn cờ tập hợp lực lượng khiến Mỹ gặp nhiều khó khăn trong việc tạo cớ canthiệp sâu vào công việc khu vực Đây là những thách thức đặt ra cho vị Tổngthống kế nhiếm G.Bush trong 8 năm cầm quyền của mình (2001 - 2009)
Trang 38CHƯƠNG 2.CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG BẮC Á DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG
GEOGRE WALKER BUSH (2001 - 2009)
2.1 Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Bắc Á (2001 - 2009)
2.1.1 Tình hình thế giới, khu vực và nước Mỹ đầu thế kỷ XXI
- Tình hình thế giới và khu vực
Bước vào thế kỷ XXI, tình hình an ninh - chính trị và kinh tế thế giới, khuvực có nhiều sự biến đổi phức tạp, nhanh chóng và khó lường, điều đó tác độngtới sự điều chỉnh chính sách của các quốc gia, đặc biệt là đối với một siêu cườngnhư Mỹ
Xu thế hòa hoãn và hợp tác tỏ ra chiếm ưu thế trong các quan hệ quốc tế.Trật tự thế giới cũng theo đó được hình thành với xu hướng “đa cực, đa trungtâm” Đây cũng là xu thế nổi trội trong quan hệ quốc tế hiện nay.Điều dễ dàngnhận ra là, không phải đợi đến đầu thế kỷ XXI mới xuất hiện xu thế này, mà nó
đã xuất hiện ngay sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và phát triển mạnh mẽ trongthời gian gần đây Sự gia tăng về số lượng chủ thể cũng như sự tạo ra xu thế “đacực” là tất yếu không thể đảo ngược Kể từ sau Chiến tranh lạnh, Mỹ đã khôngngừng củng cố và nâng cao địa vị quốc tế của mình, bên cạnh đó các cường quốcnhư Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Đức, Pháp…đang vươn lên mạnh mẽ, chi phốiquan hệ quốc tế, ít nhất là trong khuôn khổ khu vực
Bên cạnh đó, vai trò của các tổ chức quốc tế và tổ chức có tính khu vựcđược tăng cường rõ rệt và từng bước tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầumột cách có hiệu quả.Các nước đang phát triển liên hợp lại thông qua các tổchức có tính khu vực, hình thành một nguồn lực mới trong quan hệ quốc tế, ngàycàng trở thành một lực lượng quan trọng trên vũ đài quốc tế
Trong bối cảnh đó, quan hệ quốc tế đã diễn ra những thay đổi mang tínhchất đan xen, phức tạp, tác động nhiều chiều đến quan hệ song phương và đaphương của các quốc gia, dân tộc Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là
Trang 39xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện đại nên nguy cơ xảy ra chiến tranh thếgiới hủy diệt được đẩy lùi, nhưng không vì thế mà mâu thuẫn cơ bản của thời đại
đã được giải quyết; các mâu thuẫn vẫn tiếp tục vận động dưới hình thức mới, nộidung mới; xung đột vũtrang, chiến tranh cục bộ, những bất ổn do mâu thuẫn dântộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố xảy ra nhiều nơi Do đó, tất
cả các nước lớn nhỏ buộc phải thay đổi chính sách đối ngoại phù hợp theo xuhướng vừa hợp tác, vừa đấu tranh để cùng tồn tại hòa bình trong bối cảnh quốc
tế mới
Trên bình diện kinh tế, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ, nền kinh tế thế giới phát triển về trình độ lẫn quy mô chưa từngthấy.Kinh tế trở thành yếu tố chi phối, tác động đến tất cả các lĩnh vực của đờisống mỗi quốc gia, quan hệ quốc tế Khoa học và công nghệ trở thành lực lượngsản xuất nòng cốt, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trí thức, dẫnđến những biến đổi về kinh tế - xã hội, văn hóa, tư tưởng, lối sống…làm cho cácquốc gia, dân tộc trên thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Điều đó buộc cácquốc gia không chỉ thay đổi về cơ chế quản lý, thay đổi về cơ cấu kinh tế mà cònphải điều chỉnh quan hệ quốc tế theo hướng có lợi cho mình
Xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trong thập niên đầu thế kỷ XXI đãtạo ra những biến đối sâu sắc trong quan hệ quốc tế Toàn cầu hóa thúc đẩy sựliên kết trên phạm vi toàn thế giới, làm tăng tính phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhauthông qua quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia Toàn cầu hóacũng làm gia tăng vai trò của các thiết chế, tổ chức tài chính, tiền tệ và thươngmại quốc tế nhưIMF, WB, WTO…Toàn cầu hóa cũng làm các tập đoàn kinh tếquy mô lớn, siêu quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnhkinh tế của từng nước, từng khu vực và trên toàn thế giới
Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Bắc Ácũng chịu tác động, chi phối của tình hình thế giới Những chuyển biến mạnh mẽtrên lĩnh vực an ninh - chính trị và kinh tế toàn cầu cũng làm cho khu vực này có
những thay đổi tương ứng Về chính trị - ngoại giao, nhìn chung mối quan hệ
của các nước lớn ở khu vực này đều phát triển trên cơ sở hòa bình, điều hòa lợi
ích, đối thoại, hợp tác và kiềm chế xung đột Về kinh tế, khu vực châu Á - Thái
Bình Dương đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới trong một
Trang 40thời gian dài và đây là khu vực được coi là phát triển năng động nhất thế giớihiện nay; là khu vực có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt rất lớn và tập trung sự trỗi dậythần kỳ kinh tế của nhiều nước Các nhà sản xuất châu Á nắm giữ một phần lớndây chuyền sản xuất toàn cầu.Các nước châu Á và các thể chế dưới sự điều hànhcủa chính phủ tại đây sở hữu khoảng 2/3 trong số 6 nghìn tỷ USD dữ trữ ngoạihối toàn thế giới Đông Á thực sự là một trung tâm kinh tế hùng mạnh và đang làđộng lực thúc đẩy tăng trưởng về kinh tế thế giới [48].
Là một bộ phận không thể tách rời của châu Á - Thái Bình Dương, ĐôngBắc Á là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao và năng động bậc nhất thế giới, vớicác đầu tàu kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, hai vùng lãnh thổ phụ thuộc khốiNIEs và đặc biệt là sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc Những nhân tố này đãgóp phần làm cho triển vọng phát triển kinh tế khu vực Đông Bắc Á ngày càngtrở nên sáng lạn trong con mắt của dư luận thế giới Các nhà kinh tế giới đã nhận
xét “thế kỷ XXI là thế kỷ của Đông Bắc Á và châu Á - Thái Bình Dương” [49,
tr.105]
Bán đảo Triều Tiên là một trong những điểm nóng có ảnh hưởng rất lớntới tình hình an ninh của khu vực Từ giữa thế kỷ XX, bán đảo Triều Tiên luôn làtuyến đầu đối kháng giữa Đông - Tây, nơi đọ sức của các cường quốc Mỹ, Nhật,Trung, Nga nhằm tranh giành ảnh hưởng và vai trò của mình trong khu vực.Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình bán đảo Triều Tiên lại xuất hiện cục diệnmới vừa đối thoại, vừa đối kháng Bên cạnh đó là quan hệ căng thẳng giữa Mỹ
và Bắc Triều Tiên về vấn đề phát triển vũ khí hạt nhân, điều đó làm cho tìnhhình an ninh khu vực luôn trong tình trạng bất ổn
Sự tăng cường Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ và sự phát triển mạnh mẽ vềsức mạnh quân sự của Trung Quốc đã khiến Nhật Bản từng bước củng cố, pháttriển lực lượng quốc phòng của mình một cách toàn diện hơn Nhật Bản và Mỹ
đã đưa Đài Loan vào luật “tình hình xung quanh” của Nhật Bản làm tiêu chí choHiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, cùng với việc tiếp tục bán vũ khí quân sự cho ĐàiLoan càng làm cho tình hình an ninh ở khu vực Đông Bắc Á những năm đầu thế
kỷ XXI trở nên càng bất ổn hơn Sự hiện diện của quân đội Mỹ ở khu vực ĐôngBắc Á dù được ràng buộc bởi các hiệp ước an ninh, song ngày càng vấp phải sựphản đối mạnh mẽ của dư luận các nước trong khu vực Đây là nhân tố để Tổng