Tuy xuất hiện muộn trên văn đàn nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã gây được sự chú ý bởi lối viết “tinh” và “lạ”, với đủ các thể loại truyện: thế sự, giả cổ tích, có kết, không có kết… Với các tá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LƯƠNG VĂN THOẠI
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LƯƠNG VĂN THOẠI
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN TRỌNG THƯỞNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành
Luận văn Thiên nhiên và con người miền núi trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên từ thầy
cô, người thân, bạn bè để tôi có được kết quả như ngày hôm nay Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phan Trọng Thưởng Bằng tất cả sự tận tình, tâm huyết, thầy
đã hướng dẫn và giúp đỡ để tôi hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, tổ Lí luận Văn học; phòng sau Đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; các thầy cô ở Viện nghiên cứu Văn học đã nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu, là cơ sở để tôi nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình tôi, những người bạn của tôi đã luôn động viên, giúp
đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành khóa học
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Học viên
Lương Văn Thoại
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong khi nghiên cứu Luận văn, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các nhà khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Học viên
Lương Văn Thoại
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Các phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp của luận văn 6
9 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 NGUYỄN HUY THIỆP VÀ TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI 7
1.1 Tiểu sử, cuộc đời 7
1.2 Sự nghiệp sáng tác 8
1.3 Thiên nhiên và con người trong cách cảm nhận mới của văn học 13
1.3.1 Thiên nhiên và con người trong văn học dân gian 13
1.3.2 Thiên nhiên và con người trong văn học trung đại 18
1.3.3 Thiên nhiên và con người trong văn học hiện đại 21
* Tiểu kết 23
Chương 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 24
2.1 Thiên nhiên và con người miền núi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn Địa - Nhân văn 24
2.1.1 Thiên nhiên là nguồn sống, môi trường sống của con người 24
2.1.2 Thiên nhiên góp phần tạo nên tính cách, khí chất của con người 30
Trang 62.1.3 Thiên nhiên và con người ứng xử với nhau qua văn hoá, phong tục,
tập quán 34
2.1.4 Thiên nhiên tạo nên bản sắc, dấu ấn văn hoá 36
2.2 Thiên nhiên và con người miền núi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn sinh thái môi trường 40
2.2.1 Sự can thiệp của con người vào thiên nhiên 42
2.2.2 Sự nổi giận của thiên nhiên 53
2.3 Quan hệ nhân quả và thông điệp nghệ thuật về vấn đề sinh thái môi trường 68
* Tiểu kết: 74
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 75
3.1 Nghệ thuật lựa chọn chi tiết 75
3.2 Nghệ thuật xây dựng và khai thác tình huống 79
3.3 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 85
3.4 Nghệ thuật miêu tả 91
3.4.1 Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên 91
3.4.2 Nghệ thuật miêu tả con người 96
*Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đề tài miền núi Tây Bắc là một trong những cảm hứng sáng tác bất
tận trong kho tàng văn học Việt Nam Đã có rất nhiều nhà văn gặt hái được thành công từ mảnh đất này như: Lan Khai, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Ma Văn Kháng, Đỗ Bích Thuý,…Tây Bắc đối với nhiều nhà văn như là quê hương thứ hai gắn bó máu thịt Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy, ông đã từng gắn bó và sinh sống ở đây trong thời gian khoảng mười năm (1970 - 1980) Có lẽ vì thế Tây Bắc đã trở thành kỉ niệm sâu sắc khó phai, luôn ám ảnh trong tâm tưởng ông
1.2 Nguyễn Huy Thiệp là một trong những gương mặt tiêu biểu của thể
loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại Tuy xuất hiện muộn trên văn đàn nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã gây được sự chú ý bởi lối viết “tinh” và “lạ”, với đủ các thể loại truyện: thế sự, giả cổ tích, có kết, không có kết… Với các tác
phẩm nổi tiếng như: Những ngọn gió Hua Tát (1989); Tướng về hưu (1989);
Như những ngọn gió (1995); Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp (1996)… Nguyễn
Huy Thiệp viết nhiều nhưng “mỗi tác phẩm là một sự kiện, và giới văn học,
cả công chúng đọc, cứ không ngớt bàn luận, bàn tán Khen chê cứ ầm ĩ, mạnh
mẽ và quyết liệt” [57, 6] Khi nền văn học chúng ta đang ngủ yên, thì Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, ông “là người đầu tiên trong văn học Việt Nam lập kỉ lục có nhiều bài viết nhất về sáng tác của mình, chỉ trong thời gian ngắn, và không có độ lùi thời gian Phê bình tức thời theo sáng tác, liên tục, lâu dài Không chỉ trong nước, cả ngoài nước, không chỉ người Việt, cả người ngoại quốc” [57, 7] Hầu hết các ý kiến đánh giá đều khẳng định truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều phá cách táo bạo và mới mẻ cùng nghệ thuật kể chuyện sắc sảo, linh hoạt trong từng tác phẩm Tuy nhiên, các bài viết đều hướng sự quan tâm đến những vấn đề: chủ đề lịch sử, không gian và thời gian
Trang 8nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật,… mà chưa quan tâm đến một điểm nhìn khá mới mẻ và độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đó là mối quan hệ giữa tự nhiên và con người trong một số truyện ngắn của ông
1.3 Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp viết về Tây Bắc, không chỉ đặc
sắc ở việc đặc tả vẻ đẹp của thiên nhiên và con người nơi đây Hơn thế, ông còn phản ánh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Trước nhu cầu nóng bỏng của nhân loại về cải thiện môi trường Nguyễn Huy Thiệp đã đặt ra những câu hỏi con người phải ứng xử với thế giới tự nhiên như thế nào? Và qua những truyện ngắn viết về đề tài miền núi Tây Bắc của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã phản ánh khát vọng về mối giao hoà vĩnh cửu giữa con người
và thiên nhiên Qua đó, nhà văn đã thể hiện được tiếng nói riêng của mình về vấn đề này bằng một quan điểm mới mẻ và cập nhật mang ý nghĩa thực tiễn
và tính thời sự cao
1.4 Vốn có thời gian gắn bó với mảnh đất này, Nguyễn Huy Thiệp từng
sống và công tác nơi đây khoảng mười năm, đây là điều kiện thuận lợi để nhà văn am hiểu văn hóa cũng như thiên nhiên và con người Tây Bắc Chính vì
vậy nghiên cứu và tìm hiểu về “Thiên nhiên và con người miền núi trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” giúp chúng ta hiểu hơn về truyện ngắn của
ông cũng như thiên nhiên và con người Tây Bắc
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không phải chỉ có một vài công trình mà ông đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Điển hình là các đề tài tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của các trường đại học cũng dành nhiều sự quan tâm đến truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp như nghiên cứu về: Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của tác
Trang 9giả Nguyễn Thị Lan, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; Người kể chuyện
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp của tác giả Bùi Đức Thiện, trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Luận án Lời văn nghệ thuật Nguyễn
Huy Thiệp của Nguyễn Văn Đông, trường Đại học sư phạm Hà Nội…và một
số công trình nghiên cứu khác Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
về thiên nhiên - con người miền núi cũng như mối quan hệ giữa thiên nhiên
và con người trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Ngoài ra có tới 54 bài báo bàn về Nguyễn Huy Thiệp được Phạm Xuân
Nguyên tập hợp trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp và rất nhiều đề tài khác
cùng nghiên cứu về các giá trị mà truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang lại Chúng tôi đã nghiên cứu hầu hết các bài viết về Nguyễn Huy Thiệp được tập
hợp trong tuyển tập Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp và thấy rằng những bài viết
