Ở bài viết thứ nhất Hỗn độn chaos khi “Tướng về hưu” và “Không có vua”, tác giả nhấn mạnh sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Thiệp “đáng chú ý nhất là hai mảng truyện về sự tan rã của
Trang 1Giảng viên hướngdẫn: Hà Thanh Vân Sinh viên thực hiện: Nguyễn Phúc Hậu Lớp: D13NV01
Khóa: 2013 - 2017 Hệ: Chính quy
-o0o -Bình Dương, 04/2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Tiến sĩ Hà Thanh Vân đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành khoá luận
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô Khoa Ngữ Văn – trường Đại học
Thủ Dầu Một và quý Thầy Cô trong Hội đồng bảo vệ khoá luận đã dành thời gian xem
và cho em những góp ý quý báu, khắc phục thiếu sót trong bài khoá luận của em
Những góp ý từ quý Thầy Cô sẽ là kinh nghiệm quý báu của em trong việc nghiên cứu
sau này
Em xin gửi lời chúc sức khoẻ đến quý Thầy Cô, chúc Thầy Cô hoàn thành tốt các
nhiệm vụ được giao và có nhiều hơn nữa những cống hiến giá trị cho ngành Sư phạm
Dù đã cố gắng hết sức, nhưng em vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót trong bài
khoá luận tốt nghiệp Vì thế, em rất mong nhận sự góp ý chân thành từ quý Thầy Cô để
bài viết của em được tốt hơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Phúc Hậu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác
Sinh viên
Nguyễn Phúc Hậu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
3.1 Mục đích nghiên cứu 11
3.2 Đối tượng nghiên cứu 11
3.3 Phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
4.1 Phương pháp thống kê 12
4.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp 12
4.3 Phương pháp lịch sử 12
4.4 Phương pháp so sánh 12
5 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 14
1.1 Một số vấn đề về thi pháp 14
1.1.1 Thi pháp 14
1.1.2 Thi pháp học 15
1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp học 16
1.2 Truyện ngắn 17
1.3 Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 19
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp 19
Trang 51.3.2 Quan niệm sáng tác 22
Tiểu kết 25
CHƯƠNG 2: THI PHÁP KẾT CẤU VÀ NHÂN VẬT 26
2.1 Thi pháp kết cấu 26
2.1.1 Khái niệm thi pháp kết cấu 26
2.1.2 Kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 27
2.1.2.1 Kết cấu tuyến tính 28
2.1.2.2 Kết cấu tâm lý 31
2.2 Thi pháp nhân vật 33
2.2.1 Khái niệm về thi pháp nhân vật 33
2.2.2 Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 34
2.2.2.1 Nhân vật đời thường 34
2.2.2.2 Nhân vật lịch sử 47
Tiểu kết 51
CHƯƠNG 3: THI PHÁP KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 53
3.1 Không gian nghệ thuật 53
3.1.1 Khái niệm về không gian nghệ thuật 53
3.1.2 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 54
3.1.1.1 Không gian nông thôn 54
3.1.1.2 Không gian thành thị 57
3.1.1.3 Không gian rừng núi 60
3.2 Thời gian nghệ thuật 63
Trang 63.2.1 Khái niệm về thời gian nghệ thuật 63
3.2.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 64
3.2.2.1 Thời gian tuyến tính 64
3.2.2.2 Thời gian tâm lý 65
Tiểu kết 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 74
1 Bài nói trong lễ nhận giải thưởng Premio Nonino 74
2 Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 77
3 Hình ảnh về tác giả, tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp 90
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau năm 1975, đất nước tiến vào một giai đoạn lịch sử mới, những biến động về
xã hội – chính trị ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn học nước nhà Văn học đòi hỏi sự đổi mới trong phong cách, đề tài sáng tác – hướng ngòi bút vào khai phá những góc khuất tâm hồn con người, mặt trái hậu chiến tranh Trong số các tác giả làm được điều đó không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp với nhiều truyện ngắn đầy ấn tượng Các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp luôn mang đầy sức hút đối với độc giả nhờ sự mới lạ trong cách viết nhưng vẫn sát với thực tế đời sống, ông dám nói, dám viết ra những gì mà thế hệ cầm bút trước chưa thể viết Mỗi tác phẩm ra đời hầu như luôn tạo nên những cuộc tranh luận gay gắt, không thiếu lời chê bai lẫn khen ngợi, nhưng thế nào đi nữa thì không ai có thể phủ nhận giá trị đặc sắc trong các tác phẩm của ông Nguyễn Huy Thiệp xứng đáng là một trong những đại diện tiêu biểu cho nền văn học đương đại Việt Nam
Xuất phát từ sự yêu thích ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp, cùng mong muốn tìm hiểu
về thi pháp truyện ngắn của ông, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp làm bài khoá luận tốt nghiệp Sau khi đề tài hoàn thành,
chúng tôi hi vọng bài nghiên cứu là tài liệu có ích, giúp bạn đọc có thêm cơ sở cảm thụ sâu hơn về cả nội dung lẫn nghệ thuật đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời đóng góp vào nguồn tài liệu tham khảo về văn học Việt Nam giai đoạn sau
Trang 8Tát, Không có vua, Kiếm sắc, Phẩm tiết ) luôn có khả năng thu hút và tạo nên hàng
loạt những tranh cãi, gây xôn xao dư luận
Chỉ tính riêng trong quyển Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Xuân Nguyên đã
biên soạn được 54 bài viết từ tác giả trong nước và quốc tế bàn luận về Nguyễn Huy
Thiệp và các tác phẩm của ông Nhà biên soạn nhận xét: “Nguyễn Huy Thiệp có hai lần
lạ: nội dung lạ, nghệ thuật lạ Trên hết, anh là nhà văn đúng nghĩa từ này - sử dụng tối đa các khả năng ngôn ngữ để đạt được cao nhất điều mình muốn biểu đạt” [11; 6] Theo thống
kê của ông, 54 bài viết biên soạn được chỉ mới là một phần ba số bài viết đã đăng trên các báo chí khắp nơi, chưa kể số lượng luận văn đại học, sau đại học lấy sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp để làm đề tài nghiên cứu
Trong quyểnVăn học hậu hiện đại – lí thuyết và tiếp nhận,tác giả Lê Huy Bắc có viết
hai bài nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp: Hỗn độn (chaos) khi “Tướng về
hưu” và “Không có vua” vàbài Giải luận đề (dethesis) trong “Sang sông” Ở bài viết thứ
nhất Hỗn độn (chaos) khi “Tướng về hưu” và “Không có vua”, tác giả nhấn mạnh sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Thiệp “đáng chú ý nhất là hai mảng truyện về sự tan
rã của đặc tính độc sáng trung tâm và xu hướng lịch sử song hành” [2; 212] Ông chỉ ra sự hỗn độn tại tại “không chỉ ở những đối thoại của hành vi lối sống mới với những tập quán xưa cũ mà còn được triển khai ngay trong chính một cá thể Theo đó, mỗi nhân vật tự thân
là một tổ hợp của những điều trái khoáy Bản thân họ không hề che giấu mà còn cố phơi bày và đôi lúc còn hãnh diện về cái sự không giống ai đấy Tính lưỡng cực trong từng nhân vật, từng hành động, suy nghĩ khiến thế giới hình tượng Nguyễn Huy Thiệp trở nên đa sắc, khó có thể phán xét ở một góc độ nhất định” [2; 224] Còn ở bài viết thứ hai, Giải luận đề (dethesis) trong “Sang sông”, Lê Huy Bắc bình luận “Trên nền của một cấu trúc luận đề nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã có nhiều cách tân táo bạo để cho ra mắt một truyện ngắn mang trong mình nhiều luận đề đến mức đã phá tung cấu trúc luận đề, man đến cho người đọc một khả năng đọc sáng tạo lớn mà các cấu trúc luận đề cổ điển không thể nào có được”
Trang 9[2; 229], ông diễn giải ý nghĩa các luận đề Nguyễn Huy Thiệp đưa ra qua sự phi danh tính, qua các hành động của nhân vật và khai thác lớp nghĩa ẩn dụ của hình ảnh “bình gốm thời
Bắc thuộc” trong Sang sông và đi đến nhận định sau cùng: “tính hai mặt của vấn đề trong
phong cách hậu hiện đại đã được Nguyễn Huy Thiệp khai thác rất hiệu quả Cuộc sống vốn
đa diện, con người vốn dung nạp nhiều mặt tốt xấu, chẳng ai xấu suốt đời và chẳng ai tốt vĩnh viễn” [2; 232]
Luận chiến văn chương– quyển sách đạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm
1996 của tác giả Chu Giang (tên thật: Nguyễn Văn Lưu) cũng có 4 bài viết về Nguyễn Huy
Thiệp: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (8/1988), Về những cách đọc văn Nguyễn Huy Thiệp (4/1989), Những ngộ nhận văn chương (6/1990), Sang sông với Nguyễn Huy Thiệp
(3/1992) Trong các bài viết, tác giả bày tỏ quan điểm ủng hộ ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp,
“Nguyễn Huy Thiệp không phải không có lòng thương con người, không có cái tâm khi cầm
bút Nhưng lòng thương yêu của anh như một bậc gia trưởng vũ phu già đòn non nhẽ Văn Nguyễn Huy Thiệptài nặng hơn tâm nhưng được cái thời hợp thời” [5; 16] đồng thời tác giả
cũng cho rằng “đọc Nguyễn Huy Thiệp mừng mà lo vậy” [5; 17] Cách đọc văn Nguyễn
Huy Thiệp cũng được ông bàn đến, chủ yếu xoáy mạnh vào các tác phẩm có liên quan đến
