1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp truyện ngắn bình nguyên lộc

130 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, tìm hiểu về Bình Nguyên Lộc, đặc biệt là thể loại truyện ngắn của ông, mảng tác phẩm có nhiều đóng góp cho văn học Nam Bộ từ hướng thi pháp học là một việc làm quan trọng v

Trang 1

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

MAI THỊ HƯƠNG GIANG

THI PHÁP TRUYỆN NGẮN BÌNH NGUYÊN LỘC

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ NGÀNH: 82 20 121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BÌNH DƯƠNG - 2018

Trang 2

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

MAI THỊ HƯƠNG GIANG

THI PHÁP TRUYỆN NGẮN BÌNH NGUYÊN LỘC

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, được chỉ rõ nguồn gốc và chưa được công bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Mai Thị Hương Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin dành sự kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Hoàng Trọng Quyền, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể lãnh đạo, cán bộ nhà trường và khoa Ngữ văn Trường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành nhiệm vụ

Tôi xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến toàn thể quý thầy cô đã giảng dạy tôi trong suốt 2 năm tham gia học lớp cao học chuyên nghành Văn học Việt Nam (khóa 2016 – 2018) tại Trường Đại học Thủ Dầu Một Xin cảm ơn đến quý thầy

cô đã hết lòng dìu dắt, dạy dỗ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin tri ân sự khích lệ và ủng hộ nhiệt tình của gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp trong thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong hội đồng phản biện đã dành thời gian đọc và góp ý cho luận văn của tôi Những nhận xét và góp ý của quý thầy cô sẽ là kinh nghiệm quý báu cho tôi trong việc nghiên cứu sau này

Cuối cùng, tôi xin kính gửi lời chúc sức khỏe đến quý thầy cô, chúc quý thầy cô nhiều thành công trong cuộc sống, có thêm nhiều niềm vui hơn nữa trong

sự nghiệp trồng người thiêng liêng, cao quý

Bình Dương, ngày 5 tháng 11 năm 2018

Tác giả luận văn

Mai Thị Hương Giang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 12

7 Cấu trúc của luận văn 13

Chương 1 VẤN ĐỀ THI PHÁP HỌC VÀ ĐỜI VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC 14

1.1 Những vấn đề chung về thi pháp học 14

1.1.1 Khái niệm thi pháp và thi pháp học 14

1.1.2 Một số nét về thi pháp học ở Việt Nam 16

1.2 Đặc điểm thi pháp truyện ngắn 19

1.2.1 Nhân vật 20

1.2.2 Cốt truyện 23

1.2.3 Không gian 25

1.2.4 Thời gian 26

1.2.5 Ngôn từ 27

1.2.6 Giọng điệu 28

1.3 Bình Nguyên Lộc – “con nai vàng” xứ Đồng Nai 29

1.3.1 Dấu ấn cuộc đời 29

1.3.2 Dấu ấn văn chương 33

Tiểu kết 41

Chương 2 THI PHÁP NHÂN VẬT VÀ THI PHÁP CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN BÌNH NGUYÊN LỘC 42

2.1 Thi pháp nhân vật trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 42

2.1.1 Kiểu nhân vật trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 42

Trang 6

2.1.1.2 Nhân vật đau khổ, vỡ mộng 52

2.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 56 2.1.2.1 Khắc họa nhân vật qua ngoại hình 56

2.1.2.2 Xây dựng nhân vật qua điểm nhìn trần thuật 61

2.2 Thi pháp cốt truyện trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 63

2.2.1 Cốt truyện truyền thống 64

2.2.2 Cốt truyện tâm lý 68

2.2.3 Cốt truyện trinh thám 72

Tiểu kết 73

Chương 3 THI PHÁP KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ NGÔN TỪ, GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN BÌNH NGUYÊN LỘC 75

3.1 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 75

3.1.1 Không gian nông thôn 75

3.1.2 Không gian đô thị 79

3.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 86

3.2.1 Thời gian quá khứ 86

3.2.2 Thời gian đồng hiện 89

3.3 Ngôn từ trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 92

3.3.1 Ngôn từ đậm chất Nam Bộ 94

3.3.2 Ngôn từ thể hiện cá tính người Nam Bộ 101

3.4 Giọng điệu trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc 105

3.4.1 Giọng điệu trầm buồn, tình cảm 105

3.4.2 Giọng điệu hài hước, dí dỏm 107

3.4.3 Giọng điệu triết lý, suy tư 110

Tiểu kết 111

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nam Bộ là vùng đất mới trong lịch sử dựng nước, có môi trường tự nhiên hoang sơ nhưng cũng rất màu mỡ Vùng đất với những thử thách, mời gọi khát vọng chinh phục khám phá, đồng thời hào phóng ban tặng cho cả lưu dân những sản vật quý hiếm Trải qua bao biến thiên của lịch sử, văn hóa, tính cách con người vừa kế thừa vừa phát huy vẻ đẹp tâm hồn Việt Hành trình khám phá con người Nam Bộ là hành trình trở lại cội nguồn văn hóa lịch sử, soi ngắm con người dưới nhiều góc độ khác nhau là hướng tiếp cận có chiều sâu văn học Nhắc đến Văn học Nam Bộ thế kỉ XX với những sáng tác của Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Phi Vân, Anh Đức… chúng ta không thể không kể đến Bình Nguyên Lộc – người đã đóng góp làm nên sự bề thế, phong phú cho văn học Nam Bộ Con nai hiền miền bình nguyên (nghĩa của tên Bình Nguyên Lộc) ấy đã

để lại dấu ấn rõ nét tạo nên dòng chảy khác biệt, chứng tỏ sức sống của một bộ phận văn học phát triển từ mảnh đất đặc thù này Đây là một vùng văn học độc đáo cần được quan tâm và nghiên cứu sâu sắc, lâu dài hơn, và nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc - người đã đóng góp vào văn học dân tộc tiếng nói riêng của vùng đất mới Thực hiện đề tài này cũng là một cách để người viết dần tiếp cận, khám phá hình tượng con người Nam Bộ từ hướng thi pháp học Bên cạnh đó, nhằm khẳng định vẻ đẹp và tài năng của Bình Nguyên Lộc

Bình Nguyên Lộc là một cây bút xuất sắc không chỉ ở Nam Bộ mà còn của cả nước Ông sáng tác từ những năm ba mươi của thế kỉ XX, trong suốt gần một thế kỉ sáng tác, nhà văn đã để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ, đặc biệt

là truyện ngắn Những tác phẩm của nhà văn đã khắc chạm một đường nét độc đáo vào bức tranh văn học dân tộc Cái riêng trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc mang đậm không khí của đất và người miền Nam trong cái thuở tiền nhân ta khai phá miền Nam, mở mang bờ cõi Con nai hiền miền bình nguyên ấy đã góp thêm một giọng văn riêng, chứa chan tình yêu quê hương, ca ngợi những phẩm chất cao quý đã giúp dân tộc tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh

Trang 8

bền bỉ Truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc đã miêu tả hình ảnh miền Nam một cách sinh động, chân thật và giàu nghệ thuật Tất cả những điều này đã tạo nên một nhà văn Nam Bộ - Tô Văn Tuấn (tức là Bình Nguyên Lộc) với những nét riêng khó lẫn trong dòng chảy chung ở mảng truyện ngắn của văn học nước nhà Chính vì vậy, tìm hiểu về Bình Nguyên Lộc, đặc biệt là thể loại truyện ngắn của ông, mảng tác phẩm có nhiều đóng góp cho văn học Nam Bộ từ hướng thi pháp học là một việc làm quan trọng và cần thiết, có ý nghĩa trong công tác phê bình

và nghiên cứu lịch sử văn học

Trong mấy chục năm trở lại đây, thi pháp học đã và đang trở thành một xu hướng tiếp cận tác phẩm được giới nghiên cứu phê bình văn học ứng dụng một cách rộng rãi và có hiệu quả Thi pháp học không phải là nối gạch duy nhất đi đến chân lý nghệ thuật Xuất phát từ thi pháp học để tìm hiểu, phân tích tác phẩm

là hướng nghiên cứu biện chứng vì nó kết hợp được tính khoa học và nghệ thuật,

tư tưởng và thẩm mỹ, nội dung và hình thức của tác phẩm trong quá trình nghiên cứu Theo chúng tôi, hướng nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta khám phá được một cách toàn diện vẻ đẹp của tác phẩm văn chương một cách khách quan nhất, đem đến cái nhìn đầy đủ về tài năng, đóng góp nghệ thuật của nhà văn và giá trị của tác phẩm Thêm vào đó, văn học Nam Bộ trước năm 1975, là giai đoạn văn học khá sôi động với nhiều cây bút tạo cho văn học Nam Bộ tính đặc thù, tiềm tàng nhiều vấn đề cần được làm rõ Người viết tiếp cận theo hướng nghiên cứu thi pháp học, tìm hiểu về nhà văn Bình Nguyên Lộc sinh ra tại Nam Bộ, sống ở Nam

Bộ, viết về Nam Bộ, là tác giả Nam Bộ “rặt”, người đã ghi dấu tài năng của mình

và có ảnh hưởng rất lớn trên chặng đường phát triển của văn học miền Nam

Lựa chọn đề tài Thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, chúng tôi góp

phần đưa truyện ngắn Bình Nguyên Lộc đến gần hơn với đông đảo bạn đọc, mong muốn đem đến cho người đọc một cái nhìn khái quát nhất về truyện ngắn Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn thi pháp Qua đó, ghi nhận và khẳng định sự đóng góp của tác giả về nghệ thuật truyện ngắn cho nền văn học nước nhà

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Thi pháp học, với tư cách một khoa học nghiên cứu văn học có mặt ở Việt Nam khá muộn, các công trình lý thuyết và ứng dụng ở Việt Nam theo hướng thi pháp học đã được công bố nhưng chưa nhiều Cho nên thật khó mà dựng lên một lịch sử vấn đề thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên Lộc với nghĩa chặt chẽ của tiêu

đề Nhưng do đối tượng mà thi pháp học quan tâm thật rộng lớn, hầu như không loại trừ bất kì một phương diện nào của hình thức nghệ thuật Các yếu tố của hình thức như: nhân vật, cốt truyện, chi tiết, không gian, thời gian, ngôn ngữ… trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc đã có những bài viết đề cập đến Tuy nhiên, lại không được khảo sát một cách có hệ thống, không được xem xét dưới quan niệm chỉnh thể… mà chỉ được phân tích, cảm nhận chung chung, phán đoán một cách riêng lẻ, do vậy không phải là thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên Lộc Trong đề tài này, chúng tôi sẽ tận dụng tối đa những phát hiện có giá trị về truyện ngắn Bình Nguyên Lộc mà những người đi trước đã đạt được Cái mới là ở chỗ chúng được xem xét, cắt nghĩa, lí giải theo một cách thức, một hệ thống khác Với ý nghĩa đó, dưới đây người viết sẽ cố gắng trình bày lịch sử nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, đặc biệt chú ý đến những ý kiến về phương diện hình thức nghệ thuật có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của mình Bình Nguyên Lộc là nhà văn hiện đại Nam Bộ giai đoạn 1954 – 1975 nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận ở cả trong nước lẫn hải ngoại Sau đây, chúng tôi xin liệt kê những công trình nghiên cứu có ảnh hưởng trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của người viết về nhà văn theo hai mốc thời gian: trước và sau năm 1975

