1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát trường nghĩa chiến tranh trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh

53 619 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 497,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ===***=== LÊ THỊ LÀ KHẢO SÁT TRƯỜNG NGHĨA CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===***===

LÊ THỊ LÀ

KHẢO SÁT TRƯỜNG NGHĨA

CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT

“NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”

CỦA BẢO NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===***===

LÊ THỊ LÀ

KHẢO SÁT TRƯỜNG NGHĨA

CHIẾN TRANH TRONG TIỂU THUYẾT

“NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”

CỦA BẢO NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

ThS GV LÊ THỊ THÙY VINH

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới cô giáo hướng dẫn ThS, GV Lê Thị Thùy Vinh, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập nghiên cứu

Xin cảm ơn bạn bè, gia đình đã luôn động viên giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Do khả năng còn hạn chế, chắc chắn khóa luận này còn nhiều thiếu sót

Em rất mong được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Lê Thị Là

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng của các thầy cô giáo, đặc biệt là ThS, GV Lê Thị Thùy Vinh Những nội dung này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Lê Thị Là

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Đóng góp của khóa luận 7

8 Cấu trúc của khóa luận 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Những vấn đề chung về trường nghĩa 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Phân loại 9

1.2 Mối quan hệ giữa trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương 14

1.2.1 Trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương 14

1.2.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương 15

1.2.3 Trường nghĩa ngang và ngôn ngữ văn chương 16

1.2.4 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương 16

CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC TRƯỜNG TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH 18

2.1 Tình hình khảo sát 18

2.2 Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các trường từ ngữ trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh 23

Trang 6

2.2.1 Hiệu quả của việc sử dụng trường từ ngữ miêu tả thiên nhiên, trường từ ngữ thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật để thấy được tính chất bạo tàn, khốc liệt của cuộc chiến 24 2.2.2 Hiệu quả của việc sử dụng trường từ ngữ miêu tả thế giới nhân vật

để ca ngợi sự bất diệt của tình người 36 2.2.3 Cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và con đường mới viết về chiến tranh trong thời hậu chiến 41

KẾT LUẬN 49TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Các đơn vị từ vựng không tồn tại tách rời nhau mà luôn có những mối quan hệ nhất định Điều đó làm cho từ vựng không thuần túy chỉ là tập hợp của các từ và đơn vị tương đương với từ mà còn là một hệ thống với những mối quan hệ nhất định Một trong những mối quan hệ mà các nhà khoa học thường tập trung làm rõ là quan hệ về ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng Các

từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa sẽ tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng) Trường nghĩa phát huy tác dụng đối với hoạt động tạo lập và sản sinh lời nói Khả năng tạo lập của trường nghĩa và nắm vững các đặc điểm của trường nghĩa cũng phát huy tác dụng nhất định trong quá trình tiếp nhận và phân tích lời nói, nhất là các cách diễn đạt chứa các hiện tượng ngôn ngữ bất thường

Mỗi một tác phẩm văn học là một chỉnh thể phong phú về nội dung và đa dạng về từ ngữ Câu chữ trong tác phẩm văn chương không đơn thuần thực hiện những chức năng riêng biệt mà luôn luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Giá trị của tác phẩm văn chương một phần lớn được thể hiện qua hệ thống ngôn từ mà người nghệ sĩ sử dụng

Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là câu chuyện của thân

phận, của mất mát, của tình yêu và chiến tranh Nó đã “chạm vào mẫu số chung của nhân loại” (Nguyễn Quang Thiều) và được bạn đọc đón nhận, chia

sẻ Trôi dạt giữa thời gian và không gian, chuyển dịch nhuần nhuyễn giữa những kí ức của những ngày tháng trước chiến tranh với những mô tả về các trận đánh, cuốn tiểu thuyết mang trong mình sự bình yên và nỗi đau buồn, chất thơ của văn học lãng mạn, sự sâu sắc của văn học hiện thực Năm 2011 tiểu thuyết được bình chọn là sách hay nhất của Hội Nhà văn Việt Nam Một trong những thành công của Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh”

là việc sử dụng một cách tinh tế và sáng tạo hệ thống ngôn từ về cuộc chiến

Trang 8

Với ý nghĩa này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Khảo sát trường

nghĩa chiến tranh trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh

để hướng tới làm rõ giá trị của những trường nghĩa này đối với nội dung tác phẩm cũng như sự đổi mới về bút pháp của người nghệ sĩ thời hậu chiến