này bao gồm trong đó những đánh giá về tác phẩm, tác giả, về chủ đề tư tưởng, hình thức nghệ thuật, thi pháp, và không ít bài mang tính chất điểm lại lịch sử tiếp nhận Nguyễn Huy Thiệp, những ý kiến ngổn ngang xung quanh hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp
Trong Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Ngôn ngữ và văn học vùng
Tây Bắc” tác giả Phạm Thị Phương Huyền đã bàn đến Quan niệm nhân sinh trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp Bài viết
đưa ra hai quan niệm nhân sinh tiêu biểu là “Ở hiền gặp lành, Ác giả ác báo” Tác giả đề cập đến vấn đề nhân vật, con người trong từng hoàn cảnh sống và sống ra sao thì sẽ nhận lại cuộc sống như vậy, đó cũng chính là những quy luật trong cuộc đời
Cũng trong hội thảo khoa học đó, bài viết của tác giả Vũ Minh Đức
Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ góc độ phê bình sinh thái đã đề cập đến mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên
Thiên nhiên và con người có xung đột, hay mâu thuẫn thế nào thì con người
Trang 10và thiên nhiên sẽ giải quyết mâu thuẫn đó Và rồi thiên nhiên lại là nền tảng cho con người phát triển
Trong hội thảo khoa học ấy, bài viết của tác giả Ngô Thị Phượng Vẻ đẹp
Tây Bắc trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp cũng nói tới vấn đề thiên nhiên
và con người Tác giả đánh giá: “Văn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều chi tiết đặc
tả vẻ đẹp của thiên nhiên lãng mạn Tây Bắc… sương mù đang còn dày đặc, người đi chợ như đi mơ, cách một sải tay chẳng nhìn thấy gì…” Con người Tây Bắc đơn giản hoà mình vào thiên nhiên vô tận được Nguyễn Huy Thiệp chụp từ nhiều phương diện: văn hoá, ngoại hình, đời sống nội tâm,…
Ngoài ra, bài viết Mùa xuân - sinh thái và văn chương của GS.TS
Huỳnh Như Phương đăng trên trang web http://nld.com đã bàn về vấn đề lý
thuyết phê bình sinh thái đã dẫn ra truyện ngắn Muối của rừng của nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp và một số ví dụ thực tế khác để nhấn mạnh đến sự tương tác giữa môi trường tự nhiên với con người
Các công trình nghiên cứu khoa học này bước đầu lí giải khá sâu sắc về một số phương diện cụ thể trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Tuy nhiên,
để hiểu đầy đủ về Nguyễn Huy Thiệp nhằm xác định được những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta cần có cách nhìn toàn diện, đa chiều hơn Những bài nghiên cứu khoa học trên là những gợi ý quý
báu để giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu “Thiên nhiên và con người miền núi
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp”
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Thiên nhiên và con người miền núi qua một số truyện ngắn viết về Tây Bắc của Nguyễn Huy Thiệp
4 Mục đích nghiên cứu
Với luận văn “Thiên nhiên và con người miền núi trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp” chúng tôi mạnh dạn đặt ra các mục đích:
Trang 11Khám phá nội dung và nghệ thuật trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp để cảm nhận vẻ đẹp, mang bản sắc riêng về thiên nhiên và con người miền núi Tây Bắc qua những truyện ngắn của ông Góp thêm một cái nhìn mới về giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát và chỉ ra các đặc điểm về thiên nhiên và con người miền núi qua những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
6 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát một số truyện ngắn viết về đề tài miền núi
được in trong tập: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp - Nxb Hội nhà văn - 2005
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích
Trong quá trình thực hiện, luận văn có sử dụng một số dẫn chứng trích ra
từ các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp để minh họa cho những nhận xét, lập luận của mình Vì vậy, trong suốt quá trình thực hiện, chúng tôi luôn vận dụng phương pháp phân tích để làm rõ các vấn đề được nêu ra ở các chương
7.2 Phương pháp so sánh
So sánh với thiên nhiên và con người Tây Bắc trong sáng tác của một số nhà văn để từ đó nổi bật được thiên nhiên và con người Tây Bắc trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
7.3 Phương pháp thống kê
Khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi áp dụng phương pháp thống kê để phân loại các chi tiết, tình huống truyện làm nổi bật những những khía cạnh được đề cập trong luận văn
7.4 Phương pháp liên ngành
Luận văn “Thiên nhiên và con người miền núi trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp” có liên quan đến một số lĩnh vực khoa học khác Vì vậy
Trang 12sự vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học giúp chúng tôi soi sáng và làm rõ các phương diện, khía cạnh nội dung mà luận văn đề cập
8 Đóng góp của luận văn
Luận văn “Thiên nhiên và con người miền núi trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp” đã chỉ ra một cách cụ thể những đặc điểm, chi tiết về
thiên nhiên và con người Tây Bắc Đồng thời cũng phản ánh được mối quan
hệ nhân quả giữa thiên nhiên và con người, từ đó giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục, tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai làm 3 chương:
Chương 1: Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn viết về đề tài miền núi Chương 2: Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người miền núi trong
sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện thiên nhiên và con người miền núi trong
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 13Chương 1 NGUYỄN HUY THIỆP
VÀ TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI
1.1 Tiểu sử, cuộc đời
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 26 tháng 7 năm 1950, tại thôn Khương Hạ, huyện Thanh Trì, Hà Nội Thuở nhỏ ông đã từng cùng gia đình sống nhiều ở vùng nông thôn thuộc tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc Nguyễn Huy Thiệp còn ảnh hưởng Nho học từ mẹ và tôn sùng đạo phật Vì vậy, những người lao động nông thôn với dáng vẻ mộc mạc đã in dấu khá đậm nét trong nhiều trang sáng tác của ông sau này Năm 1960, ông chuyển về Hà Nội sinh sống Đến năm 1970, ông tốt nghiệp Khoa Sử, trường Đại học tổng hợp (nay
là trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội)
và ông lên Tây Bắc dạy học
Năm 1980, Nguyễn Huy Thiệp trở về lập gia đình và làm việc tại Hà Nội Ông trải qua nhiều nghề như: công tác tại Bộ Giáo dục, sau đó, ông làm việc tại Công ty Kĩ thuật Trắc địa bản đồ, Cục bản đồ cho đến khi về hưu Năm 1990, Nguyễn Huy Thiệp đã trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, khi ông cầm bút viết cũng là lúc đất nước bước vào đổi mới Sáng tác của ông bắt đầu với thể loại truyện ngắn Năm 1986, ông tiếp tục viết nhiều thể loại khác như tiêu thuyết, kịch, thơ, tiểu luận, phê bình văn học…Kể từ đó, ông có
nhiều tác phẩm được đăng lên báo Văn nghệ, báo Quân đội , và dần về sau
cuộc đời của ông càng gắn liền với sự nghiệp văn chương cho đến nay
Có thể nói, điểm qua cuộc đời nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta thấy ông thuộc thế hệ nhà văn sinh ra trong thời chiến, nhưng lớn lên trong thời bình Cuộc sống lại trở về với cơm áo gạo tiền, với tất cả lo toan vặt vãnh hằng ngày Đối diện với nhau lúc này không còn là ta - địch, nông dân - địa chủ, người bị bóc lột - người bóc lột mà là người đối diện với người trong
Trang 14cuộc sống thường ngày, trong lao động sản xuất Văn chương lúc này được trả lại nhiệm vụ thiêng liêng: phản ánh con người và số phận con người Hiện thực đó đã tác động không nhỏ tới cảm hứng sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Đặc biệt đối với một nhà văn luôn trăn trở, suy tư, day dứt trước cuộc sống như ông thì cuộc sống không chỉ là cuộc sống mà còn là những
“góc khuất” bấy lâu nay người ta vô tình hay hữu ý hay người ta “ngủ quên”
Bằng khả năng sáng tác nghệ thuật điêu luyện, Nguyễn Huy Thiệp đánh thức
“góc khuất” trong những sáng tác của mình Bởi vậy, bên cạnh những trang
viết “ đầy ứ” gánh nặng cuộc sống “cơm áo gạo tiền”, Nguyễn Huy Thiệp còn táo bạo dung nạp thêm những phần “ái ố” trần trụi thuộc về bản năng
