1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm thức đi tìm thời gian đã mất trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh

62 660 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 657,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA: NGỮ VĂN ********** VŨ THỊ HUỆ CẢM THỨC “ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT” TRONG TIỂU THUYẾT NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA: NGỮ VĂN

**********

VŨ THỊ HUỆ

CẢM THỨC “ĐI TÌM THỜI GIAN

ĐÃ MẤT” TRONG TIỂU THUYẾT

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

CỦA BẢO NINH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TH.S NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH

HÀ NỘI - 2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

KHOA: NGỮ VĂN

**********

VŨ THỊ HUỆ

CẢM THỨC “ĐI TÌM THỜI GIAN

ĐÃ MẤT” TRONG TIỂU THUYẾT

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

CỦA BẢO NINH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2009

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

Trong quá trình thực hiện khoá luận này, tôi đã được sự

giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam,

khoa Ngữ văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các

thầy, cô đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Tuyết Minh, người

đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá

luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009

Vũ Thị Huệ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng

mình Những nội dung đã trình bày trong khoá luận là trung

thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình

khoa học nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009 Tác giả khoá luận

Vũ Thị Huệ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài 1

NỘI DUNG

1.1 Khái quát về đề tài chiến tranh cách mạng trong

1.2 Vị trí tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

trong đời sống văn học đương đại Việt Nam 11 CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG CẢM THỨC

2.2 Nhân vật Kiên trong cảm thức đi tìm thời gian đã mất 17

2.2.1 Dòng kí ức về những người thân trong gia đình 17 2.2.2 Dòng kí ức về những người đồng đội 20

CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU TRONG CẢM THỨC

3.1 Ngôn ngữ giàu chất thơ và có sự nhoè mờ hư - thực 41 3.2 Giọng điệu đối thoại, chất vấn, hoài nghi 47

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang 6

1.1 Tiểu thuyết có sức mạnh của một vũ khí tầm xa, sức nổ mạnh mẽ Nó có khả năng bao quát một mảng hiện thực rộng lớn tạo nên một bức tranh toàn cảnh của một giai đoạn, một thời kì lịch sử Nó có sức khám phá những nguồn mạch biện chứng của tâm hồn, soi sáng được cái Thiện và cái Ác; cao

cả và thấp hèn (Tiểu thuyết và thực tại hôm nay - Nguyễn Minh Tấn, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10/2007) Trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975,

chân dung người lính là đối tượng hướng đến của người nghệ sĩ, họ được phản ánh từ nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau, có những diện mạo, đặc điểm, tính cách và những suy nghĩ khác nhau ở mỗi một thời kì, mỗi một giai đoạn của cuộc chiến Tuy nhiên, họ đều là con người của cộng đồng, chiến đấu, hi sinh vì một mục tiêu, lí tưởng chung Vì thế, tiểu thuyết viết về người lính thời kì này đậm màu sắc sử thi, âm hưởng ngợi ca là chủ đạo

Nối tiếp mạch nguồn ấy, chân dung người lính trong tiểu thuyết hậu chiến lại được tiếp cận từ một góc độ khác Đất nước hoà bình, người lính trở

về cuộc sống bình thường không phải tất cả nhưng số đông họ là “người trở về”, là “những người đi từ trong rừng ra” Người chiến thắng trở về không có nghĩa là sẽ tiếp tục sống trong vầng hào quang rực rỡ, cuộc sống bình yên mà

đầy rẫy thử thách Nói như Nguyễn Khải: Chiến tranh náo động, ồn ào mà có cái gì yên tĩnh của nó Hoà bình mà lại chất chứa những sóng ngầm, gió xoáy bên trong Văn học chiến tranh giờ đây nghiêng hẳn về kiểu người cá nhân,

con người bi kịch Không chỉ bó hẹp trong cái nhìn từ góc độ quần chúng, dân tộc, con người đã được văn học nhìn nhận từ góc độ nhân bản và nhân loại Cách nhìn ấy giúp các nhà văn xây dựng được những nhân vật mới mẻ, chân thực Nhân vật phức tạp hơn và cũng “đời hơn” chứ không đơn giản, một chiều như đa phần các nhân vật trong văn xuôi chiến tranh trước 1975

1.2 Là một nhà văn cựu chiến binh, Bảo Ninh đã luôn ý thức được nghĩa vụ

và ngòi bút của mình: Viết về cuộc chiến tranh cho tới hôm nay và mai sau

Trang 7

Cùng với các tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu; Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai; Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh lại một lần

nữa miêu tả chân thực hơn vấn đề đời thường, mặt trái tấm huân chương, cái giá bỏ ra trong cuộc chiến chính là số phận từng người lính Bảo Ninh đã nhìn cuộc chiến tranh qua đôi mắt của chính mình, của một người lính bình thường

ở mặt trận Cái dữ dội chất chứa trong tiểu thuyết Bảo Ninh là cơn bão lửa cuồn cuộn trong kí ức một người lính, một kí ức đau buồn và nóng bỏng về chiến tranh với những miên man, suy tưởng về số phận con người, giá trị cuộc sống, tình yêu Một thời kì lịch sử đầy đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc được tái hiện chân thực hơn bao giờ hết Điều này làm nên giá trị nhân văn,

sự mới mẻ cho tác phẩm Bảo Ninh trong nền văn học đương đại Việt Nam

1.3 Vì những lí do trên, người viết lựa chọn đề tài: Cảm thức đi tìm thời gian

đã mất trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Kết quả nghiên

cứu giúp người viết có cái nhìn toàn diện hơn về chiến tranh, khai thác, tìm hiểu tư tưởng cũng như thành công nghệ thuật của tác phẩm

Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một trong những tác

phẩm đặt ra nhiều vấn đề về đời sống, xã hội, con người Nó hiện diện như một bể chứa ngầm trong lòng đất khiến cho nhiều người muốn thám hiểm, khám phá với những con đường khác nhau và kết quả thu được cũng vô cùng

Trang 8

phong phú, đa dạng Nảy mầm trên cánh đồng hiện thực của cuộc chiến tranh chống Mỹ, tác phẩm của Bảo Ninh thể hiện một cái nhìn mới về cuộc chiến

đã qua Nhà văn đã nhìn cuộc chiến từ mặt sau của tấm huân chương, nhìn sâu vào những đau thương, mất mát của hiện thực lịch sử Phải chăng khi viết tiểu thuyết này, tư tưởng của ông đã bắt gặp tư tưởng của Vũ Trọng Phụng:

Đối với tôi, tiểu thuyết phải là sự thật ở đời Vì thế mà cuốn tiểu thuyết có

một sinh mệnh không bình yên?

Ngay sau khi xuất hiện trên văn đàn vào năm 1990 với nhan đề Thân phận tình yêu, tác phẩm của Bảo Ninh đã gây ra một làn sóng trong dư luận Một năm sau đó, tác phẩm được tái bản với tiêu đề do chính tác giả đặt lại Nỗi buồn chiến tranh và được giải thưởng của Hội nhà văn Khác với những tiểu thuyết cùng được trao giải trong năm này (Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường; Bến không chồng - Dương Hướng), sự lựa chọn của Hội đồng xét giải giành cho tác phẩm của Bảo Ninh đã khiến cho Nỗi buồn chiến tranh trở thành một trong những lựa chọn bị tranh cãi nhiều nhất trong

số các giải thưởng văn chương của tổ chức văn học này cho đến ngày hôm nay

Tính phức tạp của những đánh giá về tác phẩm thể hiện ngay từ cuộc toạ đàm về cuốn tiểu thuyết do Hội nhà văn và tuần báo Văn nghệ tổ chức trong năm 1991 và một loạt các bài viết sau cuộc toạ đàm Có rất nhiều người cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa”, “bôi nhọ hiện thực và quân đội” Họ xem tác phẩm là một “tiểu thuyết đen về chiến tranh bấn loạn đầy những hình ảnh kinh hoàng về chiến tranh giải phóng dân tộc và những mảnh đời chiến bại của những cựu chiến binh trong

những năm tháng hậu chiến” Những ý kiến này xuất hiện trên báo Văn nghệ

số 43/1991, chúng giống như một tấm màn buông xuống khiến tác phẩm bị phủ một lớp bụi thời gian hơn mười năm Bên cạnh những lời phê phán trên,

