1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về nghệ thuật con người trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh

82 1,9K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm về nghệ thuật con người trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà
Trường học https://www.university.edu.vn
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 222,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhng có một điều cần khẳng định là, dù ở phơng Đông cổ đại hay ph-ơng Tây cổ đại thì đều đã từng tồn tại xã hội cộng sản nguyên thuỷ và sau đótiến lên xã hội chiếm hữu nô lệ - đó không p

Trang 1

dẫn luận

1 Lý do chọn đề tài:

Lịch sử thế giới cổ đại là lịch sử của hai phơng thức sản xuất đầu tiêncủa xã hội loài ngời: Phơng thức sản xuất nguyên thuỷ và phơng thức sản xuấtchiếm hữu nô lệ

Thời kỳ của phơng thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ là thời kỳ quákhứ xa xăm của lịch sử, khi loài ngời đang ở trong giai đoạn mông muội vàdã man bởi lúc này đời sống còn thấp kém, lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên,giai cấp nhà nớc cha xuất hiện … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy

đây là những cố gắng đầu tiên của ngời nguyên thuỷ trong quá trình đấu tranhvật lộn với tự nhiên để cải thiện đời sống của mình và đây chính là nền tảng,cơ sở cho việc phát triển nền văn minh nhân loại sau này

Tuy vậy, phơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ vẫn là nội dung chủ yếucủa lịch sử thế giới cổ đại Nó đợc tính từ khi xã hội loài ngời phân chia thànhgiai cấp và nhà nớc (khoảng 4000 - 5000 năm đến thế kỷ VSCN) Trong bứctranh lịch sử cổ đại thế giới bao gồm: lịch sử cổ đại phơng Đông và lịch sử cổ

đại phơng Tây,sự phân chia lịch sử cổ đại phơng Đông và lịch sử cổ đại phơngTây không đơn thuần là sự khác nhau giữa hai khu vực về vị trí địa lý, điềukiện tự nhiên… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy mà cái cốt lỏi ở đây là sự khác nhau về phơng thức sản xuất

Nếu nh ở phơng Tây cổ đại đã từng tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ pháttriển đến mức thuần thục và điển hình, thì cho đến nay vẫn cha có một kiếngiải thống nhất về chế độ xã hội ở phơng Đông thời cổ đại Chính vì vậy mà C.Mác đã dùng một khái niệm để chỉ một chế độ xã hội mang tính đặc tr ng chocác quốc gia cổ đại phơng Đông là "Phơng thức sản xuất châu á", nghĩa làtrong đó không hẳn là phơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ nhng cũng khôngcòn là xã hội cộng sản nguyên thuỷ, đồng thời nó cũng chứa đựng những dấuhiệu của xã hội phong kiến sau này Hiểu theo khái niệm này thì ở các quốcgia cổ đại phơng Đông nói chung đều chứa đựng những đặc trng sau đây:

Trang 2

- Một là, các quốc gia cổ đại phơng Đông ra đời sớm ở Ai Cập, Lỡng Hàvào cuối thiên niên kỷ IV TCN, nhà nớc ra đời ở ấn Độ, khu vực sông Hằng,sông ấn, ở Trung Quốc, khu vực sông Trờng Giang, Hoàng Hà từ thiên niên kỷVII- II TCN … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy khi mà trình độ sản xuất còn rất thấp kém, nên chế độ chiếm hữunô lệ không phát triển mạnh mẽ nh các nớc phơng Tây

- Hai là, xã hội phơng Đông tồn tại dai dẳng tổ chức công xã nông thôn

và tàn d của chế độ công xã thị tộc nguyên thuỷ

- Ba là, tồn tại dạng nô lệ gia đình Nô lệ không đóng vai trò chủ yếu trongsản xuất kinh tế, mà chủ yếu làm công việc phục dịch trong gia đình chủ nô

- Bốn là, tồn tại nhà nớc chuyên chế trung ơng tập quyền (quyền lực tậptrung trong tay đế vơng)

Nh vậy ta thấy, một trong bốn đặc điểm của xã hội cổ đại phơng đông

là sự tồn tại lâu dài, dai dẳng của tổ chức công xã nông thôn - tàn d của chế độcông xã thị tộc nguyên thuỷ

Nhng có một điều cần khẳng định là, dù ở phơng Đông cổ đại hay

ph-ơng Tây cổ đại thì đều đã từng tồn tại xã hội cộng sản nguyên thuỷ và sau đótiến lên xã hội chiếm hữu nô lệ - đó không phải là một bớc nhảy kế tiếp mà tấtcả đều phải trải qua thời kỳ quá độ - thời kỳ chuyển tiếp từ xã hội cha có giaicấp, nhà nớc sang xã hội có giai cấp và nhà nớc, bớc chuyển tiếp đó là hìnhthức tổ chức công xã nông thôn, đợc hình thành trên cở sở công xã thị tộcnguyên thuỷ tan rã Nó tồn tại ở hầu hết các quốc gia cổ đại phơng Đông cũng

nh phơng Tây Nhng sự ra đời và quá trình phát triển cũng nh mức độ biểuhiện ở mỗi khu vực khác nhau Cụ thể ở phơng Tây chế độ chiếm hữu nô lệphát triển đến mức thuần thục và điển hình do vậy công xã nông thôn tồn tạikhông lâu và biểu hiện không đậm nét Còn ở phơng Đông sự tồn tại dai dẳngcủa công xã nông thôn đã trở thành một đặc trng và nó kìm hãm sự phát triểncủa xã hội phơng Đông

Những tàn d của chế độ công xã nông thôn vẫn tiếp tục tồn tại trongsuốt chiều dài lịch sử cho đến tận ngày nay cho dù đó là những biến tớng của

Trang 3

nó Trong việc nghiên cứu công xã nông thôn nói chung, vấn đề xác định cácloại hình công xã là một điều khá quan trọng: Công xã nông nghiệp của ngờiNga, công xã Máccơ cuả ngời Đức… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấyđại diện cho công xã nông thôn ở phơngTây, công xã nông thôn ở ấn Độ, ở Trung Quốc, … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy tiêu biểu cho công xãnông thôn ở phơng Đông Còn ở nớc ta công xã nông thôn đã từng tồn tại vàdấu ấn của nó còn biểu hiện trong truyền thống văn hoá làng xã Những tàn d

đó có những nét tích cực góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng nhng cũng cónhiều mặt tiêu cực kìm hãm sự phát triển của xã hội

Do vậy, nghiên cứu công xã nông thôn với các loại hình khác nhau vàtính hai mặt của nó là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng Để hiểu đ ợcbản chất cũng nh sự đa dạng của các loại hình công xã nông thôn trên thế giới

và để nâng cao hiểu biết về công xã nông thôn, chúng tôi chọn vấn đề công xãnông thôn để nghiên cứu Tiến hành đề tài này, tôi không có tham vọng tìm ra

đợc những điều mới mẻ mang tính phát hiện về một khía cạnh nào đó củacông xã nông thôn, mà chỉ đặt ra nhiệm vụ là thông qua việc nghiên cứu để cócái nhìn tổng quát về một số loaị hình công xã nông thôn trên thế giới Và ảnhhởng của nó đối với tiến trình phát triển của xã hội loài ngời, đặc biệt là xã hộiphơng Đông

Với thái độ nghiên cứu khách quan và khoa học về vấn đề công xãnông thôn chắc chắn sẽ rút ra đợc những điều bổ ích cho việc phát huy tínhtích cực và hạn chế tính tiêu cực của công xã nông thôn trong việc hoạch định

chiến lợc phát triển đất nớc Đề tài của chúng tôi có tên là: "Tìm hiểu các loại hình công xã nông thôn trên thế giới "

2 Lịch sử đề tài:

Nghiên cứu công xã nông thôn không phải là một vấn đề mới mẻ Bởitrải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài, cho đến thời cận đại những mặt tiêu cựccủa công xã nông thôn ngày càng bộc lộ rõ, do vậy việc nghiên cứu nó trở nênnhiều hơn Đề tài không mới này đợc nhiều học giả nghiên cứu dới nhiều góc

độ khác nhau và đã có những đánh giá xác đáng về nó Có những công trìnhnghiên cứu dới dạng các công xã nông thôn cụ thể đang tồn tại, có những

Trang 4

công trình nghiên cứu dới dạng là những tàn d của nó đang tồn tại trong đờisống xã hội hiện nay… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy

Công trình đầu tiên có giá trị phải kể đến là cuốn: "Sự thống trị củaAnh ở ấn Độ”của C Mác, trong tác phẩm này C Mác đã giới thiệu về quá trình

ra đời của công xã nông thôn ở ấn Độ và nêu khái quát về những đặc trng củacông xã nông thôn ở ấn Độ - là công xã điển hình ở phơng Đông Bắt đầu từ xãhội ấn Độ, cùng với C Mác, Ăngghen đã nghiên cứu về công xã nông thôn trêngóc độ đi sâu vào hình thái xã hội tiền t bản và đa ra kiến giải về con đờng phi

t bản chủ nghĩa để tiến tới chủ nghĩa xã hội

Bên cạnh đó một dạng nghiên cứu khác về công xã nông thôn trongnhững năm 60 - 70 của thế kỷ XX ở Việt Nam cũng trở thành những côngtrình nghiên cứu có giá trị, cung cấp cho độc giả những hiểu biết chung vềcông xã nông thôn trên thế giới Đó là ý nghĩa hiện đại của công xã nông thôntrong bài "Công xã nông thôn - những nội dung lịch sử và ý nghĩa hiện đại củanó”của Lê Kim Ngân trong cuốn: "Nông thôn Việt Nam trong lịch sử”(Nhàxuất bản KHXH Hà Nội 1978), là việc đi sâu vào tình hình cụ thể của công xãnông thôn ở ấn Độ trong bài: "Bớc đầu tìm hiểu về cộng đồng làng xã ấn

Độ”của Nguyễn Thừa Hỷ trong cuốn "Nông thôn Việt Nam trong lịch sử".Bên cạnh những hình thái công xã khác, Lê Gia Xứng đã thông qua tác phẩm

"Công xã Mác”của Ăngghen viết vào cuối năm 1882 để giới thiệu một số vấn

đề về kinh tế, tổ chức hành chính, tổ chức xã hội của công xã nông thôn ở Đứctrong bài: "Công xã Mác”( Nông thôn Việt Nam trong lịch sử)

Tác giả ngời Trung Quốc là Vơng Trọng Oánh đã giới thiệu một cáchkhái quát về đời sống kinh tế, tổ chức xã hội cũng nh quá trình tan rã của côngxã nông thôn ở Trung Quốc, qua bài "Công xã nông thôn của Trung Quốc thời

cổ đại”trong cuốn: "Về vấn đề sự tan rã của xã hội nô lệ và sự hình thành quan

hệ phong kiến ở Trung Quốc"

Một tác phẩm có giá trị phải kể đến là: "Cơ cấu Mác-cơ, nông thôn của

Đức”của Morơ mà C Mác đã đánh giá cao và thừa nhận rằng : "Những hình

Trang 5

thức sở hữu châu á hay ấn Độ là những hình thức ban đầu ở khắp nơi củachâu Âu"

ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thời cổ của đất nớcnhng công trình có giá trị và mang tính toàn diện nhất phải kể đến là cuốn:

"Việt Nam thời cổ xa”của Bùi Thiết Tác giả đã đi sâu vào mọi lĩnh vực của

đời sống xã hội Việt Nam thời cổ đại Qua đó chúng ta tìm thấy đợc bức tranhtoàn cảnh về thời đại dựng nớc và giữ nớc của dân tộc đồng thời đó cũng làthời kỳ ra đời của công xã nông thôn ở Việt Nam

Để nâng cao sự hiểu biết về các loại hình công xã nông thôn trên thếgiới cùng những tàn d của nó, trên cơ sở đó rút ra đợc đặc trng của mỗi loạihình công xã, sự tác động của nó đến lịch sử của mỗi nớc và của lịch sử xã hộiloài ngời Chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu không có tham vọng nêu lênmột cách đầy đủ, trọn vẹn hay khám phá phát hiện ra những nội dung gì mới

mẻ về công xã nông thôn, mà chỉ muốn đa ra một số loại hình công xã nôngthôn tiêu biểu trên thế giới cũng nh những mặt tích cực và hạn chế của nó, gópphần giảng dạy tốt môn Lịch sử cổ đại thế giới sau này

Do điều kiện thời gian hạn chế, năng lực nghiên cứu còn có hạn, khảnăng tiếp cận t liệu còn yếu, chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót và khiếmkhuyết Chúng tôi rất mong sự chỉ bảo của các thầy cô và sự góp ý của độc giảquan tâm

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Tìm hiểu các loại hình công xã nông thôn trên thế giới