2.1 Những công trình nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc xuất bản trước năm

1975

Tác giả Nguyễn Ngu Í có một số bài phỏng vấn, nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc (Nguyễn Ngu Í, 1966), đã ghi nhận Bình Nguyên Lộc sáng tác về quê hương như để trả món nợ với vùng đất Đồng Nai Bài viết đã nhấn mạnh được tình đất, tình quê, lịch sử di dân và đấu tranh sinh tồn của những con người trên vùng đất mới của Bình Nguyên Lộc Bài phỏng vấn là những cảm nhận của

Trang 10

chính tác giả khi viết về những tác phẩm của mình đã mang lại cho chúng tôi một cái nhìn khái quát hơn về quan điểm sáng tác của Bình Nguyên Lộc trong quá

trình nghiên cứu Phương Thảo (tức nhà văn Vũ Hạnh) trên tạp chí Bách Khoa số

82, năm 1960 có bài phê bình tác phẩm Ký thác của Bình Nguyên Lộc - khẳng

định tình yêu quê hương đất nước và sắc thái địa phương trong tác phẩm (Phương Thảo, 1960) Bài viết đúng như tiêu đề, chỉ là những lời giới thiệu có tính chất tóm gọn về mặt nội dung của tập truyện chứ chưa khái quát đi sâu vào vấn đề Có thể xem, đây là bài viết cung cấp cho người viết một cái nhìn khái

quát chung về tập truyện Ký thác – một trong những tập truyện tiêu biểu trong

phạm vi nghiên cứu của chúng tôi

Bàng Bá Lân trong Văn thi sĩ hiện đại (1968) cho rằng: “Bình Nguyên

Lộc chính là sự tiếp nối Hồ Biểu Chánh về thể loại tiểu thuyết của miền Nam ở thế kỷ trước” (Bàng Bá Lân, 1968) Bài viết đã kết dính được các yếu tố xung quanh tác phẩm như: nhân vật, không gian để tạo nên một các nhìn thuyết phục

về sự tiếp nối hình tượng trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Bài nghiên cứu này

đã gợi ra ý tưởng và hướng đi cho chúng tôi trong việc đối sánh một số bình diện

về thi pháp truyện ngắn với những nhà văn cùng thời

Lê Phương Chi phỏng vấn Bình Nguyên Lộc (1972) về nhiều vấn đề xung quanh cuộc đời nhà văn, trong đó có quan niệm về văn chương, cách viết truyện của Bình Nguyên Lộc Bài phỏng vấn đã mang lại cho người viết một bức tranh khái quát nhất về đời văn Bình Nguyên Lộc, đó là những tư liệu cần thiết

để chúng tôi tìm hiểu về dấu ấn cuộc đời và văn chương của nhà văn Nguyễn

Nam Anh có bài phỏng vấn “Nhà văn Bình Nguyên Lộc” đăng trên Giai phẩm

Văn số 199 ra ngày 1-4-1972, tác giả đã khẳng định Hương gió Đồng Nai - tác

phẩm đầu tay đã được nhà văn viết với cả tấm lòng yêu thương quê hương rất sâu sắc (Nguyễn Nam Anh, 1972)

2.2 Những công trình nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc xuất bản sau năm

1975

Trang 11

Nguyễn Q Thắng – người dành nhiều công sức tuyển chọn và giới thiệu

những sáng tác tiêu biểu của Bình Nguyên Lộc qua bộ Tuyển tập Bình Nguyên

Lộc (gồm 4 tập, dài 1194 trang, NXB Văn học, 2001, Hà Nội) Tác giả Nguyễn

Q Thắng đã có những nhận xét khá xác đáng: “Trong từng trang viết, ông làm sống dậy trong tâm thức người đọc cái hồn nhiên dung dị, chân chất mà đầy tình nghĩa của con người sinh trưởng tại miền đất mới… Tác phẩm của ông là một phần không nhỏ của văn học Việt Nam; nhất là làm sống dậy và lớn lên cái tinh thần chiến đấu hăng say, lạc quan của nhân dân ta nơi vùng đất mới này” (Bình

Nguyên Lộc, 2001, tr 15-16) Trong quyển Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam

(NXB Văn hóa thông tin, 1999) Nguyễn Q Thắng đã trình bày khá rõ nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc: “Hầu hết các tác phẩm của Bình Nguyên Lộc đều viết về sinh hoạt nông thôn Nam Bộ - nhất là miền Đông Nam Bộ Trong từng trang viết ông làm sống dậy trong tâm thức người đọc cái hồn nhiên dung dị, chân chất mà đầy tình nghĩa của con người sinh trưởng tại miền đất mới Con người ấy có đủ bản lĩnh và khả năng để chiến đấu với thiên nhiên, đấu tranh với xã hội”

Đánh giá về tập Nhốt gió, Nguyễn Q Thắng cho rằng: “Nội dung chủ đề truyện Nhốt gió nói riêng và toàn tập nói chung… đều tiềm tàng, sâu lắng các ý

niệm vươn lên và mang tính phê phán các tư tưởng cổ hủ, cố chấp theo lối mòn,

sự độc đoán trong gia đình, của người cha… đồng thời biểu dương tinh thần cởi

mở, phóng khoáng, cầu tiến, ham học hỏi… Có thể nói, trước năm 1975 ở miền Nam, Bình Nguyên Lộc là một nhà văn có tấm lòng thương người đồng loại một cách bao la” (Bình Nguyên Lộc, 2001, tr 47) Những nhận định của tác giả đã phần nào khái quát được bức chân dung điển hình của con người Nam Bộ trong

tập truyện Nhốt gió, qua đó thấy được cái riêng của Bình Nguyên Lộc khi khắc

họa hình tượng người nông dân Sau đó, Nguyễn Q Thắng còn giới thiệu về cuộc

đời và tác phẩm của Bình Nguyên Lộc trong Văn học Việt Nam nơi miền đất mới,

tập 2 và Bình Nguyên Lộc với Hương gió Đồng Nai (2010) Bài viết cho thấy

được tầm vóc và vị trí của Bình Nguyên Lộc trong văn học Việt Nam, nhất là văn học Nam Bộ Bài viết đánh giá tác phẩm của Bình Nguyên Lộc dưới việc xây

Trang 12

dựng những tính cách nổi bật của những con người đi khai hoang mở cõi tại vùng đất mới “cảm thông với nỗi cơ cực, bần hàn”; “cùng nhau vượt qua hoạn nạn”… Tuy nhiên bài viết chỉ là sự cảm nhận chung, thiếu sự lí giải và phân tích theo hệ thống cần thiết nhưng cũng phần nào cung cấp cho người viết về cái nhìn khái quát nhất trong cuộc đời của Bình Nguyên Lộc để chúng tôi soi chiếu vào đề tài của mình để nghiên cứu

Trong Từ điển văn học (bộ mới), tại mục từ Bình Nguyên Lộc, có giới

thiệu sơ lược cuộc đời và nêu giá trị một số tác phẩm của Bình Nguyên Lộc như:

Nhốt gió, Rừng mắm, Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc… tác giả cũng nhận định: “Trước Bình Nguyên Lộc, dường như chưa có một

nhà văn Việt Nam nào viết về sự khai phá đất hoang của dân tộc Việt, về đất và

nước một cách bát ngát và sâu xa đến thế” Lê Phương Chi trong Tâm tình văn

nghệ sĩ (NXB Thanh Niên, 2001) đã có tìm hiểu về nhà văn Bình Nguyên Lộc và

đưa ra nhận xét: “Nhà văn Bình Nguyên Lộc có một bút pháp sắc bén, đôn hậu, quan sát tinh tế với những tình tiết phong phú và rất đặc sắc trong thể loại truyện

ngắn” (Lê Phương Chi, 2001, tr 371)

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi (2004) với đề tài

“Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc” Luận văn đã chỉ ra những nét riêng trong những tác phẩm văn xuôi (đặc biệt là tiểu thuyết) của Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn về mặt nội dung, đặc biệt là quan niệm nghệ thuật của con người trong tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Đông (2005) với đề tài “Văn hóa và con người Nam Bộ trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc” Và luận án Tiến sĩ với đề tài “Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hóa học” (2014) Tác giả đã có cái nhìn khái quát về truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc với không gian, thời gian và con người Nam Bộ dưới góc nhìn của văn hóa Nam Bộ Những đề tài luận văn của các tác giả đã cung cấp cho người viết một cái nhìn rộng hơn về các sáng tác của Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn khác

Trang 13

Bên cạnh đó, có rất nhiều những bài nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc trên những sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết qua các trang báo điện tử khá nhiều Điểm chung của những bài viết này, mặc dù chỉ là những bài viết nhỏ những đã phát hiện ra đặc điểm nổi bật về nhân vật trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc,

đó là tinh thần yêu tha thiết, gắn bó sâu sắc với nguồn cội, quê hương đất nước

Tiêu biểu là: Tác giả Trần Phỏng Diều, với bài viết Con Tám cù lần của Bình

Nguyên Lộc - người thành thị hoài niệm về chốn thôn quê đăng trên trang

http://binhnguyenloc.de ngày 01/12/2007 đã đánh giá cao vị trí của Bình Nguyên Lộc trong nền văn chương miền Nam: “Bình Nguyên Lộc là một trong những nhà văn lớn của vùng đất Nam Bộ Nhìn chung, văn chương của Bình Nguyên Lộc đều mang hơi thở của cuộc sống thời đại, mang đậm không khí đất và người miền Nam trong cái thuở tiền nhân khai hoang mở cõi Văn chương của ông thường thấm đẫm tình yêu quê hương, xứ sở, đề cao vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, ca ngợi những phẩm chất cao quý đã giúp dân tộc tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh bền bỉ.” Đặc biệt, bài viết của tác giả

Thụy Khêu với tựa đề Bình Nguyên Lộc, đất nước và con người đăng trên trang

http://binhnguyenloc.de ngày 08/10/2008 đã có sự khảo sát các sáng tác của nhà văn này, tập trung chủ yếu về truyện ngắn và tiểu thuyết và tìm thấy nét độc đáo của việc thể hiện hình tượng nhân vật thông qua so sánh với hai nhà văn Nam Bộ khác là Đông Hồ, Hồ Biểu Chánh: “Cái gốc Bắc, tổ tiên nguồn cội ngoài Bắc được Bình trân trọng tìm kiếm, không riêng gì khía cạnh lịch sử Nam tiến, mà còn cả về nguồn cội ngôn ngữ” Bên cạnh đó, Thụy Khuê đã chú ý đến nghệ thuật viết truyện của Bình Nguyên Lộc qua cách kể chuyện giản dị, mộc mạc, cách xử lí hiện thực đơn giản… Bài viết của Trần Phỏng Diều và Thụy Khuê đã cung cấp một cái nhìn khá toàn diện về sáng tác của Bình Nguyên Lộc qua truyện ngắn và tiểu thuyết, những phát hiện quan trọng, hợp lí sát thực qua khảo sát tác phẩm để chúng tôi có thể định hướng và phát triển cho đề tài của mình dưới góc độ thi pháp truyện ngắn