2 Lịch sử vấn đề

Trường nghĩa là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học như: Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán… Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nghiên cứu một số hệ thống từ ngữ tiêu biểu để minh họa cho lý thuyết về tính hệ thống thuộc cấp độ từ vựng Những vấn đề

về trường từ vựng ngữ nghĩa trong tác phẩm văn chương vẫn chưa có sự quan tâm và tìm hiểu một cách thỏa đáng

Trên cơ sở lý thuyết về trường nghĩa, ở đề tài này chúng tôi đi sâu xem

xét vấn đề trường nghĩa về chiến tranh trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh

của Bảo Ninh

3 Mục đích nghiên cứu

Thống kê, phân loại và miêu tả các từ ngữ thuộc trường nghĩa về chiến

tranh trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Trên cơ sở đó, giá

trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm được làm rõ và hướng tới khẳng định tài năng của tác giả tài hoa này

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận về vấn đề trường nghĩa (khái niệm, phân loại, đặc điểm), trên cơ sở tập hợp và lí giải những ý kiến nhận xét tiêu biểu của các nhà Việt ngữ học Đồng thời xem xét cụ thể về trường nghĩa chiến tranh nói riêng

- Tiến hành thu thập và thống kê tư liệu nghiên cứu Tư liệu này là các từ ngữ lập thành trường nghĩa về chiến tranh trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh

Trang 9

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các trường nghĩa về chiến tranh

trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh như trường nghĩa chỉ sự

vật trong chiến tranh, trường nghĩa chỉ tên người trong chiến tranh, trường nghĩa chỉ các hoạt động của con người trong chiến tranh và trường nghĩa chỉ các trạng thái tâm lí của con người

5.2. Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.

6 Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp thống kê: thống kê những từ ngữ chỉ các sự vật, hoạt động, các từ chỉ tên người, trạng thái tâm lí của con người trong chiến tranh

-Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương pháp này xem xét tần số xuất hiện giữa các trường nghĩa cụ thể cũng như những từ ngữ trong các trường nghĩa đó

- Phương pháp phân tích: phương pháp này dùng để phân tích đặc điểm của các trường nghĩa về chiến tranh, từ đó rút ra được tính hệ thống ngữ nghĩa trong trường nghĩa và giá trị của tác phẩm

Quá trình tiến hành:

Bước 1: Nghiên cứu lí luận để nắm chắc những vấn đề về trường nghĩa như khái niệm, phân loại, đặc điểm, hiện tượng chuyển trường nghĩa…

Bước 2: Tiến hành thu thập, thống kê tư liệu nghiên cứu Đây là những

từ ngữ thuộc trường nghĩa về chiến tranh trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh

Bước 3: Viết khóa luận

7 Đóng góp của khóa luận

- Về mặt lí luận: khóa luận góp phần làm rõ lý thuyết về trường nghĩa

Trang 10

- Về mặt thực tiễn: khóa luận có giá trị thực tiễn trong quá trình xem xét

và thẩm định tác phẩm của Bảo Ninh

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được cấu trúc thành 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các trường nghĩa trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”

Trang 11

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 Những vấn đề chung về trường nghĩa

1.1.1 Khái niệm

Lý thuyết trường nghĩa ra đời mấy chục năm gần đây Tư tưởng cơ bản

của lý thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về trường nghĩa, song có thể quy về hai khuynh hướng chủ yếu sau:

- Trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu thị

- Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi của tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa

Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng - ngữ nghĩa Đỗ Hữu Châu là người đã nghiên cứu nhiều về vấn đề trường nghĩa Theo ông: những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đạt được các từ nói chung (nói

cho đúng là ý nghĩa của nó) vào những hệ thống con thích hợp Trong Từ

vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho rằng: Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những từ thống nhất với nhau về ngữ nghĩa.

Như vậy, tìm ra một khái niệm trường nghĩa trọn vẹn và đầy đủ vẫn đang

là một vấn đề được đặt ra Nhưng để phục vụ cho nghiên cứu, hiện nay các nhà ngôn ngữ thống nhất khái niệm trường nghĩa như sau: Trường nghĩa là tập hợp các từ có sự đồng nhất nào đấy về ý nghĩa - Sách giáo khoa tiếng Việt

10 (sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục)

1.1.2 Phân loại

F.de.Saussure trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra hai

dạng quan hệ: quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan

hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình)

Trang 12

Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa Trong giáo

trình Từ vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã giới thiệu hai trường

nghĩa dọc gồm trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm rồi tính đến trường tuyến tính và kết thúc bởi một trường nghĩa có tác động sâu sắc đối với việc sử dụng từ ngữ trong tác phẩm văn chương là trường nghĩa liên tưởng

