1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của nhật bản đối với đông nam á từ sau chiến tranh lạnh đến năm 2001

77 575 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 252,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu này cũng giúp ViệtNam đề ra chính sách đối ngoại đúng đắn, đồng thời tìm hiểu những tác độngqua lại, trớc hết là đối với Nhật Bản để vừa đảm bảo an ninh, vừa phát triểnki

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học Vinh

Trang 2

Sự đIều chỉnh chính sách đối ngoại của nhật bản đối với đông nam á từ sau chiến tranh

“ hai cực” đối lập sang một thế giới “đa cực” mang tính cạnh tranh và hợp tác,

ở đó xu hớng toàn cầu hoá, hiện đại hoá đang chiếm u thế tuyệt đối, tạo ranhững cơ hội song lại chứa đựng những thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực của mỗiquơốc gia phải đề ra những chính sách phù hợp ứng với mỗi giai đoạn của lịchsử

Điểm đáng lu ý là cùng với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, khu vựcchâu á - Thái Bình Dơng nói chung và Đông Nam á nói riêng đang có nhữngchuyển biến cơ bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh và xã hội

Trang 3

Trong đó, Đông Nam á nổi lên nh một trung tâm kinh tế phát triển sôi động,nơi đây không chỉ tập trung nhiều bạn hàng buôn bán, đầu t có khả năng tạo ranguồn thu lợi ích kinh tế chủ yếu mà còn chứa đựng nhiều tiềm năng pháttriển, giàu khoáng sản, nguồn lao động dồi dào và mang đậm bản sắc văn hoá

độc đáo Không những thế, Đông Nam á còn là khu vực rất quan trọng về địa

lý, chính trị vì có thể nói rằng, bất kỳ một sự biến động nào của khu vực này

đều có ảnh hởng trực tiếp và sâu sắc đến lợi ích an ninh chính trị và ngoại giaotrong khu vực châu á - Thái Bình Dơng

Xuất phát từ những yếu tố đó, từ sau Chiến tranh lạnh cùng với nhữngchuyển biến cơ bản của tình hình thế giới và khu vực, hầu hết mọi quốc gia đều

ra sức hoạch định chiến lợc, từng bớc có chính sách phù hợp để thích ứng với

điều kiện trong nớc và ngoài nớc nhằm tăng cờng, củng cố vai trò, vị trí củamình Có thể nói, nét nổi bật trong nền chính trị thế giới kể từ khi Chiến tranhlạnh chấm dứt là sự điều chỉnh của tất cả các nớc, nhất là các nớc lớn, nhằm dànhcho mình một vị trí tối u trong hệ thống quan hệ quốc tế đang đợc cơ cấu lại.Nhật Bản không nằm ngoài xu hớng chung đó của thế giới

Nhật Bản là một cờng quốc kinh tế trong khu vực, lại có những mốiquan hệ sâu rộng về lịch sử, kinh tế, văn hoá lâu đời với Đông Nam á Nhậtluôn coi đây là khu vực thân thiết, gắn bó với sự sống còn và phát triển củamình Vì thế, ngay từ khi mới bớc ra khỏi hơi nóng của cuộc chiến tranh lạnh,Nhật Bản đã nhanh chóng hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại củamình với quốc tế và khu vực Đông Nam á Nhật chú trọng đến Đông Nam á,coi đó là “ tiểu khu vực” trọng điểm có ảnh hởng đến vai trò nớc lớn củaNhật Xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhật Bản với Đông Nam á trong suốtthời kỳ Chiến tranh lạnh, có thể thấy chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời

kỳ này đạt đợc những kết quả đáng kể, đáp ứng đợc phần nào lợi ích của cảhai bên Với một nớc Nhật đang trong quá trình lựa chọn chiến lợc hậu Chiếntranh lạnh của mình để vơn lên trở thành một cờng quốc toàn diện, tìm sứcmạnh chính trị tơng xứng với sức mạnh kinh tế đã có, thì nhân tố Đông Nam

á lại càng trở nên có ý nghĩa Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á, lại

là một thành viên của tổ chức ASEAN, từ lâu đã xây dựng đợc mối quan hệ tốt

đẹp với Nhật Bản và đang phát triển thuận lợi Do đó, việc nghiên cứu chínhsách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á thời kỳ sau Chiến tranhlạnh trong lúc hợp tác khu vực đang gia tăng là một yêu cầu cấp thiết đối với

Trang 4

Việt Nam, với các nớc trong khu vực Việc nghiên cứu này cũng giúp ViệtNam đề ra chính sách đối ngoại đúng đắn, đồng thời tìm hiểu những tác độngqua lại, trớc hết là đối với Nhật Bản để vừa đảm bảo an ninh, vừa phát triểnkinh tế, văn hoá và giáo dục, đảm bảo mối quan hệ tốt đẹp ba bên giữa ViệtNam – Nhật Bản – ASEAN trong bối cảnh mới ở khu vực và trên thế giới.

Với suy nghĩ đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài Một số điều chỉnh trong chính

sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh đến năm 2001 ” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ sau Chiến tranh lạnh, các nớc trong khu vực Đông Nam á vừa hợptác vừa đấu tranh rất phức tạp, cùng với xu hớng khu vực hoá ngày càng giatăng mạnh mẽ với các hoạt động kinh tế sôi nổi, các nớc NIES và các nớcASEAN vẫn tiếp tục đạt tăng trởng kinh tế cao Nhật Bản cũng nh các nớc lớn,

đều có sự điều chỉnh rất quan trọng theo hớng tăng cờng hơn nữa sự có mặt vềkinh tế, chính trị an ninh, quốc phòng, tăng cờng sự hợp tác và đầu t nhằmnhanh chóng xác định vị trí của mình trong khu vực Trong những năm gần

đây, do sự phát triển trong quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản với các nớc trongkhu vực Đông Nam á ngày một tốt đẹp, cho nên nghiên cứu sự điều chỉnh đ-ờng lối đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh đã

đợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc chú ý

ở Việt Nam, do nhu cầu tìm hiểu diễn biến sự điều chỉnh chính sáchcủa các nớc lớn trong khu vực, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản tại Hà Nội đã

xuất bản cuốn sách “ Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến

tranh lạnh”, xuất bản năm 2000, do Ngô Xuân Bình chủ biên, nhng mang

tính chất tạo ra cái nhìn tổng thể về chính sách đối ngoại của Nhật Bên cạnh

đó, có cuốn “Quan hệ của Nhật Bản với các nớc Đông Nam á sau chiến

tranh thế giới thứ II năm 1945 1975” do Dơng Lan Hải (chủ biên), Nhàxuất bản KHXH, Hà Nội, năm 2000, đã đề cập đến một số mối quan hệ ngoạigiao giữa Nhật Bản với Đông Nam á ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ II

kết thúc Tác phẩm An ninh kinh tế ASEAN và vai trò của Nhật Bản“ ” củaNhà xuất bản CTQG, Hà Nội, năm 2001 đã nêu lên sự phát triển kinh tế và anninh của các nớc châu á - Thái Bình Dơng, trong đó có nói đến sự tác động

của Nhật Bản đối với khu vực này Cuốn sách Chiến lợc quốc gia của Nhật

Trang 5

Bản trong thế kỷ XXI ,” Nhà xuất bản Thông tấn Hà Nội, năm 2004 nêu lênnhững yếu tố và nội dung chính mà Nhật Bản sẽ đa ra trong thế kỷ XXI…

Ngoài ra, trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á có các bài

viết Tìm hiểu chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với các nớc ASEAN (4/2004), An ninh châu á và chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong thời

kỳ sau Chiến tranh lạnh” của Kamao Kaneko (1995), Chiến lợc đối ngoại của Nhật Bản trong những thập niên đầu thế kỷ XXI” của Hồ Châu (4/2005 ),

“ Điều chỉnh chính sách đối ngoại và an ninh của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến

tranh lạnh khía cạnh đa phơng hoá và quan hệ với Hoa Kỳ” của Ngô Xuân

Bình (10/1999), Quan hệ Việt “ – Nhật thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh

những dấu ấn ngoại giao đậm nét” của Nguyễn Thanh Hiền (2003)

Trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế có những bài: Nhật Bản điều chỉnh

chính sách Đông á” của Võ Sơn Thuỷ (1883), Vai trò an ninh của Nhật Bản

thời kỳ sau Chiến tranh lạnh” của Lê Linh Lan (1995 ), Sự điều chỉnh của

một số nớc lớn sau Chiến tranh lạnh” của Phan Doãn Nam (1997 )

Đồng thời, trên Tạp chí Đông Nam á có bài: Thách thức và triển

vọng vị thế chính trị của Nhật Bản trong quan hệ Nhật Bản – ASEAN và NIE s Đông á” của Trần Anh Phơng (2000), “ Nhật Bản và Đông Nam á ” củaPhạm Đức Thành (2003)…

Tất cả những đề tài trên đều nghiên cứu những khía cạnh khác nhautrong quá trình điều chỉnh chính sách của Nhật đối với khu vực châu á TháiBình Dơng nói chung và Đông Nam á nói riêng.Vì vậy, nghiên cứu đề tài nàychúng tôi muốn tìm hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của NhậtBản đối với khu vực Đông Nam á, tìm hiểu sự tác động của những chính sách

đó đến quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản Tuy nhiên, trong giới hạn củaluận văn, do khả năng còn hạn chế của ngời viết, khó khăn trong quá trìnhnghiên cứu và thu thập tài liệu nên bài viết rất còn có nhiều thiếu sót, rất mong

đựoc sự đóng góp của Quý thầy cô và các học viên

3 Đối tợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Trang 6

triển của Nhật Bản, cho nên Nhật đã đề ra những chính sách vừa linh hoạt vừaphức tạp, quan hệ đa phơng với nhiều nớc.

Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu một số sự điềuchỉnh cụ thể trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á,chính sách của Nhật Bản tác động đến Việt Nam

đồng thời thực hiện đúng phơng châm “ hợp tác hai bên cùng có lợi”, cảnhgiác với những hoạt động xấu, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Thông qua những nguồn tài liệu thu thập đợc, chúng tôi đã tổng hợp vàmạnh dạn đa ra những phân tích một số điều chỉnh trong chính sách đối ngoạicủa Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh đến năm

2001 Chủ yếu đề cập sự điều chỉnh của Nhật xung quanh lĩnh vực kinh tế,chính trị an ninh và văn hoá chung cho toàn khu vực chứ cha đi sâu vào khíacạnh của từng quốc gia, chỉ phần nào cố gắng nói đến tác động của nhữngchính sách đó đến mối quan hệ hai nớc Việt Nam – Nhật Bản

4 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã tham khảo các Tạp chí Nghiêncứu Nhật Bản, Tạp chí Ngiên cứu Quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạpchí của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Tạp chí Kinh tế thếgiới, Tạp chí của Học viện Quan hệ quốc tế…

Bên cạnh đó, còn sử dụng sách của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,Nhà xuất bản Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Học viện chính trị quốcgia, Nhà xuất bản Thông tấn xã…

5 Phơng pháp nghiên cứu

Đây là một đề tài khoa học chuyên ngành lịch sử, từ đặc điểm riêng của

đề tài là sử dụng phơng pháp nghiên cứu tổng hợp, kết hợp phơng pháp lịch sử

và lô gích để nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đốivới Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh Ngoài ra, còn sử dụng phơng pháp su

Trang 7

tầm chọn lọc, xử lý t liệu, diễn giải, quy nạp, phân tích, tổng hợp so sánh, đốichiếu, với hy vọng làm cho đề tài có tính chất khoa học, chặt chẽ và thuyếtphục Sử dụng phơng pháp thời sự hoá để khai thác từng giai đoạn phát triểncủa lịch sử Trên cơ sở sự kiện, số liệu đã có, chúng tôi sử dụng phơng phápsuy luận lôgic để đa ra những dự báo khoa học trong quan hệ giữa Nhật Bảnvới khu vực Đồng Nam á, giữa Nhật Bản với Việt Nam.

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn phần nào phản ánh đợc sự cần thiết của Nhật Bản cần phải

điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình đối với Đông Nam á sau chiếntranh lạnh đến năm 2001

Nội dung của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của nhật bản bao gồm:kinh tế, an ninh chính trị và văn hoá Đồng thời, thấy đợc thực tế quan hệ ViệtNam – Nhật Bản để rút ra những kinh nghiệm, bài học cho quá trình thúc

đẩy quan hệ tốt đẹp giữa hai nớc

7 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, Luận văngồm 3 chơng:

Chơng 1 Những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách đốingoại của Nhật bản đối với Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh

Chơng 2 Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đốivới Đông Nam á từ 1991- 2001

Chơng 3 Chính sách đối ngoại của Nhật bản tác động đến quan hệ ViệtNam – Nhật bản sau Chiến tranh lạnh

Trang 8

Chơng 1 Những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách

đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á sau chiến

tranh lạnh

1.1 Nhân tố quốc tế

Bớc vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, loài ngời đang chứngkiến những thay đổi lớn lao đang diễn ra trong nền chính trị và kinh tế thếgiới Cái bắt tay lịch sử giữa hai nhà lãnh đạo Xô - Mỹ trên đảo Malta và sựsụp đổ của bức tờng Beclin năm 1989 đã đánh dấu cuộc kết thúc của cuộcchiến tranh lạnh kéo dài suốt gần nửa thế kỷ Nh vậy, sự thay đổi lớn vào cuốithế kỷ XX là sự sụp đổ của trật tự hai cực và sự chấm dứt chiến tranh lạnh,chấm dứt sự đối đầu của hai hệ thống chủ nghĩa t bản - chủ nghĩa xã hội vềquân sự, chính trị, t tởng và ngoại giao Sự sụp đổ nhanh chóng, bất ngờ củaLiên Xô và các nớc Đông âu đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mà cộng đồngquốc tế phải quan tâm Có thể nói, những sai lầm trong xây dựng chủ nghĩa xãhội và bệnh duy ý chí là một trong những nguyên nhân sâu xa và trực tiếp đẩyLiên Xô, các nớc xã hội chủ nghĩa rơi vào một cuộc khủng hoảng toàn diện

mà lối thoát duy nhất là tiến hành phát triển kinh tế thị trờng Song điều đángbuồn là khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, họ đã thiếu đi những điều kiệncần thiết mà ở đó sự nhận thức của giới lãnh đạo đất nớc cha nhận thức kịpthời, ít nhất những điều kiện này gồm tự do hoá sản xuất và lu thông, sự ổn

