Tóm lại, đề tài Nhân vật trong tiểu thuyết “ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh” là một đề tài vừa mang tính thời sự, vừa có ý nghĩa cả về phơng diện lý luận và văn học sử, đảm bảo yêu cầ
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề t i ài
1.1 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đợc đánh giá là
một tiểu thuyết có nhiều ý tưởng cách tân, được Hội nh và ăn Việt Namtrao tặng giải Nhất về tiểu thuyết năm 1991 Với tác phẩm này, Bảo Ninh
đã có đóng góp nhất định trong việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về conngời cũng nh nghệ thuật trần thuật Và cái mới bao giờ cũng có sức thu hútmãnh liệt Đây chính là lý do đầu tiên khiến chúng tôi tìm đến đề tài này
1.2 Bảo Ninh và một số hiện tợng có ý hớng cách tân văn học một cách
quyết liệt đã trở thành tâm điểm của các cuộc tranh luận Dù tán thành hayphản đối, ngời ta vẫn không thể phủ nhận đợc là có một “làn sóng” cách tânvăn học đang ngày càng mãnh liệt Qua các cuộc tranh luận, nhiều vấn đề
về lý luận và sáng tác đã đợc đặt ra Bối cảnh xã hội - thẩm mĩ hiện nay đãtạo tiền đề cho giới nghiên cứu phê bình nhìn nhận một cách khách quanhơn, dân chủ hơn về một số hiện tợng văn học Đây cũng là động cơ thúc
đẩy chúng tôi thực hiện công trình này
1.3 Phần văn học Việt Nam sau 1975 cũng là một mảng khá quan trọng
đối với chơng trình giảng dạy ở bậc Đại học và PTTH Do vậy, qua hiện
t-ợng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, chúng tôi mong muốn góp phần
tìm hiểu thêm về diện mạo văn học giai đoạn này Công trình này sẽ là sựgợi mở để chúng tôi nghiên cứu sâu hơn mạch vận động của văn học ViệtNam hiện đại Đồng thời, qua công trình này, chúng tôi cũng muốn góp
những lí giải riêng về hiện tợng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và
quan niệm về văn xuôi thời kỳ đổi mới
Tóm lại, đề tài Nhân vật trong tiểu thuyết “ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh” là một đề tài vừa mang tính thời sự, vừa có ý nghĩa cả về phơng diện lý
luận và văn học sử, đảm bảo yêu cầu của một khóa luận đại học
2 Lịch sử vấn đề
Trang 2Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là tác phẩm có số phận đặc biệt,
xuất bản đầu tiên năm 1990 với tiêu đề do biên tập viên nhà xuất bản Hội
nhà văn lựa chọn: Thân phận của tình yêu; chỉ một năm sau đó tác phẩm
đợc tái bản với tiêu đề của chính tác giả: Nỗi buồn chiến tranh Cũng trong
năm đó tác phẩm đợc giải thởng của Hội nhà văn và từ đó trở thành một lựachọn bị tranh cãi nhiều nhất trong số các giải thởng do Hội nhà văn traotặng Nhiều cuộc toạ đàm, nhiều bài viết với những ý kiến khen - chê về tácphẩm cho đến nay vẫn còn cha ngã ngũ
Nỗi buồn chiến tranh đợc đặt trong bối cảnh của văn học sau 75 mà
bản thân giai đoạn văn học ấy cho đến nay vẫn cha có sự thống nhất trongcách nhìn nhận đánh giá Có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều độc giả rất tánthành, khen ngợi và ghi nhận sự cống hiến của giai đoạn văn học này khi nó
đã có công đem đến một luồng gió mới cho văn học, bớc đầu làm thay đổi
t duy nghệ thuật Song, cũng không ít những đánh giá ngợc chiều cho đây là
một bớc thụt lùi của nền văn học Việt Nam Hơn thế nữa, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh chứa đựng trong đó những nghịch lí, những
cái nhìn đa chiều về chiến tranh Nó thể hiện một cách cảm thụ, cắt nghĩa
và lí giải mới về đề tài này Tác phẩm cũng chứa đựng những cách tân về kĩthuật tiểu thuyết cho nên sự đánh giá, khẳng định những giá trị của nó cònkhá thận trọng và dè dặt
Với Nỗi buồn chiến tranh, sự đánh giá về tác phẩm cũng xoay quanh
hai trạng thái đối lập: Ngời khen hết mức, ngời chê hết lời Cụ thể: Đức
Trung trong bài viết: “Chiến tranh nào? Nỗi buồn nào?” đã tỏ rõ thái độ
không tán thành Cũng có không ít nhà phê bình coi cuốn tiểu thuyết nàycủa Bảo Ninh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hoá hiện thực”, “bôi nhọquân đội” (Báo Văn nghệ số 43 ngày 26 tháng 10 năm 1991) Bên cạnh đó,cũng có nhiều ý kiến đánh gía cao tác phẩm về nội dung đặc biệt là hìnhthức nghệ thuật:
Hoàng Ngọc Hiến, Những nghịch lí của chiến tranh (Đọc Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Báo Văn nghệ số 15/1991)
Đỗ Đức Hiểu, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh (Thi pháp hiện đại,
NXB Hội nhà văn, 2000)
Trang 3 Trần Quốc Huấn, Đọc Thân phận tình yêu của Bảo Ninh (tạp chí
nghiên cứu về Nỗi buồn chiến tranh Song, dờng nh gần đây do có sự thay
đổi trong t duy tiếp nhận của độc giả và Nỗi buồn chiến tranh dần đợc
nhìn nhận đúng với những giá trị mà tác giả góp công tạo nên Nhiều công
trình nghiên cứu khoa học, nhiều bài viết đã khẳng định Nỗi buồn chiến tranh là một tiểu thuyết tiêu biểu cho văn học đổi mới Hơn thế, nhiều nhà
nghiên cứu còn khẳng định đây là tiểu thuyết đáng đọc nhất của thế kỉ XX,
là tiểu thuyết mở đầu cho xu hớng tiểu thuyết mới trong văn xuôi Việt Nam
về kĩ thuật tiểu thuyết
Cũng trong mạch nguồn khám phá, nghiên cứu về Nỗi buồn chiến tranh nhiều công trình khoa học, luận văn, luận án đã ra đời Nhiều bài viết
trên mạng, nhiều công trình quan tâm đặc biệt đến cảm hứng sáng tạo, nhan
Đoàn Cầm Thi, Tự truyện bất thành (http:// www.tienve.org)
Nguyễn Đăng Điệp, Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh (Tự sự học, ĐHSPHN, Trần Đình Sử chủ biên)
Trang 4Nhìn chung hầu hết các bài viết đã có cái nhìn bao quát về tiểu thuyết
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh từ góc độ nhan đề tác phẩm, cảm hứng
sáng tạo của nhà văn Mà đặc biệt, nhiều luận văn nghiên cứu khá sâu vềtác phẩm trên phơng diện quan niệm nghệ thuật về con ngời - ngọn nguồncủa mọi cách tân về nghệ thuật
Đặng Thị Minh Duyên với đề tài khoá luận tốt nghiệp “Sự thể hiện con ngời cá nhân trong tiểu thuyết Việt Nam từ thập niên 80 – 2000 2000 (Ngời h-ớng dẫn: Đinh Trí Dũng, khoá luận tốt nghiệp, ĐH Vinh, 2000) đã đi vàonghiên cứu một phơng diện đổi mới trong tiểu thuyết sau 75 đó là sự thểhiện con ngời cá nhân - biểu hiện của cái “tôi” trong văn học Đặc biệt tácgiả đã tập trung nghiên cứu sự thể hiện con ngời cá nhân qua 3 tác phẩm
Mùa lá rụng trong vờn, Thời xa vắng và Nỗi buồn chiến tranh Đặt trong mối quan hệ với hai tác phẩm còn lại Nỗi buồn chiến tranh có đợc sự đối
sánh cần thiết trên phơng diện “sự thể hiện con ngời cá nhân”, tuy nhiên
không thể bao quát hết đợc những vấn đề độc đáo trong Nỗi buồn chiến tranh mà cần phải có công trình chuyên sâu hơn.