“Tìm hiểu các loại hình công xã nông thôn trên thế giới ”là một đề tàitơng đối rộng nhng với khả năng và khuôn khổ cho phép chúng tôi chỉ trìnhbày một số loại hình công xã nông thôn trên thế giới tiêu biểu ở phơng Đông

và phơng Tây cổ đại nh: Công xã nông thôn ở ấn Độ, công xã nông thôn ởTrung Quốc, công xã nông thôn ở Việt Nam và công xã nông thôn ở Đức.Trong mỗi loại hình công xã chúng tôi cố gắng trình bày sự ra đời và quá trìnhtồn tại, phát triển của nó, biểu hiện trên các mặt nh: Đời sống kinh tế, thiếtchế chính trị và tổ chức xã hội… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Từ những nét riêng đó để tìm thấy những

Trang 6

đặc trng chung của tổ chức công xã nông thôn, thấy đợc vai trò của nó đối vớilịch sử của các quốc gia cổ đại nói riêng và lịch sử xã hội loài ngời nói riêng.Nghiên cứu công xã nông thôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng: phát huynhững mặt tích cực, mặt mạnh của công xã nông thôn và khắc phục nhữngmặt hạn chế, những nhợc điểm để từ đó giúp các nhà lãnh đạo đề ra đợc chiếnlợc phát triển kinh tế, xã hội của đất nớc

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu:

Với đề tài này chúng tôi chủ yếu dựa vào các nguồn tài liệu từ những tácphẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là những đánh giá, những nhận xét vềcác loại hình công xã nông thôn trên thế giới Thực hiện đề tài này,chúng tôidựa vào những tài liệu tham khảo để rút ra đợc những nét đặc trng và tác độngcủa công xã nông thôn Trên nền chung đó, trình bày những loại hình công xãnông thôn trên thế giới tiêu biểu và vai trò của nó trong lịch sử, những mặttích cực, mặt hạn chế và ảnh hởng của nó đối với lịch sử

Tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháplôgic lịch sử, so sánh lịch sử, phân tích các nguồn tài liệu để rút ra nhận thức

về các loại hình công xã nông thôn

5 Bố cục đề tài:

Đề tài có 3 chơng:

Chơng 1: Quá trình hình thành công xã nông thôn và những nét đặc trng cơ bản của nó

1 1: Khái quát chung và công xã nông thôn

1 2: Sự ra đời của công xã nông thôn

1 2 1: Tiền đề về kinh tế

- Sự xuất hiện công cụ lao động bằng kim khí

- Sự phát triển của nghề chăn nuôi và trồng trọt, của thủ công nghiệp và thơng nghiệp

Trang 9

Nội dung

Chơng 1: Quá trình hình thành công xã nông thôn và

những nét đặc trng cơ bản của nó

1 1: Khái quát chung về công xã nông thôn

Bằng những hiểu biết của khoa học nửa cuối thế kỷ XIX, Ăngghen chothấy loài ngời đã trải qua 3 hình thức công xã: Công xã thị tộc, công xã gia

đình và công xã thôn làng (hay còn gọi là công xã nông thôn, công xã lánggiềng) Nh vậy, theo quan điểm duy vật lịch sử thì công xã nông thôn là sựtiếp nối có tính chất kế thừa từ công xã gia đình và công xã thị tộc

Vậy "công xã nông thôn”là gì? Trớc hết đó là khái niệm chỉ về những

đơn vị c dân đợc lập thành trong quá trình di c, khai thác, sử dụng và chiếmhữu đất đai, t liệu sản xuất quan trọng trực tiếp tự nhiên trong quá trình chinhphục thiên nhiên Đó là những tổ hợp c dân mà liên minh huyết thống và liênminh láng giềng đợc kết hợp, trong đó liên minh huyết thống ngày càng nhạtdần Mặc dù đợc duy trì ở những mức độ khác nhau nhng liên minh huyếtthống vẫn còn tồn tại trong công xã nông thôn Bởi công xã nông thôn đợcthiết lập là do một số gia đình này có liên hệ dòng máu với nhau kết hợp vớimột số gia đình khác có liên hệ dòng máu với nhau và rồi lại kết hợp với một

số gia đình khác nữa có liên hệ dòng máu với nhau… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấyvà nh thế tạo thành một

"cấp số cộng”các gia đình có quan hệ dòng máu với nhau để hình thành nêncông xã nông thôn Có đợc nh vậy bởi một lý do đơn giản là khi xã hội chuyển

từ cộng sản nguyên thuỷ sang xã hội mới, mặc dù sức sản xuất có phát triểnhơn trớc nhng vẫn còn rất thấp, ngời ta cần đến sự hợp tác của nhiều ngời, chonên liên hệ dòng máu vẫn có vai trò rất lớn trong lao động của con ngời, trongviệc chinh phục khám phá tự nhiên Xét về mặt thời gian tồn tại thì công xãnông thôn là sự nối tiếp của công xã gia đình phụ hệ (hay gia đình gia trởng)

- là dấu hiệu chứng tỏ sự tan rã của xã hội nguyên thuỷ và loài ngời đang đứngtrớc ngỡng cửa của thời đại văn minh

Trang 10

Về địa d, thành viên công xã nông thôn sống theo làng mạc và những

bộ phận chia nhỏ của làng mạc Thành viên công xã không còn sinh hoạtchung trong một ngôi nhà to lớn với đầy đủ các thế hệ con cháu do cùng mộtngời cha sinh ra nh trong các công xã gia đình phụ hệ Nh C Mác đã từng cónhận xét về sự khác nhau giữa công xã gia đình và công xã nông nghịêp trongbức th gửi Vêra Dat- xu-lít rằng: "Trong công xã nông nghiệp, ngôi nhà và vậtphụ thuộc của nó là cái sân thuộc riêng ngời làm ruộng Ngôi nhà công cộng

và nơi ở tập thể ngợc lại đã là một cơ sở kinh tế của những cộng đồng cổ xahơn, và điều đó đã có từ lâu trớc khi có cuộc sống du mục hay nông nghiệp”{15 - T 335}

Trong buổi đầu, khi các gia đình mới tách ra do mức độ dân số còn thấpnên toàn thể gia đình công xã cùng canh tác chung Dần dần do dân số ngàycàng đông đúc, việc phân công lao động tập thể không thực hiện đợc nữa khi

điều kiện sản xuất còn hạn chế thì công xã gia đình bị tan rã Thành viên côngxã gia đình cùng với những láng giềng phối hợp sử dụng những vùng đấthoang xung quanh, cùng lao động sản xuất và tạo thành một hình thức côngxã mới - công xã láng giềng - cùng làm nghề nông nên gọi là công xã nôngthôn (hay công xã nông nghiệp) Công xã nông thôn là hình thức quá độ từ xãhội cha có giai cấp, nhà nớc sang xã hội có giai cấp và nhà nờc, công xã nôngthôn mang trong mình cơ cấu hoàn chỉnh của một tổ chức và đồng thời nócũng chứa đựng trong lòng những đặc điểm riêng của một tổ chức xã hội vớitính chất kế thừa xã hội cũ và thai nghén xã hội mới

1 2: Sự ra đời của công xã nông thôn

1 2 1:Tiền đề kinh tế

Trong buổi đầu để duy trì và tạo lập cuộc sống con ngời mới chỉ biếtsăn bắt và hái lợm bằng những dụng cụ thô sơ nhng dần dần những dụng cụbằng đá ngày càng tinh xảo hơn - đó là kỹ thuật đá mài Sau đó, công cụ bằngkim khí ra đời, đa kỹ thuật sản xuất lên một bớc mới, làm cho năng suất lao

động tăng lên Nghề chăn nuôi trồng trọt cũng ra đời và phát triển, đồng thời

Trang 11

sự phát triển của ngành chăn nuôi và trồng trọt, của thơng nghiệp và thủ côngnghiệp là những tiền đề về kinh tế để công xã nông thôn xuất hiện

- Sự xuất hiện công cụ lao động bằng kim khí

Trải qua một thời gian dài, công cụ lao động của loài ngời chủ yếu bằng

đá - là thứ nguyên liệu vừa cứng vừa giòn, lại rất khó ghè đẽo Một cải tiếnnhỏ trong cách ghè đẽo để làm thay đổi chút ít hình dáng công cụ cũng đòihỏi phải mất hàng nghìn năm, có khi hàng vạn năm tích lũy kinh nghiệm.Song công cụ đồ đá dù mỗi ngày một cải tiến, mỗi ngày một sắc bén hơn nhngvẫn không đem lại năng suất lao động cao Sự thay đổi căn bản bắt đầu từkhoảng thiên niên kỷ VITCN, khi con ngời phát hiện ra và biết sử dụng công

cụ bằng kim loại Kim loại đầu tiên đợc sử dụng đó là vàng, rồi đến đồng đỏ

và cao hơn trong giai đoạn đồ đồng là đồng thau

Mặc dù vậy, trong đời sống sản xuất thì công cụ đá không bị loại trừhoàn toàn mà ngợc lại công cụ đồ đá mới tiếp tục phát triển Vì vậy ngời tagọi thời kỳ này là thời kỳ đá - đồng Buổi đầu tham gia của các công cụ, kimloại cha có tác động gì lớn đối với lực lợng sản xuất Nó chỉ làm phong phúthêm cho các loại hình công cụ của ngời nguyên thuỷ, nhng nó lại là mốc

đánh dấu bớc phát triển toàn thịnh của xã hội nguyên thuỷ Lúc này công xãthị tộc với cơ sở của nó là quan hệ huyết thống và sở hữu chung trên toàn côngxã mọi tài sản và lao động tập thể đã phát huy hết khả năng của nó Tuy nhiên,

đồ đồng nguyên chất vẫn còn bị hạn chế vì nó mềm, đòi hỏi nhiệt độ nóngchảy cao ở giai đoạn sau - giai đoạn đồng thau, tính từ khi con ngời biết nấuchảy kim loại, tức là vào khoảng thiên niên kỷ V đầu thiên niên kỷ IVTCN thì

kỹ thuật luyện kim ngày càng đợc hoàn thiện, năng suất lao động của loài

ng-ời tăng lên Từ đồng thau ngng-ời ta đã biết chế tạo ra những lỡi cày, lỡi cuốc, rìu,dao, liềm… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy rất giống với công cụ ngày nay

Cuối thiên niên kỷ thứ IIITCN đồng thau trở thành nguyên liệu chế tạocông cụ chủ yếu Nền văn hoá đồng thau rất phổ biến trên thế giới, nhữngtrung tâm quan trọng của nền văn hoá đó tìm thấy ở biển Êgiê (đông ĐịaTrung Hải), ở trên lu vực các con sông lớn: sông Nin (đông bắc Châu Phi),

Trang 12

sông Tigrơ và ơphrát (Tây á), Hoàng Hà và Dơng Tử giang (ở Trung Quốc),sông ấn và sông Hằng (ở ấn Độ)… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấycó hình dạng và hoa văn rất độc đáo Do

sự phát triển mạnh mẽ và rộng khắp nh vậy nên nghề đúc đồng thau đợcchuyên môn hoá, ngời ta lập ra những xởng đúc đồng mà trong đó có nhữngngời thợ đúc rất tinh xảo Cùng với nghề làm đồ gốm và dệt vải thì nghề đúc

đồng đã trở thành ngành sản xuất thủ công rất phát đạt

Đến khoảng cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ ITCN thì kim loạisắt xuất hiện - một thứ kim loại cứng và sắc hơn đồng nhiều Nh Ăngghen đãnhận xét: "Sắt cho phép ngời ta có thể trồng trọt trên những diện tích rộng lớnhơn, có thể khai hoang những miền rừng núi rộng lớn hơn; sắt khiến cho ngờithợ thủ công có đợc một công cụ cứng và sắc mà không có một loại đá nàohay một loại kim khí quen thuộc nào có thể đơng đầu với nó đợc” {14 - T1 -T103}

So với đồng thì sắt có u thế hơn, nó có sẵn trong tự nhiên và ngời ta cóthể tìm thấy sắt ở nhiều nơi, sắt lại cứng Nếu thời kỳ đồ đồng thau cha loại trừhoàn toàn đồ đá thì thời kỳ đồ sắt đã hoàn toàn loại trừ đồ đá và tiến tới loạitrừ đồ đồng trong lĩnh vực công cụ sản xuất Cũng nh kim loại đồng, sắt dùng

để chế tạo vũ khí, cày, cuốc, búa, rìu… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Sắt ra đời đã đẩy mạnh nền sản xuấtthủ công và chỉ với sự xuất hiện nghề luyện sắt và công cụ sắt, với cái càybằng sắt do súc vật kéo, thì việc khai hoang và trồng trọt đất đai trên quy môlớn - nông nghiệp dùng cày - mới có thể thực hiện đợc

Nh vậy, công cụ kim khí ngày càng đợc sử dụng phổ biến, nhất là đồsắt Sự phát triển của công cụ đã làm hng khởi lực lợng sản xuất, đa năng suấtlao động không ngừng tăng lên và đa đến sự chuyên môn hoá trong ngành thủcông nghiệp