Trang 9

cuốn tiểu thuyết cũng nhận được không ít những lời ủng hộ, đồng thuận từ phía các nhà nghiên cứu, phê bình và độc giả

Có thể khẳng định, ở thời điểm Nỗi buồn chiến tranh ra đời, Bảo Ninh

là một trong những cây bút quan trọng góp phần làm nên một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tiểu thuyết ở Việt Nam Là một cựu chiến binh từng lăn lộn trên chiến trường Tây Nguyên từ 1969 đến khi hoà bình lập lại, hơn ai hết, Bảo Ninh ý thức sâu sắc giá trị cuộc sống, những hi sinh mất mát của ngày hôm qua Những trang viết vì thế chân thực thể hiện trải nghiệm của một nhà văn - chiến sĩ

Tác giả Nguyễn Phan Hách khẳng định: “Nỗi buồn chiến tranh là một

tác phẩm văn chương đích thực, văn đẹp lắm, cực đẹp lắm, chi tiết tuyệt vời gây ấn tượng không thể nào quên Những chi tiết gợi bóng dáng một tác phẩm lớn” [15]

Tác giả Lê Quang Trung lại khẳng định: “Tác giả cố gắng là người không chịu đi trên lối mòn Có sử dụng kết hợp giữa tính huyền thoại và chân thực Thi pháp đồng hiện sử dụng có hiệu quả nối liền hiện thực và quá khứ;

kí ức xa và gần; ý thức và vô thức Tất cả thông qua dòng ý thức của Kiên làm nên số phận các nhân vật” [15]

Tác giả Trần Đình Sử nhận xét trong con mắt nhà Thi pháp học: “Thân phận tình yêu của Bảo Ninh mang lại góc nhìn mới về chiến tranh Tác phẩm

kéo theo sự đổi mới trong thi pháp nhà văn Bảo Ninh đã đóng góp đáng kể nhiều mặt cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” [19]

Trong cuốn Thi pháp hiện đại với bài viết “Thân phận tình yêu của Bảo Ninh” nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã đánh giá cao về cuốn tiểu thuyết, về

ngôn từ nghệ thuật cũng như vai trò của nhân vật: “Tiểu thuyết của Bảo Ninh

là một giấc mơ dài, một huyền thoại của thời đại… Thân phận tình yêu hay Nỗi buồn chiến tranh là một hiện tượng ngôn từ lạ lùng mang tính đa thanh,

Trang 10

tính đối thoại, là một cuộc phiêu lưu muốn nhập vào văn học hiện đại thế giới” [9, tr.267, 271]

Với bài: “Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh” (in trong cuốn Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử), tác giả

Nguyễn Đăng Điệp đã có những nghiên cứu sâu về kĩ thuật dòng ý thức - một thủ pháp trần thuật rất đặc sắc của Bảo Ninh ở tiểu thuyết này Bài viết khẳng định: “Bảo Ninh không chỉ chú ý đến truyện mà còn rất quan tâm đến kĩ thuật dựng truyện… ở Việt Nam cũng từng có một số nhà văn miêu tả dòng ý thức

nhân vật nhưng phải đến Nỗi buồn chiến tranh thì kĩ thuật dòng ý thức được

vận dụng triệt để trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối cách tổ chức kết cấu của tác phẩm” [20, tr.401]

Tác giả Phạm Xuân Thạch ở bài viết: “Nỗi buồn chiến tranh viết về

chiến tranh thời hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bộ phận” nhấn mạnh: “Riêng Bảo Ninh, anh đã đẩy khuynh hướng nghệ thuật của những nhân vật đi trước đến một chiều kích mới Anh quyết liệt từ bỏ hình thức tiểu thuyết hiện thực truyền thống để theo đuổi tiểu thuyết tâm lí” [14, tr.250]

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều viết trong Tin tức và Văn học số 28/10/2006: “Nỗi buồn chiến tranh đã chạm vào mẫu số chung của nhân loại -

đó là câu chuyện của số phận, của mất mát, của tình yêu và chiến tranh” Về mặt nghệ thuật: “đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới” (Nguyên Ngọc) [14, tr.177]

Không chỉ thế, tác phẩm của Bảo Ninh còn thu hút sự quan tâm của độc

giả nhiều nước trên thế giới Tờ Independent, một trong những nhật báo có uy

tín của nước Anh đã nhận xét: “Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh vượt ra ngoài

sức tưởng tượng của người Mĩ, Nỗi buồn chiến tranh đi ra từ chiến tranh Việt

Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỉ

Trang 11

Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh của Êrich Maria Rơmáccơ - một cuốn sách

viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn, một thành quả lao động tuyệt đẹp”

Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến tiểu thuyết

Nỗi buồn chiến tranh nhưng các ý kiến mới chỉ dừng lại ở những thành tựu

chung nhất về tư tưởng cũng như nghệ thuật của tác phẩm Trên tinh thần kế

thừa và đối thoại, khoá luận đi sâu tìm hiểu: Cảm thức đi tìm thời gian đã mất trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh để thấy được đặc

sắc nghệ thuật trong tư duy tự sự của tác phẩm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của

Bảo Ninh

 Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận tập trung nghiên cứu một số bình diện

cơ bản nhằm làm sáng tỏ những nét đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Cụ thể: Cảm thức đi tìm thời gian đã mất được thể hiện

qua nhân vật; ngôn ngữ; giọng điệu

4 Mục đích nghiên cứu

Kĩ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của Bảo Ninh đã được các nhà nghiên cứu, phê bình bước đầu xem xét Từ những gợi dẫn trên, tác giả khoá luận muốn hệ thống hoá kĩ thuật “dòng ý thức” của tác phẩm từ phương diện

cảm thức đi tìm thời gian đã mất Đây cũng là những nét đặc sắc về nghệ thuật của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

5 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận tập trung sử dụng các phương pháp sau:

 Phương pháp hệ thống

 Phương pháp so sánh

 Phương pháp phân tích văn học

Trang 12

6 Đóng góp của khoá luận

Khoá luận là công trình khoa học đầu tiên tìm hiểu một cách hệ thống:

Cảm thức đi tìm thời gian đã mất trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh qua hai phương diện chính: nhân vật và ngôn ngữ, giọng điệu Thông qua Nỗi buồn chiến tranh, người viết thấy được những cách tân nghệ

thuật của tiểu thuyết đương đại Việt Nam Đồng thời, đây cũng là tài liệu hữu ích đối với việc học tập và giảng dạy môn Ngữ văn sau này

7 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của

khoá luận được chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Nhân vật trong cảm thức đi tìm thời gian đã mất

Chương 3: Ngôn ngữ, giọng điệu trong cảm thức đi tìm thời gian đã mất

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái quát về đề tài chiến tranh cách mạng trong Văn học Việt Nam

Trang 13

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến tranh hào hùng chống ngoại xâm Lịch sử ấy được soi chiếu qua lăng kính của văn học, qua cách nhìn, cách cảm của mỗi nghệ sĩ chân chính Nảy sinh từ hiện thực đau thương mà anh dũng của dân tộc, văn học cách mạng đã khẳng định được vị thế của mình và làm được sứ mệnh cao cả:

Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền

và định hình trong những hoàn cảnh cực kì gay go, khốc liệt

Giai đoạn 1945-1975, đề tài chiến tranh được các nhà thơ, nhà văn

hướng tới nhiều nhất Nhà văn nguyện làm người thư kí trung thành của thời đại, ghi lại chân thực hình ảnh người lính trong chiến đấu với những chiến

công lẫm liệt Tiểu thuyết viết về chiến tranh mang âm hưởng hào hùng, ngợi

ca là chủ đạo Tầm vóc thời đại của cuộc chiến đấu đã giúp cho văn học những khả năng mới trong việc phản ánh và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách

mạng Việt Nam Các tiểu thuyết: Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc; Mẫn và tôi - Phan Tứ; Dấu chân người lính - Nguyễn Minh Châu… đã tái hiện không khí sục sôi Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Các tác giả ca ngợi chủ nghĩa anh

hùng cách mạng thông qua vẻ đẹp của những người lính chiến đấu vì lí tưởng

độc lập tự do: Không thể nào tả hết những khuôn mặt chiến sĩ, những khuôn mặt chỉ huy, những khuôn mặt của tầng tầng lớp lớp những người đang nối tiếp nhau hiện ra từ trên dốc đá, từ dưới suối, từ khắp các ngõ ngách của rừng (Dấu chân người lính - Nguyễn Minh Châu) Đó là vẻ đẹp ánh lên từ

Trang 14

khuôn mặt nhiều thế hệ cầm súng, họ gặp nhau ở tinh thần sẵn sàng vượt lên mưa bom bão đạn, ở lí tưởng cách mạng cao cả, ở tình đồng đội thiêng liêng Đặc biệt, những người lính được miêu tả trong một bức tranh đối lập giữa sức huỷ diệt man rợ của kẻ thù và sự hồn nhiên, sức sống bất diệt của tuổi trẻ Không chỉ có vậy, tình yêu của người lính trong chiến tranh đẹp đẽ, lãng mạn song cũng chứa nhiều bất trắc đúng như bản chất của cuộc sống thời chiến dưới cái nhìn đời thường Ở đó, tình cảm của người lính được bộc lộ với đủ những cung bậc, những sắc thái khác nhau, có vui, có buồn, có chờ đợi, lo lắng, có thổn thức, có lòng ghen, tính ích kỉ… Điều đáng lưu ý là dù ở trạng thái nào thì người lính cũng cố gắng hết sức mình, sống trọn vẹn với nhân cách của mình

Sau khi chiến tranh kết thúc, những lớp nhà văn mà hầu hết đều trở về

từ cuộc chiến đó đã có điều kiện để nhìn nhận lại những gì mình trải nghiệm trong chiến tranh Mặc dù vẫn viết về chiến tranh và người lính song chính họ lại phác hoạ những chân dung chiến sĩ gần với đời sống thực hơn Vẻ đẹp lí tưởng mà trước đây họ dày công vun đắp và ca ngợi dần dần nhường chỗ cho cái đẹp của sự chủ động tích cực vượt khó, vượt khổ để làm chủ cuộc sống mới Dòng tiểu thuyết viết về cuộc chiến tranh sau 1975 càng phát triển mạnh

mẽ trong thành tựu chung của văn học thời đổi mới

Nếu như vấn đề chiến tranh đã bắt đầu được phân tích, được đào sâu và khai thác từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau thì nhân vật người lính trong

tiểu thuyết cũng bắt đầu có sự chuyển dịch Nhân vật ở đây có cái tầm vóc có thể lớn hơn chúng ta nhưng là tầm vóc của con người, là người của một giai đoạn nhất định với những tiến bộ và hạn chế, những ưu và nhược điểm…con người như trong cuộc sống, con người trưởng thành qua nhiều đấu tranh trong sự nghiệp lớn của cách mạng (Nguyễn Khải - Văn xuôi trước yêu cầu cuộc sống, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1/1984) Tiểu thuyết Những người đi

Trang 15

từ trong rừng ra (1982) của Nguyễn Minh Châu cho thấy sự chuyển dịch của

hình tượng người lính Những người một thời cầm súng giờ chủ động bắt tay vào công cuộc lao động, làm kinh tế Họ - những người lính, đi từ rừng ra biển, đó là một tiểu đoàn rời khu căn cứ trên rừng miền Tây Thừa Thiên tiến xuống vùng cửa Thuận An xây dựng thành một đơn vị đánh cá biển Những bàn tay người lính hôm qua chỉ quen cầm súng rồi cầm xẻng, dò gỡ mìn, hôm nay đã nắm lấy mái chèo và những vòng lưới, học nghề đánh cá biển Quá trình trưởng thành của tiểu đoàn đánh cá gắn chặt với nhân vật Hiển Người chính trị viên ấy như là linh hồn của đơn vị Chuyển sang làm nhiệm vụ xây

dựng kinh tế, Hiển mới nhận ra: Trong đời mình chưa hề làm một nghề gì, chưa bao giờ phải đi tự làm nuôi thân, chưa bao giờ sinh sống bằng một thứ nghề nghiệp gì trong tay, bởi vì trong một đất nước mấy chục năm đánh giặc, một lớp người rất đông đảo như anh vừa lớn lên đã vào bộ đội, vừa rời ghế nhà trường là đã học cách cầm súng để đánh giặc cứu nước Nhưng thời khắc

hoà bình cũng thật ngắn ngủi, chiến tranh biên giới lại xảy ra, các anh phải cầm súng, phải cảnh giác, vừa sẵn sàng chiến đấu vừa sản xuất Cuối truyện,

Hiển lại trở lên rừng với ý nghĩ day dứt: tối thiểu cho con người một miếng

ăn, anh phải lặn xuống tận rốn biển để tìm Nhưng anh đã kịp làm được gì đâu trong khoảng thời gian hoà bình ngắn ngủi vừa qua

Qua diễn biến tâm lí, những suy tư, trăn trở của nhân vật, chúng ta thấy

họ gần gũi hơn, đời thường hơn Họ không chỉ đẹp trong chiến đấu mà còn rất đáng khâm phục khi có đủ trí tuệ và nghị lực để bước vào một cuộc sống mới sau chiến tranh còn đầy những khó khăn và thử thách

Có thể nói, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và người lính chiếm một phần khá lớn trong toàn bộ nền văn học hiện đại Việt Nam Chúng ta hiểu hơn một thời kì đau thương mà vĩ đại của lịch sử dân tộc, hiểu hơn những năm tháng “không thể nào quên” ấy để từ đó sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn Đó

Trang 16

cũng chính là quan niệm “nghệ thuật vị nhân sinh” mà các cây bút tiểu thuyết hậu chiến hướng tới

1.2 Vị trí tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh trong đời sống

văn học đương đại Việt Nam

Từ sau 1975 và nhất là sau 1986, văn xuôi đã có sự khởi sắc, trong đó

tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo bộc lộ ưu thế của mình trong cách nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật Hàng loạt tên tuổi

như Bảo Ninh, Chu Lai, Dương Hướng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Võ Thị Hảo… đã góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Trong rất nhiều tên tuổi ấy,

Bảo Ninh được đánh giá là cây bút quan trọng góp phần làm nên cuộc cách mạng trong nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam [14, tr.238] Độc giả cả nước không khỏi ngỡ ngàng khi ông cho xuất bản lần đầu tiên tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (1990) Tác phẩm đã gây một “cú sốc” lớn làm thay đổi lối tiếp

nhận của công chúng yêu văn học bấy lâu nay Đọc tiểu thuyết của Bảo Ninh, người ta như bừng tỉnh sau giấc ngủ dài Thì ra chiến tranh không chỉ là lời tụng ca những chiến công và sự hi sinh anh dũng, là những tấm huân chương lấp lánh trên ngực người chiến sĩ trở về sau cuộc chiến…Với tác phẩm của Bảo Ninh, một chiến tranh đồng nghĩa với đau thương và mất mát Chiến tranh là chết chóc và nước mắt, là sự chia cắt và ám ảnh, sự dị dạng, méo mó

về nhân hình lẫn nhân tính của con người

Nỗi buồn chiến tranh đánh dấu một thành công của tiểu thuyết Việt

Nam Viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ đã trở thành lịch sử, tác giả không miêu tả chiến tranh như lúc nó đang xảy ra mà như nó hiện ra trong kí ức, suy tưởng Việc lựa chọn cách trình bày quá khứ dưới hình thức kỉ niệm, qua sự nhớ lại của người hôm nay cho phép nhà văn tiếp cận lịch sử tự do hơn, gửi gắm được nhiều hơn ấn tượng, tâm trạng của mình cũng như những cảm nhận