Nguyễn Thị Thu Hằng với đề tài “Quan niệm nghệ thuật về con ngời
trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh” (Ngời hớng dẫn:
Nguyễn Văn Tùng, luận văn tốt nghiệp, năm 2003), đã nghiên cứu chuyên
sâu hơn vào tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Tác giả có cái nhìn bao quát
trên phơng diện quan niệm nghệ thuật về con ngời với sự tiếp thu nhiềucông trình, bài viết đi trớc Bàn về quan niệm nghệ thuật về con ngời, côngtrình cũng đã đề cập đến khía cạnh nhân vật: nhân vật ngời lính trong quátrình tự nhận thức, tự sám hối; nhân vật ngời lính cô đơn, mặc cảm Tuynhiên việc nghiên cứu về nhân vật mới chỉ dừng lại ở góc tiếp cận hẹp, nhânvật ở khía cạnh là biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con ngời chứ chaphải là một nhân tố trung tâm của nghệ thuật trần thuật
Gần đây hơn nữa, năm 2003 với việc Nỗi buồn chiến tranh đợc tái bản với 2 tiêu đề: Nỗi buồn chiến tranh (NXB Hội nhà văn) và Thân phận của tình yêu (NXB phụ nữ) thì nhiều công trình lại tiếp tục nghiên cứu để giải
đáp những vấn đề còn cha ngã ngũ Với góc nhìn về vấn đề nhân vật trong
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh có các khoá luận, công
trình khoa học, bài viết nh:
Trang 5Lê Thị Lan Anh với đề tài khoá luận tốt nghiệp “Nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh” đã đa ra nhiều kiểu nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh Tuy
vậy, đây vẫn là một công trình nghiên cứu có tính bao quát nhân vật trongvăn xuôi Bảo Ninh (bao gồm tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh) chứ
cha thật sự nghiên cứu triệt để thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh.
Các bài viết đi sâu nghiên cứu về nhân vật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh nh:
Phạm Xuân Thạch, Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời
hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến chủ đề đổi mới bút pháp
(Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảngdạy)
Nguyễn Thị Mai Liên, Con ngời - nạn nhân chiến tranh trong hai
tiểu thuyết: Một nỗi đau riêng và Nỗi buồn chiến tranh (Văn học
Việt Nam sau 1975 – 2000 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy)
Đoàn Cầm Thi, Về nhân vật Phơng, ngời phụ nữ Hà Nội và chủ đề văn học của Nỗi buồn chiến tranh (http://
www.evan.vnexpress.net)
Trần Huyền Sâm, Bảo Ninh với nỗi ám ảnh về chiến tranh (http://
www.tapchisonghuong.com.vn)
Các bài viết này đã tập trung nghiên cứu về nhân vật - một biểu hiện
trong sự cách tân nghệ thuật của Bảo Ninh trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, đa ra các kiểu nhân vật “nạn nhân của chiến tranh” (Nguyễn
Thị Mai Liên), ba tuyến nhân vật chạy song song trong cuộc đời Kiên: Ngờiphụ nữ, những ngời đồng đội và những ngời thân (Phạm Xuân Thạch) hay
về nhân vật Phơng - ngời phụ nữ - đối âm của chiến tranh, nhân vật cứu rỗi
và khơi nguồn sáng tạo (Đoàn Cầm Thi)… Trần Huyền Sâm trong bài viết Trần Huyền Sâm trong bài viết
của mình đã đặt ra những câu hỏi mới để suy xét về Nỗi buồn chiến tranh.
Ông cũng đánh giá cao tiểu thuyết này và đặc biệt quan tâm đến nhân vậtKiên, ông cho đây là “một kiểu bi kich về ngời lính” trong và sau chiếntranh Kiên đợc tác giả “dồn” vào nhiều vai và “đặt” vào nhiều góc nhìnkhác nhau Trong phần cuối của bài viết, Trần Huyền Sâm càng khẳng định
đánh giá của mình về Nỗi buồn chiến tranh khi cho rằng với Nỗi buồn
Trang 6chiến tranh, Bảo Ninh đã vợt lên một số nhà văn về kĩ thuật tiểu thuyết.
Trong tác phẩm này ngời đọc bắt gặp kiểu nhân vật bệnh lí của Đôttôiepxki,thủ pháp độc thoại nội tâm và dòng ý thức của Faukner, bút pháp ghán ghép
điện ảnh của Duras… Trần Huyền Sâm trong bài viết với một lối kết cấu phi logic Chính vì những cách tân
táo bạo ấy mà Nỗi buồn chiến tranh đã tạo ra sự khiêu khích, và có khả
năng đối thoại với bạn đọc Bài viết của Trần Huyền Sâm khẳng định thêm
một lần nữa những thành công của Nỗi buồn chiến tranh Tuy nhiên, dung
lợng hạn hẹp của bài báo cha cho phép tác giả kiến giải, đi sâu phân tích tácphẩm theo đánh giá của mình Do vậy, những vấn đề nêu ra trong bài viếtchúng tôi thiết nghĩ nên tiếp tục luận bàn
Với đề tài Nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, chúng tôi tập trung nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh d-
ới góc nhìn đây là yếu tố thể hiện sự độc đáo về nghệ thuật trần thuật củaBảo Ninh và cũng là một sự thể hiện sắc sảo quan niêm nghệ thuật về conngời của nhà văn Tiếp thu những kết quả đạt đợc của những công trình đitrớc với hớng nghiên cứu trọng tâm về nhân vật, chúng tôi muốn góp thêm
một cách đọc tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh - tác phẩm đợc xem là tiêu
biểu của văn học đổi mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu những tiền đề chính trị - xã hội thẩm mĩ chi phối đến vănhọc Việt Nam sau 1975 và những đổi mới của văn học sau 1975
3.2 Tìm hiểu những đặc sắc về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
3.3 Tìm hiểu những đặc sắc về xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
4 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng những phơng pháp nghiên cứu: Phơng phápkhảo sát thống kê, phơng pháp hệ thống, đặc biệt chú trọng phơng pháp đốichiếu so sánh và phân tích tổng hợp nhằm làm nổi rõ những đặc sắc về thế
giới nhân vật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh.
Trang 7
5 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn nghiên cứu tơng đối toàn diện, hệ thống, cụ thể và chi tiếtnhững cách tân nghệ thuật của Bảo Ninh về xây dựng nhân vật trong tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh Từ đó, nhằm đề xuất một hớng tiếp cận có hiệu quả đối với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh - một tác phẩm văn học
độc đáo còn nhiều tranh cãi
6 Cấu trúc của luận văn
ơng 2 : Những đặc sắc về thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh
Trang 8Ch ơng 1: Bảo Ninh trong bối cảnh đổi mới
văn xuôi Việt Nam sau 75
1.1 Những tiền đề chính trị xã hội, thẩm mĩ chi phối văn xuôi Việt
Nam sau 75
1.1.1 Những tiền đề chính trị xã hội – 2000
Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nớc ta bớc vào thời kì hoà bình,bảo vệ và xây dựng Song, đó cũng là lúc chúng ta phải đối mặt với một tìnhhình mới đầy biến động và phức tạp Bớc ra khỏi chiến tranh đất nớc ngậptràn trong niềm vui thống nhất nhng cũng trực tiếp đối mặt với muôn vànkhó khăn, thử thách Đó cũng là lúc mỗi cá nhân trở về với “bản ngã” củamình Họ nghiền ngẫm, suy t và nhận thức lại nhiều vấn đề trong cuộcsống Con ngời bắt đầu suy nghĩ về chiến tranh trên cả hai phơng diện đợc
và mất Đặc biệt, sự mở cửa nền kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trờngtheo định hớng xã hội chủ nghĩa bớc đầu tạo nên sự thay đổi trong t duy Sựthay đổi về bối cảnh lịch sử xã hội dẫn đến sự thay đổi các trạng thái ý thứcxã hội
Nhà văn, hơn ai hết là ngời luôn nhạy cảm với mọi biến đổi xã hội, luôn
là ngời đi tiên phong trong công cuộc đổi mới Do vậy, từ những năm đầukhi đất nớc thoát khỏi chiến tranh và ngay cả trớc đó, trong văn học nghệthuật đã xuất hiện nhiều cây bút tinh anh trong cuộc “nhận đờng” mới Cácnhà văn đã tỏ rõ bản lĩnh cũng nh tài năng trong việc khai thác những đề tàimới mẻ, bớc đầu tạo nên một diện mạo mới mẻ trong văn học Đặc biệt, vớitinh thần “cởi trói” ở Đại hội lần thứ VI của Đảng và Nghị quyết 05 của Bộchính trị BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam về “Đổi mới và nâng cao trình
độ quản lí văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới” đãtạo điều kiện đa văn học đi sang một hớng khác, hớng “đổi mới văn học vì
sự phát triển” (Vũ Tuấn Anh) Đại hội cũng khẳng định mạnh mẽ tinh thầndân chủ hoá trong văn học Tinh thần ấy đợc mở rộng trên nhiều phơng diệntrong đời sống văn học: dân chủ hoá trong quan niệm và đánh giá văn học,dân chủ hoá trong lựa chọn và xử lí đề tài, trong việc chọn kĩ thuật viết… Trần Huyền Sâm trong bài viết
Trang 9Nếu nh văn học giai đoạn 45 – 2000 75 đã tạo dựng đợc thành tựu lớn nhất
là đa văn học trở thành sự nghiệp của quần chúng vì mục đích của một nềnvăn nghệ kháng chiến thì sau 75, văn học đang từng bớc trở lại với chứcnăng và bản chất của chính nó, với những mối quan tâm và đối tợng đặcthù Văn học gắn với hiện thực nhng không chỉ phản ánh hiện thực mà làsuy ngẫm về hiện thực Đối tợng nghiên cứu và khám phá của văn học lúcnày không chỉ là vấn đề của xã hội mà còn là con ngời ở góc độ đời t với tấtcả sự phức tạp và bí ẩn của nó
Xu hớng dân chủ hoá trong đời sống còn giúp nhà văn đợc tự do bộc lộhết bút lực của mình trên mọi phơng thức thử nghiệm, đợc chủ động bộc lộ
sự sáng tạo, đợc khuyến khích trong việc tạo ra dấu ấn phong cách Trongvăn xuôi hôm nay ta sẽ dễ nhận ra một Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở vàtha thiết trong giọng văn, một Nguyễn Huy Thiệp với giọng văn nhát gừng,khô lạnh nhng đầy xao động và đầy uẩn ức bên trong (Vũ Tuấn Anh), mộtPhạm Thị Hoài táo bạo trong cách tân câu văn với lối dùng đa ngôn ngữ nhmột kiểu thử thách và đánh đố ngời đọc Chúng ta còn thấy rõ dấu ấn cánhân trong sáng tác của những cây bút trẻ thể hiện trong cách cảm, cáchnghĩ về hiện thực, về con ngời, trong cách lựa chọn và nỗ lực tạo ra kĩ thuậtviết mới lạ nh Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh, HồAnh Thái, Nguyễn Bình Phơng… Trần Huyền Sâm trong bài viết
Bên cạnh việc dân chủ hoá trong văn học thì những tác động về kinh tế xã hội nh cơ chế mở cửa của nền kinh tế thị trờng, sự xuất hiện của báo
-điện tử, nhiều trang web văn hoá, văn học đã là môi trờng rộng lớn để nhàvăn vẫy vùng và thử nghiệm Việc giao lu, hội nhập kinh tế, văn hoá giữacác nớc trên thế giới cũng nh sự phát triển của công nghệ dịch thuật trongnớc đã ảnh hởng không nhỏ đến đội ngũ sáng tác, thúc giục các nhà vănphải đổi mới nội dung viết, cách viết nh một nhu cầu tất yếu
Nh vậy, các tiền đề chính trị – 2000 xã hội đã tạo điều kiện để mở ra mộtchân trời mới cho văn học cả ở ngời sáng tác lẫn ngời nghiên cứu, phê bình
và tiếp nhận văn học
1.1.2 Các tiền đề thẩm mĩ
Trang 10Văn xuôi sau 1975 đặc biệt là sau đổi mới 1986 dần thoát khỏi sự chiphối của khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn ở văn học giai đoạn 45– 2000 75 Sự chuyển biến trong bối cảnh lịch sử xã hội đã dẫn đến sự thay đổicác trạng thái ý thức xã hội kèm theo sự thay đổi về thị hiếu thẩm mĩ, thay
đổi các thang chuẩn giá trị cuộc sống Với cảm hứng thế sự đời t văn xuôigiai đoạn này đi sâu khám phá bức tranh phức tạp, nhiều chiều của cuộcsống, khai thác những vùng bí ẩn trong thế giới nội tâm, miền vô thức củacon ngời
Các nhà văn đều đa ra những quan niệm riêng của mình về nghề văn.Văn chơng giờ đây không còn là phơng tiện tuyên truyền đạo đức, tuyêntruyền chính trị nh một thời nó đã làm trong hoàn cảnh đặc biệt là đất nớc
có chiến tranh, mà văn chơng giờ đây còn đợc xem nh một trò chơi, mộtphép ứng xử Với Phan Thị Vàng Anh, văn chơng là một trò chơi “nhngkhông đợc chơi ẩu vì phải chơi với nhiều ngời”, hơn nữa đây lại là một “tròchơi nguy hiểm” Với Phạm Thị Hoài, văn chơng là “một trò chơi vô tămtích” và “viết là một phép ứng xử”, trớc hết là ứng xử với bản thân mình,sau là ứng xử với môi trờng và môi trờng ở đây là toàn bộ những gì mà tựnhiên và con ngời tạo ra kể cả những di sản quá khứ và những tín hiệu cònmơ hồ về tơng lai
Quan niệm về nghề văn khác đi nên cách chọn đề tài và phơng thứcphản ánh cũng phải khác Nhà văn nhìn vào hiện thực một cách tỉnh táo,phản ánh hiện thực trong tính đa chiều và cả sự bí ẩn Bên cạnh đó, nhà văncũng xác lập mối quan hệ bình đẳng và khá thân mật với độc giả Dành cho
độc giả quyền kết luận cuối cùng cho tác phẩm của mình Ngời đọc vừa làngời đồng sáng tạo vừa là ngời phê bình tác phẩm Nhà văn đối thoại cùng
độc giả bằng cách nhìn dân chủ, “ngời kể chuyện tin rằng mình khôngmách nớc cho ai, lên lớp cho ai, thậm chí nhận chỗ đứng thấp hơn nhân vật
và bạn đọc” (Đặng Anh Đào) Nhiệm vụ của nhà văn không phải là ngời nói
ra chân lí mà là thức tỉnh ý hớng về chân lí hoặc là ngời thức tỉnh về phẩmgiá con ngời cho bạn đọc
Nh vậy, sau 1975 với những tiền đề chính trị – 2000 xã hội – 2000 thẩm mĩ thìvăn học đã có sự thay đổi cả về chất và lợng Nền văn học đứng trớc nhiềucơ hội song cũng gặp nhiều thách thức, đòi hỏi nhà văn phải tự nâng mình
Trang 11lên, nỗ lực không ngừng để nắm bắt cơ hội, đáp ứng những đòi hỏi ngàycàng cao của độc giả Văn xuôi Việt Nam sau đổi mới phát triển trongnhững tiền đề khách quan cũng nh từ những nhân tố chủ quan của chínhnền văn học đổi mới.