thầm kín trong con người để đưa vào trang viết của mình Ông đã phanh phui
ra ánh sáng những vấn đề mà lâu nay người ta biết nhưng né tránh không dám nói ra, đó cũng là lí do tại sao xuất hiện nhiều ý kiến khen chê bàn cãi tranh luận xung quanh cuộc đời của Nguyễn Huy Thiệp Và rồi Nguyễn Huy Thiệp
luôn tìm được “nguồn riêng giữa dòng chung” góp phần xây dựng nên nền
văn học nước nhà ngày càng phong phú và đa dạng
1.2 Sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Huy Thiệp là một bông hoa nở muộn trên văn đàn Chỉ một vài truyện ngắn của ông được xuất hiện lần đầu tiên trên báo Văn Nghệ của Hội
Nhà Văn Việt Nam năm 1986 Tháng 1 năm 1987, Những ngọn gió Hua Tát
– tác phẩm đầu tay được đăng nhưng chưa gây chú ý đến độc giả nhiều Phải
đến khi tác phẩm Tướng về hưu được in trên báo Văn nghệ số 24 ra ngày 20
tháng 6 năm 1987, và đặc biệt khi bộ ba tác phẩm Kiếm sắc – Vàng lửa –
Phẩm Tiết liên tiếp ra mắt độc giả thì Nguyễn Huy Thiệp đã thật sự nổi tiếng
trên văn đàn lúc bấy giờ Cả làng văn học trong lẫn ngoài nước xôn xao
những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông “Có người lên án anh gay
gắt, thậm chí coi văn chương của anh có những khuynh hướng thấp hèn
Trang 15Người khác lại hết lời ca ngợi anh và cho rằnh anh có trách nhiệm cao với cuộc sống hiện nay” (Lời cuối sách của NXB Đa Nguyên)
Nguyễn Huy Thiệp được mệnh danh là ông vua truyện ngắn Ông đã thành công trong việc viết truyện ngắn của mình bằng phong cách độc đáo và mới lạ từ nội dung đến nghệ thuật và ngay cả ở cách lựa chọn đề tài, bao gồm: lịch sử được hư cấu, cuộc sống thành thị và thực trạng xã hội đương đại, cuộc sống nông thôn và những người dân lao động, con người miền núi và những câu chuyện mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích… Các tác phẩm chính:
Ngọn gió Hua Tát (tập truyện ngắn, 1989), Tướng về hưu (tập truyện ngắn, 1989), Con gái thủy thần (tập truyện ngắn, 1992), Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp (tuyển, 1996) Ngoài ra Nguyễn Huy Thiệp còn viết nhiều truyện ngắn như: Không có vua (1987), Giọt máu(1988), Vàng lửa - Kiếm sắc - Phẩm tiết (1988), Những người thợ xẻ(1988), Những bài học nông thôn
(1988)…
Ngoài truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn viết tiểu thuyết và kịch Số lượng tiểu thuyết của ông không nhiều và chưa nổi bật bằng truyện ngắn, đó
là: Tiểu Long Nữ (1996), Tuổi hai mươi yêu dấu (2002) Kịch của Nguyễn
Huy Thiệp tập trung các tập như: Như những ngọn gió (tập truyện, 1995),
Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp (2003) với những vở tiêu biểu: Xuân
hồng, Còn lại tình yêu, Suối nhỏ dịu êm (2001),…
Không chỉ sáng tác Nguyễn Huy Thiệp còn viết tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu đăng trên các báo tạp chí Văn nghệ, Lao động, Tiền Phong, Chủ nhật, Tuổi trẻ Tp.Hồ Chí Minh, Đất Quảng, Cửa Việt, Sông Hương… Cả
bốn thể loại này được tập hợp và in thành sách Giăng lưới bắt chim (NXB
Hà Nội năm 2003)
Nguyễn Huy Thiệp còn sáng tác thơ Tuy chưa có tập thơ nào xuất bản, nhưng trong truyện ngắn của ông xuất hiện khá nhiều thơ
Trang 16Một số tác phẩm của ông còn được dựng thành phim như: Tướng về
hưu, Những người thợ xẻ, Thương nhớ đồng quê Tác phẩm Sang sông đã
chuyển thể thành tác phẩm sân khấu Bên cạnh đó, ông còn quan tâm đến
chèo tuồng Việt Nam và tác phẩm tiêu biểu là: Vong Bướm, Truyền thuyết
tìm vua…Nhà Osin (2008) Năm 1990, tác phẩm của ông còn được sang
tiếng Pháp như: Tướng về hưu, Trái tim hổ, Sói trả thù, chuyện tình kể
trong đêm mưa… Nhờ đó mà dân tộc Pháp có điều kiện khám phá thêm về
nền văn học đương đại, đất nước, con người cùng với truyền thống văn hóa Việt Nam Theo thống kê của Vietnamnet, trong danh sách có 20 tác giả có sách bán chạy nhất thế giới của nhà xuất bản E’dition de I’ Aube ở Pháp thì sách bán được của Nguyễn Huy Thiệp bán chạy thứ ba (35283 bản) riêng
cuốn tiểu thuyết Tuổi hai mươi yêu dấu được in lần đầu bằng tiếng Pháp là
4000 bản
Năm 2007, Chính phủ Pháp đã trao cho Nguyễn Huy Thiệp Huân chương Văn học Nghệ thuật Đó là sự ghi nhận của Chính phủ Pháp đối với ông, người có công truyền bá văn học, văn hóa Việt Nam tại Pháp
Năm 2008, ông nhận được Giải thưởng văn chương Nonino tại Ý
Trong quá trình sáng tác Nguyễn Huy Thiệp là một trong những người
đã góp phần làm phong phú, đa dạng về thể loại vào nền văn học đương đại,
mà còn nhanh chóng đứng vững trên văn đàn bằng tài năng của mình về thể loại truyện ngắn Trong mỗi trang viết, nhà văn đã đưa ra cách lí giải về cuộc đời, số phận con người gần với thực tế cuộc sống, cũng như tìm hiểu, khám phá bản chất của con người trong những ngày đầu đổi mới
Cuộc sống đang biến đổi từng phút, từng giờ, con người không thể sống mãi trong hoài niệm cũ, biết bao vấn đề nảy sinh trong cuộc sống mới, đòi hỏi mọi cá nhân tồn tại trong xã hội đó phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp, và Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy Con đường văn chương mà ông tìm đến không
Trang 17phải là một con đường mòn mà người ta vẫn đi, ông đã đột phá ra khỏi con
đường ấy bằng lối đi cho riêng mình Ông đã tự bộc bạch “văn học giúp con
người nhận thức về mình, về cuộc sống” Văn học giúp con người ta phải biết,
phải dám nhìn thẳng vào chính mình, cuộc sống mà mình đang tồn tại để tự ý thức về mình Thái độ e thẹn, ngại ngùng không dám nói sẽ làm chết đi chức năng phản ánh của văn chương Chính vì điều đó, Nguyễn Huy Thiệp dám nhìn thẳng vào sự thật và đời sống hiện tại để phản ánh Đi sâu vào thế giới truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta không bắt gặp những gì quá gay gắt, nghẹt thở trước một cuộc sống trần tục rất gần gũi với chúng ta Có thể do hữu ý hay vô tình mà chúng ta thừa nhận ra đó là một xã hội thu nhỏ, gồm
những gia đình con con trong những mối quan hệ “cơm áo gạo tiền”, tình yêu
hôn nhân, gia đình xã hội… thậm chí là cả những ý thức nhỏ nhoi, tầm thường của con người cũng được ông lột trần trong những trang viết Có sỗ sàng đấy, nhưng đó mới là cuộc sống, những cái là hằng giờ, hằng ngày con người đang tồn tại Trong những trang viết của mình, tác giả không ngần ngại nêu lên những sự bê tha, nhếch nhác của cuộc sống; kể cả sự rùng rợn, khủng khiếp, quái đản, qua đó bộc lộ sự đốn mạt, kém hèn của con người Tác giả nhấn mạnh tâm lý vụ lợi đang trở thành nếp sâu trong não trạng, tâm thuật của con người hiện đại Chẳng hạn, ông Bổng lo đám ma cho chị mà vẫn lạnh
lùng tính toán: “mất mẹ bộ xà long ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dồi bao
giờ! Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván” (Tướng về hưu) Trong Huyền thoại
phố phường, cách Hạnh mò cống tìm chiếc nhẫn thật thảm hại để tranh thủ
sự tin cậy của gia đình, của người đánh rơi chiếc nhẫn mà Hạnh toan lợi dụng Nhân vật này trục lợi đã trở thành một cương lĩnh sống Muốn cải tổ xã hội phải cải tổ tâm lý con người, Nguyễn Huy Thiệp đã đề cập đến vấn đề quan trọng của tâm lý con người thời kỳ quá độ Thời kỳ lịch sử trước đây là thời
kỳ của chế độ bao cấp, và nhất là trong chiến tranh, người ta hoàn toàn sống
Trang 18bằng tình nghĩa không cần so đo tính toán Nhưng khi chuyển sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của hạch toán thì chỉ tình nghĩa thôi không đủ Con người ngày hôm nay đòi hỏi sự sòng phẳng, sự tính toán phân minh, và đương nhiên hạch toán là năng suất, là văn minh, là tiến bộ Tuy nhiên cuộc sống thật khủng khiếp nếu như quan hệ giữa con người với con người chỉ là quan hệ tiền trao cháo múc và tính toán vụ lợi Nếu như tinh thần thực dụng rất cần cho chế độ hạch toán lại biến thành chủ nghĩa thực dụng, mọi tình cảm vô tư
và chân thật của con người bị nhấn chìm trong sự tính toán lạnh lùng thì đó là một điều xấu không lường Về mặt này truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
có ý nghĩa cảnh tỉnh sâu xa
Có một thời văn học của ta đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp, những con người thuộc về khối cộng đồng Những con người cộng đồng này phổ biến lại những điều hay, điều tốt, những nét xấu và dở nếu có chăng chỉ là