Trang 17

còn lại qua năm tháng Tiểu thuyết này không chỉ lạ về hình thức mà còn mới

mẻ cả về nội dung so với thời điểm nó ra đời Các tác phẩm trước đó viết về chiến tranh bằng kinh nghiệm của cộng đồng, cái riêng đặt trong cái chung,

hoà vào cái chung (Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc; Người mẹ cầm súng -

Nguyễn Thi) thì Bảo Ninh lại viết về chiến tranh dường như bằng kinh nghiệm của riêng mình Từ cái nhìn ấy, tác phẩm cho thấy chiến tranh không chỉ là vinh quang mà còn là đau thương, huỷ diệt Những người trở về sau chiến tranh có thể không hề thương tích song vết thương trong lòng họ vô cùng đau đớn và luôn rỉ máu Chiến tranh đã lấy đi của họ sự bình yên trong tâm hồn, nó hiện hữu trong hiện tại bằng những vết thương không bao giờ kín miệng liền da Kí ức chiến tranh lưu giữ trong họ những gì vừa đau thương, vừa sáng trong tốt đẹp nhất của cuộc sống Hàng loạt tiểu thuyết viết về chiến

tranh thời kì này đã đem lại cho người đọc những nhận thức mới mẻ Sông xa

của Chu Lai đưa người đọc về với những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng

chiến chống Mỹ qua số phận Hai Thanh Góc tăm tối cuối cùng của Khuất

Quang Thụy dựng lại chiến tranh bằng nước mắt đau thương, bằng “sự thật về

con người” vừa đi ra khỏi cuộc chiến tranh qua số phận ông Dần Chim én bay của Nguyễn Trí Huân ghi thêm vào lịch sử của dân tộc những trang chiến

công oanh liệt của những em bé trong đội “Chim Én” qua những trăn trở, dằn

vặt của nhân vật Quy Đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, người đọc

chập chờn sống giữa hai bờ hư - thực, dòng suy nghĩ bị choán ngợp bởi kí ức, bởi những ám ảnh day dứt khôn nguôi của nhân vật Kiên Người viết bước đầu mổ xẻ, phân tích mối quan hệ giữa những cá nhân con người với hoàn cảnh, những phức tạp bộn bề của cuộc sống sau chiến tranh Nó thể hiện những trải nghiệm không chỉ riêng Bảo Ninh mà của cả một thế hệ, một thời đại Đúng như nhà văn Ngô Thảo khi đánh giá tính chân thực của tác phẩm

viết về chiến tranh và quân đội: Trong văn học có lẽ phải chú ý nhiều hơn đến

Trang 18

bình diện quan hệ của cuộc chiến tranh đó đối với con người nói chung và từng cá nhân nói riêng Con người trong chiến tranh, con người với chiến tranh phải là bình diện chính của sự khảo sát văn học về chiến tranh (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 4/1987)

Có thể thấy sau khi ra đời và nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt

Nam, Nỗi buồn chiến tranh đã tạo ra làn sóng dư luận mạnh mẽ và cho đến

nay tác phẩm đã có được một vị trí vững chãi trong lòng công chúng yêu văn

học

CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT TRONG CẢM THỨC “ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT”

2.1 Khái lược về nhân vật văn học

Trang 19

Theo Từ điển văn học: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm

văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhân vật, do đó, là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [16, tr.86] Ở đây, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của nó với các yếu

tố hình thức tác phẩm Đây là một định nghĩa tương đối toàn diện về nhân vật văn học

Cuốn 150 thuật ngữ văn học lại quan niệm: “Nhân vật văn học là hình

tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ” [2, tr.241]

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn học là những con

người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm và thông qua nhân vật thể hiện tư tưởng, thái độ, tình cảm của tác giả” [7, tr.235]

Như vậy, có khá nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật văn học Nhưng các quan niệm ấy đều gặp nhau trong sự khẳng định: Nhân vật đóng vai trò là linh hồn của tác phẩm tự sự Nhân vật ra đời thể hiện tư tưởng và ý

đồ sáng tạo của nhà văn Nhân vật là đứa con tinh thần của nhà văn Nhà văn sáng tạo ra nhân vật để nhận thức con người và bộc lộ quan điểm của mình về con người Một tác phẩm thành công hay không là nhờ vào hệ thống nhân vật

Nền văn học thế giới ghi nhận những bậc thầy trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Leptônxtôi thể hiện kĩ thuật khắc hoạ tâm lí nhân vật Với sự nhạy cảm tuyệt vời của tâm hồn nghệ sĩ, ông đã đi sâu vào tâm hồn con người, khám phá những biến thái tinh vi nhất của nó Nghệ thuật đó điển hình tới mức nó trở thành một khái niệm “phép biện chứng tâm hồn” Leptônxtôi, Puskin, Sôlôkhôp bằng tài năng của mình đã xây dựng những tính cách Nga, những tâm hồn thuần khiết hương vị Nga Có những nhà văn có kĩ thuật điêu

Trang 20

luyện trong khắc hoạ chân dung nhân vật như Sôlôkhôp trong Sông Đông êm đềm với nhân vật Côdăc đầy cá tính quyết liệt Chủ nghĩa hiện thực truyền

thống luôn có ý định xây dựng “những con người này”, “những nhân vật đầy đặn” về diện mạo và nội tâm

Ở Việt Nam, quan niệm nghệ thuật về con người gắn với đời sống văn học của mỗi một giai đoạn lịch sử Văn học giai đoạn trước 1975 thường xây dựng nhân vật trung tâm là người chiến sĩ qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Hiện thực cách mạng đầy oanh liệt, hào hùng là một điều kiện giúp nhà văn xây dựng những nhân vật giàu chất lí tưởng Nguyễn Minh

Châu đã từng công nhận khi viết Dấu chân người lính: Lữ là một nhân vật

hoàn toàn hư cấu trong khi Khuê lại thật đến mức đúng cả tên như anh vốn

có Giữa Lữ, chị Sứ (Hòn Đất - Anh Đức) đều có một nét trội – đó là những

nhân vật được soi sáng từ phương diện lí tưởng nhằm nêu bật một tư tưởng quán xuyến về khát vọng độc lập và tự do của người Việt Nam Đã có lúc có người phê phán lối viết làm cho cái cao cả, lí tưởng lấn át cái vốn có, nhưng

họ quên rằng đứng trên quan điểm lịch sử thì thời kì chống Mỹ, cái cao cả - cái anh hùng và lí tưởng đã bao trùm cái vốn có của thực tại Đúng như tác

giả Bùi Việt Thắng đã nhận xét: Cách thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết chống Mỹ có thể nói là giống với phương thức mà Gorki gọi là phóng đại – phóng đại cái đẹp để đẹp hơn [15]

Nếu như văn học trước 1975 xây dựng nhân vật người lính trong sự gắn

bó với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn thì văn học thời đổi mới lại có sự chuyển biến sâu sắc từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch

sử dân tộc sang cảm hứng thế sự - đời tư Tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực, con người trong giai đoạn mới một cách nhanh nhạy và sắc bén Cái nhìn về người lính lúc này đa diện, phong phú hơn và cũng “đời” hơn Người lính phải đối mặt với bộn bề góc khuất,