1.1.2.1 Trường nghĩa dọc

1.1.2.1.1 Trường nghĩa biểu vật (trường biểu vật)

Một trường biểu vật là tập hợp các từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật Để

có những căn cứ dựa vào đó mà đưa ra các nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ là gốc Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật như: người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Như vậy nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi danh từ trên

Ví dụ: Trường biểu vật người

+ Trường chỉ người nói chung

- Xét về giới: đàn ông, đàn bà, nam, nữ…

- Xét về nghề nghiệp: giáo viên, nông dân, bác sĩ…

- Xét về chức vụ: giám đốc, hiệu trưởng…

+ Trường chỉ bộ phận con người: đầu, mình, chân, tay…

+ Trường chỉ hoạt động của người: nghĩ, suy nghĩ, ngẫm nghĩ…

Số lượng từ ngữ và tổ chức từ ngữ trong các trường lớn hoặc trong các trường nhỏ là khác nhau Trong các ngôn ngữ khác nhau thì có sự khác nhau càng lớn Các “miền” trong các trường cũng rất khác nhau Có những miền trống, có những miền có mật độ cao Điều này khẳng định tính dân tộc và tính ngôn ngữ của các trường biểu vật

Trang 13

Khi phân lập các trường, chúng ta chú ý tới nghĩa biểu vật chứ không chú

ý đến từ Phân lập các trường không phải là phân loại từ Một từ có thể có nhiều trường Do đó ta chỉ có thể đánh giá từ: chỉ số đó là số lượng các trường

mà từ đó có thể đi vào như một thành viên Các từ có chỉ số trường biểu vật thấp là những từ bị quy định về biểu vật rất mạnh, trái lại những từ càng đi vào nhiều trường thì tính bị quy định về biểu vật càng yếu, ý nghĩa càng khái quát.Các trường biểu vật có thể “thẩm thấu, giao thoa” vào nhau Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia Đó là tính độc lập tương đối giữa hai trường

Trong trường, quan hệ của các từ ngữ với một trường biểu vật không giống nhau… Có những từ gắn rất chặt với trường (từ ngữ điển hình), có những từ ngữ gắn bó lỏng lẻo hơn Như vậy trường biểu vật có cái “lõi” trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường gồm những từ điển hình cho nó Các lớp từ khác liên hệ với trường mờ nhạt dần

1.1.2.1.2 Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm)

Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của

từ Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu niệm

Ví dụ: cấu trúc biểu niệm (hoạt động), (di chuyển dời chỗ): đi, chạy,

nhảy, bơi, lội, lăn, lê, bò, toài, trườn, ra, vào, lên, xuống…

Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể đi vào những trường biểu niệm (hay là đi vào những trường nhỏ khác nhau) Vì vậy cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể “thẩm thấu, giao thoa” vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ

ở lớp kế cận trung tâm, những lớp từ ở ngoại vi

Khi nói hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, chúng ta đã đề cập đến các từ điển hình cho cấu trúc biểu niệm Các từ điển hình này tạo thành những cái lõi, thành những trung tâm của các trường biểu niệm Nhờ chúng mà sự tồn tại của

Trang 14

một trường biểu niệm mới được khẳng định Cũng chính nhờ sự đối chiếu với chúng, ta mới biết một từ có thể thuộc bao nhiêu trường biểu niệm khác.

Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật, trường biểu niệm là dựa trên

sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên hai loại trường dọc này có liên hệ với nhau: nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có trường biểu vật Nhưng khi cần phân biệt một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì phải dựa vào trong các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm Trái lại khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ta phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật

Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường Nhưng cũng chính nhờ các trường, chúng ta hiểu thêm sâu sắc ý nghĩa của từ

1.1.2.2 Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)

Để lập nên các trường tuyến tính chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp nó thành chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ

Ví dụ: Trường nghĩa ngang của từ “tay” là búp măng, mềm, ấm, lạnh,

dẻo, dùi đục, chuối mắn, nắm, cầm, chặt, bóc, xẻ…

Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại văn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó

Cùng với các trường nghĩa dọc, các trường tuyến tính góp phần làm sáng

tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ

Trang 15

1.1.2.3 Trường nghĩa liên tưởng (trường liên tưởng)

Từ không chỉ là một thực thể cấu trúc, một sự kiện của hệ thống ngôn ngữ mà còn là một thực thể xã hội và cá nhân sống động Các ý nghĩa liên hội

sẽ đắp “máu thịt” cho cái “lõi” biểu niệm, giảm bớt một phần nào đó tính khái quát của ý nghĩa biểu vật của từ và đưa vào đó một tâm hồn

Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng

từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm Các từ nằm trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính tức là những từ có cấu trúc quan hệ đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm

Ví dụ: Từ con bò có thể gợi ra những từ liên tưởng sau: sự cày bừa, cái

cày, cái ách, sự lam lũ, vất vả, ngu dốt…

Song trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới

do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng

có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân

Các trường liên tưởng không ổn định nên có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Những trường liên tưởng lại có hiệu lực lớn giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, hiện tượng sáo ngữ, sự ưa thích dùng từ nào đấy để nói hay viết, né tránh các từ nhất định… Do vậy, ta thấy chỉ xét về diện mạo ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương cũng đủ làm chúng ta không lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại này với một tác phẩm văn học của thời đại khác Cho nên các chuyến đi của văn nghệ sĩ không chỉ có ý nghĩa thường xuyên đổi mới tư tưởng tình cảm, vốn sống mà còn là để thường xuyên cải tạo, đổi mới ngôn ngữ của mình

Trang 16

1.2 Mối quan hệ giữa trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương

1.2.1 Trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương

Từ ngữ có thể chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ và hoán dụ Có nhận xét như sau: các từ trong một trường biểu vật thường lôi kéo nhau chuyển nghĩa theo một hướng nhất định

Nếu các từ chuyển theo ẩn dụ thì thường xảy ra sự chuyển trường biểu vật, có nghĩa là các từ thuộc trường biểu vật này kéo theo nhau chuyển sang trường biểu vật khác tạo nên hiện tượng được gọi là cộng hưởng ngữ nghĩa

Ví dụ: từ lửa chuyển sang trường tình cảm, trạng thái tâm lý thì kéo theo các từ hừng hực, rực, bốc, nhen nhóm, đốt, tàn… cùng chuyển sang trường đó (nhen nhóm một tình yêu).

Trong văn chương, các từ ngữ trong một câu văn, một đoạn văn thường kéo theo nhau theo cùng một trường để tạo ra sự phù hợp về trường nghĩa biểu vật Có thể nói tới hình ảnh chủ đạo (tức ẩn dụ, hoán dụ) của đoạn văn, câu văn (hay của một tác phẩm), hình ảnh chủ đạo thuộc trường biểu vật nào thì kéo theo các từ khác cùng trường với nó:

Không đâu, gió nén từ tám hướng đang bung ra Một cơn bão đang đến Lao vào Nam Lào, con thuyền Việt Nam hóa chiến tranh của Nich Xơn đã lao vào trung tâm một cơn bão lớn Bão nổi ở Cha Kia, La Tương… Bão quật sang đỉnh cao 500 xoáy vụn tiểu đoàn 39… Bão dập xuống đồi 456 xẻ nát tiểu đoàn 3 và cuốn sạch chỉ huy lữ đoàn 4… Bão xoáy lốc trên ngọn 550 vùi luôn tất cả những khẩu pháo hạng nặng cùng với lữ đoàn số 147… Bão dồn gió thép về bản Đông.

(Báo Quân Đội nhân dân, ngày 9-4-1971)

Hình ảnh chủ đạo là bão táp kéo theo các từ gió, nén, hướng trung tâm,

nổi, quật, dồn, cuốn, lốc….

Hình ảnh chủ đạo có khi được nói rõ ra, có khi được hiểu ngầm qua các

từ cùng trường trong đoạn văn

Trang 17

Mặt khác, với văn chương, sáng tạo trong hình ảnh ngôn ngữ thường là sáng tạo cục bộ, bắt nguồn từ nguyên mẫu đã có từ trước, nguyên mẫu được chứa trong các ẩn dụ, hoán dụ truyền thống Điều này giải thích tính truyền thống và tính sáng tạo trong các hình ảnh văn chương Bên cạnh đó, tác động của trường biểu vật còn thể hiện ở cái gọi là các lực hướng tâm và li tâm của trường Theo HanSprerber, nguồn gốc chủ yếu của sáng tạo văn học và chuyển nghĩa là các lực cảm xúc Do đó, ở mỗi cá nhân cũng có những phạm

vi tư tưởng riêng, những ám ảnh riêng, gây ra những lực cảm xúc riêng ở từng người Chúng tác động theo hai hướng: một mặt chúng “bành trướng” ra lấn vào các phạm vi tư tưởng và từ ngữ khác và hút về phía mình những từ ngữ thuộc những lĩnh vực khác

