1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay

148 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo từ năm 2014 đến nay
Tác giả Nguyễn Thế Sơn
Người hướng dẫn TS. Lưu Thúy Hồng
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên, việc nghiên cứu Chính sách đối ngoại đối với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần làm rõ chính sách đối

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 3

Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lưu Thúy Hồng Lời trích dẫn trong luận văn là trung thực, có cơ sở, xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Sơn

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn cao học tôi

đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của tập thể thày, cô giáo Khoa Quan hệ quốc tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với toàn thể các thày, cô giáo, đặc biệt là TS Lưu Thúy Hồng, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Không những thế, trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã học tập được

từ Cô tinh thần làm việc, nghiên cứu khoa học hăng say, nghiêm túc, tỉ mỉ và đầy trách nhiệm Xin gửi đến Cô sự biết ơn và lòng kính trọng sâu sắc nhất

Từ tận đáy lòng mình, tôi cũng xin cảm ơn gia đình, nhất là người vợ thân yêu đã luôn tin tưởng, ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình thực hiện, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những điểm hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của Hội đồng Khoa học, của quý thầy, cô giáo, cùng sự góp ý của bạn bè đồng nghiệp

để luận văn được hoàn thiện có chất lượng tốt hơn

Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2022

Tác giả luận văn

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA INDONESIA ĐỐI VỚI KHU VỰC ÂU – MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG WIDODO 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA INDONESIA ĐỐI VỚI KHU VỰC ÂU – MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG WIDODO 49

2.1 Nội dung chính sách đối ngoại của Indonesia đối với Khu vực Âu – Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo 49

2.2 Thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Indonesia đối với Khu vực Âu – Mỹ 61

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ, DỰ BÁO VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA INDONESIA ĐỐI VỚI KHU VỰC ÂU – MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG WIDODO VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 82

3.1 Đánh giá về chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo 82

3.2 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong triển khai chính sách đối ngoại của Indonesia đối với Khu vực Âu - Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo 93

3.3 Dự báo chính sách đối ngoại đối với khu vực Âu - Mỹ của Indonesia trong thời gian tới 100

3.4 Hàm ý chính sách đối với Việt Nam 109

KẾT LUẬN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 133

TÓM TẮT LUẬN VĂN 138

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, cục diện thế giới tiếp tục diễn tiến theo hướng đa cực, đa trung tâm Mọi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia tầm trung ngày càng có nhiều cơ hội tham gia sâu rộng vào quá trình giải quyết các vấn đề quốc tế Dù cán cân quyền lực thế giới đang có xu hướng dịch chuyển từ Tây sang Đông nhưng châu Âu và châu Mỹ (khu vực Âu – Mỹ) vẫn là hai trung tâm kinh tế chính trị hàng đầu, có ảnh hưởng quyết định đối với nhiều vấn đề khu vực và toàn cầu Vì vậy, đối với mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia tầm trung đang trong quá trình xây dựng và khẳng định vị thế trên trường quốc tế, thì khu vực Âu – Mỹ luôn là đối tượng quan trọng, cần được đặc biệt quan tâm trong chính sách đối ngoại

Indonesia là một quốc gia tầm trung trong khu vực Đông Nam Á, có tiếng nói quan trọng đối với hầu hết các vấn đề của ASEAN và có ảnh hưởng không nhỏ đối với các vấn đề khu vực Mặc dù vậy, Indonesia vẫn là một nước đang phát triển, rất cần vốn và công nghệ để phát triển kinh tế Do đó, đối với Indonesia, khu vực Âu – Mỹ vừa đóng vai trò là thị trường xuất khẩu quan trọng, vừa là nguồn cung cấp vốn và công nghệ Ngược lại, vì có vị trí địa lý chiến lược quan trọng, lại là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á nên Indonesia luôn là đối tượng mà các nước lớn tại khu vực

Âu – Mỹ tìm cách lôi kéo, tranh thủ để gia tăng ảnh hưởng tại khu vực châu Á

- Thái Bình Dương và tác động vào hoạt động của ASEAN Điều này khiến Indonesia gặp không ít khó khăn trong việc xử lý hài hòa quan hệ với khu vực

Âu – Mỹ

Dưới thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Widodo, nhất là trong nhiệm

kỳ thứ hai, nhiều nước lớn tại khu vực Âu – Mỹ tăng cường can dự vào các vấn đề tại châu Á, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt là cạnh

Trang 8

tranh Mỹ - Trung có xu hướng ngày càng gia tăng gay gắt Hơn thế, thời gian gần đây, dịch Covid-19 bùng phát mạnh mẽ trên quy mô toàn thế giới cũng tạo ra hoàn cảnh quốc tế hết sức đặc biệt mà Indonesia chưa từng phải đối mặt Điều này đặt ra cho Chính quyền Tổng thống Widodo nhiều thách thức mới trong việc thực hiện mục tiêu đối ngoại, là làm sao vừa tranh thủ tối đa quan hệ với khu vực Âu – Mỹ, vừa cân bằng quan hệ với các khu vực, các nước lớn Trong bối cảnh đó, Chính phủ Indonesia dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Widodo đã đạt được nhiều thành công nhưng cũng còn tồn tại không ít hạn chế trong chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ

Về mặt địa lý, xã hội, Indonesia và Việt Nam có nhiều nét tương đồng như: hai nước đều là quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế năng động hàng đầu khu vực với vị thế đang lên trên trường quốc tế; có vị trí địa chiến lược quan trọng, án ngữ các tuyến đường hàng hải huyết mạch quốc tế, được các nước lớn coi trọng; đều có sự đa dạng cao về sắc tộc, tôn giáo

Vì những lý do trên, việc nghiên cứu Chính sách đối ngoại đối với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần làm rõ chính sách đối ngoại của Indonesia (với tư cách một quốc gia tầm trung), để từ đó rút ra những hàm ý chính sách cho Việt Nam trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng

trong tình hình hiện nay Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài “Chính sách đối

ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo

từ năm 2014 đến nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Nghiên cứu ngoài nước

Chính sách đối ngoại của Indonesia là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của giới khoa học trên thế giới, điển hình là các các công trình sau:

Sách “Indonesia in ASEAN: Foreign Policy and Regionalism” của tác

Trang 9

giả Dewi Fortuna Anwar, xuất bản năm 1994 Cuốn sách đã xem xét chính sách đối ngoại của của Indonesia dưới thời Tổng thống Sukarno trong thời kỳ kết thúc chiến tranh lạnh Trong đó, tác giả đặc biệt tập trung vào chính sách đối ngoại của Indonesia đối với ASEAN; phân tích lý do Indonesia thúc đẩy thành lập ASEAN và các lĩnh vực được Indonesia ưu tiên hợp tác trong khuôn khổ ASEAN

Sách “Indonesia's foreign policy as based on the Pantja Sila principles” của tác giả Adam Malik, xuất bản năm 1996 đã khẳng định tư

tưởng pancasila là một trong những nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Indonesia

Sách “Strategic Centrality: Indonesia's Changing Role in ASEAN” của

tác giả Anthony L Smith, xuất bản năm 2000 đã phân tích sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Indonesia trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997-1998 Nội dung cuốn sách cho thấy, Indonesia đã nỗ lực rất lớn nhằm giữ vững vai trò đi đầu trong ASEAN trước các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, cũng như trước các thách thức từ sự bất ổn trong nước

Sách “Islam in Indonesian foreign policy” xuất bản năm 2003 của tác

giả Riral Sukma đã khẳng định sức ảnh hưởng to lớn của hệ tư tưởng Hồi giáo đối với chính sách đối ngoại của Indonesia, nhất là sau sự sụp đổ của chính

quyền Tổng thống Suharto năm 1998 Ngoài ra, các cuốn sách “Indonesia and the Muslim World: Islam and Secularism in the Foreign Policy of Soeharto and Beyond của tác giả Anak Agung Banyu Perwita xuất bản năm 2007 và cuốn “Islam in Indonesian Foreign Policy: Domestic Weakness and the Dilemma of Dual Identity” của tác giả Rizal Sukma xuất bản năm 2004 cũng

khẳng định sức ảnh hưởng của Hồi giáo đối với chính sách đối ngoại của Indonesia

Sách “Indonesian Foreign Policy and the Dilemma of Dependence:

Trang 10

From Sukarno to Suharto” xuất bản năm 2007 của tác giả Franklin B

Weinstein đã làm rõ các cơ sở hình thành chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời cựu Tổng thống Sukarno và Soeharto Nội dung cuốn sách làm nổi bật thế lưỡng nan của Indonesia trong việc thực hiện mục tiêu đối ngoại là làm sao vừa giữ vững độc lập chủ quyền mà vẫn hội nhập kinh tế và tận dụng được nguồn lực nước ngoài để phát triển

Sách “ Indonesia's Foreign Policy”của tác giả Michael Leifer xuất bản

năm 2013, sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhiều quan chức trực tiếp hoạch định chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời kỳ của cựu Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono, cựu Tổng thống Megawati Nội dung cuốn sách cho thấy, chính sách đối ngoại của Indonesia thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc của tình hình chính trị xã hội bất ổn trong nước

Sách “Analisis Kinerja Kementerian Luar Negeri Indonesia 2018” (Phân tích hiệu quả công tác đối ngoại của Bộ Ngoại giao Indonesia

2015-giai đoạn 2015-2018) do Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Indonesia xuất bản năm 2018 đã đánh giá, trong 03 năm đầu của nhiệm kỳ Tổng thống thứ nhất, Chính quyền Tổng thống Widodo đã triển khai hơn 90% nội dung chính sách đối ngoại với 05 trụ cột là: an ninh và hòa bình, ngoại giao kinh tế, bảo hộ công dân Indonesia ở nước ngoài, hợp tác với ASEAN và ngoại giao hàng hải Tuy nhiên, công tác triển khai chính sách ngoại giao của Indonesia trong giai đoạn này vẫn gặp nhiều hạn chế vì môi trường quốc tế không thuận lợi và nội bộ Indonesia thiếu đoàn kết nhất trí

Sách “Indonesia’s Foreign Policy and Grand Strategy in the 21st Century: Rise of an Indo-Pacific Power” của tác giả Vibhanshu Shekhar, xuất

bản năm 2018, đã sử dụng cách tiếp cận của Chủ nghĩa Tân Hiện thực và Chủ nghĩa Kiến tạo để xem xét chính sách đối ngoại của Indonesia trong bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã phát triển thành một khu vực kinh tế sôi động và có vị thế ngày càng tăng trên bản đồ địa chính trị thế giới Cuốn

Trang 11

sách đã khẳng định, Indonesia đang vững bước trên con đường trở thành một cường quốc mới nổi trong khu vực nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức nội tại, nhất là thách thức trong việc huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để xây dựng vị thế trên trường quốc tế

Sách “Kebijakan Luar Negeri Era Jokowi” của tác giả Muhammad

Agil Ramadhan, xuất bản năm 2019 Cuốn sách cho rằng, chính sách đối ngoại của Indonesia chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền tảng lịch sử, tư tưởng của Indonesia cũng như tình hình quốc tế, khu vực nhưng đồng thời cũng ghi dấu