- Sự phát triển của nghề chăn nuôi và trồng trọt, của thủ công nghiệp

và thơng nghiệp

Nhờ tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm sản xuất và chế tạo đợc nhiều loạicông cụ thích hợp, con ngời đã biết khai hoang, mở rộng diện tích trồng trọt

Trang 13

Họ đã biết dùng những chiềc cày bằng gỗ, có l

… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy ỡi bằng kim loại do súc vậtkéo Nông nghiệp dùng cày đã ra đời trên lu vực các con sông lớn - nơi có đất

đai màu mỡ và phì nhiêu, ngời ta còn biết lợi dụng những kỳ nớc sông lên cao,

đào mơng dẫn nớc tới vào đồng ruộng, hoặc ngợc lại biết đắp đê ngăn lũ đểbảo vệ mùa màng Đến giai đoạn này nghề nông đã trở thành một nghề sảnxuất chủ yếu của ngời nguyên thuỷ Bên cạnh đó nghề chăn nuôi cũng đợc đẩymạnh Nhờ có năng suất lao động ngày càng tăng, ngành trồng trọt khôngnhững cung cấp đủ lơng thực cho những ngời chuyên làm nông nghiệp mà còn

có một phần d thừa dùng cho những ngời chuyên làm nghề chăn nuôi Những

bộ lạc chăn nuôi đã dần dần hình thành và tách khỏi nông nghiệp để trở thànhmột ngành độc lập Nh vậy thế giới đã bớc vào cuộc đại phân công lao độnglần thứ nhất giữa nông nghiệp và chăn nuôi Sự phân công xã hội lớn lần đầutiên này có tác dụng đẩy mạnh nền sản xuất phát triển lên rất nhiều

Bớc sang thời kỳ cuối đồng sang sắt, thủ công nghiệp cũng tách khỏinông nghiệp, trở thành một ngành kinh tế riêng Nghề dệt, nghề gốm, cácnghề chế tạo đồ kim loại và nhiều nghề thủ công khác ngày càng chuyên mônhoá, làm cho của cải tăng lên nhanh chóng - thế giới bớc vào cuộc đại phâncông lao động lần thứ hai

Sự phát triển của thủ công nghiệp cũng làm cho nghề đánh cá và nôngnghiệp, chăn nuôi phát triển mạnh mẽ yêu cầu trao đổi hàng hoá ngày càngtrở nên bức thiết Đồng thời quá trình trao đổi sản phẩm đó đã làm xuất hiệnmột tầng lớp "ngời trung gian không thể thiếu đợc giữa hai hạng ngời sản xuất

và bóc lột cả đôi bên”- đó là tầng lớp ngời chuyên trao đổi, mua bán hàng hoá.Thơng nghiệp xuất hiện và phát triển không chỉ bó hẹp trong nội bộ thị tộc màlan ra cả bên ngoài giữa các bộ lạc với các bộ phận kinh tế Thế giới lại bớcvào cuộc đại phân công lao động lần thứ ba với sự hình thành của tầng lớp th -

ơng nhân Tầng lớp thơng nhân này không trực tiếp tham gia sản xuất mà lạinắm toàn quyền kiểm soát nền kinh tế Tác giả Chiêm Tế trong "Lịch sử thếgiới cổ đại- T1”có nhận xét về tầng lớp thơng nhân này nh sau: "Tuy khôngtham gia sản xuất một tý nào, nhng lại chiếm toàn quyền lãnh đạo sản xuất và

Trang 14

bắt những ngời sản xuất phải phụ thuộc mình về kinh tế … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy” Cùng với tầnglớp thơng nhân đó, tiền tệ bằng kim loại cũng ra đời, trở thành phơng tiện luthông hàng hoá hết sức thuận lợi và do đó cũng trở thành "Một thủ đoạn thốngtrị mới của kẻ không sản xuất đối với sự sản xuất của ngời sản xuất" Nh vậy,

sự phát triển của lực lợng sản xuất đã dẫn đến sự chuyên môn hoá trong sảnxuất và trao đổi sản phẩm Đến lợt mình, quá trình chuyên môn hoá sản xuấtlại có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tạo ra sản phẩm ngày càngnhiều cho xã hội Đây thực sự là một cuộc cách mạng trong sản xuất, vì lần

đầu tiên trên chặng đờng dài của lịch sử, suốt thời kỳ đồ đá, con ngời từ chỗsống bấp bênh, đến chỗ tìm kiếm đủ thức ăn nuôi sống mình và lúc này, vàobuổi đầu thời đại kim khí, sản phẩm họ làm ra không chỉ đủ ăn mà còn thờngxuyên d thừa Chính của cải d thừa là nguồn gốc, là cơ sở cho sự ra đời củachế độ t hữu, là mầm mống của t tởng t hữu Trên cơ sở đó gia đình cá thể ra

đời, đó là nguồn gốc cho sự ra đời của công xã nông thôn - là thời kỳ quá độ

để loài ngời bớc vào xã hội có giai cấp và nhà nớc

Nhng dù sao chế độ mẫu hệ chỉ tồn tại trên cơ sở một trình độ pháttriển kinh tế và xã hội còn thấp kém

Song giai đoạn hậu kỳ đồ đá mới, đồng thời xuất hiện đồ kim khí đanền sản xuất xã hội phát triển ở mức cao hơn và đem lại những chuyển biếnmới trong xã hội và làm thay đổi địa vị của ngời phụ nữ Từ chỗ ngời đàn bà

có quyền đợc phân công lao động và quyền điều hành những công việc chungcủa thị tộc và vì thế họ không những đợc bình đẳng, đợc tôn trọng mà còn có

Trang 15

thể đợc bầu làm tộc trởng, tù trởng Thì nay với sự xuất hiện của công cụ bằngkim loại, đa đến sự xuất hiện của nghề nông nghiệp dùng cày, chăn nuôi súcvật và nghề thủ công đòi hỏi sức lực và kinh nghiệm sản xuất của ngời đàn

ông Mặt khác, do có năng suất lao động cao, sản phẩm do con ngời làm rakhông những chỉ đủ ăn mà còn có d thừa Địa vị kinh tế của ngời đàn ôngtrong gia đình đã dần dần đợc xác lập Sự chuyển đổi địa vị này xảy ra trớctiên ở các bộ lạc chăn nuôi, từ săn bắn chuyển sang chăn nuôi, việc đó do ngời

đàn ông đảm nhận, ngời đàn bà trở nên kém quan trọng trong lĩnh vực này.Ngời đàn ông bắt đầu nhận thức đợc mâu thuẫn giữa địa vị thấp kém của mìnhvới công lao ngày càng lớn của mình trong gia đình và thị tộc Muốn giảiquyết mâu thuẫn đó, chỉ cần xoá bỏ huyết tộc theo họ mẹ và quyền thừa kế

mẹ, xác lập huyết tộc theo họ cha và quyền kế thừa cha Chế độ mẫu quyềndần dần thay đổi bằng chế độ phụ quyền Đối với các bộ lạc nông nghiệp, thìquá trình chuyển đổi bắt đầu chậm hơn Giai đoạn đầu việc trồng trọt nguyênthuỷ còn do phụ nữ đảm nhận, xã hội thị tộc mẫu hệ vẫn tiếp tục phát triển,hiện tợng sùng bái phụ nữ xuất hiện thời kỳ này Nhng sự phát triển của nôngnghiệp đã đòi hỏi sức lao động khoẻ hơn, nhiều hơn Việc phát nơng làm rẫy,

mở rộng diện tích trồng trọt, việc đào mơng dẫn nớc vào ruộng đã phải đòi hỏisức lao động ngày càng nhiều của đàn ông, việc chăn nuôi từng đàn gia súclớn và nông nghiệp do súc vật kéo phải do đàn ông đảm nhiệm Dần dần ngời

đàn ông làm những công việc chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, vai trò củangời phụ nữ trong sản xuất giảm đi Họ chỉ làm những công việc nh gieo hạt,gặt hái và tổ chức đời sống gia đình: ăn uống và trông nom con cái… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy

Quyền của ngời đàn ông đợc xác lập trong gia đình và bắt đầu từ quyềnphân công lao động, sau đó mới lan dần ra ngoài xã hội Do nắm đợc thời vụ

và kinh nghiệm sản xuất, ngời đàn ông thoạt đầu có quyền cắt đặt công việccho các thành viên trong gia đình, rồi sau đó nắm quyền quyết định các côngviệc quan trọng và cuối cùng là có quyền thay mặt gia đình quyết định nhữngcông việc giao tiếp với công xã Họ cũng trở thành những tộc trởng, tù trởng,

điều hành công việc chung của công xã Nh vậy quyền của ngời đàn ông gần

Trang 16

nh tuyệt đối, ngời phụ nữ lệ thuộc vào ngời đàn ông Gia đình phụ hệ thay thếcho gia đình mẫu hệ Trong gia đình phụ hệ, ngời đàn bà đã có một ngờichồng, nhất định phải sang ở tại gia đình ngời chồng, con cái đã biết mặt ngờicha, do vậy quan hệ họ hàng đợc tính theo dòng cha Chế độ mẫu quyền bị lật

đổ là "sự thất bại có tính chất toàn thế giới của giới phụ nữ"

Chế độ gia đình một vợ, một chồng đợc hình thành và phát triển thaythế chế độ hôn nhân đối ngẫu Những gia đình phụ quyền ngày càng đợc xáclập và củng cố Đến khi gia đình đó quá lớn ngời ta chia gia đình ấy thành cácgia đình nhỏ Khối gia đình nhỏ ấy vẫn có mối liên hệ máu mủ với nhau và đ-

ợc gọi là tông tộc Tông tộc nhận ruộng của thị tộc về sản xuất và chia sảnphẩm thu hoạch đợc cho các gia đình nhỏ Về sau các gia đình nhỏ này cũng

đợc chia đất, sản phẩm thu hoạch đợc thuộc quyền sở hữu của gia đình

Nh vậy, đến giai đoạn này công xã nguyên thuỷ đã phát triển đến giai

đoạn toàn thịnh và bắt đầu xuất hiện một số dấu hiệu tan rã Mầm mống của

sự tan rã là sự xuất hiện của gia đình cá thể cùng với sự xuất hiện của d thừanhờ sản xuất phát triển Trên nền tảng đó t tởng t hữu nảy sinh, xuất hiệnnhững ngời bao chiếm của cải d thừa, trớc hết là những ngời có quyền hành vàtầng lớp thơng nhân Xã hội xảy ra quá trình phân hoá giai cấp Nh Ăngghenviết: "Sự đối lập giai cấp đầu tiên trong lịch sử là sự đối lập xuất hiện cùngmột lúc với sự phát triển của sự đối kháng giữa đàn ông và đàn bà trong hônnhân một vợ, một chồng" {6 - T52}

- Sự xuất hiện của chế độ nô lệ và sự ra đời của chế độ t hữu

Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ tất cả mọi thành viên công xã trongthị tộc đều bình đẳng nh nhau, họ cùng làm cùng hởng, không có sự bóc lột,

sự thống trị, nô dịch giữa ngời này với ngời khác, giữa tập đoàn ngời này vớitập đoàn ngời khác trong xã hội Có đợc nh vậy là do trong chế độ cộng sảnnguyên thuỷ mọi của cải, sản phẩm đều thuộc quyền sở hữu tập thể của thịtộc, bộ lạc, không ai nảy sinh ra t tởng bóc lột ngời khác, hơn nữa do trình độsản xuất còn thấp kém, đời sống giản đơn, ngời ta phải lao động cật lực lắm

Trang 17

riêng mình là không có Sự xuất hiện của công cụ bằng kim loại không nhữnglàm cho năng suất lao động ngày càng đợc nâng cao mà còn tạo điều kiện chonền sản xuất cá thể phát triển Lao động của mỗi ngời không những có thể

đảm bảo đợc những nhu cầu tối thiểu cho đời sống của bản thân và con cái,

mà còn có thể sản xuất dôi ra hơn một tí nữa, có thể làm ra đợc một số sảnphẩm thặng d Do đó, đã nảy sinh hiện tợng ngời bóc lột ngời, ai cũng muốnlấy đợc phần nhiều về mình, tức là khả năng chiếm đoạt sản phẩm thặng d dongời khác làm ra Từ đó ngời ta bắt đầu nghĩ đến cách bóc lột lao động củanhững tù binh bị bắt trong chiến tranh thuộc các thị tộc, bộ lạc khác Trớc kiakhi bị bắt họ thờng bị giết thịt hoặc tha, hoặc để nuôi thành thành viên bộ lạc.Nhng bây giờ họ đã đợc giữ lại trong thị tộc để lao động và cuối cùng họ đãtrở thành nô lệ của thị tộc Nh vậy, chế độ nô lệ đã xuất hiện, đó là hình thức

áp bức bóc lột đầu tiên giữa ngời với ngời, đồng thời đó cũng là một bớc tiếnlên của lịch sử bởi vì việc sử dụng nô lệ đã làm cho của cải d thừa ngày càngnhiều, quá trình tích luỹ của cải d thừa đó cần cho sự phát triển cao hơn củanền sản xuất xã hội