Thí dụ: Trước đây 28 năm, phạm vi tư tưởng trung tâm của nước ta là chiến đấu, chúng ta thấy những từ ngữ thuộc trường quân sự, lấn sang các

trường khác: Mặt trận văn hóa, kinh tế, chiến dịch trừ sâu; vũ khí tư tưởng… lấn sang cả tình yêu: tấn công, bao vây…

1.2.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương

Khi phản ánh một hiện tượng nào đó vào tác phẩm, người viết “khắc họa” nó bằng ngôn ngữ của mình Đối với một đoạn thơ thường chứa đựng một cái gì đồng nhất về nghĩa xuất phát từ các phương diện của hiện thực, tạo thành sự vật được nhận thức của tác phẩm Để làm nổi bật cái đồng nhất đó,

từ ngữ diễn đạt cũng phải chứa cái gì đó chung, phù hợp với nhau tạo nên hiện tượng được gọi là sự cộng hưởng ngữ nghĩa giữa các từ Sự cộng hưởng ngữ nghĩa này dựa trên nét nghĩa đồng nhất vốn có trong các từ, nói khác đi, dựa trên nét nghĩa chung cho một trường (hay một nhóm từ ngữ trong một trường) biểu niệm

Trở lại với đoạn văn viết về chiến thắng Nam Lào 1971 đã dẫn ở trên, ngoài sự thống nhất về trường biểu vật gió bão, các từ còn thống nhất về nét

Trang 18

nghĩa “cường độ mạnh”: bão, nén, nổi, lao, quật, … cả đến đối tượng tức nạn

nhân của cơn bão và của các vận động mạnh mẽ, cũng là những sự vật to

khỏe: tiểu đoàn, lữ đoàn, … những khẩu pháo hạng nặng… Việc sử dụng

những tập hợp từ ngữ như trên đã tạo ra hình ảnh về quân sự với những “sức mạnh” của một “cơn bão lớn”

Sự cộng hưởng về ngữ nghĩa không chỉ xảy ra đối với các từ ngữ mà nó còn có thể chi phối cấu trúc cú pháp, cả ngữ âm, tiết tấu, … Do đó, người viết thường phối hợp tất cả các yếu tố, các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra sự toàn bích về hình thức cho tác phẩm của mình

1.2.3 Trường nghĩa ngang và ngôn ngữ văn chương

Trong ngôn ngữ văn chương, có những trường nghĩa ngang vượt ngoài chuẩn mực Đây là những sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ trong cách dùng

từ ngữ Những kết hợp bất thường này có thể được chấp nhận rộng rãi, trở

thành những kết hợp bình thường Suối, bờ, … trong ngôn ngữ thơ có thể kết hợp với tóc thành suối tóc với vai thành bờ vai Chúng chưa thành thành tố của trường nghĩa ngang của hai từ tóc và vai trong khi mây đã đi vào trường nghĩa ngang bình thường của tóc: tóc mây.

1.2.4 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương

Trường liên tưởng có hiệu lực lớn, giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng

từ trong các tác phẩm văn học, giải thích những hiện tượng sáo ngữ, sự ưa thích lựa chọn những từ nào đấy để nói hay viết, sự né tránh hoặc kiêng kị những từ nhất định

Không nói đến những sự sai biệt về chủ đề, về tư tưởng, về các chi tiết thực tế, về hình tượng… Chỉ riêng diện mạo ngôn ngữ cũng đủ làm chúng ta không lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại này với tác phẩm văn học của thời đại khác Một tác giả đã từng sáng tác có hiệu quả trong thời kỳ trước thường gặp khó khăn trong các sáng tác thời kỳ sau, đặc biệt là các thời kỳ đã

Trang 19

xuất hiện những thay đổi rất căn bản trong xã hội Đó không chỉ vì người đó

đã mang quá nặng những “nghiệp chướng” của thời đại mình mà còn vì ngôn ngữ của mình đã bị ràng buộc quá sâu nặng với các trường liên tưởng cũ

Do đó, mỗi người nghệ sĩ phải gắn bó với cuộc sống, với thời đại để không chỉ thường xuyên đổi mới tư tưởng, vốn sống, tình cảm mà còn để thường xuyên cải tạo, đổi mới ngôn ngữ của mình

Tiểu kết chương 1

Ở chương này, chúng tôi đã tổng hợp các vấn đề lý thuyết về trường nghĩa, phân loại trường nghĩa Đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa các trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương Những hiểu biết đã trình bày trên sẽ được vận dụng khi chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê và nhận xét các trường từ ngữ

trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.