1.2 Những đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 75
1.2.1 Đổi mới về t duy nghệ thuật
Mỗi thời đại văn học do ảnh hởng của các yếu tố chính trị – 2000 xã hội,của tầm nhận thức bao giờ cũng đa lại một kiểu t duy nghệ thuật nhất định.Văn học đổi mới (đợc tính từ 1986 đến nay) với cảm hứng “sự thật về hiệnthực” và ảnh hởng của các yếu tố chính trị – 2000 xã hội đã có sự thay đổi trong
t duy nghệ thuật T duy sử thi đợc thay bằng t duy tiểu thuyết, t duy thế sự
đời t Trong văn học xuất hiện tiếng nói đối thoại Trớc đó văn học giai
đoạn 45 – 2000 75 đã phát hiện và sáng tạo con ngời quần chúng trên mọi
ph-ơng diện Văn học giai đoạn này đã tạo ra đợc những hình tợng “con ngờicộng đồng” với tầm vóc lớn lao Để tạo dựng những hình tợng đó thì cảmhứng sử thi, ngợi ca đã vô cùng thích hợp Thế nhng, văn xuôi sau 75 đãchuyển dần từ t duy sử thi sang t duy tiểu thuyết Cảm hứng sáng tạochuyển dần từ ngợi ca, tự hào đến chiêm nghiệm, lắng đọng suy t Và thayvì cách nhìn đơn giản, rạch ròi thiện - ác, bạn - thù, cao cả - thấp hèn… Trần Huyền Sâm trong bài viết làcách nhìn đa chiều phức hợp về hiện thực và số phận con ngời Hiện thựckhông còn là hiện thực cộng đồng rộng lớn mà là hiện thực đời thờng vớinhiều ngóc ngách bí ẩn, phức tạp
Bên cạnh t duy mới về hiện thực thì t duy nghệ thuật về con ngời cũng
đã có nhiều biến đổi Văn xuôi đang cố gắng thiết lập những giá trị mới,những thớc đo mới về con ngời, khảo sát ráo riết số phận con ngời cá nhân,
cố gắng khám phá cái thế giới bí ẩn, khuất lấp đầy bất trắc bên trong mỗicon ngời
Nhìn vào văn xuôi sau 75 phải “ghi nhận về sự đổi mới của t duy nghệthuât” từ đó thấy đợc sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con ngời vànghệ thuật trần thuật Bởi lẽ, mọi cách tân nghệ thuật đều xuất phát từ sựthay đổi t duy
Trang 121.2.2 Đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con ngời
Con ngời là đối tợng khám phá và tái hiện trọng tâm của văn học Conngời trong văn học là sự tái hiện có chọn lọc từ con ngời ngoài đời sốngthông qua sáng tạo của nhà văn để sao cho vừa có giá trị thể hiện những nét
cụ thể cá biệt, không lặp lại, vừa có khả năng khái quát làm bộc lộ bản chấtcủa loài ngời hay một quá trình đời sống theo quan niệm của ngời nghệ sĩ.Quan niệm nghệ thuật về con ngời vẫn đợc coi là thớc đo cho mọi tiến bộnghệ thuật từ xa đến nay
Nếu nh con ngời trong văn xuôi 45 – 2000 75 là con ngời dờng nh chỉ cótính giai cấp và tính giai cấp này quy định mọi phẩm chất khác Con ngời đ-
ợc nhìn nhận dới góc độ cộng đồng chứ không phải ở góc độ đời t, cá nhân.Thì sau 75, con ngời trong văn xuôi không có u ái, phân biệt cho bất kì kiểungời nào Con ngời trong văn xuôi 45 – 2000 75 là con ngời công dân nguyênphiến, đơn trị thì con ngời trong văn xuôi sau 75 là con ngời đa trị, lỡngcực, không trùng khít với địa vị xã hội của mình, không thể biết hết, biết tr-
ớc Đấy là con ngời đa đoan, đa sự, nhiều suy t, lắm bi kịch, dễ sa ngã,khủng hoảng niềm tin… Trần Huyền Sâm trong bài viết Con ngời đợc nhìn từ nhiều góc độ khác nhau: conngời của cõi tâm linh, miền vô thức, con ngời với những dục vọng, bảnnăng… Trần Huyền Sâm trong bài viết
Con ngời xuất hiện trong các tác phẩm văn xuôi sau 75 là con ngời trầntục với tất cả bản chất tự nhiên của nó: thiên thần - ác quỷ, thiện - ác, tốt -xấu, cao thợng - thấp hèn, ý thức - vô thức Các nhà văn nhìn con ngời trongtrạng thái lỡng hoá, không phân cực trong tính cách Đó là con ngời vừamang trong mình “tí tri thức - tí thợ cày, tí điếm - tí con buôn, tí cán bộ - títhằng hề, tí phật và ma, mỗi thứ tí ti” (Nguyễn Duy) Mỗi con ngời bây giờ
là một thế giới riêng với những suy nghĩ, hành xử không ai giống ai và cácnhà văn đã lắng nghe, diễn tả đầy đủ bản chất, đi sâu vào tận ngóc ngáchcủa những tâm t riêng, những nhận thức, những kinh nghiệm cuộc sống,những lo âu, trăn trở, dằn vặt, đớn đau của mỗi con ngời giữa cuộc đời
Nhân vật ngời hoạ sĩ trong tác phẩm Bức tranh của Nguyễn Minh Châu
trong lúc đối diện với chính mình đã nhận ra “phần thiên thần và ác quỷ”,
“rồng phợng và rắn rết”, “cao cả và thấp hèn”… Trần Huyền Sâm trong bài viết trong mỗi con ngời Hàng
Trang 13loạt nhân vật trong văn xuôi sau này nh Lão Khúng (Phiên chợ Giát), Quỳ (Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng)… Trần Huyền Sâm trong bài viết
đều là những nhân vật phức tạp nh vậy Không những thế, nhân vật trongnhiều sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh hay Hồ Anh Thái… Trần Huyền Sâm trong bài viếtcòn là những con ngời mấp mé bên bờ vực giữa cái thiện và cái ác với mộtranh giới thật mong manh Con ngời giờ đây còn luôn phải tự nhận thức vềmình để cố gắng hoàn thiện nhân cách
Con ngời tâm linh là biểu hiện thứ hai trong khái niệm nghệ thuật vềcon ngời trong văn xuôi sau 75 Văn chơng đơng đại khắc họa con ngờikhông chỉ ở tính cách, ở những điều có thể giải thích đợc bằng lí tính màcòn khám phá con ngời ở cõi tâm linh, huyền ảo, khám phá những dòng ýthức đan xen vào nhau nh một ma trận cực kì phức tạp của cái thế giới bêntrong đầy bí ẩn “Nó đem lại sự phong phú trong cấu trúc nhân cách và gópphần xây dựng một quan niệm toàn diện về con ngời, đối lập với t duy duy
lí, cằn cỗi, máy móc” (Nguyễn Thị Bình)
Thời điểm con ngời dễ nắm bắt tiếng nói trong bản thân mình nhất đó làkhi con ngời rơi vào trạng thái khủng hoảng niềm tin hay khi ý thức đợc về
điều ác, ngồi đối diện với chính mình bằng sự sám hối, thức tỉnh Các nhàvăn đã nắm bắt thời điểm đó để đi sâu khai thác “con ngời ở bên trong con
ngời” Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành - Nguyễn Minh Châu, Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai, Cõi ngời rung chuông tận thế - Hồ Anh Thái, Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh, Ngời sông Mê - Châu Diên… Trần Huyền Sâm trong bài viết là những tácphẩm chạm tới thế giới ấy Việc khai thác yếu tố tâm linh trong văn xuôisau 75 đã giúp cho độc giả nhận thức con ngời ở nhiều bậc thang giá trị,
đánh giá con ngời ở những tọa độ ứng xử khác nhau
Trong quan niệm nghệ thuật về con ngời, văn xuôi sau 75 không chỉphát hiện ra con ngời đa trị, con ngời tâm linh, mà còn phát hiện ra con ng-
ời tự nhiên, bản năng Con ngời tự nhiên trong văn xuôi sau 75 là sự tiếp nốicao hơn con ngời tự nhiên trong các sáng tác của Nam Cao, Vũ TrọngPhụng… Trần Huyền Sâm trong bài viết Các nhà văn đơng thời nhìn nhận con ngời với những khát vọngbản năng nh điều bình thờng, tất yếu ở tất cả mọi ngời chứ không xem đó là
điều tiêu cực, bệnh hoạn Con ngời đợc khám phá từ bản năng làm mẹ, bảnnăng tình dục Trong một thời gian dài thì tình dục là một đề tài “kị huý”trong các sáng tác Văn học những năm gần đây quan tâm nhiều hơn đến
Trang 14con ngời tự nhiên bản năng nh một sự bổ sung quan niệm nghệ thuật về conngời.