ngẫu nhiên và nhất thời Do đó Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm sắc không được
người ta chấp nhận, bởi vậy là phỉ báng, là sỉ nhục nhân vật, con người lịch sử bởi người đọc không quen cách nhìn nhân vật sử thi như vậy Nhưng họ đâu biết rằng cuộc sống còn cực kỳ phức tạp, có cả ánh sáng và có cả bóng tối
Con người ai cũng phải đi từ cuộc sống trần tục nhất, có đủ “hỷ, nộ, ái, ố”
của cuộc đời Đó chính là điều Nguyễn Huy Thiệp đem đến cho độc giả cách nhìn mới về con người Thiên nhiên và con người trong văn học luôn là hình tượng sánh đôi cùng nhau, và hình tượng thiên nhiên luôn là nền tảng nổi bật cho hình tượng con người Thiên nhiên luôn là người bạn gần gũi của con người, có lúc hiu hắt một nỗi buồn, nhưng đôi khi lại như một niềm vui thiết tha, như một tâm sự, ôm ấp gắn bó với con người Tô Hoài, Nguyễn Tuân đã gặt hái được những vụ mùa bội thu từ mảnh đất này Nguyễn Huy Thiệp tuy
là người đến sau nhưng ông đã nhanh chóng khẳng định được tên tuổi của mình với mảng đề tài này Ông sinh ra ở Hà Nội, nhưng đặc biệt là đã có quá
Trang 19trình gắn bó với miền Tây Bắc của Tổ quốc như quê hương thứ hai của mình,
“một thời để thương để nhớ trong ông” - mảnh đất và con người nơi đây đã
để lại những ấn tượng sâu sắc khó phai trong tâm tưởng tác giả Nhiều tác phẩm viết về đề tài Tây Bắc của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo được tiếng vang lớn trên văn đàn, được độc giả, giới lí luận, phê bình quan tâm đánh giá nhiều chiều Đề tài về thiên nhiên và con người Tây Bắc trong sáng tác của Nguyễn
Huy Thiệp hiện lên như một lẽ tự nhiên bởi ông “có duyên nợ” với mảnh đất
này Phải chăng những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp về Tây Bắc như là những món quà ông dành tặng cho con người nơi đây - nơi ông gắn bó suốt mười năm (1970 – 1980)
1.3 Thiên nhiên và con người trong cách cảm nhận mới của văn học
1.3.1 Thiên nhiên và con người trong văn học dân gian
Có thể thấy rằng các tác phẩm văn học dân gian phản ánh những vấn đề xung quanh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên cho thấy con người thụ động trong mối quan hệ với tự nhiên Từ buổi sơ khai văn học, bằng tư duy thần thoại, văn học nhìn tự nhiên như các vị thần linh, nhằm nhận thức, cải tạo, chinh phục tự nhiên Tiếp đến, tự nhiên xuất hiện trong văn học chính là thiên nhiên quê hương, đất nước: núi sông, đồng ruộng, bến nước, dòng sông, con trâu, cánh cò tươi đẹp, thân thương Thiên nhiên này chủ yếu được thể hiện trong các thể loại trữ tình dân gian Khi văn học viết chưa xuất hiện, đời sống văn hóa tinh thần của con người được làm giàu và nuôi dưỡng bởi một nền văn học dân gian phong phú và ngọt ngào Trong bầu sữa tinh thần ấy tình cảm và mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên được nuôi dưỡng và bày tỏ bằng những câu cao dao, dân ca, những truyền thuyết, thần thoại hay những câu chuyện cổ tích Bên cạnh những tác phẩm dân gian nói về mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội còn có một mảng nói về mối quan hệ giữa con người với thiên
Trang 20nhiên Đó là tình yêu thiên nhiên, yêu những cảnh đẹp của quê hương đất nước hay những chiến công của các vị anh hùng của cộng đồng trong công cuộc chinh phục và chiến thắng các thế lực tự nhiên đe dọa cuộc sống bình yên loài người
Nước ta bắt đầu với nền văn minh nông nghiệp nên phụ thuộc rất nhiều vàotự nhiên Đặc biệt trong thời phong kiến, khi khoa học kĩ thuật chưa là công cụ đắc lực cho con người như ngày nay Chính vì vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ vô cùng gắn bó, mật thiết Một mặt con người tôn sùng, những hiện tượng tự nhiên; một mặt cũng lo sợ trước thiên nhiên biến hóa không cùng, ngoài vòng kiểm soát của họ Chính vì vậy cha ông ta vẫn có tín ngưỡng thờ các vị thần tự nhiên như thần mặt trời, thần nước, thần sông, mây, mưa, sấm, chớp… để cầu mong mưa thuận gió hoà, không có hạn hán, lụt lội
để có mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên
Trước những vẻ đẹp của tự nhiên, dân gian đã sáng tác nên những câu cao dao đằm thắm, ngọt ngào, con người đắm mình trong ánh trăng huyền ảo, ngây ngất trước vẻ nên thơ của sông núi quê hương Thông qua những câu ca dao hay những bài dân ca đó, thiên nhiên hiện lên với dáng vẻ của một nàng thiếu nữ dịu dàng và sẵn sàng ban tặng những báu vật của mình cho con người Không phải khi đó con người không khai thác tự nhiên để phục vụ cho
sự sinh tồn của mình, càng không phải thiên nhiên khi đó không biết nổi giận trước con người mà vì sự can thiệp của con người vào giới tự nhiên vẫn còn trong chừng mực cho phép Hơn nữa, con người khi ấy chưa có nhiều công cụ hiện đại để hỗ trợ việc khai thác tự nhiên như hiện nay nên tự nhiên sẵn sàng ban tặng của cải của mình cho con người Nói về vẻ đẹp của quê hương đất nước với những thắng cảnh đẹp có bài ca dao:
“Ai đi qua phố Khoa Trường Dừng chân ngắm cảnh núi rừng xanh xanh
Trang 21Dòng sông uốn khúc chảy quanh Trên đường cái lớn bộ hành ngược xuôi”
Dân gian cũng nói đến những mảnh đất trù phú, cây cối tốt tươi, chim chóc đông đúc, líu lo ca hát :
“Ở đâu bằng xứ Lung Tràm Chim kêu như hát bội, cá lội vàng tơ mắm nêm"
“Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Ngang, Hàng Đồng
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè Hàng Thùng, Hàng Bút, Hàng Tre Hàng Vôi, hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Quanh đi đến phố Hàng Da Trải xem phường phố thật là cũng xinh Phồn hoa thứ nhất Long Thành Phố Giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền”
Mối quan hệ thân thuộc và hài hòa giữa con người và tự nhiên được phản ánh trong ca dao hết sức bình dị:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”
Trang 22Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong văn học dân gian hết sức hài hòa, có chăng ở một số thần thoại hay truyền thuyết xảy ra một số xung đột với tự nhiên thì chỉ dừng lại ở việc con người tìm cách chinh phục tự nhiên nhằm thể hiện sức mạnh của mình Khi đó, tự nhiên chưa được con người nhận thức mà chỉ nhìn thấy những hiện tượng của tự nhiên và sợ hãi trước sự hung hãn của nó mà không phải khi ấy thiên nhiên đã nổi giận với con người như hiện nay Mối quan hệ giữa hai đối tượng này trong môi trường sinh thái không kèm theo thái độ của mỗi bên đối với nhau Những vấn đề xảy ra hoàn toàn do bản chất của tự nhiên quy định thế nào thì nó thể hiện như vậy Hoàn toàn không có sự đối đầu, đe dọa lẫn nhau Vì là nền văn minh nông nghiệp, lại chưa có nhiều công cụ nên con người sản xuất dựa vào phỏng đoán của mình vào tự nhiên là chủ yếu: “trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa” hay “chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” Nhận thức của con người về tự nhiên hết sức mơ hồ, hầu như dựa vào
sự tích lũy kinh nghiệm từ sự trải nghiệm của đời này qua đời khác mà chưa nhận thức đúng về bản chất của các hiện tượng tự nhiên Lúc này, con người cũng bắt đầu tìm cách tác động vào tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ mình như đắp đê ngăn nước, làm thủy lợi dẫn nước… nhưng cơ bản vẫn lệ thuộc vào thiên nhiên:
“Đêm trời lạnh, trăng sao không tỏ
Đó là điềm mưa gió tới nơi Đêm nào sao sáng xanh trời
Ấy là nắng ráo, yên vui suốt ngày”
Hay việc dân gian quan sát các hiện tượng tự nhiên để biết mùa vụ:
“Trên trời có ông sao Thần Bốn mùa chỉ lối cho dân ăn làm Sang xuân thần cúi lom khom
Trang 23Là mùa trồng đậu dân làng biết chăng?
Bước sang tháng chín rõ trăng Lưng thần hơi đứng là đang gặt mùa”
Lúc bấy giờ, thiên nhiên với con người vẫn là điều bí ẩn Trước những hiện tượng thiên nhiên mà họ không thể chống chọi hoặc lí giải được nguyên nhân thì họ lại thần thánh hóa nó lên và gắn cho nó một sự tích hay một hình
tượng nào đó để thờ cúng như Sơn Tinh, Thủy Tinh gắn với hiện tượng lũ lụt
hằng năm Họ khao khát có được khả năng chống lại nước lụt bằng cách nước dâng đến đâu thì đất cao lên đến đó; tháng bảy mưa nhiều làm nên câu chuyện
tình của Ngưu Lang - Chức Nữ… Khi đó, những tai biến của thiên nhiên chưa
