Nhìn chung, các tác giả đều khẳng định Hình t-ợng tác giả là sự biểu hiện của tác giả trong tác phẩm của mình, cũng giống nh- hình t-ợng nhân vật nh-ng theo một nguyên tắc khác hẳn.. Có
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng Đại học Vinh
Trang 2Lời cảm ơn
Luận văn đ-ợc thực hiện và hoàn thành d-ới sự h-ớng dẫn của TS Bịên Minh Điền Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Biện Minh Điền, ng-ời thầy giáo đã dành nhiều thời gian và tâm huyết giúp đỡ tôi hoàn thành công trình; Xin chân thành cảm ơn các GS, PGS, TS trong Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ; các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, khoa đào tạo Sau Đại học Tr-ờng Đại học Vinh đã dạy bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và bảo vệ luận văn; Cảm
ơn Ban giám hiệu cùng đồng nghiệp tr-ờng THPT Phan Đình Phùng đã tạo điều kiện về thời gian giúp tôi hoàn thành luận văn
Vinh, ngày 17 tháng 12 năm 2002
Tác giả
Trang 3Mục lục
Trang
3 Đối t-ợng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn của đề tài 4
Ch-ơng 1 Hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng 6
1.1 Khái niệm hình t-ợng tác giả và tính loại hình của hình t-ợng tác
giả trong thơ Trần Tế X-ơng
6
1.1.2 Các ph-ơng diện biểu hiện cơ bản của hình t-ợng tác giả trong
sáng tác của một nhà văn
7
1.2 Đặc điểm loại hình của hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng 12 1.2.1 Từ đặc tr-ng loại hình của hình t-ợng tác giả trong thơ trung đại 12 1.2.2 Đến đặc tr-ng loại hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng 19
1.3 Đặc tr-ng hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng 21
1.3.2 Cái nhìn nghệ thuật của Trần Tế X-ơng 28 1.3.3 Nhà thơ trào phúng - trữ tình với một giọng điệu riêng 33 1.3.4 Hình t-ợng một nhà Nho tài tử thất thế và tính chất chuyển
tiếp của một kiểu tác giả
41
Trang 4Ch-¬ng 2 H×nh t-îng thÕ giíi
(Hay lµ bøc tranh thÕ sù, nh©n t×nh trong th¬ TrÇn TÕ X-¬ng) 44
2.1 ThÕ giíi nh©n vËt - con ng-êi trong th¬ TrÇn TÕ X-¬ng 44
2.2 Kh«ng gian, thêi gian nghÖ thuËt trong th¬ TrÇn TÕ X-¬ng 63
3.2 ThÓ th¬ vµ nghÖ thuËt tæ chøc c©u th¬, bµi th¬ cña TrÇn TÕ X-¬ng 94
Trang 5Mở đầu
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1 Trần Tế X-ơng là một hiện t-ợng độc đáo trong lịch sử văn học
dân tộc, một hiện t-ợng thơ vừa rất truyền thống lại vừa mang ý nghĩa hiện
đại Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu tìm hiểu Trần Tế X-ơng là nhu cầu vừa cấp thiết vừa lâu dài
Mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về Trần Tế X-ơng, song ch-a có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu thơ Trần Tế X-ơng nh- một hệ thống nghệ thuật mang tính chỉnh thể Luận văn chúng
tôi đi vào nghiên cứu một vấn đề hết sức cơ bản - Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng nhằm có thể đáp ứng yêu cầu trên
1.2 Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng là một thế giới nghệ thuật
độc đáo Nghiên cứu vấn đề này đòi hỏi ng-ời nghiên cứu phải có sự tiếp cận thơ văn Trần Tế X-ơng từ nhiều góc độ, nhất là từ góc độ thi pháp học - một h-ớng tiếp cận đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, và điều quan trọng là, nó có khả năng mở ra những triển vọng mới trong tiếp cận, chiếm lĩnh đối t-ợng nghiên cứu Đi theo ph-ơng h-ớng này, luận văn hy vọng sẽ có đ-ợc cái nhìn mới mang ý nghĩa khoa học về Trần Tế X-ơng
1.3.Trần Tế X-ơng không chỉ có vị trí quan trọng trong lịch sử văn
học dân tộc mà còn có vị trí quan trọng trong ch-ơng trình văn học ở học
đ-ờng Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi còn nhằm mục đích góp phần vào việc nâng cao chất l-ợng giảng dạy thơ văn Trần Tế X-ơng ở nhà tr-ờng THPT hiện nay đ-ợc tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Tú X-ơng trên lịch trình nghiên cứu gần một thế kỷ qua
Khảo l-ợc lịch trình nghiên cứu về thơ văn Trần Tế X-ơng gần một thế kỷ qua chúng tôi thấy, cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 50 công trình và bài viết Nhìn chung, giai đoạn tr-ớc và sau năm 1945, thơ văn Tú X-ơng hầu nh- ch-a có vị trí đáng kể đối với giới nghiên cứu, ngay cả việc s-u tầm, giới thiệu về thơ văn Tú X-ơng vẫn còn tản mạn, sơ l-ợc Một mặt, do Tú X-ơng còn là một hiện t-ợng văn học mới lạ ch-a đ-ợc chú ý
đúng mức, mặt khác do một thời gian dài, giới nghiên cứu chịu ảnh h-ởng