nhân vật lịch sử, ông cho rằng: “Văn chương cũng như con người và cuộc đời, vừa có cái
đơn giản vừa có cái phức tạp tuỳ ở sự kiến giải của mỗi người Nó không như một bài tập làm văn trong nhà trường nhưng cũng không quá rối ren hiểm hóc làm cho người thường không thể hiểu được Những cách đọc văn có ý nghĩa quan trọng giúp cho sự hiểu văn được sâu sắc phong phú hơn lên nhưng không phải quyết định tất cả Ở đây sức hiểu, sức chiếm lĩnh mới là quyết định.” [5; 26]
Phan Thanh Bình viết Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp năm 2007, tìm hiểu về các kiểu nhân vật và thủ pháp xây dựng nhân
vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Tác giả cũng có làm rõ thêm “nhân vật
mangthiên tính nữ” – một nét đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã được
Trang 10Nhà nghiên cứu văn học Hoàng Ngọc Hiến phát hiện trước đó trong bài Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió (1987) Phan Thanh Bình nhận xét: “Trong trào lưu
đổi mới của văn học Việt Nam ở những thập niên cuối của thế kỷ XX, Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn thu hút được sự chú ý của người đọc lẫn giới phê bình nghiên cứu bởi một hệ thống nhân vật đa dạng, phong phú: nhân vật đời thường, nhân vật lịch sử, nhân vật mang thiên tính nữ Mỗi loại nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp có một cách nhìn khác nhau.Các nhân vật trong truyện ngắn của ông luôn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ
mà người đọc phải đi tìm câu trả lời” [18; 112]
Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy còn có rất nhiều các ý kiến, nhận định về tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp dưới dạng các bài báo, phỏng vấn hoặc nhận định của cá nhân trên các tạp chí, các trang báo điện tử và phương tiện thông tin đại
chúng, có thể kể đến một vài bài viết tiêu biểu như: Nguyễn Đăng Điệp với bàiCuốn
theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp; Đỗ Đức Hiểu, Trương Chí Hùng viết bàiNhững nét chính trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; Hồ Tấn Nguyên Minh có bài
viết tìm hiểuQuan niệm về con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; Nguyễn Thị Minh Thái với bài phỏng vấnNhà văn Nguyễn Huy Thiệp: “Tôi là một người sống
ảo”…
Tuy nhiên, bên cạnh những lời khen vẫn tồn tại những phản ứng trái chiều trước
hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp Ta có thể kể đến như bài viết của Nhà nghiên cứu lịch
sử Tạ Ngọc Liễn: Về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp Sau khi đọc hai tác phẩm Tướng về hưu và Kiếm sắc, ông nhận xét rằng Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng “có bản sắc riêng, mới mẻ, bạo dạn, súc tích, gây được chú ý thật sự của độc giả” [11; 170] thì sau khi xem Vàng lửa, bên cạnh lời khen kỹ thuật viết của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Xuân Nguyên đánh giá “về nội dung tư tưởng, về quan điểm xã hội, cách
nhìn nhận các giá trị lịch sử mà Nguyễn Huy Thiệp muốn phát biểu qua tác phẩm của mình thì Vàng lửa, theo tôi, là một truyện chứa đựng không ít sai lầm, lệch lạc, buộc chúng ta phải nhắc nhở anh cần định hướng lại một cách chín chắn hơn khi ngồi trước
Trang 11trang giấy, đặc biệt cần kiểm tra lại vốn tri thức văn hoá, vốn hiểu biết lịch sử trong hành trang anh đang có” [11; 170] Hoặc nhƣ ý kiến của Trần Thị Mai Nhi trong bài
viết Nguyễn Huy Thiệp "Truyện Sang sông gặp phản ứng không nhỏ của dư luận: giữa
lúc những tệ nạn xã hội như nạn trấn lột, nạn trộm cắp đang đe dọa an toàn xã hội
mà Sang sông lại có những tên cướp lương thiện thì không khỏi trở thành trạng sư cho cái ác" [11; 507]
Cho đến hôm nay, vẫn có nhiều bài viết, nghiên cứu xoay quanh các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, dù là tán thành hay phản đối thì đều chứng tỏ sức sống xuyên thời gian của các tác phẩm Bên cạnh đó, đề tài về mảng thi pháp truyện ngắn của ông vẫn gây sức hút và còn nhiều vấn đề cần khai phá Trên cơ sở tiếp thu những nguồn tƣ liệu liên quan có chọn lọc, cùng việc suy ngẫm các nhận định, đánh giá, đáng tin cậy, chúng
tôi tiến hành tìm hiểu và cố gắng hoàn thành khoá luận „„Thi pháp truyện ngắn Nguyễn
về thi pháp có lợi cho việc cảm thụ tác phẩm văn học sâu sắc hơn, mở rộng góc độ đón nhận tác phẩm
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm thi pháp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12Chúng tôi tập trung khảo sát các truyện ngắn: Không có vua, Tướng về hưu,
Sang sông, Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ, Chăn trâu cắt cỏ, Con gái thủy thần, Bài học Tiếng Việt, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Trái tim hổ, Con thú lớn nhất, Nàng Bua, Tiệc xòe vui nhất, Sói
trả thù, Đất quên, Chiếc tù và bị bỏ quên, Sạ, Nạn dịch, Nàng Sinh
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã vận dụng
những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.1 Phương pháp thống kê
Trên cơ sở tìm hiểu về truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi
thống kê các yếu tố về mặt nội dung và nghệ thuật liên quan đến đề tài nghiên cứu: Thi
pháptruyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
4.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Chúng tôi lần lượt tìm hiểu các truyện ngắn, phân tích các bài viết liên quan đến
đề tài, khảo sát các ý kiến, nhận định của các tác giả có uy tín để tổng hợp nên những đặc điểm chung Từ đó, chúng tôi sẽ đưa ra những luận điểm tiêu biểu để làm rõ đặc điểm thi pháp trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
4.3 Phương pháp lịch sử
Chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử, đặt tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp vào chính bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 Qua đó làm nổi bật tính sáng tạo và đặc trưng thi pháp sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
4.4 Phương pháp so sánh
Trang 13Vận dụng phương pháp so sánh để tìm ra nét khác biệt độc đáo giữa thi pháp truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và một số tác giả trước và cùng thời kỳ
5 Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp
Khoá luận gồm 3 chương chính:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trình bày nội dung về một số vấn đề về thi pháp, khái niệm truyện ngắn và giới thiệu về cuộc, sự nghiệp và quan niệm sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
CHƯƠNG 2: THI PHÁP KẾT CẤU VÀ NHÂN VẬT
Chương hai gồm hai nội dung chính: tìm hiểu về thi pháp kết cấu và nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Chúng tôi lần lượt trình bày về lý thuyết khái niệm sau đó áp dụng nền tảng lý thuyết đó để phân tích kết cấu và nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
CHƯƠNG 3: THI PHÁP KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
Chương ba gồm hai nội dung chính: tìm hiểu về thi pháp không gian và thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Tương tự chương hai, chúng tôi trước tiên
trình bày khái niệm sau đó áp dụng nền tảng lý thuyết đó để phân tích kết cấu và nhân
vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề về thi pháp
1.1.1 Thi pháp
Ngày nay, khái niệm thi pháp đã không còn xa lạ với những người học tập, nghiên cứu, quan tâm đến văn học Thuật ngữ thi pháp (tiếng Pháp: poétique, tiếng Anh: poetics) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Poietike, được nhắc đến trong công trình
Poetica của Aristote (384 - 322) và được xem là điển hình của loại “thi pháp học sáng tác” cổ điển
Cho đến hiện tại, thi pháp đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển đa
dạng, phong phú về sáng tác, quan niệm và phương pháp Hiện có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này, tiêu biểu có hai cách hiểu: cách thứ nhất coi thi pháp là nguyên tắc, biện pháp chung tạo ra tác phẩm nghệ thuật, thông thường gọi là “phương pháp làm thơ, làm văn”; cách thứ hai hiểu thi pháp là nguyên tắc, biện pháp sáng tác cụ thể, tạo thành đặc sắc nghệ thuật của một tác giả, tác phẩm, trào lưu, thể loại, nhưng nhìn chung nội
dung cơ bản của thi pháp thống nhất trong cách hiểu: Thi pháp là hệ thống nghệ thuật
của một hiện tượng văn học
Trong đó, hệ thống là một tập hợp của nhiều yếu tố có quan hệ với nhau.Nghệ
thuật chỉ phương diện hình thức như các thủ pháp nghệ thuật, biện pháp nghệ thuật,
phương cách xây dựng, miêu tả và tường thuật, quan niệm nghệ thuật, cái nhìn nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật…, mang tính nội dung