định chính trị, những điều tiết vĩ mô nền kinh tế và sự trợ giúp quốc tế…Chínhthiếu những điều kiện đó nên cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị đã diễn rasâu nặng kéo dài và mới chấm dứt trong thời gian gần đây

Liên Xô và Đông âu sụp đổ làm cho Mỹ trở thành siêu cờng duy nhất,

điều đó không đồng nghĩa với việc xem trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh làtrật tự một cực bởi lẽ rất đơn giản Mỹ không còn đủ sức mạnh kinh tế và chínhtrị để điều khiển thế giới theo ý muốn của mình Mỹ đã suy yếu tơng đối khibớc ra khỏi Chiến tranh lạnh, biểu hiện sa sút của Mỹ từ những năm 50 khi

Mỹ đứng trớc những vấn đề nan giải: chiến tranh Triều Tiên, Liên Xô phóng

vệ tinh đầu tiên đi đầu thế giới trong chinh phục vũ trụ năm 1957, chiến tranhViệt Nam và hội chứng của nó đối với nớc Mỹ, cuộc khủng hoảng dầu mỏ

Trang 9

năm 1973, Liên Xô vơn lên cân bằng với Mỹ về quân sự đầu thập kỷ 70, NhậtBản vơn lên nửa sau thập kỷ 80, sự suy thoái của kinh tế Mỹ sau Chiến tranhvùng vịnh…Rõ ràng trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ gặp phải nhữngthách thức hữu hình và vô hình Những bế tắc trầm trọng cơ bản mà Mỹ phảicần một thời gian dài để khắc phục gồm ba vấn đề có liên quan chặt chẽ vớinhau: kinh tế, xã hội, tinh thần Các nớc trớc đây phụ thuộc Mỹ muốn khẳng

định sự độc lập trong việc thực hiện chủ quyền của họ Bên cạnh đó, những

n-ớc vốn bị coi là lạc hậu nay đã dành đợc địa vị bình đẳng về chính trị Cácquốc gia mới độc lập từ con số 50 sau Chiến tranh thế giới thứ hai nay đã lênhơn 180 và tiếng nói của họ không thể làm ngơ Ngoài ra, các đối thủ của Mỹtiếp tục mở rộng và củng cố ảnh hởng của mình nh Nhật Bản, Trung Quốc,Tây Âu…Rõ ràng, bức tranh thế giới đang trong thời kỳ chuyển tiếp, trật tựmới vẫn cha hình thành rõ trong khi trật tự hai cực đã tan rã Tuy nhiên, trong

điều kiện này không đơn giản là Mỹ sẽ nắm vai trò lãnh đạo cả thế giới trongtrật tự một cực Hàng loạt trung tâm nh Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Âu có vaitrò ngày càng quan trọng trong trật tự quan hệ quốc tế Nh vậy, quan hệ quốc

tế có những thay đổi to lớn, sự phát triển của xu thế vừa hợp tác vừa đấu tranhcùng tồn tại hoà bình đã thay thế cho thái độ thù địch giữa các nớc thuộc hai

hệ thống chính trị trớc kia Những xung đột nh bất đồng đều đợc giải quyếtbằng những giải pháp chính trị hoà bình Mặt khác, ý thức độc lập tự c ờng vàdân chủ hoá ở các nớc ngày một tăng lên, không chấp nhận các nớc lớn áp đặt

ý chí đối với họ

Song song với những thay đổi lớn trong bức tranh chính trị thế giới là

xu hớng mới xuất hiện trong nền kinh tế thế giới Chiến tranh lạnh kết thúc đãphá vỡ bức tờng ngăn cách chia kinh tế thế giới thành hai nền kinh tế songsong và đối lập nhau Kinh tế thế giới giờ đây đã trở thành một thị trờng thốngnhất cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã giải phóngsức sản xuất của toàn thế giới, thúc đẩy xu hớng liên kết kinh tế, toàn cầu hoá

và khu vực hoá Hợp tác và giao lu kinh tế đợc đẩy mạnh, làm cho sự phụthuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ ngày càng trở nên chặt chẽhơn Vấn đề kinh tế trở thành mối u tiên hàng đầu của mọi quốc gia và là nhân

tố quyết định sự hng vong của mỗi dân tộc

Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, nềnkinh tế thế giới đã trở thành một thị trờng duy nhất ở đó hình thành một nền

Trang 10

kinh tế đa cực với ba trung tâm cạnh tranh là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Đồngthời, trên thế giới cũng đã hình thành các khối kinh tế mang tính chất khu vực,thậm chí tiểu khu vực Điểm nổi bật trong thơng mại quốc tế những năm sauChiến tranh lạnh là sự chuyển dịch của bảo hộ mậu dịch sang tự do hoá thơngmại Tuy nhiên, sự chuyển dịch này là kết quả của sự đấu tranh lâu dài giữacác “ nhà buôn ” quốc gia trên thơng trờng quốc tế thông qua vòng thơng lợngUragoay Sau 7 năm thơng lợng và tranh cãi (1986-1993), cuối cùng 116 nớcthành viên GATT ký thoả ớc tiến tới tự do hoá thơng mại toàn cầu Một điểmnữa trong thơng mại quốc tế là sự cố kết của các khối liên kết theo khu vực.

Đây là một xu thế tất yếu vì các quốc gia muốn khai thác tới mức cao nhấttiềm năng hợp tác của các nớc láng giềng Đáng chú ý là sự xuất hiện củaAPEC - tổ chức hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng Các cuộc gặp thợng

đỉnh thờng niên của APEC phản ánh nhu cầu mở rộng nền thơng mại khu vựcsau chiến tranh lạnh ở một trình độ cao hơn trớc rất nhiều, dờng nh đánh dấumột bớc mới của các nớc trong cộng đồng châu á - Thái Bình Dơng là sẵnsàng chấp nhận những thách thức mới đối với liên minh tiền tệ châu âu Cũngcần nhấn mạnh rằng, sự xuất hiện và phát triển của các khối kinh tế thơng mạimới sau thời kỳ Chiến tranh lạnh kết thúc là một nhu cầu thực tế của các nớcnhằm tìm kiếm và khai thác những cơ hội hợp tác kinh tế mới Nh vậy, ta thấythế giới đang bớc vào một thời kỳ mới với chất xúc tác là cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ sau cuộc công nghệ thông tin, nềnkinh tế thế giới bớc vào thời kỳ hậu công nghiệp phát triển mạnh mẽ, thúc đẩynhanh quá trình quốc tế hoá và t bản, xuất hiện những hình thức chuyên mônhoá cao gắn với những hình thức hợp tác đa dạng vợt qua khuôn khổ một nớcnhất định Vì thế, đòi hỏi phải có sự hợp tác của các quốc gia, do đó xu h ớngtoàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới đòi hỏi phải có sự thống nhất của nềnkinh tế thị trờng thế giới Toàn thế giới trở thành một thị trờng chung gồm cácquốc gia có trình độ phát triển cũng nh chế độ chính trị khác nhau Xu thế khuvực hoá, toàn cầu hoá cũng nh u tiên cho phát triển kinh tế trong chính sáchcủa các nớc ngày đang phát triển rộng khắp Thế giới trở nên phụ thuộc lẫnnhau, mối quan hệ giữa các quốc gia trở nên đa dạng và phức tạp hơn bao giờhết Sức mạnh kinh tế đang trở thành nhân tố nổi trội hơn sức mạnh quân sự vàtrở thành an ninh vững chắc cho mọi quốc gia

Trang 11

Về an ninh chính trị, chúng ta thấy một trật tự thế giới mới đang hìnhthành thay thế trật tự thế giới cũ, sự mất đi của trật tự cũ hai cc Xô - Mỹ, sự

đối đầu Đông - Tây với ý thức là giới tuyến đã dẫn đến một loạt nhng thay đổi

có tính chất xu thế, xu thế hoà hảo, hoà dịu và hợp tác ngày càng chiếm u thếtrong các quan hệ quốc tế Trật tự thế giới cũ mất đi yêu cầu thành lập một trật

tự thế giới mới đang đợc hình thành Bên cạnh Mỹ, còn có tâu Âu, Nhật Bản,Trung Quốc tuy còn kém Mỹ về kinh tế, quân sự nhng cũng có tốc độ pháttriển mạnh mẽ Mặt khác, trong lĩnh vực an ninh, ngời ta cảm thấy tin cậyhơn, yên tâm hơn vì nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân đã bị đẩy lùi, dờng

nh các quốc gia đều hớng tới sự liên kết chặt chẽ hơn trong các diễn đàn anninh Đây là cơ hội cho đối thoại và hợp tác, các nớc lớn nh Trung Quốc, Mỹ,Nhật Bản ngày càng muốn có một vị thế lớn hơn trên diễn đàn quốc tế Bêncạnh đó, những bất ổn trong lĩnh vực an ninh khu vực vẫn còn tồn tại, nhiềulúc vẫn còn nổi cộm trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia Các dân tộclần lợt nâng cao ý thức độc lập tự chủ, đấu tranh chống lại sự áp đặt và canthiệp của nớc ngoài, bảo vệ văn hoá dân tộc Các lực lợng xã hội chủ nghĩacách mạng và tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hoà bình, độc lập dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, các nớc có chế độ chính trị xã hội khác nhauvừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hoà bình

Có thể nói Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo ra một diện mạo mới chocác quan hệ quốc tế, ở đó tồn tại nhiều xu hớng mang tính đa dạng, phụ thuộclẫn nhau, bổ sung cho nhau, thậm chí đối lập nhau Đặc biệt là các xu hớng đóthể hiện rõ trong các quan hệ song phơng và đa phơng, trong các quan hệ kinh

tế, chính trị và an ninh quốc tế Chính sự chuyển dịch của thế giới “ hai cực”

đối lập sang thế giới “ đa cực” mang tính chất cạnh tranh và hợp tác đã tạo nênmột môi trờng quốc tế mới ẩn chứa nhiều cơ hội và không ít những thách thức

Nh vậy, Liên Xô tan rã, Chiến tranh lạnh kết thúc làm thay đổi so sánh lực l ợng trên thế giới, trong thời kỳ hình thành trật trự thế giới mới hậu chiến tranhlạnh, mọi quốc gia đều phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình chophù hợp với điều kiện mới Chính những đặc điểm chung nổi bật của tình hìnhthế giới trên đây, buộc các nớc lớn phải điều chỉnh chiến lợc phát triển vàchiến lợc đối ngoại của mình, đặc biệt sẽ có tác động sâu sắc đến chính sáchngoại giao của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, trong đó có sự điềuchỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á

Trang 12

-1.2 Tình hình khu vc Đông Nam á

Chiến tranh lạnh kết thúc đã thiết lập một trật tự thế giới mới đa cực,trong đó các nớc vừa hợp tác vừa đấu tranh để phát triển Những thay đổitrong khu vực diễn ra nhanh chóng với nhiều triển vọng, song cũng khôngkém phần thách thức với những mâu thuẫn gay gắt mới nảy sinh Thời kỳ mớivới sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ đã góp phần mở ra mộtcục diện mới cho tình hình quốc tế nói chung và khu vực nói riêng Cùng vớinhững diễn biến của tình hình quốc tế thì ở Đông Nam á về kinh tế, chính trị

an ninh cũng có những chuyển mới hết sức tích cực, đa dạng

Bản đồ chiến lợc ở khu vực Đông Nam á có những thay đổi cơ bản đáng

kể từ sau khi trật tự hai cực sụp đổ Trong suốt hai thế kỷ cũng nh trong hơn

40 năm Chiến tranh lạnh diễn ra, các cờng quốc ngoài khu vực đã đóng mộtvai trò chi phối toàn khu vực Đông Nam á Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc,

có thể thấy sự hiện diện của các cờng quốc lớn đã giảm dần đi, đó là việc rútcác căn cứ quân sự ở Philippin tháng 12/1992 của Mỹ, sự giảm sút ảnh hởngcủa Nga, điều này tạo nên “ một khoảng trống quyền lực” và đa đến sự dòmngó, tìm cách lấp khoảng trống quyền lực của các thế lực lớn từ bên ngoài.Hoàn cảnh này đã tạo cho Nhật những cơ hội và thách thức mới, cục diệnchính trị tại Đông Nam á có những chuyển biến rõ nét, trên bán đảo Đông D-

ơng, vấn đề Campuchia đang trong quá trình tháo gỡ thuận lợi Việc Việt Namrút quân khỏi Campuchia và có những đóng góp tích cực trong việc ký kết,thực hiện hiệp định hoà bình tháng 10/1991 đã tạo ra những tiền đề quantrọng cho việc cải thiện quan hệ giữa các nớc Đông Dơng và ASEAN Tháng10/1994 tại Bang Kok, lần đầu tiên trong lịch sử khu vực, Bộ trởng ngoại giao

10 nớc Đông Nam á đã gặp gỡ nhau dới cùng một mái nhà - một sự kiện đợc

đánh giá nh một minh chứng mạnh mẽ cho quá trình hoà nhập hai khối ĐôngDơng và ASEAN, hội nghị mở đờng cho việc hình thành một tổ chức toàn khuvực Tháng 7/1995 Việt Nam gia nhập ASEAN, sau đó là Lào, Myanma,Campuchia Một Đông Nam á đoàn kết hơn, độc lập và tự chủ hơn đang đợchình thành, không còn chia cắt giữa hai khối thù địch ASEAN và Đông Dơng

nh trớc Trên phơng diện an ninh, ASEAN đã xây dựng đợc cho mình nhữngcơ chế đối thoại song phơng cũng nh một diễn đàn an ninh đa phơng với tất cảcác cờng quốc trên thế giới Rõ ràng, vai trò và vị thế quốc tế của các nớc

Đông Nam á đợc nâng cao trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh Hơn ba thập kỷ

Trang 13

vừa qua đã chứng minh ASEAN luôn đạt mức tăng trởng kinh tế thuộc vàoloại cao trên thế giới Giá trị tổng sản phẩm quốc dân cũng nh kim nghạchbuôn bán so với các khu vực khác trên thế giới đang tăng nhanh Tuy nhiên,những thành tích này không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế Chỉ cha đầy nửathập kỷ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và hiệp định Pari về vấn đềCampuchia đợc ký kết, ASEAN đã thành công trong việc nâng cao vị trí và vaitrò của mình ở khu vực, ASEAN cũng đẩy mạnh quan hệ với Nhật thông quacơ chế song phơng và đa phơng Có thể thấy trong quan hệ với các nớc lớn,ASEAN ngày một tự chủ hơn.