ấn mạnh mẽ của cá nhân Tổng thống Widodo và bị chi phối mạnh mẽ bởi các nhóm thế lực trong nước Vì vậy, tác giả đã cố gắng phân tích xu hướng chính sách đối ngoại của Tổng thống Widodo đặt trong bối cảnh quốc tế tính đến thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống thứ nhất

Gần đây nhất, năm 2020, tác giả Almuttaqi Ahmad Ibrahim đã công bố

cuốn sách “Jokowi's Indonesia And The World” đã phân tích những thành tựu

và hạn chế trong chính sách đối ngoại của Chính quyền Tổng thống Widodo trong nhiệm kỳ Tổng thống thứ nhất (2014-2019) Trong đó, tác giả khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Widodo, Indonesia hoàn toàn có khả năng triển khai một chính sách tích cực và quyết đoán hơn để phát triển lợi ích quốc gia trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động

Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, tác giả đã phát hiện một số lượng lớn các báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu của nhiều tác giả ngoài nước

về chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo nhưng chủ yếu tập trung vào nhiệm kỳ Tổng thống thứ nhất Điển hình là: báo cáo

“Indonesia’s Foreign Policy in the Jokowi Era” của tác giả Albarahim

Almuttaqui (Trung tâm ASEAN/ Học viện Quan hệ Quốc tế Nhà nước

Moscow); báo cáo “An Analysis of Indonesia Foreign Policy Under Jokowi’s Pro-People Diplomacy” của tác giả Muhammad Tri Andika/Đại học Bakrie/Indonesia; Báo cáo “Republic of Indonesia's diplomacy strategy to

Trang 12

achieve national interest in the framework of national resilience: a historical and futuristic approach” của tác giả Jacob Julian endiartia/Hiệp hội Chuyên viên phân tích Quốc tế Indonesia; báo cáo “Indonesia's Foreign Policy and the Covid-19 Pandemic” của tác giả Fitriani/Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Indonesia; Báo cáo “Chiến lược Ngoại giao kinh tế của Indonesia trong bối cảnh đại dịch Covid-19” của Aloysius Anandyo

Pambudi/Đại học Indonesia

2.2 Nghiên cứu trong nước

Chính sách đối ngoại của Indonesia từ trước đến nay đã được một số học giả, nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm, tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau như:

Bài viết “Khuynh hướng dân chủ nghị viện trong chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời tổng thống Sukarno (1950-1957) của tác giả Lê Thị

Liên đăng trong tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 8, năm 2011 Bài viết đã khẳng định, dưới thời Tổng thống Sukarno, chính sách đối ngoại của Indonesia có xu hướng chịu ảnh hưởng của khuynh hướng dân chủ nghị viện

và ngày càng thể hiện vai trò tích cực trong các vấn đề quốc tế

Bài viết “Những xu hướng chính trong chính sách đối ngoại và quốc phòng Indonesia” được Tạp chí Quan hệ Quốc phòng dịch và in trong số

28 năm 2014 đã khái quát chung một số đặc điểm chính trong đối ngoại quốc phòng của Indonesia tại thời điểm ngay trước khi Tổng thống Widodo nhậm chức

Bài viết “Chính sách đối nội, đối ngoại của chính phủ Indonesia dưới thời tổng thống Joko Widodo” của tác giả Bùi Xuân Mai đăng trên Tạp chí

Quan hệ Quốc phòng năm 2015 đã phân tích một số yếu tố chính trị quốc tế

và tình hình nội bộ có thể ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Tổng thống Widodo trong nhiệm kỳ thứ nhất

Cuốn Indonesia trong bộ sách “Tìm hiểu về Hiệp hội các quốc gia

Trang 13

Đông Nam Á - ASEAN” của TS Ngô Minh Sơn, xuất bản năm 2016, đã khái

quát một số nét nổi bật, mang tính xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Indonesia Trong đó, tác giả khẳng định: “Indonesia luôn chú trọng quan hệ với các nước lớn để cân bằng lực lượng, tránh những va chạm không cần thiết nhưng luôn kiên định quan điểm không chấp nhận sự áp đặt từ bên ngoài, thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tích cực, tự chủ và có điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kỳ”

Bài viết “Phân tích ban đầu về chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời tổng thống Widodo” của Nguyễn Thanh Tuấn đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam Á, số 10 năm 2016, đã phân tích một số động thái đối ngoại ban đầu của của Tổng thống Widodo sau khi đắc cử nhiệm kỳ thứ nhất

Bài viết “Quan hệ chính trị, ngoại giao giữa Australia với Indonesia (1950-2016) của Trịnh Thị Định đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,

số 2 năm 2017, đã phân tích một số đặc thù, tính chất phức tạp, cũng như tiềm năng phát triển quan hệ song phương Australia – Indonesia

Bài viết “Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với Trung Quốc thời kỳ Tổng thống Joko Widodo” của Trần Thu Minh đăng trên Tạp chí

Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, số 10 năm 2019 Bài viết đã đưa ra những đánh giá ban đầu về mục tiêu, biện pháp và thực trạng triển khai quan hệ Indonesia – Trung Quốc trong khoảng 03 năm đầu sau khi Widodo nhậm chức

Nhận xét chung: Các tài liệu, công trình nghiên cứu mà tác giả tiếp

cận được đã phân tích và đánh giá tổng quan chính sách đối ngoại của Indonesia qua các thời kỳ Tổng thống, trong đó có Tổng thống Widodo dưới các góc nhìn rất đa dạng: tôn giáo, triết học, quốc tế học Tuy nhiên, chưa phát hiện công trình nào tập trung nghiên cứu, đi sâu làm rõ chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu - Mỹ thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Widodo

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Luận văn làm rõ các cơ sở hoạch định, nội dung và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo, từ đó đưa ra đánh giá, dự báo chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ thời gian tới và kiến nghị một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Làm rõ và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoạch định chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng

thống Widodo;

- Làm rõ nội dung chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực

Âu – Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo, đặc biệt là trong nhiệm kỳ thứ hai (từ năm 2020 đến nay) và phân tích thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ trong thời gian từ năm 2014 đến nay;

- Đánh giá chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia từ năm 2014 đến nay, dự báo triển vọng chính sách đối ngoại với khu vực Âu –

Mỹ của Indonesia trong thời gian tới và kiến nghị một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ dưới thời

Tổng thống Widodo từ năm 2014 đến nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu chính sách đối ngoại của

Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ, tập trung vào một số nước lớn tại khu vực này như Mỹ, Nga, Đức, Anh, Pháp…

- Phạm vi thời gian: Từ thời điểm Tổng thống Widodo nhậm chức

(năm 2014) đến nay, nhấn mạnh vào nhiệm kỳ thứ hai

Trang 15

- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu – Mỹ

+ Phân tích nội dung chính sách đối ngoại: luận văn phân tích mục tiêu

và biện pháp đối ngoại trong chính sách

+ Phân tích triển khai thực hiện chính sách: luận văn phân tích việc triển khai theo lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh – quốc phòng

và văn hóa xã hội (du lịch, giáo dục, y tế…)

- Phạm vi khảo sát: Luận văn khảo sát các văn kiện chính sách đối

ngoại chính thống được công bố bởi Bộ Ngoại giao Indonesia, Bộ Điều phối các vấn đề chính trị, pháp lý và an ninh Indonesia; các văn kiện, thỏa thuận quốc tế mà Chính phủ Indonesia đã ký với các nước khu vực Âu – Mỹ; những quan điểm, phát ngôn chính thức của Tổng thống Widodo và quan chức cấp cao Chính phủ Indonesia; các công trình nghiên cứu của giới khoa học trong

và ngoài nước về chính sách đối ngoại của Indonesia

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của đề tài là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về công tác đối ngoại, kết hợp với một số lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại: Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Kiến tạo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận Phương pháp luận của đề tài là Chủ nghĩa Duy

vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử; kết hợp với cách tiếp cận liên ngành, vận dụng linh hoạt lý thuyết quan hệ quốc tế với kiến thức lịch sử, xã hội để làm rõ sự tác động của yếu tố văn hóa, xã hội, tôn giáo, địa chính trị đối với chính sách đối ngoại của Indonesia với khu vực Âu – Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo

- Phương pháp nghiên cứu Luận văn được xây dựng chủ yếu bằng

phương pháp tổng hợp và phân tích văn kiện ngoại giao, phân tích số liệu thống

Trang 16

kê; phương pháp nghiên cứu trường hợp Nguồn tài liệu, số liệu chủ yếu được

sử dụng là các văn bản chính sách chính thống mà Bộ Ngoại giao Indonesia,

Cơ quan thống kê Trung Ương, Bộ Điều phối các vấn đề chính trị, pháp lý và

an ninh Indonesia đã công bố (bao gồm các chiến lược đối ngoại, báo cáo thực hiện công tác đối ngoại hàng năm) Bên cạnh đó, một số tài liệu nghiên cứu, báo cáo khoa học trong và ngoài nước cũng được sử dụng để tận dụng các số liệu, ý kiến của các nhà khoa học nhằm phục vụ cho việc triển khai đề tài, đặc biệt là trong việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của các đời Tổng thống Indonesia trước Tổng thống Widodo Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp khác như phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, quan hệ kinh

tế, phân tích, so sánh, đối chiếu, để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đi sâu nghiên cứu, tổng hợp những điểm trọng yếu, những nét mới, riêng biệt trong chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo; chỉ ra những yếu tố nền tảng, xuyên suốt và những thay đổi trong chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo so với các chính phủ tiền nhiệm, làm

rõ sự phát triển chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ của Tổng thống Widodo trong nhiệm kỳ thứ hai so với nhiệm kỳ thứ nhất; đặc biệt là trong bối cảnh tình hình quốc tế sau dịch Covid-19

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở hình thành chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo

Chương 2: Nội dung và thực tiễn triển khai chính sách đối ngoại với khu vực Âu – Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo

Chương 3: Đánh giá, dự báo về chính sách đối ngoại với khu vực Âu –

Mỹ của Indonesia dưới thời Tổng thống Widodo và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA INDONESIA ĐỐI VỚI KHU VỰC ÂU – MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG WIDODO

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Trước khi phân tích cơ sở lý luận cho việc hình thành chính sách đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Âu - Mỹ dưới thời Tổng thống Widodo, luận văn sẽ nêu rõ cách tiếp cận về khái niệm chính sách đối ngoại, quốc gia tầm trung và Khu vực Âu - Mỹ

Trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay tồn tại rất nhiều định nghĩa về

“chính sách đối ngoại”, có thể liệt kê một số định nghĩa đáng chú ý như sau:

Tác giả Đoàn Văn Thắng, cho rằng, “Chính sách đối ngoại gồm các mục tiêu, biện pháp mà một quốc gia theo đuổi thực hiện trong quan hệ với quốc gia khác hoặc chủ thể khác trong cộng đồng quốc tế, nhằm mục đích thực hiện những lợi ích quốc gia được xác định trong từng thời kỳ” [12, tr25]