Trang 6khá nặng nề của ph-ơng pháp xã hội học nên đã phần nào dung tục hoá những giá trị đích thực của thơ văn ông Tuy nhiên, việc nghiên cứu thơ Tú X-ơng thực sự phát triển mạnh cả về số l-ợng lẫn chất l-ợng kể từ sau
1954 Đặc biệt, b-ớc sang giai đoạn 1975 đến nay, khi đất n-ớc đã thống nhất, giới nghiên cứu mới thực sự chú ý và đổi mới cách nhìn đối với hiện t-ợng thơ Tú X-ơng
2.2 Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng có bao nhiêu điều thú vị,
nh- một kiến trúc nghệ thuật sắc nét và tạo dựng phong phú, công phu Nhìn chung, các công trình, bài viết cũng đã phần nào thể hiện cái nhìn
đáng trân trọng và có những khám phá, kiến giải khá sắc sảo về thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng trên một số ph-ơng diện
Chẳng hạn, về vấn đề con ng-ời trong thơ Trần Tế X-ơng,Trần Thanh Mại nhận thấy: "Tú X-ơng đã dựng lên trong thơ văn mình những con ng-ời mang nét điển hình khá rõ để nói lên tất cả những cái rác r-ởi, những cái giơ dáy, bẩn thỉu của một xã hội, của một thời đại đặc biệt quái gỡ " [37, 77] Có thể coi Trần Tế X-ơng là nhà thơ chuyển tiếp từ nền văn học có tính chất thuần phong kiến sang nền văn học b-ớc đầu có tính chất thành thị theo lối t- bản chủ nghĩa, ông đem đến cho văn học những bức ký hoạ đầu
tiên về đời sống đa dạng, chân thực, cụ thể và chi tiết Nguyễn Lộc với "Bức tranh xã hội trong thơ Tú X-ơng" cho rằng: "Trong thơ Tú X-ơng có hình
bóng những con ng-ời và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã đ-ợc "thực dân hoá" và có hình bóng của những nhân vật mới, sinh hoạt mới - do xã
hội thực dân đem lại" [37,190] Hay trong bài viết "Thơ Tú X-ơng - một b-ớc chuyển của văn học", ông khẳng định: "Lần đầu tiên, hình ảnh những
viên chức thuộc địa sống không có lý t-ởng, tẻ nhạt, hình ảnh bọn me Tây, gái điếm , hình ảnh bọn con buôn giảo hoạt, đầu cơ trục lợi và hình ảnh những tên thực dân, ông Tây, bà đầm xuất hiện trong văn học" [37,135] V-ơng Trí Nhàn lại có một nhận xét nảy sinh khi đọc loại thơ nhân vật của
Tú X-ơng: "Vấn đề không phải chỉ ở chỗ tác giả th-ờng xuyên miêu tả những thói xấu của các nhân vật, tức vạch ra sự không bình th-ờng của nó
về mặt xã hội mà điều quan trọng hơn, là ông biết nhìn ra cả trong mặt mày hình dáng của con ng-ời cũng có sự biến dạng" [26,45] Nguyễn Sỹ Tế nhìn nhận: "Thật kể ra khó mà xiết đ-ợc Thôi thì đủ nhân vật, đủ hạng ng-ời: quan, thông, ký, phán, bồi, s-, vải, nghị viên, ông Tây, bà đầm, me Tây đều là đặc biệt "của thời đại" cả Thôi thì đủ mọi thói h- tật xấu: đảo
điên, -ơn hèn, khiếp nh-ợc, ích kỷ, háo danh, xu nịnh Tóm lại, một bức
Trang 7tranh xã hội đầy đủ, một tấn tuồng xã hội có muôn hồi ngàn lớp" [37,229] Bàn về vấn đề bức tranh hiện thực trong thơ Trần Tế X-ơng, cũng có một số bài viết khá sắc sảo
Về nghệ thuật trào phúng của Trần Tế X-ơng, Nguyễn Lộc cho rằng:
"Tú X-ơng là nhà thơ hiện thực trào phúng Phần đóng góp đáng kể nhất của ông cho nền văn học hiện thức trào phúng Việt Nam là ở chỗ nhà thơ đã nâng nó lên một mức rõ rệt trong quá trình phát triển của nó Bằng thơ văn của mình, Tú X-ơng đã làm cho nghệ thuật phản ánh hiện thức của nền văn học dân tộc có thêm những đ-ờng nét sắc sảo hơn, những màu sắc rực rỡ hơn, những khía cạnh độc đáo hơn" [27, 75] Vũ Đăng Văn mạnh mẽ hơn:
"Trong cả văn học sử n-ớc ta, về phúng thế, từ tr-ớc đến Tú X-ơng lại ch-a
có ng-ời nào dám "liều mạng" làm những vần thơ cách mạng nh- thế bao giờ, thành ra Tú X-ơng là một cái mốc đặc biệt ở trong làng văn học Việt Nam Sau này, theo vết của Tú X-ơng, đã có nhiều nhà thơ trào phúng khác
ra đời; nh-ng Tú X-ơng vẫn là ông tổ thơ trào phúng Việt Nam mà không
ai chối cãi đ-ợc " [37, 223] Nguyễn Sỹ Tế cũng đánh giá rất cao Trần Tế X-ơng: "Một cái c-ời sâu sắc khốc liệt" "một cái c-ời phong phú và linh
động", "Trần Tế X-ơng là một thiên tài trào phúng đi vào cõi bất diệt" [37, 234-235] Trần Đình H-ợu cho rằng: "Trào phúng đả kích gắn với thời sự chính trị đã từ giữa thế kỷ XIX nh-ng đến Tú X-ơng thơ trào phúng mới thành một dòng", "phải đến Tú X-ơng, trong văn học Việt Nam mới có một nhà thơ có hứng thú thực sự với trào phúng Không những đặc biệt chú ý
đến những cảnh ch-ớng tai gai mắt trong thực tế mà ông lại thích thú dùng cái c-ời để đả kích Với ông, thơ trào phúng thành một dòng riêng và ông
để lại trong đó một phong cách riêng, một cái c-ời mang bản sắc của Tú X-ơng" [18, 75] Ngoài ra, một số bài viết của Văn Tân, Trần Đình Sử, Tú