Trớc những bài học kinh nghiệm do lịch sử để lại, các nớc ASEANcũng lo ngại trớc bất kỳ sự lớn mạnh nào của Trung Quốc và Nhật Bản Mặtkhác, mối quan hệ giữa các nớc Đông Nam á cũng có ảnh hởng trực tiếp đếntình hình các nớc Đông Nam á Tuy nhiên, thái độ của ASEAN với Nhật Bảncũng có những cải thiện đáng kể, bên cạnh thái độ tôn trọng, các nớc ĐôngNam á cũng hoan nghênh việc Nhật Bản đóng vai trò mở rộng các vấn đềchính trị anh ninh trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, coi Nhật Bản là nhân tốchủ chốt góp phần quan trọng trong thế cân bằng quyền lực ở khu vực

Với tình hình quốc tế và khu vực nh trên, Nhật Bản đã nhanh chóngnhận thấy và có những chính sách phù hợp đúng đắn của mình ở khu vực châu

á - Thái Bình Dơng nói chung và Đông Nam á nói riêng, nhanh chóng lấp

“khoảng trống quyền lực” ở Đông Nam á Vấn đề điều chỉnh chiến lợc trongchính sách Đông Nam á của Nhật ngày càng trở nên cấp thiết, hơn nữa với sựhùng mạnh về kinh tế của Nhật Bản là điều kiện thuận lợi để triển khai chínhsách của mình ở khu vực Đông Nam á

1.3 Nhật Bản sau năm 1991

Có thể nói tình hình kinh tế, chính trị xã hội Nhật Bản cũng là những cơ

sở trọng yếu tạo lập nền tảng cho Nhật Bản điều chỉnh và thực thi chính sách

đối ngoại, bởi sự điều chỉnh trớc hết và căn bản phải phục vụ cho nhu cầu nộitại của Nhật Bản

Về kinh tế, bớc vào thập kỷ 90 cũng là lúc “ nền kinh tế bong bóng” ởNhật Bản sụp đổ, nền kinh tế rơi vào đình trệ kéo dài Từ năm 1991, tốc độtăng trởng kinh tế của Nhật Bản nhiều năm chỉ đạt dới 1% Tốc độ tăng trởngkinh tế thực tế đã giảm 2,9% năm 1991 xuống còn 0,4% năm 1992 và bốnnăm liền từ 1992-1995 mức trung bình chỉ đạt 0,6%, mặc dù đã khôi phục lại

Trang 14

mức trung bình 2,9% năm 1996 song đến năm 1997 âm 0,5% [49;371] Sự sụp

đổ của “ nền kinh tế bong bóng” vào đầu những năm 90 đã đẩy nền kinh tếNhật Bản vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng Nhiều ngành kinh tế bị tác

động nghiêm trọng, nhất là các ngân hàng và các công ty tín dụng Hầu hếtcác tổ chức tín dụng và ngân hàng đều làm ăn kém hiệu quả hoặc thua lỗ, tìnhtrạng cho vay trái mục đích và đối tợng khiến cho nợ khó đòi lên tới hàngtrăm tỷ đôla Ngân hàng Hyogo ở Kôbê với khoản vay không trả đợc lên tới 8

tỷ đô la Hiệp hội tín dụng Nhật Bản (Kizu Credit CoopErative) rơi vào rốiloạn, thậm chí 11 ngân hàng mạnh nhất Nhật Bản và gần nh cả thế giới lần

đầu tiên sau chiến tranh lạnh phải giảm khả năng hoạt động còn 9% năm1994-1995 Riêng ngân hàng Sumitomo lớn nhất thế giới tuyên bố lỗ 3 tỷUSD vào năm 1993 Bên cạnh đó, sự tăng giá đồng Yên là một khó khăn rấtlớn cho nền kinh tế Nhật, bởi nền kinh tế ngoại thơng rất nhạy cảm với mọibiến động trên thị trờng quốc tế, đặc biệt là thị trờng tài chính Trong 3 năm

1993 - 1995 giá đồng yên liên tục tăng, năm 1994: 94,38 yên/USD, năm 1995

đồng yên Nhật Bản đạt mức tăng cha từng thấy 95 yên/ USD [36;96] Do đồngyên tăng giá liên tục làm cho hàng xuất khẩu của Nhật bản tính theo đôla trởnên quá đắt và làm giảm sự cạnh tranh trên thị trờng thế giới, đồng thời gâycản trở cho các ngành công nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản, đồng Yên tănggiá làm tổn hại đến lòng tin của các nhà đầu t vào kinh doanh Tình trạng phásản, đổ vỡ kinh doanh diễn ra nhiều nhất là các công ty vừa và nhỏ, đặc biệt làcác công ty có tỷ lệ xuất khẩu cao Theo báo cáo ngày 14/4/1995 của cơ quan

điều tra ở Nhật Bản về vấn đề tài chính của các doanh nghiệp cho thấy, sự phásản của các doanh nghiệp này với các món nợ của họ đến kỳ phải thanh toán

từ 10 triệu Yên trở lên mà họ không có đủ khả năng thanh toán đã diễn ratrong suốt năm tài chính 1994 Theo báo cáo này tổng số các doanh nghiệp bịphá sản là 14.201vụ, tổng giá trị 6.171,5 tỷ Yên Mặt khác, Nhật Bản là mộttrong những nớc cho vay lớn nhất thế giới, việc đồng Yên tăng giá liên tụclàm cho các khoản nợ phải trả cũng tăng lên tơng ứng Chính những khó khăntrên đã khiến cho Nhật phải thận trọng hơn trong khi giải quyết những quan hệthanh toán với các nớc nợ Nhật Hơn nữa, các công ty nợ Nhật phải nhanhchóng giảm chi phí sản xuất xuống mức thấp nhất hoặc chuyển sản xuất ra n-

ớc ngoài, tăng nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp nớc ngoài, nhất là các sảnphẩm từ các cơ sở chế tạo của Nhật Bản ở nớc ngoài, điều này đòi hỏi Nhật

Trang 15

Bản phải có những điều chỉnh chính sách thơng mại, đầu t quốc tế của mình

để thích ứng với tình hình kinh tế trong nớc

Bên cạnh đó, tỉ lệ thất nghiệp ngày một cao, năm 1995 khoảng 3,1%,tháng 10/1997 lên 3,5%, tháng 3/1998 tỉ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản lên đếnmức kỷ lục 3,9%, so với các quốc gia công nghiệp khác thì đây là một tỉ lệnhỏ song đối với Nhật Bản - một đất nớc tự hào là có chế độ đảm bảo việc làmsuốt đời cho ngời lao động thì đây thực sự là một sự tồi tệ hơn 30 năm qua.Những cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm tại các công sở nhà nớc lẫn khu vực

t nhân cho mọi ngời dân Nhật ở độ tuổi lao động, sinh viên mới và đang chuẩn

bị ra trờng đều trở nên khó khăn Tỉ lệ thất nghiệp cao nh vậy là do sự phá sảncủa nhiều công ty, còn những công ty khác để đối phó với tổn thất về tài chính

do nền “ kinh tế bong bóng” vỡ gây nên và sự đột biến trên thị trờng tiền tệ,các công ty này đã chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tiến hành cắt giảm các chiphí sản xuất trớc hết là chi phí lao động

Đầu t t nhân vào kinh doanh sản xuất trong nớc là một trong những cấuthành quan trọng của nhu cầu trong nớc và thờng có tác dụng thúc đẩy mạnhquá trình phục hồi kinh tế Nhật Bản Năm 1995, nhu cầu đầu t t nhân chỉ tăng1%, lợi nhuận của các công ty giảm mạnh, khả năng sinh lợi của ngành côngnghiệp xuất khẩu đã giảm xuống Tháng 9/1995, lãi suất chiết khấu đã giảmxuống mức thấp cha từng có là 0,5%, các xí nghiệp rất thận trọng không dám

đi vay để đầu t Do đó, nhu cầu trong nớc của Nhật Bản đầu những năm 1990rất yếu, nếu từ năm 1986 - 1990 nhu cầu trong nớc tăng với tốc độ trung bìnhhàng năm 5,4% thì năm 1992 tăng 0,9%, năm 1994 tăng 1,6%, năm 1995 tăng1,5% Đầu năm 1998, nhiều chơng trình kích thích kinh tế trong đó cắt giảmthuế đợc đa ra khoảng 30 tỷ đôla (320 USD/ ngời) với thời hạn hai năm songnhu cầu nội địa tiếp tục giảm Sự giảm sút quá mức của nhu cầu t nhân khiếncho các chơng trình kích thích kinh tế của Nhật Bản đầu những năm 1990 cótác dụng rất hạn chế

Những khó khăn của nền kinh tế Nhật Bản trong năm 1997 trầm trọnghơn, do tác động trực tiếp và gián tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính ĐôngNam á và tiền tệ Theo tính toán của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế(OECP), ảnh hởng của khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam á khiến cho GDP ởchâu á và Mỹ giảm 0,1 - 0,2% trong năm 1997 và của Nhật Bản 0,4% Còn

Trang 16

theo tính toán của viện nghiên cứu Nikko ( Nhật Bản) thì cuộc khủng hoảngnày sẽ làm cho GDP của Nhật Bản giảm 0,7%.

Chính do nhu cầu đầu t và tiêu dùng cá nhân ở Nhật Bản tăng chậmtrong bối cảnh quốc tế đầu thập niên 90, nền kinh tế của các nớc phát triểnbắt đầu phải cơ cấu lại, chuyển từ trạng thái “cứng” sang “ mềm”, thời đại cơkhí sang thời đại tin học viễn thông, nền kinh tế dựa vào trí tuệ con ngời làchính chứ không phải vào thế mạnh tài nguyên và nguồn nhân công rẻ Trongbối cảnh các nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, sự phục hồi của nền kinh tế NhậtBản là điều không thể thiếu đợc trong việc khôi phục nền kinh tế châu á Mặtkhác, sự phục hồi nền kinh tế châu á cũng hết sức quan trọng đối với sự hồisinh kinh tế Nhật Bản Sự khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á còn đẩyNhật Bản đối diện với nhiều vấn đề nan giải nh xuất khẩu suy giảm, tăng nợkhó thu hồi, tỉ giá hối đoái và giá cổ phiếu biến động mạnh khiến Nhật Bảnphải có những biến động linh hoạt trong chính sách đối ngoại của mình bêncạnh những cải cách kinh tế trong nớc

Về chính trị ngoại giao - an ninh quân sự, từ cuối thập niên 80 cùng vớiviệc thay đổi cơ cấu kinh tế, nền chính trị Nhật Bản cũng có những xáo độnglớn, mở đầu bằng việc đảng Dân chủ tự do (LPD) bị trở thành đối lập tronggiai đoạn 1993-1996 Tuy đã quay trở lại thành đảng cầm quyền nhng chắcchắn sức mạnh của đảng Dân chủ tự do không còn đợc nh trớc Thủ tớngHashimoto trong diễn văn nhận chức cũng đã nói rất nhiều đến cải cách hànhchính ở Nhật Bản Điều quan trọng hơn trong thời gian qua, cách suy nghĩ củagiới cử tri Nhật Bản đối với vấn đề chính trị có những thay đổi đáng kể Từcuối thập kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90, tỉ lệ của nhóm cử tri thụ động (bỏ phiếutrắng và dao động) chiếm gần nửa số lợng cử tri của Nhật Bản Trong các năm1988-1989, sự không hài lòng trong dân chúng tăng lên, nguyên nhân là do hệthống thuế mới năm 1988 làm cho các nhà nội trợ bị kích động, nhân dân vànhiều ngời buôn bán nhỏ bị đe doạ không đợc đảm bảo từ phía đảng Dân chủ

tự do Trong tình thế bị khủng hoảng vì các vụ xcăngdan tài chính xảy ra liêntục và có nhiều thay đổi trong cơ cấu đảng phái, các cuộc đấu tranh dànhquyền kiểm soát của các phe phái chủ chốt trong đảng Dân chủ tự do đã gây

ra nhiều cuộc khủng hoảng, làm cho đảng Dân chủ tự do không nắm đợc đa sốphiếu tại các cuộc bầu cử Hơn nữa, trong điều kiện mới nảy sinh do toàn cầuhoá kinh tế, đảng Dân chủ tự do đã tỏ ra yếu kém trong việc đáp ứng yêu cầu

Trang 17

của quần chúng và giảm đi khả năng quản lý, giải quyết các hậu quả của kinh

tế Tình hình trong nớc và quốc tế ngày càng phức tạp, năm 1992 đảng Dânchủ tự do tiếp tục lãnh đạo và liên kết với các đảng trung gian hoặc với đảngXã hội Nhật Bản để nắm đa số trong thợng nghị viện Một mặt, đảng Dân chủ

tự do thực hiện các biện pháp nhằm cải cách chính trị và cải cách hành chính,mặt khác lợi dụng mọi tình huống quốc tế có lợi để thể hiện uy tín đối với thếgiới Thủ tớng Kaifu đã lợi dụng cuộc khủng hoảng vùng vịnh để gửu ra nớcngoài đội quân của lực lợng phòng vệ Nhật Bản dới hình thức quét mìn trênbiển sau vụ xung đột tháng 4/1991 Năm 1992, ôngMiyazawa đã làm cho các

đảng phái trung gian phải chấp nhận đạo luật của lực lợng giữ gìn hoà bình,chính thức xóa bỏ điều cấm kỵ trong hiến pháp thành việc cho phép lính củaquân đội phòng vệ Nhật Bản đợc tham gia vào sứ mệnh của Liên Hợp Quốc.Tuy nhiên, những lục đục trong nội bộ và những tính toán sai lầm làm cho quátrình điều chỉnh những trách nhiệm của Nhật với quốc tế trở nên xấu đi Bốicảnh quốc tế đã có những thay đổi sau chiến tranh lạnh và do sự yếu kém của

đảng Dân chủ tự do trong quá trình ra quyết định, cũng là một yếu tố dẫn đến

sự thất bại của đảng Dân chủ tự do Trong những năm đầu sau chiến tranh,Nhật Bản là một nớc kém quan trọng trên thế giới, phụ thuộc hoàn toàn vào