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp định nghĩa, “Chính sách đối ngoại là tổng hợp các chiến lược, chính sách mà một quốc gia sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa và xã hội nhằm đạt được những mục tiêu phù hợp với lợi ích quốc gia” [4, tr69]

Giáo sư chính trị học Joseph Frankel/Mỹ lại đưa ra định nghĩa, “chính sách đối ngoại bao gồm các quyết định và hành động, liên quan ở một mức độ đáng kể đến quan hệ của một quốc gia với những quốc gia khác” [42, tr44]

Theo hai tác giả Norman J Padelford và George A Lincoln/Mỹ, “chính sách đối ngoại của một quốc gia là tổng thể các hoạt động đối phó với môi trường bên ngoài Do đó, chính sách đối ngoại là kết quả tổng thể của quá trình một quốc gia chuyển các mục tiêu và lợi ích được quan niệm rộng rãi

Trang 18

thành các hành động cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu và duy trì lợi ích của mình” [53, tr82]

Tiến sĩ, Phó giáo sư Aleya Mousami Sultana/Ấn Độ thì cho rằng,

“chính sách đối ngoại là một tập hợp các chiến lược được hoạch định sẵn, được thiết kế và thực hiện một cách có hệ thống để quản lý các mối quan hệ của một quốc gia với các quốc gia khác Chúng là những hướng dẫn có cấu trúc nhằm điều chỉnh các tương tác chính trị quốc tế” [74]

Theo Bộ Ngoại giao Indonesia, “Chính sách đối ngoại là tổng thể các quan điểm, động thái mà Chính phủ Indonesia thực hiện trong quan hệ với các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế và các chủ thể có tư cách pháp nhân theo luật pháp quốc tế để giải quyết các vấn đề quốc tế nhằm đạt được lợi ích quốc gia” [70, tr 14]

Tóm lại, mặc dù không có một định nghĩa thống nhất về chính sách đối

ngoại nhưng khi nghiên cứu chính sách đối ngoại của một quốc gia, Luận văn

sẽ làm rõ 04 nội dung cơ bản như sau: (1) Chủ thể hoạch định và triển khai

thực hiện chính sách đối ngoại (thường là các quốc gia, mà cụ thể là Chính

phủ của các quốc gia); (2) Đối tượng của chính sách đối ngoại là các chủ thể

bên ngoài lãnh thổ quốc gia, mà phổ biến nhất là các quốc gia khác hoặc các

tổ chức quốc tế Ngoài ra, Chính phủ Indonesia còn thừa nhận “các chủ thể có

tư cách pháp nhân” (ví dụ như các vùng lãnh thổ) cũng là đối tượng của chính

sách đối ngoại; (3) Mục đích của chính sách đối ngoại là lợi ích quốc gia dân

tộc Tuy nhiên, quan niệm của mỗi quốc gia về lợi ích là không đồng nhất và không cố định, nên nội dung chính sách đối ngoại một quốc gia cũng thường

xuyên thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ; (4) Cách thức, hành động mà

quốc gia dự kiến sẽ thực hiện một cách có hệ thống để hiện thực hóa mục đích

đã đề ra (được đề cập đến dưới các khái niệm như: biện pháp, chiến lược, hướng dẫn, quyết định…)

Hai là khái niệm về quốc gia tầm trung

Chủ nghĩa Hiện thực định nghĩa quốc gia tầm trung trên cơ sở so sánh

Trang 19

tương quan sức mạnh quốc gia (lãnh thổ, dân số, kinh tế, quân sự, trình độ phát triển) và khả năng tác động đến hệ thống quốc tế [57, tr192] Theo đó, quốc gia tầm trung có sức mạnh thua kém các nước lớn, các siêu cường nhưng vượt trội so với đa phần các nước nhỏ và có khả năng tham gia tích cực vào hệ thống quốc tế thông qua các hình thức: nêu sáng kiến, kết nối hợp tác, điều phối các tổ chức quốc tế…

Hai giáo sư Gareth Evans và Bruce Grant tại Đại học Melbourne/Australia xác định quốc gia tầm trung theo đặc thù chính sách đối ngoại Chính sách đối ngoại của các quốc gia tầm trung thường không đặt mục tiêu theo đuổi ảnh hưởng toàn cầu như các nước lớn, mà chỉ phát huy vai trò nổi bật trong các cơ chế khu vực Do đó, các quốc gia tầm trung cũng ủng

hộ chủ nghĩa đa phương, ưu tiên đối thoại, hợp tác và củng cố trật tự quốc tế đương đại [34, tr323]

Giáo sư Robert W Cox tại Đại học Cambridge/Anh định nghĩa quốc gia tầm trung trên cơ sở cách quốc gia đó nhận thức về vai trò, vị thế của bản thân trên trường quốc tế Theo đó, các quốc gia tầm trung không tìm kiếm vị thế ngang hàng với các nước lớn nhưng cũng không chấp nhận vị thế tương đương với các nước nhỏ và do đó, các quốc gia tầm trung luôn nỗ lực thể hiện vai trò đi đầu trong các lĩnh vực mà quốc gia đó tự nhận thấy bản thân có thế mạnh [60, tr245]

Vì tính chất phức tạp, đa chiều của khái niệm quốc gia tầm trung nên trong khuôn khổ Luận văn, để xác định một quốc gia có phải là quốc gia tầm trung hay không? Tác giả sẽ căn cứ vào cả ba trường phái quan điểm kể trên Theo đó, một quốc gia chỉ được xác định là quốc gia tầm trung khi thỏa mãn

cả ba điều kiện về sức mạnh quốc gia (kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao), hành vi đối ngoại và nhận thức của giới tinh hoa về vị thế của quốc gia đó

Ba là khái niệm của Indonesia về Khu vực Âu – Mỹ

Theo Bộ Ngoại giao Indonesia, khái niệm Khu vực Âu – Mỹ được định

Trang 20

nghĩa là khu vực gồm 83 quốc gia tại châu Âu, châu Mỹ có quan hệ ngoại giao với Indonesia (và các vùng lãnh thổ hải ngoại các quốc gia này) Do đó, khi nói đến chính sách đối ngoại của Indonesia đối với Khu vực Âu – Mỹ có nghĩa là nói đến chính sách đối ngoại của Indonesia đối với 83 quốc gia này [70, tr10]

1.1.2 Tư tưởng Hồi giáo

Từ khi được du nhập, Hồi giáo dù đã có tác động nhất định nhưng chưa bao giờ là tư tưởng chủ đạo, dẫn dắt chính sách đối ngoại của Indonesia Thời trung cổ, Vương triều Hồi giáo Majapahit (thế kỷ XIV) đã thống trị toàn bộ quần đảo Indonesia nhưng vẫn thực hiện phương châm đối ngoại “đa dạng nhưng thống nhất” với các nước chư hầu, chủ trương khoan dung tôn giáo, sắc tộc thay vì đồng hóa Điều này trái ngược với chính sách chinh phạt và ép buộc cải đạo theo phương châm “thanh gươm và kinh Qur'an” của Hồi giáo Ả-rập nguyên thủy

Từ năm 1945 đến nay, dù là quốc gia có số lượng tín đồ Hồi giáo đông nhất thế giới nhưng Indonesia chưa bao giờ tự xưng là quốc gia Hồi giáo và

cơ sở hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Indonesia vẫn là quan điểm của giới tinh hoa về lợi ích quốc gia, còn tư tưởng Hồi giáo chỉ đóng vai trò thứ yếu Theo Rizal Sukma, Hồi giáo chỉ đóng vai trò như “một cái phanh, buộc chính phủ phải thực hiện một số thỏa hiệp, chứ không chi phối nội dung tổng thể của chính sách đối ngoại” [59, tr139] Tư tưởng Hồi giáo không thể

chi phối chính sách đối ngoại của Indonesia là do một số nguyên nhân sau: (1)

Các thế lực Hồi giáo chưa bao giờ nắm vai trò chi phối chính trường Indonesia Thậm chí, bị gạt ra bên lề chính trường trong thời kỳ chính quyền độc tài của Tổng thống Sukarno (1959-1967) và Tổng thống Suharto (1967-1998) Đến thời kỳ dân chủ hóa (1998-nay), thế lực hồi giáo liên tục bị các thế lực dân tộc chủ nghĩa, dẫn dắt bởi Đảng Dân chủ (PD) của Susilo Bambang Yudhoyono và Đảng Dân chủ Đấu tranh Indonesia (PDI-P) của

Megawati đánh bại trong các cuộc bầu cử; (2) Các thế lực Hồi giáo không

Trang 21

đoàn kết, mà mâu thuẫn với nhau về niềm tin tôn giáo và quan điểm đối ngoại, đặc biệt là giữa hai tổ chức Hồi giáo lớn nhất Indonesia là Muhammadiyah và Nahdlatul Ulama

Dù không giữ vai trò chủ đạo nhưng từ năm 1945 đến nay, Hồi giáo vẫn giữ một vai trò quan trọng, vừa là một đặc thù xã hội mà chính sách đối ngoại của Indonesia phải coi trọng (nhằm làm hài lòng công chúng trong nước), vừa là phương tiện đối ngoại dân nhân, ngoại giao văn hóa để thúc đẩy mục tiêu kinh tế, chính trị trong quan hệ của Indonesia với các nước Hồi giáo Điển hình, Tư tưởng, tình cảm của cộng đồng Hồi giáo đã hạn chế không gian chính sách đối ngoại của Chính phủ Indonesia trong việc hội nhập với phương Tây Đỉnh điểm là khoảng những năm 2001-2004, cộng đồng Hồi giáo Indonesia đã coi cuộc chiến của Mỹ tại Afghanistan, Iraq không phải là cuộc chiến chống khủng bố, mà là cuộc chiến chống Hồi giáo [59, tr130] Do đó, Chính phủ của Tổng thống Megawati dù coi trọng quan hệ hợp tác kinh tế với

Mỹ nhưng vẫn phải lên tiếng phản đối các chiến dịch quân sự của Mỹ tại Afghanistan

Quan điểm đối ngoại của cộng đồng Hồi giáo Indonesia đối với Khu vực Âu – Mỹ là không thống nhất và có thể được chia thành hai trường phái, được đại diện bởi hai tổ chức Hồi giáo là Nahdlatul Ulama và Muhammadiyah Cả hai tổ chức này đều có truyền thống tham gia chính trị tại Indonesia Nahdlatul Ulama là tổ chức Hồi giáo lớn nhất thế giới với hơn 40 triệu thành viên, chủ trương ủng hộ tư tưởng “Hồi giáo Nusantara”, coi Hồi giáo như một loại tín ngưỡng, không mang nặng yếu tố lễ nghi, giáo lý, khuyến khích bản địa hóa, hòa quyện các yếu tố văn hóa địa phương với niềm tin Hồi giáo Do đó, Nahdlatul Ulama có quan điểm cởi mở hơn trong các vấn