Mỡ, Lại Nguyên Ân, Chế Lan Viên cũng góp phần khẳng định tính chất trào phúng trong thơ Trần Tế X-ơng
Còn về thơ trữ tình của Trần Tế X-ơng, ít đ-ợc các tác giả quan tâm
Nguyễn Lộc trong bài viết "Kết cấu trữ tình và trào phúng trong thơ Tú X-ơng" cho rằng: "Có thể nói trong phần thành công của mình, thơ trữ tình
của Tú X-ơng không kém bất kỳ thơ trữ tình của một nhà đ-ơng thời nào- kết cấu trong thơ trữ tình của Tú X-ơng mặc dù bị đóng khung trong thể thơ Đ-ờng luật gò bó, vẫn là một kết cấu vào loại kiểu mẫu của thơ trữ tình" [26, 334]
Nghiên cứu thơ văn Tú X-ơng xuất phát từ tín hiệu ngôn ngữ cũng đã
đ-ợc đề cập Tiêu biểu nh- các tác giả Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu [37] Tuy nhiên đây mới chỉ là những cảm nhận, phẩm bình
Trang 8ch-a phải là những công trình khoa học dựa trên một sự khảo sát công phu, xác thực
Ngoài ra, còn có một số bài viết của Trần Thị Trâm, Kiều Văn, Đỗ
Đức Dục, Trần Lê Văn [37] cũng đáng đ-ợc chú ý
Các công trình bài viết đã thực sự ít nhiều có đóng góp trong việc nghiên cứu, tiếp cận thơ văn Trần Tế X-ơng Song, nhìn chung vấn đề còn mang tính rời rạc, manh mún, ch-a tạo đ-ợc cái nhìn hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ Tú X-ơng nh- một hệ thống chỉnh thể (mà thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng là một hệ thống chỉnh thể độc đáo)
2.3 Nhận thấy đâylà một chỗ trống, một thiếu sót trong nghiên cứu
thơ Trần Tế X-ơng nên luận văn đi vào nghiên cứu Luận văn là công trình
đầu tiên đi sâu tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Tú X-ơng nh- một hệ thống
chỉnh thể và nhìn nó với t- cách nh- một đối t-ợng chuyên biệt
3 Đối t-ợng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn của đề tài
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Nh- tên gọi của luận văn, đối t-ợng nghiên cứu là Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng
3.2 Giới hạn và phạm vi của đề tài
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu những gì là biểu hiện của thế giới nghệ thuật thơ , những yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng thể hiện qua toàn bộ sáng tác của ông
Văn bản tác phẩm thơ Trần Tế X-ơng, luận văn dựa vào cuốn "Tú X-ơng- tác phẩm, giai thoại" [6] Vì chúng tôi cho rằng đây là công trình s-u tầm, khảo cứu đáng tin cậy nhất về thơ Trần Tế X-ơng hiện nay Tuy nhiên, có một số sáng tác của Tú X-ơng mà công trình s-u tầm này ch-a có dịp đ-a vào mà lại có mặt ở những công trình s-u tầm khác, những sáng tác
mà chúng tôi xác định là của Trần Tế X-ơng, chúng tôi bổ sung thêm để khảo sát
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề này trên cơ sở của quan điểm thi pháp học, phong cách học nghệ thuật với nhiều ph-ơng pháp khác nhau nh-: ph-ơng pháp khảo sát; ph-ơng pháp phân tích, ph-ơng pháp tổng hợp; ph-ơng pháp cấu trúc hệ thống; ph-ơng pháp so sánh, loại hình
Trang 95 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, xác định đặc tr-ng của thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng, luận văn nhằm vào ba nhiệm vụ chính:
5.1 Nghiên cứu Hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng nh- là
yếu tố trung tâm của tổ chức thế giới nghệ thuật thơ của tác giả
5.2 Nghiên cứu Hình t-ợng thế giới trong thơ Trần Tế X-ơng- châu
tuần chung quanh và đ-ợc tạo lập bởi cái nhìn của tác giả (qua hình t-ợng tác giả, tức tác giả hàm ẩn) trong thơ Trần Tế X-ơng
5.3 Nghiên cứu Nghệ thuật tổ chức ngôn từ thơ của Trần Tế X-ơng
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng nh- một hệ thống
chỉnh thể đ-ợc khảo sát, tìm hiểu, xác định một cách hệ thống, toàn diện
Kết quả của luận văn hy vọng góp một vài ý kiến hữu ích trong việc vận dụng, tham khảo cho vấn đề dạy- học thơ văn Trần Tế X-ơng ở học
đ-ờng
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn đ-ợc triển khai trong ba ch-ơng:
Trang 10Ch-ơng 1
Hình t-ợng tác giả trong thơ trần tế x-ơng
1.1 Khái niệm hình t-ợng tác giả và tính loại hình của hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng
1.1.1 Khái niệm hình t-ợng tác giả
Hiện đã có rất nhiều ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu có uy tín (tiêu biểu nh- M.Bakhtin, M.khrapchenkô, Likhachop, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân ) về khái niệm hình t-ợng tác giả Nhìn chung, các tác giả
đều khẳng định Hình t-ợng tác giả là sự biểu hiện của tác giả trong tác