Văn học sau 75 mặc dù viết về số phận cá nhân với nhiều ngóc ngách tốităm của tâm hồn nhng vẫn nỗ lực xây dựng con ngời có chiều hớng lớn laomang tầm vóc nhân loại
Trong xu thế hiện nay, vấn đề nhân tính và những vấn đề lớn lao, thờngtrực, phổ quát của nhân loại nh tình yêu, hôn nhân đợc văn học tập trungphản ánh Cùng với tình yêu và hạnh phúc thì tôn giáo cũng là vấn đề muônthuở của nhân loại Tìm đến tôn giáo con ngời luôn có t tởng hớng thiện, từ
bi hỉ xả hoặc thú tội, nhận thức lỗi lầm
Thể hiện đợc con ngời nhân loại, văn xuôi sau 75 đã dần vơn lên tầmcao phù hợp với yêu cầu của thời đại
1.2.3 Đổi mới về nghệ thuật trần thuật
Văn xuôi sau 75 có sự thay đổi mạnh mẽ về nghệ thuật trần thuật thểhiện rõ nét trên các phơng diện: điểm nhìn đến ngời kể chuyện, kết cấu tácphẩm, ngôn ngữ, giọng điệu Điều đó đã tạo nên sự lôi cuốn đối với độc giả
đơng đại
Có một xu hớng mới trong tiểu thuyết đơng đại đó là sự xuất hiện củanhiều ngời kể chuyện với nhiều điểm nhìn khác nhau Điều này đã phá vỡtính đơn âm, làm mới hình thức kể, gia tăng tính đa dạng nhiều chiều chobức tranh hiện thực
Ngời đọc sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi đọc những tác phẩm trong thờikì này Dờng nh không còn bóng dáng của ngời kể chuyện biết hết, biết tuốtdẫn dắt ngời đọc theo chiều tuyến tính của các sự kiện Thay vào đó lànhững ngời kể chuyện không đáng tin cậy, không chắc chắn về những điều
mình kể, mình biết Đọc Nỗi buồn chiến tranh, Thoạt kì thuỷ hay Ngời sông Mê… Trần Huyền Sâm trong bài viết chúng ta dễ bắt gặp kiểu nhân vật nh vậy
Việc tạo ra điểm nhìn và ngời kể chuyện nh vậy sẽ tạo nên tính dân chủtrong văn học, gợi nên ý thức phản tỉnh cho độc giả Độc giả sẽ không còn
Trang 15là ngời tiếp nhận tác phẩm một cách thụ động nh trớc mà phải suy nghĩ,thậm chí đồng sáng tạo với nhà văn Hơn thế nữa, ngời đọc hôm nay phải tựnâng tầm hiểu biết của mình để có thể thâm nhập vào thế giới nghệ thuậtcủa tác phẩm nếu muốn hiểu đợc những tâm sự mà nhà văn muốn gửi gắm.
Cũng dễ thấy rằng trong văn xuôi sau 75 thì kết cấu tiểu thuyết có nhiềubiến đổi hơn cả vì “tiểu thuyết là thể loại văn chơng duy nhất đang biến đổi
và còn cha định hình và cũng là thể loại văn chơng duy nhất luôn biến đổicủa bản thân hiện thực” [4]
Nhìn vào tiểu thuyết sau 75 sẽ nhận thấy có nhiều cách tân Đó là sựxuất hiện của các kết cấu mới nh: kết cấu phân mảnh, kết cấu mở thay vìkhép kín, kết cấu tiểu thuyết trong tiểu thuyết, kết cấu theo kiểu luận đề… Trần Huyền Sâm trong bài viết
Biểu hiện của cấu trúc phân mảnh đó là nhìn vào bề mặt văn bản tiểuthuyết sau 75 sẽ thấy một hiện tợng khác so với truyền thống khi phân ch-
ơng, phân đoạn với những cách quảng đợc đánh dấu bằng hoa thị Phân chia
văn bản thành nhiều phần ngắn và không đều nhau Thiên sứ của Phạm Thị
Hoài gồm 19 chơng nhng có chơng có 2 trang, có chơng 7 trang Cực đoan
hơn trong Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh có 13 chơng có chơng chỉ
có 3 dòng Các đoạn phân cách cũng cực đoan không kém đó là 13 chơng
và 2 dòng trong Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình Phơng trong kết cấu 2
phần của tác phẩm: A – 2000 Tiểu sử và lí lịch nhân vật, B – 2000 phần nội dungchính… Trần Huyền Sâm trong bài viết Đây không chỉ là trò chơi cấu trúc văn bản nhằm lạ hoá nghệ thuậttrần thuật, mà còn gây chú ý cho ngời đọc thay đổi sự tập trung hay phi tậptrung của việc đọc văn bản một cách thật biến hoá Nó tạo nên trên bề mặtvăn bản tiểu thuyết những khoảng trống có tác dụng th giãn, nhất là tạo ranhịp điệu trần thuật linh hoạt: lúc tha lúc mau, khi cà kê khi cà cuống, lúc
để nghĩ ngợi chiêm nghiệm lúc bỏ qua, chuyển kênh, rợt đuổi các hình ảnh
ý tởng Loại văn bản này khá năng động và biến hoá
Tiểu thuyết truyền thống thờng có kết cấu khép kín và tĩnh tại Nhà vănthờng kết cấu tác phẩm theo nguyên tắc nhân quả, kết thúc có hậu kiểu “g-
ơng vỡ lại lành”, đoàn tụ, sáng tỏ mọi vấn đề Trong khi đó tiểu thuyết đơng
đại thờng có kiểu mở đầu đột ngột và kết thúc dở dang trong logic mở thayvì khép kín, gói gọn Câu chuyện thờng không có hồi kết Sự dở dang trongkết thúc của mỗi tiểu thuyết để ngời đọc vừa tự suy luận vừa tự nhận thức
Trang 16vấn đề Kết cấu mở thay vì khép kín đã mở ra chiều kích không cùng ýnghĩa những t tởng và giá trị nghệ thuật cho hầu hết các tiểu thuyết ViệtNam đơng đại Đây cũng là một điểm khác biệt cơ bản về nghệ thuật trầnthuật so với tiểu thuyết Việt Nam truyền thống.
Bên cạnh đó đề cao tính dân chủ của tiểu thuyết các nhà văn thờng hé lộcông việc sáng tác của mình bằng hình thức kết cấu tác phẩm theo kiểutruyện trong truyện, tiểu thuyết trong tiểu thuyết ở đó bản thảo của mộtnhân vật đợc lồng vào nhân vật chính Lối kết cấu hiện đại, “cắt dán” nhiềuloại văn bản trong một cuốn sách, đan xen nhiều câu chuyện trong mộttruyện có tác dụng mở rộng không gian nghệ thuật của tác phẩm, nới rộngnhững chiều kích hiện thực đồng thời phản ánh quan niệm về một thế giớikhông dễ lí giải, xáo trộn và vụn nát
Ngoài ra hầu hết các tiểu thuyết đơng đại đều có tính luận đề Mỗi tácphẩm là “một mô hình động của một chuỗi bất đối xứng gồm nhiều tuyến,nhiều chiều kích với nhiều lối vào nhng lại không có một trục giữa hay mộttrung tâm, nó giống nh một cơ thể sống để mở, liên tục lớn lên, liên tụcphập phồng rung động, sự trơng nở các lối vào ơm mầm cho sự nhân bộinghĩa, nó là sự liên hệ thờng hằng với chính mình nhng đồng thời cũng vớinhững gì ở bên ngoài nó” (Mihaziloic Ziasmamina)
Nh vậy tiểu thuyết đơng đại Việt Nam đã có nhiều biến đổi so vớitruyền thống về nghệ thuật kết cấu tác phẩm Mỗi kiểu kết cấu đợc xem
nh là một sự thích ứng linh hoạt, đồng thời cũng là những sáng tạo nghệthuật đắc đạo của các nhà văn trong quá trình đổi mới, cách tân, thử nghiệm
ở thể loại văn học luôn vận động và phát triển này
Nếu nh giọng văn ở giai đoạn văn học 45 – 2000 75 là thứ giọng trữ tìnhngọt ngào, đằm thắm hay giọng hào hùng, lạc quan phơi phới Nhà vănnhân danh cộng đồng mà ngợi ca, tự hào về những con ngời – 2000 những thế