đề đối ngoại với phương Tây nói chung và Khu vực Âu – Mỹ nói riêng Ngược lại Muhammadiyah lại chủ trương thúc đẩy cải cách, thanh lọc Hồi giáo Indonesia theo hướng loại bỏ hoàn toàn các yếu tố lai tạp để trở về với

Trang 22

giáo lý nguyên thủy (Hồi giáo Mecca) Tín đồ của Muhammadiyah rất sùng đạo, nghiên cứu sâu về triết lý và tuân thủ nghiêm ngặt các giới luật, quy định

và nghĩa vụ Hồi giáo Do đó, Muhammadiyah thường mâu thuẫn với phương Tây trong các vấn đề Hồi giáo tại Trung Đông

Dù không thống nhất nhưng cộng đồng Hồi giáo tại Indonesia vẫn có tác động đến chính sách đối ngoại của Indonesia theo một số định hướng nổi

bật, xuyên suốt là: (1) Thúc đẩy quan hệ với khu vực Trung Đông và các nước

Ả-rập [57, tr37] (bao gồm cả Iran), đả kích Chủ nghĩa Cộng sản (bị coi là vô thần) và cảnh giác với các nước phương Tây (vì mâu thuẫn quan điểm về phụ

nữ, quyền lực nhà nước); (2) Nâng cao vị thế của Indonesia trong thế giới Hồi giáo, đặc biệt là trong các tổ chức Hồi giáo quốc tế; (3) Ủng hộ cộng đồng

Hồi giáo trong các cuộc xung đột quốc tế, điển hình là Người Palestine trong xung đột với Israel (1948 đến nay), Người Moro tại Philippines (1960), Người Bosnia trong chiến tranh Nam Tư (1991-2001), phản đối Mỹ tấn công Afghanistan (2001), Iraq (2003), Người Rohingya tại Myanmar (2017)

1.1.3 Tư tưởng Pancasila

Tháng 03/1945, trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, nhằm dựng lên một chính quyền bù nhìn để quản lý Thuộc địa Indonesia Quân phiệt Nhật đã dùng thủ đoạn “trả lại độc lập” cho Indonesia và thành lập

“Ủy ban điều tra về công tác chuẩn bị cho độc lập” gồm 59 thành viên, đại diện cho các sắc tộc, tôn giáo lớn tại Indonesia để chuẩn bị các nội dung cần thiết cho quá trình tuyên bố độc lập (bản chất Nhà nước, lãnh thổ và hiến pháp) Tại cuộc họp của Ủy ban, các thế lực Hồi giáo và dân tộc chủ nghĩa tại Indonesia đã mâu thuẫn gay gắt về vấn đề bản chất của Nhà nước Indonesia sau khi độc lập (Nhà nước thế tục hay Nhà nước Hồi giáo) và cuộc họp có nguy cơ đổ vỡ

Trước tình hình đó, Lãnh tụ Sukarno đã đề xuất Tư tưởng Pancasila, gồm 05 năm nguyên tắc (theo tiếng Phạn, “panca” nghĩa là năm và sila nghĩa

Trang 23

là nguyên tắc): (1) Niềm tin vào một đức Chúa toàn năng; (2) Một nhân loại công lý và văn minh; (3) Một Indonesia thống nhất; (4) Nền dân chủ được dẫn dắt bởi sự khôn ngoan của các đại diện nhân dân; (5) Công bằng xã hội cho

tất cả người Indonesia [59, tr19] Có thể thấy, Tư tưởng Pancasila là sự tổng hợp các giá trị đặc trưng của nhiều ý thức hệ như: Tôn giáo (bao gồm cả Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Do thái giáo), chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Thực chất đây là một giải pháp chính trị mang tính thỏa hiệp của Sukarno nhằm làm giảm sự khác biệt và cố kết mọi thành phần dân tộc, tôn giáo, chính trị trên lãnh thổ Indonesia vào một hệ thống giá trị tư tưởng; qua đó, gắn kết họ vào một quốc gia, một nhà nước thống nhất

Tư tưởng Pancasila được “Ủy ban điều tra về công tác chuẩn bị cho độc lập” chấp nhận và đưa vào Hiến chương Jakarta (Lời nói đầu trong Hiến pháp

1945 của Indonesia) Trong đó xác định, Indonesia là một nhà nước thế tục nhưng vẫn thừa nhận vai trò của “đức Chúa toàn năng” Quyết sách mang tính thỏa hiệp này đã đặt Nhà nước Indonesia vào “thế lưỡng nan” trong việc xác định bản sắc quốc gia (một quốc gia thế tục nhưng không vô thần), gây rất nhiều khó khăn cho các thế hệ lãnh đạo Indonesia trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Sự khó khăn thể hiện qua việc, giới lãnh đạo Indonesia vừa phải theo đuổi các lợi ích thực dụng trong chính sách đối ngoại (như bất

kỳ nhà nước thế tục nào khác) vừa phải bảo đảm gìn giữ, phát huy các giá trị bản sắc của Hồi giáo, mà không phải lúc nào cũng phù hợp với tình hình thế giới, thậm chí còn có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới lợi ích quốc gia dân tộc

Dù gây nhiều khó khăn cho Indonesia trong công tác đối ngoại nhưng không thể phủ nhận vai trò lớn lao của Tư tưởng Pancasila trong việc duy trì đoàn kết dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Indonesia Vì vậy, từ năm

1945 đến nay, cả 07 Tổng thống Indonesia đều thừa nhận, Tư tưởng Pancasila

là nền tảng tư tưởng, nguyên tắc lập pháp, lập Hiến, là “tinh hoa trí tuệ cổ xưa

Trang 24

của người Java” [44, tr34] Thậm chí, năm 1978 Quốc hội Indonesia còn thông qua Nghị quyết Tap MPR No 2/1978, bắt buộc giảng dạy Tư tưởng Pancasila cho học sinh, sinh viên Đến nay, các Tổng thống Indonesia khi nhậm chức đều tuyên bố trung thành với Tư tưởng Pancasila

1.1.4 Các nền tảng tư tưởng văn hóa cổ truyền của Indonesia

1.1.4.1 Tư tưởng Hindu giáo

Văn hóa Indonesia, đặc biệt là văn hóa Java chịu nhiều ảnh hưởng từ Hindu giáo Do đó, những yếu tố Hindu giáo cũng ảnh hưởng lên vũ trụ quan, thế giới quan của người Java và từ đó góp phần định hình nên chính sách đối ngoại của người Indonesia Cụ thể, Hindu giáo đang có ảnh hưởng đến quan điểm đối ngoại của các nhà lãnh đạo Indonesia thông qua cách nhìn nhận cấu trúc quyền lực quốc tế theo Hệ thống Mandala Đó là một mô hình quyền lực chính trị phân tán theo các vòng tròn đồng tâm Trong đó, quốc gia chủ thể nằm ở trung tâm, còn các quốc gia lân cận nằm trên các vòng tròn ngoại vi Trong hệ thống quyền lực phân tán này, tầm ảnh hưởng và mức độ liên quan lợi ích của quốc gia trung tâm đối với các quốc gia ngoại vi sẽ giảm dần từ trong ra ngoài Trên phạm vi thế giới, cấu trúc hệ thống quốc tế sẽ bao gồm nhiều Hệ thống Mandala đan xen vào nhau [28, tr327] Chính niềm tin vào cấu trúc quyền lực quốc tế theo Hệ thống Mandala đã góp phần hình thành nên quan điểm đối ngoại của Indonesia đối với khu vực Đông Nam Á, mà hiện nay là ASEAN Từ năm 1945 đến nay, các đời Tổng thống Indonesia đều coi Đông Nam Á là vòng tròn đầu tiên trong Hệ thống Mandala lấy Indonesia làm trung tâm Do đó, Indonesia vừa mong muốn thiết lập vị thế lãnh đạo đối với khu vực Đông Nam Á, vừa xác định hòa bình, ổn định của khu vực là nền tảng cho hòa bình, ổn định của Indonesia Dưới thời Tổng thống Widodo, chính sách đối ngoại của Indonesia vẫn khẳng định, “ASEAN là vòng tròn lợi ích đầu tiên của Indonesia” và do đó “Bộ Ngoại giao Indonesia sẽ tăng cường

vị thế, vai trò lãnh đạo của Indonesia trong ASEAN nhằm đạt được lợi ích

Trang 25

quốc gia và tăng cường thịnh vượng của Indonesia, cũng như duy trì hòa bình,

ổn định ở khu vực Đông Nam Á” [68, tr12]

1.1.4.2 Triết lý Kebatinan

Triết lý Kebatinan có ảnh hưởng lên chính sách đối ngoại của Indonesia

thông qua quan điểm về “quyền lực” “Quyền lực” là một trong những khái

niệm trung tâm của quan hệ quốc tế1, được định nghĩa là khả năng một chủ thể quan hệ quốc tế trong việc làm thay đổi ý chí và hành động của một chủ thể khác theo hướng phù hợp với lợi ích của mình Tuy nhiên, Triết lý Kebatinan của Người Java cho rằng, “quyền lực” (được gọi là “shakti”) là một loại năng lượng đặc biệt, tồn tại trong vũ trụ với số lượng không đổi nhưng sự phân bố của nó thì thay đổi theo ý chí của chúa trời và không chịu

sự chi phối của con người Việc “shakti” tích tụ vào một quốc gia hay một cá nhân lãnh đạo chính là cơ sở để họ sở hữu quyền lực chính trị (gần giống với thuyết thiên mệnh trong triết học Trung Hoa cổ đại) Do đó, chỉ có thể có được “shakti” thông qua hai con đường, đó là do trời ban (thiên phú) hoặc là được thừa kế Bên cạnh đó, vì tổng số năng lượng “shakti” trong vũ trụ là một hằng số nên việc trỗi dậy của một quốc gia/cá nhân sẽ luôn gắn liền với sự suy tàn của một quốc gia/cá nhân khác Cũng theo triết lý Kebatinan, chúa trời không ban phát “shakti” một cách ngẫu nhiên mà đó là một “món quà từ trên cao”, được ban cho quốc gia/cá nhân để họ thực hiện các mục đích cụ thể của chúa trời, thường là để giải quyết các vấn đề khó khăn Do đó, khi một quốc gia/cá nhân sử dụng “quyền lực” vào mục đích riêng thì “pamrih” (sự tư lợi) bắt đầu xuất hiện và “pamrih” sẽ đẩy “shakti” luân chuyển ra khỏi quốc gia/cá nhân gia đó để tích tụ sang một quốc gia/cá nhân khác, khiến quyền lực chính trị của anh ta bị suy giảm

Dù mang đầy màu sắc duy tâm nhưng hiện nay, Triết lý Kebatinan vẫn được nhiều người Indonesia, bao gồm cả giới tinh hoa người Java sử dụng để