phẩm của mình, cũng giống nh- hình t-ợng nhân vật nh-ng theo một nguyên tắc khác hẳn Nếu hình t-ợng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc h- cấu, đ-ợc miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con ng-ời và theo tính cách nhân vật thì hình t-ợng tác giả đ-ợc thể hiện theo nguyên tắc tự biểu
hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối với thế giới nhân vật “Hình tượng tác giả” trong tác phẩm luôn là một thực tế không thể phủ nhận, nó hàm
chứa một kiểu tác giả bên trong, là cái đ-ợc biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.W Gớt nhận xét: “Mỗi nhà văn, bất kể dù muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩm một cách đặc biệt
Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình về ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức của tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm" [53, 55]
Sự biểu hiện của hình t-ợng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang
đ-ợc nghiên cứu Có ng-ời xem hình t-ợng tác giả biểu hiện ở ph-ơng diện ngôn ngữ, có ng-ời xem hình t-ợng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố
và cấp độ tác phẩm: Từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì, trong lập tr-ờng đời sống đến giọng điệu lời ca Trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệu của ng-ời trần thuật mà cả giọng điệu nhân vật Có ng-ời xem hình t-ợng tác giả biểu hiện ở: Cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc cốt truyện, nhân vật và giọng
điệu tác giả Theo một cách nhìn hợp lý thì hình t-ợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở: Cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa t- t-ởng, đạo đức, thị hiếu; giọng điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng điệu nhân vật; và ở
Trang 11sự miêu tả, hình dung của tác giả đối với chính mình Nh- vậy, có thể nói
sự tự biểu hiện, cái nhìn và giọng điệu là ba yếu tố cơ bản tạo thành hình
t-ợng tác giả trong thế giới nghệ thuật của họ
1.1.2 Các ph-ơng diện biểu hiện cơ bản của hình t-ợng tác giả trong sáng tác của một nhà văn
1.1.2.1 Trong sáng tác văn học, sản phẩm tạo nên là tác phẩm văn học
nh- là sản phẩm cụ thể, xác định Tác phẩm văn học là quá trình tồn tại qua nhiều giai đoạn: ý đồ, t-ởng t-ợng, văn bản, sự khách thể hoá ý đồ sáng tạo
có tính chất ký hiệu và sự cảm thụ của ng-ời th-ởng thức Quá trình đó
đ-ợc thể hiện ở cái nhìn độc đáo của nhà văn và thống nhất với nó là các ph-ơng tiện biểu hiện Đó là sự thống nhất giữa khách thể (hiện thực cuộc sống) và chủ thể (cái nhìn của nhà văn), nhà văn lựa chọn thể loại văn học nh- là ph-ơng tiện để chuyển tải toàn bộ nội dung trong ý đồ sáng tạo của mình Nhà văn Nga Lêônít Lêônốp nói: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và là một khám phá về nội dung” Tác phẩm văn học chứa đựng trong đó toàn bộ quan niệm về thế giới và con ng-ời Thể loại văn học chứa đựng trong đó vai trò của hình t-ợng tác giả, ở bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại chứa đựng hai thế giới tồn tại: Thế giới hình t-ợng mà tác giả xây dựng và hình t-ợng tác giả Hình t-ợng tác giả bao giờ cũng đứng cao hơn tác phẩm, đóng vai trò là ng-ời kể chuyện, dẫn chuyện Có khi điểm nhìn nhà văn “trùng khít” với hình tượng tác phẩm, nh-ng nói chung điểm nhìn tác phẩm bao quát hơn để h-ớng ng-ời đọc nhận thức theo h-ớng đi của mình Trên nét lớn, hình t-ợng tác giả trong văn xuôi khác hình t-ợng tác giả trong thơ Hình t-ợng tác giả vừa là ng-ời thiết kế, vừa là ng-ời thi công để tác phẩm có đ-ợc giọng điệu riêng biệt, có tiếng nói riêng, đòi hỏi nhà văn phải tìm kiếm biến đổi các hình thức văn học theo cách nhận thức riêng nh-ng vẫn đảm bảo tính thống nhất của thể loại
Thơ là hình thái nghệ thuật đặc biệt từ cấu trúc ngôn ngữ đến cách sử dụng vần điệu, âm thanh, ngôn ngữ thơ có tính chất biểu hiện bằng cảm xúc Đặc điểm quan trọng nhất của thơ trữ tình là bộc lộ trực tiếp ý thức của con ng-ời, nghĩa là con ng-ời tự cảm thấy mình qua những ấn t-ợng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan đối với nhân sinh, sự miêu tả ngoại cảnh chỉ phục tùng nhiệm vụ trữ tình Nh-ng mặt khác, cái tôi trữ tình luôn cảm xúc thực tại trên tinh thần phổ quát chạm đến cái chung tồn tại của con ng-ời Nhân
Trang 12vật trữ tình chính là hình t-ợng trung tâm của tác giả, có khi cái tôi bộc lộ trực tiếp, có khi vừa hoá thân, vừa phân thân có khi tự biểu hiện Cái tôi trữ tình - cái tôi tác giả bộc lộ hết sức phong phú và đem lại nhiều cảm xúc mới