Tính nội dung của các phương diện nghệ thuật khác với tính nội dung xã hội mà
hiện tượng văn học phản ánh Hệ thống nghệ thuật chỉ các quan niệm, thủ pháp, biện
pháp…, có quan hệ với nhau trong một hệ thống chặt chẽ Trong đó, giá trị của từng yếu tố do hệ thống quy định và các yếu tố phát huy giá trị, ý nghĩa của chúng trong hệ thống Tính hệ thống của nghệ thuật tồn tại ở nhiều cấp độ: trong một tác phẩm, hệ tác
Trang 15phẩm, một tác phẩm lớn có nhiều tác phẩm nhỏ Còn hiện tượng văn học chỉ một giai
đoạn, một trào lưu, một tác giả, một hệ tác phẩm hoặc một tác phẩm…, có những đặc trưng trên cơ sở quan hệ nội tại và như là hệ quả của lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, tình hình văn học, sáng tạo của nhà văn và mỹ cảm của người đọc
1.1.2 Thi pháp học
Thi pháp học là bộ môn khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là nghiên cứu hệ thống nghệ thuật của hiện tượng văn học Hệ thống nghệ thuật trong văn học tồn tại ở nhiều cấp độ, như tác gia, tác phẩm, trào lưu, giai đoạn…; mặt khác, ở các dòng văn học có những đặc trưng thi pháp khác nhau như: văn học dân gian sẽ có các đề tài nghiên cứu
về thi pháp truyện cổ dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn), thi pháp thơ ca dao dân gian (ca dao, vè) và thi pháp câu đố, hoặc ở mảng văn học viết ta có thể nghiên cứu thi pháp các thể loại (thơ, truyện, kí, kịch), thi pháp văn học các thời kì, các giai đoạn (trung đại, hiện đại, hậu hiện đại), thi pháp hệ thống tác phẩm của một tác gia, thi pháp của một tác phẩm…
Thi pháp học có nhiều nét gần gũi với lí luận văn học và phê bình văn học, song vẫn có điểm khác nhau: lí luận văn học thiên về nghiên cứu các quy luật chung của hiện tượng văn học, còn thi pháp học thiên về nghiên cứu các tác phẩm, thể loại, tác giả, phong cách, trào lưu, ngôn ngữ, nguyên tắc đặc thù tạo thành hiện tượng văn học
cụ thể Đối với phê bình văn học, người nghiên cứu có thể đi từ những góc độ khác nhau để khám phá nội dung, đánh giá chúng khác với thi pháp học chuyên phát hiện, khám phá các quy luật hình thức nghệ thuật
Đối tượng nghiên cứu của thi pháp học là đặc trưng, tổ chức, các phương thức, phương tiện, nguyên tắc, quy luật nội ngoại, cấu tạo và phong cách của văn bản làm nên giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của văn học Như vậy, đối tượng nghiên cứu của thi
pháp học là hình thức mang tính nội dung.Mỗi hình thức là một sáng tạo mới của tác
giả trong những hoàn cảnh, thời gian, không gian, mục tiêu riêng nên cần phải nghiên
Trang 16cứu hình thức của từng tác phẩm, từng nhà văn, từng giai đoạn, trào lưu và cả nền văn học của một dân tộc Khi nghiên cứu về thi pháp tác phẩm, người nghiên cứu cần chú ý những đặc tính về hình thức trong văn học như: hình thức có tính hệ thống, hình thức mang tính quan niệm, hình thức mang tính tinh thần; ngoài ra, phải chú trọng cả mối quan hệ nội tại và ngoại tại của tác phẩm, của hiện tượng văn học khác bên ngoài tác phẩm như lịch sử, xã hội, văn hoá, tâm lý, mỹ học
1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp học
Thứ nhất,việc nghiên cứu thi pháp học giúp ta hiểu đúng đặc điểm tư tưởng thẩm mỹ của hình tượng nghệ thuật.Văn học thông qua hình tượng để phản ánh hiện thực cuộc sống Tính đặc thù trong sự phản ánh của văn học không chỉ là phản ánh đúng, mà còn
ẩn ở chiều sâu, ở tính sáng tạo, ở tính thẩm mỹ, chỉ có nghiên cứu thi pháp, nghĩa là nghiên cứu hình thức mang tính nội dung thì mới có thể hiểu đúng giá trị khách quan của tác phẩm, đúng đặc trưng, bản chất tư tưởng thẩm mỹ của hình tượng, tránh cách hiểu xã hội học thuần tuý, tránh được áp đặt chủ quan, tự biện
Thứ hai, nghiên cứu thi pháp giúp người nghiên cứu thấy được sự vận động và phát triển của tư duy nghệ thuật Bởi tư duy nghệ thuật của nhà văn luôn biến đổi, phát triển theo thời gian Trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ dẫn đến các giai đoạn văn học khác nhau, thể loại văn học, tư duy nhà văn cũng chịu tác động từ các yếu tố xung quanh dẫn đến sự khác nhau ở tư duy nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm Nghiên cứu thi pháp tác phẩm làm nổi bật vị thế và đóng góp riêng của từng nhà văn, đặc trưng của tư duy nghệ thuật ở từng thời kỳ, giai đoạn văn học trong tổng thể cà nền văn học nhìn từ lịch sử phát triển văn học
Thứ ba, nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp giúp nắm bắt được tính xác định, khách quan của nội dung tác phẩm.Đồng thời, hạn chế tính chủ quan và những suy diễn có tính chất võ đoán tuỳ tiện, nâng cao tính khoa học trong việc nghiên cứu và lĩnh hội các giá trị của tác phẩm văn học
Trang 17Thứ tư, nghiên cứu thi pháp tác phẩm là con đường hữu hiệu nhất giúp chúng
ta khám phá những đóng góp nghệ thuật của nhà văn cho nền văn học dân tộc và nhân loại Người nghiên cứu có thể tìm thấy sự sáng tạo nghệ thuật của riêng tác giả khác biệt với những tác giả, tác phẩm cùng thời hoặc khác thời qua cái nhìn, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng, thẩm mỹ, kết cấu tác phẩm, cũng như tính hình tượng của không gian, thời gian nghệ thuật; tính sáng tạo trong ngôn từ, lời văn và giọng điệu
Cuối cùng, qua quá trình nghiên cứu, phân tích tác phẩm từ góc độ thi pháp giúp người viết nâng cao kỹ năng tiếp cận, năng lực tư duy, cảm thụ tác phẩm Từ đó giúp chúng ta phát huy khả năng tìm hiểu văn học, có lợi cho người dạy văn nâng cao trình độ chuyên môn Tuy nhiên, người viết nên tránh chủ quan, võ đoán dẫn đến sự tuỳ tiện trong nghiên cứu và giảng dạy văn học
1.2 Truyện ngắn
Nếu tiểu thuyết là thể loại không bị giới hạn về dung lượng phản ánh hiện thực,
cả về không gian cũng như thời gian, qua quá trình thưởng thức, người đọc có thể hiểu được một giai đoạn lịch sử với nhiều sự kiện, nhiều cảnh ngộ, địa điểm, tình huống
thì truyện ngắn là loại văn xuôi tự sự có hình thức ngắn gọn, cần phải “viết sao cho
người ta không thể bổ sung thêm vào đó chút gì cũng không thể rút bớt ra chút gì”
(William Somerset Maugham)
Trong tiếng Anh, truyện ngắn được viết là "Short", ở một số nước khác như: Ý,
Pháp, Nga… truyện ngắn được gọi bằng tên gọi khác: tiếng Ý truyện ngắn là Novella, tiếng Pháp gọi là Nouvelle, tiếng Nga viết là Novella và khi ấy ý nghĩa chính của cụm
từ “truyện ngắn” không phải nhìn vào khối lượng ngắn hay dài mà nhìn vào nội dung câu chuyện - một truyện ngắn có giá trị thì có thể dài lên thêm vài chục trang cũng vẫn
là ngắn, khái niệm "ngắn" của truyện ngắn có một ý nghĩa tinh tế gắn với nội dung
"hay" Nói như nhà lý luận văn học Nga thế kỷ XX M.B Khrapchenko thì: "Truyện
ngắn có thể viết co giãn Cần phải tránh để độc giả khỏi phải dừng lại lâu ở những chi
Trang 18tiết vụn vặt của cái mà độc giả đã biết và thậm chí có thể vượt qua bằng trí tưởng tượng"
"Từ điển văn học" định nghĩa về “truyện ngắn” như sau: "Truyện ngắn là hình
thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung
mô tả một mảnh của cuộc sống: Một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặtnào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [19, 457] có nét giống với cách hiểu
của Lại Nguyên Ân: khái niệm truyện ngắn có thể hiểu là “Một thể loại tự sự cỡ nhỏ,
thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [6,
1846-1847] Trong một dung lượng nhỏ nhưng truyện ngắn phải mang nội dung truyền tải lớn, điều đó đòi hỏi người sáng tác phải có ngòi bút vững vàng, nắm vững các đặc trưng của thể loại truyện ngắn
Đặc trưng đầu tiên của truyện ngắn là dung lượng nhỏ, thông thường độ dài của
truyện ngắn nằm trong khoảng từ 3 đến 50 trang: dưới 3 trang, người ta gọi là “truyện ngắn mini”, hoặc “truyện ngắn trong lòng bàn tay”; trên 50 trang thì gọi là truyện vừa còn truyện trên 100 trang thuộc thể loại tiểu thuyết Nhờ sự cô đúc nên có khi chỉ cần
một ít trang truyện ngắn, người viết có thể làm “nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ của
người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi đọc lại mãi không chán” [17, 148] Thứ hai, truyện ngắn nổi
bật bởi tính nhanh nhạy, cập nhật, gần gũi với đời sống hằng ngày Với dung lượng ngắn gọn, dễ đọc, truyện ngắn thường gắn liền với hoạt động báo chí, có tác động mạnh mẽ, kịp thời tới cuộc sống Điều này đòi hỏi các tác giả phải tinh tế, nhạy bén trước sự xê dịch, thay đổi của cuộc sống xung quanh mình
Trang 191.3 Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950 tại thôn Khương Hạ, huyện Thanh Trì, Hà Nội Ông là nhà văn đương đại Việt Nam, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1990
“Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”, thuở nhỏ, Nguyễn Huy
Thiệp phải cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên vì thế trong nhiều tác phẩm của ông, hình ảnh nông thôn và những người lao động luôn được gợi tả đậm nét.Lớn lên, ông theo học Khoa Sử tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi tốt nghiệp, ông dành 10 năm giảng dạy Sử ở miền núi Tây Bắc đến năm 1980 mới trở về Hà Nội
Hoàng Ngọc Hiến đã có những dòng khắc hoạ lại tình hình văn học lúc bấy giờ
của nước nhà trong bài Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió “Thời kỳ văn học
trước đây ở những nhà văn có tài, - mà sự độc đáo tài năng của họ lại ở chính ngay trong sự chất phác, của cái nhìn “sử thi” – thì cảm hứng ca ngợi nhân dân ta, đất nước
ta đã tạo những áng văn hay, những trang sách hay (…) Và đến khi trước mắt mọi người hiện thực cuộc sống của nhân dân bày ra với tất cả những mâu thuẫn phức tạp,
có ánh sáng, có cả bóng tối và trong bóng tối có đủ thứ tà nguỵ, ma quái, khi ấy trong những nhà văn nói trên – những con người không viết được nữa hoặc viết gượng gạo,
là những người quá quen với cách nhìn “sử thi”, với giọng điệu ngợi ca, không sao chuyển đổi được.” [12; 12-13].Các tác phẩm đầu tay của Nguyễn Huy Thiệp ra đời trong lúc đất nước đang trong cao trào đổi mới, cuộc sống toàn xã hội, cuộc sống của mỗi con người phong phú, đa dạng hơn, phức tạp và sâu sắc hơn Đi theo sự biến chuyển của xã hội và con người, văn học cũng theo đó mà chuyển mình – những đứa
con tinh thần đúng thời của Nguyễn Huy Thiệp bỗng trở thành một hiện tượng gây
chấn động dư luận bởi ngòi bút sắc sảo, nội dung đầy mới mẻ Bên cạnh sở trường
Trang 20sáng tác truyện ngắn - đa dạng về đề tài gồm lịch sử và văn học, hơi hướng huyền thoại
và cổ tích, xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê, ông còn viết kịch, thơ (tuy chưa xuất bản tập thơ nào nhưng thơ xuất hiện khá nhiều trong các truyện ngắn của ông) và tiểu luận phê bình đăng trên nhiều báo, tạp chí trong nước Năm 2004, bài viết
"Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn" đăng trên Tạp chí
Ngày này của ông tạo ra những tranh luận sôi nổi trong giới văn chương trong một thời gian dài trên Báo Văn nghệ và một số trang mạng tại Việt Nam.Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết cùng nhiều tiểu luận, phê bình văn học gây chú ý, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một “hiện tượng hiếm” của văn đàn Việt Nam
Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn Việt Nam có tác phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất Truyện ngắn của ông đã được dịch sang tiếng Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia Chính phủ Pháp đã trao cho Nguyễn Huy Thiệp Huân chương Văn học Nghệ thuật, ghi nhận của chính phủ Pháp ông là người có công trong việc quảng bá văn học, văn hoá Việt Nam tại Pháp và trong khuôn khổ cộng đồng Pháp ngữ Lễ vinh danh nhà văn Nguyễn Huy Thiệp diễn
ra trọng thể ở phòng khách lớn, Tòa đại sứ Pháp tại Hà Nội Sự nghiệp thành công là thế, nhưng sau 30 năm cầm bút, 65 năm cuộc đời, Nguyễn Huy Thiệp dừng sáng tác, bán “văn nghiệp” cho Nhà xuất bản Trẻ với giá nửa tỉ, mở nhà hàng Hoa Ban ở Hà Nội, ngày ngày tận hưởng tuổi già nhàn nhã: sáng sáng uống tách cafê ở ngõ Hàng Hành, dạo Hồ Hoàn Kiếm cùng nhà thơ Bảo Sinh, đốt cả buổi chiều cùng những người bạn vong niên thân thiết ở quán cà phê Nhân! Ông tâm sự rằng: bây giờ đối với ông
cuộc sống hàng ngày là một cuộc rong chơi, “Tôi nghĩ làm gì cũng phải nghỉ, già rồi
thì nên dừng, bởi cuộc đời đâu phải chỉ có văn học, còn bao nhiêu niềm vui hay công việc khác Mặc dầu tôi cũng có rất nhiều vinh quang, hạnh phúc, nhưng xét cho cùng cũng bình thường như mọi người Với lại mỗi người có một thế hệ độc giả, khó nói là những người trẻ sẽ cần tôi, họ cần một tuýp nhà văn khác Mỗi thời một ngôn ngữ riêng của nó” [09/12/2014, trả lời phỏng vấn từ phóng viên Thanh Hà]
Trang 21Chặng đườngsáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Stt Năm sáng tác Tác phẩm Thể loại
Tập hợp một số truyện ngắn và một số đánh giá
về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
và kịch
hiệp
Trang 2217 2012 Vong bướm Kịch bản chèo
1.3.2 Quan niệm sáng tác
Nếu như trước năm 1975 “những ngòi bút chỉ quen với công việc cài hoa kết
lá, vờn mây cho những khuôn khổ có sẵn, cho chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn
mà chúng ta quy chụp cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn” [3;
15] thì sau năm 1975, văn chương Việt Nam đã những bước chuyển mình trong quan
niệm sáng tác: “Xu hướng chung là các nhà văn không muốn tự trói mình vào một
quan niệm đơn giản, cứng nhắc, nhất thành bất biến về hiện thực” [3; 19] Nguyễn
Huy Thiệp là một trong những ngòi bút đi đầu trong phong trào cải cách văn học lúc
bấy giờ với hàng loạt các tác phẩm mang đậm tính “cải cách”, “đổi mới” như: Tướng
về hưu,Không có vua, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Sang sông,Con gái thủy thần v.v Tìm hiểu về cuộc đời và tác phẩm của ông, chúng tôi thấy rằng: Nguyễn Huy
Thiệp luôn không ngừng trăn trở về văn chương, ông không chỉ gửi gắm quan niệm văn chương qua tác phẩm văn học mà còn bộc lộ qua những phát ngôn trực tiếp ngoài đời thường
Vào ngày 12 tháng 02 năm 2016, khi nhà báo Hồng Thanh Quang phỏng vấn Nguyễn Huy Thiệp có hỏi Nguyễn Huy Thiệp suy nghĩ như thế nào về văn chương,
ông đáp rằng: “Theo tôi, văn chương vẫn là một trò chơi phong lưu bậc nhất của con
người, ít nhất về phía tôi, tôi nhận thấy thế Tại vì sao? Tại vì nó là cái gì đấy anh phải nhìn lại nội tâm của mình, nó như thứ rèn luyện bản thân mình Nó là đạo, xác định cho anh con đường đi cho nó đúng đắn hơn, hợp đối với anh Có nhiều đạo lắm, nhưng văn chương nó là đạo và nó khiến cho anh làm văn chương luôn luôn tìm ra được con đường đi hợp với mình” Đối với Nguyễn Huy Thiệp: văn chương là Đạo và kể cả khi
Trang 23đã buông bút, sống cảnh an nhàn, khi được hỏi lại ông vẫn khẳng định như thế: “Vô đạo thì giời cũng bỏ” Ông cho rằng, khi viết bất cứ tác phẩm nào thì mối quan tâm của
mô ̣t nhà văn hiê ̣n đa ̣i phải là những đề tài hiê ̣n đa ̣i , không phải những vấn đề ở đâu xa xôi mà chính những gì gần gũi nhất , hay ta có thể khái quát lại rằng: văn chương là dùng để phản ánh chân thực hiện trạng xã hội, nhân vật trong văn chương cũng nên được khắc hoạ từ góc độ con người xã hội Để thấy rõ hơn điều đó, chúng tôi tìm lại
những dòng tâm sự của của nhà văn trong bài phỏng vấn “Tôi làm tất cả để có vốn sống thực đầy ắp cho nghề viết” thực hiện bởi nhóm phóng viên Thể thao và Văn hoá:
“Thực sự ra viết về li ̣ch sử , về cổ tích viết về những chuyê ̣n tưởng tượng khác cũng là
đề cập đến những vấn đề của cuộc sống hiê ̣n tại mà thôi Tôi không có triết lý nào cả Tôi chỉ hướng tới thiên nhiên Thiên nhiên là điều tuyệt vời nhất (…) Thiên nhiên bao gồm cả con người và cuộc sống Mọi cái Đẹp và sáng tạo, thực ra đều ẩn giấu trong tự nhiên; nhà văn chỉ việc tìm và thấy chúng”
Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp hay thông qua nhân vật để
phát biểu các quan niệm về văn chương, chữ nghĩa Tiêu biểu như tác phẩm Bài học
Tiếng Việt, ông từng chia sẻ trong bài phỏng vấn của phóng viên Vinh Huỳnh rằng một
mặt ông viết về ông vua phóng sự Bắc Kỳ - Vũ Trọng Phụng, nhưng ngoài ra trong đấy
là cả một tư tưởng về tiếng Việt của ông! “Nghệ thuật nói chung, trong đó có văn học,
giống như rượu mạnh hay ma túy (nhiều khi nó có khả năng thay thế rượu mạnh hay
ma túy) là một trong những thứ hiếm hoi ở đời may ra còn tạo được đôi chút khoảng
trống cho cá nhân con người” (Bài học Tiếng Việt)nhưng rồi cũng có những lúc từ
ngữ cũng không thể biểu đạt “trạng thái và ý nghĩa của thứ mà Vũ gọi là "tâm hồn"” Nỗi bất lực của ngôn từ cũng được ông nhắc lại trong truyện ngắn Thương nhớ đồng
quê bằng mấy câu thơ của nhân vật Nhâm:
“Tôi nghĩ Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ
Trang 24Sự bất lực của hình thức biểu đạt
Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất
Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất Những số phận hiu hắt đầy mặt đất Bao tháng ngày trôi đi
Bao kiếp người trôi đi
Sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được”
Và khi đấy, khi một con người quyết theo đuổi vẻ đẹp của ngôn từ, theo nghiệp
cầm bút, cũng là khi họ “bước vào một cõi mà ở đấy, nó không thể nương tựa vào bất
cứ thứ gì, ngoài bản thân nó” (Giọt máu) Bởi mỗi nhà văn, họ lựa cho mình một kiểu