1

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực

Trang 26

giải thích sự trỗi dậy và suy tàn của các lực lượng chính trị trong nước, cũng như các quốc gia trên trường quốc tế Điều này hình thành nên một quan niệm đối ngoại theo truyền thống Java của người Indonesia là phải tôn trọng sự luân chuyển khách quan của “shakti” giữa các quốc gia, hay nói khác đi là tôn trọng trật tự thế giới đương đại, để từ đó bảo đảm sự sự hài hòa và cân bằng của thế giới Việc một quốc gia cố tình thâu tóm hoặc lạm dụng “shakti” sẽ chỉ làm suy yếu quyền lực chính trị của quốc gia đó Điều này cũng giải thích cho thực tế là, tất cả các đời Tổng thống Indonesia đều thi hành chính sách

“độc lập – tích cực”, nỗ lực duy trì trật tự quốc tế đương đại và nâng cao vị thế quốc gia trong trật tự quốc tế đó, chứ không có tham vọng phá vỡ hoặc làm thay đổi trật tự quốc tế đương đại

1.1.4.3 Tinh thần Gotong Royong

Trong các tiếng Java, gotong có nghĩa là “gánh vác bằng vai của mình”, còn “royong” nghĩa là “cùng nhau” hoặc “chung sức” thực hiện một việc nào

đó Vì vậy, theo Bộ Văn hóa và Giáo dục Indonesia cụm từ “Gotong Royong”

có thể được dịch là “chung vai gánh vác trách nhiệm [75], còn theo Paul Michael Taylor và Lorraine V Aragon thì “Gotong Royong” có bản chất là sự hợp tác giữa nhiều người (nhiều chủ thể) để đạt được một mục tiêu (lợi ích) chung của cả cộng đồng [62, tr10] Cũng theo tinh thần Gotong Royong, tính chính danh của người lãnh đạo cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở uy tín cá nhân (chứ không phải người giàu có hoặc bá quyền) Đồng thời, cá nhân lãnh đạo chỉ có thể có được uy tín và sự tôn trọng của cộng đồng bằng cách đóng góp tích cực, không tư lợi vào công việc chung và tôn trọng ý kiến của các thành viên cộng đồng trong quá trình bàn bạc công việc [41, tr1]

Đã từ lâu, tinh thần Gotong Royong là một hòn đá tảng trong văn hóa truyền thống của người Java nói riêng và người Indonesia nói chung, như M Nasroen đã nhận định, “Gotong Royong là một trong những nguyên lý cốt lõi của triết học Indonesia” Tinh thần Gotong Royong luôn được các nhà lãnh

Trang 27

đạo Indonesia thừa nhận là nền tảng tư tưởng và vận dụng nó trong cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại Năm 1945, Lãnh tụ Sukarno đã khẳng định, thực chất Tư tưởng Pancasila có thể kết tinh lại thành “tinh thần Gotong Royong” [76] Tiếp đó, Thủ tướng Indonesia Muhammad Natsir (1950 - 1951) tuyên bố

“Gotong Royong” là một nguyên tắc đạo đức mang tính “xã hội chủ nghĩa”, hoàn toàn ưu việt so với chế độ phong kiến và tình trạng xã hội bừa bãi của chủ nghĩa tư bản [51, tr62] Trong thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Sukarno (1959-1967), tinh thần Gotong Royong tiếp tục được nâng tầm lên

thành “nguyên lý trung tâm trong đời sống Indonesia” Trong thời kỳ Trật tự

mới, Tổng thống Suharto tiếp tục nhấn mạnh tinh thần Gotong Royong trong các khẩu hiệu, diễn ngôn của chính quyền Đến thời kỳ dân chủ hóa, thậm chí, Tổng thống Megawati còn đặt tên cho Nội các của mình là Nội các Gotong Royong (2001-2004) để thể hiện mong muốn kêu gọi sự đoàn kết, chung tay góp sức thực hiện mục tiêu quốc gia Đến thời Tổng thống Widodo, “tinh thần Gotong Royong” tiếp tục được kế thừa và chính thức trở thành phương châm

phát triển quốc gia: “hiện thực hóa một Indonesia Tiên tiến, Chủ quyền, Độc lập và có bản sắc dựa trên tinh thần Gotong Royong” [66, tr18]

“Tinh thần Gotong Royong” và phong cách sống ôn hòa đã tạo cho người Indonesia một tư duy coi trọng lợi ích chung của cộng đồng và hạn chế các hành động đối đầu trực diện Chính tư duy cộng đồng cao dựa trên “tinh thần Gotong Royong” cũng khiến các chính sách đối ngoại của Indonesia ngày càng có xu hướng coi trọng chủ nghĩa đa phương Sự coi trọng chủ nghĩa đa phương thể hiện trong đường lối đối ngoại của Indonesia từ những ngày đầu lập quốc thông qua số lượng các cơ chế đa phương mà Indonesia đã tham gia sáng lập và thậm chí là giữ vai trò lãnh đạo từ năm 1945 đến nay, ví dụ: Hội nghị Bandung, Phong trào không liên kết, Hội nghị thượng đỉnh Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, ASEAN… Cựu Tổng thống Bambang Yudhoyono cũng được đánh giá là nhà lãnh đạo có mong muốn “khẳng định vị thế của

Trang 28

Indonesia là một nhà lãnh đạo đa phương” với chính sách đối ngoại “trên tất

cả các hướng” (all direction foreign policy) và mục tiêu “có một nghìn người bạn và không có kẻ thù” (a million friends, zero enemy) [144] Đặc biệt, do có ông nội là một trưởng làng, từ nhỏ Widodo thấm nhuần “tinh thần Gotong Royong” trong xử lý công việc làng xã và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan điểm đối ngoại của Tổng thống Widodo Do đó, dưới thời Tổng thống Widodo, Indonesia rất tích cực nâng cao vị thế, vai trò quốc gia trong các cơ chế đa phương bằng cách thể hiện tinh thần trách nhiệm và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ đóng góp của quốc gia Gần đây, ngày 22/09/2020, tại Cuộc họp Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ 75, Tổng thống Widodo cũng tuyên bố “Indonesia có niềm tin vững chắc vào các tổ chức và chủ nghĩa đa phương” và kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới “cùng chia sẻ trách nhiệm” xây dựng Liên hợp quốc

1.1.5 Tính kế thừa tư tưởng chính sách đối ngoại của các chính quyền tiền nhiệm

Nguyên tắc căn bản, nền tảng và xuyên suốt trong chính sách đối ngoại

của Indonesia là nguyên tắc “độc lập - tích cực” đã được cựu Thủ tướng

Indonesia Mohammad Hatta đề ra từ năm 1948 Theo đó, trong bối cảnh trật

tự lưỡng cực sau chiến tranh thế giới thứ hai đã bắt đầu hình thành, để định hướng chính sách đối ngoại của Indonesia, Cựu Thủ tướng Mohammad Hatta

đã khẳng định trước Ủy ban Quốc gia Trung ương Indonesia (tiền thân của

Quốc hội Indonesia) rằng, “đường lối đối ngoại tốt nhất (mà Indonesia) nên

áp dụng là đường lối không khiến chúng ta trở thành đối tượng của một cuộc xung đột quốc tế Mà ngược lại, chúng ta vẫn phải là chủ thể có quyền tự quyết định vận mệnh của mình và chiến đấu vì mục tiêu của chính mình, đó là độc lập cho Indonesia” [37, tr 95] Đây cũng chính là nội dung cốt lõi của

Nguyên tắc đối ngoại “độc lập - tích cực” của Indonesia

Nguyên tắc đối ngoại “độc lập - tích cực” đã được toàn bộ 07 Tổng

Trang 29

thống của Indonesia từ trước đến nay, bao gồm cả Tổng thống Widodo thừa nhận là “kim chỉ nam” của chính sách đối ngoại Trong phát biểu nhậm chức

ngày 20/10/2014, Tổng thống Widodo đã khẳng định, “Indonesia sẽ tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập - tích cực” [145] Năm 2019, ngay khi

Tổng thống Widodo tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai, Đại sứ quán Indonesia tại

Mỹ tiếp tục có bài viết về đường lối đối ngoại “độc lập – tích cực” Theo đó,

“độc lập” nghĩa là Indonesia không đứng về phía bất kỳ cường quốc nào,

“tích cực” nghĩa là Indonesia sẽ không bàng quan, thụ động trước các vấn đề quốc tế, mà sẽ chủ động tham gia tích cực vào các vấn đề quốc tế để bảo vệ

và thúc đẩy lợi ích quốc gia Về bản chất, đường lối đối ngoại “độc lập – tích cực” không phải là một đường lối trung lập, mà là “một đường lối được hoạch định để phục vụ lợi ích quốc gia, ngăn chặn mọi nguy cơ Indonesia bị ràng buộc với các siêu cường nhưng đồng thời cũng cho phép Indonesia hợp tác với mọi quốc gia để xóa bỏ chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc dưới mọi biểu hiện, hình thức của chúng để thúc đẩy hòa bình thế giới và công bằng xã hội” [77] Tháng 01/2022, Tiến sĩ Darmansjah Djumala, Đại sứ Indonesia tại Áo và Liên hợp quốc (2017-2021) tiếp tục khẳng định, “nguyên tắc độc lập - tích cực vẫn phù hợp với tình hình thế giới hiện nay nên không cần phải định nghĩa lại” Đây là căn cứ để khẳng định, Chính quyền Tổng thống Widodo đang tiếp tục kế thừa và phát huy chính sách đối ngoại “độc lập - tích cực”

Tóm lại Các giá trị văn hóa truyền thống của Người Java đã hòa quyện

với tư tưởng quốc gia chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa để tạo nên nền tảng tư tưởng của chế độ chính trị tại Indonesia nói chung và nội dung chính sách đối ngoại của Indonesia nói riêng Bên cạnh đó, các tư tưởng và giá trị Hồi giáo là một đặc thù xã hội, có ảnh hưởng đáng kể đến công tác hoạch định và hình thức triển khai chính sách đối ngoại của Indonesia

Trang 30

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình thế giới và khu vực

Nhận thức của giới tinh hoa, đặc biệt là giới hoạch định chính sách về tình hình thế giới, khu vực là một yếu tố có ảnh hưởng đặc biệt đối với Chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia Năm 2020, Chính phủ Indonesia nhận định, trong giai đoạn 2015-2019, tình hình thế giới diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường với sự xuất hiện của nhiều mối đe dọa an ninh mang tính đa chiều Cạnh tranh địa chính trị giữa các nước lớn có xu hướng gia tăng, được đặc trưng bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc, quá trình phục hồi sức mạnh của Nga

và sự suy yếu tương đối của Mỹ Cùng với đó, sự nổi lên của các chủ thể phi nhà nước, với tầm ảnh hưởng xuyên quốc gia, xuyên biên giới cũng khiến các mối đe dọa phi truyền thống (khủng bố, buôn người, ma túy, đánh cá bất hợp pháp) phát triển mạnh mẽ ở cả phạm vi thế giới lẫn khu vực Từ năm 2019 đến nay, hòa bình thế giới có xu hướng suy giảm nghiêm trọng Khủng bố và xung đột ngày càng gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh toàn cầu [67, tr33-34]