Trên trang http://binhnguyenloc.de còn có bài viết của Trần Cao Lĩnh đăng ngày 7/8/2006 đã cho rằng “sau ngày đất nước chia hai (1954) cũng là bắt

Trang 14

đầu những thập niên nở rộ của muôn hồng ngàn tía văn chương nghệ thuật lan tràn và đóng góp vào từ miền Bắc Bình Nguyên Lộc của miền Nam đã trở thành một đóng góp có cân lượng, một trong những cây bút hàng đầu” Nguyễn Thị

Thu Trang trong bài Bình Nguyên Lộc và tình đất đăng ngày 01/12/2007 trên

trang http://binhnguyenloc.de có nhận xét: “Bình Nguyên Lộc viết nhiều thể loại nhưng truyện ngắn là phần nổi trội và thành công nhất, là nơi tập trung tư tưởng

và phong cách sáng tác của nhà văn” Tác giả còn có bài viết Con người và văn

hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc đăng ngày 26/09/2008 trên

trang http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn Bài viết đã hướng đến phân tích, lí giải những phẩm chất nổi bật của hình tượng nhân vật trong truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc là “luôn gắn bó với đất mẹ yêu thương”; “trọng nghĩa tình, làng xóm”; “sống hòa đồng với tự nhiên”… Có thể xem đó là những nghiên cứu dù chưa toàn diện nhưng có tính định hướng trong việc khai thác cách xây dựng hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc cho người viết

Khảo sát tập truyện ngắn Ký thác của Bình Nguyên Lộc, tác giả Vinh Lan

đã có bài viết Nhân tính và nhân phẩm trong Ký thác đăng trên trang

http://binhnguyenloc.de ngày 04/12/2007 Trong đó có nhận xét về phương diện

nội dung của tập truyện: “Chỉ với 16 bài trong tập Ký thác mà tựa tập truyện tự

nó đã là nỗi niềm tâm tư hoài bão gửi gắm trong chọn lọc của tác giả Bình Nguyên Lộc đã đưa rất nhiều vấn đề của con người ra để nhận diện, phản ánh và suy ngẫm” Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh trong bài viết đăng trên trang

của Bình Nguyên Lộc khá đa dạng, ông viết văn, làm thơ rồi làm báo, nhà xuất bản và cuối cùng là nhà nghiên cứu tiếng Việt và nhân chủng học Bình Nguyên Lộc là một trong những nhà văn trội bật của dòng văn chương lục tỉnh” Tác giả

đã khảo sát tổng thể nhiều môn loại sáng tác của Bình Nguyên Lộc (khảo cứu, nhà báo, nhà văn) Đây cũng là một bài nghiên cứu khá tập trung về vấn đề người nông dân khẩn hoang Nam Bộ Đây cũng là những tư liệu để chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về sáng tác của Bình Nguyên Lộc nói chung trong quá trình nghiên cứu

Trang 15

Theo bài viết của Lưu Nghi đăng trên trang web http://binhnguyenloc.de ngày 03/09/2008 thì “Tác phẩm của Bình Nguyên Lộc mang nhiều màu sắc: chuyện xã hội có, chuyện tình ái có, chuyện ma có, hầu như đều dựa trên ít nhiều sự kiện thật, hoặc rút ra từ sanh hoạt thực tế hằng ngày” Hồ Trường An cũng đã đánh giá cao truyện ngắn Bình Nguyên Lộc: “Văn chương biểu dương bản sắc thuần tuý của Bình Nguyên Lộc là những truyện ngắn được đưa vào các

tập truyện: Nhốt gió, Ký thác, Mưa thu nhớ tằm, Cuống rún chưa lìa, Đó là

những tác phẩm chắt lọc cái tinh hoa quý giá của thần trí sáng tạo của anh” (Hồ Trường An, 2017, http://namkyluctinh.org)

Những bài viết, ý kiến đánh giá và bình luận của các tác giả trên mạng internet về Bình Nguyên Lộc nói chung và truyện ngắn của ông nói riêng đã cho thấy người đọc quan tâm và nhìn nhận đúng mức những thành công của Bình Nguyên Lộc về thể loại truyện ngắn, những câu chuyện chân thực, giàu cảm xúc, giúp người đọc khám phá những góc cạnh khác nhau của đời sống con người Văn phong của tác giả vẫn quen thuộc, gần gũi, giản đơn mà tinh tế Mặc dù những bài viết về Bình Nguyên Lộc nói chung và mảng truyện ngắn của ông nói riêng còn chưa nhiều, hầu hết thiếu hệ thống và khảo sát cụ thể nhưng đó là những gợi ý nhất định cho chúng tôi tiếp cận và khai thác đề tài

Nhìn chung những bài viết, những công trình nghiên cứu của các tác giả trên sách, báo, tạp chí, internet về truyện ngắn Bình Nguyên Lộc đã đề cập đến khá nhiều phương diện đặc sắc trong tác phẩm của Bình Nguyên Lộc Tuy nhiên, hầu hết trong đó các bài viết còn khá sơ lược, cảm nhận chung chung về tác giả vẫn chưa nghiên cứu có hệ thống về thi pháp trong truyện ngắn của nhà văn hay đánh giá một cách tổng quát về sự nghiệp sáng tác của tác giả Từ đó có thể thấy rằng, đề tài của người viết nghiên cứu về thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên Lộc

là mới mẻ, đây cũng là công trình nghiên cứu sâu về truyện ngắn Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn thi pháp học

Đề tài của chúng tôi sẽ trân trọng, kế thừa và tiếp thu những phát hiện, những mặt thành công của các công trình nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc và

Trang 16

những ý kiến của người đi trước sẽ là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình hoàn thành đề tài này Bên cạnh đó, chúng tôi đặt ra những vấn đề mới

để nghiên cứu sâu thêm, đó là về thi pháp trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là nghiên cứu: Thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên

Lộc Cụ thể là, chúng tôi khảo sát thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên Lộc trên

các phương diện về: nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, ngôn từ và giọng điệu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tìm hiểu 6 tập truyện ngắn

với 96 truyện được trích trong Tuyển tập Bình Nguyên Lộc (tập 1,2,3,4), Nhà

xuất bản Văn học ấn hành, năm 2001, được Nguyễn Q Thắng tuyển chọn và giới

thiệu để làm tư liệu khảo sát, phục vụ cho đề tài của mình Đó là các tập: Nhốt

gió (18 truyện), Ký thác (16 truyện), Mưa thu nhớ tằm (12 truyện), Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (18 truyện), Thầm lặng (15

truyện), Cuống rún chưa lìa (17 truyện) Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một

số ngữ liệu được đăng tải ở trang http://www.binhnguyenloc.de để phục vụ cho

đề tài nghiên cứu của mình

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 17

học để lý giải sự thành công trong văn nghiệp cũng như vị trí của tác giả trong dòng chảy văn học Nam Bộ hiện đại Qua đó, góp phần khẳng định tiềm năng của hướng nghiên cứu thi pháp học đối với các hiện tượng văn học

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở xác định được mục đích nghiên cứu, luận văn giải quyết các

nhiệm vụ sau:

Đề tài đề cập đôi nét về thi pháp học cũng như vai trò của thi pháp học đối với công tác phê bình và nghiên cứu văn học, tìm hiểu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc Sau đó, người viết đi sâu vào khai thác, phân tích, lý giải các yếu tố thi pháp trong truyện ngắn của nhà văn trên các bình diện tiêu biểu như: nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, ngôn

từ và giọng điệu

Từ những kết quả khảo sát, nghiên cứu đó, người viết sẽ đưa ra kết luận chung về thi pháp trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc và ý nghĩa, tác dụng của

những bình diện thi pháp đó

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai và thực hiện đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thi pháp học

Luận văn tiếp cận theo hướng nghiên cứu của thi pháp học đại cương, lấy các phương pháp của thi pháp học làm căn bản và chủ đạo, quyết định hướng

triển khai và thực hiện đề tài Người viết tham chiếu tư tưởng, tâm hồn, tính cách

và quan điểm sáng tác của Bình Nguyên Lộc để hiểu được sâu hơn, cặn kẽ hơn

về thi pháp trong các sáng tác truyện ngắn của ông

Trang 18

cũng là để lí giải sự đa dạng trong cách viết của ông

5.4 Phương pháp so sánh

Tìm hiểu thêm về các nhà văn cùng thời để thấy được những nét chung của Bình Nguyên Lộc trong dòng chảy văn học Nam Bộ hiện đại giai đoạn 1954-

1975, làm nổi bật riêng văn phong sáng tạo của ông

Ngoài những phương pháp trên chúng tôi kết hợp sử dụng các thao tác lập luận phân tích, tổng hợp, đánh giá, đối chiếu để lần lượt đi tìm hiểu cụ thể, làm rõ từng đặc điểm của truyện ngắn Bình Nguyên Lộc Song song đó, chúng tôi cũng khảo sát các ý kiến nhận định để rút ra những đặc trưng bản chất làm rõ cho đề tài Từ những cái riêng ở từng tác phẩm, người viết rút ra cái chung, những giá trị

tiêu biểu làm nên đặc sắc riêng của cây bút “rặt” chất Nam Bộ này

6 Đóng góp của luận văn

Lựa chọn đề tài Thi pháp truyện ngắn Bình Nguyên Lộc người viết mong

muốn đóng góp cái nhìn của mình về những sáng tác truyện ngắn của nhà văn, góp phần tìm hiểu một cách rõ hơn những giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc qua các phương diện: nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, ngôn từ, giọng điệu, để phần nào thấy được những nét đặc sắc của cây bút Nam Bộ tiêu biểu này Qua đó, ghi nhận sự đóng góp của tác giả cho mảng

Trang 19

truyện ngắn nói riêng và cho nền văn học nước nhà nói chung Đề tài này sẽ là dấu nối tiếp bước những nghiên cứu trước đây với một diện mạo mới sâu sắc hơn

và hoàn chỉnh hơn Đặc biệt, đề tài nghiên cứu sẽ là một trong những điểm khởi đầu về phương diện thi pháp cho các công trình về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Bình Nguyên Lộc

Thông qua đề tài nghiên cứu, người viết hi vọng sẽ đem đến một cái nhìn bao quát, tổng hợp về các sáng tác truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam cũng như những nét riêng đã làm nên tên tuổi nhà văn xứ Đồng Nai này thông qua thi pháp truyện ngắn - một phương diện quan trọng và có giá trị trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc

Đề tài cũng sẽ là một tài liệu tham khảo nhỏ, hữu ích cho việc nghiên cứu

và giảng dạy văn học Nam Bộ hiện đại nói chung và truyện ngắn Bình Nguyên Lộc nói riêng dưới góc nhìn thi pháp học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành ba chương Trong đó, chương 1 tập trung khai thác những vấn đề chung làm cơ sở cho việc nghiên cứu Chương 2 và chương 3 tập trung nhận diện, phân tích, đánh giá các phương diện tiêu biểu về mặt thi pháp trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc

Chương 1: Vấn đề thi pháp học và đời văn Bình Nguyên Lộc (27 trang: từ trang 14 đến trang 41)

Chương 2: Thi pháp nhân vật và thi pháp cốt truyện trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc (33 trang: từ trang 42 đến trang 75)

Chương 3: Thi pháp không gian, thời gian và thi pháp ngôn từ, giọng điệu trong truyện ngắn Bình Nguyên Lộc (35 trang: từ trang 76 đến trang 111)