1.1.2.2 Sự phát triển nghệ thuật không tách rời với sự sáng tạo của nhà văn, cái nhìn về chiều sâu của nhà văn đối với cuộc sống đó là cái nhìn
có tính phát hiện đem đến cái mới cho văn học Bởi “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo Vì vậy nó đòi hỏi nhà văn phải có phong cách nổi bật, tức
là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình” [22, 130] Muốn vậy nhà văn phải có trình độ khái quát để nắm bắt những quy luật tất yếu của cuộc sống Cái nhìn nghệ thuật của tác giả là cái nhìn xuyên suốt bao trùm trở thành đ-ờng nét riêng Sự thật của cuộc sống không thể tồn tại ngoài cách nhìn thế giới cá nhân, cách nhìn này vốn có ở ng-ời nghệ sỹ thực thụ Tính đặc thù của cách nhìn về cuộc sống trong sáng tác tự bản thân nó hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phá cách cơ bản, cái
điển hình trong mọi hiện t-ợng văn học Cái nhìn sắc bén của nhà văn là khả năng nắm bắt, khám phá cuộc sống, mô tả từ ph-ơng diện mới hoạt
động của con ng-ời, tâm lý con ng-ời Cái nhìn của nhà văn càng tỉnh táo bao nhiêu càng thâm nhập sâu vào thực chất sự vật bấy nhiêu, và từ đó càng
có những khái quát nghệ thuật chân xác, nhiều ý nghĩa Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn M.Khrapchencô nhận xét “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân
đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [53, 65] Nhà văn Pháp Max-xen Prutxt có nói “Đối với nhà văn cũng như nhà hoạ sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cách nhìn Đó là sự khám phá
Trang 13mà ng-ời ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một cách nhìn khám phá về chất, chỉ có đ-ợc trong cảm nhận về thế giới, một cách cảm nhận nếu không do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi không ai biết đến” [16, 52]
Do vậy, cái nhìn là biểu hiện cách cảm nhận cuộc sống của tác giả, cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó phát hiện ra cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài Cái nhìn xuất phát từ một cá thể mang thị hiếu tình cảm yêu ghét thể hiện t- t-ởng đạo đức, thị hiếu, giọng điệu trần thuật cách mô tả của nhà văn Cái nhìn tuyệt nhiên không thuần tuý là kỹ thuật thuần tuý hình thức hay chỉ là sở tr-ờng, là kỹ xảo hay những mẹo vặt trong cách cảm nhận về thế giới mà là năng lực đánh giá, là nét riêng của ng-ời nghệ
sĩ Phong cách gắn với thế giới quan, gắn bó với phẩm chất, nhân cách, tài năng của nghệ sĩ chứ không phải là những thao tác kỹ thuật hay trò chơi làm xiếc về ngôn từ Phong cách là cách khám phá về chất chỉ có đ-ợc trong cảm nhận thế giới Cái nhìn thể hiện ở chi tiết nghệ thuật Bởi chi tiết
là điểm rơi của cái nhìn, chi tiết nghệ thuật h-ớng đến cách tiếp cận cuộc sống của độc giả Khi chúng ta nhìn ra nhà văn này nhìn cuộc sống ở mặt này, nhà văn kia nhìn cuộc sống ở mặt kia tức là ta nhìn ra chân dung của từng tác giả
Mỗi nhà văn có một cái nhìn riêng, độc đáo về con ng-ời và thế giới Chẳng hạn Nguyễn Du có cái nhìn thấu suốt nhân tình “Có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới nghìn đời” (Lời Mộng Liên Đường chủ nhân); Nguyễn Thị Hinh (Bà huyện Thanh Quan) quen nhìn thế giới qua lăng kính chiều tà; Nguyễn Khuyến quen nhìn con ng-ời và thế giới qua lăng kính “Tiết” (Biện Minh Điền); Tản Đà hay nhìn thế giới qua lăng kính
ái ân phong tình (Trần Đình H-ợu) Còn Tú X-ơng - một nhà Nho thất thế,
ông nhìn con ng-ời và thế giới ở quy luật biến đổi, thậm chí là đảo lộn về giá trị do tác động quái gở của chế độ thực dân nửa phong kiến D-ới những cái nhìn nghệ thuật độc đáo ấy, các nghệ sỹ đã phát hiện ra biết bao nhiêu điều mới mẻ về sự đa dạng, phong phú của đời sống và của hiện thực thời đại mình Nh- thế cũng có nghĩa nét riêng, tính độc đáo của thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một nhà văn là do nét riêng, tính độc đáo trong cái nhìn của từng tác giả Muốn vậy, nhà văn không chỉ có năng lực
mà còn phải có phẩm chất cần thiết để hoàn thành sứ mệnh cao cả “Nói nghệ thuật tức là nói sự cao cả của tâm hồn Đẹp tức là một cái gì cao cả
Trang 14Đã nói đẹp là nói cao cả, có khi nhà văn tả một cái rất xấu, một tội ác, một tên giết người nhưng cách nhìn, cách tả đó phải cao cả” [24, 85]
1.1.2.3 Thế giới nghệ thuật không tách rời hình t-ợng nghệ thuật của