văn chương khác nhau, “Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương
sửa mình, có thứ văn chương trốn đời, trốn việc, lại có thứ văn chương làm loạn”(Giọt
máu) Thông qualời của nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp đem đến cho người đọc một thế
giới đa diện về định nghĩa văn chương Và dù là “thứ văn chương” nào đi chăng nữa thì nó đều có chung một đặc điểm “Văn chương là phải bất chấp hết Ngập trong bùn,
sục tung lên, thoát thành bướm và hoa” (Giọt máu)đó là cả một quá trình đầy mạo
hiểm của một người cầm bút: mang đứa con tinh thần của mình ngập trong bùn, ngập trong bao nhiêu hiện thực xã hội tàn nhẫn, để tìm những chân lí trong đời, sục tung những điều bất công trông thấy, rồi thì văn chương sẽ hoá bướm và hoa Có vô vàn nhà văn trên đời nhưng dễ mấy ai làm được điều đấy, văn chương trong quan niệm của
Nguyễn Huy Thiệp tựa như một cuộc phiêu lưu và “công việc viết văn vốn rất nhọc
nhằn, phức tạp, lại buồn nữa” (Kiếm sắc)
Chúng tôi xin dùng chính lời tâm sự của tác giả Nguyễn Huy Thiệp để tóm lại phần
quan niệm về văn học của ông: “Tôi luôn biết nghề văn đo ̀ i hỏi sự trung thực và tôi vẫn
Trang 25coi nghề viết văn như sự rèn luyê ̣n bản thân vậy Nó là một sự tu dưỡng về đạo đức , về nhân cách, v.v tóm lại là toàn bộ thái độ sống Và tôi mong là người đọc dù đọc tác
phỏng vấn Nguyễn Huy Thiệp: Suy tư về văn học, đài BBC thực hiện) Dù là trong
lời nói của chính mình hay trong lời của nhân vật, quan niệm về văn chương ở ông
luôn bao hàm trong “trung thực” và chấp nhận, tự nguyện dấn thân vào “một khối cô
đơn khổng lồ” (Giọt máu), đòi hỏi người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm
với cuộc đời, với văn chương
Tiểu kết
Bằng tài năng và cái tâm khi cầm bút, Nguyễn Huy Thiệp đã mang đến cho nền văn học nước ta những tác phẩm có giá trị! Từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, từ kịch cho đến các bài viết tiểu luận, phê bình của ông đều mang dấu ấn phong cách rất riêng Nhưng quy tụ lại, cảm nhận sau cùng chúng tôi cảm thấy ẩn sau ngòi bút mang vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn, ẩn sau mỗi trang ông viết là sự trăn trở không ngơi về cuộc đời, con người và cả chữ nghĩa, văn chương
Qua chương 2 và chương 3, chúng tôi sẽ đi vào phân tích làm rõ đặc trưng thi pháp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp – một trong những cây bút nổi bật trong làng văn học thời kỳ đổi mới – qua các khía cạnh: kết cấu, nhân vật, không gian
và thời gian
Trang 26CHƯƠNG 2: THI PHÁP KẾT CẤU VÀ NHÂN VẬT 2.1 Thi pháp kết cấu
2.1.1 Khái niệm thi pháp kết cấu
Kết cấu là một mạng lưới tổ hợp sự kiện, nhân vật, tình tiết, chi tiết, là toàn bộ
tổ chức nghệ thuật của tác phẩm, thể hiện cái nhìn nghệ thuật và ý đồ nghệ thuật của tác giả trong các mối quan hệ đa dạng nhưng thống nhất trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Mỗi tác phẩm văn học đều là một công trình với mục đích phản ánh đời sống và sự cảm nhận của nhà văn vì thế tác giả phải xây dựng nhân vật, xác định không gian, thời gian, chọn lọc, sắp xếp chi tiết kĩ lưỡng Kết cấu tác phẩm được tác giả xây dựng nhằm tạo con đường cho người đọc thâm nhập vào tác phẩm theo cả chiều rộng và chiều sâu câu chuyện qua các phương tiện: hệ thống hình tượng nhân vật, sự kiện và các chi tiết
Có hai kết cấu cơ bản làkết cấu bề mặt và kết cấu bên trong.Kết cấu bề mặt được tạo bởi hai cách Cách thứ nhất là theo thể loại, mỗi thể loại có những khung kết cấu cố
định, chẳng hạn như kịch thì có 5 bước phát triển, thơ Đường Luật có Đề - Thực - Luận
- Kết, văn tế thì có Lung khởi - Thích thực - Ai vãn - Kết luận; cách thứ hai là theo bố
cục, tác phẩm có thể có kết cấu ba phần gồm nêu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết luận,
tác phẩm thơ có thể thể hiện bố cục theo từng khổ thơ, văn xuôi có thể theo từng phần, từng chương, hoặc theo từng giai đoạn trong cuộc đời nhân vật, kịch có thể có kết cấu theo từng hồi, từng cảnh, theo sự phát triển xung đột kịch Về kết cấu bên trong, ta có thể hiểu đây là kiểu kết cấu mang tính sáng tạo của tác giả, xây dựng nên hình thức bên trong độc đáo, đặc thù không lặp lại của tác phẩm Vì thế, kết cấu bên trong không như cái khung kết cấu có tính mặc định như kết cấu bề mặt mà nó mang tính nội dung, tư duy, thẩm mỹ.Đây cũng là kiểu kết cấu được chú trọng hơn cả khi tìm hiểu tác phẩm văn học Hiểu đúng hướng đi của tác giả thì mới đào sâu được giá trị tư tưởng, thẩm
mỹ đích thực của tác phẩm cũng như những sáng tạo nghệ thuật của tác giả Nhà văn
Trang 27càng tích cực, chủ động sáng tạo thì càng làm phong phú thêm các kiểu kết cấu thể hiện trong tác phẩm
2.1.2 Kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
“Kết cấu nghệ thuật của tác phẩm văn học là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố
trong tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật (…) Một kết cấu có giá trị không những làm cho tác phẩm trở thành chỉnh thể mà còn tăng cường tính nghệ thuật của tác phẩm, cũng như góp phần làm sâu sắc hơn tư tưởng, tình cảm, nội dung được bộc lộ trong tác phẩm” [4; 106 – 107] Trong tác phẩm văn chương, kết cấu đóng vai trò quan
trọng quyết định sự thành, bại của tác phẩm Đặc biệt là đối với truyện ngắn, người viết truyện phải khéo chọn lối kể truyện, dẫn dắt mạch truyện theo kết cấu phù hợp nhất nhằm thống nhất giữa nội dung và hình thức tác phẩm, tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn người thưởng thức
Ở những câu chuyện cổ tích, dân gian, câu chuyện thường theo kết cấu dựa vào
trình tự thời gian Điển hình như chuyện Cây tre trăm đốt, Tấm Cám, Ăn khế trả vàng,
mọi sự kiện, hành động nhân vật đều được kể lại theo trình tự trước đến sau theo tuyến
thời gian xảy ra từ “ngày xửa, ngày xưa” cho đến hết truyện Đến những truyện viết
vào thời kỳ trung đại, đa phần cũng đi theo kết cấu này, như chuyện nàng Vũ Nương
trong Người con gái Nam Xương chẳng hạn, còn ở truyện Nôm thường có kiểu kết cấu
theo hai tuyến đối lập tốt – xấu, thiện - ác Đến thời kỳ văn học hiện đại, tác phẩm truyện ngắn ngày càng đa dạng về mặt kết cấu, có nhiều tác phẩm chỉ cần gọi tên là người đọc nhớ ngay kết cấu của tác phẩm đó, có thể kể đến như: kết cấu đầu cuối
tương ứng nổi bật ở tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, kết cấu trùng điệp tạo bởi chi tiết “tiếng sáo” trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, kết cấu đối lập trong tác phẩm
Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn hoặc Bộ ấm chén cổ của Nguyễn Công Hoan
Các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thuộc giai đoạn đổi mới văn học sau năm 1975, ông áp dụng cả những kiểu kết cấu truyền thống lẫn hiện đại vào
Trang 28các tác phẩm của mình Ở phần tìm hiểu về kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi sẽ làm rõ hai dạng kết cấu thường thấy trong các tác phẩm của ông, đó
là: kết cấu tuyến tính và kết cấu tâm lý
2.1.2.1 Kết cấu tuyến tính
Kết cấu tuyến tính là kiểu kết cấu xuất hiện thường xuyên nhất trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.Theo kết cấu này, câu chuyện được trình bày theo thứ tự, phát triển trước sau của thời gian Các sự kiện được sắp xếp, xâu chuỗi lại và lần lượt xuất hiện không bị đứt quãng Ông viết truyện ngắn luôn rất gọn ghẽ, câu văn không chút dài dòng, mạch truyện thường đi theo dòng chuyển của thời gian vật chất, dẫn dắt người đọc đi từ nguyên nhân đến kết quả của vấn đề, kết cấu tuyến tính cũng theo đó
mà hình thành
Trong tác phẩm Sang sông - truyện ngắn được nhiều người đánh giá là mang
nhiều ý nghĩa ẩn bên trong lớp ngôn từ và không phải ai cũng cảm nhận được – là một tác phẩm được viết theo lối kết cấu tuyến tính Mở đầu truyện tác giả viết:
Trang 29đƣợc chèo sang sông, các sự việc liên tục xảy ra trên cho đến khi sang tới bên kia bờ, cho đến khi đò về đến bến:
“Mọi người lần lượt lên bờ
Bóng chiều tan dần Trên đò còn lại nhà sư vẫn ngồi bất động
Chị lái đò dè dặt:
– Bạch thầy! Mời thầy lên bờ
Nhà sư lắc đầu:
– Thôi, tôi nghĩ lại rồi…Cho tôi quay về
Ngần ngừ giây lát, ông lưỡng lự nói:
– Tôi sẽ đi sau
Chị lái đò tần ngần nhìn những vì sao cuối trời:
– Bạch thầy, về bên kia sông con không đi nữa
Nhà sư vui vẻ, cười khẽ:
– Không sao! Muốn đi là được Ngày xưa, đức Bồ Đề Lạt Ma còn sang sông trên một cọng cỏ cơ mà…
Chiếc đò quay về bến cũ.Bóng chị lái đò và nhà sư nổi bật ở trên dòng sông phẳng lặng.Trăng lên, tiếng chuông ngân nga êm đềm Nhà sư thầm thì đọc câu thần chú: – Gate gate! Para gate! Para para san gate!”