hệ làm rạng ngời lịch sử dân tộc Thì văn học sau 75 lại gắn với cảm hứngthế sự đời t nên giọng điệu và ngôn ngữ cũng mang tính cá thể hoá cao,giọng điệu nặng về lí giải, phân tích tâm lí… Trần Huyền Sâm trong bài viết Từ ngôn ngữ đậm màu sắcchính trị câu chữ bộn bề dàn trải chuyển sang thứ ngôn ngữ mang nhãnquan đời thờng, thứ ngôn ngữ chúng ta vẫn nói năng giao tiếp hàng ngày,thậm chí còn có những câu chửi thề, chửi tục Trong đối thoại và độc thoại
Trang 17nội tâm tính cá thể hoá của ngôn ngữ nhân vật đợc bộc lộ rõ nét Bên cạnh
đó, chúng ta cũng bắt gặp những câu văn mang đậm nét khái quát, triết lí
Đó là biểu hiện của một cách viết đòi hỏi trình độ tiếp nhận ở một mức độnhất định mới có thể hiểu đợc tác phẩm
Các nhà văn đơng đại có một lối ứng xử ngôn ngữ rất tự do, nhiều khi làphá cách nhằm đem lại một hiệu ứng trực tiếp, mạnh mẽ trong tiếp nhậncủa ngời đọc Lời văn trong truyện Nguyễn Huy Thiệp thờng đợc rút gọn,giản lợc đến mức độ tối đa, nhất là ở lời trần thuật Lối thuật, kể ngắn gọn,khách quan thay thế cho lối kể tỉ mỉ, phân tích cặn kẽ Bên cạnh đó nhiềutruyện của Nguyễn Huy Thiệp còn xuất hiện những đoạn thơ đan xen vàomạch văn xuôi Phạm Thị Hoài lại có cách sử dụng ngôn ngữ dày đặcnhững biểu tợng và một cú pháp rất tự do, một cách nói cố ý khiêu khíchnhững gì cũ mòn, công thức, tẻ nhạt
Một trong những biểu hiện của tinh thần dân chủ hoá trong văn học đổimới là sự xuất hiện trở lại của tiếng cời với nhiều sắc độ khác nhau Ngônngữ văn xuôi đợc gia tăng chất hài cũng là một cách tạo ra sự bình đẳnggiữa tác giả với bạn đọc, tạo nên sức hấp dẫn thẩm mĩ cho văn chơng Ngônngữ văn xuôi sau 75 không còn đơn thuần là ngôn ngữ thuần Việt mà còn
có sự đan xen của nhiều ngôn ngữ Đọc tiểu thuyết Phạm Thị Hoài hay củaThuận chúng ta sẽ bắt gặp tính đa ngôn ngữ Đó là việc “chua” hàng loạtnhững từ tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Trung… Trần Huyền Sâm trong bài viết mà không có mộtlối cắt nghĩa lí giải nào Vậy ý đồ sáng tạo ấy nhằm mục đích gì? Phảichăng nhà văn muốn ngời đọc hôm nay không đợc tự bằng lòng với nhữnggì mình có mà phải nâng hiểu biết của mình lên để tiếp nhận văn học Đócũng chính là kết quả của quá trình hội nhập và toàn cầu hoá, của tinh thầndân chủ hoá trong văn xuôi sau 75
1.3 Bảo Ninh và những nỗ lực cách tân tiểu thuyết
1.3.1 Góp thêm một cách nhìn mới về chiến tranh
Chiến tranh là một đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam trong giai
đoạn 45 -75 và cũng đợc khai thác nhiều trong 10 năm đầu sau chiến tranh.Viết về cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, văn học 45 - 75 đã xâydựng nên những hình tợng đẹp đẽ, kì vĩ và lớn lao Đó là anh Núp, Tnú, chị
Trang 18Sứ, chị út Tịch… Trần Huyền Sâm trong bài viết Văn học đã xây dựng đợc những tấm gơng về những conngời cao cả, chiến đấu anh dũng, luôn sống với lí tởng Tuy nhiên, xây dựngcon ngời nh vậy văn học giai đoạn này đã chứa đựng những thiếu sót Đó là
sự thiếu sót trong cách nhìn về con ngời, bởi con ngời không chỉ có phần lítrí mà còn có phần xúc cảm, không chỉ có phần con ngời cộng đồng mà còn
có phần con ngời cá nhân với một thế giới nội tâm đầy bí ẩn và phức tạp.Cho nên đổi mới văn xuôi sau 75, các nhà văn đã nỗ lực bồi đắp thêmnhững thiếu sót đó vào văn học Chính vì vậy, nhìn lại chiến tranh ngời takhông chỉ thấy cái đợc mà còn thấy cả những hi sinh, mất mát Nhìn vềchiến tranh nh một “thời xa vắng” đầy đau đớn để thấy đợc phần nhân tính
thực sự ở con ngời Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đợc viết trên một
kiểu nhận thức về chiến tranh nh thế Tiểu thuyết đợc ngời ta quan tâm đến
ở “cái nhìn nghịch lí về chiến tranh Nó phức tạp hơn cách nhìn quen thuộctrong nhũng tác phẩm viết về chiến tranh trớc đó, nó càng phức tạp hơn khivơn tới cõi xa xăm bên ngoài biên giới của t duy đạt tới cõi hoà đồng giữangời sống, ngời chết, hạnh phúc và đau khổ, hồi ức và ớc mơ… Trần Huyền Sâm trong bài viết”[13] Trongcuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh những ngày sau hoà bình không có “hoa” chỉ
có “Nỗi buồn chiến tranh ” Đó là nỗi buồn đợc sống sót, là tình thơng vôhạn đối với những tất cả những ngời nằm xuống không phân biệt “ngời vinh
kẻ nhục” “ngời hùng kẻ nhát” Nỗi buồn chiến tranh – 2000 một nỗi buồn cao
cả, cao hơn hạnh phúc và vợt trên mọi đau khổ” [13] Chính vì vậy, nókhông phải là cách nhìn duy nhất về chiến tranh mà là thêm một cách nhìnmới về chiến tranh Từng là một ngời lính trở về với cuộc sống đời thờngBảo Ninh hiểu hơn ai hết nỗi lòng của một ngời lính trận, những đau thơng
họ đã trải qua và chịu đựng trong chiến tranh và những ám ảnh trong cuộc
đời thực hôm nay cho nên Bảo Ninh đã “độc lập tác chiến trong một quátrình rong ruổi ngợc” Anh can đảm chấp nhận một lộ trình dốc đứng Lầntrở về quá khứ Viết về nó trong niềm hối thúc, một sự đam mê, ám ảnh vàsám hối
Viết về chiến tranh, Bảo Ninh đã tạo ra nhiều điểm nhìn về cái “convật gớm ghiếc” ấy và để cho các nhân vật nói lên quan điểm của mình vềnó: “Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, không đàn ông, không đànbà” và con ngời trong chến tranh phải chịu sự mất mát không chỉ về mặt thểxác mà cả tâm hồn họ cũng bầm dập không đợc yên ổn, không còn vẹnnguyên Tình yêu của họ trong chiến tranh – 2000 cái điều cao cả, thiêng liêngnhất cũng trở nên méo mó và không tuân theo những quỹ đạo vốn có Kiên
Trang 19đã từng nói với Phơng rằng: “Đời anh chỉ có hai tình yêu Một là mối tìnhcủa anh và Phơng hồi trớc chiến tranh Và sau chiến tranh là mối tình khác,cũng giữa anh với nàng” [20, 170] Nh vậy là chính tình yêu là thứ đã bị gạt
ra khỏi chiến tranh bởi trong những ngày tháng khủng khiếp ấy nó đãkhông còn nguyên hình nguyên thể để mà gọi tên nữa
Không phải ngẫu nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Bảo Ninh bôinhọ quân đội bởi ngời lính trong chiến tranh của Bảo Ninh gần nh khác lạvới những ngời lính bấy lâu nay trong văn học Ngời lính trong tiểu thuyếtcủa Bảo Ninh đang sa ngã, đang mất dần nhân tính nhng đáng nói hơn cảngời lính ấy đang cố sức để níu kéo phần nhân tính còn sót lại mà chiếntranh đã đánh cho bầm dập, tan nát
Bằng cái nhìn mới lạ về chiến tranh Bảo Ninh đã buộc ngời đọc phảitrăn trở suy nghĩ và xem xét lại những giá trị của nó