Mỹ về an ninh quân sự và không tham gia vào công việc quốc tế Các nhàlãnh đạo Nhật lúc đó chỉ tập trung chú ý vào công việc trong nớc, đặc biệt làvào các khu vực bỏ phiếu của cá nhân mình Đây cũng là một trong những lý

do giải thích vì sao đảng Dân chủ tự do đã không dành đợc thành công lớn vềkinh tế và giữ quyền thống trị của mình đợc lâu dài

Qua phân tích trên ta thấy, nền chính trị Nhật Bản nh đang đứng trớc

“ngã ba đờng”, nên đi theo hớng nào để vừa ổn định đựơc tình hình chính trịtrong nớc, vừa phát huy đựơc vai trò quốc tế của mình Về kinh tế, làm sao đểnâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, vừa không làm mất cân bằng cán cânbuôn bán với các nớc đặc biệt là với Mỹ Về xã hội, giải quyết nh thế nào vềvấn đề xã hội, ngời già, thất nghiệp…Hàng loạt câu hỏi đặt ra cho đảng cầmquyền hiện nay để làm sao có sự phù hợp về chính sách đối nội, đối ngoại vàchính sách an ninh Do những điều kiện mới trong nớc và trên thế giới, NhậtBản đang phải tiến hành cải cách hành chính theo hớng dân chủ hoá, quốc tếhoá và hiện đại hóa Ngợc lại, tình hình chính trị trong nớc cũng là một trongnhững yếu tố quan trọng tạo cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách đối ngoại

Trang 18

của Nhật Bản Cần nhấn mạnh rằng, chính những thay đổi của tình hình quốc

tế sau chiến tranh lạnh đã tạo ra cả những cơ hội và thách thức buộc Nhật Bảnphải tính đến trong việc hoạch định chính sách đối ngoại Bên cạnh tình hìnhchính trị, kinh tế trong nớc cũng đặt ra nhiều vấn đề mà muốn giải quyết cóhiệu quả những vấn đề này không có cách nào khác hơn là Nhật Bản phải đặtchúng trong mối quan hệ với các vấn đề quốc tế có liên quan

Trang 19

Ch ơng 2

Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật bản đối với đông nam á từ 1991 - 2001

2.1 Tổng quan về chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh

Với sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào

đầu những năm 1990, ngời ta coi cuộc Chiến tranh lạnh mà thực sự là sự đối

đầu về t tởng, chính trị và quân sự giữa Liên Xô và Hoa Kỳ đã chấm dứt Thếgiới bớc sang một kỷ nguyên mới, ở đó hợp tác và cạnh tranh trở thành mốiquan tâm lớn nhất của tất cả các quốc gia Thế giới đang chứng kiến sự đổithay và chuyển dịch từ đối đầu của “ hai cực” sang hợp tác và cạnh tranh củamột thế giới “đa cực” Để thích nghi với những biến đổi của tình hình quốc tế,nhiều quốc gia đặc biệt là những nớc lớn đã buộc phải điều chỉnh chính sách

đối ngoại và an ninh của mình

Trớc hết, Nhật Bản chủ trơng đa phơng hoá chính sách đối ngoại vàgiảm sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ Ngay từ đầu những năm 90, Nhật Bản đã từ

bỏ chính sách đối ngoại “phiến diện” để chuyển sang một chính sách đốingoại đa phơng, nắm giữ một vai trò quan trọng hơn trên thế giới phù hợp vớithực tế kinh tế của họ Thông qua đó sẽ vơn lên trở thành một cờng quốc chínhtrị Từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt cho đến nay, nhiều chính quyền kế tiếpcủa Nhật Bản đã đề cao chính sách đối ngoại đổi mới dựa trên nền tảng đốithoại và hợp tác Nếu nh trớc kia, chính sách đối ngoại dựa trên sức mạnh tênlửa và vũ khí chiến lợc, thì ngày nay đợc thay thế bằng mở rộng đối thoại vàtăng cờng hợp tác Suốt mấy thập niên qua, Nhật Bản đều coi mối quan hệcủa họ với Hoa Kỳ là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại Tuy nhiên, càngngày Nhật Bản càng tỏ ra độc lập hơn và chủ động hơn trong các quan hệquốc tế Đây là một biểu hiện mới trong chính sách đối ngoại của Nhật sauChiến tranh lạnh của Nhật và là một dấu hiệu cho thấy sự lệ thuộc vào Mỹ đãgiảm xuống Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản chỉ tập trung xây dựngcác mối quan hệ với phơng Tây, thì sau Chiến tranh lạnh ngời ta thấy ở NhậtBản xuất hiện xu hớng tìm cách mở rộng quan hệ quốc tế của họ ra toàn thếgiới, khai thông quan hệ với nhiều nớc thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trớc

đây Đặc trng của quan hệ song phơng giữa Nhật Bản với các đối tác mới này

là hợp tác trên cơ sở tin cậy lẫn nhau hai bên cùng có lợi, Nhật Bản và đối tácsẵn sàng chấp nhận những khác biệt về chính trị, vuợt lên tất cả những khác

Trang 20

biệt để mở rộng quan hệ song phơng, đặc biệt là quan hệ kinh tế và hợp tácvăn hoá, khoa học kỹ thuật Đây là một biểu hiện rất mới của chính sách đốingoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh Có thể nói, tiếp tục duy trì mối quan

hệ với phơng Tây, coi quan hệ Nhật Bản - Hoa Kỳ là hòn đá tảng trong chínhsách đối ngoại, trên cơ sở đó thúc đẩy và mở rộng quan hệ với các nớc Đông

Âu, các nớc Đông Dơng, các quốc gia ở châu Phi là một điểm nổi bật trongquá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh

Đồng thời, chính sách đối ngoại của Nhật Bản cũng đợc điều chỉnh theo hớngtích cực tăng cờng tham gia hoạt động trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, thểhiện thông qua hoạt động giữ gìn hòa bình dới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốctại Campuchia, Môdămbich, Zaia, Bosnia…Tháng 6/1992, quốc hội Nhật Bản

đã thông qua một đạo luật cho phép lợng phòng vệ Nhật Bản tham gia vào cachoạt động của lực lợng giữ gìn hoà bình Điều này tạo cơ sở pháp lý và chínhtrị trong nớc cũng nh nớc ngoài để binh lính Nhật có thể phục vụ ở nớc ngoàidới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc Nhật Bản còn tham gia giải quyết các vấn

đề tranh chấp khu vực, cắt giảm vũ khí chiến lợc và chống khủng bố, phối hợpquốc tế nhằm giúp các quốc gia đang phát triển giải quyết vấn đề lơng thực,năng lợng, môi trờng, giảm nghèo khổ và đào tạo nguồn nhân lực Mặt khác,

do hạn chế của hiến pháp Nhật, việc sử dụng khuôn khổ Liên Hợp Quốc chocác hoạt động trên là điều đợc Nhật khai thác tối đa Bản thân Nhật cũng chorằng, vai trò của Liên Hợp Quốc sau Chiến tranh lạnh đợc mở rộng ra nhiềunên tất yếu vũ đài hoạt động của Nhật cũng cần đợc triển khai mở rộng hơn,một nớc Nhật co mình lại trớc đây đã thay đổi thành một nớc Nhật tự tin,mạnh dạn trên vũ đài quốc tế

Nhật Bản còn tăng cờng hợp tác an ninh với Hoa Kỳ trong bối cảnhmới, cho rằng sự gia tăng quan hệ an ninh với Hoa Kỳ là điều rất quan trọng

đối với tình hình an ninh của Nhật Bản và đối với hoà bình an ninh trong khuvực Nh chúng ta đã biết, hợp tác an ninh Nhật Bản - Hoa Kỳ là một bộ phậntrọng yếu trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản Mối quan hệ trong lĩnhvực này đã tạo ra chiếc ô đảm bảo an ninh cho Nhật trong suốt hơn 50 nămqua và Nhật đã rảnh tay tập trung vào phát triển kinh tế Trên thực tế, những

điều chỉnh chiến lợc hợp tác an ninh đợc các giới lãnh đạo cấp cao Nhật Bản Hoa Kỳ trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh vẫn thiên về học thuyết lấy phòng

-vệ làm “ phơng châm chỉ đạo”, sẵn sàng đáp ứng lại đối phơng nếu Nhật Bản

Trang 21

bị tấn công Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, những điều chỉnhtrong chiến lợc hợp tác an ninh đợc giới lãnh đạo cao cấp Nhật Bản - Hoa Kỳ

đề cập trong các cuộc thăm viếng lẫn nhau, đặc biệt trong cuộc viếng thămNhật Bản của tổng thống Mỹ G.Bush (năm 1991) và của tổng thống MỹB.Clitơn (tháng 4/ 1996) tại Tokyo Tuyên bố chung về an ninh Nhật Bản -Hoa Kỳ hớng tới thế kỷ XXI đợc thủ tớng Nhật Bản và tổng thống Mỹ ký tạiTokyo tháng 4/1996, hai quốc gia coi việc tăng cờng hợp tác an ninh của họtrong thế kỷ XXI có tầm quan trọng đối với khu vực châu á - Thái Bình D-

ơng, có tác động tới sự phát triển kinh tế ở khu vực này chứ không bó hẹptrong khuôn khổ lợi ích của hai quốc gia Nhật Bản và Hoa Kỳ cam kết thamgia giải quyết những tình huống có thể xảy ra xung quanh Nhật Bản Đây là

điểm mới mà cha bao giờ ngời ta đề cập trong hợp tác an ninh song phơngtrong thời kỳ chiến tranh lạnh Trong phơng hớng hợp tác phòng vệ Nhật Bản -Hoa Kỳ đợc hai nớc ký kết ngày 23/9/1997 xác định khu vực phòng vệ chung

là khu vực xung quanh Nhật Bản, bao gồm châu á - Thái Bình Dơng, thậmchí còn cả ấn độ Dơng và vịnh Ba T Mặt khác, cho phép quân đội Nhật Bảnchuyển từ hoạt động chuyên về phòng vệ sang hớng có thể tấn công đối ph-

ơng Sự điều chỉnh này theo nhận xét của một số chuyên gia quân sự quốc tếthì đó là sự từ bỏ những nguyên tắc không sử dụng vũ lực đe doạ, hoặc sửdụng vũ lực để giải quyết tranh chấp quốc tế mà Nhật Bản tuyên bố trớc đó

Sự điều chỉnh này trong phơng hớng phòng vệ song phơng còn nhằm mục tiêugia tăng ảnh hởng và đề cao vị thế quốc tế của nớc này Thực tế sự điều chỉnhnày nhằm từng bớc nâng cao thế chủ động của lợng phòng vệ nớc này trongsuốt nhiều thập kỷ qua họ luôn ở vào thế bị động so với quân Mỹ Nh vậy, sauChiến tranh lạnh Nhật Bản đã gia tăng các quan hệ an ninh với Hoa Kỳ theo h-ớng mở rộng ảnh hởng nhiều mặt của Nhật Bản, tạo cho nớc này có vị thế lớnhơn trên thế giới về chính trị và quân sự Đây là sự điều chỉnh lớn nhất trongchính sách đối ngoại của Nhật đối với các nớc lớn

Nhật Bản còn thực hiện sự điều chỉnh chính sách an ninh ở khu vực

Đông Nam á, từ đầu những năm 1990 tình hình thế giới thay đổi, sự sụp đổcủa Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã đặt dấu chấm hết chocuộc Chiến tranh lạnh, những thay đổi trong kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnhkhiến ngời ta nhận thức rõ hơn về môi trờng chiến lợc ở khu vực Thái Bình D-

ơng Nhật Bản đã xem xét lại chính sách an ninh ở khu vực này ngay khi

Trang 22

Chiến tranh lạnh kết thúc Một điểm mới về an ninh hiện nay đang đợc đề cập

là sự tự do cha từng có trong việc thảo luận về tình trạng an ninh mà Nhật

đang phải đối mặt, không còn sự đe doạ từ Liên Xô, sự hoài nghi về cam kếtcủa Mỹ ở châu á và các mối đe doạ tiềm ẩn trong môi trờng khu vực TrungQuốc cũng đợc coi là một thách thức lớn đối với chính sách an ninh và đốingoại mà Nhật Bản thực hiện ở châu á Trọng tâm của Nhật là phải quyết

định nên nhân nhợng hay đơng đầu với Trung Quốc thì tốt hơn để bảo vệ lợiích của dân tộc mình Xu hớng tự nhiên và lâu dài của Nhật là nhân nhợng, dobản sắc văn hoá Nhật Bản là luôn tránh sự đối đầu trực tiếp Chính sách củaNhật hiện nay là chia đều cho hai phơng diện, một mặt khuyến khích hỗ trợTrung Quốc qua các mối liên hệ quân sự, chính trị và thơng mại, mặt khác đòihỏi phải có sự rõ ràng, hạn chế trong lĩnh vực quân sự Đối mặt với tiềm lựcquân sự ngày càng tăng của Trung Quốc, Nhật Bản phải thảo luận về vấn đề

an ninh một cách cởi mở hơn Có thể nói, đây cũng là nét nổi bật trong chínhsách an ninh của Nhật Bản với Trung Quốc thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Mộthớng điều chỉnh khác là lôi kéo Trung Quốc vào các cuộc đàm phán, toạ đàmsong phơng cũng nh đối thoại đa phơng để tăng mức độ hiểu biết quân sự.Tháng 5/1993 hai bên đồng ý nối lại đối thoại an ninh song phơng vốn bị trìhoãn sau vụ thảm sát Thiên An Môn tháng 6/1989 Hai nớc đồng ý tổ chứcnhiều cuộc toạ đàm giữa các quan chức ngoại giao và quốc phòng Tháng12/1993, cuộc hội thảo Trung - Nhật đầu tiên về lĩnh vực an ninh đợc tiếnhành, tháng 2/1995 đô đốc Mishi - quan chức quân đội cao cấp đầu tiên củaNhật tới thăm Trung Quốc, yêu cầu cần phải có sự rõ ràng trong ngân sáchquốc phòng và các chơng trình sản xuất vũ khí của Trung Quốc Cần khẳng

định rằng, những lợi ích mang tính chiến lợc đã buộc chính phủ Nhật Bảnnhận thức lại và đối xử với Trung Quốc một cách linh hoạt hơn Dờng nhchính phủ Nhật cũng có xu hớng dung hoà hơn với Bắc Kinh để bảo vệ nhữnglợi ích mang tính chiến lợc và tiếp tục gây sức ép để kiềm chế khả năng quân

sự của Trung Quốc Các công cụ gây áp lực chính ở đây là đa chính sách quốcphòng của Trung Quốc vào chơng trình nghị sự song phơng, tham gia vàocuộc tranh luận công khai về Trung Quốc với t cách là một vấn đề an ninhquan trọng và cuối cùng sử dụng viện trợ nh một công cụ có sức mạnh