tác phẩm và hình t-ợng nhà văn Nhà văn vừa là ng-ời thiết kế đồng thời cũng là ng-ời thi công Trong nhiều tr-ờng hợp nh- kịch, tác giả vừa là ng-ời sáng tạo kịch bản văn học đồng thời cũng chính là đạo diễn Vai trò nhà văn khi là ng-ời chứng kiến khi lại là ng-ời dẫn dắt ng-ời đọc đi sâu
vào thế giới hình t-ợng của tác phẩm văn học Ng-ời phát ngôn (khi là tác
giả) dù là khách quan đến đâu cũng mang dấu ấn cá nhân xuất hiện với t- cách là ng-ời thiết kế sắp xếp theo ý đồ riêng của mỗi nhà văn Có thể thấy bóng dáng của ng-ời phát ngôn qua kết cấu của tác phẩm, qua thái độ của nhà văn thể hiện bằng ngôn ngữ Trong các tác phẩm trung đại, hình t-ợng ng-ời phát ngôn thể hiện rất rõ, vừa là ng-ời dẫn dắt câu chuyện vừa là ng-ời tỏ thái độ rõ ràng, chẳng hạn nh- hình t-ợng tác giả trong các truyện Nôm “bác học” Song đến với tác phẩm hiện đại, hình tượng tác giả ít xuất hiện trực tiếp mà th-ờng hoá thân vào hình t-ợng nhân vật Cũng có lúc tác giả xuất hiện trở thành hình t-ợng (các tác phẩm của Tú X-ơng mà chúng tôi sẽ nói rõ ở phần sau)
Giọng điệu là yếu tố đặc tr-ng của hình t-ợng tác giả trong tác phẩm
Nếu trong đời sống ta chỉ nghe giọng nói là nhận ra con ng-ời thì trong văn học cũng vậy, giọng điệu giúp ta nhận ra tác giả, hệ số ấy là giọng điệu mang nội dung tình cảm và ứng xử các hình tượng đời sống “Hệ số tình cảm của lời văn được thể hiện trước hết ở giọng điệu cơ bản” [22, 128] Giọng điệu là “Thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng đạo đức của nhà văn
đối với hiện t-ợng đ-ợc miêu tả trong lời văn qui định cách x-ng hộ, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm Giọng điệu phản ánh lập tr-ờng xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho ng-ời
đọc Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn ch-a thể viết ra đ-ợc tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật” [22, 112-113] Một tác phẩm mang yếu tố cá nhân trong cách thể hiện chính là giọng
điệu tác phẩm Giọng điệu của tác giả thể hiện trong tác phẩm rất đa dạng,
có giọng kể, giọng tả, giọng than, giọng chửi, giọng tự sự, có giọng trữ tình, có giọng điệu lãng mạn, giọng sử thi, giọng trữ tình trào phúng, giọng chính luận
Trang 15Mỗi tác phẩm có giọng điệu chính nh-ng bên cạnh đó có giọng điệu khác Sự thay đổi giọng điệu chính là sự thay đổi không khí của tác phẩm Giọng điệu là sự thể hiện tình cảm của nhà văn với thế giới hình t-ợng của tác phẩm Giọng điệu phụ thuộc vào thế giới tâm hồn riêng của nhà văn Với Phan Bội Châu, nhà chí sĩ yêu n-ớc và cách mạng, giọng thơ của ông hào sảng, sôi trào nhiệt huyết; với Nguyễn Khuyến, giọng trữ tình đằm thắm, nếu có trào phúng thì nhẹ nhàng, hóm hỉnh, thâm thuý Còn với Tú X-ơng, nhà Nho thất thế trong môi tr-ờng thị dân có nhiều biến đổi, giọng của ông có đặc sắc riêng: Khi trào phúng nhẹ nhàng, khi cay độc, gay gắt, dữ dội, nh-ng cũng có lúc trữ tình đằm thắm, ân tình
Giọng điệu chính là chỗ phân biệt thế giới tâm hồn riêng của mỗi nhà văn, thể hiện thái độ, tình cảm, lập tr-ờng, thể hiện quan niệm về con ng-ời
và thế giới của nhà văn Giọng điệu là một ph-ơng diện quan trọng của phong cách tác giả
1.1.2.4 Sự tự biểu hiện có nghĩa là sự tự thể hiện mình, tự hình dung
mình của tác giả trong thơ Sự tự biểu hiện này đ-ợc trực tiếp bộc lộ qua nhân vật trữ tình - đích thực là hiện t-ợng của tác giả trong thơ th-ờng tự x-ng danh bằng tên riêng hoặc đại từ nhân x-ng ngôi thứ nhất Đấy thực sự
là sự tự hình dung của tác giả, tự vẽ chân dung mình của tác giả trong thơ
Sự tự biểu hiện của Tú X-ơng trong thơ tỏ ra hết sức mạnh mẽ, táo bạo Ta sẽ thấy điều này rõ hơn khi nhìn Tú X-ơng trong bối cảnh chung của văn học trung đại Thực ra, tr-ớc Tú X-ơng, một số tác giả đã có ý thức
tự biểu hiện mình một cách không giấu giếm Chẳng hạn nh- Hồ Xuân H-ơng, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến nh-ng phải đến Tú X-ơng, sự
tự biểu hiện này mới tỏ ra quyết liệt Ta có thể thấy sự tự biểu hiện này thể hiện ở cách x-ng danh (tên riêng), tự vẽ chân dung của mình, kể lai lịch mình của nhà thơ trong thơ Có ai tự giới thiệu mình nh- Tú X-ơng:
Vị Xuyên có Tú X-ơng
Dở dở lại -ơng -ơng Cao lâu th-ờng ăn quỵt Thổ đĩ lại chơi l-ờng
(Thói đời)
ở những tr-ờng hợp Tú X-ơng tự x-ng mình bằng đại từ nhân x-ng ngôi
một (ta, tớ, mình, tôi ) và cả ở những tr-ờng hợp Tú X-ơng gọi mình bằng
"ngôi thứ ba", dẫu ở cách nào, ta cũng thấy rõ mồn một một Tú X-ơng đầy
Trang 16cá tính Đọc Tú X-ơng, nếu không biết gì về hồ sơ lý lịch, hành trạng của