1.3.2 Xây dựng nhân vật nh một nỗ lực cách tân.
Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu thì sau 75, với tinh thần dânchủ hoá cùng với nỗ lực cách tân của nhiều nhiều cây bút tài năng thì vănxuôi giai đoạn này đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu ở cao trào đổi mới.Văn học sau 75 đã có một t duy nghệ thuật mới mẻ trong nhìn nhận và đánhgiá con ngời Văn học sau 75 cũng đang thử nghiệm những những bớc đitrên con đờng cách tân nghệ thuật trần thuật mà ở đó quan niệm nghệ thuật
về con ngời đã chi phối không nhỏ đến kết cấu, cách xây dựng nhân vật,việc sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu Tất cả nhằm tạo nên một diện mạomới cho văn học
Nhìn nhận lại về Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, chúng tôi thấy
đây là một tiểu thuyết hay, có nhiều cách tân mới mẻ Tuy cho đến nay vẫn
là tiểu thuyết duy nhất của nhà văn Bảo Ninh song tác phẩm vẫn đợc đánhgiá cao, đợc xem là có “duyên” Tiểu thuyết đã thể nghiệm trên một kết cấukhá mới mẻ đó là kiểu kết cấu dòng ý thức, các tình huống, sự kiện, nhânvật đều trôi chảy theo dòng hồi ức của nhân vật Kiên Tác phẩm cũng đã tạo
ra đợc nhiều điểm nhìn với hai ngời kể chuyện và nhiều cách tân trong ngônngữ và giọng điệu Tuy nhiên nét nổi bật mà chúng tôi lu tâm trong tiểuthuyết của Bảo Ninh lại là thế giới nhân vật rất đặc sắc Không nỗ lực xây
Trang 20dựng nhân vật ngời lính nh một điển hình văn học, Bảo Ninh tạo nên hình ợng ngời lính với cá tính riêng t nhất Tiếng nói của nhân vật trong tiểuthuyết không phải là đại diện cho cộng đồng mà là tiếng nói chủ quan, cánhân, cá thể Hơn thế, tác phẩm còn đi sâu khám phá thế giới nội tâm củanhân vật, chạm tới miền vô thức, cõi tâm linh… Trần Huyền Sâm trong bài viết
Bằng những nỗ lực trong cách xây dựng nhân vật cũng nh những tìm tòitrong khai thác và xử lí đề tài, Bảo Ninh đã gợi mở những suy nghĩ và hớngnghiên cứu cho lí luận văn học ông xứng đáng là một trong những cây búttiêu biểu của văn xuôi đổi mới
Tiểu kết chơng 1
ở chơng 1 chúng tôi đã trình bày và phân tích những tiền đề xã hội – 2000thẩm mỹ của giai đoạn sau 1975 để từ đó chứng minh rằng tiến trình đổimới văn học là tất yếu, hợp quy luật đời sống và sáng tạo nghệ thuật Chúngtôi cũng đã phác thảo về những phơng diện đổi mới của văn xuôi đơng đại,trong đó tập trung mô tả, phân tích những hiện tợng cách tân độc đáo, gây
đợc sự chú ý của d luận Đó thực sự là những hớng gợi mở, hé lộ một giai
đoạn phát triển của văn xuôi Việt Nam Đặt Bảo Ninh vào bối cảnh chung
đó, chúng tôi nhận thấy cây bút này có một vai trò quan trọng trong việc
góp phần tạo dựng một xu hớng tiểu thuyết mới Nỗi buồn chiến tranh
xứng đáng đợc xem nh một trong những điểm mốc trong dòng chảy văn họcViệt Nam sau 1975
Trang 21
Ch ơng 2: Những đặc sắc về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
2.1 Những nét mới về nhân vật sau 75
2.1.1 Giới thuyết về nhân vật văn học
Nhân vật văn học là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân trung tâm củamỗi tác phẩm văn học Nhân vật văn học là “con ngời đợc miêu tả trong vănhọc bằng phơng tiện văn học” Thực ra, khái niệm nhân vật thờng đợc quanniệm với một phạm vi rộng hơn nhiều Đó không chỉ là con ngời mà còn cóthể là các sự vật, loài vật hoặc các hiện tợng Song, các sự vật, hiện tợng đó
ít nhiều đều mang bóng dáng tính cách của con ngời, đều là những phơngthức khác nhau để biểu hiện con ngời
Nhân vật văn học có thể có tên hoặc không có tên, đợc xây dựngbằng nhiều phơng tiện, biện pháp khác nhau Bằng ngôn từ nghệ thuật, nhàvăn đã khắc họa, xây dựng nên nhân vật của mình thông qua các chi tiết vềngoại hình, hành động, tâm lý, ngôn ngữ cũng nh môi trờng hoàn cảnh
Nhân vật văn học là những con ngời cụ thể trong một hoàn cảnh sốngnhất định, song nó cũng chỉ “là một hiện tợng nghệ thuật mang tính ớc lệ,
đó không chỉ là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con ngời màchỉ là sự thể hiện con ngời qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghềnghiệp, tính cách” Bởi nhân vật văn học là sản phẩm sáng tạo của nhà văntrên cơ sở h cấu từ những chất liệu của đời sống Vì thế, không nên đồngnhất nhân vật với con ngời có thật của đời sống, kể cả khi nó đựơc xây dựngnên từ những nguyên mẫu thực ngoài đời
Xét từ những góc độ khác nhau, ngơì ta có thể chia nhân vật văn họcthành nhiều kiểu: Xét vai trò nhân vật trong tác phẩm văn học ta có nhânvật chính, nhân vật phụ; Xét về phơng diện hệ t tởng, về quan hệ đối với lí t-ởng xã hội của nhà văn ta có nhân vật chính diện, nhân vật phản diện; Dựavào thể loại văn học ta có thể nói tới nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhânvật kịch; Dựa vào cấu trúc hình tợng, nhân vật đợc chia thành nhân vật chứcnăng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật t tởng, nhân vật biểutợng Nhng sự phân chia này chỉ mang tính chất tơng đối, nó chỉ nhằm
Trang 22nhấn mạnh nét nổi trội, nét đặc trng cơ bản của một nhân vật nào đó Ranhgiới phân chia giữa các nhân vật không phải lúc nào cũng rạch ròi Đặc biệt
là khi văn học hớng tới thể hiện con ngời trong tính đa chiều, văn học nhìnnhận con ngời từ nhiều phơng diện, nhiều góc ngách thì sự phân chia lạicàng mong manh
2.1.2 Nhân vật trong văn xuôi Việt Nam truyền thống
Trong văn học cổ, nhân vật thờng có mẫu mực định trớc, đợc chiathành nhiều tuyến với đặc tính thiện ác rõ ràng Những ngời hiền lành thìlời nói, vóc dáng thanh nhã dịu dàng Những kẻ ác thì mọi cử chỉ, hànhtung đều ngợc ngạo, thâm hiểm Đó là những nhân vật chức năng Đếnnhân vật trong văn xuôi trung đại thì thờng đi kèm với những lí tởng luân lí
đạo đức Mọi cốt cách của con ngời đều đợc quy định bởi những khuônmẫu cho nên thiếu đi tính sinh động, sự sáng tạo và cá tính
Đến những tiểu thuyết mở đầu cho nền văn học nớc nhà, dờng nh bắt
đầu có sự chuyển biến về nghệ thuật xây dựng nhân vật Những tác phẩm
mở đầu đặt nền móng nh Kim Anh lệ sử, Tố Tâm, Cha con nghĩa nặng
đều cố gắng tạo nên những nét riêng cho các nhân vật nhng nhìn chung còn
đơn sơ, mới chỉ dừng lại ở hình bóng của con ngời thời đại Riêng trongsáng tác của Hồ Biểu Chánh – 2000 một cây bút tiểu thuyết hiện thực tiêu biểubậc nhất trớc 1930 ở Việt Nam đã tái hiện đợc cuộc đời của rất nhiều loạingời, nhiều tầng lớp khác nhau của xã hội Nam Bộ nhng vẫn cha có nhânvật nào điển hình, ấn tợng Nhân vật thờng phân thành hai tuyến rõ ràng:con nhà giàu thì phi nghĩa độc ác, con nhà nghèo thì nhân nghĩa nghèo khổ.Hai tuyến nhân vật này xung đột với nhau, quyết định bởi hai yếu tố: hoàncảnh và đạo đức, bởi quan niệm về đạo lí của tác giả và tác giả thờng dùngtiểu thuyết để “tải đạo”
Đến giai đoạn 1930 - 1945, tiểu thuyết Việt Nam nổi lên hai dòngchính là tiểu thuyết lãng mạn Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết hiện thực phêphán với các tên tuổi nh Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng Tiểuthuyết Tự lực văn đoàn đã xây dựng đợc nhiều nhân vật điển hình và cácnhà văn đã đặc biệt đi sâu vào thể hiện nhân vật ở những cảm giác mơ hồ,những khoảnh khắc tâm trạng, những rung động của tâm hồn dù cha cónhiều thành công Họ đã có nhiều cách để thâm nhập và khám phá thế giới