Nh chúng ta đã biết, trớc đây mối quan hệ Nhật với Liên Xô luôn đứnghàng thứ hai sau mối quan hệ toàn diện Nhật với Hoa Kỳ Thái độ cứng rắn

Trang 23

của Nhật với Liên Xô trớc đây và Nga hiện nay đợc coi là biểu hiện của sự tứcgiận trớc thái độ phớt lờ và không tôn trọng Nhật của Liên Xô Lòng tự ái dântộc bị tổn thơng trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, nên Nhật đã có thái độgiận giữ mạnh mẽ khá lâu với những gì họ coi là sự xem thờng một cách cố ý

đất nớc họ dù tầm quan trọng của Nhật đang lớn mạnh Một số ngời nhận xétrằng, cho đến đầu thập niên 80, Liên Xô không chú ý nhiều lắm tới Nhật vì họcoi Nhật là một bộ phận của Mỹ nên chẳng có một chính sách riêng nào Cácnhà quan sát ngời Nhật có cảm giác là Liên Xô sẽ thực sự chú trọng nớc nào

có một thế lực quân sự đáng kể Thái độ này của Liên Xô chỉ thay đổi khi sứcmạnh kinh tế của Nhật ngày một tăng và sự xung đột giữa Mỹ với Nhật nảysinh làm cho các nhà quan sát Liên Xô nhận thấy Nhật đang có những hoạt

động riêng về lợi ích dân tộc mình Việc tăng cờng quân sự của Nhật cũng

đóng một vai trò nào đó trong việc xem xét lại thái độ của Liên Xô Một điểmnổi bật trong sự điều chỉnh đối với Nga là việc Nhật Bản thực thi đối thoại về

an ninh và thiết lập lòng tin với Nga đều lấy vấn đề lãnh thổ làm vật thế chấp.Ngay từ năm 1980, Bộ ngoại giao lần đầu tiên thảo luận về một biên bản hiệp

định mới Nhật - Nga “ ngăn ngừa tranh chấp về biển” vốn đợc Nga ký kết vớinhiều nớc khác ( Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada) trớc đây Chính phủ Nhật cuốicùng cũng đồng ý tham gia vào một số hiệp định để thiết lập lòng tin Tháng6/1992, hai bên cùng thực hiện kế hoạch hoá các cuộc gặp gỡ tại Bộ ngoạigiao với sự tham gia của các nhân viên quân sự Tháng 12/1993, lần đầu tiêncác quan chức ngời Nga đợc mời tham dự hội thảo tại viện nghiên cứu quốcphòng quốc gia của Nhật Liên tục trong các năm 1997, 1998, 1999 Nhật Bản

đã chủ động xúc tiến các cuộc gặp cấp cao với Nga nhằm thảo luận các vấn đề

an ninh, hợp tác song phơng để xây dựng lòng tin, làm dịu những mối căngthẳng tiềm tàng với nớc Nga

Mặt khác, Chiến tranh lạnh kết thúc, việc Hàn Quốc nối lại quan hệ hữunghị với Nga và các nớc Đông Âu khác đã đa tới chuyến viếng thăm của mộtquan chức cấp cao của Đảng dân chủ tự do Nhật Bản ông Kanamarushin tớiBắc Triều Tiên năm 1990 Kết quả của chuyến viếng thăm này là lời tuyên bốchung mở đờng cho việc bắt đầu các cuộc đàm phán chính thức để bình thờnghoá quan hệ ngoại giao Bắc Triều Tiên đòi bồi thờng không chỉ đối với thuộc

địa mà còn đối với cả 45 năm mất mát mà họ phải gánh chịu trong thời hậuchiến, vì theo họ, đảng Dân chủ tự do của Nhật đã ngăn cản việc bình thờng

Trang 24

hoá quan hệ ngoại giao và kinh tế với Bình Nhỡng Tuy nhiên Nhật Bản khôngchấp nhận, các cuộc đàm phán tiếp theo đã đổ vỡ tháng 11/1992 sau tám vòng

đàm phán Kết quả của hiệp định khung về vấn đề hạt nhân tháng 10/1994giữa Bắc Triều Tiên và Mỹ, Nhật và Bắc Triều Tiên đã giúp nối lại các cuộc

đối thoại Bắc Triều Tiên đặc biệt quan tâm tới vấn đề bồi thờng của Nhật và

sự nối lại hoàn toàn các hiệp định thơng mại vì sự sống còn của đất nớc họ.Nhật muốn giảm nhẹ hơn nữa sự căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên thôngqua việc bình thờng hoá quan hệ ngoại giao với Bắc Triều Tiên Sau này Nhật

và Hàn Quốc đã có nhiều quan hệ hơn trong lĩnh vực an ninh do đó các quan

hệ đầu t và thơng mại cũng cân bằng hơn Từ năm 1964 - 1994 hai nớc đã tổchức 150 cuộc gặp gỡ trao đổi các thông tin quân sự và các nhà lãnh đạo quân

sự từ cấp t lệnh trở lên Tháng 4/1994, hai bên ký hiệp định ngăn ngừa cácmáy bay của lợng không quân của hai nớc không vi phạm lẫn nhau Tháng5/1994, lực lợng hải quân hai bên lần đầu tiên diễn tập với nhau với t cách làmột phần của cuộc thao diễn Rimpac ttổ chức hai năm một lần do Mỹ đứng

đầu Tháng 11/1994 - 5/1995, các cuộc họp cộng tác giữa các quan chức quân

sự quan trọng của Hàn Quốc và Nhật Bản đã đợc tổ chức ở Seoul và Tokyo.Tháng 12/1994 ba tàu chiến của Triều Tiên lần đầu tiên đợc xuất xởng theoyêu cầu của Nhật

Cần nhấn mạnh rằng, để có thể mở rộng ảnh hởng nh một siêu cờng kinh

tế, chính trị, Nhật Bản đã chủ trơng điều chỉnh chính sách ODA theo hớng mởrộng ra phạm vi toàn cầu song vẫn dành sự u tiên cho các quốc gia đang pháttriển ở châu á Đây là một điểm rất mới trong chính sách ODA của Nhật Bảnsau Chiến tranh lạnh Từ nhiều thập kỷ nay, nhiều nớc trong khu vực này có quan

hệ chặt chẽ với Nhật và sự tác động tơng hỗ về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế giữaNhật Bản với các quốc gia châu á đã tạo ra sự thịnh vợng cho khu vực và choNhật Bản Theo thống kê chính thức của chính phủ Nhật Bản thì châu á là khuvực nhận ODA của Nhật Bản nhiều nhất, chiếm khoảng 60% tổng tài trợ ODAcủa nớc này trong những năm đầu thập kỷ 90 Đây là chỉ số rất có ý nghĩa bởitrong số 155 quốc gia nhận tài trợ ODA của Nhật thì có 27 nớc là thuộc về châu

á ở châu á thì Trung Quốc là một quốc gia nhận đợc u tiên hơn cả, chỉ trongnăm 1996 - 1998 Nhật đã cho Trung Quốc vay một khoản tín dụng u đãi là 5,8 tỷ

đôla, đầu t trực tiếp của Nhật Bản vào nớc này tăng từ 2 tỷ đôla năm 1992, lên3,5 tỷ đôla năm 1994 Nhiều quốc gia ở châu Phi và châu Mỹ La tinh cũng nhận

Trang 25

đợc các khoản tài trợ của Nhật Bản Tháng 10/1993 chính phủ Nhật Bản lần đầutiên đã đăng cai tổ chức hội nghị quốc tế về phát triển châu Phi, tháng 3/1998nhiều vị nguyên thủ ở châu Phi đã tới Tokyo để tham dự hội nghị về phát triểnchâu Phi thờng niên Việc tổ chức hội nghị này là sự gia tăng tài trợ các khoảncho châu Phi, chứng tỏ rằng Nhật Bản đang hớng mạnh vào một khu vực có tiềmnăng to lớn đã bị lãng quên trớc đó Một điểm mới của hoạt động tài trợ ODAcủa Nhật Bản tại châu Phi và Mỹ La tinh so với trớc Chiến tranh lạnh, đó là sựliên doanh và kết hợp cùng tài trợ giữa Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ cho nhiều loại dự

án ở nhiều nớc khác nhau Chẳng hạn, trong những năm gần đây, các tổ chức phichính phủ của Anh đã thực hiện nhiều dự án ở châu Phi với hơn tổng tài trợ từnguồn ODA của Nhật Bản (khoảng 500 triệu bảng anh)

Nh chúng ta đã biết, trong thời gian Chiến tranh lạnh chính sách củaNhật đối với các nớc ASEAN tập trung chủ yếu vào kinh tế Nhật Bản nhậnthức rằng tình hình ở khu vực Đông nam á sau Chiến tranh lạnh tiến triểntheo chiều hớng tích cực, ở đó ngời ta tìm kiếm sự hợp tác chặt chẽ giữa cácquốc nhằm tận dụng những lợi thế so sánh để tiếp tục duy trì sự phát triển, đaphơng và sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, an ninh ngày một tăng bất chấp sựkhác biệt về chế độ chính trị Đây là một nét mới về chất trong quan hệ quốc

tế và khu vực những năm đầu thậo kỷ 90, chính bối cảnh này đã tạo tiền đềcho Nhật Bản thực thi chính sách mở rộng hợp tác kinh tế, chính trị, văn hoá

và an ninh với các quốc gia ASEAN Trong cuộc thăm của thủ tớngHashimoto tới các nớc ASEAN ngày 14/1/1997, ông đã nhấn mạnh quá trìnhhợp tác giữa Nhật với ASEAN, hai phía cần nỗ lực hơn nữa trong hợp tác vănhoá, xử lý các vấn đề môi trờng và đối thoại về an ninh Từ khi ASEANchuyển thành ASEAN 10 thì sự đa dạng và chênh lệch trong trình độ pháttriển đã trở thành một thuộc tính Vì vậy, Nhật Bản thực thi các chính sáchkhác nhau đối với từng quốc gia Những nớc có trình độ phát triển cao nhSingapore, Malaixia không nhận đợc sự u tiên nh các nớc có trình độ thấp nhLào, Việt Nam… Chính sách kinh tế của Nhật Bản đối với ASEAN vẫn hớng

u tiên vào khai thác thị trờng lao động rẻ có tay nghề cao, khai thác thị trờngnguyên liệu và nông sản hàng hoá đã chế biến tại các nớc ASEAN Sự khaithác lẫn nhau trong các quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản - ASEAN thúc đẩykinh tế của các nớc thành viên ASEAN chuyển dịch theo hớng công nghiệphoá và hiện đại hoá, đảm bảo an ninh và ổn định chính trị trong khối ASEAN,

Trang 26

vừa là yêu cầu nội tại của khu vực này, vừa là u tiên trong chính sách ASEANcủa Nhật Bản Hỗ trợ các nớc ASEAN giữ gìn giá trị văn hoá truyền thốngthông qua các chơng trình tài trợ văn hoá là một hớng u tiên trong chính sáchcủa Nhật Bản đối với các nớc này trong những năm gần đây Đồng thời, các

dự án tài trợ để mở rộng ảnh hởng văn hoá Nhật Bản ở ASEAN cũng đơc giatăng cải thiện môi trờng sống và đào tạo nguồn nhân lực cũng là một hớng utiên trong chính sách của Nhật đối với ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh

Điều này không chỉ giúp ASEAN nâng cao đời sống tinh thần, mà còn tạo ramột môi trờng thuận lợi cho hợp tác đa phơng cho Nhật Bản Có thể nói, điềuchỉnh trong chính sách của Nhật với ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnhtheo hớng hợp tác toàn diện với các nớc này đã, đang và sẽ tạo ra những điềukiện thuận lợi cho ASEAN thực thi chiến lợc phát triển bền vững, hội nhập cóhiệu quả với khu vực và thế giới

2.2 Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á từ 1991 - 2001

Trong số các nớc lớn, chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam ásau Chiến tranh lạnh đợc điều chỉnh rất lớn và rõ nét Một trong những hớng

điều chỉnh của Nhật đối với Đông Nam á là tăng cờng và nâng cao vai tròtrên lĩnh vực an ninh, chính trị cho tơng xứng với tiềm lực kinh tế của mình.Khi không còn bị uy hiếp bởi “ mối đe doạ Xô Viết ” và nguy cơ chiến tranhhuỷ diệt, Nhật Bản đã tìm kiếm cho mình cơ chế tác động thích hợp đến đờisống chính trị Đông Nam á Trên cơ sở đó, Nhật Bản có thể chuyển “ sứcmạnh khổng lồ về kinh tế” thành “ sức mạnh chính trị và ngoại giao” Đồngthời, cải thiện lại tình trạng lệ thuộc nặng vào Mỹ trên lĩnh vực an ninh nhtrong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh trớc đây Giờ đây với tiềm lực kinh tế củamình, Nhật Bản muốn đơng đầu với những trách nhiệm quốc tế tơng đồng với

địa vị kinh tế của họ Vì thế, vai trò mới đợc Nhật Bản phát huy mạnh mẽchâu á Thái Bình Dơng nói chung và Đông Nam á nói riêng

2.2.1 Điều chỉnh chính sách an ninh chính trị

Chính sách đối ngoại của một quốc gia là nhằm phục vụ lợi ích quốcgia trong một giai đoạn nhất định Tất cả những thay đổi của tình hình quốc

tế, khu vực và nội bộ Nhật Bản đầu thập kỷ 90 một mặt đòi hỏi nớc này phải

có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại, mặt khác đặt Nhật Bản vàomột vị trí thuận lợi để thực hiện những điều chỉnh đó Chính sách tách các vấn

Trang 27

đề chính trị ra khỏi vấn đề kinh tế, hay đặt vấn đề kinh tế lên chính trị màNhật Bản theo đuổi trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh đã trở nên lỗi thờitrong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh này Vì vậy trong thời kỳ mới, với thamvọng tìm kiếm một vai trò lớn hơn trong nền chính trị quốc tế, việc đẩy mạnhquan hệ với các nớc Đông Nam á cũng góp phần nâng cao vị trí của Nhật trêntrờng quốc tế và trong quan hệ với các cờng quốc khác là Mỹ, Trung Quốc,Nga và EU Mặt khác, để có đợc vai trò chủ đạo trong khu vực châu á - TháiBình Dơng hay chiếc ghế thờng trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc,một trong ba trụ cột của chính sách đối ngoại mà Nhật Bản đề ra là Nhật rấtcần sự ủng hộ của các nớc Đông Nam á Có thể thấy, nếu Nhật Bản muốn tựkhẳng định mình là một cờng quốc có vai trò chính trị xứng đáng thì ĐôngNam á chứ không phải khu vực nào khác sẽ là điểm xuất phát của chính sách