được nhìn nhận dướigóc độ môi trường sinh thái Ngày nay, khi con người đã nhận thức được tự nhiên, chinh phục được tự nhiên lại không tìm cách chung sống hài hòa với nó mà dùng sức mạnh của khoa học, kỹ thuật có được để đe dọa sự ổn định của giới tự nhiên, can thiệp quá sâu vào cái hoang sơ, vốn có của tự nhiên khiến chúng dần mất đi dáng dấp và bản chất vốn có của mình
Có thể thấy rằng không phải đến bây giờ các tác phẩm văn học mới nói đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên mà ngay từ những tác phẩm văn học dân gian, ý thức về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đã được hình thành và xây dựng Do những nhận thức ban đầu của con người về tự nhiên còn mơ hồ nên họ thần thánh hóa tự nhiên và cầu mong các hiện tượng
tự nhiên giúp đỡ con người trong sản xuất nông nghiệp Văn học dân gian đã dừng lại ở những tác phẩm nói về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thiên, về khao khát chinh phục tự nhiên của con người Công cuộc chinh phục
tự nhiên được phản ánh trong văn học dân gian nhờ vào sức mạnh của cộng đồng và những người anh hùng của cộng đồng Tự nhiên trong cái nhìn của tác giả dân gian có lúc là một đối tượng thẩm mĩ mang vẻ đẹp vốn có của nó, khi thì là những vị thần có sức mạnh và có sức tàn phá ghê gớm Trong các
Trang 24thần thoại, chúng ta vẫn tiếp nhận với thái độ đề cao khát vọng khám phá, chinh phục tự nhiên của con người chứ chưa nhìn nhận chúng dưới góc độ sinh thái như hiện nay bởi môi trường thần thoại tồn tại hoàn toàn khác biệt với đặc điểm xã hội ngày nay Chính vì thế, vấn đề trở nên khác biệt khi không áp dụng hoàn cảnh xuất hiện tác phẩm cũng như quan niệm thời đại vào việc hiểu và phân tích, đánh giá các tác phẩm văn học
Nhìn lại các tác phẩm dân gian ta nhận thấy ngay từ thủa sơ khai văn học, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đã được đề cập đến Tuy nhiên, hầu hết đều nói về vẻ đẹp của thiên nhiên, sức mạnh hay sự hung hãn của các thế lực tự nhiên, sự đấu tranh chống lại thiên tai của loài người hay công cuộc chinh phục tự nhiên Dưới con mắt của các tác giả dân gian, tự nhiên khi ấy vẫn là những điều đáng sợ, chưa được khám phá và cần phải chinh phục, con người run rẩy trước sức mạnh của tự nhiên và tìm cách chế ngự nó nhằm mang lại cuộc sống bình yên cho mình Dù là vậy thì đó cũng là một cách làm nhằm tìm kiếm một mối quan hệ hòa hợp giữa tự nhiên với con người
1.3.2 Thiên nhiên và con người trong văn học trung đại
Tiếp mạch cảm xúc từ văn học dân gian, các tác giả văn học trung đại cũng đến với thiên nhiên để tìm cảm hứng sáng tạo, hòa mình vào thiên nhiên
và tìm hình ảnh của mình trong đó, đồng thời cũng mượn các đối tượng của tự nhiên để bày tỏ cái tôi của mình, bộc bạch tâm sự và thể hiện khí chất của đấng quân tử trong thiên hạ Văn học trung đại cũng có một thiên nhiên hiện thực, vừa bình dị vừa nên thơ lại gần gũi với cuộc sống con người Thiên nhiên ấy cứ đi vào thơ văn một cách tự nhiên và mộc mạc nhưng cũng không kém phần tinh tế Một trong những tác gia văn học trung đại tiêu biểu là Nguyễn Trãi Ông đã dành phần nhiều các sáng tác của mình cho thơ về thiên nhiên Trong thơ ông, thiên nhiên hiện lên với sức sống riêng và vô cùng sinh động với đầy đủ đường nét, màu sắc, âm thanh, hương hoa Cảnh vật thiên
Trang 25nhiên nhờ ông trở nên có tình, có ý, có cá tính, có tâm tư và trong trắng, cao khiết, trung hậu, hiền hòa Cảnh vật thiên nhiên với nhà thơ là bạn bè, là thầy
trò, có khi là con cái:
“Khách đến, chim mừng, hoa xẩy động, Chè tiên nước kín nguyệt đeo về” [70; 21]
Trong thơ Nguyễn Trãi ta thấy trúc, mai, mây, gió, chim, bướm, suối, thông, hoa, trăng, hồ, đá là những người bạn nhỏ của nhà thơ, chúng bao vây, quấn quýt lấy nhà thơ Đây cũng là nét cơ bản trong văn học trung đại khi viết
về thiên nhiên Ta cũng bắt gặp một khung cảnh thiên nhiên đậm chất Việt, hình ảnh chắt lọc mang đặc trưng riêng có của mùa xuân:
“Trong tiếng cuốc kêu xuân đó muộn Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan”.[70; 18]
Do thời phong kiến, đời sống lệ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp đã tạo nên một sự gắn bó mật thiết giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ Mặt khác, chủ trương vô vi, sống hoà vào thiên nhiên của Lão Trang đã gieo vào tâm thức người trung đại một ý thức rất coi trọng thiên nhiên Do vậy, điều dễ thấy nhất trong thơ ca trung đại là sự xuất hiện rất thường xuyên của hình ảnh
vũ trụ và thiên nhiên
Hầu như trong tác phẩm của các nhà thơ lớn, thiên nhiên và không gian bao la khoáng đạt của nó có một vị trí hết sức quan trọng Thiên nhiên còn là một nơi ẩn mình lý tưởng của nhiều bậc trí thức thời trung đại Chốn quan trường lao xao, nhiều tranh chấp, không thích hợp cho những bậc quân tử nên
họ thường tìm về thiên nhiên, sống cuộc sống dân dã, vui thú điền viên để giữ tinh thần luôn được thanh tịnh Thiên nhiên lúc này không còn mang cái vẻ bao la, huyền bí nữa mà nó đã trở thành người bạn thân thiết, tri âm tri kỷ của
thi sĩ Trong Ngôn chí - bài 20, Nguyễn Trãi viết :
Trang 26Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo …
Người ta nhìn thấy một phẩm chất nhất định và tốt đẹp ở sự vật và bản thân mình cũng có phẩm chất ấy nên thường thấy văn thơ trung đại có sự gán luôn cho cảnh vật phẩm chất kiên cường, bất chấp gian nan, thử thách ở cây tùng cây bách “tuế hàn nhi tri rùng bách chi hậu điêu” Với thi pháp ước lệ, tượng trưng, thiên nhiên còn được dùng là thước đo, làm chuẩn mực để đánh giá, so sánh với vẻ đẹp của con người, nhất là vẻ đẹp của người phụ nữ và khí chất của người quân tử Chính vì thế mà ta bắt gặp những câu thơ trong
Truyện Kiều đã lấy trăng, hoa, tuyết, liễu, mây, làn nước mùa thu hay dãy núi
mùa xuân để làm chuẩn mực so sánh với nét đẹp của Kiều và Vân:
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Trang 27Như vậy, có thể thấy rằng văn học trung đại viết rất nhiều về thiên nhiên Các tác giả trung đại vốn chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Nho học thường gửi gắm ý chí vào thiên nhiên, xem thiên nhiên là một đối tượng để nhận biết
về mình hoặc đứng trước vẻ đẹp của tự nhiên thì tức cảnh sinh tình Nhưng điểm chung lại là, dù thiên nhiên nào thì đó cũng là tình yêu đất nước hoặc thể hiện sự tương thông giữa người và cảnh - về với tự nhiên để giữ khí tiết phẩm giá con người
Trong các tác phẩm văn học trung đại, thiên nhiên không hiện lên trong thế đối chọi với con người, không có thái độ đe dọa, không có sự lo sợ của con người khi đối diện với tự nhiên Chỉ có sự hòa hợp giữa hai đối tượng này
và những vẻ đẹp của tự nhiên còn được dùng làm thước đo, làm chuẩn mực
để đánh giá vẻ đẹp của con người, làm tấm gương phản chiếu khi chất của người quân tử Chính bởi lẽ đó, thiên nhiên trở nên một người bạn tâm giao, dịu dàng nép vào trang thơ của các nhà nho như một người thiếu nữ đương thời được giáo dục đầy đủ biết cách giữ lễ nghĩa, không hề bộc lộ sự giận giữ trước các đấng quân tử Từ văn học dân gian đến văn học trung đại là một chặng đường thế giới tự nhiên đi vào văn học và ở đó đã có sự phản ánh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Đó là mối quan hệ hài hòa, thân thiết, tri
âm tri kỷ, là thái độ hòa hợp khi “chung sống” trong môi trường sinh thái
1.3.3 Thiên nhiên và con người trong văn học hiện đại
Nếu như cha ông ta đã sáng tạo nên những tác phẩm văn chương mang tầm văn hóa lớn khi phản ánh mối quan hệ hoài hòa giữa con người và tự nhiên một cách thành công thì ắt hẳn khi đó con người và tự nhiên thực sự hòa hợp Từ khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển hiện đại, từ khi nhận thức của con người vể giới tự nhiên còn chưa tường tận, văn hóa ứng xử của con người với tự nhiên trong văn học đã được đề cao Điều này đặt ra câu hỏi lớn cho xã hội hiện đại: tại sao khi con người càng phát triển, khoa học kỹ thuật
Trang 28càng tiến bộ, nhận thức của con người về thế giới tự nhiên càng tường tận thì con người lại ứng xử thiếu tôn trọng tự nhiên? Đó là vấn đề mà văn học hiện đại cần chung tay với xã hội giải đáp bài toán văn hóa này