Tình trạng bất ổn an ninh đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh

tế toàn cầu Chỉ tính riêng năm 2018, tình trạng bạo lực đã làm nền kinh tế toàn cầu thiệt hại khoảng 14,8 nghìn tỷ USD (11,2% giá trị kinh tế toàn cầu) [39, tr2] Không những thế, nền kinh thế giới còn phải chịu tác động tiêu cực từ các yếu tố bất ổn như Brexit, chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Mỹ và sự phát triển chậm lại của nền kinh tế Trung Quốc Cùng với đó, kỷ nguyên bùng nổ kinh tế hàng hóa đã chấm dứt, mở ra kỷ nguyên của nền kinh tế số cũng đặt ra nhiều thách thức mới Tất cả những yếu tố tiêu cực trên đã làm chậm lại quá trình phục hồi của nền kinh tế thế giới từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Năm 2020, dịch Covid-19 lan rộng trên phạm toàn cầu khiến nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng trầm trọng và trở nên khó dự báo hơn bao giờ hết

Tại Khu vực Âu – Mỹ, từ năm 2015-2019, nhờ sức mạnh kinh tế, quân

Trang 31

sự và ảnh hưởng chính trị của một số nước lớn, khu vực Âu - Mỹ tiếp tục giữ vững vị thế lãnh đạo nền chính trị toàn cầu và vai trò trung tâm trong quan hệ quốc tế Tuy nhiên, các trung tâm quyền lực ở phương Tây có xu hướng ngày càng phân cực, mà biểu hiện cụ thể là việc Anh rút khỏi Liên minh châu Âu Tình hình chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa xã hội tại khu vực này có nhiều biến động phức tạp Bên cạnh đó, tại một loạt quốc gia Âu – Mỹ, các đảng cực tả, cực hữu đã giành được chính quyền, khiến chính sách của khu vực này ngày càng hướng nội, giảm lòng tin vào chủ nghĩa đa phương, hạn chế can dự vào các vấn đề quốc tế để tập trung giải quyết các vấn đề trong nước Trong lĩnh vực kinh tế, mặc dù hầu hết các nước Âu – Mỹ vẫn là những nền kinh tế phát triển và hiện đại nhất thế giới, chiếm 56,4% GDP và 32% giá trị giao dịch thương mại toàn cầu [78] nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực này liên tục ở mức tương đối thấp (dù sức mua bình quân đầu người vẫn cao) [70, tr8] Không những thế, trước sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và công nghệ của Trung Quốc, Ấn Độ, Khu vực Âu – Mỹ cũng đang mất dần ưu thế độc tôn về vốn đầu tư và công nghệ mới

Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhất là khu vực Đông Nam Á là khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với lợi ích của Indonesia, gắn kết chặt chẽ với Indonesia trên tất cả các mặt địa lý, văn hóa, kinh tế, chính trị Bên cạnh

đó, khu vực Đông Á và Đông Nam Á là những thị trường xuất khẩu truyền thống quan trọng của Indonesia Từ năm 2015-2019, nhờ môi trường chính trị, an ninh được duy trì tương đối ổn định, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã phát triển mạnh mẽ, năng động và đang trở thành đầu tàu tăng trưởng kinh tế toàn cầu Môi trường hợp tác quốc tế trong khu vực cơ bản được duy trì ổn định và mang tính xây dựng Tuy nhiên, tại một số điểm nóng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát xung đột, điển hình là Myanmar, Biển Đông, Afghanistan và Bán đảo Triều Tiên Bên cạnh vấn đề tranh chấp chủ quyền, đặc biệt là chủ quyền trên biển giữa các quốc gia, thì một số mối đe dọa phi

Trang 32

truyền thống như khủng bố, chủ nghĩa cực đoan, buôn bán ma túy, cướp biển,

ô nhiễm môi trường và an ninh hàng hải vẫn đang là nguy cơ an ninh thường trực đối với khu vực [72, tr3] Do đó, Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhất là khu vực Đông Nam Á sẽ là một khu vực có vị thế quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Indonesia

1.2.2 Tình hình Indonesia

1.2.2.1 Đặc điểm tự nhiên

Indonesia là quốc đảo lớn nhất thế giới, với tổng diện tích lãnh thổ 1.904.569km2 (bao gồm 93.000km2 lãnh hải, các vùng nội thủy) Ngoài ra, Chính phủ Indonesia còn tuyên bố quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế rộng 6.159.032 km2 Lãnh thổ đất liền của Indonesia nằm dọc theo đường Xích đạo, kéo dài khoảng 5.120km từ Tây sang Đông, 1.760km từ Bắc xuống Nam nhưng bị chia cắt thành 18.307 hòn đảo lớn nhỏ [80] Trong đó, chỉ khoảng 6.000 hòn đảo có cư dân sinh sống thường xuyên Do đó phần lớn diện tích của Indonesia được cấu thành từ 05 đảo lớn nhất là: Sumatra, Java, Kalimantan Sulawesi, New Guinea (nửa phía Tây) và 02 nhóm đảo: Nusa Tenggara và Maluku Đặc thù địa lý quần đảo có một số tác động đối với chính sách đối ngoại của Indonesia như sau:

+ Vị trí địa lý có tác động đến chính sách đối ngoại của Indonesia đối với các khu vực trên thế giới Quần đảo Indonesia nằm tại trung tâm Đông

Nam Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cách khu vực Đông Á 4.500km, cách châu Mỹ 15.600km và châu Âu khoảng 11.000km Chính vì vậy, trong khi Châu Á - Thái Bình Dương được Chính quyền Tổng thống Widodo xác định là “khu vực vô cùng chiến lược, gắn bó chặt chẽ với Indonesia về kinh tế, chính trị, văn hóa”, thì khu vực Âu - Mỹ lại được xác định là một khu vực “quá xa xôi” đối với Indonesia [70, tr10] Tuy vậy, lịch

sử đã chứng minh, chính sự xa cách về địa lý lại tạo cho Indonesia một cảm giác yên tâm trong quan hệ với các cường quốc tại châu Mỹ và châu Âu, đối

Trang 33

lập với cảm giác bất an thường trực trước sự trỗi dậy của “người khổng lồ” Trung Quốc Sự ám ảnh thường trực của giới tinh hoa Indonesia về ảnh hưởng địa chính trị của Trung Quốc đã được Dewi Fortuna Anwar, Cố vấn Phó Tổng thống Indonesia (2010-2017) tổng kết thành câu nói nổi tiếng

“Trung Quốc chỉ tôn trọng kẻ mạnh Nếu họ thấy bạn yếu đuối, họ sẽ ăn tươi nuốt sống bạn” [146]

+ Indonesia có nhu cầu rất lớn về vốn và công nghệ từ nước ngoài để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, thúc đẩy phát triển ngành vận tải biển

Quần đảo Indonesia có vị trí chiến lược, không chỉ là nơi nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, mà còn kiểm soát 04 trong 10 eo biển chiến lược của thế giới, bao gồm eo biển Malacca, Sunda, Lumbok và Makassar Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng cảng biển của Indonesia hiện nay rất lạc hậu, với 1.700 cảng biển nhưng hầu như toàn bộ đều là cảng nội địa, quy mô nhỏ, chỉ

có 111 thương mại quốc tế, với 11 cảng container [80] Điều này khiến là Indonesia có nhu cầu rất lớn về vốn và công nghệ, đặc biệt là từ các nước Âu – Mỹ để phát triển ngành thương mại biển và tăng cường kết nối giữa các địa phương trong nước Chiến lược Phát triển Quốc gia trung hạn 2020-2024 của Chính phủ Indonesia cũng xác định, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông là một trọng tâm phát triển quốc gia Trong đó, Ngân sách Chính phủ Indonesia sẽ chỉ chi khoảng 37%, còn lại sẽ được huy động từ các nguồn vốn trong và ngoài nước thông qua cơ chế hợp tác công tư Điều này có nghĩa, trong giai đoạn 2020-2024, Indonesia có nhu cầu rất lớn đối với vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là hệ thống cảng biển, khiến thu hút vốn đầu tư trở thành một trong những mục tiêu kinh tế chủ chốt mà Chính quyền Tổng thống Widodo đặt ra trong chính sách đối ngoại

với Khu vực Âu - Mỹ

+ Indonesia cần mở rộng thị trường xuất khẩu thủy hải sản, đồ gỗ và các sản phẩm từ dầu cọ, đặc biệt là tại Khu vực Âu – Mỹ Do có đường bờ

Trang 34

biển dài (80.000km) với vô số vịnh, đầm phá; lại được bao bọc bởi các vùng biển nhiệt đới, với hệ động vật sinh vật biển phát triển mạnh nên Indonesia sở hữu nguồn lợi thủy hải sản vô cùng to lớn Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản của Indonesia là 5,05 tỷ USD Trong đó, Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm 44,2% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản của Indonesia [81] Bên cạnh đó, do nằm ở xích đạo, có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Indonesia

có diện tích rừng rất lớn (khoảng 130 triệu km2

) Nhờ đó, Indonesia là một trong những nước xuất khẩu đồ gỗ và dầu cọ hàng đầu thế giới Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ và dầu cọ của Indonesia lần lượt là 3,79 tỷ USD và 18,44 tỷ USD Trong đó, chỉ riêng 04 nước Khu vực Âu – Mỹ là Mỹ,

Hà Lan, Tây Ban Nha, Italia đã chiếm 14,25% giá trị xuất dầu cọ của Indonesia [82] Đây cũng chính là nguyên nhân khiến, Chính phủ Indonesia

đã có nhiều biện pháp thúc đẩy đối ngoại kinh tế, ưu tiên thị trường Âu – Mỹ trong giai đoạn 2020-2024

+ Đặc thù địa lý cũng đặt ra cho Indonesia nhiều vấn đề an ninh trong

lĩnh vực đối ngoại: (1) Do có lãnh thổ rộng lớn và bị chia cắt, cùng với vùng

biển rộng và đường bờ biển dài nên Indonesia có nhiều thách thức về an ninh, cần giải quyết thông qua hợp tác quốc tế, điển hình là: tranh chấp chủ quyền,

khủng bố, buôn lậu; (2) Vấn đề an ninh môi trường Hiện nay, Indonesia đang

phải đối mặt với các vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển, khiến Indonesia là một nước tích cực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Hệ quả tất yếu, hợp tác xử lý các vấn đề an ninh hàng hải, an ninh phi truyền thông cũng là một lĩnh vực được Chính phủ Indonesia dưới Tổng thống Widodo ưu tiên đẩy mạnh trong quan hệ với Khu vực Âu - Mỹ

1.2.2.2 Dân cư, sắc tộc, tôn giáo

Theo Tổng cục Dân số và Đăng ký Hộ tịch/Bộ Nội vụ Indonesia, dân

số Indonesia năm 2021 là 272,23 triệu người Dân cư Indonesia phân bố không đồng đều giữa các vùng miền và giữa thành thị với nông thôn Hiện,