đối ngoại mà Nhật đề ra Vì thế, sự ổn định về chính trị cũng nh sự thiết lập

đựơc mối quan hệ thân thiết với các nớc trong khu vực sẽ rất có ý nghĩa vớiNhật Thực tế còn cho thấy, nếu thiếu một sự ổn định và hoà bình trong khuvực sẽ dẫn đến sự đổ vỡ, hỗn loạn ở đây thì những toan tính chiến lợc củaNhật Bản tạo ra không thực hiện đợc Kinh nghiệm quá khứ cũng là một bàihọc đối với Nhật Bản khi Nhật không thể phát triển học thuyết Fukuda mộtcách có hiệu quả khi vấn đề Campuchia bùng nổ Do đó, những đóng góp củaNhật vào việc duy trì an ninh và ổn định ở khu vực sẽ là những đảm bảo cholợi ích chính trị của Nhật ở khu vực Đông Nam á Hơn thế, khu vực ĐôngNam á cũng có lợi ích an ninh rất lớn mà Nhật cần bảo vệ Ngoài ra, khu vựcnày cũng án ngữ tuyến giao thông hàng hải huyết mạch của Nhật đi ra thếgiới Theo tính toán của giới nghiên cứu Nhật Bản, hiện nay 94% dầu lửa nhậpkhẩu của Nhật Bản đợc vận chuyển qua khu vực Đông Nam á, khoảng 10%dầu thô và 80% khí đốt nhiên liệu dùng vào sản xuất điện của Nhật đ ợc nhậpkhẩu từ Đông Nam á Năm 1995, kim ngạch buôn bán của Nhật vớiSingapore, Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Philippin đã lên 77 tỷ USD, tổng đầu

t Nhật Bản vào 5 nớc này đạt 33 tỷ USD, ASEAN chiếm 16% kim ngạch buônbán quốc tế của Nhật Bản [13;37] Lợi ích an ninh của Nhật ở khu vực lại càng

đợc coi trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay vấn đề an ninh ngày càng gắnchặt với vấn đề vẫn kinh tế Mặc dù hoà bình và ổn định vẫn là xu thế chungcủa khu vực, nhng vẫn còn tiềm tàng những điểm nóng lúc nào cũng có nguy cơbùng nổ Đặc biệt, khi trật tự chính trị trong khu vực vẫn cha đợc định hình sau

Trang 28

sự sa sút dần của Nga và Mỹ khỏi châu á, cùng với hàng loạt những nhân tốmới nổi lên nh Trung Quốc có tác động không nhỏ tới hoà bình, ổn định vàphát triển của Đông Nam á Với vấn đề an ninh, Nhật Bản tập trung và pháttriển mọi chính sách biển đông cũng nh qua các eo biển để đảm sự an toàn của

đờng vận tải biển Tuy nhiên, về quân sự Nhật Bản vẫn cha đủ mạnh nên khôngthể tự mình giải quyết các vấn đề an ninh đờng vận tải biển nếu không có sựhợp tác của các nớc ASEAN Xuất phát từ những điểm trên từ sau chiến tranhlạnh, hầu nh các nội các của Nhật Bản đều tích cực điều chính chính sách đốivới Đông Nam á

Sau Chiến tranh lạnh, cốt lõi của chính sách ngoại giao của Nhật Bản làtiếp tục duy trì hiệp ớc an ninh Nhật - Mỹ, duy trì lợng phòng vệ Nhật Bản,duy trì ổn định chính trị và bảo vệ hoà bình ở khu vực châu á - Thái Bình D-

ơng Tuy nhiên, xuất phát từ việc thay đổi những nhu cầu trong nớc và bốicảnh quốc tế sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản đã có những tiến triển, từng b ớc

điều chỉnh lại chính sách đó cho phù hợp theo hớng nỗ lực thực thi một chínhsách an ninh tự chủ về chính trị đối nội và chính trị đối ngoại Khi có điềukiện, thời cơ Nhật Bản đều cố gắng phát huy tiềm lực kinh tế, kỹ thuật, quân

sự đã có để sẵn sàng tham gia vào các hoạt động bảo vệ an ninh chính trị, hoàbình của thế giới mà trớc hết là trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng Do

đó, cùng với việc thực hiện kinh tế, Nhật Bản tích cực tăng cờng ảnh hởngnhằm tìm kiếm cho mình một vị trí chính trị Đông Nam á với vị trí chiến lợcquan trọng đang chiếm một vai trò chủ chốt trong việc điều chỉnh chiến lợcchâu á - Thái Bình Dơng của Nhật Bản Vì thế, trong hoạt động ngoại giaocủa Nhật Bản mang màu sắc chính trị ngày càng đậm nét

Sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản đã đi những bớc lớn về chính trị, quân

sự và ngoại giao ở khu vực Đông Nam á Thứ nhất, Nhật Bản đã tích cựctham gia giải quyết vấn đề Campuchia, nhằm nâng cao tiếng nói của mình trênthế giới nói chung, châu á và Đông Nam á nói riêng Thứ hai, sự kiện nổi bậtnhững năm 90 là chuyến viếng thăm các nớc Đông Nam á của hai vị thủ tớngMiyazawa và Hashimoto đã vạch ra chính sách của Nhật đối với Đông Nam

á Để đảm bảo đợc sự hiện diện của Nhật ở khu vực này và nâng cao địa vịcủa mình ở Đông Nam á cũng nh trên thế giới, Nhật Bản đã tham gia vào việcgiải quyết các vấn đề an ninh, xung đột khu vực, trong đó nổi bật là vấn đềCampuchia Với sự giúp đỡ của ASEAN, năm 90 Nhật Bản đã đứng ra đăng

Trang 29

cai hội nghị của các phái chính trị Campuchia, nhằm thúc đẩy tiến trình hoàbình ở nớc này bằng sự đóng góp tài chính đáng kể Nhật Bản trở thành mộttrong những nớc bảo vệ chính cho tiến trình hoà bình ở Campuchia Nhật Bảncũng đợc giữ chức Chủ tịch UNTAC theo hiệp định hoà bình về Campuchia(1991) Sau thi Nhật Bản chính thức thông qua luật về các hoạt động giữ gìnhoà bình, lần đầu tiên kể tiên kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính phủNhật Bản đã gửi 700 quân của lực lợng gữ gìn hoà bình của Liên Hợp Quốctại Campuchia Hành động này thể hiện một thay đổi có tính lịch sử trongchính sách an ninh đối ngoại của Nhật Bản, bởi các nhân viên quân sự củaNhật đã tham gia vào việc giữ gìn hoà bình ở châu á Do đó, có thể nói đây làmột bớc tiến mới của Nhật

Những hành động kể trên cho thấy, Nhật Bản đã có những bớc đi kháchắc chắn để nâng cao ảnh hởng chính trị tại khu vực cho tơng xứng với ảnhhởng kinh tế Nh vậy, vấn đề Campuchia từng là điểm nóng của khu vực, thuhút sự quan tâm của rất nhiều nớc và tổ chức quốc tế từ cuối thập kỷ 70 vàcòn nhiều bất đồng ở thập kỷ 80 đã đợc Nhật Bản tham gia giải quyết trên lậptrờng độc lập trong xu thế hoà dịu, giải quyết tranh chấp xung đột bằng biệnpháp hoà bình của tình hình thế giới và khu vực vào thập niên 90 Sáng kiến

an ninh đa phơng đầu tiên đợc Nhật Bản đa ra khi ngoại trởng Nhật Bản ôngNakayama đa ra tại hội nghị các bộ trởng ASEAN tháng 7/1991 tạiKualalumper, nêu lên ý tởng thành lập một diễn đàn an ninh khu vực Nộidung sáng kiến của ngoại trởng Nakayama gồm hai điểm: diễn đàn sẽ xâydựng trên cơ sở hội nghị PMC và mục tiêu diễn đàn là sự tăng cờng tin cậylẫn nhau thông qua đối thoại chính trị Tuy nhiên, đề xuất này ban đầu cha đ-

ợc các nớc ASEAN hởng ứng, vì cho tới thời điểm trên an ninh vẫn còn là vấn

đề nhạy cảm ở khu vực, vấn đề Campuchia đang đợc giải quyết và vì các nớcASEAN còn lo ngại về ý đồ của Nhật Bản Tuyên bố Bali năm 1976 đã xác

định một trong những mục tiêu của ASEAN là loại trừ ảnh hởng của các nớclớn ra khỏi khu vực, đề xuất của Nhật Bản dù có phù hợp với ý t ởng của cácnớc ASEAN cũng không đợc chấp nhận Tuy nhiên, hội nghị thợng đỉnhASEAN tháng 1/1992 đã đa ra đề xuất xây dựng một diễn đàn về cơ bảngiống với đề xuất của ngoại trởng Nhật Bản Tháng 7/1994, diễn đàn khu vựcASEAN lần đầu tiên đợc tổ chức tại Bang Kok có sự tham gia của Nhật Bản

Trang 30

Sự điều chỉnh chính sách Đông Nam á của Nhật Bản biểu hiện tơng

đối toàn diện trong các hoạt động chính trị Nhân chuyến thăm các nớcASEAN tháng 1/1993, Thủ tớng Miyazawa đã công bố học thuyết chính thứcmang tên mình Xét về thực chất, đây là sự nối tiếp chính sách “ hai trụ cột” ở

Đông Nam á (ASEAN và Đông Dơng), học thuyết bao gồm hai nội dung thenchốt:

* Thứ nhất, trên cơ sở một tầm nhìn lâu dài về an ninh Đông Nam á,Nhật Bản chủ trơng cùng với các nớc trong khu vực thiết lập một trật tự trị an

và hoà bình ở khu vực

* Thứ hai, Nhật Bản kêu gọi hợp tác, phối hợp chặt chẽ với các nớcASEAN để tái thiết Đông Dơng, xác lập điễn đàn “ phát triển toàn diện ĐôngDơng”

Hai nội dung then chốt này xét cho cùng đều hớng tới một mục tiêunhất quán là xác lập ảnh hởng toàn diện và áp đảo của Nhật ở Đông Nam á.Trật tự an ninh ở Đông Nam á mà Nhật Bản chủ trơng thiết lập đợc dựa trênmột nền tảng kinh tế phụ thuộc vào kinh tế Nhật Bản Đồng thời, trên cơ sởviệc tái thiết Đông Dơng, Nhật Bản có điều kiện mở rộng, thâm nhập kinh tếvào khu vực vốn trớc đây có quan hệ mật thiết với Liên Xô và Đông Âu, từ đódành lợi ích kinh tế và tăng cờng ảnh hởng chính trị ở khu vực Khi Liên Xôtan rã, ở khu vực này xuất hiện “ khoảng trống quyền lực” và do đó một số n-

ớc lớn , trong đó Nhật Bản đã nhanh chóng tìm cách dành “ khoảng trống” đó

Đồng thời, với các hoạt động tích cực trên các lĩnh vực an ninh chính trị, NhậtBản đã nhanh chóng chuyển sang hoạt động thơng mại, đầu t và viện trợ pháttriển vào các nớc Đông á và Đông Nam á Nhật Bản chú trong đặc biệt đốivới hai đối tác đang nổi lên về tốc độ tăng trởng nhanh trong khu vực là TrungQuốc và ASEAN Nhật Bản còn là nớc t bản đầu tiên có nhiều nỗ lực gópphần tái thiết lại Việt Nam và các nớc khác ở bán đảo Đông Dơng Chính từnhững hoạt động ngoại giao kinh tế nỗ lực đó của Nhật Bản đã đem lại lợi íchthiết thực cho hai bên Qua đó, điều mà Nhật Bản mong muốn hơn cả lại chính

là ảnh hởng cũng nh vị thế chính trị đối ngoại của Nhật càng đợc nâng caomột cách toàn diện ở khu vực và cả thế giới

Vào nửa cuối thập niên, trớc tình hình chuyển biến nhanh chóng củaquá trình liên kết tiểu khu vực ở Đông Nam á, với triển vọng hiện thực của sự

mở rộng hơn nữa việc kết nạp thêm các thành viên mới của ASEAN để tổ

Trang 31

chức này thành ASEAN10, trớc xu thế của các nớc lớn trên thế giới và trongkhu vực sẽ ngày càng cạnh tranh hơn nữa trong việc mở rộng ảnh hởng vềquyền lực chính trị tại đây, Nhật Bản lại tiếp tục điều chỉnh chính sách đốivới Đông Nam á Tháng 1/1997, cựu Thủ tớng Nhật Bản ông RuytasoHashimoto đã tiến hành chuyến công du năm nớc thành viên ASEAN làBrunei, Malaixia, Indonexia, Việt Nam và Singapore Trớc đó, ông đã đi thămhai nớc khác là Philippin và Thái Lan Cũng trong chuyến đi này, chính sách

đối ngoại của Nhật Bản đối với ASEAN đã đợc điều chỉnh thêm một bớc mớivới đờng nét mới Trớc đó, ông Hashimoto đã có cuộc họp báo với các nhàbáo Nhật và nớc ngoài tại Tokyo, nêu rõ mục đích của chuyến thăm là tăng c-ờng hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, vợt lên trên sự khác biệt

về lịch sử, tôn giáo, chủng tộc ở Đông Nam á theo quan điểm của cựu Thủ ớng Fukuda - ngời đã khởi xớng học thuyết Fukuda cách đây 22năm Chuyếnthăm của cựu Thủ tớng Hashimoto đã tập trung vào ba mục tiêu quan trọngtrong quan hệ Nhật Bản-A SEAN, đó là:

t-* Thúc đẩy mạnh mẽ hơn các quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại và đầu

Tiếp theo chuyến thăm này, cũng vào đầu năm 1997, nhân dịp tiến tới

kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập ASEAN (1967- 1997), cựu Thủ tớngHashimoto đã khẳng định rõ chính sách đối ngoại của Nhật Bản ở Đông Nam

á và châu á - Thái Bình Dơng, trong đó đặc biệt chú trọng tới các nớc ĐôngNam á gồm ba điểm chủ yếu sau:

* Nhật Bản mong muốn quan hệ Nhật Bản - ASEAN lên một tầm caohơn trong việc tổ chức định kỳ các cuộc trao đổi cấp cao Nhật - ASEAN Trớcmắt, Nhật Bản đề nghị tham gia hội nghị cấp cao không chính thức ASEANtháng 11/1997 tại Malaixia

* Nhật Bản ủng hộ đánh giá cao vai trò của ASEAN và việc mở rộngASEAN gồm 10 nớc Đông Nam á

Trang 32

* Quan hệ Nhật - ASEAN từ nay sẽ chuyển thành quan hệ nớc nhậnviện trợ và nớc viện trợ sang mối quan hệ bạn bè hợp tác, trao đổi rộng rãikhông những về kinh tế mà trên cả lĩnh vực an ninh, chính trị, văn hoá xã hội.