ông (tức nhìn Tú X-ơng với t- cách một phạm trù xã hội hay là con ng-ời lịch sử của ông) ta cũng thấy đầy đủ tất cả những chi tiết, đặc điểm này của một nhân vật Tú X-ơng rõ rệt trong thơ ông Tuy nhiên ở đây ta không đơn giản đồng nhất con ng-ời lịch sử tác giả và con ng-ời cá nhân tác giả trong t- cách là nhân vật trữ tình trong thơ, nh-ng rõ ràng mọi thông tin về con ng-ời lịch sử tác giả d-ờng nh- cũng đ-ợc đ-a một cách trần trụi, tự nhiên,
dễ dàng vào thơ ý thức cá tính trong thơ Tú X-ơng, sự tự biểu hiện mình trong thơ Tú X-ơng ta ch-a thấy ở đâu trong văn học trung đại rõ đến nh- thế Có thể nói sau Tú X-ơng, đầu thế kỷ XX, Tản Đà sẽ là ng-ời tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa ý thức cá tính, tự biểu hiện trong thơ Rõ ràng
sự tự biểu hiện của Tú X-ơng trong thơ là một biểu hiện đột phá của ý thức
về cái Tôi tác giả trong văn học trung đại Tuy nhiên, thời Tú X-ơng, văn học trung đại cũng đã vận động đến chặng cuối cùng của nó Đây cũng là lúc sắp có sự thay đổi phạm trù từ trung đại sang hiện đại trong lịch sử văn học dân tộc Sự tự biểu hiện của Tú X-ơng trong thơ là một b-ớc chuẩn bị quan trọng cho sự xuất hiện của phạm trù cái Tôi- một phạm trù thẩm mỹ trung tâm trong văn học sau đó, đặc biệt trong thơ Mới 1932-1945
Ba ph-ơng diện cơ bản: Sự tự biểu hiện, cái nhìn và giọng điệu của Tú
X-ơng trong thơ giúp ta có thể hình dung đ-ợc nét đặc tr-ng riêng của một kiểu hình t-ợng tác giả độc đáo
1.2 Đặc điểm loại hình của hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng
1.2.1 Từ đặc tr-ng loại hình tác giả trong thơ Trung đại
Tr-ớc khi xác định loại hình hình t-ợng tác giả trong văn học Trung
đại thiết nghĩ cần hiểu rõ khái niệm thời Trung đại và văn học Trung đại Thời Trung đại là khái niệm mà các nhà Nhân văn chủ nghĩa Châu Âu
đ-a ra từ thế kỷ XV Họ dùng khái niệm này để chỉ một thời kỳ lịch sử trong đời sống các dân tộc Châu Âu, kể từ khi đế chế Tây La Mã sụp đổ (thế kỷ V) đến bắt đầu thời kỳ Phục h-ng (thế kỷ XV) Các nhà khoa học, tiêu biểu là N.I.Cônrad xác định thời Trung đại là thời kỳ kể từ sau khi tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ, bắt đầu hình thành và phát triển chế độ phong kiến cho đến khi chế độ phong kiến bị thay thế bởi một chế độ khác có kinh
tế hàng hoá và phát triển cao hơn Khái niệm “Thời Trung đại” ở Châu Âu
và phương Tây thường bị gọi với hàm ý mỉa mai là “đêm trường Trung cổ”
đầy tăm tối, vì đây là thời kỳ ngự trị tuyệt đối của quân quyền và thần quyền
Trang 17Khái niệm “Thời Trung đại” cũng được vận dụng ở phương Đông tuy nhiên cần phải xét đến tính đặc thù của từng khu vực và từng quốc gia Thời Trung đại ở cả ph-ơng Tây và ph-ơng Đông, theo N.I.Cônrad đều có cùng một nội dung lịch sử Đấy là thời đại hình thành và phát triển của chế độ phong kiến
Tác giả văn học Trung đại thuộc loại hình tác giả độc đáo không lặp lại trong lịch sử văn học dân tộc Xét loại hình hình t-ợng tác giả văn học Trung đại Việt Nam, nếu xuất phát từ góc nhìn loại hình - loại thể văn học thì ta thấy có hai kiểu tác giả chủ yếu: Kiểu tác giả thơ và kiểu tác giả văn (trong đó kiểu tác giả thơ là chủ yếu) Kiểu tác giả văn trong Văn học Trung đại kiêm rất nhiều t- cách khác nhau, có khi là t- cách quan chức, có khi lại là t- cách của một nhà sử học, có khi t- cách của một nhà triết học (điều này để lại dấu ấn rất rõ trong sáng tác của họ, ta th-ờng gọi "văn- triết-sử bất phân" trong văn học là do xuất phát từ điều này) Cũng có khi với t- cách là nhà văn gần nghĩa nh- t- cách nhà văn sau này Trong kiểu tác giả thơ thì có thể nói kiểu nhà thơ ngôn chí, cảm hoài là kiểu nhà thơ cơ bản, kiểu nhà thơ này kéo dài mãi cho đến hết thế kỷ XIX ở kiểu tác giả này, việc “ngôn chí” được đưa lên hàng đầu như một nhu cầu khẳng định lẽ sống và lý t-ởng Nhà thơ trung đại họ th-ờng làm thơ trong những hoàn
cảnh mà cái tâm, cái chí, cái đạo thôi thúc, họ làm thơ để bộc lộ chí h-ớng
của mình:
Còn có một lòng âu việc n-ớc
Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung
(Quốc âm thi tập - Thuật hứng, bài 23)
Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến đạo làm tôi, nghĩa quân thần và nói một cách
thiết tha đến lòng -u ái: ái -u vằng vặc: Trăng in n-ớc
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa
(Bạch Vân quốc âm thi tập, bài I) Với Cao Bá Quát là chí khí, là tâm huyết: Đất trời đau nỗi bàn tay lẽ
Mây khói che đ-ờng chí khí to!