Trang 35

151,6 triệu người, tương đương 56,1% dân số sống tại đảo Java và khoảng 70% dân số Indonesia đang sinh sống tại nông thôn Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chênh lệch giàu nghèo tại Indonesia Trong đó, khu vực đảo Java (với đại đa số là Người Java) được coi là trung tâm của Indonesia với điều kiện kinh tế tốt Trong khi đó, các khu vực xa Java đều kém phát triển, thậm chí thường bị xếp vào diện đói nghèo

Về sắc tộc, Indonesia là một quốc gia đa sắc tộc, với 1.331 tộc người và

633 nhóm dân tộc [83] Trong đó, Người Java có số dân đông nhất với 92,24 triệu người (42% dân số); Người Sundan có 30,978 triệu người (15.41% dân số) Các tộc người còn lại chỉ khoảng 5-6 triệu người, chiếm dưới 4% dân số Một đặc điểm đáng lưu ý là các tộc người của Indonesia có địa bàn cư trú rất khu biệt và tương đối cách biệt với nhau, tức là mỗi tộc người tập trung sinh sống tại một khu vực địa lý nhất định (ngoại trừ Người Java sinh sống tại hầu hết các khu vực) Về tôn giáo, Indonesia là quốc gia có số lượng tín đồ Hồi giáo đông nhất thế giới Theo Bộ Các vấn đề tôn giáo Indonesia, Chính phủ Indonesia chính thức công nhận 06 tôn giáo Trong đó, Hồi giáo có 231 triệu tín đồ (85% dân số), Thiên chúa giáo có 25,8 triệu tín đồ (9,5% dân số), Hindu giáo có khoảng 4,6 triệu tín đồ (1,7% dân số), Phật giáo có khoảng 02 triệu tín đồ, Khổng giáo có 72.000 tín đồ Bên cạnh đó, Người Java còn có một hình thức tín ngưỡng khá phổ biến, đó là Kebatinan (hay còn gọi là Đạo Java) Nó vừa là một tín ngưỡng, vừa là một hệ thống triết lý khá hoàn thiện,

có ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan, nhân sinh quan của Người Java nói

riêng và người Indonesia nói chung Tóm lại, điểm nổi bật trong điều kiện

dân cư, sắc tộc của Indonesia ngày nay là ưu thế tuyệt đối của người Java tại Indonesia trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Điều này này cũng giải thích cho thực trạng, nền văn hóa Java vẫn có ảnh hưởng rõ nét đối với chính sách đối ngoại của Indonesia cho đến tận ngày nay Điều này đã được Luận văn phân tích tại mục 1.1.4

Trang 36

1.2.2.3 Lịch sử, văn hóa, xã hội

- Khái quát lịch sử Indonesia

Từ thời cổ đại đến năm 1911, Quần đảo Indonesia bị cát cứ bởi nhiều vương triều Ấn giáo, Hồi giáo, với các bản sắc dân tộc khác nhau, nhưng đều chịu ảnh hưởng từ văn hóa Java Quần đảo Indonesia chỉ được thống nhất thành một thực thể hành chính dưới sự quản lý của Thực dân Hà Lan (1911-1942) Năm 1942, Quân phiệt Nhật chiếm Indonesia từ Thực dân Hà Lan [41, tr6]

Ngày 17/08/1945, sau khi Quân phiệt Nhật đầu hàng đồng minh, Lãnh

tụ Sukarno, Mohammad Hatta đã thay mặt nhân dân Indonesia tuyên bố độc lập và thành lập chính quyền lâm thời (dựa trên Tư tưởng Pancasila) để tiếp quản đất nước từ Quân phiệt Nhật Năm 1946, Thực dân Hà Lan quay lại xâm lược và âm mưu tái áp đặt chế độ thuộc địa đối với Indonesia Chính quyền Indonesia non trẻ của Tổng thống Sukarno vừa đấu tranh ngoại giao, vừa đấu tranh vũ trang để bảo vệ đất nước trong 04 năm liên tiếp Năm 1949, Hà Lan tuyên bố thừa nhận Indonesia độc lập nhưng không trao trả vùng lãnh thổ Papua (năm 1968 mới sáp nhập vào Indonesia)

Năm 1950, sau khi chính thức được thành lập và trở thành thành viên Liên hợp quốc, Cộng hòa Indonesia đã sửa đổi Hiến pháp và tổ chức Nhà nước theo mô hình dân chủ nghị viện, với một chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong việc thực hiện quyền hành pháp Tuy nhiên, tình hình chính trị xã hội Indonesia vẫn bất ổn với đầy rẫy mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, vùng miền, hệ tư tưởng Hệ quả là, từ năm 1945 đến năm 1958, đã có 17

chính phủ liên hiệp liên tiếp được dựng lên và sụp đổ

Năm 1959, Tổng thống Sukarno công khai chỉ trích chế độ dân chủ nghị viện và giải tán Quốc hội Lập hiến, thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước Trong 10 năm liên tiếp, Sukarno duy trì quyền lực tuyệt đối trên cơ sở cân bằng thế lực chính trị của Quân đội Indonesia với Đảng Cộng sản Indonesia và một phần nào đó là với các thế lực Hồi giáo Tuy nhiên,

Trang 37

Sukarno ngày càng có xu hướng nghiêng về Đảng Cộng sản và thế lực Hồi giáo, khiến thế lực Quân đội bất mãn Năm 1965, nổ ra cuộc đảo chính bất ngờ của một nhóm các sĩ quan thân Tổng thống Sukarno, bắt và giết 06 tướng lĩnh cấp cao Quân đội Nhân cơ hội đó, Phe quân đội tiến hành phản công, tiêu diệt lực lượng đảo chính, buộc Tổng thống Sukarno từ chức và chuyển giao quyền lực cho Tướng Suharto Năm 1967, Suharto chính thức nhậm chức Tổng thống Indonesia

Sau khi cầm quyền, Suharto tiếp tục thi hành chính sách độc tài, dựa trên thế lực chính trị của Quân đội Indonesia là chủ yếu Năm 1997, được sự hậu thuẫn của thế lực Hồi giáo, các phong trào biểu tình đòi dân chủ, chống độc tài của sinh viên và giới tri thức lan rộng, Tổng thống Suharto phải từ chức và chuyển giao quyền lực cho Phó Tổng thống Habibie Chính trường Indonesia bước vào thời kỳ dân chủ hóa Chính quyền Tổng thống Habibie chỉ tồn tại được hơn một năm thì bị các thế lực Hồi giáo trong Quốc hội lật đổ

và đưa Wahid, một giáo sĩ Hồi giáo lên làm Tổng thống Chính quyền Wahid cũng chỉ tồn tại được khoảng 1 năm thì lại bị các thế lực dân tộc chủ nghĩa, đứng đầu là Megawati lật đổ và Megawati được bầu làm Tổng thống Năm

2004, Indonesia sửa đổi Hiến pháp, cho phép người dân trực tiếp bầu cử Tổng thống và Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono đã thắng cử, trở thành Tổng thống đầu tiên của Indonesia được bầu trực tiếp bởi người dân Susilo Bambang Yudhoyono tại nhiệm 02 nhiệm kỳ liên tiếp và cầm quyền trong 10 năm Năm 2014, Tổng thống Widodo đắc cử thành Tổng thống thứ 7 của Tổng thống Indonesia và tại nhiệm cho đến nay

Sơ lược lịch sử Indonesia có thể rút ra một số đặc điểm có tác động

đến tư duy đối ngoại của Indonesia như sau: (1) Do có thời gian dài bị Hà

Lan đô hộ, thậm chí đã phải đổ máu rất nhiều mới giành được độc lập Sau khi Indonesia giành độc lập, các thế lực tư bản phương Tây tiếp tục âm mưu chia cắt lâu dài lãnh thổ Papua khỏi Indonesia và nhiều lần lợi dụng vấn đề

Trang 38

dân tộc, tôn giáo để can thiệp vào tình hình nội bộ Indonesia Do đó, người dân Indonesia (bao gồm cả giới tinh hoa) có tâm lý đề phòng, cảnh giác trong

quan hệ với các thế lực tư bản phương Tây; (2) Do ảnh hưởng từ thời thuộc

địa Hà Lan, nền chính trị Indonesia có mức độ tập trung hóa quyền lực cao, dưới hình thức “một bộ máy chính phủ quan liêu, tổ chức theo mô hình Chủ nghĩa bảo trợ, tập trung vào vị trí cao nhất là Tổng thống với tư cách là nhân vật quyền lực nhất” [30, tr38] Trong lĩnh vực đối ngoại, từ năm 1945 - 1998, quyền lực đối ngoại được tập trung hoàn toàn vào tay Tổng thống Sukarno

[59, tr34] và sau đó là Tổng thống Suharto [35, tr37]

- Một số đặc điểm đáng chú ý của xã hội Indonesia

+ Người Java nắm giữ vị thế thống trị trong xã hội Indonesia

Người Java là một nhóm dân tộc bản địa có dân số đông nhất và là trung tâm của lịch sử Indonesia trong nhiều thế kỷ Từ lâu, giới khoa học đã

đưa ra khái niệm “Java hóa” (Javanisation) để mô tả sức ảnh hưởng và vai trò

thống trị của văn hóa Java đối với hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của Indonesia Theo Nhà nhân chủng học Niels Mulder/Hà Lan,

“Java hóa” là khái niệm để chỉ “sự áp đặt có ý thức hoặc vô thức lối tư duy và cách hành động của Người Java đối với toàn bộ Indonesia, với tư cách là đế quốc văn hóa; nhất là đối với cách suy nghĩ và hành động của các nhà lãnh đạo (Indonesia)” [52, tr51] Bên cạnh đó, khái niệm “Java hóa” còn được giới

nghiên cứu chính trị sử dụng để chỉ sức mạnh áp đảo của Người Java trên chính trường Indonesia kể từ năm 1945 đến nay [62, tr221] Hiện, Quốc kỳ, Quốc huy và tiêu ngữ của Indonesia đều được phóng tác từ những yếu tố có nguồn gốc văn hóa Java Thậm chí, Tư tưởng Pancasila - nền tảng tư tưởng của hệ thống chính trị Indonesia cũng bắt nguồn từ văn hóa Java Và đương nhiên, chính sách đối ngoại của Indonesia cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ văn hóa Java mà điển hình là ảnh hưởng từ Triết lý Kebatinan như đã đề cập ở mục 1.1.4.2