Trang 20

Chương 1

VẤN ĐỀ THI PHÁP HỌC VÀ ĐỜI VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC

1.1 Những vấn đề chung về thi pháp học

1.1.1 Khái niệm thi pháp và thi pháp học

Thuật ngữ “thi pháp học” là cách gọi của hướng nghiên cứu hiện đại, Ngay từ thời cổ đại Aristote được xem là ông tổ của thi pháp học với công trình

Nghệ thuật thơ ca (tiếng Hy Lạp là Poetica) Tác phẩm ra đời cách đây 2.400

năm là một công trình có ý nghĩa rất lớn, khi mà ở ngay thời cổ đại nhà triết học Aristote đã đưa ra những hình thức đặc sắc riêng cho bi kịch, hài kịch Các thuật ngữ của Nga, Anh, Pháp, như “poetika”, “poetics”, “poétique” thường được dịch

là “nghệ thuật thi ca”, “thi nghệ”, “thi pháp”, “thi pháp học” và là thi pháp khi cần nhấn mạnh tới tính chất lý luận về văn học, bình diện nghệ thuật của các sáng tác văn học

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thi pháp và thi pháp học trong giáo

trình văn học của Lê Ngọc Trà quyển Lý luận và văn học, xuất bản năm 1990 cho

rằng: “Thi pháp là hệ thống các phương tiện, cách thức thể hiện và tổ chức ý thức nghệ thuật trong sáng tạo văn chương” (Lê Ngọc Trà, 1990, tr 139)

Nguyễn Văn Hạnh đưa ra một định nghĩa rất rộng về thi pháp trong quyển

Mấy vấn đề về ngôn ngữ học và văn học: “Thi pháp là nghệ thuật thi ca, nói một

cách chặt chẽ và khái quát hơn, là hệ thống những nguyên tắc chỉ đạo quá trình sáng tác và xây dựng tác phẩm văn học bao gồm những nguyên tắc nhận thức và thể hiện cuộc sống một cách nghệ thuật, theo qui luật của cái đẹp, qua việc lựa chọn đề tài, xác định và soi sáng các chủ đề, khai thác cốt truyện, xây dựng hình tượng, nhân vật, tính cách, sử dụng và sáng tạo loại thể, ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật khác, xuất phát từ quan niệm về bản chất và chức năng của văn học, cách thức xử lý vấn đề kế thừa và cách tân, quan hệ tác giả, tác phẩm và

người đọc…” (Nguyễn Văn Hạnh 2002, tr 157-158)

Trang 21

Được xem là một trong những nhà nghiên cứu có công đưa thi pháp học vào Việt Nam từ những năm 1980, Trần Đình Sử đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thi pháp học ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu thi pháp của

ông vừa mang tính ứng dụng, vừa mang tính thực tiễn như giáo trình Dẫn luận

thi pháp học, Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp Truyện Kiều.… Theo Trần Đình

Sử, danh xưng “thi pháp” có cội nguồn từ Trung Quốc, từ các học giả đời Tống

trở đi đã nói tới Trần Đình Sử đưa ra ví dụ như một số cuốn sách như Thi pháp

chính tông (thế kỷ XIII), Thi pháp chính luận của Phó Nhược Kim (Thế kỷ XVI)

Với giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử đưa ra hai cách hiểu

về thi pháp như sau: “Một là, hiểu thi pháp như là nguyên tắc, biện pháp chung làm cho văn bản, phát ngôn trở thành tác phẩm nghệ thuật.… Hai là, hiểu thi pháp như là những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật cụ thể tạo thành đặc sắc nghệ thuật, của một tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu… cả hai cách đều có chung mục đích khám phá các nguyên tắc phổ quát hoặc cụ thể, lịch sử làm thành nghệ thuật” (Trần Đình Sử, 2001, tr 5) Ngoài ra các nhà nghiên cứu như Phạm

Ngọc Hiền (trong công trình Thi pháp học) và Hoàng Trọng Quyền (trong công trình Giáo trình thi pháp học) cũng đã đưa ra những định nghĩa và kiến giải về

thi pháp và thi pháp học Trong đó, đáng chú ý là công trình của Hoàng Trọng Quyền đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về thi pháp học

Nhìn chung lại, các ý kiến của các nhà nghiên cứu, mặc dù cách định nghĩa có khác nhau nhưng đại đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: thi pháp là hệ thống nghệ thuật của một hiện tượng văn học và thi pháp học là bộ môn khoa học nghiên cứu hệ thống nghệ thuật của hiện tượng văn học Hay nói một cách cụ thể hơn thì thi pháp là một hệ thống những yếu tố hình thức có quan

hệ chặt chẽ với nhau để cùng tạo nên một thế giới nghệ thuật nhất định Giữa thế giới nghệ thuật và thế giới thực tại là sự ảnh hưởng lẫn nhau dù vẫn có sự khác biệt, cho nên trong thế giới nghệ thuật cũng có con người, không gian, thời gian,

đồ vật, sự kiện, ngôn ngữ có thể bắt nguồn từ hiện thực, sau đó được nhà văn nhào nặn theo ý muốn, quan điểm chủ quan của nhà văn mang tính chất hư cấu, tái tạo bằng các biện pháp nghệ thuật

Trang 22

1.1.2 Một số nét về thi pháp học ở Việt Nam

Thi pháp học là ngành nghiên cứu văn học có từ lâu đời; phát triển qua năm tháng, hình thành nên nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường Cùng với thời gian, thi pháp học ngày càng hoàn thiện về cách tiếp cận, hướng nghiên cứu Ngày nay thi pháp học trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu văn học có sức ảnh hưởng mạnh mẽ ở thế kỉ XX Nhìn lại quá trình phát triển của thi pháp học, có thể thấy thi pháp học đã phát triển qua hai chặng đường lớn: thi pháp học

cổ điển và thi pháp học hiện đại Thi pháp học cổ điển xuất hiện với tư cách là môn khoa học nghiên cứu các phương tiện biểu hiện như thể loại, ngôn từ Thi pháp học cổ điển mới chỉ dừng lại ở cái vỏ hình thức bề ngoài, chưa đi sâu khám phá bản chất của văn học, sự gắn kết giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học Thi pháp học hiện đại - Thế kỉ XX với những chuyển biến dữ dội về lịch

sử - xã hội đã trở thành dấu mốc cho sự phát triển của thi pháp học Xuất phát từ mong muốn tìm ra bản chất của các vấn đề nội dung và hình thức của các tác phẩm văn học, các nhà nghiên cứu đã lần lượt khảo sát tìm hiểu văn học trên các phương diện chất liệu, hình thức, cấu trúc, ngôn ngữ văn chương; nghiên cứu văn học thông qua văn bản, các nguyên tắc mã hóa và tiếp nhận văn bản nghệ thuật

Từ đó thi pháp học hiện đại đã làm phong phú, đa dạng thêm thi pháp học truyền thống, đem đến các cách tiếp cận mới đối với văn học trên cơ sở nhiều trường phái thi pháp học khác nhau

Ở Việt Nam, thi pháp học có mặt khá muộn, khác với một số nước phương Tây phải đến những năm 80 trở lại đây thi pháp học mới thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và mới lác đác xuất hiện một số công trình, bài viết theo hướng này Nhìn sơ qua về bức tranh toàn cảnh khái quát về sự phát triển của thi pháp học ở trên, có thể thấy thi pháp học ở Việt Nam có nguồn cội

từ thi pháp học hiện đại trên thế giới Thi pháp học ở Việt Nam xuất hiện muộn hơn so với thế giới và còn non trẻ Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng thi pháp học Việt Nam đã và đang có những bước đi khá vững vàng trong quá trình hình thành và phát triển của mình Thời trung đại nền văn hóa Việt Nam chịu sự tác

Trang 23

động không nhỏ từ quốc gia Trung Quốc Không những bị ảnh hưởng về thể loại

mà văn học Việt Nam thời kì này còn chịu sự chi phối của các quan niệm nghệ thuật về thi ca du nhập từ Trung Quốc Thi pháp học cổ điển của Trung Quốc với quan niệm “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” trở thành khuôn mẫu cho việc sáng tác, phê bình

Đến cuối thế kỉ XIX, quyển Thi pháp nhập môn (Bàn về thơ Annamite)

của hai tác giả Thế Tải và Trương Minh Ký được nhà in Thương Mãi Rey xuất bản Với nội dung là dạy về luật thơ thất ngôn, cuốn sách này trở thành cuốn sách

về thi pháp học đầu tiên được xuất bản tại Sài Gòn Cuốn sách mở đường cho sự phát triển ban đầu của thi pháp học ở Việt Nam Nhưng đây vẫn là tìm hiểu thi pháp học theo cách nhìn cổ điển Tại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhiều công trình lý luận phê bình ứng dụng các học thuyết du nhập từ phương Tây xuất hiện

Và những bước thăng trầm, biến đổi của thi pháp học Việt Nam chịu sự chi phối của thi pháp học thế giới

Giai đoạn 1945 - 1975, ở miền Nam, các quan niệm thi pháp trước đó tiếp tục được duy trì, đồng thời các trường phái thi pháp hiện đại từ Âu – Mỹ bắt đầu

du nhập vào Trong các công trình nghiên cứu, các sách được xuất bản, chủ nghĩa hình thức khẳng định rõ vị trí của mình Miền Nam trước 1975, do có điều kiện tiếp thu lí luận, phê bình văn học phương Tây khá tự do, nên đã có một số công trình lí luận của Nguyễn Văn Trung, Trần Thiện Đạo, một số công trình nghiên cứu thú vị của Trần Ngọc Ninh, Bùi Hữu Sủng, Lê Tuyên, Huỳnh Phan Anh, Đặng Tiến…

Sau 1954 ở miền Bắc nói riêng và sau 1975 trên cả nước Việt Nam nói chung, chủ nghĩa hình thức không còn giữ vị trí độc tôn, thay vào đó phương pháp xã hội học (hay còn được gọi là phương pháp văn hóa – lịch sử) được coi trọng, đề cao Cùng với bước tiến của lịch sử dân tộc, văn học chủ yếu xoay quanh các nội dung về chính trị, đạo đức, cuộc sống của con người trong chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa

Trang 24

Giữa thập niên 80 cho đến nay, công cuộc cải tổ dẫn đến những biến động mạnh mẽ trong đời sống chính trị, bộ môn thi pháp học du nhập vào Việt Nam,

mở ra một hướng mới cho việc phê bình, nghiên cứu, giảng dạy văn học vốn chỉ xem trọng nội dung mà không nhìn nhận đúng mức giá trị nghệ thuật của tác phẩm Đi tiên phong trong quá trình đưa thi pháp học vào Việt Nam là: Phan Ngọc, Hoàng Trinh, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Sử, …