Hình thức xa nhất của chế độ nô lệ là chế độ nô lệ gia trởng Trong chế

độ nô lệ gia trởng, ngời nô lệ phục vụ chủ yếu trong gia đình chủ nô, khi chủnô chết, nô lệ có thể trở thành một thứ tài sản để lại cho con cháu, cũng có thể

bị chôn sống theo chủ Nô lệ cũng có thể đợc dùng trong công việc sản xuấttuy họ phải lao động nặng nề nhng đợc chủ coi nh đầy tớ trong gia đình, hay

có khi tốt hơn, nh một thành viên trong gia đình phụ hệ Họ có thể lập gia đìnhriêng, có thể có chút ít của cải Ngời nô lệ coi gia đình chủ nh gia đình mình

và coi mình là một thành viên trong gia đình chủ Hôn nhân giữa ngời tự do vàngời nô lệ không phải là hiếm, về thân phận ngời nô lệ không kém gì ngời tự

do nhiều lắm Tuy vậy về nguyên tắc, nô lệ thuộc quyền sở hữu của chủ nô vàchủ nô có quyền sinh, quyền sát đối với nô lệ

Chế độ nô lệ gia trởng ở giai đoạn quá độ từ chế độ cộng sản nguyênthủy bớc sang chế độ chiếm hữu nô lệ, tuy nhiên trong các xã hội chiếm hữunô lệ ở phơng Đông nh Trung quốc, ấn Độ, Ai cập, Babilon cổ đại… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy rất nhiều

Trang 18

tàn d của chế độ nô lệ gia trởng đợc bảo lu dai dẳng và chế độ nộ lệ gia trởng

là một điển hình của xã hội phơng Đông cổ đại

Do năng suất lao động trong các ngành sản xuất kinh tế ngày càng đợcnâng cao, lúc này con ngời không cần thiết phải lao động tập thể đông đảo nhtrớc nữa, trừ những trờng hợp đặc biệt nh việc xây dựng và tu bổ các côngtrình thủy lợi hay các công trình lợi ích công cộng khác Ngời ta có khả năngtiến hành lao động cá thể hay lao động theo từng đơn vị gia đình nhỏ mà vẫn

đảm bảo duy trì và nâng cao đời sống Sự xuất hiện và phát triển của nền sảnxuất cá thể đó cùng với sự ra đời của chế độ nô lệ làm cho của cải tích luỹngày càng nhiều trong tay một số t nhân hay gia đình phụ hệ, thờng thờng tộctrởng, tù trởng hay bô lão, sử dụng đợc nhiều lao động nô lệ

Trong buổi đầu những của cải tích luỹ đợc trong các gia đình cha hẳn là

đã đợc sở hữu riêng t của những gia đình ấy Truyền thống cộng sản chủ nghĩacủa xã hội thị tộc thờng buộc ngời ta phải san sẻ những của cải đó cho cácthành viên khác của thị tộc hay bộ lạc theo tinh thần tự nguyện, và dới hìnhthức của cải tơng trợ hoặc của cải đóng góp vào những công việc công ích hayviệc tế lễ Về sau của cải đó đợc dùng làm phơng tiện để bóc lột lao động kẻkhác, chế độ t hữu ra đời từ đó Lúc đầu là nô lệ, sau là súc vật, nhà cửa, khotàng và cuối cùng là một phần ruộng đất của công xã thị tộc lần lợt bị các gia

đình phụ hệ nói trên chiếm hữu làm của riêng, trở thành những tài sản có thể

đem bán, trao đổi hoặc để lại cho con cháu

Nền sản xuất cá thể hay sản xuất theo từng đơn vị gia đình nhỏ, cùng vớichế độ t hữu mới nảy sinh trong lòng xã hội thị tộc làm cho các gia đình nhỏ

ấy có thể sống riêng rẽ do đó có xu hớng tách khỏi thị tộc lớn để đa nhau đếnmột khu vực mới có điều kiện làm ăn sinh sống thuận lợi hơn, nhiều gia đình

nh vậy thuộc những thị tộc bộ lạc khác nhau đến làm ăn sinh sống ở cùng một

địa phơng nhất định, kết hợp lại thành công xã mới, không có quan hệ bà congì với nhau nhng có lợi ích kinh tế chung nh sử dụng chung đất đai của côngxã Quan hệ dòng máu trong xã hội thị tộc trở nên lỏng lẻo và phai nhạt dần

Trang 19

Thay vào đó là quan hệ kinh tế và địa vực hay quan hệ láng giềng Do đó côngxã mới gọi là công xã láng giềng hay công xã nông thôn

Công xã nông thôn là "Tổ chức xã hội đầu tiên của những ngời tự dokhông bị ràng buộc bởi quan hệ dòng máu”( C.Mác ) Nó là một hình thái xãhội quá độ từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp, tức là xãhội dựa trên chế độ công hữu sang xã hội dựa trên chế độ t hữu về t liệu sảnxuất Nếu dới chế độ cộng sản nguyên thuỷ, mọi của cải đều là của chung thìtrong công xã nông thôn, đất đai, đồng cỏ, rừng núi, ao hồ, sông ngòi… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy vẫncòn là của chung Nhng nhà cửa, vờn tợc, súc vật, hàng hoá và một bộ phậnruộng đất đã là của riêng của từng gia đình, nó vừa duy trì chế độ sở hữu tậpthể của công xã thị tộc về ruộng đất, mặt khác nó cũng bao hàm chế độ t hữu

về t liệu sản xuất mới nảy sinh

Tuy nhiên, khi nói đến quá trình ra đời và phát triển của công xã nôngthôn có nhiều độc giả đồng nhất nó với công xã láng giềng Thực ra công xãláng giềng bao gồm cả công xã nông nghiệp và công xã du mục Bởi vì đối vớicác bộ lạc chăn nuôi thì quá trình tan rã của công xã nguyên thuỷ đã diễn ra từrất sớm so với các bộ lạc sống bằng nghề nông nghiệp Thực tế, ở các bộ lạcchăn nuôi của cải d thừa xuất hiện khá sớm, hơn nữa sự phát triển của đàn giasúc lớn đòi hỏi việc phải chia nhỏ các gia đình thị tộc lớn thì mới đáp ứng đợcchăn nuôi các đàn gia súc Và việc đó đã dẫn đến sự ra đời của công xã dumục Tuy vậy, có một điểm khác là nếu nh công xã nông nghiệp ra đời muộnnhng lại ổn định thì công xã du mục hình thành sớm nhng lại rất dễ tan rã Bởivì cuộc sống du mục nay đây mai đó trên các thảo nguyên nên những công xã

du mục hình thành đột ngột và cũng dễ tan rã một cách đột ngột Quá trình tanhợp của công xã du mục tuỳ thuộc và sự phát triển của các đàn gia súc và sự t-

ơi tốt hay cằn cỗi của đồng cỏ chăn nuôi Và cũng có lẽ vì lý do đó, mà giai

đoạn quá độ của các bộ lạc du mục đã kéo dài rất lâu trong lịch sử, mà điểnhình là "quốc gia” Mông Cổ Cho nên công xã du mục không thể phát triểnmạnh mẽ và trở thành một hình thái xã hội nổi bật và điển hình trong lịch sử.Không những thế càng về sau các bộ lạc du mục thờng có xu hớng hoà nhập

Trang 20

vào công xã nông nghiệp Bởi vì điều kiện tự nhiên ở các lu vực con sông lớn,nơi các bộ lạc nông nghiệp c trú là những nơi rất thuận lợi cho chăn nuôi pháttriển Thực tế đó đã thúc đẩy các bộ lạc chăn nuôi thiên di đến các đồng bằng.Lịch sử đã chứng minh rằng, lúc đầu những cuộc thiên di ấy mang tính chấthoà bình nhng càng về sau mỗi cuộc thiên di dù nhỏ đến mấy thì đó vẫn làmột cuộc chiến tranh Nhìn chung khi những bộ lạc du mục đối mặt với những

bộ lạc nông nghiệp thì phần thắng luôn thuộc về ngời du mục Sau khi chiếnthắng, những bộ lạc du mục đã thiết lập sự thống trị của mình lên các bộ lạcnông nghiệp Nhng có một điều tởng nh phi lý mà đó lại là một sự thật là ởchỗ trong quá trình thống trị và phát triển đó, các bộ lạc chăn nuôi bị đồnghoá dần dần chuyển sang sản xuất nông nghiệp Nh vậy, họ phải làm lại từ đầubằng cách xác lập các công xã nông thôn của mình Đó là những sự kiện mà

đã đợc lịch sử ghi lại một cách rõ ràng: ở Ai Cập với sự xâm nhập của ngờiHích - xốt, ở ấn Độ với sự xâm nhập của ngời arian, ở Lỡng Hà có sự xâmnhập của ngời ác Cát, ngời Xu Me… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy

Nh vậy, ta thấy dựa vào những tiền đề về kinh tế và những cơ sở về xãhội thì công xã nông thôn đã ra đời Công xã nông thôn là giai đoại cuối cùngcủa xã hội nguyên thuỷ và cũng là giai đoạn mở đầu cho thời đại có giai cấp

và nhà nớc Lịch sử vốn có tính chất kế thừa và phát triển từ thấp đến cao củagiai đoạt trớc, đồng thời trong mỗi hình thái xã hội ở giai đoạn này cũng vừamang những tàn d của xã hội cũ vừa mang những đặc điểm của xã hội sau Làmột hiện tợng lịch sử có phát sinh và phát triển, ra đời từ công xã nguyênthuỷ, dới sự tác động của lực lợng sản xuất mới và sự xuất hiện của các giaitầng trong xã hội, nên công xã nông thôn vừa chứa đựng những tàn d của xãhôi cũ (Công xã nguyên thuỷ) lại vừa mang những nhân tố mới của hình tháikinh tế xã hội sau Và cũng chính vì thế mà ở một giai đoạn lịch sử nào đócông xã nông thôn phát huy đợc những mặt tích cực của nó, nhng khi sangmột giai đoạn mới công xã nông thôn cơ bản nó mang những yếu tố tiêu cực.Với những đặc điểm thuộc tính vốn có của nó, công xã nông thôn ngầm chứa

Trang 21

những mặt tích cực và những mặt tiêu cực của nó qua mọi thời đại, khi mà nócha thực sự mất đi, hay nói cách khác là khi nó cha bị diệt vong hoàn toàn

1 3: Những nét đặc trng của công xã nông thôn

Công xã nông thôn là một hình thái xã hội mới, nó không phải là hìnhthái chiếm hữu nô lệ cũng không phải là hình thái xã hội phong kiến Nó là b -

ớc chuyển, bớc quá độ từ chế độ nguyên thuỷ lên xã hội có giai cấp và nhà n

-ớc… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Công xã nông thôn mang trong mình cơ cấu hoàn chỉnh của một tổ chức

và đồng thời nó cũng chứa đựng trong lòng những đặc trng riêng của một tổchức xã hội với tính chất kế thừa xã hội cũ và thai nghén cho một xã hội mới.Những đặc trng sau đây của công xã nông thôn giúp chúng ta phân biệt đợc nóvới các loại hình tổ chức xã hội khác

1 3 1: Về chế độ sở hữu t liệu sản xuất

Nếu xét về thứ tự thời gian và tổ chức xã hội thì công xã nông thôn là sựtiếp nối công xã gia đình gia trởng Chúng ta biết trong chế độ công xã gia

đình thì lúc đầu do mật độ dân số thấp, đất đai hoang hoá còn nhiều, thànhviên của công xã cha cần thiết phải chiếm dụng Do vậy, hầu nh toàn công xã

đang canh tác trên nhiều mảnh đất Cho đến sau này do số thành viên củacông xã ngày càng đông đúc, chế độ lao động tập thể và phân chia sản phẩmkhông thể thực hiện đợc nữa thì công xã gia đình tan rã Quá trình di c của cácthành viên gia đình đó cùng với những kẻ láng giềng của mình thực hiện việc

sử dụng chung đất đai bỏ hoang ở xung quanh công xã… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Hình thức sở hữuchung về đất đai, nguồn nớc, ao hồ, rừng rú… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy chính là một đặc trng công xãnông thôn, mọi ngời đều có quyền sử dụng nh nhau trên mảnh đất đó

Thực tế thì hình thức sở hữu tự nhiên có từ thời nguyên thuỷ, những sảnvật tự nhiên nh: trái cây, thú rừng, chim trời, cá nớc… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy không phải do con ngờisản xuất ra nó không thuộc quyền sở hữu riêng của bất cứ một ai Nó là củagiới tự nhiên, mọi ngời đều có quyền khai thác và sử dụng Khi bớc sang thời

kỳ công xã nông thôn, quan hệ sở hữu nguyên thuỷ này vẫn còn tàng d, tuyvậy có sự biến đổi Trong công xã nông thôn ngời ta vẫn có khả năng hợp tác