(Sang sông)
Trang 30Câu chuyện vỏn vẹn trong một chuyến đò ngang, bắt đầu từ lúc rời bờ bên đây rồi chèo đến bến đầu kia, kết cấu câu chuyện trông có vẻ không có gì đặc sắc nhưng lại
có khả năng gợi cho người đọc liên tưởng tới hành trình của một đời người, trong cuộc hành trình đó có biết bao điều bất ngờ có thể xảy ra: là những con người vẻ ngoài đạo mạo nhưng bản chất lại là kẻ xấu xa, sống bằng nghề trộm cướp; là những người bị người đời mặc định là kẻ xấu, chẳng ra gì nhưng có khi chỉ có họ là dám làm những điều thuộc về lẽ phải, là cuộc hành trình khắc khoải đi tìm Chân – Thiện – Mỹ ở đời,
để rồi nhận ra có rất nhiều những điều nghĩ dễ hơn làm
Đặc biệt hơn là kết cấu tuyến tính trong hai truyện ngắn mang yếu tố lịch sử:
Kiếm sắc và Vàng lửa; hai câu chuyện cũng được Nguyễn Huy Thiệp mở đầu một
cách bao quát, ngắn gọn nhất, trực tiếp đi thẳng vào vấn đề: “Trong số người gần gũi
với Thế tổ Nguyễn Phúc Ánh những năm mưu phục lại cơ đồ nhà Nguyễn có một hào
kiệt mà không sử sách nào nhắc đến Người đó là Ðặng Phú Lân” (Kiếm sắc); “Năm
1802, Nguyễn Phúc ánh chiếm Thăng Long, lên ngôi vua, đặt tên hiệu là Gia Long Bên cạnh nhà vua có vài người châu Âu giúp việc Trong số ấy có một người Pháp tên
là Phrăngxoa Pơriê do chính giám mục Pi nhô đờ Bê hen (Bá Đa Lộc) tiến cử Nhà
vua thường gọi y là Phăng” (Vàng lửa).Nhưngsẽ không có gì lạ nếu tác giả tiếp tục
dẫn dắt sự việc xảy ra với nhân vật và kết thúc câu chuyện bằng cái kết của nhân vật một cách rõ ràng, Nguyễn Huy Thiệp lựa chọn kiểu kết thúc mở hoặc đưa ra nhiều kết
thúc, cụ thể: ở truyện Kiếm sắc, thay vì kết thúc ở đoạn “Khi Lân đến được Thăng
Long thì Nguyễn Ánh đã vào thành rồi Quân Ánh đi như nước lụt, Lân như cÁnh bèo
bị sóng cuốn trôi Thâm tâm Lân cũng chẳng biết nên vui hay buồn, chỉ thấy trong lòng cảm động.Lân gặp Ánh xin chịu tội vì không làm được việc.(…)Nghe nói Nguyễn Ánh
đã sai đao phủ dùng thanh kiếm gia truyền của Lân để chém đầu Lân.Khi chém đầu,
máu phun ra không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại.”(Kiếm sắc) thì
Nguyễn Huy Thiệp thêm vào truyện một đoạn kết với nội dung rằng: ở Ðà Bắc, đến Tu
Lý ở trong nhà một người Mường Chủ nhà tên là Quách Ngọc Minh cho biết tổ tiên
Trang 31ông là người Kinh: tổ phụ tên là Ðặng Phú Lân, có vợ tên là Ngô Thị Vinh Hoa vốn là một ca nữ, hai người trốn vua lên Ðà Bắc, giả làm người Mường, về sau lập trại, sinh con đẻ cái ở đây – khiến người đọc dù đã khép quyển truyện lại vẫn không ngừng trăn trở về câu chuyện vừa xem
Còn trong truyện ngắn Vàng lửa, Nguyễn Huy Thiệp đưa ra lí do: “Hồi ký của
người Bồ Đào Nha vô danh không viết gì thêm Tôi, người viết chuyện này đã cất công
đi tìm các thư tịch cổ và hỏí han nhiều bậc bô lão Không có tài liệu gì và cũng không
ai biết gì về thung lũng Quạ hoặc chuyện của những người châu âu thời vua Gia Long
Mọi cố gắng của tôi trong nhiều năm nay vô hiệu.” (Vàng lửa) và viết hẳnba kết thúc
khác nhau cho câu chuyện: đoạn kết 1: vua Gia Long sau hai năm trao quyền hành trông coi thung lũng Qụa cho Phăng thì một hôm lại quyết định đầu độc chết hắn; đoạn
kết 2: sau khi may mắn thoát khỏi biển lửa, Phăng được vua Gia Long cho mang theo
Vũ Thị và một số vàng lớn hồi hương,về Pháp, ông lập một ngân hàng và sống sung
sướng đến già; đoạn kết 3: tất cả người của đoàn tìm vàng bị giết chết, vua Gia Long
xung toàn bộ số vàng vào quốc khố và bản thân ông sống ẩn trong cung đình, không muốn người đời biết được mối quan hệ của nhà vua với người châu Âu Với cách kết thúc mở, Nguyễn Huy Thiệp chuyển vấn đề lại cho người đọc, điều này vừa khiến câu chuyện tăng sức hấp dẫn vừa tạo cho người đọc nhiều suy nghĩ trăn trở, tất cả điều đó tạo nên sự đặc biệt trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.1.2.2 Kết cấu tâm lý
Kết cấu tâm lý là hình thức kết cấu dựa theo qui luật phát triển tâm lí của các nhân vật trong tác phẩm Loại kết cấu này xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các trào lưu văn học khẳng định vai trò của cá nhân trong xã hội Kết cấu này thường dựa vào trạng thái tâm lí có ý nghĩa nào đó để sắp xếp các sự kiện, nhân vật, cốt truyện Trong
các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Không có vualà tác phẩm có kết cấu tâm lý
dễ nhận thấy nhất.Câu chuyện này được phân ra thành bảy phần: 1 Gia cảnh; 2 Buổi
Trang 32sáng; 3 Ngày giỗ; 4 Buổi chiều; 5 Ngày tết; 6 Buổi tối và 7 Ngày thường – tất cả xoay quanh các nhân vật và hoạt động xảy ra trong gia đình ông Kiên từ khi có Sinh – vừa là cô con dâu mới vừa là người phụ nữ duy nhất đến nhà ông sinh sống Điều thú
vị là dù ta đọc câu chuyệntheo kiểu tách rời từng phần thì ở mỗi phần đó đều truyền tải nội dung rõ ràng và có thể hiểu được – chúng hoàn toàn có thể là những câu chuyện riêng biệt, có tựa đề rõ ràng Nhưng khi ta ghép bảy phần lại với nhau như ban đầu và đọc, thì câu chuyện lúc này là một chuỗi dài diễn biến, các sự việc đan kết vào nhau, không tuân theo trật tự thời gian mà là viết theo những ngày, khoảnh khắc xảy ra các tình tiết mang tính vấn đề Nhờ kiểu cấu trúc theo diễn biến tâm trạng nhân vật, tác giả thành công trong việc dẫn dắt người đọc cảm nhận sự tan rã tình thân, bản chất hai mặt trong từng con người thuộc một gia đình ở thành thị
Hoặc như trong tác phẩm Cún cũng thế, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng câu
chuyện mở đầu phần hai là hình ảnh nhân vật Cún đang đối diện với cái chết “Cún biết cái chết sẽ đến với Cún chỉ vài phút nữa Chân Cún đã lạnh, cái lạnh từ chân cứ thế ngược lên, bao giờ cái lạnh ngấm đến đỉnh đầu là hết, là vĩnh biệt con người, vĩnh biệt
cuộc sống” (Cún), sau đó dẫn dắt lại câu chuyện hơn chục năm về trước, cái ngày mà
Cún cũng lạnh lẽo, đau đớn vì lạnh, vì đói, nhưng khi đó, may mắn rằng có một người đàn ông cứu Cún thoát chết, để rồi Cún trở thành ăn mày, gặp cô hàng xén tên Diệu, rồi Cún biết yêu và từ đó bao nỗi đắng cay cũng đổ lên đời Cún Và khi ta ghép cả ba phần câu chuyện lại với nhau theo đúng kết cấu, tính vấn đề liền hiện rõ: đứa con trai của Cún – “con chó” ăn mày, người nhưng chưa bao giờ được thừa nhận là con người- với
cô Diệu trẻ trung xinh đẹp nhưng tham lam, ghê tởm (sẵn sàng hi sinh thân thể ngủ với Cún để chiếm nấy đồng vàng lão ăn mày để lại cho Cún), lớn lên đứa bé đó lại là “nhà
nghiên cứu văn học K, đẹp trai, thông minh” nghiên cứu lý luận văn học có tiếng (Cún).Câu chuyện ngắn, nhưng lại luôn khiến người đọc cảm thấy rợn người, nhưng
càng rợn người lại càng khó dứt ra, bao thế hệ người yêu văn chương tìm đọc, và lại
Trang 33say sưa bàn tán về sự độc đáo, những vấn đề phía sau câu chuyện tưởng chừng giản
đơn của Nguyễn Huy Thiệp
2.2 Thi pháp nhân vật
2.2.1 Khái niệm về thi pháp nhân vật
Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học Qua sự sáng tạo, hư cấu của tác giả, các nhân vật được hình thành để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ với cuộc sống: ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời Tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu đời và con người, tìm hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả đối với con người, cũng chính là ta tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật hay quan niệm nghệ thuật về con người mà tác giả