Bằng việc dịch các quyển Nghệ thuật thơ ca của Aristote, Văn tâm điêu

long của Lưu Hiệp, Mỹ học của Hegel, … Phan Ngọc đem đến những hướng tiếp

cận đầu tiên về thi pháp học Các công trình như Thi pháp học của Đôxtôiépxki

dưới con mắt Bakhơtin (1991), Thi pháp học và thế giới vi mô của văn học

(1991) của Hoàng Trinh; Thi pháp ca dao (1993) của Nguyễn Xuân Kính; … đã

góp phần to lớn vào việc phát triển thi pháp học ở Việt Nam Với nhiều công trình nghiên cứu đặc sắc, Trần Đình Sử được coi là chuyên gia hàng đầu về thi pháp học của Việt Nam Các sách và công trình nghiên cứu của Trần Đình Sử

như: Dẫn luận thi pháp học (1987), Một số vấn đề thi pháp hiện đại (1993), Mấy

vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1999), Thi pháp Truyện Kiều

(2002)… trở thành tài liệu học tập và tham khảo quý báu khi muốn tìm hiểu về thi pháp học Đáng chú ý hơn cả là công trình nghiên cứu thơ Tố Hữu của Trần

Đình Sử và Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc

Đây là hai chuyên luận hoàn chỉnh, có quy mô tương đối lớn và có đề cập đến phương pháp luận, vấn đề lí thuyết thi pháp học, tác giả trình bày tương đối rõ quan điểm của mình về lĩnh vực đang ít được nói đến này

Ngoài ra, có thêm nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu thi pháp như: La Khắc Hoà, Phan Huy Dũng, Bửu Nam, Trần Thị An, Chu Văn Sơn, Nguyễn Thành Thi, Lê Tiến Dũng, Trần Lê Bảo, Lê Thu Yến, Hà Thị Hoà, Nguyễn Ái Học, Đinh Trí Dũng, Hoàng Mạnh Hùng, Đào Duy Hiệp, Biện Minh Điền, … Trong miền Nam có Lê Tiến Dũng, Hoàng Trọng Quyền, Phạm Ngọc Hiền… Những công trình có tính chất ứng dụng như thế đã đưa ra những khám phá, những cách lý giải mới mẻ và lý thú về nhà văn và tác phẩm

Trang 25

Kể từ 1990, nghiên cứu thi pháp học trở thành trào lưu ở Việt Nam với hàng loạt các bài báo, các công trình dịch thuật giới thiệu các nhà thi pháp học nổi tiếng trên thế giới; hàng trăm luận án, luận văn tiếp cận từ hướng thi pháp học Đến nay, thi pháp học giữ vị trí quan trọng không chỉ trong nghiên cứu, phê bình văn học mà còn cả trong công tác giảng dạy Và thi pháp học Việt Nam đang tiến những bước tiến khá vững để bắt kịp sự phát triển của thi pháp học thế giới

Vấn đề thi pháp hiện nay ở nước ta cũng khởi sắc hơn trước, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đang dựa trên những nguyên tắc, quan điểm của phương Tây để đánh giá, xem xét tác phẩm văn học Việt Nam, với hệ thống những nguyên tắc, cách thức xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm, lực chọn và

sử dụng, tổ chức các phương tiện ngôn ngữ để làm nên tác phẩm văn học Điểm chúng tôi nhận thấy khi nói đến thi pháp ở ta hiện nay thường hay đề cập nhấn mạnh đến quan niệm riêng của tác giả về thế giới và con người, được tìm từ sự

ẩn sâu bên trong hình thức nghệ thuật của tác phẩm nhưng có sự chi phối, quyết định đến cách nhà văn tạo nên hình thức tác phẩm đó

1.2 Đặc điểm thi pháp truyện ngắn

Truyện ngắn gần gũi với cuộc sống hơn bao giờ hết vì nó là một thể tài xung kích giàu tính năng động, một người lính trinh sát trên các bước chuyển của đời sống và xã hội, khi đã xoáy sâu vào những vấn đề nóng bỏng, bức xúc đang được độc giả quan tâm Trong khi đó những người viết truyện ngắn đã lên tiếng

từ chính cuộc đời, từ chính tâm tư của mình để đồng cảm với cuộc đời Sự linh hoại của truyện ngắn về mặt hình thức là muôn màu muôn vẻ như Daniel Grojnowski nhận xét: “Truyện ngắn là một thể loại muôn hình nghìn vẻ biến đổi khôn cùng Nó là một vật biến hóa như quả chanh của Lọ Lem Biến hóa về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba mươi trang Biến hóa về kiểu loại, tình cảm, trào phúng, kỳ ảo, hướng về biến cố có thật hoặc tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng

tài năng cách thể hiện nó không ai giống ai tuy có sự tựu trung về thể loại Đó là

Trang 26

lý do tại sao truyện ngắn của Maupassant là sự thâm trầm, sâu sắc, nhẹ nhàng; Tchekhov là sự hóm hỉnh, thâm thúy; cái đau đớn xót xa, tàn tạ, thê thảm của

A.Q chính truyện, Nhật ký người điên của Lỗ Tấn Thể loại truyện ngắn với một

dòng chảy liên tục của nó đã đưa đến những đặc điểm thi pháp riêng biệt

1.2.1 Nhân vật

Khi đọc bất kì một tác phẩm văn học nào thì người đọc cũng đều bắt gặp những con người được miêu tả, trần thuật cụ thể Đó là những nhân vật văn học Nhân vật là yếu tố quan trọng của tác phẩm văn học Nó “là công cụ, cho nên việc tìm ra nhân vật mới bao giờ cũng là chìa khóa để mở rộng các mảng đề tài mới” (Vương Trí Nhàn, 1998, tr 281) “Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định” (Nguyễn Đăng Mạnh, 1994, tr 126) Văn học thì không thể thiếu nhân vật, đây là phương tiện

cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng, thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân, một loại người hay vấn đề nào đó của hiện thực Những yếu tố như phong cảnh thiên nhiên, phong tục tập quán, những sự kiện kinh tế, chính trị đều góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng cho tác phẩm Thế nhưng yếu tố cơ bản của tác phẩm văn học là nhân vật Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định

Nhân vật trong truyện ngắn vừa có điểm giống vừa có điểm khác biệt so với tiểu thuyết Giống ở chỗ nhân vật đều biết xây dựng với các chi tiết như ngoại hình, tính cách, nội tâm và “bao giờ cũng khái quát một nội dung đời sống

xã hội và một quan niệm sâu sắc, một cảm hứng tình điệu tha thiết với cuộc đời” (Nhiều tác giả, 2000, tr 291) Do tính chất của tiểu thuyết và truyện ngắn khác nhau cho nên “nhân vật tiểu thuyết có khuynh hướng vươn tới một hình thái tràn đầy viên mãn, được tiếp diễn trong sự liên tục của thời gian, thì nhân vật truyện

Trang 27

ngắn bị bắt buộc phải tồn tại trong thời gian ngắn ngủi, không liên tục, chúng tồn tại sự đứt đoạn” (Phong Lê (chủ biên), 1990, tr 168)

Xét về mặt nào đó nhân vật của truyện ngắn không được khai thác chiều sâu tâm lý đậm nét, phức tạp, đa dạng như của tiểu thuyết Do sự hạn chế về dung lượng, nó chỉ “dừng lại ở một khoảnh khắc nào đó tiêu biểu trong một đời người, trong sự hạn chế của không gian thời gian, tính cách trong truyện ngắn thường là khi những tính cách đã hình thành ổn định và người ta chỉ bắt gặp nó”

(Vương Trí Nhàn, 1998, tr 98) như Elizabeth Russet trong Viên mỡ bò của Maupassant; Janine trong Người đàn bà ngoại tình của A Camus; cô Thảo trong Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo; Hạng trong truyện ngắn cùng

tên của Nguyễn Minh Châu Tuy nhiên cũng có một số nhân vật truyện ngắn mang dáng dấp cỡ tiểu thuyết như lão Khúng của Nguyễn Minh Châu

Một nhà văn không thể có một diện mạo nào tốt hơn, đích thực hơn ngoài những nhân vật do mình sáng tạo trong văn học Khi nói đến Nguyễn Du người

ta nói đến Kiều, Nam Cao gắn với Chí Phèo, Lỗ Tấn với AQ… Mỗi nhân vật thể

hiện một đời sống riêng trong xã hội thấm đẫm không khí của thời đại Nhà văn

Tô Hoài cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” (Tô Hoài, 1997, tr 12) Nhân vật không chỉ là nơi bộc

lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật của tác phẩm Nhân vật trong văn học là nhân vật của tưởng tượng, liên tưởng, chứ không phải “hữu hình”, “nhìn thấy được” như trong hội họa, điêu khắc, điện ảnh… Qua ngôn từ, người đọc hình dung và tưởng tượng ra nhân vật theo khả năng liên tưởng của mình Thông qua sự miêu tả của nhà văn Nam Cao người đọc có thể hình dung ra Lão Hạc, Chí Phèo, Lang Rận, Điền, Hộ.… Qua ngòi bút của Nguyễn Tuân người đọc tưởng tượng ra vẻ đẹp đầy khí phách của Huấn Cao,

vẻ đẹp cường tráng của ông lái đò sông Đà… Mỗi nhà văn sẽ khắc họa “gương mặt” nhân vật riêng của mình

Tính cách nhân vật của tiểu thuyết phát triển từ đầu đến cuối, trong khi đó

ở truyện ngắn được cô đọng thể hiện ở các biến cố, thái độ, hành động, tình cảm

Trang 28

của nhà văn được rút ra từ đó Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam

Cao là một kẻ chuyện rạch mặt ăn vạ, là nỗi khiếp đảm của người dân làng Vũ Đại Vậy mà khi quen với Thị Nở được biết chút hơi ấm của tình người, bản tính trong Chí trỗi dậy đi cùng nhận thức ai đã không cho Chí cái quyền lương thiện

làm người tưởng chừng đơn giản ấy Cũng như ông Hai trong truyện ngắn Làng

của Kim Lân được thể hiện ở hai thái cực nghe tin làng theo giặc và sự hiểu nhầm được phá vỡ để thấy được con người của một lão già nông dân hồn hậu, chất phác nhưng “vằng vặc” một lòng yêu làng, yêu nước Đối ngược lại, nhân vật của Thạch Lam thực sự chỉ lóe lên ở một thời khắc chóng vánh nhưng mang sức chở lớn Trong xã hội buồn tẻ ấy liệu con người ta có chạy thoát khỏi cái tù

mù, mịt mùng tưởng không còn lối thoát ấy chăng? Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã

gieo vào người đọc một câu hỏi lớn khó có thể giải đáp ngay được

Càng ngày các kiểu nhân vật ngày càng thể hiện phong phú đa dạng hơn, trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ đó là những người được ca ngợi như

Nguyệt của Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu) mà “trong tâm hồn

người con gái nhỏ bé, tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn dội xuống cũng không thể tàn phá nổi ư” (Phan Cự Đệ (chủ biên), 2004, tr 135) là đại biểu Một khi cá nhân, cá thể được quan tâm hơn cũng là các nhân vật của truyện ngắn trở nên phức tạp hơn Trong một con người có cả tốt lẫn xấu, cùng một việc những sắc thái biểu hiện đa chiều, khi hào hứng lúc trăn trở, đăm chiêu Mỗi một nhân vật là một mẫu người của một mặt tính cách, đó là sự bao dung hay tính hèn nhát, ti tiện, ích kỷ Các cung bậc biểu lộ cảm xúc của nhân vật được các nhà văn tái tạo dưới nhiều hình thức nghệ thuật nhằm chuyển đạt một quan niệm về con người, nghệ thuật, đời sống nào đó của bản thân nhà văn Tuy không đồ sộ được như tiểu thuyết nhưng nhân vật của truyện ngắn lại có tính chất cô đặc thường là hiện thân cho một quan hệ

xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người, từ đó trực tiếp hay gián tiếp giúp chúng ta hiểu hơn mặt nào đó của thế thái nhân tình Vậy nên thế giới nhân vật trong truyện ngắn muôn màu muôn sắc, cũng mang những xúc cảm nặng nỗi ưu tư giữa cuộc đời đồng thời thể hiện được dấu ấn sáng tạo của tác giả,