Trang 39

+ Xã hội Indonesia dưới sự thống trị của Người Java có sự phân hóa

về vùng miền và phân tầng về địa vị xã hội

Về mặt vùng miền, do có ngành kinh tế biển phát triển, văn hóa của Người Java sinh sống tại khu vực ven biển, đặc biệt là khu vực Bắc và Đông Java tiếp nhận nhiều yếu tố văn hóa từ bên ngoài hơn, cơ cấu xã hội bình đẳng hơn và tư tưởng cũng cởi mở hơn trong các vấn đề đối ngoại Ngược lại, người Java sinh sống tại khu vực trung tâm đảo Java vẫn mang tính thứ bậc làng xã và có xu hướng bảo thủ hơn trong vấn đề đối ngoại Về mặt xã hội, Nhà nhân chủng học Robert A Hahn viết: “Văn hóa Java được phân tầng theo tầng lớp xã hội và mức độ tuân thủ đạo Hồi” Xã hội Indonesia hiện nay cũng

bị chi phối bởi tầng lớp tinh hoa là hậu duệ của tầng lớp “priyayi” Người Java (quý tộc) [38, tr90] Theo nhà nghiên cứu Daniel Novotny (Institute of Southeat Asian), tầng lớp “priyayi” phân hóa thành hai bộ phận “Santri priyayi” và “Abangan priyayi” Trong đó, “Santri priyayi” là hậu duệ của những quý tộc, quan chức địa phương, địa chủ phong kiến, có tư tưởng bảo thủ, gia trưởng do ảnh hưởng sâu đậm từ Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo Đây chính là lực lượng xã hội của các thế lực chính trị bảo thủ, Hồi giáo tại Indonesia ngày nay Bộ phận “Abangan priyayi” là hậu duệ của những quan chức thuộc địa (tay sai) được Thực dân Hà Lan đào tạo theo chương trình giáo dục phương Tây, có tư tưởng cởi mở, mang nhiều hình thái tư tưởng vô thần, dân tộc chủ nghĩa, với các giá trị tự do dân chủ của phương Tây, thậm chí là tư tưởng cộng sản Từ năm 1945 đến nay, “Abangan priyayi” ngày càng phát triển nhờ các chương trình mở rộng giáo dục và chiếm ưu thế hơn trong chính quyền và quân đội Indonesia Do đó, trên chính trường Indonesia, tư tưởng dân tộc, quốc gia chủ nghĩa luôn có xu hướng vượt trội tư tưởng Hồi giáo, bảo thủ Điều này cũng khiến chính sách đối ngoại của Indonesia chịu nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng dân tộc, quốc gia chủ nghĩa hơn so với tư tưởng Hồi giáo

Trang 40

1.2.2.4 Kinh tế, chính trị

- Khát quát tình hình kinh tế Indonesia từ năm 2014 đến nay

Indonesia là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á và là một quốc gia có thu nhập trung bình nhưng được xếp vào nhóm các nước công nghiệp mới phát triển, là thành viên Diễn đàn G20 Năm 2021, Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa của Indonesia là 1.150,245 tỷ USD [84], là nền kinh tế lớn thứ 16 trên thế giới Trong đó, nông nghiệp chiếm 12,8%, công nghiệp 41,6%, dịch vụ 45,6% Nền kinh tế Indonesia phụ thuộc nhiều vào thị trường nước ngoài, với tổng kim ngạch ngoại thương năm 2021 đạt 427,74 tỷ USD, trong đó, kim ngạch xuất khẩu là 231,54 tỷ USD (20% GDP), kim ngạch nhập khẩu là 196,2 tỷ USD Trong đó, Khu vực Âu – Mỹ là một trong các thị trường xuất khẩu chính của Indonesia, với kim ngạch xuất khẩu là 40,81 tỷ USD (riêng Mỹ là 18,66 tỷ USD) chiếm 25,2% kim ngạch xuất khẩu của Indonesia [85]

Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Widodo (2014-2019), kinh tế Indonesia liên tục tăng trưởng bình quân 5%/năm (bình quân ASEAN là 4,4%/năm) Chính phủ Indonesia đã ban hành nhiều chính sách kinh tế nhằm duy trì ổn định vĩ mô, thúc đẩy chuyển dịch tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển

cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí logistics, kích thích xuất khẩu, du lịch và tiêu dùng hộ gia đình Kết quả, giai đoạn 2014-2019, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,2%/năm, thâm hụt ngân sách dưới 3,0% GDP, nợ công dưới 30%, dự trữ ngoại hối tăng

từ 111,9 tỷ USD (2014) lên 129,2 tỷ USD (2019) Tiêu dùng hộ gia đình tăng trung bình 5,0%/năm, chi tiêu chính phủ tăng trung bình 3,4%/năm

Bất chấp những thành tựu đã đạt được, kết quả phát triển kinh tế của

Tổng thống Widodo vẫn có một số hạn chế: (1) Tốc độ tăng trưởng GDP của

Indonesia không vượt qua được mức 5,3%/năm, cho thấy năng suất lao động không được cải thiện và có xu hướng trì trệ, nguyên nhân là do: môi trường

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Văn Doanh (1995), Indonesia – những chặng đường lịch sử, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indonesia – những chặng đường lịch sử
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1995
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2021
3. Trịnh Thị Định (2017), Quan hệ chính trị, ngoại giao giữa Australia với Indonesia (1950-2016), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ chính trị, ngoại giao giữa Australia với Indonesia (1950-2016)
Tác giả: Trịnh Thị Định
Năm: 2017
4. Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (2013), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế
Tác giả: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp
Năm: 2013
5. Vũ Dương Huân (2016), Bàn về chính sách đối ngoại, Nghiên cứu quốc tế, Số 1/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chính sách đối ngoại
Tác giả: Vũ Dương Huân
Năm: 2016
6. Lê Thị Liên (2011), Khuynh hướng dân chủ nghị viện trong chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời tổng thống Sukarno (1950-1957), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 8/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng dân chủ nghị viện trong chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời tổng thống Sukarno (1950-1957)
Tác giả: Lê Thị Liên
Năm: 2011
7. Bùi Xuân Mai (2015), Chính sách đối nội, đối ngoại của chính phủ Indonesia dưới thời tổng thống Giô-cô uy-đô- đô, Tạp chí Quan hệ Quốc phòng, Số 29/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối nội, đối ngoại của chính phủ Indonesia dưới thời tổng thống Giô-cô uy-đô- đô
Tác giả: Bùi Xuân Mai
Năm: 2015
8. Trần Thu Minh (2019), Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với Trung Quốc thời kỳ Tổng thống Joko Widodo, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, Số 10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với Trung Quốc thời kỳ Tổng thống Joko Widodo
Tác giả: Trần Thu Minh
Năm: 2019
9. Nguyễn Hùng Sơn (2012), Chính sách đối ngoại của Indonesia trong những năm gần đây, Tạp chí Đối ngoại số 1+2/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Indonesia trong những năm gần đây
Tác giả: Nguyễn Hùng Sơn
Năm: 2012
10. Đinh Thanh Tú (2008), Về tình hình cải cách chính trị ở Inđônêxia sau 1998, Tạp chí Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tình hình cải cách chính trị ở Inđônêxia sau 1998
Tác giả: Đinh Thanh Tú
Năm: 2008
11. Nguyễn Thanh Tuấn (2016), Phân tích ban đầu về chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời tổng thống Joko Widodo, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 10/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích ban đầu về chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời tổng thống Joko Widodo
Tác giả: Nguyễn Thanh Tuấn
Năm: 2016
12. Đoàn Văn Thắng (2003), Quan hệ Quốc tế - Các phương pháp tiếp cận, Nxb. Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Quốc tế - Các phương pháp tiếp cận
Tác giả: Đoàn Văn Thắng
Nhà XB: Nxb. Thống Kê
Năm: 2003
13. Thông tấn xã Việt Nam (2007), Về quan hệ của Indonesia với các nước, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quan hệ của Indonesia với các nước
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
14. Gin-đát, Vũ Viết Việt Hải dịch, Những xu hướng chính trong chính sách đối ngoại và quốc phòng Indonesia”, Tạp chí Quan hệ Quốc phòng, số 28/2014.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng chính trong chính sách đối ngoại và quốc phòng Indonesia
15. Abu Hanifah (1972), Tales of a Revolution, Nxb Angus and Robertson, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tales of a Revolution
Tác giả: Abu Hanifah
Nhà XB: Nxb Angus and Robertson
Năm: 1972
16. Adam Malik, Indonesia's foreign policy as based on the Pantja Sila principles, Nxb Dept. of Information, Republic of Indonesia, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indonesia's foreign policy as based on the Pantja Sila principles
Nhà XB: Nxb Dept. of Information
17. Aleya Mousami Sultana (2019), Indian Foreign Policies and The Contemporary World, Đại học Cooch Behar Panchanan Barma, Ấn Độ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian Foreign Policies and The Contemporary World
Tác giả: Aleya Mousami Sultana
Năm: 2019
18. Almuttaqi Ahmad Ibrahim (2020), Jokowi's Indonesia And The World, Nxb World Scientific Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jokowi's Indonesia And The World
Tác giả: Almuttaqi Ahmad Ibrahim
Nhà XB: Nxb World Scientific
Năm: 2020
19. Angus McIntyre (2005), The Indonesian Presidency: The Shift from Personal toward Constitutional Rule, Nxb Rowman & Littlefield, Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Indonesian Presidency: The Shift from Personal toward Constitutional Rule
Tác giả: Angus McIntyre
Nhà XB: Nxb Rowman & Littlefield
Năm: 2005
20. Anthony L. Smith (2000), Strategic Centrality: Indonesia's Changing Role in ASEAN, Nxb Institute of Southeast Asian Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Centrality: Indonesia's Changing Role in ASEAN
Tác giả: Anthony L. Smith
Nhà XB: Nxb Institute of Southeast Asian Studies
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1: Cơ cấu kim ngạch thương mại của Indonesia các khu vực - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 1: Cơ cấu kim ngạch thương mại của Indonesia các khu vực (Trang 139)
Đồ thị 3: Kim ngạch xuất khẩu của Indonesia sang 10 đối tác lớn tại - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 3: Kim ngạch xuất khẩu của Indonesia sang 10 đối tác lớn tại (Trang 140)
Đồ thị 4: Giá trị vốn FDI đầu tư vào Indonesia giai đoạn 2013-2021 (triệu USD) - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 4: Giá trị vốn FDI đầu tư vào Indonesia giai đoạn 2013-2021 (triệu USD) (Trang 140)
Đồ thị 5: Giá trị vốn FDI từ Khu vực Âu - Mỹ đầu tư vào Indonesia - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 5: Giá trị vốn FDI từ Khu vực Âu - Mỹ đầu tư vào Indonesia (Trang 141)
Đồ thị 6: Tỷ trọng vốn FDI vào Indonesia giai đoạn 2013-2021 - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 6: Tỷ trọng vốn FDI vào Indonesia giai đoạn 2013-2021 (Trang 141)
Đồ thị 07: Giá trị vốn đầu tư của 05 đối tác FDI hàng đầu của - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 07: Giá trị vốn đầu tư của 05 đối tác FDI hàng đầu của (Trang 142)
Đồ thị 08: Tỷ trọng vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp của - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 08: Tỷ trọng vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp của (Trang 142)
Đồ thị 09: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Indonesia - Chính sách đối ngoại của indonesia đối với khu vực âu – mỹ dưới thời tổng thống widodo từ năm 2014 đến nay
th ị 09: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Indonesia (Trang 143)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w