Văn học hiện đại không hề thiếu những tác phẩm nói về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Vẫn dạt dào những áng thơ viết về những vẻ đẹp của tự nhiên, vẫn đầy ắp những trang viết trong các tác phẩm tự sự nói về tự nhiên và con người (dù hòa hợp hay đối nghịch) Đặc biệt, trong mảng sáng tác viết về đề tài miền núi, không thiếu những tác phẩm viết hay, xúc động và sâu sắc khi nói đến mối quan hệ của tự nhiên và con người Tiêu biểu phải kể
đến thơ Mai Văn Phấn, các tác phẩm của Cao Duy Sơn (Ngôi nhà xưa bên suối), Đỗ Bích Thúy (Bóng của cây sồi), Nguyễn Ngọc Tư, (Nước như nước mắt), Nguyễn Minh Châu (Sống mãi với cây xanh), Nguyễn Khắc Phê (Thập giá giữa rừng sâu), Sương Nguyệt Minh (Chuyến đi săn cuối cùng),
Vi Hồng (Đường về với mẹ chữ) và nhiều tác giả tác phẩm khác của văn học
hiện đại đã khai thác có hiệu quả các đề tài tự nhiên, nhưng không phải chỉ để thể hiện tình yêu đối với thiên nhiên mà còn thể hiện một niềm khắc khoải với những nguy cơ sinh thái, bày tỏ nỗi đau đớn vì những vẻ đẹp tự nhiên ngày một biến mất nhằm thức tỉnh tinh thần sinh thái trong ý thức xã hội Đặc biệt trong mảng văn xuôi miền núi thì quan hệ giữa con người với tự nhiên càng được nói đến một cách đậm nét hơn cả Điều này được tác giả Phạm Duy Nghĩa nói đến rất cụ thể trong nghiên cứu của mình Chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh rằng văn học hiện đại vẫn không hề thiếu những tác phẩm nói đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, nhưng mối quan hệ ấy không được phản ánh giống như trong văn học hiện đại nữa Nó có đặc điểm mới do tính thời đại mang lại Không phải riêng Nguyễn Huy Thiệp viết về vấn đề sinh thái mà
có rất nhiều nhà văn khác cũng nói Nhưng ông nói sớm, nói trúng, nói hay, nói sâu và độc đáo dưới cái nhìn của một người miền xuôi có một quãng thời
Trang 29gian gắn bó với rừng; cái nhìn ấy khách quan và quyết liệt trước thực trạng rừng đang chảy máu Đó chính là điểm khác biệt với các nhà văn khác và cũng là giá trị đáng trân trọng của các tác phẩm viết về rừng của nhà văn đa tài này
* Tiểu kết
Với những khái niệm công cụ đã đưa ra, chúng tôi sử dụng làm điểm tựa
để khám phá các tầng nghĩa bên trong mỗi chi tiết nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời cũng nhờ đó để làm sáng tỏ thêm quan điểm của mình khi đưa ra các kết quả nghiên cứu trong phạm vi luận văn Có thể nói văn học Việt Nam từ dân gian đến trung đại đều đã đề cập đến mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên Trong chừng mực nhất định của sự nhận thức cũng như quan niệm đương thời, mối quan hệ đó được xây dựng và tồn tại trong sự hòa hợp và được điều hòa theo hướng tích cực Điều đó tuy không cạn kiệt trong văn học hiện đại nhưng xã hội hiện đại đang đòi hỏi văn học phản ánh chân thực sự mâu thuẫn và xung đột đang nảy sinh trong mối quan
hệ giữa con người và thiên nhiên, đồng thời góp phần tích cực vào việc điều hòa mối quan hệ đó, góp phần tạo dựng một môi trường sinh thái ổn định và bền vững
Trang 30Chương 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
2.1 Thiên nhiên và con người miền núi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn Địa - Nhân văn
Trong suốt quá trình vận động và phát triển của nền văn xuôi Việt Nam nói chung, bức tranh cuộc sống vùng núi phía Bắc đã từng xuất hiện không chỉ trong các sáng tác văn học dân gian mà còn cả trong những tác phẩm văn học viết Tuy nhiên, trong quan niệm của người miền xuôi từ trước đến nay vẫn luôn tồn tại một cảm giác, khu vực miền núi là chốn hoang vu, xứ rừng thiêng nước độc, nơi lưu giữ vô vàn những điều bí mật rùng rợn Chính bởi vậy mà số lượng các nhà văn đến được với nơi đây, đầu tư thời gian và công sức để viết về mảng đề tài này chưa nhiều, các thành tựu văn học do đó mà cũng còn hạn chế
2.1.1 Thiên nhiên là nguồn sống, môi trường sống của con người
Nguyễn Huy Thiệp đến với thiên nhiên miền núi Tây Bắc bằng sự quan sát nhạy bén đồng thời là sự am hiểu văn hoá nơi đây Sự độc đáo của thiên nhiên Tây Bắc dưới ngòi bút của ông là một thiên nhiên gắn liền với đời sống sinh hoạt của người dân và những phong tục, tập quán của người dân Hua Tát Thiên nhiên gắn với con người không nằm ở sự quyết định của nhà văn, mà
nó thuộc về văn hóa, thuộc về bản chất của tồn tại, con người không thể tách mình ra khỏi thiên nhiên Mối quan hệ giữa thiên nhiên với đời sống con người được biểu hiện ngay trong sinh hoạt hàng ngày với những công việc đời thường như săn bắn hay nương rẫy là những công việc nặng nhọc, vất vả
Vì thế, cuộc sống của con người rất giản dị, thuần phác, và người dân nơi đây
tiếp khách cũng là những sản vật lao động hằng ngày trong lao động: “Đến
với Hua Tát, khách được mời ngồi bên bếp lửa, uống sừng rượu cần với xeo
Trang 31thịt rừng sấy khô” Từng nếp sống hàng ngày trong sinh hoạt của người dân
cũng như những tục lệ tiếp khách đều gắn liền với thiên nhiên Thiên nhiên với con người đôi bạn tồn tại bên nhau Ở đâu có con người thì ở đó có thiên nhiên để đảm bảo cho sự tồn tại Đồng bào Thái vẫn truyền nhau câu ca :
"Thóc gạo ở dưới đất Thực phẩm ở trên rừng
Ai khéo ăn thì no
Ai khéo lo thì được
Thiên nhiên bao trùm lên cả mười câu chuyện nhỏ trong Những ngọn
gió Hua Tát là thiên nhiên mang gương mặt “dữ dằn” và “khắc nghiệt” Sự
xuất hiện của loài hổ - chúa sơn lâm, đã gây ảnh hưởng đến cuộc sống con
người trong bản, khiến con người luôn phải sống trong lo âu sợ hãi: “Mùa
đông ấy trong rừng Hua Tát xuất hiện một con hổ dữ Hổ rình rập suốt ngày đêm quanh bản Bản hoang vắng hẳn, không ai dám ra nương ra rẫy Buổi tối, chân các cầu thang được rấp rào gai kĩ lưỡng, các cửa nhà đóng chặt Sáng sáng thấy vết chân hổ vòng quanh từng ngôi nhà một” [83; 198] Thiên
nhiên cũng có khi gây khó khăn, thậm chí còn triệt đường sống của người
dân: “Cuối năm ấy, ở Hua Tát động rừng, cây cối xơ xác, chim chóc trốn biệt,
không có dấu chân con thú nào trong rừng, chưa bao giờ Hua Tát sống vất vả đến thế” [83; 201] Sự dữ dằn của thiên nhiên Tây Bắc còn được chứng minh
bằng những cơn mưa đá dữ dội: “Gió to quá, những giọt mưa đá quất vào ông
đau điếng… Mưa như trút, những cục đá văng như đạn ghém” [83; 212]
Nguyễn Huy Thiệp đã khắc họa những nét tiêu biểu về thiên nhiên Tây Bắc
và có lẽ chỉ Hua Tát mới có: “Năm ấy, bỗng dưng trong rừng Hua Tát xuất
hiện một loại sâu đen kì lạ Chúng bé như cái tăm, bám đầy chi chít trên những cành lá Đi vào rừng hay đi lên nương, cứ nghe tiếng sâu bật mình lách tách, tiếng rào rào nghiến lá của chúng mà rợn cả người Không có thứ
Trang 32lá cây nào mà loài sâu ấy lại không ăn được Từ lá lúa, lá tre, cả lá của cây song, cây mây đầy gai cũng bị chúng nhai ngấu nghiến” [83; 214] Thiên
nhiên Tây Bắc còn khắc nghiệt hơn nữa bởi ở đó thường xuyên xảy ra nạn dịch đe doạ tính mạng con người và cướp đi mạng sống của nhiều người:
“Dịch tả ở Mường La, Mai Sơn tràn đến Hua Tát vào một ngày thời tiết kì lạ:
vừa nắng chang chang, vừa mưa như trút Hơi nước trên mặt đất hầm hập bốc lên nghi ngút gai lạnh cả người Trẻ con chết trước rồi đến người già Người nghèo chết trước rối đến người giàu Người tốt bụng chết trước rồi đến lượt những tên đê tiện Trong nửa tuần trăng, ơ bản Hua - Tát ba chục người chết Người ta đào vội đào vàng những hố chôn người, rồi rắc vôi bột lên trên” [83; 219] Sự hà khắc, dữ dằn của thiên nhiên ảnh hưởng đến cuộc sống
của con người, cướp đi bao mạng sống của người dân từ người già đến người trẻ Sự đe dọa ghê ghớm ấy làm cho cuộc sống đầy sự chia lìa đau thương, mất mát
Trong những truyện ngắn về thiên nhiên và con người miền núi, không gian núi rừng là chủ đạo, những nạn dịch và thú dữ đều là những trở lực của thiên nhiên với con người Cuộc sống người dân vô cùng khó khăn, vậy mà luôn phải đối mặt với những kẻ thù nguy hiểm Sự dữ dằn và khắc nghiệt mà thiên nhiên đem lại cho con người dường như là sự lên tiếng của tự nhiên trước hành vi xâm phạm của con người đối với chúng Môi trường sinh dưỡng của con người đang bị hủy hoại từng ngày, vắt kiệt đến giọt tinh cuối cùng, nên rừng mới động như vậy, khiến cho những nguồn nước bị khô cạn kiệt,