Trang 20

CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC TRƯỜNG TỪ NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT “NỖI BUỒN CHIẾN

TRANH” CỦA BẢO NINH

2.1 Tình hình khảo sát

Khảo sát những từ ngữ thuộc các trường nghĩa trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, chúng tôi nhận thấy có 4 trường nghĩa lớn:

Sự xuất hiện của các từ ngữ thuộc các trường nghĩa trong tiểu thuyết được thể hiện ở bảng dưới đây:

Tên

trường Từ ngữ và tần số xuất hiện Câu văn ví dụ

Người

Tiểu đoàn (14 lần), lính (70 lần),

trung đoàn (29 lần), trinh sát (42 lần),

tiểu đội (4 lần), đội (9 lần), trung

đội (26 lần), phân đội (4 lần), tổ lái,

đồng đội (14 lần), chính ủy, bộ đội

(3 lần), viễn thám (3 lần), sư đoàn

(4 lần), quân lực (4 lần), chỉ huy

(6 lần), nghĩa quân, sĩ quan (4 lần),

quân ngũ, quân bưu, đơn vị (5 lần),

vệ binh (2 lần), liệt sĩ (2 lần), đạo

quân, người gác (2 lần), huyện đội,

- Bốn tay trinh sát trung

đoàn sắp sửa dẫn đầu phân đội mũi nhọn xung phong

- Hồng ma thường đặc biệt mọc dày ở những vạt đất từng có nhiều người thiệt

mạng, tử khí tụ lại nhiều

Trang 21

chiến thương, thương binh (9 lần),

cựu chiến binh (2 lần), khu trại

(2 lần), thám báo (3 lần), chiến hữu,

đội viên, tù binh, quân chủ lực, trung

úy (2 lần), trung tướng, binh nhì, tên

ngụy (2 lần), người lái xe (2 lần),

quân tỉnh đội, quân cơ động, giao liên

(6 lần), tử sĩ (4 lần), tân binh (2 lần),

đồng chí (2 lần), đại úy, thanh niên

xung phong, binh nghiệp (2 lần), phế

binh, chiến sĩ, tử thi (2 lần), đội

trưởng, liên đoàn, đại đội (4 lần),

tiểu đội trưởng (2 lần), vệ binh

(2 lần), binh sĩ, bộ binh (2 lần),

trưởng xe, bộ binh, thủ trưởng, chiến

binh,…

- Đội trưởng thu nhặt hài

cốt của sư đoàn…

- Tiểu đội trưởng gào to,

như điên, mặt tái lại…

- Cái tiểu đoàn bất hạnh mà

anh là một trong mươi người còn được sống

- Trong đêm đại bác thúc

Trang 22

(4 lần), đại bác (6 lần), đàn ghita

(6 lần), lương thực, giày, AK (5 lần),

bom (25 lần), súng (50 lần), quân

phục (3 lần), xương cốt (2 lần), trái

hỏa tiễn, lưỡi lê, mũ tai bèo, sổ tay,

tàu (10 lần), balô (6 lần), áo bộ đội,

hầm (6 lần), mìn (2 lần), mộ (3 lần),

bông băng, cối (2 lần), lều (8 lần),

lựu đạn (12 lần), vũ khí, thuốc men,

máy bay (4 lần), tàu hỏa (5 lần)…

Mắc võng, bao vây, tiêu diệt (2 lần),

tưới, đánh (14 lần), lao chạy, ngã

(4 lần), bắn (32 lần), đốn, đọp, phọt,

kêu (2 lần), xông, kẹp, buông súng,

ôm, khuỵu ngã, lăn, lết, tụ họp, điểm

danh, diệt, rưới, phóng hỏa, đốt, tẩy,

mồ, kéo, khiêng, ngả, cạo, rú lên, ù

té, quẳng, chôn cất, đắp, báo oán,

hành quân (14 lần), thả neo, thu

quân, chỉnh huấn, săn, đặt bẫy, sát

phạt, đào ngũ (5 lần), công phá,

phòng thủ ( 2 lần), khởi động, xung

phong, tiến lên, xuất kích, liệng,

chạy, thiêu, khám phá, sum họp, ra

lệnh (2 lần), săn lùng, đào (7 lần), rút

lui, phản công, náu, trốn (3 lần),

- …Đã bị bao vây và tiêu

diệt mất hoàn toàn phiên

hiệu

- Kiên nấc to, buông súng,

ôm lấy một bên hông và

khuỵu ngã.

- Tiểu đoàn lại tụ họp trên

trảng như là để điểm danh.