Trang 23nội tâm bên trong con ngời nh: phân tích tâm lí nhân vật bằng độc thoại nộitâm, tả cảnh ngụ tình, phân tích chất phức tạp trong cấu trúc nhân cách
Nổi bật hơn, với tiểu thuyết hiện thực phê phán các nhà văn đã khôngnhững phân tích thành công tâm lý nhân vật qua việc di chuyển điểm nhìntrần thuật mà còn tạo ra những nhân vật tính cách, nhân vật t tởng bên cạnhnhững nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, đã tạo ra đợc những nhânvật điển hình trong hoàn cảnh điển hình Có thể nói, xây dựng nhân vật lànhững kiểu con ngời nếm trải, nhiều đau đớn, chua chát, vất vả, day dứttrong chiều sâu nhân cách, diễn biến tâm lý tiểu thuyết Việt Nam giai
đoạn này đợc xem là có nhiều cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhânvật
Tiểu thuyết 1945 - 1975 đi sâu vào thể hiện nhân vật là những con ngờicộng đồng của ba mơi năm chiến tranh ác liệt Nhân vật tiểu thuyết lúc nàythờng đẩy về hai phe địch - ta , phân tuyến rõ ràng chính diện phản diện,gắn với lí tởng dân tộc Những nhân vật chính diện thờng cũng là nhân vậttrung tâm của tác phẩm: chị Sứ - Hòn Đất, út Tịch - Ngời mẹ cầm súng,Khuê, Lữ - Dấu chân ngời lính Các nhà văn lúc bấy giờ muốn đa các nhânvật lên thành “ kích thớc cỡ lớn của dân tộc, của thời đại” (Nguyễn ĐăngDuy) Vì vậy, họ đặc biệt chú ý trong việc thể hiện hành động và lí tởng củanhân vật hi sinh cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc Tuy nhiên,
do tuyệt đối hoá tính giai cấp, lí tởng cộng đồng nên hầu hết tiểu thuyết giai
đoạn này phủ nhận tự do sáng tạo và phủ nhận sự đa dạng, cá tính của nhânvật Phải chờ đến văn học sau đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam mới thực sự có
sự chuyển biến về mặt nghệ thuật xây dựng nhân vật
2.1.3 Nhân vật trong văn xuôi Việt Nam sau 75
Quan điểm truyền thống về nhân vật cho rằng có thể có “nhiều conngời trong một con ngời” Văn xuôi Việt Nam đã có những điển hình bất
hủ nh: Xuân tóc đỏ, Chí Phèo, anh Thứ, Chị Sứ, chị út Tịch, anh Núp,Tnú Hình nh trong văn xuôi hôm nay không có điển hình, bởi lẽ “Chẳng
có ai tẻ nhạt mãi trên đời, mỗi số phận chứa một phần lịch sử” (Eptusenko).Nhân vật không còn đầy đặn, đợc nhìn nhận theo chiều dài phát triển tínhcách mà chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi, những mảnh vỡ của tâm
Trang 24trạng, những dòng ý thức và những mảnh tiềm thức đan xen vào trong cuộcsống
Trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài,Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái không thấy bóng dáng của nhân vật điển hìnhmang tầm khái quát của mọi tính cách lớn lao trong đời sống mà đại đa số
đám ngời u tối, dị nghịch về cả thể xác lẫn tinh thần Nhân vật có khi chỉ
đ-ợc phác qua một vài dáng nét mơ hồ Vì thế, trong văn xuôi đơng đại tathấy nh xuất hiện một loạt những nhân vật dị biệt hoặc kì ảo: Quang lùn(gợi hình ảnh quỷ lùn ) - ngời chỉ tôn thờ sức mạnh của các nguyên tắc và ýchí, bé Hon - Thiên sứ pha lê đến trần gian chỉ để “ban phát nụ cời và môihôn thơm ngậy mùi sữa”, Hoài - cô bé mãi mãi 14 tuổi, không chịu làm ng-
ời lớn vì không chấp nhận “thế giới phủ thảm của ngời lớn” (Thiên Sứ), Mai Trừng (Cõi ngời rung chuông tận thế) có khả năng phát hiện “điện tr- ờng” cực mạnh mỗi khi kẻ ác đứng gần, linh hồn của Hoa, Khanh (Ngời sông Mê), Từ Lộ, Dã Nhân (Giàn Thiêu), Tính (Thoạt kỳ thuỷ) Tác
phẩm mở đầu và kết thúc mơ hồ, lửng lơ, h hoặc Ngời đọc thảng thốt vìkhông thể phân định đâu là thực đâu là h
Bên cạnh đó, chối từ nhân vật điển hình văn xuôi sau 75 còn “xoánhoà nhân vật bằng cách cùng một lúc đa ra nhiều điểm nhìn và phối cảnhkhác nhau Chủ thể có thể cùng một lúc vừa là tác giả vừa là ngời kể chuyệnvừa chính là nhân vật do đờng phân ranh giới giữa ba chủ thể này bị xoánhoà một cách có chủ ý” (Mihaziloic, Ziasmamina) Hơn thế nữa, nhiều
nhà văn còn cố tình tạo ra những nhân vật mơ hồ về thân thế Với Trí nhớ suy tàn - Nguyễn Bình Phơng đã mở đầu tiểu thuyết này bằng sự bày tỏ rất
không xác định thân thế, tên tuổi nhân vật Chỉ biết rằng đó là lời tự bạchcủa một ngời con gái, một chuỗi hồi ức khi cô đang có những ấn tợng chao
đảo giữa hai ngời tình
Với Thoạt kỳ thuỷ, Nguyễn Bình Phơng đã không đi sâu vào từng
cấp độ tâm lý con ngời mà lại lách kĩ vào thế giới của ngời điên để tả, đểnhìn, để nói bằng suy nghĩ, cảm nhận của ngời điên Nhà văn đã lấy chuyệnngời điên để nói chuyện ngời bình thờng, lấy cái bất bình thờng để nói cáibình thờng Với một niềm trăn trở khắc khoải triền miên, nhằm cảnh tỉnh vềvấn đề giữ gìn và bảo vệ nhân tính con ngời trong xã hội đơng đại ViệtNam
Trang 25Đi sâu thể hiện những con ngời cá nhân nền văn học sau 75 tập trungkhai phá thế giới nội tâm đầy phức tạp của nhân vật Đặc biệt còn đi sâuvào miền vô thức, cõi tâm linh của nhân vật để làm nổi bật thế giới nội tâm
ấy Trong tiểu thuyết đơng đại, dờng nh các nhà văn đều sử dụng dạng tìnhhuống những giấc mơ, giấc chiêm bao để khám phá và giải mã thế giới tâmlinh của con ngời
Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Ngời sông Mê (Châu Diên), Thiên Sứ (Phạm Thị Hoài), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh) Trong các giấc mơ
con ngời sống trong thế giới phi lí, huyền ảo không có thật, nhng cũngchính từ đó mà bộc lộ cái tiềm thức ẩn khuất không dễ gì thấy đợc trong đờithực
Các nhà văn khám phá con ngời bằng cách xây dựng nhân vật huyền
thoại “Thiên sứ” xây dựng một số nhân vật mang dáng dấp của nhân vật
chức năng trong văn học huyền thoại dân gian Bé Hon, Quang lùn lànhững nhân vật mang bóng dáng của lực lợng thần kì - một kiểu nhân vậtcủa truyện cổ tích Bé Hon – 2000 Thiên sứ pha lê cũng nh nhân vật Bụt, Tiêncủa truyện cổ tích thần kì muốn cứu rỗi nhân loại, muốn thức dậy tình yêu,
sự khao khát cái đẹp nhân bản, trong trắng trong mỗi con ngời
Nhân vật trong văn xuôi đơng đại tuy không đợc xây dựng theo hànhtrình số phận xuyên suốt mà theo những mảnh vỡ, nhiều lát cắt ghép lại nh-
ng lại có tính biểu tợng cao Hầu nh tiểu thuyết, truyện ngắn nào cũng tạo
ra đợc rất nhiều những biểu tợng nghệ thuật có sức khái quát và khả nănggợi nghĩa Một nhân vật có thể là ngời, có thể là một thai nhi, có trờng hợp
là một con vật Tiểu thuyết Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình Phơng xếp nhân
vật con cú ở thứ 16/18 nhân vật của tác phẩm Đặc biệt nó cũng có tiểu sử
rõ ràng chi tiết và là một câu chuyện nằm song song với câu chuyện về Tính
- nhân vật chính của tiểu thuyết Thiên thần sám hối - Tạ Duy Anh lại là
tiểu thuyết có nhân vật chính là một hài nhi trong bụng mẹ (chỉ ba ngày nữa
sẽ chào đời) Câu chuyện đợc kể theo điểm nhìn của nhân vật này Tácphẩm là lời cảnh báo hiện thực tàn nhẫn tràn đầy khắp nơi: “Việc tạo ra conngời một cách vô trách nhiệm sẽ dẫn tới việc đối xử với con ngời đợc tạo ra,
dù với t cách là thành viên của gia đình hay thành viên của xã hội, một cách
còn vô trách nhiệm hơn” (Thiên thần sám hối)