hạn hán kéo dài (Tiệc xòe vui nhất) Dưới ngòi bút tinh tế của mình, Nguyễn
Huy Thiệp đã xây dựng nên một bức tranh thiên nhiên sinh động đầy hoang
sơ và bí ẩn nhưng cũng thật dữ dằn và khắc nghiệt Phải có quá trình gắn bó lâu dài và tình yêu thiên nhiên sâu sắc với Tây Bắc thì con người mới có những cảm nhận tinh tế, sâu sắc đến vậy Và dường như bên cạnh những khắc
Trang 33nghiệt dữ dằn mà thiên nhiên đem lại cho người dân Hua Tát, thì thiên nhiên
còn ưu ái đem lại cuộc sống cho dân bản nơi này: “Năm ấy, không hiểu sao
rừng Hua Tát củ mài nhiều vô kể Người ta đào được những củ mài dễ như bỡn Những củ mài xốp, thơm hanh hanh và ngậy, ninh lên bở tơi, ăn hơi tê rát vòm miệng rất thú” [83; 204] Đó là sự hào phóng của thiên nhiên với tất
cả mọi người, để cuộc sống của người dân nơi đây bớt sự nghèo đói Để có cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn, thiên nhiên không những ban cho “miếng
ăn” mà còn ban cho “vàng bạc” để cuộc sống đầy đủ hơn: “Một bữa, lần theo
rễ củ mài, Bua và lũ con đào được một cái hũ sành sứt mẻ, nước da lươn đã xỉn vì năm tháng Bua gạt lớp đất ở miệng hũ sành và nàng ngạc nhiên thấy
hũ chứa đầy những thoi vàng, thoi bạc lấp lánh” [83; 204] Từ đó nàng Bua
trở nên giàu có nhất mường Thiên nhiên không chỉ gắn liền với sinh hoạt đời thường diễn ra hằng ngày, mà còn gắn với những sự kiện trọng đại nhất của
đời người như chuyện “kén chồng” Trong Tiệc xoè vui nhất, có bốn chàng
trai đến cầu hôn nàng E thì có ba chàng nhờ sự trợ giúp của thiên nhiên
Chàng trai thứ nhất: “chàng trai đi vào rừng Đến chiều chàng vác về một con
lợn lòi bị chàng bắn chết” [83; 205] Chàng trai thứ hai cũng vậy: “chàng trai
đi vào rừng Đến chiều chàng mang về một đôi rái cá còn nguyên vẹn” [83;
206] Chàng trai thứ ba là chàng trai giàu có, nhưng trở lên giàu có phần nhiều cũng nhờ vào thiên nhiên Chàng trai thứ tư là người đã được con gái trưởng
bản nhận lời cầu hôn, đó là chàng Hặc: “Trưa hôm sau, dân bản Hua Tát lập
đàn cầu đảo, không khí oi nồng ngột ngạt Hặc bước lên đàn, chàng ngước đôi mắt trang nghiêm nhìn trời chàng nói:
- Con sống trung thực, dầu biết trung thực bao giờ cũng chịu đau khổ thiệt thòi Tuy nhiên nếu lòng trung thực chuộc được tội lỗi và mang tình yêu đến được thế gian này, xin trời mưa xuống
Trời cao tĩnh lặng Bỗng nhiên từ đâu đó xa xôi có một cơn gió mơ hồ thổi về Tất cả ngọn cây trên rừng xào xạc Mặt đất bắt đầu xuất hiện những
Trang 34cơn lốc nhỏ Buổi chiều, bầu trời đầy mây vần vũ và khi đêm xuống thì mưa như trút” [83; 208]
Trong Đất quên, nhân vật ông Pành đến cầu hôn Muôn thì bố Muôn
cũng ra điều kiện: “Thôi được, ông muốn làm rể tôi thì ông ở đây làm sao hạ
được cây gỗ lim to nhất ở đỉnh Phu Luông mang về Cây gỗ ấy sau này sẽ là căn nhà của ông và con Muôn đấy ” [83; 214] Chúng ta thấy rằng, dù trong
cuộc sống đời thường hay sinh hoạt văn hoá, thậm chí cả trong tình yêu và hôn nhân, người dân Hua Tát cũng dựa vào thiên nhiên Thiên nhiên và con người như hai người bạn gắn bó máu thịt, không tách rời nhau cùng nhau tồn tại và phát triển Một bức tranh thiên nhiên đậm đà màu sắc giữa sự hoà quyện độc đáo giữa thiên nhiên và con người dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp như đang hiện ra trước mắt bạn đọc Người đọc như đang được trải nghiệm những thú vị ở nơi núi rừng xa xôi này cũng như được hòa mình vào thiên nhiên được sống với người dân Hua Tát, những con người lao động bình
dị chất phát và đầy hoài bão sống
Bên cạnh vẻ dữ dằn khắc nghiệt, sự hoang sơ bí ẩn thì thiên nhiên Hua Tát còn mang vẻ đẹp đầy trữ tình thơ mộng Đó mới là bức tranh hoàn chỉnh
và toàn diện về thiên nhiên Tây Bắc Những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
về Tây Bắc gợi ra trong lòng người đọc một cảm giác ám ảnh không dễ thiện cảm về mảnh đất nơi đây nhưng cũng đưa chúng ta khám phá, tìm tòi và cảm
nhận cái đẹp, vẻ thơ mộng đầy trữ tình của thiên nhiên “Bạt ngàn hoa ban
trắng, màu trắng đến khắc khoải, nao lòng” [83; 99] Đây là mảnh đất của
xứ sở hoa ban nên thơ cùng với sương và núi là đặc trưng riêng của Tây Bắc,
đã đi vào lòng người bao thế hệ Hoa Ban trở lên thân thiết quen thuộc của vùng Tây Bắc và đây cũng là đặc trưng chỉ có ở riêng Tây Bắc, không chỉ đẹp trong đời sống tinh thần mà còn là niềm tự hào của người dân nơi đây Nếu ai
đã từng đặt chân đến với Hua Tát thì sẽ cảm nhận được những gì Nguyễn Huy
Trang 35Thiệp miêu tả trong trang văn của mình: “Thung lũng Hua Tát ít nắng Ở đây
quanh năm cứ lung bung một thứ sương mù bàng bạc nên nhìn người và vật thì chỉ nhìn thấy những nét nhoà nhoà đại thể mà thôi Đây là thứ không khí huyền thoại” [83; 196] Và rồi những ai chưa từng đến với Hua Tát qua những
trang văn của Nguyễn Huy Thiệp cũng mường tượng ra như mình đang bước tới nơi đây trong màn sương nhoà nhoà đại thể như vậy Những làn sương mù bao phủ lên những dãy núi tạo thành một không gian cổ tích đầy trữ tình, lãng mạn Bên cạnh đó còn là vẻ đẹp của những dòng suối hay những viên đá cuội
trắng mà những người phụ nữ nơi đây rất thích mang nó về “ủ trong áo lót đủ
trăm ngày” mang cho vào đệm nằm của người chồng thì chồng mình không
bao giờ nghĩ tới người phụ nữ khác Đôi khi những nét đẹp của thiên nhiên mang lại là những sự vật bình dị thôi nhưng rất đỗi thân thương, gắn liền với cuộc sống con người Đá không chỉ là là biểu tượng về vẻ đẹp của văn hoá Tây Bắc mà còn mang tính thiêng liêng cao quý, đó là hòn đá ở miếu thờ
chàng Khó rất đặc biệt và kì lạ: “Trong miếu có hòn đá nhỏ bằng nắm tay
người, để trên bệ gạch Hòn đá nhẵn thín như bào, sâu trong lớp đá có những vân đỏ li ti như mạch máu người Ai muốn cầu xin thì sờ tay vào hòn đá, ghé sát miệng vào kể lể với nó Hòn đá nằm trên bệ thờ từ bao đời rồi, chứng kiến rất nhiều cuộc đời, rất nhiều số phận Hòn đá trở thành một thứ gẫu vật thiêng liêng ban đêm có trông thấy hòn đá tỏa sáng như một cục lửa Những nỗi đau khổ, những lời cầu xin tích tụ trong hòn đá” [83; 222] Hòn đá ấy vốn
là nét đẹp rất đỗi từ tự nhiên và quà tặng thiên nhiên ban tặng và rồi trở nên thiêng liêng nét đẹp văn hoá và là biểu tượng đẹp của dân bản Hua Tát Cái nhìn của tác giả đối với thiên nhiên luôn say sưa, trân trọng những biểu hiện
dù là bé nhỏ của tự nhiên Và đây là vẻ huyền ảo bảng lảng không khí cổ tích của một không gian sống động, gợi cảm dưới ngòi bút miêu tả tinh tế của tác
giả: “Bản Hua Tát ở trong thung lũng hẹp và dài, ba bề bốn bên là núi cao
Trang 36bao bọc, cuối thung lũng có hồ nước nhỏ, nước gần như không bao giờ cạn Xung quanh hồ, khi thu đến, hoa cúc dại nở vàng đến nhức mắt” [83; 196]
Vẻ đẹp khỏe khoắn mà tấm áo rực rỡ của thiên nhiên mang lại làm say đắm lòng người Đó là một khung cảnh thiên nhiên tươi sáng, thi vị, ngập màu sắc,
thật thơ mộng Hay đó còn là một khu rừng mùa xuân đầy sức sống “Cây cối
đều nhú lộc non Rừng xanh ngắt và ẩm ướt” [83; 59]
Khi viết về thiên nhiên, Nguyễn Huy Thiệp không sử dụng lỗi nói hoa
mĩ, cầu kỳ, không dài miên man Ông viết những câu văn ngắn gọn, súc tích, từng lớp lang nối tiếp nhau hiện ra phô bày những vẻ đẹp của thiên nhiên Đó cũng chính là vẻ đẹp của những giá trị nhân văn hiện đại và ngôn từ nghệ thuật làm nên ma lực của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Ông cũng quan tâm đến các vẻ đẹp và giá trị tinh thần của tự nhiên đối với đời sống con người Thiên nhiên là nguồn sống, môi trường sống của con người Thiên nhiên mang lại cho con người bầu không khí trong trẻo để con người ngụp lặn trong đó, được gột rửa bụi bặm của cuộc sống xô bồ, hỗn tạp Những vẻ đẹp ban sơ, tinh khiết của thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đem đến cho người đọc những khoảnh khắc thư thái cho tâm hồn, cũng khiến cho người ta thêm yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống hơn Bằng sự nhạy cảm và tinh
tế, Nguyễn Huy Thiệp đã vẽ nên những nét chấm phá về vẻ đẹp của tự nhiên trong mỗi câu chuyện của mình Không dày đặc nhưng đủ để người ta thấy được cái tài của nhà văn, thấy được giá trị đích thực mà tự nhiên mang lại, được tận hưởng tự nhiên, được thấy mình trong đó, và hơn tất cả, người đọc thấy trân trọng và yêu thế giới tự nhiên hơn