Trang 22

với nhau, cùng lao động sinh hoạt, nhng về quan hệ sở hữu thì đã thay đổi dùcùng nhau xây dựng những công trình công cộng phục vụ cho sản xuất sinhhoạt thì điều đó cũng không ngăn cản đến việc tích luỹ tài sản riêng Mọi ngờitrong công xã có thể bóc lột sức lao động và nô dịch nhau Chính vì vậy côngxã nông thôn đợc coi là tổ chức kết hợp giữa chế độ công hữu tài sản và t hữutài sản Về chế độ công hữu trong công xã nông thôn bao gồm: ruộng đất, bãi

cỏ, rừng rú, ao hồ, các công trình thuỷ lợi công cộng, những tài sản đó là docông xã chiếm hữu tập thể Một hội đồng công xã phân phối ruộng công chotừng gia đình, mỗi gia đình tự canh tác và thu hoạch sản phẩm của mình Cácgia đình cá thể chỉ có quyền sử dụng mà thôi, vận mệnh của ruộng đất công,của chế độ sở hữu tập thể gắn liền với vận mệnh của công xã nông thôn ở

đâu còn công xã nông thôn thì ở đó có ruộng công và ngợc lại Nh Ăngghen

đã nhận xét trong tác phẩm: "Chống Đuy- rinh”rằng: "Trong công xã thị tộchay công xã nông thôn có chế độ công hữu về ruộng đất vẫn còn tồn tại, haynhững tàng d rất dễ nhận thấy của chế độ đó vẫn còn tồn tại trong tất cả cácdân tộc văn minh, khi các dân tộc này bắt đầu bớc vào lịch sử thì sự phân phốisuýt xoát đồng đều những sản phẩm là điều hoàn toàn tự nhiên, nơi nào mà có

sự phân phối không đồng đều rõ rệt hơn về những sản phẩm cho các thànhviên thì sự phân phối đó cũng đánh dấu bớc đầu tan rã của công xã” {15 -T269}

Bên cạnh những tài sản công hữu của công xã thì có tài sản t hữu do tnhân quản lý Tài sản t hữu đó bao gồm: nhà cửa, vờn tợc, công cụ lao động,một ít ruộng đất, súc vật, đồ dùng sinh hoạt… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy thành viên công xã có quyềnkhai thác và sử dụng tài sản này Sự ra đời của chế độ t hữu này là một tất yếukhi xã hội phân hoá thành giai cấp Ăng- ghen viết: "Nói chung trong lịch sử,

sự ra đời của chế độ t hữu không là kết quả của hành động ăn cắp và của bạolực Trái lại trong công xã nguyên thuỷ thời cổ của tất cả mọi dân tộc vănminh chế độ t hữu cũng đã có rồi, tuy nhiên nó chỉ giới hạn ở một số vật nào

đó thôi’’ {15- T277} Chế độ t hữu ra đời còn là kết quả của sự thay đổi quan

hệ sản xuất và hình thức trao đổi hàng hoá Ăngghen nhận xét: "Bất cứ chỗ

Trang 23

nào mà chế độ t hữu hình thành thì đều do kết quả của những quan hệ sản xuất

và trao đổi đã thay đổi nhằm nâng cao sản xuất và phát triển thơng nghiệp, nhvậy sự hình thành chế độ t hữu là do những nguyên nhân kinh tế, bạo lực tuyệt

đối chẳng có tác dụng gì ở đó cả Nhng hiển nhiên trớc hết phải có chế độchiếm hữu đã, sau đó kẻ cắp mới có thể chiếm hữu đợc của ngời khác, vậy cốnhiên là bạo lực có thể di chuyển đợc sự sở hữu nhng không thể sản sinh rabản thân chế độ t hữu nh thế đợc" {15-T278}

Hai hình thức sở hữu này cùng song song tồn tại với nhau, nhng xu hớng

t hữu ngày càng lấn át Chế độ t hữu phát triển và mang tính chất tiến bộ nên

nó ngày càng bào mòn và phá vỡ chế độ công hữu Ăngghen viết: "Ngay tronglòng công xã đó, chế độ ấy phát triển dới hình thức hàng hoá, trớc tiên trongviệc trao đổi với những ngời nớc ngoài Những sản phẩm của công xã ngàycàng mang hình thức hàng hoá, nghĩa là nó càng ít đợc sản xuất nhằm để chochính ngời sản xuất dùng và nó càng đợc sản xuất nhằm tạo mục đích trao đổi.Ngay trong nội bộ công xã, càng lấn át sự phân công tự nhiên thời nguyênthuỷ, tình trạng của cải của các thành viên trong công xã càng trở nên không

đồng đều, chế độ công hữu ruộng đất cũ càng bị phá vỡ sâu sắc và công xãcàng nhanh chóng đi tới chỗ giải thể thành một làng nông dân ruộng đất phântán” {15-T277}

Từ chỗ bao chiếm tài sản riêng mà công xã phân chia cho các gia đìnhcông xã, họ không muốn chia lại những tài sản đó, đặc biệt là tầng lớp ngờigiàu có Sự bao chiếm ngày càng lớn, cuối cùng công xã chỉ còn lại một ít đất,bãi cỏ, chăn nuôi, ao hồ, rừng núi… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Những tài sản mà không bất cứ một gia

đình nào đủ sức bao chiếm cho riêng mình Do vậy, dù chế độ t hữu có pháttriển đến mức nào thì những tài sản chung của công xã không bao giờ mất đi

mà nó vẫn tồn tại dai dẳng bởi nó đợc bảo vệ bằng những tập quán, luật lệ đặt

ra trớc đó của công xã… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy

Sự tồn tại song song hai hình thức sở hữu đó trở thành cơ sở bền vữngcho công xã nông thôn Ăngghen từng viết: "Chế độ chuyên chế phơng Đông

và sự thống trị luôn thay đổi của những dân tộc du mục xâm lợc trong hàng

Trang 24

nghìn năm cũng chẳng phá vỡ đợc những công xã cũ đó, nguyên nhân ngàycàng làm cho công xã đó tan rã chính là sự cạnh tranh của những sản phẩmcông nghiệp lớn làm tiêu diệt dần dần công nghiệp tự nhiên của gia đìnhnhững công xã đó” {15- T 277}

1 3 2: Về tổ chức kinh tế.

Đặc trng trong tổ chức kinh tế của công xã nông thôn là tính chất khépkín, tính chất này không chỉ thể hiện trong kinh tế mà còn thể hiện trong tổchức chính trị và cơ cấu tổ chức xã hội

Trong công xã nông thôn, kinh tế nông nghiệp kết hợp chặt chẽ với kinh

tế thủ công nghiệp, sự kết hợp này diễn ra ngay trong từng gia đình Sản phẩmlàm ra chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong gia đình và của toàn công xã,không có sự trao đổi ra bên ngoài Công xã không chỉ tự túc về lơng thực vànhững thứ cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày mà còn tự túc cả về t liệu sảnxuất, nghĩa là mỗi công xã đều có sự chuyên môn hoá về các ngành thủ côngnghiệp nh : đan lát, đúc, rèn, gốm, dệt vải, mộc … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Những sản phẩm đó là tựsản t tiêu, có thể nói mỗi công xã đều biệt lập với thế giới bên ngoài Nh C.Mác nhận xét trong "Th gửi Vêra Datxulítx”nói về tính khép kín của công xãNga rằng: "Có một tính chất của công xã nông nghiệp Nga làm cho nó yếu ớt

bị trở ngại về mọi mặt Đó là sự biệt lập của nó, sự thiếu quan hệ sinh hoạtgiữa một công xã này với các công xã khác … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy”{15- T 313}

Sự đóng kín giữa các công xã với nhau, giữa công xã với thành thị đã hạnchế khả năng giao lu, phát triển kinh tế của mỗi công xã Đó là yếu tố tiêu cực

nó làm cho công xã nông thôn phát triển chậm chạp và trì trệ

1 3 3: Về tổ chức hành chính

Với tính chất khép kín trong tổ chức kinh tế đã làm cho công xã nôngthôn trở thành một đơn vị hành chính độc lập mang tính tự trị cao

Trang 25

Công xã nông thôn là một tổ chức hành chính hết sức vững chắc với đầy

đủ các chức sắc nh một quốc gia thu nhỏ Và khi không cần thiết phải liên kết,

nó có thể tách ra đứng độc lập rất vững vàng trên nền tảng kinh tế tự cung tựcấp Trong công xã trên hết là hội đồng công xã có chức năng quản lý mọimặt đời sống xã hội, tổ chức sản xuất… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Trong công xã nh một bộ máy nhà n-

ớc trung ơng Đứng đầu hội đồng công xã là một xã tộc hay tù trởng, thủlĩnh… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy ời này thâu tóm mọi quyền hành trong công xã về tay mình giống nhngmột ông vua ở phơng Đông sau này Chức vụ này ban đầu còn do công xã bầulên, nhng về sau thờng là cha truyền con nối Bên cạnh ngời đứng đầu cónhững ngời giúp việc trông coi các hoạt động của công xã Những ngời đóthực sự là những "Bộ trởng”trông coi những ngành của "Quốc gia côngxã”trông coi vấn đề sản xuất nông nghiệp, trông coi nghề luyện kim, trông coithuỷ lợi, thuế má, dạy trẻ… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Trong đó lại có tổ chức thôn xóm cử ra ngờitrông coi mọi việc

Nh vậy, công xã nông thôn có cơ cấu tổ chức nh chính quyền một nhà

n-ớc thu nhỏ: "Là một đơn vị hành chính có quyền tự trị, nhà nn-ớc hầu nh khôngcan thiệp vào công việc nội bộ của công xã, mà công xã cũng không hề quantâm gì đến vận mệnh của nhà nớc” {6- T225} Sự cách biệt giữa nhà nớc vàcông xã là rất lớn và nó đợc duy trì lâu dài, nh GS - TS nhân học Jan Bờ-rê-man thuộc trờng Đại học Amstécđam trong công trình nghiên cứu: "Hình ảnhtan vỡ: xây dựng và phá vỡ hình tợng về làng xã tại châu á thời thuộc địa", đãnhận xét rằng: "Nhà nớc ở rất cao bên trên cấp địa phơng và là nơi thực hiệnquyền lực của vua chúa Quyền lực này cho dù bản chất của nó là chuyên chế,vẫn không hề bị tổn thơng khi không có liên hệ chặt chẽ với cuộc sống và hoạt

động của ngời bình dân và xã hội cần hơn hết chính là một nhịp cầu trung gian

để thể chế hoá, để có thể tạo ra một nhịp cầu bắc qua khoảng cách giữa triều

đình nơi nắm giữ quyền bính và quản lý văn hoá xã hội với làng xã” {12 T202} Chính C.Mác trong tác phẩm : "Sự thống trị của Anh ở ấn Độ”cũngviết: "Về mặt chính trị, công xã giống nh một phờng tự trị ở thành phố Thờngthờng nó có những nhà chức trách và những viên chức sau đây: Thôn trởng,

Trang 26

-tức là ngời trông nom chung công việc trong làng, dàn xếp những vụ tranhchấp trong nhân dân, chỉ huy cảnh sát, thu thuế… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy canh giữ biên giới, ngờitrông nom những kho chứa nớc và những kênh dẫn nớc phân phối nớc chonhu cầu của nông nghiệp Một tăng lữ Blamôn chuyên trông coi việc cúng tếtrong công xã Sau nữa là thầy giáo dạy trẻ em trong thôn đọc và viết trên cát.Còn có một tăng lữ Blamôn trông nom lịch ngày tháng, hay là một nhà chiêmtinh, và những ngời khác nữa Những viên chức trách ấy hợp thành cơ quanhành chính của công xã… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Nhân dân đã sống dới hình thức thô sơ ấy của việcquản lý công xã từ rất lâu rồi… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy” {6 -T 236}

1 3 4: Về tổ chức xã hội

Công xã nông thôn đợc ví nh bức tranh "xã hội thu nhỏ" Bởi trong côngxã nông thôn có đầy đủ các đẳng cấp, giai tầng nh ngoài xã hội Ngời có chứcsắc nh là thôn trởng hay là các Blamôn là đẳng cấp trên Ngời lao động là

đẳng cấp dới nh là nô lệ, nông dân công xã

Công xã nông thôn thực sự là một hình thái kinh tế - xã hội thu nhỏkiên cố và đóng kín ở trong đó ngời ta tự sản t tiêu, không có sự chỉ đạo từtrên xuống tận công xã Tính chất kiên cố này thể hiện rõ nét nhất trong xã hội

ấn Độ, C.Mác đã từng viết: "Ranh giới của các công xã thờng hay thay đổi, vàmặc dù bản chất của các công xã đôi khi bị thiệt hại nặng nề hay thậm chí bịchiến tranh tàn phá hoàn toàn, đói rét và bệnh tật, những cái tên ấy cùngnhững ranh giới ấy, cùng những quyền lợi ấy và thậm chí cùng những gia tộc