- Trung đoàn đã cho rưới xăng rồi phóng hỏa đốt sạch

làng đó

Trang 23

nhập ngũ (3 lần), tản khai, nhào, núp

(3 lần), nã (8 lần), nổ (10 lần), ngắm,

xiết, chiến đấu (11 lần), triệu tập, lủi,

tóm (2 lần), tút (2 lần), ém, tự sát

(2 lần), sát (2 lần), truy đuổi, truy

lùng, đào tẩu, truy điệu, sản xuất,

tăng gia, kiểm điểm, chấn chỉnh, kỉ

luật, uốn nắn, bắt (2 lần), lùng, lục

lọi, hạ (2 lần), đọ súng, trói, bới, xúc,

hắt, lẳng, đâm, moi, dúi, xếp hàng,

hành quyết, lấp, gác, giải ngũ (4 lần),

chém (2 lần), giết (12 lần), chốt

(2 lần), đóng quân, báo cáo, lái

(6 lần), tái ngũ, tập hợp, săn đuổi,

mò mẫm, lặn lội, lăn, vọt tiến, băng

bó, vờn đuổi, truy sục, chĩa nòng,

bóp cò, vây hãm, dội bom, thay

băng,…

- Bọn Kiên đã chôn cất, đắp

điếm tử tế mồ mả cho người

ấy

- Địch quân đang khởi động,

cắc đoành nã cối và quờ quạng khua đại liên

- Trung đoàn đã thu quân

hãi, thất kinh, cay cú, sung sướng

(2 lần), bình yên, cô đơn, lạc lõng,

- Con người nội tâm trong

anh cô quạnh, ưu sầu…

- Và anh đột nhiên thấy tràn ngập trong lòng cảm giác,

Trang 24

uể oải (2 lần), bấn loạn, nhục nhã

(2 lần), buồn đau (2 lần), mệt nhọc,

bải hoải, buồn (3 lần), run rẩy

(5 lần), rung động, bàng hoàng

(4 lần), tái ngoét, hoang mang,

(2 lần), điên tiết, đau đớn, đau khổ,

hạnh phúc, sợ hãi, bất lực (3 lần),

tuyệt vọng (4 lần), hồi hộp, hưng

phấn, ngờ vực, hi vọng, u buồn,

dửng dưng, ơ hờ, khiếp đảm, bấn

loạn, giật mình (2 lần), xiêu lạc, lú

lẫn, mê mẩn, chếnh choáng, cô

quạnh, âu sầu, xúc động, kinh sợ, xót

thương, luống cuống, hờ hững, cô

đơn, trơ trọi, ghen tị, mê loạn, chới

với, sững sờ, sửng sốt (2 lần), thờ ơ

lãnh đạm, sợ hãi, ngoan ngoãn, bất

ngờ, đau đáu, hững hờ, trống rỗng,

dửng dưng, phẫn nộ, …

cô đơn, trơ trọi

- Như bị roi quật vào lòng,

đau đớn và mê loạn…

- Chợt sững sờ, sửng sốt,

anh cứng người lại…

- … run lên vì lạnh, vì khiếp

đảm, vì tê dại trong lòng

một niềm thương thân não

Qua bảng thống kê tần số xuất hiện trên, chúng tôi nhận thấy:

Trường nghĩa chỉ sự vật trong chiến tranh có tổng số từ ngữ là 494 từ chiếm 41,7%; trường nghĩa chỉ người là 329 từ, chiếm 27,7%; trường nghĩa chỉ hoạt động của con người trong chiến tranh là 252 từ, chiếm 21,3%; trường nghĩa chỉ trạng thái tâm lí con người chiếm số lượng ít nhất, 111 từ, chiếm 9,3%

Trang 25

Số lượng các từ ngữ trong các trường nghĩa có sự phân hóa rõ rệt Việc vận dụng linh hoạt từ ngữ thuộc các trường nghĩa đã góp phần gửi gắm tư tưởng của tác giả qua đó thấy được những đổi mới trong cách viết của nhà văn.