Trang 21

khoảng tối của cuộc sống hậu chiến Bi kịch của họ là sự lạc lõng giữa dòng đời, bi kịch giữa khát vọng và thực trạng; giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm; giữa thanh lọc và tha hóa; giữa nhân bản và phi nhân bản Một số tiểu

thuyết thành công ở giai đoạn này: Bến không chồng (Dương Hướng); Ăn mày

dĩ vãng (Chu Lai)

Ra đời trong dòng chảy chung ấy nhưng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo

Ninh lại tái hiện hình tượng người lính từ một phương diện khác Nghệ thuật

xây dựng nhân vật đạt đến trình độ điêu luyện Với Thi pháp nhân vật ở Nỗi buồn chiến tranh, G.S Trần Đình Sử nhận xét: Tiểu thuyết của Bảo Ninh không có các nhân vật trọn vẹn, đầy đặn như trong lối truyền thống Nhân vật của Bảo Ninh là những mảnh đời, những mẫu người vụn nát, dang dở, chắp

vá hợp lại thành bản hoà tấu những khuôn mặt và cuộc đời [19] Khi nhận xét như thế, phải chăng nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã phát hiện thấy trong Nỗi buồn chiến tranh những yếu tố gần với chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới đầu thế

kỉ XX này Chủ nghĩa hậu hiện đại với những đại biểu như: Samuel; Beckett;

Jôseph; Hellen… con người ở đấy bị phân tán trở thành một cơ thể phi trung tán bao hàm nhiều mảnh vụn

Trong phạm vi khoá luận này, người viết sẽ tập trung vào nhân vật

Kiên - linh hồn của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, hành trình cùng anh trở

về dòng kí ức đi tìm thời gian đã mất Cảm thức về những người thân, về

đồng đội, về tình yêu, tuổi trẻ đã giúp Kiên có thêm nghị lực sống, giúp anh khẳng định được nhân cách mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống thời hậu chiến

2.2 Nhân vật Kiên trong cảm thức đi tìm thời gian đã mất

2.2.1 Dòng kí ức về những người thân trong gia đình

Trang 22

Hơn cả một lời chứng thực, tiểu thuyết Bảo Ninh là quá trình phát sinh, một lời tự bạch, một lời tự thú Tác phẩm dẫn chúng ta lấn sâu vào thế giới nội tâm của Kiên, khám phá với anh những bí mật của tuổi thơ và tuổi trẻ mà

từ lâu anh muốn che giấu, thậm chí phủ nhận Kĩ thuật dòng ý thức được vận dụng một cách triệt để, trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối cách tổ chức

kết cấu của tác phẩm Kiên trong hành trình trở về quá khứ đi tìm thời gian

đã mất, tìm lại những kỉ niệm một thời được Bảo Ninh tái hiện chân thực mà

ám ảnh lòng người Ở Kiên, sự ý thức ấy chuyển hoá vào dòng độc thoại nội tâm với những suy nghĩ miên man không cất thành lời, tiếng nói thầm từ đáy sâu tâm hồn, tiếng nói của tâm linh, của tiềm thức Kí ức trở về được nhận thức bằng cảm quan, cảm giác càng khắc sâu hơn bi kịch đời Kiên Anh đã hoà trộn nỗi nhớ người thân, nỗi nhớ tình yêu trong nỗi nhớ chiến tranh và khát vọng sáng tạo thành một nguồn ám ảnh khôn nguôi Bảo Ninh không chỉ nhìn hiện thực một cách trực diện trên bề mặt mà còn ở bề sâu thấm thía và sâu sắc Người đọc dường như cũng đang bơi ngược dòng về miền hoài niệm cùng Kiên

Trước khi chiến tranh nổ ra, Kiên sống một tuổi thơ tưởng như êm đềm

mà đầy những bi kịch ngấm ngầm, đau đớn Ngược dòng quá khứ, hồi ức trở

về day dứt, trăn trở trong Kiên Đó là kí ức về những người thân trong gia đình, là cha, là mẹ, là dượng, là sự thiếu thốn tình cảm mãi chẳng được lấp đầy trong lòng cậu bé Kiên trước thời điểm 17 tuổi ấy Hình ảnh người mẹ

nhạt nhoà, ít khi hiện về trong cõi nhớ của Kiên: Về mẹ, Kiên ít biết hơn, bóng hình mẹ chỉ còn sơ sài ở vài tấm ảnh [17, tr.147] Những tưởng mẹ phải là

người ghi dấu đậm nét nhất trong Kiên nhưng trái lại anh không yêu thương

mẹ Người đọc dần “chạm vào”, “nhập vào” dòng ý thức của Kiên khi anh nhớ về cha và dượng - những người ảnh hưởng không nhỏ tới suy nghĩ của

anh sau này Kiên nhớ về cha - một nghệ sĩ tài hoa, bị coi là hạn chế về lập

Trang 23

trường quan điểm do ngày càng xa lạ với thẩm mĩ của quần chúng nhân dân lao động Cha Kiên vẫn không chịu hạ tính vĩnh cửu xuống mà thêm chất phàm tục vào, cho nên ông buộc phải chấp nhận bi kịch gia đình và bi kịch của người nghệ sĩ cô đơn mang nỗi buồn truyền kiếp Những lời nói có tính

dự cảm của cha đã ám ảnh Kiên suốt những tháng năm trận mạc tới tận khi

hoà bình lập lại: Thời của mẹ, của cha đã hết Còn con…từ nay còn một mình…phải gắng sống với thời của mình Thời đại mới rồi sẽ tới Huy hoàng Tráng lệ Không còn những bất hạnh lớn lao nữa Nhưng nỗi buồn thì không nguôi…vẫn sẽ còn lại nỗi buôn…nỗi buồn truyền kiếp Cha chẳng để lại được

gì cho con ngoài nó, nỗi buồn ấy [17, tr.152] Cha Kiên ảnh hưởng nhiều nhất

tới anh và mặc dù khi cha còn sống Kiên không thật hiểu ông nhưng sau này Kiên lại có nét giống ông Sự thay đổi ấy gắn liền với những trải nghiệm,

những cay đắng mà Kiên đã gặp: Phải mất đi biết bao năm tháng quý giá của cuộc đời dần dần Kiên mới phần nào cảm được nỗi đau lẫn vị đắng cay trong những lời cuối cùng của cha [17, tr.152] Kí ức về cha cho anh hiểu hơn thời

đại mình đang sống, sự “lạc thời” của người cha bất hạnh Ngày cha qua đời cũng là ngày những bức tranh “màu lá rụng” không còn tồn tại trên cõi đời, ông đã tự tay đốt chúng - một nghi thức đau đớn, say cuồng thể hiện một con người “tử vì đạo”

Mặc dù ấn tượng về dượng - người chồng sau của mẹ không nhiều nhưng trong dòng kí ức của Kiên trước ngày anh ra trận, dượng hiện lên gần

gũi, xúc động: Tóc bạc trắng, lưng hơi còng, rõ ràng là đang rộc đi vì một chứng bệnh nào đó, tay run run, mắt mờ, trang phục tàn cũ nhưng không luộm thuộm [17, tr.66] Lời tiễn biệt buồn bã như một lời trăng trối của dượng

trong buổi chiều mùa đông tại ngôi nhà nhỏ bên sông Hồng năm ấy còn mãi

ám ảnh Kiên: Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hi sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải

Trang 24

là chối bỏ…Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và hãy trở về [17, tr.67] Qua hồi ức của

Kiên về cha và dượng, người đọc hiểu hơn số phận một lớp người đã qua, một thứ chứng tích của thời thuộc địa, những “nhà thơ tiền chiến” (dượng) và những hoạ sĩ thời “mĩ thuật Đông Dương” (cha của Kiên) Sống trong thời đại