Trang 29

và đôi khi nhân vật cũng gợi ra những lời để ngỏ cho chúng ta bình luận, ngẫm nghĩ trong một “thế giới hiền minh của lưỡng lự” (Milan Kundera) mà số “khá đông con người ta bây giờ đang sống trong một cái thế rất chông chênh giữa một câu nói lịch sự và một lời nói gắt bẳn” (Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương,

1996, tr 352) của con người hiện đại

Như vậy,“nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người hay những

sự vật mang cốt cách của con người được xây bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ.” (Lê Tư Chỉ, 1996, tr 77) Nhân vật văn học chính là sự thể hiện

cụ thể, rõ ràng nhất “tiếng nói” của nhà văn về cuộc đời, về con người Thế giới nhân vật do nhà văn sáng tạo ra thật phong phú Trong lịch sử văn học đã có biết bao nhiêu nhân vật với những đường nét, diện mạo, tính cách khác nhau Mỗi nhân vật là một sáng tạo độc đáo của nhà văn

1.2.2 Cốt truyện

Thuật ngữ cốt truyện từ lâu cũng đã được giới nghiên cứu, lý luận phê bình văn học chú ý Nói riêng với các nhà lý luận phê bình văn học Việt Nam thì

cũng đã có khá nhiều quan niệm về vấn đề này Theo cuốn 150 thuật ngữ văn

học, cốt truyện được hiểu là: “Hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu

tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức vận động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” (Lại Nguyên Ân, 1999, tr 88)

Trong giáo trình Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên thì: “Cốt truyện

là một chuỗi các sự kiện được tạo dựng trong tác phẩm tự sự và kịch” và “Cốt truyện có hai tính chất cơ bản Một là tính liên tục hữu hạn trong trật tự thời gian,

sự kiện này đặt sau sự kiện trước và cứ thế cho đến kết thúc Hai là các sự kiện trong chuỗi có mối quan hệ nhân quả hoặc quan hệ bộ lộ ý nghĩa” (Phương Lựu

(Chủ biên), 2003, tr 56) Cũng trong cuốn giáo trình Lí luận văn học do Hà Minh

Đức chủ biên lại cho rằng: “cốt truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua

Trang 30

lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm” (Hà Minh Đức (chủ biên), 2003, tr 136)

Như vậy, dù hiểu theo hướng nào thì thì chúng ta vẫn thấy rằng với thể loại kịch và tự sự, cốt truyện đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện sự sáng tạo cũng như những ý đồ nghệ thuật của của nhà văn Về mặt cấu trúc của cốt truyện, từ các nhà lí luận thời trước cho đến các nhà nghiên cứu lí luận phê bình văn học Việt Nam đương đại đều cho rằng một cốt truyện sẽ gồm năm thành phần: Trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Tuy vậy, trên thực tế, không phải tác phẩm tự sự hay kịch nào cũng đều có kết cấu như vậy Xét riêng trong lịch sử văn học Việt Nam, vấn đề cốt truyện trong các sáng tác văn học cũng đã có sự vận động không ngừng Ở dòng văn học dân gian và văn học trung đại, cốt truyện chủ yếu được xây dựng theo trình tự thời gian tuyến tính và thường cũng chỉ có một xung đột cơ bản xuyên suốt tác phẩm

Đến thời kì 1930 - 1945, quá trình hiện đại hóa đã khiến văn học Việt Nam có những đổi mới rất nhiều ở lĩnh vực cốt truyện (ở thể loại truyện ngắn) Giờ đây xuất hiện nhiều kiểu cốt truyện hiện đại như cốt truyện không theo trật

tự thời gian thông thường, cốt truyện tâm lí,… Đến giai đoạn 1945 - 1975, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt mà một số kiểu cốt truyện của truyện ngắn Việt Nam thời kì này mang dấu ấn của văn học dân gian và văn học trung đại lại phát triển (kiểu cốt truyện với hai tuyến nhân vật rõ ràng hay kiểu cốt truyện đơn giản khi xây dựng biến cố và sau đó tập trung vào việc giải quyết các biến cố)

Từ sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1986 về sau này, gắn với quá trình đổi mới nói chung của văn học nước nhà trên rất nhiều bình diện thì vấn đề cốt truyện cũng được các nhà văn hết sức quan tâm Riêng với thể loại truyện ngắn, ngoài sự kế thừa những kiểu cốt truyện truyền thống thì các nhà văn, với sự nghiền ngẫm và sáng tạo của mình, đã có những kiểu cốt truyện mới như: cốt truyện đa tuyến, cốt truyện với kết thúc mở, cốt truyện đảo lộn không gian thời gian của câu chuyện.… Đây là những thành tựu bước đầu rất đáng trân trọng

Trang 31

1.2.3 Không gian

Không gian là nơi tồn tại, nơi diễn ra mọi sinh hoạt vật chất, tình cảm của

con người Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa về không gian như

sau: Thứ nhất không gian là: “Hình thức tồn tại cơ bản của vật chất [cùng với thời gian], trong đó các vật thể có độ dài và độ lớn khác nhau, cái nọ ở cách cái kia” Thứ hai không gian là: “Khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người” (Hoàng Phê, 2011, tr 656)

Trần Đình Sử trong cuốn Giáo trình thi pháp học đã đưa ra một định

nghĩa tinh giản “không gian nghệ thuật là hình tượng không gian trong tác phẩm” (Trần Đình Sử, 1993, tr 50) Không gian nghệ thuật cũng là một phương diện chủ yếu của thi pháp Nó là một phương tiện để tác giả xây dựng thế giới nghệ thuật, nó cũng là một “cánh cửa” để qua đó người đọc hiểu nội dung hình tượng

và tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm Nghiên cứu hình tượng không gian là cần thiết để khám phá quan niệm nghệ thuật về thế giới, về con người của tác phẩm Khi được đưa vào trong văn học, không gian được mở rộng không chỉ

về chiều kích mà còn về ý nghĩa phản ánh Không gian trong văn học không đơn thuần chỉ là không gian vật chất mà còn bao hàm trong nó quan niệm thẩm mỹ, ý nghĩa thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật của tác giả Khác với không gian ngoài đời sống chỉ gồm ba chiều, không gian nghệ thuật trong tác phẩm được mở rộng ra theo chiều tâm tưởng, trở thành không gian của cảm xúc, hồi tưởng, khát khao, ước vọng Chính nhờ vậy mà nhà văn có nhiều điều kiện hơn để giãi bày, nhân vật có khoảng không rộng hơn để bộc lộ, thể hiện Không gian trở thành hình tượng nghệ thuật quan trọng của tác phẩm mà qua đó, người đọc cảm nhận sâu sắc hiện thực mà tác phẩm mang lại, thấu hiểu ý nghĩa nhân văn mà tác giả gửi gắm Thông qua cách xây dựng không gian nghệ thuật trong tác phẩm, dấu ấn và phong cách sáng tác của nhà văn được bộc lộ rõ nét

Có nhiều cách phân chia không gian nghệ thuật, tùy thuộc vào hướng tiếp nhận và đặc trưng phong cách của mỗi tác giả Có thể kể đến các cách chia như sau: Không gian vật lý và không gian tâm lý; Không gian vũ trụ, không gian con

Trang 32

người Tìm hiểu về không gian nghệ thuật cho chúng ta biết được phạm vi hiện thực mà tác phẩm chiếm lĩnh, khái quát, đồng thời thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc sống và con người Một “nền cảnh” nào đó chỉ trở thành không gian nghệ thuật khi nó là “tín hiệu thẩm mĩ”, tạo ra “mô hình” về cuộc sống và con người

là hình tượng nghệ thuật được tác giả sáng tạo nên Sự thành công trong sáng tạo thời gian nghệ thuật làm nên giá trị của tác phẩm, góp phần khẳng định phong cách sáng tác của nhà văn

Thời gian nghệ thuật mang tính chất linh hoạt, tự do hơn so với thời gian

tự nhiên Nếu như thời gian tự nhiên có một độ dài, một hướng vận động tuyến tính không đổi qua ba thời điểm: quá khứ, hiện tại, tương lai thì thời gian nghệ thuật lại mang tính bất định Thời gian nghệ thuật có thể được kéo dài hay rút ngắn, đảo ngược hay giữ nguyên trật tự tuyến tính tuỳ theo dụng ý của nhà văn Nhờ tính linh hoạt này mà tác phẩm mở rộng phạm vi phản ánh, trở nên hấp dẫn,

Trang 33

cuốn hút hơn Thêm vào đó, thời gian đồng hiện giúp con người khắc phục những giới hạn đơn chiều của thời gian, vươn tới một sự tiếp xúc đa chiều: cái hôm qua, cái hôm nay và cái ngày mai Qua bàn tay nhào nặn của người nghệ sĩ, thời gian nghệ thuật không chỉ là sự vận động một chiều, đơn điệu mà trở nên đa dạng, nhiều chiều và hết sức gợi cảm

Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm có thể là một đời nhưng cũng có thể chỉ là một năm, một ngày hoặc một khoảnh khắc nào đó Tuỳ thuộc vào độ dài ngắn của thời gian, sự tinh nhạy của tác giả trong việc tái hiện mà người đọc phát hiện ra được tầng sâu ý nghĩa của cuộc sống được tác giả gửi gắm vào tác phẩm, vào sự tương quan giữa thời gian và vấn đề được đề cập Thời gian nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm, là xuất phát điểm để người đọc tiếp cận tác phẩm

1.2.5 Ngôn từ

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, nói một cách khái quát ngôn từ là

“từ ngữ được diễn đạt thành lời, thành văn bản” (Hoàng Phê, 2011, tr 885) Ngôn từ trong văn học được xây dựng dựa trên ngôn từ của cuộc sống tự nhiên, được khu biệt với ngôn từ tự nhiên ở tính hình tượng và được gọi là ngôn từ nghệ thuật Ngôn từ nghệ thuật có một ý nghĩa quan trọng và là một đối tượng không thể thiếu của nghiên cứu văn học, là “cửa ngõ” cần vượt qua để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của nhà văn Thưởng thức tác phẩm văn học người đọc không chỉ thưởng thức nội dung, tư tưởng, … mà còn thưởng thức cả ngôn từ của nhà

văn nữa Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ quan tâm đến chủ nghĩa nhân đạo, đọc Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân không chỉ nhớ đến nền văn hóa

tài tử của thế hệ trước mà còn phải thưởng thức ngôn từ của chúng với thỏa hết những ý tứ của nhà văn

Trong tác phẩm văn học, ngôn từ tự bản thân nó là một hình tượng nghệ thuật được tác giả phản ánh Từ chất liệu ngôn ngữ của cuộc sống, nhà văn lựa chọn, tinh lọc và trau chuốt sao cho phù hợp với mục đích sáng tạo của mình Bên cạnh đó, nhà văn còn sử dụng các biện pháp tu từ như đối thoại, độc thoại,