ấy vẫn cũng tiếp tục tồn tại từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, dù một nớc quânchủ bị diệt vong và phân chia, dân c những làng mạc ấy cũng không hề lo lắng

đến, chỉ cần làng mạc của họ nguyên vẹn và không bị thiệt hại là đợc, dù làngmạc của họ chuyển sang sống dới chính quyền của một nớc nào hay phục tùngmột ông vua nào đi nữa thì họ cũng không quan tâm đến, bởi vì đời sống kinh

tế trong nội bộ của họ vẫn không thay đổi” {6 - T237} Trong mỗi công xãthành viên của mỗi công xã sống biệt lập với thế giới bên ngoài Ngời ta chỉ

Trang 27

biết tái sản xuất, trao đổi trong nội bộ công xã mình, còn mọi biến động bênngoài là bất biết, họ thiếu đi tầm nhìn xa bên ngoài, điều này làm hạn chế sựphát triển của xã hội

1 3 5: Nhận xét

Từ những đặc trng về xã hội cũng nh về kinh tế, hành chính, về chế độ

sở hữu t liệu sản xuất ta thấy công xã nông thôn có khả năng tồn tại dai dẳngtrong lịch sử Bởi ta thấy tính chất biệt lập với thế giới bên ngoài là một trongnhững điều kiện làm cho công xã nông thôn tồn tại dai dẳng trong lịch sử.Mặc dù vậy trong công xã nông thôn cũng có sự phân công lao động nhất

định, trong đó có những gia đình chuyên làm nghề nông, có gia đình làm nghềthủ công, cũng có gia đình làm nghề buôn bán, chăn nuôi Nhng sự phân cônglao động này không rõ ràng Sự kết hợp giữa kinh tế nông nghiệp và thủ côngnghiệp trở thành một đặc điểm của công xã nông thôn Sự kết hợp này vừa đợcthực hiện trong gia đình, vừa đợc thực hiện trong cộng đồng công xã đối vớitừng đơn vị gia đình, đàn ông thờng làm nghề nông, nh cày bừa và những việcnặng nhọc Còn đàn bà chỉ làm những việc trong nhà nh trông nom con cái,chuẩn bị bữa ăn cho gia đình, gặt hái, gieo mạ … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Đối với toàn công xã thì sựphân công dựa theo nghề nghiệp, nghĩa là bên cạnh những gia đình chuyênlàm nghề nông thì có những gia đình chuyên làm nghề thủ công phục vụ chocả công xã Do vậy những gia đình làm nghề nông có thể đem sản phẩm nôngnghiệp để đổi lấy sản phẩm thủ công nghiệp và ngợc lại Sự trao đổi diễn ratrong công xã để đảm bảo cuộc sống cho từng gia đình mà họ không phải thựchiện trao đổi ra bên ngoài Trong công xã đa số là sản xuất lao động nhngcũng có một số ít ngời không trực tiếp tham gia sản xuất mà họ nắm quyềnquản lý và họ thu nhiều sản phẩm lao động của thành viên công xã Đó lànhững ngời có chức quyền, t thơng và nhà giàu

Trang 28

Hình thức tôn giáo trong công xã nông thôn cũng rất phức tạp và khônggiống nhau giữa các vùng Họ thực hiện tín ngỡng tôn giáo của mình theo đặctrng từng vùng, từng khu vực Trong giai đoạn đầu hình thức tôn giáo của nóvừa thờ phụng những vị thần linh của chung công xã, vừa thờ những vị thầnriêng cho từng ngành sản xuất của họ Ngoài ra trong từng gia đình còn thờcúng riêng tổ tiên của mình Phần lớn nghi lễ tôn giáo do công xã đảm nhận

và có ngời trông coi Sau này khi xã hội xuất hiện những t tởng, học thuyết tôngiáo lớn thì công xã nông thôn lại là đơn vị biểu hiện những tín ngỡng tôngiáo đó

ở phơng Đông hầu hết các quốc gia nhà nớc đều ra đời trên cơ sởcông xã nông thôn tức là liên minh công xã nông thôn Khi lực lợng sản xuấtphát triển thì một mình công xã nông thôn không thể tiến hành những việc lớn

nh : trị thuỷ, thuỷ lợi, chống ngoại xâm … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy nên liên minh công xã ra đời Tuyvậy, liên minh công xã ra đời cũng không phá nổi công xã nông thôn mà ng-

ợc lại nó còn làm cho công xã nông thôn tồn tại vững chắc hơn

yêu cầu trị thuỷ, thuỷ lợi, chống ngoại xâm … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy đặt ra ngày càng lớn,hơn nữa mâu thuẫn trong xã hội diễn ra gay gắt không thể giải quyết nổi, do

đó nhà nớc đã ra đời Ăngghen viết: "… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy lúc đó chỉ có thiếu một cái thôi, đó làcơ quan không những bảo vệ những của cải mà các t nhân vừa mới có đợc,khỏi bị những truyền thống cộng sản chủ nghĩa của chế độ thị tộc xâm phạm

mà còn kéo dài mãi quyền của giai cấp hữu sản bóc lột giai cấp không có của

và cơ quan đó đã xuất hiện Nhà nớc đã đợc xuất hiện" {13 - T103]

Lúc đầu, nhà nớc cha đủ sức để tác động,với tay xuống tận công xã,nhng về sau do sức mạnh ngày càng lớn nên dần dần đã với tới công xã nôngthôn, dù ý thức của nó là muốn bảo lu, nhng đã từ từ phá vỡ công xã Mặc dùvậy chúng ta đã thấy cho đến tận bây giờ xã hội loài ngời đã trải qua các hìnhthái xã hội khác nhau nhng những tàn d của công xã nông thôn vẫn còn tồn tại

Trang 29

ít nhiều trong đời sống làng xã của các quốc gia trên thế giới Điều đó khẳng

định sức sống mãnh liệt của công xã nông thôn, nó vẫn còn tồn tại cho dù đó

là những biến tớng, là "cái bóng”của nó

Trên đây là 5 đặc trng của công xã nông thôn trên thế giới, sự biểu hiệncủa 5 đặc trng này giúp chúng ta nhận biết đợc đây là một hình thái quá độ từxã hội cha có giai cấp, nhà nớc sang xã hội có giai cấp nhà nớc Nó là một bớctiến của xã hội loài ngời từ chỗ kế thừa xã hội cộng sản nguyên thuỷ cho đếnchỗ làm cơ sở cho việc hình thành một hình thái xã hội mới Trên cơ sở những

đặc trng đó giúp chúng ta khảo sát một số loại hình công xã nông thôn ở trênthế giới, để từ cái chung, mà nhận biết đợc cái riêng của từng công xã

Trang 30

Chơng 2 :

các loại hình công xã nông thôn trên thế giới

Nh chúng ta đã biết vào khoảng thiên niên kỷ IVTCN đến thiên niên kỷITCN loài ngời đã lần lựơt bớc vào giai đoạn quá độ từ xã hội cộng sảnnguyên thuỷ tiến lên xã hội có giai cấp Trong giai đoạn qúa độ đó trên thếgiới đã xuất hiện một loại hình tổ chức xã hội mới, đó là công xã nông thôn -

là hệ quả đầu tiên của sự phát triển lực lợng sản xuất Thế nhng sự ra đời vàphát triển của công xã nông thôn ở trên thế giới không hoàn toàn giống nhau

mà ở mỗi nơi, mỗi khu vực có những nét riêng mang đặc trng riêng của côngxã nông thôn ở phơng Đông và phơng Tây Chẳng hạn, với công xã nông thôn

ở Nga, ở Đức mang sắc thái của công xã nông thôn ở phơng Tây, với sự tồn tạidai dẳng của công xã nông thôn ở ấn Độ và những dấu ấn của công xã nôngthôn ở Việt Nam đã nói lên đợc công xã nông thôn là một hiện tợng lớn tronglịch sử các quốc gia cổ đại phơng Đông

điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nghề nông

Từ nền văn hoá Haráppa - Mômengiô - Đarô đã chứng minh rằng từgiữa thiên niên kỷ II đến đầu thiên niên kỷ ITCN, ở lu vực sông ấn đã xuấthiện một nền văn hoá rực rỡ, mà chủ nhân của nền văn hoá đó là ngời

Đraviđa C dân bản địa Đraviđa đã biết đến chế tác đồ dùng bằng đồng, tuynhiên đồ đá còn đợc sử dụng phổ biến nhng lúc đó cha có đồ sắt, nghành sảnxuất chủ yếu là nông nghiệp: "Ngời ta cha rõ trình độ kỹ thuật canh tác lúc ấy

nh thế nào, nhng điều chắc chắn là lúc đó ngời Đraviđa đã biết trồng đại

Trang 31

thế giới biết trồng bông và biết dùng bông để dệt vải Những di tích về nhữngcông trình thuỷ lợi ở thời kỳ này còn cha phát hiện đợc, nhng căn cứ vào trình

độ phát triển chung của nền văn hoá đó ngời ta có thể suy đoán đợc rằngngời

Đraviđa đã biết đào mơng, đắp đập để dẫn nớc vào ruộng” {6- T201}

Ngoài ra, ngành chăn nuôi cũng phát triển, thủ công nghiệp với cácnghề làm đồ gốm, làm đồ trang sức, nghề chạm trỗ trên đá … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy rất phát đạt.Nền văn minh ở lu vực sông ấn này là một nền văn minh tiên tiến nhất trênthế giới lúc bấy giờ, nó đặt cơ sở cho văn hoá và kỹ thuật của ngời ấn Độ cổ

đại phát triển lên về sau này

Nhng đến cuối thiên niên kỷ IITCN trở đi nền văn hoá Haráppa Mômengiô - Đarô bắt đầu suy tàn, nguyên nhân của sự suy tàn này còn cónhiều ý kiến khác nhau và đây là một vấn đề lớn mà giới sử học đang tranhcãi Chỉ biết rằng vào khoảng trên dới 2000 năm TCN, một số bộ lạc thuộcchủng tộc ngời Arian từ miền núi In-đu–ku- xơ và cao nguyên Pa-mia bắt

-đầu xâm nhập miền Tây Bắc ấn Độ Ngời Arian đang sống dới chế độ công xãthị tộc mạc kỳ, gồm nhiều bộ lạc du mục

Đời sống kinh tế, xã hội của ngời Arian đợc phản ánh trong kinh Vê-đa

và so với c dân bản địa thì ngời Arian còn thua kém rất xa Nhng sau một quátrình chinh phục lâu dài thì c dân bản địa đã bị đồng hoá Do tiếp thu nền vănhóa cũ của ngời Đraviđa,do học tập đợc kỹ thuật canh tác của họ, do chiếm đ-

ợc những vùng đất đai rộng lớn, màu mỡ, ngời Arian bắt đầu chuyển từ đờisống chăn nuôi du mục sang đời sống nông nghiệp định c, chế độ công xãnông thôn xuất hiện thay thế công xã thị tộc Công xã đó có đầy đủ các cơquan hành chính nh một nhà nớc chuyên chế tập quyền ấn Độ cổ đại, lấy nềnkinh tế nông nghiệp làm cơ sở

2 1 2: Đời sống kinh tế

Cùng với sự xâm nhập của ngời Arian vào đầu thiên niên kỷ thứ II TCNthì đồ sắt cũng xuất hiện Những công cụ lao động bằng sắt nh: lỡi cày, lỡi

Trang 32

cuốc… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy ợc c dân bắt đầu sử dụng, nền kinh tế của công xã nông thôn ở ấn Độ đdựa trên cơ sở nền nông nghiệp gia đình

ở công xã ấn Độ ruộng đất trên danh nghĩa thuộc quyền sở hữu tối caocủa nhà nớc Nhng thực tế quyền lực của nhà vua rất mờ nhạt, thực tế ruộng

đất thuộc quyền sở hữu cuả công xã và công xã có quyền đợc sử dụng toàn bộ

đất đai, rừng rú, bãi chăn nuôi, sông hồ, … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Những ruộng đất này đợc chiaphần cho các nông dân công xã và các thợ thủ công, phục vụ lợi ích chung củacông xã Tuy nhiên, chế độ ruộng đất của công xã có khác nhau tuỳ từngvùng, ở những vùng lạc hậu nhất quan hệ chiếm hữu nô lệ phát triển còn yếu

ớt, ruộng đất còn thuộc quyền sở hữu của công xã, mọi thành viên đều lao

động chung và đợc chia đều sản phẩm lao động Trong những vơng quốcchiếm hữu nô lệ tơng đối phát triển hơn, ruộng đất và những nguồn nớc,những công trình thuỷ lợi vẫn còn thuộc quyền sử dụng chung của công xã -

sở hữu tập thể về các t liệu sản xuất chính vẫn là một trong những nguyên tắccơ bản của chế độ công xã, nhng việc canh tác tập thể thì không còn nữa vàviệc chia đều sản phẩm lao động cũng không thành vấn đề nữa Trong nhiềutrờng hợp, ruộng đất hàng năm đợc chia lại cho các gia đình nông dân tự docông xã sử dụng để cày cấy và hởng thụ hoa lợi riêng, còn đồng cỏ, bãi chănnuôi và đất hoang, đầm hồ thì vẫn thuộc quyền sở hữu chung của công xã