ấy, họ không thể hoà nhập vào đời sống thực tại, họ như những cái bóng hiu hắt của quá khứ giữa thời hiện tại nhưng lại nổi bật ở khả năng tiên cảm về thời đại sắp tới Đó là một thời đại chiến tranh đang tới, một thời đại anh hùng nhưng tột cùng đe doạ đối với cái Đẹp - cái giá đau đớn của chiến tranh

Đi qua chiến tranh với hành trình là kỉ niệm, Kiên trở thành người bị

cầm tù của quá khứ với một thứ “thiên mệnh” đặc biệt: Kể lại, viết lại, làm sống lại những linh hồn đã mai một, những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc mộng xưa Đó là con đường của sự cứu rỗi [17, tr.90] Kiên

coi viết là sứ mệnh của mình nhưng cuối cùng anh cũng đem tất cả ra thiêu giống như cha đã từng làm với những bức vẽ của mình

Có thể thấy, hành trình tìm về với kỉ niệm người thân cho thấy bi kịch tuổi trẻ của Kiên Bi kịch gia đình, sự không hoà hợp giữa mẹ và cha, sự thiếu thốn tình cảm ngay từ nhỏ khắc thêm dấu ấn cuộc đời anh Và dường như nó cũng dự báo trước một số phận đầy sóng gió, bị dập vùi, quăng quật bởi chiến tranh Những lời tiên tri của cha và dượng bất hạnh thay đã trở thành sự thật, Kiên với biệt danh Thần Sầu mãi không thể đổi dời Hồi ức cứ hiển hiện chân thực trước ngày anh lên đường nhập ngũ, dấn thân vào cuộc chiến đấu mới giúp anh có thêm sức mạnh vượt qua mưa bom bão đạn của kẻ thù Và cho đến sau này, khi đã trở thành một người lính dạn dày khinh nghiệm, kí ức vẫn

cứ trở về hối thúc cuộc sống của Kiên

2.2.2 Dòng kí ức về đồng đội

Trang 25

Hơn chục năm đã trôi qua kể từ ngày kháng chiến chống Mỹ kết thúc nhưng trong tâm hồn Kiên dường như cuộc chiến vẫn đang diễn ra trước mắt Năm tháng chiến tranh và những trận đánh, những hi sinh mất mát đã phủ lên trái tim Kiên và những người như anh trăm nghìn vết sẹo, những vết thương của trái tim vẫn không thôi rỉ máu Từ đâu đó thẳm sâu trong tâm hồn anh lương tâm bị chôn chặt vẫn không ngừng ám ảnh, day dứt Anh tiếp tục sống trong dòng suy tưởng về quá khứ, soi sáng sự việc bằng con mắt ngược thời gian Kiên nhớ về đồng đội không chỉ có những hi sinh, mất mát, những vùng đất “chết”, dữ dội, thương đau mà hơn thế còn là vẻ đẹp của con người trong chiến tranh - vẻ đẹp của tình yêu, của tình người, của tình đồng chí, đồng đội Những vùng mờ của vô thức, tiềm thức được khai lộ trước mắt bạn đọc Rõ ràng nhưng vẫn bề bộn Vừa bề bộn lại vừa bí hiểm Kí ức hiện ra sắc nét, chân thực như một thước phim quay chậm Nó có sức lay động tâm hồn độc giả bởi đó là những gì Kiên đã sống, đã chứng kiến và trải qua Hiện thực chiến tranh khốc liệt cứ ám ảnh người đọc, day dứt, trăn trở về một thời đại đã

đi qua

Trước hết, trong dòng hồi ức của mình, Kiên nhớ lại mảnh đất heo hút, rùng rợn mà anh và đồng đội từng sống, chiến đấu - đó chính là mảnh đất Tây Nguyên với những địa danh đã trở thành huyền thoại: truông Gọi Hồn; hồ Cá Sấu; đồi Xáo Thịt; đồi Mơ; đồi Thăng Thiên; bờ sông Sa Thầy…Mảnh đất ấy được viết lên bởi những câu chuyện truyền kì, huyễn hoặc Hình như có bao nhiêu nấm mồ vô danh thì có bấy nhiêu huyền thoại kinh hoàng cùng hằng hà

sa số những dị bản Ở đó: Chim chóc khóc than như người… đom đóm to kinh dị…có loại mang nhuốm màu đỏ dễ sợ đỏ au như những tảng thịt [17, tr.8]

Truông Gọi Hồn xuất hiện một loại cây với tên gọi hồng ma Nó như một liều

thuốc an thần đánh lừa cảm giác và ru ngủ con người trong mộng đẹp trạng thái mụ mẫm do khói hồng ma đã từ lán trinh sát lây lan khắp trung đoàn

Trang 26

[17, tr.16] Người ta cũng nhìn thấy nhiều sinh vật lạ: Những quái vật lông lá

có cả cánh lẫn vú với cái đuôi kì nhông kéo lết và họ ngửi thấy mùi tanh máu

từ chúng, nghe thấy chúng gào rú và ca hát [17, tr.16] Đồng đội của Kiên

từng nghe thấy tiếng người đàn và hát, còn bản thân anh đã từng nhìn thấy những bóng ma Thực chất, đó là những con người bị cầm tù quá lâu nơi rừng sâu, vô thức trở về với hình dạng nguyên thuỷ, dị hợm Đó là người đàn bà bị nhầm là vượn trong lần Thịnh “con” đi săn, là cặp uyên ương với tiếng cười man rợ hay một hình thù lồm xồm lông lá với trái lựu đạn trong tay Những điều tai nghe, mắt thấy ấy đã trở thành điềm trời cảnh báo tai hoạ khủng khiếp, thảm khốc và đẫm máu của chiến tranh

Mảnh đất huyền thoại ấy cũng thấm đẫm máu xương của đồng đội Kiên Những hi sinh, mất mát, những nỗi đau không nguôi ngoai theo năm tháng mà cứ hiện về day dứt trong Kiên Trong kí ức anh vẫn còn nguyên vẹn những hình ảnh rùng rợn của trận đánh bạo tàn mùa khô năm 1969 - trận đánh

mà tiểu đoàn 27 của anh bị bao vây rồi bị tiêu diệt hoàn toàn phiên hiệu Bom napan đổ lửa luyện ngục xuống những cánh rừng Các đại đội đã tan tác cố co cụm, lại bị đánh tan tác Tất cả bị tróc khỏi công sự, rùng rùng chạy trong lưới

đạn dày đặc, chết dúi, ngã dụi vào biển lửa: Trên đầu trực thăng rà rạp các ngọn cây và gần như thúc họng đại liên vào gáy từng người một mà bắn Máu tung xối, chảy toé, ồng ộc, nhoe nhoét [17, tr.7] Vô khối hồn ma đã ra đời từ

trong trận bại vong ấy hiện vẫn lang thang khắp các xó xỉnh bụi bờ ven rừng Những chàng trai tuổi vừa 28 trẻ trung, khỏe đẹp, thoắt đã hoá thành ma Đôi khi các hồn ma đó lại tụ họp trên trảng để điểm danh Số phận những đồng đội của Kiên như vậy đấy! Cả tuổi thanh xuân họ chỉ biết chiến đấu, cống hiến mà quên đi cái “tôi” của riêng mình Có những cái chết tập thể: Thịnh

“nhớn”; Cừ, Vĩnh, Từ, Thanh, Vân… mãi là nỗi đau, niềm tiếc thương trong cõi nhớ của Kiên Những người đồng đội thân yêu ấy trước đó còn nói, cười,