2.1.2 Thiên nhiên góp phần tạo nên tính cách, khí chất của con người
Bên cạnh đó, thiên nhiên còn là biểu hiện để góp phần tạo nên tính cách,
khí chất của con người Trong truyện ngắn Muối của rừng, tác giả đã vẻ nên
một khung cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp tươi mới của mùa xuân trong khu
Trang 37rừng: “Sau tết Nguyên Đán khoảng một tháng là thời gian thích nhất ở rừng
Cây cối đều nhú lộc non Rừng xanh ngắt và ẩm ướt Thiên nhiên vừa trang trọng, vừa tình cảm Điều ấy một phần là do mưa xuân Khoảng thời gian này
mà đi trong rùng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của một con sóc nhỏ trên cành dâu da” [83; 59] Đó là tâm trạng của ông Diểu hay chính là của tác giả gửi vào
đó Rừng là nơi chốn bình yên cho ai đó tìm đến để hít hà cái không khí trong lành, để quên đi những toan tính, những xô bồ, giả dối của cuộc sống thường
nhật Cái hoang sơ, cái tự nhiên, cái trong lọc của rừng khiến cho lòng người
ta tĩnh lại, được gột rửa Chỉ cần cú nhảy của một chú sóc thôi cũng khiến cho người ta có thể rũ bỏ những nhố nhăng, ti tiện vấp phải hàng ngày
Quả thực, rừng mang đến cho con người những điều con người không tìm thấy trong xã hội của mình Khi được hòa mình vào thiên nhiên hoang dã, con người như tìm lại được chính mình, đó cũng là điều nhà văn muốn nói khi hiện nay con người quá hối hả trước tốc độ phát triển của xã hội, không còn thì giờ để dành cho thiên nhiên Thật thú vị khi được trải nghiệm cảm giác
như của ông Diểu: “Ông Diểu ngồi im dễ đến nửa giờ Mưa xuân mỏng và
mịn Thời tiết ấm Dễ đến rất lâu ông Diểu mới lại có dịp ngồi yên đến thế này, không nghĩ gì, không buồn không vui, không lo lắng, cũng không tính toán Sự tĩnh lặng bình thản của rừng xuyên suốt qua ông” [83; 60] Có thể
thấy rằng cách ông Diểu tận hưởng rừng, tận hưởng tự nhiên khiến người ta
ao ước được như ông Chính bản thân ông Diểu cũng đã ngồi im đến nửa giờ
mà cảm nhận sự ôm ấp của rừng, nương tựa vào sự dịu dàng của rừng mùa
xuân mà xua đi sự mệt mỏi trong con người mình đến độ sự tĩnh lặng bình
thản của rừng xuyên suốt qua ông Nguyễn Huy Thiệp đã có cách nói rất thú
Trang 38vị khi đặt con người vào lòng của tự nhiên: để mặc tự nhiên phô bày vẻ đẹp
và sức quyến rũ của nó, để mặc con người chìm đắm trong bầu không khí tuyệt diệu của tự nhiên, để mặc cho người đọc nhận ra tự nhiên đẹp đẽ biết nhường nào Nhà văn không thốt lên, không reo lên, mà cứ nhẹ nhàng với những con chữ khiến ta thấy như muốn lao đến cái nơi nhà văn đang nói, muốn được như nhân vật của ông đang bước chân trên lớp lá mục trong rừng, muốn được tìm về với tự nhiên hoang sơ, muốn chạy trốn khỏi thành phố với
ồn ào xe cộ và khói bụi Đó là cái tài của nhà văn khi viết về tự nhiên
Truyện ngắn Những người thợ xẻ lại mang đến ấn tượng mới về thiên
nhiên trong mắt của những người đi rừng: “Hai bên bạt ngàn ngô và bông
Những dãy núi đá vôi trập trùng cao ngất Chúng tôi đi men ở dưới chân núi, vừa bé nhỏ, vừa cô đơn, lại liều lĩnh, mà bất lực, thậm chí vô nghĩa nữa Bạt ngàn là hoa ban trắng, màu trắng đến khắc khoải, nao lòng” [83; 99] Nhân
vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được đặt vào thế đối diện với thiên nhiên bao la, vĩnh hằng để nhận ra thân phận bé nhỏ, cô đơn, mong manh và phù du của mình trước dòng chảy tự nhiên vĩnh cửu
Trong tác phẩm Trái tim hổ, tác giả miêu tả thiên nhiên mùa xuân của
đất trời trong sự đối chiếu với mùa xuân của đời người: “Tuổi mười sáu là
tuổi của mùa xuân, tuổi của tình yêu Tình yêu thì có nhiều nhưng mùa xuân của thiếu nữ chỉ có một Năm mười sáu tuổi là tháng đầu của mùa xuân, đến tuổi mười chín thì có khi sang mùa thu rồi” [83; 198] Thiên nhiên mùa xuân
hiện lên thật tràn trề sức sống, như tâm trạng của người thiếu nữ đang tuổi
trăng rằm: “Mùa xuân ở Hua Tát đầy ắp tiếng khèn bè Tiếng khèn quấn quýt
chân sàn, chân quản nhà các cô gái Cỏ dưới chân các cầu thang không mọc được Ở đấy phẳng lì một lớp đất bạc” [83; 198] Tuy nhiên, thiên nhiên mùa
xuân tràn trề sức sống ấy không hiện hữu trước mắt cô gái bất hạnh như Pùa
Cả mùa đông sau nữa Hua Tát chìm trong sự xác xơ tiêu điều, dân bản càng
Trang 39xót thương cho nàng hơn, bởi lẽ họ đã tìm mọi cách giúp Pùa, song đôi chân
của cô vẫn không nhúc nhích được: “Năm ấy Hua Tát sống trong mùa đông
khủng khiếp Trời trở chứng, cây cối khô héo vì sương muối, nước đóng thành băng” [83; 198] Thiên nhiên “buồn” hay chính là tâm trạng “buồn” của Pùa
Dưới điểm nhìn từ tâm trạng như vậy, Nguyễn Huy Thiệp không miêu tả trực tiếp để bạn đọc hiểu rõ mà ông để nhân vật của mình tự bộc lộ tâm trạng soi chiếu vào thiên nhiên để thấy được sự hoà nhịp giữa lòng người với thiên nhiên để chúng ta cảm nhận sự thay đổi của thiên nhiên ảnh hưởng đến trực tiếp cuộc sống của con người
Trong Con thú lớn nhất, cuộc đời của vợ chồng lão thợ săn luôn sống
trong sự cô đơn, sự ghẻ lạnh của bà con dân bản, vì vậy mà: “Họ đi đâu cũng
có nhau, người vợ lúc nào cũng âm thầm, im lặng, suốt ngày không thấy nói một tiếng” [83; 200] Cuộc sống của vợ chồng lão cứ lặng lẽ, buồn tẻ như
vậy, và càng ngày, họ càng khốn khó hơn, bởi thiên nhiên không còn ưu ái
nữa: “Cuối năm ấy, ở Hua Tát động rừng, cây cối xơ xác, chim chóc trốn biệt,
không có dấu chân con thú nào trong rừng Chưa bao giờ Hua Tát sống vất
vả đến thế” [83; 201] Tâm trạng nhân vật lão thợ săn sau khi nhầm lẫn sát hại
người vợ của mình mới thật thảm hại Chỉ vì mưu sinh mà ông thiếu tỉnh táo, trong phút giây ông đã phải vĩnh viễn rời xa người bạn đời tận tụy, trung thành nhất của đời mình Dưới con mắt của lão thợ săn lúc này, đất trời như
sụp xuống, mây đen vẫn vũ bốn phương: “Mây đen sà xuống thấp, khu rừng
tối sẫm, nóng hâm hấp như da người sốt”
Trong Tiệc xoè vui nhất, chàng Hặc là người có đức tính trung thực, và
chàng cũng tự tin vào phẩm chất của mình, nhờ đó, chàng đã cầu được mưa cho dân bản và được nàng E nhận lời cầu hôn Trong tâm trạng vui mừng của
con người, thiên nhiên cũng hào chung cùng bản nhạc rội rã: “Trời cao tĩnh
lặng Bỗng nhiên từ đâu đó xa xôi có một cơn gió mơ hồ kéo thổi về Tất cả
Trang 40ngọn cây trên rừng xào xạc Mặt đất bắt đầu xuất hiện những cơn lốc nhỏ Buổi chiều, bầu trời đầy mây vần vũ và khi đêm xuống thì mưa như trút” [83;
208] Dường như tâm trạng của con người và thiên nhiên luôn giao hòa, đồng cảm với nhau, gắn bó cùng nhau trong mọi hoàn cảnh sống, thiên nhiên góp phần tạo nên tính cách, khí chất con người
2.1.3 Thiên nhiên và con người ứng xử với nhau qua văn hoá, phong tục, tập quán
Hơn 50 dân tộc anh em trên đất nước ta sống hài hòa, đan xen như những sợi chỉ màu trên một tấm dệt thổ cẩm Ở đó có hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa của mỗi dân tộc, đó là lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, các phong tục tập quán về ăn, ở, trang phục, vận chuyển, quan hệ xã hội, tục
lệ cưới xin, ma chay, thờ cúng, văn nghệ, trò chơi Các tác giả khám phá đời sống ấy, dùng chất liệu ngôn từ để tạo nên những tác phẩm văn chương, những truyện ngắn, rồi từ đó, những tác phẩm ấy lại đi đến người tiếp nhận, sống đời sống thứ hai của nó, lan tỏa và trở lại với từng tâm hồn, làm giàu có, phong phú thêm cuộc sống
Đồng bào các dân tộc ít người Việt Nam mặc dù có nguồn gốc lịch sử khác nhau, thuộc các ngữ hệ khác nhau, trình độ phát triển xã hội chênh lệch nhau nhưng trong quá trình chung sống lâu dài đã tạo ra những đặc điểm chung thống nhất, tồn tại bên cạnh những đặc trưng riêng của từng dân tộc Tính thống nhất trong đa dạng đó thể hiện rất rõ qua các đặc điểm như: phân
bố dân cư, kinh tế, văn hóa xã hội Theo nhà nghiên cứu Lò Ngân Sủn, văn hóa, bản sắc của một dân tộc được thể hiện qua những điểm sau: ngôn ngữ (ngôn ngữ nói - viết, dân ca, then, mo, cổ tích, tục ngữ ); cách ăn mặc, trang phục, màu sắc, kiểu trang sức (quần áo, vòng tay, mũ, khăn ); các trò vui chơi (tung còn, tung yến, đánh quay, đánh vật, bắn nỏ, kéo co ); đám cưới, đám ma, đám hội (hội lồng tồng, hội đâm trâu, hội gầu tào ); các nhạc cụ