Như vậy, vận dụng những lý thuyết về trường nghĩa, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, phân loại các trường nghĩa trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” Kết quả thống kê trên cho thấy trường nghĩa dọc được sử dụng phong phú, đa dạng Các trường nghĩa đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng tác phẩm Chính những điều ấy đã góp phần đưa tiểu thuyết

“Nỗi buồn chiến tranh” đạt Giải thưởng Sách hay nhất năm 2011

2.2 Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các trường từ ngữ trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh

Mỗi tác phẩm văn chương là một sản phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ do người nghệ sĩ sáng tạo ra Ngôn ngữ đã giúp người nghệ sĩ đưa cuộc sống vào trong tác phẩm của mình và người đọc, khi đến với tác phẩm văn chương, trước hết, bao giờ cũng đến với thế giới ngôn ngữ Qua ngôn ngữ, người đọc không chỉ nhận thức được hiện thực mà còn nắm bắt được cả những ý tưởng sâu xa của tác giả

Ngôn ngữ chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong sáng tác văn học Bởi nó vừa là tiếng nói chân thực, giàu có của đời sống hiện thực, vừa là tiếng nói của trái tim đang xúc động Đọc các truyện của Bảo Ninh thoạt nghe

“tưởng như vô cảm, nhưng chứa đựng trong đó là giọng văn tưng tửng, thâm

thúy và rất có duyên Bàng bạc trong tiểu thuyết và truyện của Bảo Ninh là nỗi buồn mang ý nghĩa sâu sắc về khoảng cách thế hệ, về vấn đề cha con… Điều đó chứng tỏ ông vẫn thấy được vẻ đẹp thời đã qua và lưu luyến với nó” Nỗi buồn chiến tranh là hành trình đau đớn của một số phận dị kỳ tìm lại

quá khứ của mình Suốt dọc hành trình sống của Kiên, số phận giống như một

Trang 26

thứ lực ly tâm hất văng những người thân thiết nhất ra khỏi cuộc đời anh Hoặc họ lặng lẽ rời bỏ khỏi anh (Mẹ, Phương…) hoặc cái chết giật họ khỏi cuộc đời anh (cha, dượng, những người đồng đội…) Những cái chết và khoảng trống tâm hồn để lại sau những cái chết chính là nguồn động lực thúc đẩy cuộc hành trình ngược về quá khứ của Kiên - cuộc hành trình tìm lại ý nghĩa ẩn dấu sau những cái chết buồn bã hoặc đau đớn của những người thân, người đồng đội Toàn bộ cuộc đời hậu chiến của Kiên bị trôi đi trong cuộc

hành trình “đi tìm thời gian đã mất” đó, từ những dự cảm ban đầu cho đến những giác ngộ của anh về nỗi buồn chiến tranh và chân lý về những cái chết trong chiến tranh

Với việc khai thác hiệu quả sử dụng của các trường từ ngữ cũng như sự kết hợp giữa các trường nghĩa với nhau, chúng tôi đi tìm hiểu sự tàn khốc của chiến tranh, khúc ai ca ca ngợi sự bất diệt của tình người, từ đó thấy được cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và con đường mới viết về chiến tranh trong thời hậu chiến của tác giả

2.2.1 Hiệu quả của việc sử dụng trường từ ngữ miêu tả thiên nhiên, trường từ ngữ thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật để thấy được tính chất bạo tàn, khốc liệt của cuộc chiến

Nỗi buồn chiến tranh không phải chỉ là một tác phẩm viết về chiến tranh

Bản thân tiểu thuyết đã là một cuộc chiến tranh, một thảm họa chiến tranh, một thế giới chiến tranh thu nhỏ nằm trong bi kịch vĩ đại của Một Con Người Hình như, sáng tác của Bảo Ninh có cái gì đó rất gần gũi với Vasin Bukov, Rasputin của Nga hay Oliver Stone và Bradley của Mỹ Số phận của họ cũng rất giống nhau Cùng là những nhà văn – trung úy trẻ măng, từ nhà trường bước thẳng vào chiến trường, và “mỗi một người bị chiến tranh chà nát theo một kiểu riêng” Trong tác phẩm của mình, họ tái hiện lên một cuộc chiến tranh của riêng họ, nhiều khi hoàn toàn khác với cuộc chiến tranh chung, hay chính

Ngày đăng: 30/11/2015, 21:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
3. Đỗ Hữu Châu (2004), Giáo trình Từ vựng học Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
4. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
5. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Đỗ Đức Hiểu (2000), Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thi pháp hiện đại phần III, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thi pháp hiện đại phần III
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2000
8. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
9. Bảo Ninh (2009), Nỗi buồn chiến tranh, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi buồn chiến tranh
Tác giả: Bảo Ninh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
10. Mai Hải Oanh (2009), Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại giai đoạn 1986 – 2006, NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại giai đoạn 1986 – 2006
Tác giả: Mai Hải Oanh
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2009
11. Tạp chí sông Hương, số 205, tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí sông Hương
Năm: 2006
12. Viện Văn học (1999), Tuyển tập 40 năm tạp chí Văn học 1960 -1999, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập 40 năm tạp chí Văn học 1960 -1999
Tác giả: Viện Văn học
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w