Sự điều chỉnh này rõ ràng là một bớc tiến dài trong chiến lợc đã đợcxác định của Nhật Bản với khả năng tăng cờng vai trò chính trị của Nhật ở

Đông Nam á Việc Thủ tớng Hashimoto kêu gọi tổ chức hội nghị cấp cao

đ-ơng kỳ Nhật - ASEAN là nhằm để Nhật Bản tác động có hiệu quả đến cácvấn đề song phơng, khu vực và quốc tế, tìm kiếm cho Nhật Bản vị trí xứng

đáng trong các cơ chế an ninh khu vực đang hình thành Học thuyếtHashimoto không chỉ nhằm củng cố quan hệ quốc tế, mà còn đề cập đếnquan hệ chiến lợc chính trị với Đông Nam á trớc hết là ASEAN Nhật Bảnnhìn thấy ở ASEAN một khả năng hiện thực, mà nếu dựa vào đó có thể đốiphó với những thách thức đang gia tăng mạnh ngay tại châu á - Thái Bình D-

ơng Trong số những thách thức đó phải kể đến vai trò ngày càng tăng của

Mỹ trong diễn đàn APEC và thế lực ngày càng mạnh của Trung Quốc ở đông

á - Thái Bình Dơng Lợi ích tổng thể và cao nhất của chính sách đối ngoạicủa Nhật Bản là góp phần ngày càng nâng cao hơn nữa vị thế độc lập tự chủ

về an ninh, chính trị, ngoại giao cho tơng xứng với tính chất sức mạnh vị thếsiêu cờng kinh tế của quốc gia này

Nh vậy, ta thấy học thuyết Hashimoto có một ý nghĩa quan trọng, vì

đây là lần đầu tiên Nhật Bản tuyên bố một cách công khai và rõ ràng nhữngnguyên tắc chủ yếu chi phối chính sách của Nhật đối với Đông Nam á Thôngtin quan trọng mà học thuyết này đem lại là quyết tâm của Nhật muốn nắmgiữ một vai trò chính trị lớn hơn trong các vấn đề khu vực Trong bài phát biểutại Singapore, ông Hashimoto cũng nhấn mạnh việc Nhật đề nghị tổ chức cáccuộc họp định kỳ cấp cao giữa ASEAN và Nhật, Nhật cũng đề nghị đợc thamgia hội nghị cấp cao không chính thức ASEAN tháng 12/1997 tại Malaixia

Rõ ràng, Nhật Bản đã không chính thức nhấn mạnh khía cạnh chính trị trongquan hệ với ASEAN nói riêng và Đông Nam á nói chung, thay vì khía cạnhkinh tế truyền thống đã đợc duy trì và phát triển từ trớc Sự kiện này đánh dấuchính thức sự chuyển hớng chính sách của Nhật đối với Đông Nam á Mặtkhác, học thuyết Hashimoto cũng nh là một sự công nhận của Nhật đối với vaitrò của ASEAN nh một cực về chính trị ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng

Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với trật tự khu vực mới đang hình

Trang 33

thành cũng nh hòa bình và ổn định trong khu vực Sự ra đời của học thuyếtHashimoto - việc phát triển một cách toàn diện hơn, cân bằng hơn không thiênlệch về kinh tế nh thời gian trớc đây với khu vực Đông Nam á lại càng trở nên

có ý nghĩa hơn khi đợc đặt trong một loạt những tiến triển tình hình mới, trongmối quan hệ ASEAN - Trung Quốc vẫn đang còn tồn tại nhiều vấn đề tranhchấp lãnh thổ, đặc biệt là vấn đề biển đông gây lo ngại cho hầu hết các nớctrong khu vực Một tiến triển khác, đó là những bài giảng về các giá trị dânchủ mà Mỹ đang truyền bá khắp thế giới cùng với những chỉ trích khá gay gắtcủa Mỹ về các vấn đề nhân quyền trong khu vực tác động không thuận tiện

đến quan hệ ASEAN - Mỹ Điều này cũng cho thấy mối quan hệ với cáctrung tâm chính trị lớn trên thế giới cũng đang có những đổi thay, trong đóquan hệ Nhật với ASEAN đang đợc cải thiện Thái độ của các nớc trong khuvực dù với nhiều mức độ khác nhau, nhng nhìn chung đều chấp nhận một vaitrò chính trị xứng đáng hơn trong khu vực so với những nỗ lực mà Nhật Bản

đã làm Một trong những cánh cửa quan trọng nhất của Nhật để khẳng địnhkhông còn là một nớc “ khổng lồ về kinh tế” và “ chú lùn về chính trị” đó là tổchức ASEAN - và đây còn là một cơ hội quý giá để Nhật có thể tận dụng mởrộng vai trò chính trị của mình Hơn thế, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệkhu vực diễn ra từ tháng 8/1997 mà khởi đầu từ Thái Lan đã khiến cho NhậtBản khẳng định thêm một bớc nữa về vị thế nớc lớn ở khu vực còn đang phảitrực diện với cuộc khủng hoảng kéo dài ở chính quốc nhng vẫn nỗ lực đónggóp vào việc trợ giúp các nền kinh tế Đông Nam á khắc phục khủng hoảng.Cuối tháng 12/1998, trong cuộc gặp gỡ các nhà lãnh đạo ASEAN 10 tại HàNội, Thủ tớng Obuchi đã phát biểu đa ra sáng kiến tăng cờng hơn nữa quan hệNhật Bản - ASEAN:

* Tăng cờng hợp tác và đối thoại trong thế kỷ XXI, theo đó các cuộc

đối thoại cấp cao sẽ đợc tổ chức thờng xuyên, Nhật Bản sẽ tài trợ cho việc hộinghị t vấn Nhật Bản - ASEAN tầm nhìn 2020

* Hợp tác để giải quyết khủng hoảng ở châu á, Nhật Bản sẽ nhanhchóng phục hồi nền kinh tế của mình, hợp tác giúp đỡ các nớc châu á phụchồi kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực cở sở hạ tầng, nhân lực tài chính và côngnghiệp chế biến

Trang 34

* Hợp tác để giải quyết những vấn đề liên quan đến an ninh con ngời

nh xây dựng mạng lới an ninh toàn xã hội, giải quyết các vấn đề liên quan

đến môi trờng, buôn bán…

* Thúc đẩy đối thoại giữa các trí thức và giao lu

Tuy không đa ra những vấn đề t duy chiến lợc nh học thuyết Fukuda

tr-ớc đây, nhng so với học thuyết Hashimoto thì học thuyết Obuchi có thêm một

số điểm mới, không chỉ chú trọng “ phần cứng” mà còn nhấn mạnh về tàichính - tiền tệ, mà còn nhấn mạnh cả những vấn đề “ phần mềm” về an ninhcon ngời và giao lu trí thức, văn hoá một cách cụ thể…Với học thuyết này, rõràng chính phủ của Thủ tớng Obuchi đã tiếp tục khẳng định với những nộidung điều chỉnh chính sách đối ngoại Nh vậy, Nhật Bản thể hiện quyết tâm

đóng một vai trò tích cực hơn nữa trong khu vực để ngày càng tơng xứng với

vị thế “lãnh đạo” khu vực của mình, điều này do mục tiêu hớng thiện vì sự anninh, thịnh vợng chung cho khu vực nên đều đợc các nớc ASEAN quan tâm Ngoài ra nhằm thực hiện đợc mục tiêu của sự điều chỉnh nói trên, NhậtBản đã có những chi tiêu quân sự ngày càng tăng Nếu nh năm 1985-1992ngân sách quốc phòng của Nhật tăng hàng năm là 4,4%, năm 1992 là 24 tỷUSD thì đến năm 1996 chi phí quân sự lên 40 tỷ USD Quy mô ngân sáchquân sự của Nhật hiện gấp 6 lần Austraylia, gấp 3 lần bắc và nam Triều Tiêngộp lại và gấp 3 lần ngân sách quân sự của các nớc ASEAN Nguyên tắc quân

sự của Nhật Bản đợc chuyển từ chính sách phòng vệ thuần tuý và tiêu diệt kẻthù trên lãnh thổ của mình sang đờng lối phòng thủ ba tuyến (biển, bờ biển vàtrên bộ) Nhật Bản cũng thể hiện ngày càng độc lập hơn về vai trò an ninh đốingoại đối với khu vực Ví dụ, năm 1990 với sự trợ giúp của Thái Lan, NhậtBản đã đứng ra đăng cai triệu tập các cuộc họp của các phái chính trị tạiCampuchia để bàn về các giải pháp nỗ lực cho tiến trình lập lại hoà bình ởCampuchia Nhật Bản đã thành công trong việc làm lay chuyển lập trờng củaG7 với Trung Quốc trong thông cáo chung cuối cùng Sở dĩ Nhật Bản có thiệnchí với Trung Quốc nh vậy, vì họ nhận thức một cách sâu sắc về tầm quantrọng của sự ổn định tại Trung Quốc đối với lợi ích kinh tế và chính trị khôngchỉ với Trung Quốc mà còn đối với cả khu vực, trong đó đặc biệt là chính vớiNhật Bản, vì thực tiễn cho thấy Trung Quốc là một thị trờng, bạn hàng khổng

lồ của Nhật, nhng cũng lại là một nớc lớn có triển vọng trở thành siêu cờngquốc thế giới, nên Nhật cần phải tranh thủ hợp tác mọi mặt với Trung Quốc,

Trang 35

mặc dù thâm tâm Nhật Bản không khỏi e ngại sẽ phải cạnh tranh phức tạp vớiTrung Quốc về nhiều lĩnh vực vào thế kỷ tới.

Tháng 4/ 2001, khi bắt đầu nhiệm kỳ Thủ tuớng ông Koizumi tuyên bố

sẽ cải cách công tác đối ngoại Tháng 9/2001, ông thành lập tổ nghiên cứuquan hệ đối ngoại để giúp thủ tớng công tác này Sau một năm nghiên cứu,ngày 28/11/2002 tổ đã đệ trình lên thủ tớng báo cáo chiến lợc cơ bản về côngtác đối ngoại thế kỷ XXI của Nhật Bản Trên cơ sở t tởng chỉ đạo của thời đạimới, t duy mới và đối ngoại mới, tổ nghiên cứu đã phân tích một cách có hệthống sâu sắc bối cảnh quốc tế, chính sách đối ngoại của từng nớc, từng lĩnhvực cần phát triển giao lu nh an ninh, kinh tế, môi trờng, năng lợng, văn hoánghệ thuật…, phá bỏ chủ nghĩa cục bộ trong nớc, tăng cờng khả năng điều tiếtcủa chính phủ đảm bảo lợi ích lâu dài của Nhật Bản Báo cáo này đã đợc dluận xã hội cũng nh thủ tớng Koizumi đánh giá tốt, nó phản ánh xu thế pháttriển chung của giới chính trị, thơng mại Nhật Bản trong thế kỷ XXI Tháng1/2002 khi đi thăm Singapore, Thủ tớng Koizumi đã đề xuất ý tởng xây dựng

“ cộng đồng Đông á”, mong muốn tăng cờng hợp tác với các nớc ASEANtrên các lĩnh vực mậu dịch đầu t, năng lợng, đào tạo nhân lực, cả lĩnh vực anninh truyền thống và phi truyền thống để thúc đẩy tiến trình nhất thể hoá khuvực Để thực hiện mục tiêu này, trớc hết Nhật Bản u tiên quan hệ với 5 quốcgia thành viên cũ: Indonexia, Singapore, Thái Lan, Malaixia và Philippin.Tháng 12/2003 tại hội nghị cấp cao ASEAN, Nhật Bản đã thông qua tuyênngôn Tokyo, nhấn mạnh trên cơ sở hợp tác kinh tế sẽ phát triển thành hợp tácchính trị và an ninh Nhật Bản còn tỏ ý muốn tham gia vào hiệp ớc hợp táchữu nghị Đông Nam á để phát triển quan hệ song phơng toàn diện

Nhật Bản thúc đẩy cuộc đấu tranh chống khủng bố, đây là chủ đề chínhtrong cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo ASEAN tại Brunei ngày 05/11/2001.Tại cuộc họp này cả Nhật Bản và ASEAN đã thống nhất một chính sách chốngchủ nghĩa khủng bố tại Apganixtan, nhng phải tuân thủ các nguyên tắc doLiên Hợp Quốc nêu ra và không gây tổn hại cho dân thờng, song về cơ bản làcác nớc ASEAN đã có tiếng nói chung trong vấn đề này Ta thấy năm 2001,một nội dung hợp tác của an ninh Nhật Bản – ASEAN đã đợc mở rộng, đó làhợp tác chống khủng bố, đây là nét mới trong quan hệ ngoại giao, an ninh củaNhật Bản đối với các quốc gia này

Trang 36

Qua phân tích trên ta thấy, vai trò chính trị quốc tế của Nhật Bản đãkhông ngừng gia tăng, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam á, Nhật Bản đã tạodựng cho mình một chỗ đứng vững chắc trong đời sống chính trị khu vực SauChiến tranh lạnh, Nhật Bản chủ trơng tìm kiếm một vai trò mới trong nềnchính trị quốc tế Nhật đã thi hành một chính sách ngoại giao năng động vàtích cực hơn để trở thành một cờng quốc về mọi mặt Từ chính sách của mộtnớc nhỏ, Nhật Bản chuyển sang chính sách của một nớc lớn, giữ tiếng nóichính trị tơng xứng với sức mạnh kinh tế của mình Nhật Bản nêu phơng châm