Nông dân công xã cày cấy ruộng đất đều phải nộp thuế cho nhà vua, tỷ

lệ xê dịch khác nhau, nhng phổ biến là vào khoảng 1/6 thu hoạch, cùng nhữnglao dịch cho nhà nớc, mà nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng thực chất chỉ làmột loại tô (hiện vật và lực dịch) của tá điền (nông dân công xã) nộp cho địachủ (nhà vua) Do vậy ngời nông dân tuy có đợc cấp ruộng nhng không đợcbán, và có thể bị nhà vua độc đoán, tớc đoạt đi để đem cho ngời khác Một khingời nông dân rời bỏ công xã thì đồng thời họ cũng mất quyền sử dụng ruộng

đất đó Nh vậy, thành viên của công xã nông thôn chỉ là những ngời có quyềnchiếm hữu và sử dụng ruộng đất mà thôi

Tuy nhiên, ở những chỗ khác lại có những dấu hiệu chứng tỏ ngay từ

Trang 33

cũng đã nói tới, tuy chỉ mội lần, về quyền làm chủ đất đai của ngời đầu tiên đãchặt cây cối vỡ hoang và cày bừa Ngời nông dân công xã thực tế là một ngời

có quyền sở hữu ruộng đất, tất nhiên với điều kiện họ có nộp thuế cho nhà n

-ớc Họ có quyền trở lại sử dụng ruộng đất của họ sau một vài năm vắng mặt ởcông xã, có quyền để lại ruộng đất đó cho con cháu thừa kế (theo dòng nam).Hơn nữa từ thế kỷ XVI, cùng với sự phân hoá giai cấp, những kẻ có uy thếtrong công xã đã trở thành những địa chủ lớn, phát canh thu tô, bóc lột tá điền.Vậy thì trong công xã ấn Độ thực tế đã tồn tại chế độ t hữu ruộng đất, tuyrằng quyền sở hữu đó của những ngời nông dân tự canh đã có tính chất tạm bợ

và xét đến cùng cũng coi nh không có Nhiều tầng: Nhà nớc trùm lên công xã

và công xã trùm lên các gia đình Mặt khác, nó là một thứ kết hợp đa dạnggiữa yếu tố sở hữu công xã và sở hữu t nhân song song tồn tại, yếu tố thứ hai

đã dần dần lấn át yếu tố thứ nhất Tình trạng này tồn tại đến thế kỷ XIX, khithực dân Anh áp dụng chế độ thuế mới về ruộng đất (Ryotwau)

Trong công xã nông thôn ở ấn Độ, kinh tế nông nghiệp và thủ côngnghiệp kết hợp chặt chẽ với nhau làm cho công xã biến thành một đơn vị kinh

tế độc lập Hầu hết sản phẩm làm ra đều nhằm phục vụ trực tiếp cho việc tiêudùng của công xã mà không trở thành hàng hoá trao đổi trong công xã cũng

nh ra ngoài công xã Mỗi một công xã có khả năng tự túc về đại bộ phận các tliệu tiêu dùng, lơng thực cũng nh sản phẩm thủ công, do đó liên hệ rất ít vớicông xã khác hoặc với các thành thị Điều đó đã làm cho những quan hệ hànghoá, tiền tệ phát triển rất chậm chạp trong nớc

Tập thể công xã nuôi một số thợ thủ công nh thợ rèn, thợ mộc, thợ làm

đồ gốm, thợ thuộc gia, thợ kim hoàn … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy còn nghề dệt thì nhà nào cũng có để

tự làm vải và may quần áo Nh mọi nhu cầu trong cuộc sống đều tự trong côngxã sản xuất lấy Vì vậy, công xã là một đơn vị sản xuất đóng kín mang tínhchất tự cung tự cấp nh C.Mác nói mỗi một công xã là một "chỉnh thể về sảnxuất”,với nền kinh tế khép kín này nó tạo ra sự đầy đủ cho nhu cầu của toàncông xã Nhng hạn chế lớn nhất của nó là nó làm cho nền kinh tế kém phát

Trang 34

triển, sự sáng tạo của ngời sản xuất khó đợc phát huy Sự cố kết kinh tế trongcộng đồng đã làm cho hoạt động giao lu kinh tế giữa các công xã không pháttriển đợc, quan hệ trao đổi rất hạn chế, có chăng chỉ là vật đổi vật và nhữngthứ hàng không sản xuất đợc nh muối và sắt Điều này đã làm cho công xã tồntại dai dẳng, trì trệ với những hạn chế của nó, nó làm chậm sự phân hoá xãhội, kìm hãm sự phát triển của xã hội Nền kinh tế đóng kín đã kìm hãm sựphát triển của kinh tế nhất là công thơng nghịêp do vậy dẫn đến giao thôngcũng kém phát triển làm cho cuộc sống của ngời dân bị bó hẹp trong mộtkhuôn khổ chật hẹp của công xã Đó là những cơ sở cho những tập tục lạc hậu,nhất là mê tín dị đoan tồn tại dai dẳng

2 1 3:Tổ chức xã hội

ở ấn Độ công xã nông thôn không chỉ là một đơn vị kinh tế độc lập,

mà còn là một đơn vị tổ chức xã hội, một đơn vị hành chính có nhiều quyền tựtrị Nhà nớc hầu nh không can thiệp vào công việc nội bộ của công xã mà ng-

ợc lại công xã cũng không quan tâm gì đến vận mệnh của đất nớc

Đứng đầu công xã là một hội đồng - là một cơ quan lãnh đạo tập thể docông xã bầu lên hoặc một số nơi do ông cha truyền lại cho con cháu Hội đồngnày có nhiệm vụ duy trì tập quán, hoà hợp và hoà giải các vụ xích mích hoặclên án một thành viên vi phạm tục lệ của công xã, cũng có thể triệu tập các đạihội, trong đó ngời ta thảo luận và quyết nghị về những công việc chung củalàng xã, nh việc thu thuế, cai trị Ngời có quyền cao nhất trong hội đồng là xãtrởng, do hội đồng cử ra hoặc do tục lệ cha truyền con nối Ngoài ra, còn cómột số kỳ hào khác hỗ trợ cho hội đồng Nhà nớc thông qua hội đồng này đểthu thuế má, điều lao dịch chứ không bổ trực tiếp vào từng thành viên công xã

Đây cũng là điều làm cho tổ chức công xã nông thôn ấn Độ duy trì một cáchbền vững và lâu dài Về tổ chức hành chính của công xã nông thôn ở ấn Độ,C.Mác đã từng viết: "Về mặt chính trị công xã giống nh một phờng tự trị ở

Trang 35

thành phố, thờng thờng nó có những nhà chức trách và có những viên chức sau

đây: thôn trởng tức là ngời trông coi việc chung trong làng, dàn xếp những vụtranh chấp trong nhân dân, chỉ huy cảnh sát và thu thuế… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy, ngời canh giữ biêngiới… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy, ngời trông nom những kho chứa nớc và những kênh dẫn nớc phân phốicho nhu cầu của nông nghiệp Một tăng lữ Blamôn chuyên trông nom côngviệc cúng tế trong công xã, sau nữa là thầy giáo, dạy trẻ em trong thôn đọc vàviết trên cát Còn có một Blamôn trông coi việc ngày tháng, hay là một nhàchiêm tinh, và những ngời khác nữa Những viên chức trách ấy hợp thành cơquan hành chính của công xã … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Nhân dân đã sống dới hình thức thô sơ ấy củaviệc quản lý công xã từ rất lâu rồi” {6-T236}

Công xã nông thôn ở ấn Độ dựa trên chế độ đẳng cấp, thời cổ là chế độ

đẳng cấp Vácna và thời trung đại là Casta Hiện nay trong mỗi làng xã cókhoảng 17 đẳng cấp khác nhau, gọi theo tên nghề nghiệp có thể phân ra thànhhai đẳng cấp chính: Những đẳng cấp cao, những đẳng cấp trung gian và những

đẳng cấp thấp Quan niệm về phân biệt đẳng cấp là một sự tổng hợp của cácthành kiến tôn giáo (quan niệm trong sạch và không trong sạch), nghề nghiệp

và dòng họ Ngời ta khó có thể phân loại rạch ròi đợc thứ bậc cao thấp củatoàn bộ bậc thang các đẳng cấp, điều đó có thể thay đổi theo quan niệm củatừng ngời, nhng ngời ta không hề lẫn lộn giữa các loại đẳng cấp cao, trunggian và thấp Rất nhiều những thành kiến khắt khe phân biệt đối xử trong cácquan hệ hôn nhân, ăn uống và sinh hoạt Những đẳng cấp thấp thờng ở ra mộtnơi ven rìa làng về phía đông, nh các loại thợ vét bùn, thợ bện thừng, với quanniệm là gió sẽ thổi bạt những ô uế của họ ra ngoài cánh đồng

Nh vậy, tổ chức xã hội của công xã nông thôn ở ấn Độ nh là một "vơngquốc”độc lập, nó tồn tại tách biệt với nhà nớc Trong tổ chức đó có cả nhữngcơ quan hành chính, những ngời phụ trách các lĩnh vực của đời sống công xã,thợ thủ công và nông dân công xã Chính cơ cấu tổ chức này tạo điều kiện cho

Trang 36

công xã "sống lâu", tồn tại dai dẳng và điều này đã kìm hãm sự phát triển củaxã hội ở ấn Độ

2 1 4: Đời sống tinh thần

Thành viên của công xã ấn Độ thực hiện một cách có ý thức những quy

định của công xã nh tập quán, tục lễ, những điều kiêng cự tôn giáo … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Nó cómột sức mạnh lớn, vừa có chức năng giáo dục "tạo nên một loại nào đó củachế độ cảnh sát" Mặc dù bên cạnh chế độ đẳng cấp khắt khe nhng thành viêncông xã vẫn phải sống bám vào những luật lệ của công xã

Sinh hoạt tập thể trong công xã thể hiện rất rõ rệt qua các buổi tế lễ, hội

hè và các đám rớc … Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy Có những đám rớc đơn thuần mang tính chất lễ nghi tôngiáo, dân làng cùng nhau kéo đến các chùa chiền, đình miếu để cúng tế các vịthần linh nói chung nh Braman, Vitsnu, Xiva, hoặc phật Thích - Ca -Mu - Nihay cúng tế các vị thần riêng của công xã nh các loại thần Mariai (Thần đậumùa), thần Hanu man, thần khỉ… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy

Có một loại khác nữa là những hội hè, tế lễ mang tính chất mùa màng vàngày tháng Cứ ngày mồng một và ngày rằm âm lịch, ngày năm mới ngời ta

ăn Tết khá linh đình, nhà cửa lau chùi sạch sẽ, xức dầu thơm, đốt trầm hơng.Vào mùa xuân có một thứ hội là hội hoa đăng (foli), trong đó thanh niên namnữ vui chơi thoả thích, mọi ngời bôi phấn đỏ hoặc rảy các nớc đỏ vào nhau đểtởng nhớ đến thần Kama (Thần tình yêu) Vào mùa xuân họ còn tổ chức cáchội đánh đu để tởng nhớ đến thần Gauri, trong đó trai gái càng đu thật cao thìnăm đó mùa màng càng tốt tơi, động tác đu tợng trng cho vòng quay mặt trời.Dân làng còn tổ chức các hội chọi trâu, ngựa, voi, cừu, công và đặc biệt chọi

gà Môn thể thao mang tính truyền thống dân gian đợc mọi ngời a thích là

đánh vật

Ngời ta còn nói nhiều đến hội hè tôn giáo và phàm tục khác trong làng

Trang 37

tục thờ các Linga-yori nổi tiếng, đợc mô tả nh một cặp sinh thực nam nữ, thực

ra không hoàn toàn mang tính dâm tục, khêu gợi nh nhiều ngời tởng Tuynhiên, nội dung lại là những sinh hoạt vui chơi dân gian thoải mái trong côngxã, nó thể hiện tinh thần đất nớc ấn Độ và ấn độ giáo, "đồng thời vừa là tôngiáo của những sự túng dục vô độ, vừa là tôn giáo của sự tu hành khắc khổ,vừa là tôn giáo của nhà s, vừa là tôn giáo của vũ nữ"