Theo thực tế có hai quan niệm về con người: thứ nhất là xem như một phạm trù tư tưởng, chính trị, đạo đức, xã hội; quan niệm thứ hai xem con người như một phạm trù thẩm mĩ Trong việc học và nghiên cứu văn học, khi phân tích nhân vật, hình tượng không nên chỉ quan tâm ở mặt tính cách theo những khung chuẩn của các tiêu chí xã hội, đạo đức mà cần thiết hơn cả là phân tích, khám phá: nhà văn đã xây dựng hình tượng theo quan điểm nào, cái nhìn nào, những điểm nhìn nào, tiêu chí tư tưởng và thẩm mỹ nào, nhắm tới mục tiêu sáng tạo nào? Khi quan niệm về nghệ thuật không ngừng được mở rộng thì nhà văn càng có nhiều khả năng miêu tả chiều sâu và sự phong phú của nhân vật, cũng gọi là khả năng cảm nhận về con người của nhà văn Văn học càng phát triển, tính cách nhân vật càng có chiều hướng phức tạp xuất hiện ngày càng nhiều các nhân vật có tính cách đa dạng, phức tạp, như Ví dụ như các nhân vật trong truyện cổ tích nhân gian như Tấm, Cám…là nhân vật có tính cách một chiều, họ chỉ có hành động, không có tâm lí; đến các nhân vật trong tiểu thuyết bắt đầu xuất hiện nhân vật có tính cách đa chiều, phức tạp, chẳng hạn như nhân vật
Jean Valjean trong tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo; sau đó nữa là
kiểu nhân vật tâm lý, giằng xé nội tâm, tính cách phức tạp như nhân vật Chí Phèo trong
Trang 34tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao Nghiên cứu thi pháp nhân vật giúp ta khám
phá cách cảm nhận con người của nhà văn, giúp việc phân tích nhân vật sâu sắc, toàn diện hơn
2.2.2 Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Thời kỳ văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975, các tác phẩm hầu hết đều viết và ca ngợi những nhân vật có phẩm chất tốt đẹp, khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, đáp ứng yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng Đến thời kỳ sau năm 1975, những chuyển biến của đời sống xã hội, văn hoá, tư tưởng dẫn đến sự thay đổi trong nhu cầu và quan niệm thẩm mỹ của con người, đòi hỏi văn học cũng cần phải có sự chuyển mình, đổi mới Các nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là minh chứng rõ nét cho sự cải cách trong việc lựa chọn nhân vật đưa vào tác phẩm sau năm 1975, cácnhân vật trong tác phẩm của ông không phải là những con ngườithập toàn, thập mỹ nữa Nguyễn Huy Thiệp khắc hoạ con người với những lúc đứng giữa ranh giới mong manh của cái xấu và cái tốt, ông khéo léo vạch trần bao sự phức tạp: đốn mạt, xấu xa, hèn kém, suy đồi, đan cài với cả những
sự tốt đẹp tồn tại trong cùng một bản thể Chúng tôi chọn hai nhóm nhân vật: nhân vật đời thường và nhân vật lịch sử trong truyện ngắn của ông để phân tích những nét đặc trưng
2.2.2.1 Nhân vật đời thường
Những nhân vật đời thường trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, họ có thể
là người quanh năm sinh sống ở nông thôn, hoặc là những con người sống nơi thành thị, hoặc từ thành thị về chốn nông thôn, từ chiến trường trở lại hậu phương, là con người có ăn học, chức vị hoặc người làm công, buôn bán Chỉ riêng nhóm nhân vật đời thường, ông đã dựng nên bao kiểu người: những con người rất thực, có mặt tốt và không thiếu những mặt xấu xa, thực dụng…
Trang 35Đầu tiên là những con người ở vùng nông thôn, khi nghĩ đến họ, ta thường liên tưởng ngay đến những người nông dân tay lấm, chân bùn, thật thà, chất phác Nhưng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, ta bắt gặp ở nơi nông thôn đấy tồn tại đủ dạng người: thuần phác, rụt rè, những kẻ côn đồ, hung tợn, những con người tha hoá
Ở tác phẩm Thương nhớ đồng quê, Nguyễn Huy Thiệp mượn những lời độc
thoại nội tâm của cậu bé Nhâm để viết: “Tôi sinh ở làng quê, lớn lên ở làng quê” Nhâm mới là một cậu trai 17 tuổi, mới lớn, cái tuổi “mơ mộng lắm, hay nghĩ”, ở Nhâm toát ra những nét đáng yêu của một cậu bé vùng thôn quê “Tôi lấy chiếc áo mới ra
mặc, nhưng thấy ngượng nên thôi”, pha lẫn sự cần mẫn lao động: gánh hàng chục gánh
lúa chẳng than phiền trên con đường trời nắng bốn mươi độ Nhân vật Nhâm có vẻ hồn nhiên trẻ thơ, nhưng lại mang cả sự tinh tế, quan tâm từng người một xung quanh
mình: “Cái Minh em tôi người nhỏ quắt, đen đúa nhưng mắt sáng, lại dai sức”, “Mẹ
tôi vẫn hay chan cơm nước mưa ăn với cà muối Mẹ tôi không ăn được thịt mỡ”, “Dì Lưu nằm nghiêng tựa lưng vào tường Lúc nào dì Lưu cũng nằm như thế đã sáu năm nay”, “Cái Mị cùng tuổi cái Minh em tôi nhưng cái Mị trắng hơn, đậm người hơn (…) con bé rất thảo, nó suốt đời mặc quần áo vá, nó bao giờ cũng dành cho tôi những quà ngon nhất.”hay “Ðàn ông quê tôi phiêu lưu, lại nhiều ảo tưởng, họ ôm ấp ước mơ làm giàu nên hay bỏ ra ngoài thành phố tìm việc, đi buôn bán Cũng có người lặn lội vào tận miền trong đào vàng, đào hồng ngọc.Giàu có chẳng thấy đâu nhưng khi về làng,
tính tình họ đổi khác, họ trở nên những con thú dữ độc” (Thương nhớ đồng quê).Đời
sống của Nhâm giản đơn như cách Nhâm giới thiệu về mình, và cũng có những lúc Nhâm suy tư về tất cả những gì cậu quan sát thấy:
“Ai nhặt cho tôi buổi sáng mai này Nhặt được ánh hoang vắng trong mắt em gái tôi Nhặt được sợi tóc bạc trên đầu mẹ tôi
Nhặt được niềm hy vọng hão huyền trong lòng chị dâu tôi
Trang 36Và nhặt được mùi vị nghèo nàn trên cánh đồng quê Tôi rốt ráo bắn tỉa từng ý nghĩ”
(Thương nhớ đồng quê)
Tâm hồn cậu ẩn chứa những nét tinh tế trái ngược với sự khô cằn của cánh đồng
quê, đủ để Nhâm cảm nhận được những khoảng lặng vô bờ “Trong lòng tôi trỗng hoác,
rỗng lắm, một khoảng rỗng không” trước một cảnh chiều buông, hay buồn cho chính
số phận mình “Tôi, thân phận tôi, ở đâu người ta cũng nhận là kẻ làm thuê, làm
mướn” (Thương nhớ đồng quê)
Qua lời độc thoại của Nhâm, chúng tôi còn thấy hiện lên hình ảnh ông Giáo Quỳ
“dạy cấp một, tính thương người, hay đọc sách từ nhỏ”, khi đọc những dòng đầu,
những tưởng đây là một ông giáo “chuẩn gương mẫu”, nhất là khi nghe ông bảo “Ðọc
sách để có tri thức Có tri thức để sống đời mình có nghĩa”, nhưng đọc tiếp ta mới thấy
đây là một ông giáo làng rất ngộ đời Ông ngộ từ cái cách đi dạy “Ông giáo Quỳ về sau
bị đuổi việc vì dạy trẻ con không chịu dạy theo sách giáo khoa, cứ tục ngữ ca dao mà dạy”, rồi ngộ ở cả cái cách thương người “đi chấm thi ở Hải Phòng, thấy cô gái giang
hồ đang bụng mang dạ chửa không có nơi sinh nở thì đưa về làm vợ hai”, chưa dừng ở
đấy, ông biết vợ hai phong lưu thành tinh, chẳng những không can mà còn dạy vợ mình
“Cô ngủ với ai thì nhớ đòi tiền, không có tiền thì lấy thóc hay lấy lợn vịt thế nào chứ
đừng ngủ không” (Thương nhớ đồng quê)
Cả làng cười ông, ông cũng mặc kệ, ông rước vợ hai về, bà vợ cả cũng không ghen tuông, may mắn cho ông vì ông có bà vợ “tâm đắc”, sống với ông tuân thủ cả bốn điều “Lấy tôi thì đừng sợ nghèo là một, đừng sợ nhục là hai, đừng ghen tuông là ba, phải trọng liêm sỉ là bốn”.Nhìn lời nói và hành động của ông giáo tưởng chừng như trái ngoáy nhau, nhưng ngẫm kỹ càng ta lại thấy khác: ông không dạy theo sách giáo khoa – những lý thuyết thô cứng, mà dùng ca dao tục ngữ - vốn đúc kết từ kinh nghiệm thực
Trang 37tế của người đi trước để làm nội dung gõ đầu trẻ; ông bảo phải trọng liêm sỉ, nhưng lại
đi rước một cô gái ăn sương, có thai với người khác về cho làm vợ hẳn hoi, còn cấp tiền cho cô cất nhà riêng, dạy cô vợ ngủ với ai là phải đòi tiền, dạy vợ kiểu ngược đời đấy rồi đi uống rượu, ngâm thơ – bản chất hành động của ông là do thương người mới quyết định cưu mang một người đàn bà giang hồ, ông không phải vì ham sắc mà lấy thêm bà vợ lẻ, lấy về còn cho vợ tiếp tục hành nghề không công, là vợ nhưng thực ra cũng không phải vợ Một ông giáo sống vô tư, suy nghĩ và hành động không hề bị trói
buộc bởi những điều xưa cũ, bởi ông quan niệm rằng “Ðừng nghĩ đến lợi, nghĩ đến lợi
nhọc mình” (Thương nhớ đồng quê)
Hay những con người ở xóm Nhài bên dòng sông Canh qua lời kể của nhân
vật “Tôi” tên Hiếu – vốn là người thành phố Hiếu trải qua kỳ nghỉ hè cùng gia đình
Lâm, bữa cơm nhà Lâm là không phải bữa cơm kiểu cả gia đình xôm tụ cùng nhau, mà