Trang 27

nghịch ngợm, vậy mà sự ác liệt của chiến tranh đã lấy đi tính mạng của họ

Có những cái chết ám ảnh Kiên bởi sự sai lầm, tính ích kỉ của anh Can mong ước về thăm mẹ, thăm quê nhưng không được Kiên chấp nhận, Can đảo ngũ,

cuối cùng phải chịu cái chết thương tâm: Cái xác lở loét, ốm o như xác nhái

bị dòng lũ xô tấp lên một bãi lau nhầy nhụa…mặt xác chết quạ rỉa Hai cái hố mắt đã mọc rêu xanh lè [17, tr.27] Cái chết của Can làm người đọc xót

thương, bao nhiêu người lính bị quăng quật bởi chiến tranh phải hứng chịu những kết cục thật bi thảm Chứng kiến tận mắt cái chết của Quảng - tiểu đội trưởng đầu tiên của mình, Kiên không khỏi sợ hãi mà xót xa Hình ảnh Quảng, những lời nói của anh còn dư âm mãi trong tâm hồn Kiên cho đến

mãn đời: Thương anh đừng bắt lê lết mãi…anh khổ quá rồi, xương gãy hết rồi, ruột nữa…đứt hết…Cái giọng lào thào lí nhí như thể tiếng của loài kiến

mà đầy vẻ tâm tình của Quảng làm Kiên rùng rợn, ớn lạnh Cho anh được chết đi…một phát thôi…là xong…nào! [17, tr.110]

Có thể thấy kí ức về những người đồng đội luôn gắn liền với cái chết Hoặc họ là nạn nhân của cái chết, hoặc họ là người gây ra cái chết Cái chết phản ánh hai mặt của chiến tranh Nó gắn liền với bạo lực - bạo lực tăm tối huỷ diệt con người, khiến con người dửng dưng với cái ác Ở phương diện đó, vết thương khủng khiếp nhất mà chiến tranh để lại không chỉ là sự thương tổn

và cái chết cụ thể mà quan trọng hơn là những chấn thương về tâm hồn, là sự chà đạp lên nhân tính Khi người ta sống với chết chóc quá nhiều, người ta không còn xúc động trước những xác chết Người ta có thể ngủ bình thản bên cạnh xác chết Người ta có thể ăn uống rôm rả bên cạnh xác chết, bàn tán, bình phẩm về xác chết đó Kiên còn nhớ những ngày chiến thắng Sài Gòn năm 1975, ấy là vào đầu buổi chiều 30/4 Các ổ đề kháng cuối cùng của biệt kích dù trong phi trường Tân Sơn Nhất đã bị dứt điểm Cả đội trinh sát chỉ còn mình anh sống sót Anh thất thểu bước vào nhà ga sân bay rồi chứng kiến

Trang 28

một sự kiện đau lòng Xác nữ sĩ quan Ngụy bị một người lính cao xạ đối xử

lạnh lùng và tàn nhẫn: Túm lấy một chân người chết xềnh xệch kéo lết đi Tóc tai xoã tung, gáy, sọ xác chết nảy trên các bậc tam cấp bình bịch như trái banh Ra đến giữa sân bê tông loáng sáng nước mưa và nắng chói, hắn choãi chân vặn lưng lấy đà quăng mạnh, liệng bổng cái xác lên Xoay lộn một vòng trong nắng, cái xác bay chênh chếch rồi rơi thịch xuống đất [17, tr.119]

Người ta có thể đã từng chiến đấu ở hai chiến tuyến đối lập đầy hận thù nhưng trước cái chết tất cả đều bình đẳng như nhau Hành động phi nhân tính của gã lính cao xạ đã cảnh tỉnh cho loài người về tình trạng của nhân tính trong chiến tranh Nhà văn muốn đưa ra một lời cảnh tỉnh giành cho mọi người: Chiến tranh chính là sát thủ nhân tính, có thể làm băng hoại nhân cách

và phẩm giá con người Kiên nhớ lại những trận đánh, những cuộc bắn giết

mà anh từng lao vào không chỉ bằng sự dũng cảm mà nhiều khi với cả sự vô

cảm, chán chường, vô nghĩa lí: Kiên rùng mình nhảy xô tới Đạn từ các gốc cây quạt châu lại Mặc, Kiên nghiến răng, đứng phơi ra chúc họng súng xuống, điên cuồng nã từng phát, từng phát đóng đanh lên cái thân xác còn nóng hổi sức sống đang oằn oại đau đớn trong cơn rùng giật giãy chết Máu phọt toé lên ướt sũng ống quần Kiên Rồi, hai bàn chân in dấu đỏ lòm lên cỏ, anh lại từ từ đi thẳng đến những tên thám báo khác đang núp bắn, súng kẹp bên sườn một cách hờ hững, ngực áo phanh rộng Không sợ hãi, không nổi hung lên Mệt mỏi âm thầm, vậy đấy [17, tr.20] Kiên đã nhập cuộc, dấn thân

vào cuộc chiến tranh

Có thể thấy ở một phương diện khác, cũng chính cái chết của đồng đội phản ánh một mặt khác của chiến tranh: Cái đẹp của tình người Tiếng nói kinh nghiệm và những hồi ức của đồng đội vang vọng vào tâm tư Kiên, chiếu soi vào hiện thực tàn bạo của chiến tranh - nỗi đau nhân tính và làm sáng đẹp

vẻ đẹp của tình người trong chiến tranh Trở về với kí ức, Kiên thấy mình

Trang 29

may mắn được sống trong tình đồng đội, đồng chí thiêng liêng: Dĩ vãng không điểm tận cùng và dĩ vãng là vĩnh viễn thuỷ chung, với một tình bạn, tình anh em, tình đồng chí và nói chung là bất diệt tình người [17, tr.300]

Trong tác phẩm, Kiên là người may mắn được trở về lành lặn Nhưng cái giá của sự may mắn ấy phải trả bằng bao tính mạng đồng chí, đồng đội:

Họ bị giết trước mắt Kiên, chết trong vòng tay Kiên trong đó có những người

hi sinh để bảo vệ tính mạng của Kiên Các sự kiện của quá khứ được tái hiện

trong tâm tưởng Kiên có sự thay đổi theo trạng thái hiện thời của anh Thậm chí, các kỉ niệm trở về có sự đổi dạng nhiều khi mâu thuẫn nhau Ta bắt gặp trong câu chuyện kể về Hoà hai lần nhưng mỗi lần là một vùng kỉ niệm, chúng là những vòng tròn đồng tâm, vòng tròn sau được nới rộng chu vi, hồi

ức về nhân vật đó như những đợt sóng, vòng tròn một chỉ mờ nhạt đến vòng tròn hai thì đậm nét hơn Vòng tròn một trong giấc mơ trở lại truông Gọi Hồn, Kiên đã mơ thấy Hoà Trong gần một trang [tr.52-53], hình ảnh Hoà hiện lên,

sơ qua về lai lịch: Cô giao liên xinh tươi, người Hải Hậu đã hi sinh vào thuở tối tăm mù mịt năm 68; trong màn sương mù dày đặc của giấc mơ, tôi chỉ thấy Hoà thấp thoáng, cảnh tượng Hoà gục ngã giữa thảm cỏ và một bầy

Ngụy xô tới Vòng tròn thứ hai, kí ức về Hoà lấy cái chết giải cứu cho Kiên

và các thương binh: Tình hình đoàn cáng thương, tình hình lực lượng của địch, gặp hồ Cá Sấu, Hoà và Kiên tìm đường, phát hiện có địch, Hoà xông lên đánh lạc hướng, địch đuổi theo và giết Hoà [tr.234-248] Đó là lần Kiên trở lại

hồ Cá Sấu, tham gia đội thu nhặt hài cốt tử sĩ: Ngồi xuống một bìa rừng trong bóng hoàng hôn…Lặng lẽ, Kiên trông thấy toàn cảnh của những trí nhớ đã lảng tránh suốt bao năm Anh thấy trái lựu đạn đã rút chốt mà không dám phát nổ của buổi chiều hôm đó đang nằng nặng trong lòng bàn tay [17, tr.246]