Đời sống tinh thần của công xã ở ấn Độ rất đa dạng và phong phú, chính

nó là cơ sở cho việc hình thành nền văn minh ấn Độ - là một trong những nềnvăn minh rực rỡ nhất của xã hội loài ngời Chính nó đã đem lại tính chất đadạng, muôn màu muôn vẻ trong văn hoá của ấn Độ Cũng từ nền văn hoá này

mà các dân tộc ở châu á nói chung và Đông Nam á nói riêng ít nhiều ảnh ởng

Nh vậy, ta thấy do điều kiện thiên nhiên khó khăn và trình độ phát triểnthấp kém của kỹ thuật canh tác khiến cho ngời ta phải thờng xuyên tập hợpsức lực của nhiều ngời lại để tiến hành sản xuất đạt kết quả, chính vì thế màcông xã nông thôn đã ra đời Mặt tích cực của công xã nông thôn là liên hiệplại với nhau để tạo ra sức mạnh cộng đồng để làm thuỷ lợi, trị thuỷ và chốngngoại xâm, đồng thời tạo ra cơ sở cho việc hình thành nhà nớc thống nhất.Chính vì thiết chế của công xã nông thôn mà những quốc gia văn minh đợchình thành trên cơ sở công xã nông thôn đều mang tính chuyên chế trung ơngtập quyền cao độ nh ở ấn Độ, Lỡng Hà, Ai Cập, Trung Hoa, mà tiêu biểu nhất

là ấn Độ

Một trong những đặc trng cơ bản nhất của công xã nông thôn ở ấn Độ làtính chất kiên cố của nó - là nguyên nhân làm trở ngại cho việc phát triểnmạnh mẽ của những quan hệ chiếm hữu nô lệ ở ấn Độ Ngoài ra sự tồn tại củacông xã nông thôn ở ấn Độ còn ngăn cản sự phát triển của chế độ t hữu vềruộng đất, là t liệu sản xuất chủ yếu Cho nên trong suốt cả thời đại chế độ

Trang 38

chiếm hữu nô lệ ở ấn Độ, quyền sở hữu tối cao của nhà nớc là hình thức sởhữu ruộng đất chiếm vị trí chủ đạo, tạo điều kiện cho giai cấp chủ nô lợi dụng

bộ máy nhà nớc bóc lột nô lệ một cách tàn khốc, đồng thời cớp đoạt một cáchtrắng trợn bằng chế độ thuế khoá và su dịch, sức ngời và sức của của dân tự do

ấn Độ thời cổ

Sự tồn tại chế độ công xã nông thôn ở ấn Độ điển hình cho xã hội phơng

Đông thời cổ đại và nó trở thành một đặc điểm quan trọng trong xã hội phơng

Đông với tất cả sự trì trệ và bảo thủ của nó

2 2: Công xã nông thôn ở Trung Quốc

2 2 1 Những nét chung

Lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa nằm giữa hạ lu hai con sông Hoàng

Hà và Trờng Giang Hai con sông này đã giữ vai trò quan trọng trong đời sống

cổ xa của ngời dân Trung Quốc Bắt nguồn từ miền rừng núi Trung á, hai consông ấy có thuỷ lợng rất cao Hàng năm về đầu mùa hạ sang đầu mùa thu,băng tuyết ở nguồn tan ra nớc lũ dâng lên nhanh chóng, đặc biệt là sôngHoàng Hà, nớc lũ dâng lên nhiều lần làm thay đổi cả dòng sông, gây nên thuỷtai ghê gớm

Từ điều kiện thiên nhiên đó, từ thời thợng cổ con ngời đã biết tiến xuống

và c trú trên miền đất thấp và miền đồng bằng dọc sông Hoàng Hà và cácnhánh sông khác của sông này tới nớc, từ rất sớm họ đã lấy nông nghiệp làm

bộ phận chủ yếu trong nền kinh tế của họ Do chỗ lợng ma và tuyết phân bốkhông đều, khiến cho c dân lúc bấy giờ không thể không dựa vào việc tới nớcbằng sức ngời, đồng thời do chỗ về mùa hạ tuyết tan làm cho nguồn nớc ởtriền phía đông núi Côn-lôn trộn lẫn bùn cát hoàng thổ chảy về đông, khôngngừng bồi đắp lòng sông đến nỗi nớc sông luôn dâng tràn thành lụt nên c dânphải hợp sức tiến hành cuộc đấu tranh thờng xuyên và có tổ chức với sự ngậplụt rất tai hại của sông Hoàng Hà

Trang 39

Hơn nữa, ở các vùng đồng cỏ, đồng bằng rộng lớn và vùng đất tiếp cậncác lu vực phì nhiêu của các con sông, từ xa đến nay vốn có các bộ lạc du mục

c trú, ngời dân làm ruộng ở Trung Quốc thờng phải chống lại sự xâm phạmcủa những ngời du mục đồng cỏ đó và của các bộ lạc miền núi Để bảo vệlãnh thổ, chống lại các tai hoạ từ ngoài đến, nhất là để thống nhất toàn bộmạng lới thuỷ lợi nhằm thích ứng với nhu cầu của công việc tới nớc quy môlớn, rõ ràng là có sự cần thiết phải tập trung quý tộc thị tộc, tăng cờng quyềnlực của thủ lĩnh quân sự

Xuất phát từ những nhu cầu về thuỷ lợi, trị thuỷ và chống ngoại xâm lànhững c dân du mục và các bộ lạc ở miền núi, c dân thời cổ ở Trung Quốc đãhợp sức lại với nhau để làm những công việc trên Sự hợp tác trong lao động,trong đấu tranh chống lại những khắc nghiệt của thiên nhiên và đấu tranhchống ngoại xâm đã hình thành những nhóm ngời bao gồm nhiều gia đìnhtách ra từ công xã thị tộc đến c trú và sinh sống trên một vùng lãnh thổ nhất

định, cùng làm nghề nông và từ đó một tổ chức xã hội mới ra đời - đó là côngxã nông thôn

Trong công xã nông thôn ở Trung Quốc bao gồm nhiều gia tộc độc lậpriêng lẻ, con số gia tộc không đồng đều Nói chung, tổ chức công xã nôngthôn tơng đối lớn có thể bao gồm trên một trăm gia tộc độc lập, tổ chức côngxã nông thôn tơng đối nhỏ cũng phải hai mơi lăm gia tộc độc lập Loại đầu,tức là loại bao gồm trên một trăm gia tộc độc lập là hình thức công xã nôngthôn tơng đối nguyên thuỷ, còn loại thứ hai tức là loại bao gồm hai mơi lămgia tộc độc lập thì đã là hình thái hậu kỳ của công xã nông thôn

Trong công xã nông thôn ở Trung Quốc cũng nh công xã chung của châu

á, nó tồn tại hai hình thức sở hữu, đó là sở hữu công xã và mặt khác các thànhviên công xã đợc chia ruộng đất theo định kỳ Sự kết hợp giữa sản xuất nôngnghiệp và nghề thủ công nghiệp cũng trở thành cơ sở kinh tế của công xã.Nhìn chung, công xã nông thôn ở Trung Quốc mang những đặc trng chungcủa công xã nông thôn ở châu á và cùng với ấn Độ, nó trở thành công xã điểnhình ở châu á với những đặc điểm sau đây

Trang 40

2 2 2: Chế độ sản xuất và phơng thức canh tác

Trên danh nghĩa thì ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà vua, nhà nớc

cổ đại Trung Quốc cho rằng nó có quyền lực tuyệt đối: tớc đoạt ruộng đất củacông xã hoặc tuỳ ý xử lý toàn bộ ruộng đất: “Tìm hiểu các loại hình công xã nông thôn trên thế giớiDới gầm trời này, không đâu làkhông đất đai của nhà vua, khắp thiên hạ không ai là không kẻ bề tôi của nhàvua”

Nhng thực tế thì quyền sở hữu thuộc về toàn thể công xã, trong công xã,

đất đai, đồng cỏ, rừng núi, bãi chăn nuôi là dùng chung và của chung, bêncạnh đó công xã chia cho các thành viên gia tộc một số lợng nhất định, điều

đó có nghĩa là toàn thể thành viên của công xã chỉ có thể trở thành ngời chiếmhữu ruộng đất, sự chiếm hữu của họ cũng nảy sinh với việc lấy quá trình thựctiễn lao động làm tiền đề chứ không phải là ngời sở hữu ruộng đất nh C Mác

nói trong tác phẩm: "Các hình thái có trớc sản xuất t bản chủ nghĩa”rằng :

"Ngời sở hữu thực tế, chân chính đó là công xã" Đất trồng trọt tuy là đã chiacho các gia tộc, nhng không phải là tài sản t hữu của các gia tộc mà chỉ là tạmthời giao cho họ sử dụng Tài sản t hữu của các gia tộc là nhà cửa, vờn tợc vànhững công cụ lao động, những vật dụng trong gia đình nh nồi, niêu, xoongchảo, quần áo, bát đĩa… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy

Trên cơ sở chế độ ruộng đất đó, công xã nông thôn đã chia ruộng đấtthành ba phơng thức canh tác khác nhau: Phơng thức canh tác chia làm bakhoảng, phơng thức canh tác chia làm hai khoảng và phơng thức nghỉ trồngtrọt, tức là ba năm quay vòng trồng trọt lại một lần Phơng thức canh tác nàyvốn không phải là sản phẩm của cùng một thời kỳ mà là cả quá trình phát triểntrớc sau

Nh chúng ta đã biết, tình hình phát triển thông thờng của kỹ thuật canhtác là, đầu tiên do ngời làm ruộng dùng loại công cụ hết sức nguyên thuỷ của

họ là cọc vót nhọn hoặc thân cây… Tuy nhiên dù có thấp kém thì chúng ta thấy tiến hành canh tác, hoặc là dùng lửa đốttrụi cây cối để khai phá đất đai, đòi hỏi nhiều thời gian và nhiều sức lao động

số còn lại sau khi dùng lửa đốt trụi cây cối, khi trời ma ngấm vào mặt đất mới

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Ngọc Bảo (2000), Các mô hình xã hội thời cổ đại, NXBGD, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình xã hội thời cổ đạ
Tác giả: Đinh Ngọc Bảo
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2000
2. Bùi Xuân Đính (1985), Lệ làng phép nớc,NXB pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng phép nớc
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: NXB pháp lý
Năm: 1985
3. Vũ Dơng Ninh (1995), Lịch sử ấn Độ, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ấn Độ
Tác giả: Vũ Dơng Ninh
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1995
4. Vũ Dơng Ninh chủ biên (2001), Một số chuyên đề lịch sử thế giới, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử thế giới
Tác giả: Vũ Dơng Ninh chủ biên
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2001
5. Văn Tạo (1996), Phơng thức sản xuất châu á- Lý luận Mác-Lênin và thực tiễn ở Việt Nam, NXBKHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng thức sản xuất châu á- Lý luận Mác-Lênin vàthực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Văn Tạo
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1996
6. Chiêm Tế (1978), Lịch sử thế giới cổ đại (Tập 1,2), NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại (Tập 1,2)
Tác giả: Chiêm Tế
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1978
7. Bùi Thiết (2000), Việt Nam thời cổ xa, NXBTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thời cổ xa
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: NXBTN
Năm: 2000
8. Ban Nông Nghiệp Trung ơng (1991), Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay-Tập 2, NXBTT-VH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế xã hội nông thôn ViệtNam ngày nay-Tập 2
Tác giả: Ban Nông Nghiệp Trung ơng
Nhà XB: NXBTT-VH
Năm: 1991
9. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, NXBCTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịchsử Việt Nam
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 1995
10. Uỷ ban KHXH Việt Nam, Viện sử học (1978), Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXBKH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn Việt Namtrong lịch sử
Tác giả: Uỷ ban KHXH Việt Nam, Viện sử học
Nhà XB: NXBKH
Năm: 1978
11. Viện sử học (1976), Thời đại Hùng Vơng, NXBKHXH,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời đại Hùng Vơng
Tác giả: Viện sử học
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1976
14. C. Mác- Ăngghen (1981), Tuyển tập (1,2,3,5,6), NXBST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập (1,2,3,5,6)
Tác giả: C. Mác- Ăngghen
Nhà XB: NXBST
Năm: 1981
15. C. Mác- Ăngghen- Lênin (1975), Bàn về các xã hội tiền t bản, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các xã hội tiền t bản
Tác giả: C. Mác- Ăngghen- Lênin
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1975
16. C. Mác - Ăngghen (1976), Quốc hữu hoá ruộng đất, Mác- cơ, NXBST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hữu hoá ruộng đất, Mác- cơ
Tác giả: C. Mác - Ăngghen
Nhà XB: NXBST
Năm: 1976
17. Lênin(1958), Nhà nớc và cách mạng, NXBST, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nớc và cách mạng
Tác giả: Lênin
Nhà XB: NXBST
Năm: 1958
18. Vơng Trọng Oánh (1957), Về vấn đề sự tan rã của xã hội nô lệ và sự hình thành xã hội phong kiến ở Trung Quốc,NXBND Hồ Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề sự tan rã của xã hội nô lệ và sựhình thành xã hội phong kiến ở Trung Quốc
Tác giả: Vơng Trọng Oánh
Nhà XB: NXBND Hồ Bắc
Năm: 1957
12. Viện KHXH tại thành phố Hồ Chí Minh (1995), Làng xã ở Châu á và ở Việt Nam Khác
13. Ăngghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của nhà nớc, NXBST Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w