là “Chị Hiên dọn hai mâm cơm Mâm bưng lên hè dành cho hai bố con Lâm và tôi
Mâm bày ở sân dành cho bà Lâm, mẹ Lâm, chị Hiên, cái Khanh với thằng Tiến Canh cua nấu rau dút, cà pháo, tôm rang… Mâm của chúng tôi thêm vài củ lạc và hai quả ổi
xanh cho bố Lâm uống rượu”(Những bài học nông thôn) Mâm bưng lên hè và mâm
bày ở sân – hình ảnh quen thuộc trong xã hội phong kiến trọng nam hơn nữ, dẫu mâm bưng lên cũng chỉ hơn vài củ lạc và hai quả ổi Đã thế, gia đình Lâm dường như cũng không thấy ngại ngùng gì khi người bà – lớn tuổi nhất nhà lại ngồi mâm dưới, con trai
bà cùng vị khách mười bảy tuổi lại ngồi mâm trên Có lẽ ở làng quê, gia đình nào cũng
có hai mâm cơm trên và dưới như thế chứ không riêng gì gia đình Lâm, trong đời sống tồn tại đầy những điều hủ tục, những điều phi lý, người ta gọi đấy là chuyện bình thường, chuyện đúng đắn phải thế, cho dù thấy không đúng đi chăng nữa thì tất cả nỗi bất bình cũng hoá thành tiếng thở dài, nói một cách dí dỏm như bà cụ Lâm khi bà bảo
cái Khanh ăn thêm cơm thì “ăn đi con ạ Đàn ông nó chẳng thương mình đâu Rượu
thì nó ngồi mâm trên Ngủ thì nó đè lên mình” (Những bài học nông thôn) Trong
những người ở gia đình Lâm, Hiếu thấy những điều bình lặng của họ: là tiếng thở dài
Trang 38lúc tuổi tám mươi của bà cụ Lâm, hay “khuôn mặt sạm đen, vất vả, nhưng không buồn
tý nào, bình thản, vô sự” ở bố Lâm, rồi chị dâu Lâm – chị Hiên “ở nhà quê sợ nhất là
buồn chán Công việc chẳng sợ Nhiều khi buồn chán quá, người cứ bã ra” (Những
bài học nông thôn) Trái ngược với những người trong gia đình Lâm là thầy giáo
Triệu, “chỉ khoảng trên ba mươi tuổi, người gầy gò, điệu bộ như kẻ chán đời”, nhưng
Triệu nói toàn những lời lẽ nghe rất cao siêu, bàn từ chuyện đàn bà, con gái đi lấy chồng “Thế là đàn bà không ra gì Nhưng đàn ông cũng nhiều người không ra gì Lấy chồng phải anh nghèo, bất tài mà lại cao thượng thì hãi lắm Nó làm tan nát đời người đàn bà như bỡn”, cho đến “Lòng cao thượng chỉ dành cho nhà chính trị Chính trị mà không cao thượng thì hãi lắm, chính trị là chỗ người ta nhìn vào để yên tâm sống”, hoặc như Triệu truyền lại kinh nghiệm nhắc nhở Hiếu sống ở đời đừng chọn nghề văn
bởi thế nào cũng bị người đời nguyền rủa, Triệu bảo “tôi nói là nhân dân ấy, cần một
thứ còn hơn cả tri thức nữa: sự bình ổn để sống tự nhiên hài hòa Tuổi già cũng cần tri thức nhưng ở dạng khác, đấy là tôn giáo Khái niệm nhân dân của tôi không có trẻ
con, người già ở tuổi cường tráng, bản thân đời sống nhân dân là tri thức rồi”
(Những bài học nông thôn) Ở Triệu, ta thấy có sự khác hẳn trong tư tưởng, Triệu có
học vấn, dám nghĩ, và dám nói: “Họ sống như kiến cả thôi, xắng xở, loanh quanh, kiếm
ăn chẳng được là bao (…) Dân chúng nhẹ dạ nông nổi cũng như thế đấy Các nhà chính trị, các thiên tài là kẻ có khả năng xô dạt dân chúng về cả một phía Dân chúng cầu lợi Chỉ cần tí lợi là họ sẽ a dua nhau bu đến Họ không biết rằng điều ấy chất chứa toàn bộ sự vô nghĩa trong đời sống của họ Họ sinh ra, hoạt động, kiếm ăn, cứ dạt chỗ nọ rồi dạt chỗ kia mà chẳng tự định hướng cho mình gì cả Chỉ đến khi nào dân chúng hiểu rằng không được cầu lợi, mà có cầu lợi thì cũng chẳng ai cho, người ta chỉ hứa hẹn suông để bịp bợm thôi, thảng hoặc có cho thì cho rất ít, lợi bất cập hại Lợi phải do chính dân chúng tạo ra bằng sức lao động của mình Họ cần hiểu rằng phải cầu một thứ cao hơn thế nữa, đấy là giá trị chân chính cho toàn bộ cuộc sống của
mình, quyền được tự mình định đoạt cuộc sống, tóm lại là tự do” (Những bài học
Trang 39nông thôn) Triệu có những nét tự ông giáo Quỳ, mang trong mình những nét tính cách
và suy nghĩ ngược với cách nghĩ của người thôn quê, vốn sống an phận, thủ thường Nhưng nếu ông Quỳ chọn cách sống uống rượu ngâm thơ, phó mặc người đời cười cợt thì anh giáo Triệu – thà rằng không gặp một chàng trai tên Hiếu từ thành phố xuống quê, để trút hết những điều tân tiến, trái ngoáy sự thường chốn làng quê để rồi buồn bã
bảo rằng “Hiếu này! Chú đừng nghe tôi Tôi nông cạn và sai lầm lắm Mẹ tôi là nông
dân, còn tôi sinh ở nông thôn” (Những bài học nông thôn) Cái kết đau lòng và có
phần nhẫn tâm mà Nguyễn Huy Thiệp dành cho Triệu: “Con trâu lao thẳng vào người
anh Triệu với một sức mạnh kinh người Tôi thấy anh Triệu như bị đôi sừng của nó nhấc bổng lên cao Anh Triệu chết ngay trước mặt tôi Đầu anh ngật sang một bên,
máu ộc ra đầy miệng, gan ruột lòng thòng Con trâu điên thản nhiên gặm cỏ ở bên”
(Những bài học nông thôn) đối với Triệu – người tự nhận mình sinh ra ở nông thôn,
nhưng sự thật thì “Bố mẹ anh ở Hà Nội, bố anh là bộ trưởng, mẹ anh sinh ra trong một
gia đình trí thức tiếng tăm Anh sống độc thân, đã ở làng này chín năm, anh chẳng bao
giờ về thăm gia đình mình ở thành phố” (Những bài học nông thôn) mà nói, cái chết
này cũng như một sự giải thoát! Ít ra, cái chết khi cứu em Lâm của Triệu cũng không phải là vô ích, người dân trong làng vẫn nhớ đến anh:
“Người ta phải cảm ơn anh, người thầy giáo nông thôn Anh là người khai hóa vĩ đại của nhân dân tôi
Đây mới là kiến thức tinh khiết Cho dù nó vừa thô sơ, vừa sai lầm, lại vừa ấu trĩ nữa”
(Những bài học nông thôn) Hay ta nói đến Chương, chàng trai trong câu chuyện Con gái thuỷ thần, “Nhà
tôi làm ruộng, đào đá ong và làm thêm nghề lột giang đan mũ”, lời văn ngắn gọn xúc
tích – nét đặc trưng trong cách viết của Nguyễn Huy Thiệp – vừa là lời giới thiệu về
Trang 40gia đình, vừa như nhắc đến vòng tròn việc làm một ngày không ngơi tay trong gia đình
Chương Chương tự nhận rằng “Tôi là một thanh niên nông dân ngu độn, trong lòng
đầy những tình cảm thương người vụn vặt, vừa duy tâm, vừa siêu hình, lại tầm thường nữa Tôi chưa biết khinh rẻ bản thân, cũng chưa biết khinh rẻ học vấn Tôi chưa biết
cách thương mình” (Con gái thuỷ thần) Cả đời Chương bị ám ảnh và theo đuổi giấc
mơ tìm ra bóng hình thật sự của Mẹ Cả Chương rời bỏ làng quê, đi tìm cho mình Con gái của thuỷ thần, Chương gặp những người con gái tên Phượng – ngờ ngợ chính là Mẹ
cả, Chương mừng rỡ vì ngỡ đã tìm ra, rồi lại thấy không đúng vì ở họ chỉ sở hữu vài
mảnh nhỏ nét tính cách không trọn vẹn, rồi chàng lại mải mê đi tìm, bởi “trái tim tôi
thuộc về nàng, thuộc về Mẹ Cả, thuộc về Con gái thuỷ thần” và bởiMẹ Cảtrong suy
nghĩ của Chương là“ảnh hình của một điều gì đó hơn cả người con gái, hơn cả người
đàn bà Nó là ảnh hình của một nửa thế giới bên trên hoặc bên dưới tôi, của thượng
giới và trần gian” (Con gái thuỷ thần) Chương kiệt sức trên con đường mình đã chọn,
Chương mải mê tìm, dù đã nghe tường tận câu chuyện cách mà “lão già” cha Đô Thi
bịa ra con gái thuỷ thần, để rồi bao sóng gió cuộc đời khiến Chương dần biến chất,
“Tôi phải nhận rằng trong khát vọng tìm kiếm cuộc sống của tôi hẳn có ẩn chứa một
con quỷ dữ đã thiếp ngủ có lẽ hàng thế kỷ Nó ích kỷ, cô đơn, bị làm nhục, nó hoài nghi
đủ thứ, dè chừng đủ thứ, vụ lợi và dê hèn ( ) Nó giết chết những khát vọng mong muốn cao thượng tử tế trong tôi để duy trì cuộc sống chính nó, trong xác thân phàm
tục” (Con gái thuỷ thần)
Đấy là những con người ở nông thôn, những con người sống trong cảnh lam lũ, nghèo khổ, cũng có những con người dần biến chất, nhưng ở họ, đa phần đều mang một tâm hồn đẹp đẽ Đọc những dòng văn về cuộc sống lắm cay đắng của họ, ta không tránh khỏi nỗi buồn lòng thương xót! Cảm giác đó hoàn toàn khác hẳn khi ta nhắc đến thế giới nhân vật sống ở vùng thành thị trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đó là những con người trong gia đình ông Tướng về hưu, gia đình lão Kiền, đến cặp đôi khác
người “Cô Diệu bán hàng ở chợ, người lúc nào cũng thơm nức nước hoa, băng phiến”