Trang 34

độc thoại nội tâm; tái hiện lại lời nói theo kiểu trực tiếp (nhân vật phát ngôn), gián tiếp (lời người trần thuật) hay nửa trực tiếp (kết hợp lời tác giả và lời nhân vật), … để làm cho ngôn từ tác phẩm thêm sinh động, góp phần tăng hiệu quả diễn đạt, thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình Nếu như trong ngôn ngữ tự nhiên, tác giả lời nói, chủ thể lời nói và ý thức lời nói là một, thì trong ngôn ngữ văn học, vấn đề trở nên phức tạp hơn Có khi tác giả lời nói, chủ thể lời nói và ý thức lời nói là một nhưng cũng có khi ba yếu tố trên tách rời nhau, tác giả của lời nói

là tác giả nhưng chủ thể là nhân vật trữ tình, ý thức lời nói vừa của nhân vật vừa

là tâm tư, tình cảm mà tác giả gửi gắm

Bên cạnh đó, vì là hình tượng nghệ thuật của tác phẩm nên ngôn từ nằm trong cấu trúc thẩm mỹ chung của tác phẩm, được tác giả xây dựng theo một logic nhất định Có thể thấy ngôn từ trong tác phẩm được thể hiện qua nhiều cấp

độ khác nhau: từ, cụm từ; cú pháp Từ các cấp độ này người đọc phát hiện ra phong cách sáng tác của nhà văn và quan điểm thẩm mỹ của tác phẩm

Thi pháp ngôn từ nghiên cứu về các nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ, nghiên cứu phong cách sáng tác của các nhà văn, nhà thơ qua cách họ sử dụng ngôn từ Nhờ có thi pháp ngôn từ mà người đọc thấy rõ hơn giá trị hiện thực, giá trị nhân văn của tác phẩm Thi pháp ngôn từ giải quyết thoả đáng những vấn đề phức tạp

mà tác phẩm và người đọc đặt ra chẳng hạn như tại sao có những câu văn đặc sệt chất liệu cuộc sống nhưng giới phê bình lại đánh giá đó đồng thời là những câu văn mang giá trị nghệ thuật đậm nét

1.2.6 Giọng điệu

Cùng với ngôn từ, giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nét đặc trưng riêng cho mỗi lại hình lời văn nghệ thuật, để nhận ra phong cách của nhà văn qua các sáng tác Không những thế, giọng điệu còn góp phần khu biệt đặc trưng phong cách của mội một nhà văn, mỗi một khuynh hướng

sáng tác Từ điển tiếng Việt đã đưa ra định nghĩa giọng điệu là “giọng nói, lời nói

biểu thị một thái độ nhất định” (Hoàng Phê, 2011, tr 521) Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng, đọa đức của nhà văn với hiện tượng được miêu tả

Trang 35

Hay nói cách khác thì giọng điệu là âm thanh được xét ở góc độ tâm lí, biểu hiện thái độ: buồn, vui, hài hước, giận, lạnh lùng, triết lí…

Giọng điệu của tác phẩm được tái hiện qua lời của tác giả, lời của nhân vật Qua giọng điệu, người đọc biết được cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả đối với các vấn đề xung quanh cuộc sống Tùy vào vấn đề của tác phẩm và ý đồ nghệ thuật mà tác giả xây dựng nên nhiều kiểu giọng điệu trong các sáng tác của mình Điều này đặt ra cho thi pháp giọng điệu những thách thức lớn: làm sao để đánh giá đúng đặc trưng giọng điệu của mỗi tác giả đặc biệt là những tác giả có phạm vi sáng tác rộng, làm sao có thể thống nhất cách đánh giá về giọng điệu, làm sao tìm ra đâu là giọng điệu chủ đạo của mỗi tác giả Mỗi tác phẩm hay đều

có một giọng điệu riêng Giọng điệu như giọng nói của cá nhân, có sắc thái, có

âm lượng, có nhịp điệu không lẫn, giọng điệu của tác phẩm do người kể chuyện thiết lập khi kể chuyện Nó tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm, đồng thời góp phần thẩm mỹ tạo nên khuôn mặt của tác giả Một nhà văn tài năng bao giờ cũng tạo ra cho mình một giọng điệu riêng, độc đáo làm nên nét phong cách khác biệt

so với các nhà văn khác và tùy theo từng giai đoạn văn học, từng môi trường văn hóa mà những tác phẩm có giá trị đều thể hiện được giọng điệu riêng của nó

Về phân loại giọng điệu, tùy vào khía cạnh được quan tâm mà giọng điệu được chia thành các loại nhỏ: Dựa vào chủ thể: giọng điệu của tác giả, giọng điệu của nhân vật; Dựa vào tính chất giọng điệu: giọng thương cảm, giọng điềm tĩnh, giọng lạnh lùng, giọng phấn khởi; Dựa vào mục đích: giọng điệu trào phúng, giọng điệu thương cảm, giọng điệu phê phán, … Chẳng hạn, giọng thương cảm

trong Truyện Kiều, giọng đồng cảm xót xa trong Chí Phèo, giọng châm biếm mỉa mai trong Vi hành… có khi cùng một tác phẩm, tác giả sử dụng nhiều giọng điệu

khác nhau tạo nên sự phong phú trong cách biểu hiện, thái độ, tình cảm của nhà văn

1.3 Bình Nguyên Lộc – “con nai vàng” xứ Đồng Nai

1.3.1 Dấu ấn cuộc đời

Trang 36

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 07-03-1914, tại làng Tân Uyên – một làng bên con sông Đồng Nai, hiền hòa, thơ mộng miền Đông Nam Bộ, thuộc tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa (nay là thị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) Đó là nơi mà dòng họ của ông đã hơn mười đời sinh sống kể từ khi tổ tiên nhà văn di dân vào Nam lập nghiệp Bình Nguyên Lộc xuất thân trong một gia đình trung lưu, thân sinh là ông Tô Phương Sâm (1878-1971) và bà Dương Thị Mão (1879-1972) Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có những bút danh khác như: Phong Ngạn - Bút danh của tiểu

thuyết dã sử Quang Trung du Bắc và Tân liêu trai – khi ông cộng tác với báo Lẽ

sống của Ngô Công Minh Phóng Ngang, Phóng Dọc: biến thể của Phong Ngạn,

bút danh của những bài trào phúng Trình Nguyên - bút danh cho một truyện dài

kì đăng báo, tiểu thuyết dã sử có liên quan đến cuộc chiến Việt – Chiêm Thành,

và chỉ xuất hiện trong một truyện – khi ông cộng tác với báo Việt Thanh Tôn

Dzật Huân: bút danh của truyện trinh thám, là một loại đảo chữ biến thể từ tên

thật Tô Văn Tuấn, ông chỉ dùng một lần khi cộng tác với báo Tin mới Hồ Văn Huấn: bút danh của khảo cứu “Sửa sai cổ sử”, cũng là đảo chữ, biến thể từ tên Tô

Văn Tuấn, xuất hiện từ khi ở hải ngoại Và Diên Quỳnh: bút danh của một truyện

vừa và một truyện ngắn đăng trên tuần báo Vui sống

Thuở nhỏ, Tô Văn Tuấn được học chữ Nho với một thầy đồ trong hai năm (1919-1920) và sau đó theo học tiểu học ở trường làng (1921-1925) Năm 1928, nhà văn đã thi đậu vào trường Trung học Pétrus Ký (hiện nay là trường chuyên

Lê Hồng Phong, TP.HCM), ông đậu Thành chung vào năm 1934, sau vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên nhà văn không thể tiếp tục học lên nữa Tốt nghiệp bậc Thành chung ông thi vào ngạch thư ký hành chính và phải hơn một năm sau thì tác giả họ Tô mới được tuyển dụng Ban đầu Bình Nguyên Lộc làm việc tại kho bạc Thủ Dầu Một, sau đó chuyển xuống kho bạc Sài Gòn (sau là Tổng nha Ngân khố) Thời gian này, ông bắt đầu tham gia hoạt động văn nghệ tại đây Năm 1934, Tô Văn Tuấn về quê lập gia đình với bà Dương Thị Thiệt (1916-1988) Ông bà có năm người con là: Tô Dương Hiệp (1935), Tô Hòa Dương (1937), Tô Loan Anh (1939), Tô Mỹ Hạnh (1940), và Tô Vĩnh Phúc (1947)

Trang 37

Năm 1936, Bình Nguyên Lộc đổi về làm nhân viên kế toán ở kho bạc Sài Gòn (sau này đổi tên thành Tổng nha Ngân khố Sài Gòn) Lúc này Bình Nguyên Lộc bắt đầu tham gia hoạt động văn nghệ Truyện ngắn đầu tay của ông có tên

Phù sa viết về công cuộc Nam tiến của người Việt vào miền đất mới Nam Kỳ,

đăng trên tạp chí Thanh niên của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (1942) Ông kết bạn với các tác giả khác cùng viết bài cho báo Thanh niên như: Xuân Diệu, Huy

Cận, Nguyễn Hoàng Tư, Lâm Thao Huỳnh Văn Phương, Dương Tử Giang, Nguyễn Tấn Sĩ, Bằng Vân, Nguyễn Đình Thản… Tô Văn Tuấn bắt đầu viết văn với bút danh là Bình Nguyên Lộc, với bút danh này nhà văn đã bộc lộ được tình yêu quê hương - nơi chôn rau cắt rốn đầy yêu thương của mình Bình Nguyên: Đồng [bằng]; Lộc: con Nai, tức Đồng Nai; Bình Nguyên Lộc - tức là ông muốn làm con nai hiền lành rong chơi trên cánh đồng văn chương miền Đông Nam Bộ

Nhà văn cũng hoàn tất được thêm tác phẩm Hương gió Đồng Nai trong năm

1942

Đến năm 1944 Bình Nguyên Lộc bị bệnh thần kinh phải nghỉ việc một thời gian Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, ông trở về quê nhà Tân Uyên để sống Sang năm 1946, gia đình Tô Văn Tuấn dời về Lái Thiêu, bản thân nhà văn cũng tham gia kháng chiến và trở thành thành viên Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh Biên Hòa Năm 1948, ông định cư ở Sài Gòn, bắt đầu sống bằng nghề

viết báo Nhà văn cộng tác với các báo: Lẽ sống, Đời mới, Tin mới; phụ trách trang văn nghệ của báo Tiếng chuông; làm chủ bút báo Tin sớm Nhà văn còn

tham gia nhiều hoạt động để ủng hộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta

Nhà văn Nguyễn Ngu Í từng nói: “Bình Nguyên Lộc ở vào cái thế bắt buộc phải về thành vì ở trong khu kháng chiến, căn bệnh thần kinh hành hạ mà cuộc sống kháng chiến lại không đủ điều kiện để điều trị” Chính việc trở về thành đã làm cho Bình Nguyên Lộc ray rứt mãi: “Nhưng rồi mình lại lọt vào cái thế phải về, mà trở về thành là mình cảm thấy xót xa như kẻ đào ngũ Đối với dân tộc, mình thấy có tội phần nào” (Nguyễn Ngu Í, 1966, tr 219) Năm 1950,