Tuy nhiên, bao nhiêu sợ hãi và đau đớn, uất hận và căm hờn, những trạng thái tinh thần bạo liệt đã co giật và giằng xé trong lòng anh khi ấy trước thảm cảnh

Trang 30

kinh khủng quá sức chịu đựng ấy, không còn có thể trỗi dậy cùng với hồi tưởng Kí ức về Hoà trĩu nặng, day dứt và tiếc nuối trong Kiên Bao nhiêu năm tháng đã qua đi vậy mà hình ảnh Hoà cứ hiện về mãi lung linh Ngoài những đau thương, mất mát mà Kiên từng gặp, anh còn nhận ra những giá trị thiêng liêng trong cuộc đời chiến binh Những tấm lòng cao cả, những tấm gương quên mình của Hoà, Oanh, Cừ… đã chứng minh cho một quy luật đơn giản mà nghiệt ngã của cuộc sống: “Mình chết thì bạn mình sống”

Trong khói đạn chiến tranh, tình yêu của người lính cũng mỏng manh,

bị cắt chia, đày đoạ Hồi ức của Kiên về vụ thám báo và mối tình ba cô gái bị

bỏ quên trong chốn rừng thiêng với đồng đội của anh càng cho người đọc thấy sự dữ dội của chiến tranh, lòng vị tha của người chỉ huy Từng câu văn

ngắn vừa nâng niu, trân trọng vừa se sắt lòng người: Anh nằm im… Tiếng thì thào… Tiếng chân giẫm lụp bụp trên sàn Giọng nói của người gác…một ai

đó trượt chân ngã…tiếng cười cố nén…ướt át lầy lội…những giờ sau khi các

gã chàng trai lần về, thở hổn hển, bê bết bùn [17, tr.32] Thế nhưng, tiếng gọi hoang dã, man sơ của tuổi thanh xuân, của tình yêu bị chiến tranh chặn ngang, nỗi đau như từng nhát dao cứa vào lòng người: Cửa buồng tắm không

mở mà là bị giật tung phải bản lề; nằm vật úp dưới đất Cả ba cô gái người trên nhà, người dưới bếp, người đang tắm, không ai kịp trở tay Không một tiếng kêu, có lẽ thế và không một phát súng [17, tr.38] Kí ức cứ nối đuôi nhau

hiện về, tầng tầng lớp lớp xô đẩy cõi lòng Kiên Quá khứ oanh liệt và đau thương, năm tháng sẻ chia cùng đồng đội những hi sinh và mất mát có thể nào phai nhạt, lãng quên Và câu chuyện của Phán về tên lính Ngụy bị thương, sự

ân hận, day dứt, tiếng gọi thảm thiết của anh giữa màn mưa: Ngụy ơi! Ngụy ơi! cho Kiên hiểu rằng: Chiến tranh không thiêu được gì cả, nó có thể vò xé tâm hồn

con người nhưng không thể biến tất cả họ thành những cỗ máy bắn giết không

Trang 31

tim Tình người đã vượt lên sự ích kỉ cá nhân, loé sáng cái nhân bản của cuộc sống này

Hiện tại phũ phàng còn quá khứ ngọt ngào…thân thể Kiên thì thuộc về

hiện tại nhưng mọi suy nghĩ và tâm tư đều phiêu dạt theo miền kí ức: Kí ức về tình yêu và kí ức chiến tranh kết thành sinh lực và thi hứng giúp anh thoát khỏi cái tầm thường, bi đát của số phận anh sau chiến tranh [17, tr.199] Sự xót xa, tiếc nuối ngân vang trong từng câu chữ: Ôi năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế hệ của tôi, suốt đêm nước mắt tôi ướt đầm gối bởi nhớ nhung, thương tiếc, cay đắng ngậm ngùi [17, tr.52] Cuộc chiến tranh đã đè nặng và

ám ảnh tâm hồn Kiên, nó cũng là nguyên nhân dẫn đến mọi nông nỗi đời anh

làm cho tâm hồn anh mỗi ngày một thêm hoang phế, tranh sáng, tranh tối vật

vờ, toàn là những hồn ma bóng quỷ [17, tr.80] Tại sao quá khứ nhiều thương

đau như vậy nhưng đó vẫn là điều Kiên không thôi hoài niệm, Kiên không thể

hoà nhập trở lại với cuộc sống thời hậu chiến, bởi những gì chiến tranh nghiền nát thì dư âm lại bền lâu, bền lâu hơn tất cả tàn tích của chiến tranh

và chiến binh [17, tr.68] Cho nên kí ức về năm tháng khoác áo lính không dễ

gì phôi pha trong lòng Kiên Hơn thế, đối với vòng quay không ngừng của cuộc sống thời bình, Kiên thấy mình “lạc loài”, vẫn sống đấy, vẫn tồn tại đấy

nhưng sâu xa thì anh đã đầu hàng trước không gì cả của số phận và cuộc đời

Kiên đã bắt đầu cảm nhận chiến tranh dưới làn ánh sáng của nỗi buồn Anh

thấy rằng những tổn thất, những mất mát có thể bù đắp, các vết thương sẽ lành, đau khổ sẽ hoá thạch nhưng nỗi buồn về cuộc chiến tranh thì sẽ ngày càng thấm thía hơn, sẽ không bao giờ nguôi Giờ đây, ngự trị trong tâm hồn

Kiên là nỗi buồn - nỗi buồn được sống sót, nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn thân phận tình yêu…vĩnh viễn tràn phủ đời anh Trải qua những ngày tháng

“bể dâu” của tâm hồn trong thời hậu chiến, Kiên nhìn cuộc đời với con mắt già nua và bất lực Nếu trong chiến tranh anh vô cảm với cái chết thì thời bình

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Nxb Hội nhà văn, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
4. Nguyễn Minh Châu (2004), Dấu chân người lính, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu chân người lính
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
5. Nguyễn Minh Châu (2004), Những người đi từ trong rừng ra, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người đi từ trong rừng ra
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
7. Lê Bá Hán (chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb GD, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
8. Đào Duy Hiệp (2007), “Thời gian trong tiểu thuyết Thân phận tình yêu của Bảo Ninh”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian trong tiểu thuyết "Thân phận tình yêu" của Bảo Ninh”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Năm: 2007
9. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
10. Đỗ Văn Khang (1991), “Nghĩ gì khi đọc Thân phận tình yêu của Bảo Ninh”, Báo Văn nghệ (43) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ gì khi đọc "Thân phận tình yêu" của Bảo Ninh”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Năm: 1991
11. Thụy Khuê (2007), “Sóng từ trường - Nỗi buồn chiến tranh”, www. google.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sóng từ trường - Nỗi buồn chiến tranh
Tác giả: Thụy Khuê
Năm: 2007
12. Tôn Phương Lan (1995), “Người lính trong văn xuôi viết về chiến tranh của những nhà văn cầm súng”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lính trong văn xuôi viết về chiến tranh của những nhà văn cầm súng”, Tạp chí "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Tôn Phương Lan
Năm: 1995
13. Phương Lựu (chủ biên) (2006), Lí luận văn học, Nxb GD, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
14. Nguyễn Văn Long – Lã Nhân Thìn (đồng chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long – Lã Nhân Thìn (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2006
15. Nhiều tác giả (1991), “Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu”, Báo Văn nghệ (37) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận về tiểu thuyết "Thân phận tình yêu"”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1991
16. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học, Nxb TG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb TG
Năm: 2004
17. Bảo Ninh (2007), Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu), Nxb Phụ nữ, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu)
Tác giả: Bảo Ninh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2007
18. Hoàng Phê (chủ biên) (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
19. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận Thi pháp học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w