“quay trở lại châu á”, thực hiện cái mà 20 năm trớc học thuyết Fukuda đãkhông thực hiện đợc Châu á là khu vực duy nhất mà Nhật Bản có thể tranhgiành ảnh hởng với các cờng quốc khác, không chỉ vì Nhật Bản có nền kinh tếphát triển ở đây, mà còn vì mối quan hệ chính trị mà Nhật Bản thiết lập đợctrong thời gian qua với các nớc trong khu vực Mục tiêu cao nhất của sự điềuchỉnh chính sách đối ngoại theo hớng: nếu nh trớc Chiến tranh lạnh Nhật Bảnchỉ tập trung cho phát triển kinh tế để vơn tới vị thế siêu cờng quốc kinh tế thứhai thế giới, thì sau Chiến tranh lạnh, dựa vào nền tảng vị thế kinh tế vữngmạnh đó, Nhật Bản tiếp tục phấn đấu xây dựng cho mình có một vị thế vữngmạnh toàn diện hơn không chỉ ở lĩnh vực kinh tế mà còn ở cả lĩnh vực chínhtrị và ngoại giao

2.2.2 Điều chỉnh chính sách kinh tế

Trong chiến lợc của Nhật đối với khu vực Đông Nam á, có thể thấy từlâu Nhật luôn coi Đông Nam á là nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu then chốtcho đất nớc mình Đông Nam á cung cấp cho Nhật 99% cao su thiên nhiên,99% thiếc, 99% niken, 42% gỗ, 32% đồng, 31% khí đốt và 18% dầu thô màNhật nhập từ bên ngoài Mặc dù ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, nhngnhân tố này vẫn rất quan trọng vì Nhật là một nớc nghèo tài nguyên thiênnhiên Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay Đông Nam á càng trở nên quan trọnghơn khi trở thành khu vực trực tiếp nhận phần lớn đầu t, buôn bán và viện trợcủa Nhật

Về mậu dịch, nhập khẩu của ASEAN chiếm 7% toàn bộ nhập khẩu củaNhật Bản vào năm 1993, tăng 10,3% năm 1994 và 24,2% năm 1995 Về đầu t,Nhật vợt Mỹ trở thành nớc đầu t lớn nhất ở Đông Nam á, 5 trong 10 nớc nhận

Trang 37

viện trợ ODA nhiều nhất của Nhật cũng là các nớc Đông Nam á Lợi ích kinh

tế của Nhật cũng gắn chặt với số lợng đầu t vào ODA, vì hầu hết ODA lànhững khoản cho vay - đó là nguồn tài sản lớn của Nhật Tóm lại, lợi ích kinh

tế của Nhật ở Đông Nam á là rất lớn, nếu nh khu vực này trở nên thù địch vớiNhật thì những thiệt hại do điều này gây ra với Nhật là rất nhiều Kể từ đầuthập kỷ 90, Nhật Bản đã chuyển sang trọng tâm các quan hệ hợp tác kinh tế từchâu âu sang châu á với ý tởng xây dựng khu vực châu á thành một trung tâmkinh tế lớn của thế giới do Nhật giữ vai trò chủ đạo Tuy vậy trong một vàithập kỷ mà thế giới trải qua nhiều sự biến đổi, thì nền kinh tế Nhật bản lại rơivào suy thoái liên tục và kéo dài dới tác động của xu hớng toàn cầu hoá,chuyển sang kinh tế tri thức thì kinh tế Nhật Bản đang đứng trớc những tháchthức mới Điều đó có nghĩa là bớc vào thế kỷ XXI, Nhật Bản đang đứng trớcnhững yêu cầu mới về điều chỉnh chiến lợc hợp tác kinh tế toàn cầu nói chungcũng nh các quan hệ hợp tác kinh tế với các nớc châu á nói riêng Trong tiếntrình hớng về châu á, với sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế Nhật Bảnthì Đông Nam á trở thành mục tiêu hàng đầu trong chính sách kinh tế đốingoại của Nhật Bản, vì đây không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên,nguồn nhân công rẻ mạt cho nền kinh tế, mà còn là địa điểm hấp dẫn mạnhcác nguồn đầu t buôn bán và trở thành thị trờng rộng lớn tiêu thụ hàng hoá

Đông Nam á chiếm một vị trí quan trọng trong thơng mại và đầu t của NhậtBản Với vị trí quan trọng đó nên sau chiến tranh lạnh, hầu nh tất cả các nộicác Nhật Bản đều tích cực điều chỉnh chính sách của mình đối với Đông Nam

á Ngày 12/12/1992, Thủ tớng Miyazawa khẳng định Nhật sẽ triển khai chínhsách ngoại giao kinh tế với các nớc Đông Nam á Vì vậy, trong các nội dungchủ yếu của chính sách đối ngoại mới của Nhật Bản đối với Đông Nam á, yếu

tố kinh tế đợc đa lên hàng đầu - đó là mở rộng viện trợ, tăng cờng hợp tác kinh

tế, lấy ngoại giao toàn diện nhiều tầng đa dạng và nhiều loại khác nhau đểphát triển kinh tế, nâng cao địa vị chính trị… Trong chuyến thăm các nớcASEAN tháng 5/1991, Thủ tớng Nhật Bản Toshiki Kaifu một lần nữa nhấnmạnh đến vai trò, sức mạnh kinh tế của Nhật và cam kết tiếp tục nhận viện trợvới các nớc ASEAN Tiếp đó năm 1993, Thủ tớng Miyazawa đã đa ra cácquan điểm hợp tác ổn định khu vực, tiếp tục phát triển kinh tế, hợp tác giảiquết các vấn đề toàn cầu, cuối cùng và quan trọng nhất là phối hợp vớiASEAN để phát triển Đông Dơng thành lập diễn đàn phát triển Sau đó, các vị

Trang 38

Thủ tớng Nhật Bản tiếp theo khi đa ra chính sách đối với Đông Nam á rất chú

ý đến các quan hệ hợp tác kinh tế Tuy nhiên, khi xem xét cũng có thể thấy

đ-ợc sự khác biệt tơng đối về tính chất và mục tiêu hợp tác kinh tế trong hai thời

kỳ chiến tranh lạnh và sau chiến tranh lạnh nh sau:

Trớc khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ kinh tế diễn ra về cơ bảnmang tính chất thuần tuý đôi bên cùng có lợi, hay nói cách khác tính kinh tếtrội hơn tính chính trị vì khi đó tập trung phát triển kinh tế cao độ Nhật Bảnthông qua các quan hệ song phơng với từng nớc ASEAN, để tìm đợc mục tiêuchính là tìm các lợi ích kinh tế từ các nguồn nguyên liệu, năng l ợng giá rẻ vàthị trờng hàng xuất khẩu của Nhật Tính chính trị khi đó chủ yếu là thông quacác quan hệ kinh tế, đặc biệt là quan hệ viện trợ phát triển đã bắt đầu đ ợc chú

ý từ thập niên 80 trở đi Ngoài ra, tính chính trị của các quan hệ kinh tế đócòn vì Nhật Bản cũng muốn rằng một khi đã đạt tới vị trí siêu cờng kinh tếthứ hai thế giới, thì cũng phải khôi phục dần vị trí chính trị đối ngoại của mình

đối với quốc tế và khu vực, nhằm xoá bỏ dần những cách biệt, mặc cảm giữamột bên là nớc bại trận sau thế chiến thứ hai, nhng cũng là nớc vừa gây ranhững thảm hoạ chiến tranh và nợ máu đối với nhân dân nhiều nớc trong khuvực, còn một bên tuy biết rằng Nhật Bản có “ thiện chí” nh vậy và thực tế vẫnphải nhờ vào Nhật Bản để phát triển kinh tế nhng vẫn cha hết nỗi bàng hoàng

lo ngại sự tái hiện trở lại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản Chính vì nhậnthức và có sự định hớng về mục tiêu chính trị trên đây, nên quan hệ hợp táckinh tế giữa các nớc ASEAN và Nhật Bản đã có sự gia tăng liên tục ngay từthời kỳ Chiến tranh lạnh Trên thực tế, tuy các quan hệ hợp tác kinh tế songphơng diễn ra theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, nhng thực sự thì NhậtBản vẫn là ngời thu lợi lớn hơn cả trong quan hệ buôn bán và đầu t, vì lẽ dễhiểu Nhật Bản là nớc phát triển hơn, trong khi các nớc kia đều kém hơn nhất

là giai đoạn đầu của sự hợp tác Có chăng chỉ trong lĩnh vực hợp tác kinh tế vềviện trợ và phát triển (ODA), ta thấy sự biểu hiện bên ngoài và trớc mắt, dễthấy Nhật Bản lại là ngời “ chịu thiệt” nhiều hơn về kinh tế, vì trong quan hệnày Nhật Bản là nớc cho còn ASEAN là nớc nhận Cái mà Nhật Bản thu đợc ở

đây không phải là lợi ích kinh tế thuần tuý trực tiếp mà lại là gián tiếp và ờng là lâu dài về sau Thực tế cho thấy, ODA thờng là công cụ ngoại giao kinh

th-tế rất quan trọng để Nhật Bản có đợc “chiếc chìa khoá vàng”, mở cửa vào cácthị trờng thơng mại và đầu t của nớc này, rõ ràng Nhật Bản đã làm đợc nh vậy

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình ( 2002), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Nhà XB: Nxb KHXH
2. Nguyễn Xuân Bình (1999), Quan hệ Nhật Bản ASEAN, chính sách tài – trợ ODA, Nxb KHXH và NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật Bản ASEAN, chính sách tài"–"trợ ODA
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb KHXH và NV
Năm: 1999
3. Ngô Xuân Bình (1999), “ Điều chỉnh chính sách đối ngoại và an ninh của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh khía cạnh đa phơng hoá và quan hệ với Hoa Kú” , Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, (số 5), tr.12 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh chính sách đối ngoại và an ninh của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh khía cạnh đa phơng hoá và quan hệ với Hoa Kú”, "Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Năm: 1999
4. Phạm Thị Thanh Bình (2001), “ Vai trò Nhật Bản đang phát triển trong kinh tế ASEAN”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, (số 4), tr.10 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò Nhật Bản đang phát triển trong kinh tế ASEAN”, "Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á
Tác giả: Phạm Thị Thanh Bình
Năm: 2001
5. Ngô Xuân Bình, Hồ Viết Hạnh (2002), Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Ngô Xuân Bình, Hồ Viết Hạnh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
6. Ngô Xuân Bình, Dơng Phú Hiệp, Trần Anh Phơng (1999), 25 năm quan hệ Việt Nam Nhật Bản 1973 1998 – – , Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm quan hệ Việt Nam Nhật Bản 1973 1998
Tác giả: Ngô Xuân Bình, Dơng Phú Hiệp, Trần Anh Phơng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1999
7. Hồ Châu (1005), “ Chiến lợc đối ngoại của Nhật Bản trong những thập niên đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, (số 2), tr. 64 – 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lợc đối ngoại của Nhật Bản trong những thập niên đầu thế kỷ XXI”, "Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á
8. Nguyễn Mạnh Cầm (1992), “ Trên đờng triển khai chính sách đối ngoại theo định hớng mới”, Tạp chí cộng sản, (số1), tr. 10 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đờng triển khai chính sách đối ngoại theo định hớng mới”, "Tạp chí cộng sản
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cầm
Năm: 1992
9. Nguyễn Duy Dũng (2003), Nhật Bản năm 2000 cuộc cải cách vẫn còn – tiếp tục, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản năm 2000 cuộc cải cách vẫn còn"–"tiếp tục
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
10. Nguyễn Duy Dũng, Nguyễn Thanh Hiền (2005), Nhật Bản những biến đổi chủ yếu trong những năm 90 và triển vọng, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản những biến "đổi chủ yếu trong những năm 90 và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng, Nguyễn Thanh Hiền
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
11. Ngô Xuân Dũng (2001), “ Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản thập kû 90 ” , Tạp chí kinh tế châu á - Thái Bình Dơng, (số 4), tr. 15 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản thập kû 90”," Tạp chí kinh tế châu á - Thái Bình Dơng
Tác giả: Ngô Xuân Dũng
Năm: 2001
12. Nguyễn Huy Dũng (2001), “ Về xu hớng đầu t ODA của Nhật Bản đầu thập niên thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, (số 3), tr. 14- 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xu hớng đầu t ODA của Nhật Bản đầu thập niên thế kỷ XXI”, "Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á
Tác giả: Nguyễn Huy Dũng
Năm: 2001
15. Hà Hồng Hải (1994), Quan hệ Việt Nam Nhật Bản: quá khứ hiện tại – – và triển vọng, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam Nhật Bản: quá khứ hiện tại"– –"và triển vọng
Tác giả: Hà Hồng Hải
Năm: 1994
16. Dơng Lan Hải (1996), Quan hệ Nhật Bản với các nớc Đông Nam á 1945 1975, – Viện châu á - Thái Bình Dơng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nhật Bản với các nớc Đông Nam á 1945 1975
Tác giả: Dơng Lan Hải
Năm: 1996
17. Hà Hồng Hải (1996), Chính sách của Nhật đối với khu vực Đông Nam á thời kỳ sau chiến tranh lạnh, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Nhật đối với khu vực Đông Nam "á thời kỳ sau chiến tranh lạnh
Tác giả: Hà Hồng Hải
Năm: 1996
18. Hà Hồng Hải (1994 ), Chính sách ODA của Nhật đối với Đông Nam á. Hội thảo về châu á Thái Bình Dơng và quan hệ Việt Nhật – , Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ODA của Nhật đối với Đông Nam á. "Hội thảo về châu á Thái Bình Dơng và quan hệ Việt Nhật
19. Vũ Vân Hà (2003), Sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hoá, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hoá
Tác giả: Vũ Vân Hà
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
20. Nguyễn Thanh Hiền (2003), “ Quan hệ Việt – Nhật trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh – những dấu ấn ngoại giao đậm nét , ” Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, (số4), tr. 18 – 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt – Nhật trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh – những dấu ấn ngoại giao đậm nét ,” "Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á
Tác giả: Nguyễn Thanh Hiền
Năm: 2003
21. Hoàng Văn Hiển, Nguyễn Viết Thảo (1998), Quan hệ quốc tế từ 1945 – 1995, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quan hệ quốc tế từ 1945 "–"1995
Tác giả: Hoàng Văn Hiển, Nguyễn Viết Thảo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1998
22. Dơng Phú Hiệp, Phạm Hồng Thái (2004), Nhật Bản trên đờng cải cách, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trên đờng cải cách
Tác giả: Dơng Phú Hiệp, Phạm Hồng Thái
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w