Trang 38

ông viết cuốn Nhốt gió và xuất bản cùng năm Trong những năm 1957-1958, nhà văn xứ Đồng Nai này đã cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn hóa ngày nay

của Nhất Linh

Năm 1959 Bình Nguyên Lộc chủ trương trong tuần báo Vui sống Đây là

một tờ báo văn nghệ nhưng lại chủ trương áp dụng kiến thức phổ thông vào đời sống và nghiên cứu bệnh thần kinh Tuần báo này thu hút được nhiều cây bút có tên tuổi, từng đi kháng chiến về sinh hoạt ở nội thành thời đó như: Thanh Nghị Hoàng Trọng Quị (1917 - 1988), Lê Thương Ngô Đình Hộ (1914 - 1996), Thiếu Sơn Lê Sĩ Quí (1908 - 1978), Đông Hồ Lâm Tấn Phát (1906 - 1969)… nhưng chỉ xuất bản được mười số thì bị đình bản Trong thời gian này, ông đạt giải nhất văn

chương toàn quốc 1959 - 1960 thể loại tiểu thuyết với cuốn Đò dọc Năm 1960,

Bình Nguyên Lộc cùng một số bạn bè thành lập Nhà xuất bản Bến Nghé với mục đích xuất bản những tác phẩm mang hương sắc Đồng Nai, Bến Nghé Từ những năm 1960 đến 1970, ông làm chủ và cộng tác với nhiều tờ nhật báo, sáng tác nhiều lĩnh vực khác nhau

Trong những năm tháng sống tại Sài Gòn, nhà văn đã tham gia những tổ chức phong trào như: năm 1966 tham gia phong trào đấu tranh chống văn hóa đồi trụy cùng với nhiều nhà văn, nhà báo tên tuổi như: Thiếu Sơn, Nam Đình, Đông

Hồ, Kiên Giang… Từ những năm 1970 đến 1974, ông là hội viên Hội đồng Văn hóa Giáo dục miền Nam Sau năm 1975 vì bị nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh cao huyết áp cho nên Bình Nguyên Lộc đã ngưng cầm bút

Tháng 10 năm 1985, Bình Nguyên Lộc sang định cư tại Rancho Cordova, thuộc quận Sacramento, tiểu bang California - Hoa Kỳ Khi bệnh đã đỡ nhiều, nhà văn bắt đầu viết lách trở lại và đăng báo nhiều bài thuộc các thể loại: truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc đã mất đột ngột tại đây sau một cơn đau tim vào ngày 07-03-1987 Ông được an táng vào ngày 14-03-1987 tại nghĩa trang Sunset Lawn Sau khi nhà văn xứ Đồng Nai này mất, sự nghiệp văn học của ông được giới nghiên cứu xếp hạng “tam kiệt” của văn chương Nam Bộ Một

Trang 39

nhóm trí thức Việt kiều đã sưu tầm tác phẩm và các bài viết về Bình Nguyên Lộc giới thiệu trên trang http://www.binhnguyenloc.de

Như vậy, cả cuộc đời Bình Nguyên Lộc (dù những năm tháng cuối đời không sống tại quê nhà) luôn dành tất cả tình cảm cho miền đất nơi ông đã sinh

ra và lớn lên, nơi đã chứng kiến biết bao nhiêu những thăng trầm trong cuộc đời

của nhà văn - mảnh đất Đồng Nai Tác phẩm đầu tay của ông là Hương gió Đồng

Nai, tác phẩm có ý nghĩa quan trọng nhất trong cuộc đời sáng tác của ông là Phù

sa, công trình biên khảo đồ sộ nhất là Thổ ngơi Đồng Nai, tên nhà xuất bản do

ông thành lập là Bến Nghé và đặc biệt là những tác phẩm thuộc thể loại truyện

ngắn của nhà văn Tất cả đều mang bóng dáng quen thuộc, thân thương của quê hương, nơi ông sinh ra và lớn lên

1.3.2 Dấu ấn văn chương

Bình Nguyên Lộc là nhà văn hiện đại của Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975 Ông mang đến cho nền văn chương Nam Bộ một tiếng nói riêng Văn chương cả nước xuất hiện thêm một cây bút mới đầy tiềm năng, sáng tác với một bút lực dồi dào Bình Nguyên Lộc sáng tác rất nhiều và đều tay, nhà văn đã để lại cho đời một di sản đồ sộ về số lượng và đa dạng về thể loại, ông có những tác phẩm nghiên cứu cả về cổ văn, dân tộc học lẫn ngôn ngữ học

Về cổ văn: Bình Nguyên Lộc đã chú giải các tác phẩm văn chương cổ điển Việt Nam bao gồm: Văn tế chiêu hồn, Tiếc thay duyên Tấn phận Tần của Nguyễn Du; Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ; Thu dạ lữ hoài ngâm – Đinh Nhật Thận; Tì bà hành, Trường hận ca – văn học Trung Quốc Các công trình nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Văn học ở Sài Gòn trước năm 1975

Các nghiên cứu về dân tộc học: Nổi bật là tác phẩm Nguồn gốc Mã Lai

của dân tộc Việt Nam (gồm 894 trang, NXB Bách Bộc, năm 1971) Đây là một

công trình lớn trong sự nghiệp nghiên cứu của ông Tác phẩm dựa trên nhiều tài liệu khảo cổ và nhân chủng học, khám phá về thời “thượng cổ sử 500 năm của

Trang 40

dân ta” Tác phẩm này cũng gây nên một dư luận đáng chú ý đối với các nhà nghiên cứu về Việt Nam học

Về ngôn ngữ học: tiểu biểu là tác phẩm Lột trần Việt ngữ (1972) Với một

cái nhìn mới về ngữ nghĩa tiếng Việt, tác giả đã đứng trên quan điểm dân tộc học

để tìm hiểu về nguồn gốc và ngữ nguyên của tiếng Việt từ thời cổ đến hiện đại

Ngoài ra còn phải kể đến Từ vựng đối chiếu 10 ngàn từ, Từ vựng danh từ Mã Lai

mà Trung Hoa vay mượn, …

Bên cạnh những công trình nghiên cứu có giá trị đó thì mảng sáng tác văn học là phần đồ sộ nhất trong hành trình sáng tác và trước tác của Bình Nguyên Lộc Ông sáng tác ở rất nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, bút kí,… Mặc dù cuộc đời luôn phải đối mặt vời bệnh tật nhưng người cầm bút Nam Bộ này luôn có một sức sáng tạo dồi dào, một sự lao động bền bỉ nghiêm túc, cần mẫn Ông có gần 1000 truyện ngắn, hơn 50 tiểu thuyết trong đó có các tiểu

thuyết nổi bật như: Đò dọc, Gieo gió gặt bão, Xô ngã bức tường rêu, Khi Từ

Thức về trần, Nhện chờ mối ai, Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương Ngoài ra,

còn khoảng 30 tác phẩm chưa xuất bản: Ngụy Khôi, Đôi giày cũ chữ Phạn,

Thuyền trưởng sông Lô, Mà vẫn chưa nguôi hình bóng cũ, Người săn ảo ảnh, Suối đổi lốt, Trữ La bến cũ, Bọn xé rào, Cô Sáu Nam Vang, Một chuyến ra khơi, Trọng Thuỷ Mị… đường, Sở đoản của đàn ông, Luật rừng, Cuồng ca thế kỉ, Bóng

ma dĩ vãng, Gái mẹ, Khi chim lìa tổ lạnh, Ngõ 25, Hột cơm Ngô chúa, Lưỡi dao cùng, Con khỉ đột trò xiếc, Con quỷ ban trưa, Quật mồ người đẹp, Người đẹp bến Ninh Kiều, Bưởi Biên Hoà, Giấu tận đáy lòng, Quang Trung du Bắc, Xóm đề bô, Hai kiếp nhả tơ, Muôn triệu năm xưa, Hổ phách thời gian

Tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc hướng tới chủ đề lớn là tình yêu, thông qua câu chuyện tình yêu để tác giả gửi gắm tình cảm với quê hương, nguồn cội Nhưng có lẽ, truyện ngắn vẫn là thể loại thành công hơn cả trong sự nghiệp sáng tác của tác giả miền phù sa Đồng Nai này Ngoài ra, Bình Nguyên Lộc còn làm thơ, viết báo Trong một lần trò chuyện với Lê Phương Chi, Bình Nguyên Lộc đã

bộc bạch: “Tôi cũng thích làm thơ lắm chứ, nhưng chỉ thích đọc những bài thơ

Ngày đăng: 19/07/2021, 22:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Thanh Địch (1980). Tìm hiểu truyện ngắn, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Tác giả: Trần Thanh Địch
Nhà XB: Nhà xuất bản Tác phẩm mới
Năm: 1980
13. Nguyễn Văn Đông (2013). Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hóa học. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH và NV TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hóa học
Tác giả: Nguyễn Văn Đông
Năm: 2013
14. Hà Minh Đức (chủ biên) (2003). Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
15. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004). Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
16. Nguyễn Lương Hải Khôi (2004). Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc. Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc
Tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi
Năm: 2004
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (1992). Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1992
18. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1996). Lý luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, Nhà xuất bản Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
19. Nguyễn Văn Hạnh (2002). Mấy vấn đề về văn hóa học và văn học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hóa học và văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
20. Trần Thị Thúy Hằng (2012). Từ ngữ địa phương trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ địa phương trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc
Tác giả: Trần Thị Thúy Hằng
Năm: 2012
21. Đào Duy Hiệp (2001). Thơ và truyện và cuộc đời, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và truyện và cuộc đời
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn
Năm: 2001
22. Vũ Hạnh (1960). Ký thác của Bình Nguyên Lộc, Tạp chí Bách Khoa số 82 ngày 1-6-1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký thác của Bình Nguyên Lộc
Tác giả: Vũ Hạnh
Năm: 1960
23. Trần Thị Tuyết Hoa (2010). Đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Bình Nguyên Lộc, Khóa luận đại học, trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Bình Nguyên Lộc
Tác giả: Trần Thị Tuyết Hoa
Năm: 2010
24. Nguyễn Thái Hòa (2000). Những vấn đề thi pháp của truyện, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
25. Đỗ Đức Hiểu (2000). Thi pháp hiện đại, Nhà xuất bản Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn
Năm: 2000
26. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên) (2004). Từ điển văn học bộ mới, Nhà xuất bản Thế giới, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2004
27. Nguyễn Ngu Í (1966). Sống và viết với … Nghè xanh, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống và viết với …
Tác giả: Nguyễn Ngu Í
Năm: 1966
28. Cao Huy Khánh (1974). Nhà văn của miền Tây Nam Kỳ - Sơn Nam, - Tạp chí Thời tập số XI ngày 16-9-1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn của miền Tây Nam Kỳ - Sơn Nam
Tác giả: Cao Huy Khánh
Năm: 1974
29. Bàng Bá Lân (1963). Văn thi sĩ hiện đại, Xây dựng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thi sĩ hiện đại
Tác giả: Bàng Bá Lân
Năm: 1963
30. Phong Lê (chủ biên) (1990). Văn học và hiện thực, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và hiện thực
Tác giả: Phong Lê (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1990
31. Bình Nguyên Lộc (2001). Tuyển tập Bình Nguyên Lộc, tập 1, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Bình Nguyên Lộc
Tác giả: Bình Nguyên Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2001