Hay nh- Nguyễn Công Trứ: Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Trang 18Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Nguyễn Đình Chiểu: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
v.v
Đến Tú X-ơng, ta thấy màu sắc ngôn chí đã nhạt đi nhiều, trong khi
đó màu sắc cảm hoài lại d-ờng nh- tăng lên:
Sông x-a rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn t-ởng tiếng ai gọi đò
(Sông lấp)
Từ góc độ này ta thấy Tú X-ơng vẫn ch-a thoát khỏi mô hình của kiểu nhà thơ Trung đại Tuy nhiên, qua tác phẩm của ông, ta có thể thấy dấu hiệu cách tân của tác giả là không nhỏ
Thời Trung đại ở Việt Nam đ-ợc xác định là từ thế kỷ X đến hết thế
kỷ XIX Khái niệm Văn học Trung đại Việt Nam chỉ văn học hình thành và phát triển trong thời kỳ này (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX) Có thể nhận thấy Trần Tế X-ơng (bên cạnh Nguyễn Khuyến) là tác giả của Văn học Trung đại Việt Nam ở giai đoạn cuối cùng
Văn học Trung đại Việt Nam vừa mang những đặc điểm loại hình của Văn học Trung đại (mà rõ nhất là Văn học Trung đại Trung Hoa) vừa mang những đặc điểm riêng không giống Văn học Trung đại của bất cứ một n-ớc nào khác Điều chúng tôi quan tâm ở đây chính là chủ thể tác giả của loại hình văn học Trung đại này Có thể thấy loại hình tác giả chủ yếu của Văn học Trung đại Việt Nam là nhà Nho Từ kiểu nhà Nho này lại có thể phân thành ba loại: Kiểu nhà Nho hành đạo; kiểu nhà Nho ẩn dật và kiểu nhà Nho tài tử Về ba mẫu hình nhà Nho này, đã có một số tác giả, tiêu biểu nh- Trần Đình H-ợu, Trần Ngọc V-ơng, Phan Ngọc đề cập đến và đi sâu
nghiên cứu trên một số ph-ơng diện (các công trình đáng kể nh- Nho giáo
và văn học Việt Nam trung cận đại của Trần Đình H-ợu [18], Nhà Nho tài
tử và văn học Việt Nam của Trần Ngọc V-ơng [51], Phong cách Nguyễn
Trang 19Du trong Truyện Kiêù của Phan Ngọc [33]) ở đây chúng tôi chủ yếu tổng
hợp lại và nhấn mạnh những vấn đề cần thiết liên quan đến công trình của mình
Về kiểu nhà Nho hành đạo:Con đ-ờng tiến thân của các nhà Nho x-a,
lã đi học, đi thi, thi đậu thì ra làm quan để “phò vua giúp dân”, để hành đạo giúp đời - thực thi đạo lý của ng-ời quân tử Văn học của những nhà Nho này là thứ văn học “chí thiện”, phải hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn đạo
đức, được đo bằng thước đo đạo đức “Vì là bộc lộ tâm, chí, thơ trở thành một bộ phận lớn nhất, trữ tình thành một nét chủ đạo trong văn học Nh-ng trữ tình không phải là bộc bạch cái Tôi cảm xúc mà bộc bạch cái Ta đạo lý (ngôn chí) Vì nhằm mục đích giáo hoá văn học có chức năng truyền đạt chứ không có chức năng phát hiện, phản ánh nhận thức Nó h-ớng về bắt chước thể hiện Đạo” [18, 56] Với nhà Nho hành đạo, chiếu, biểu, cáo, tấu,
sớ, thơ, phú, văn, sách, cùng các thơ văn chép sử đ-ợc xếp lên hàng các thể loại nghiêm túc nhất Tuyệt đại đa số nhà Nho tr-ớc khi rời khoa cử không trau dồi thứ văn ch-ơng gì hơn là văn ch-ơng cử tử Cả sau khi đỗ
đạt, ra làm quan, nhà Nho hành đạo vẫn còn nặng nợ với thứ văn ch-ơng ấy,
họ phải sử dụng đến chúng rất th-ờng xuyên trong công việc hàng ngày Với họ, văn ch-ơng dĩ nhiên là công cụ chính trị, là ph-ơng tiện để thực thi giáo hoá Tuy nhiên, sáng tác của nhà Nho hành đạo không phải không có tác động tích cực đến sự phát triển của văn học
Về kiểu nhà Nho ẩn dật: Thực ra kiểu nhà Nho này cùng một nguồn xuất phát nh- kiểu nhà Nho hành đạo (nghĩa là cũng đi học, đi thi, thi đỗ và cũng có thể đã làm quan - hành đạo) nh-ng gặp thời loạn hoặc bất đắc
ý, chủ tr-ơng lùi về sống ẩn dật, quyết tránh xa vòng danh lợi để bảo toàn danh tiết ở Việt Nam, từ thế kỷ XVI trở đi, càng ngày càng có nhiều nhà Nho đi ở ẩn (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến ) Thơ văn họ đặc biệt đề cao tiết trong sạch của nhà Nho, ca ngợi thú nhàn tản, ca ngợi cuộc sống ngèo mà cao khiết của ng-ời ẩn sĩ Khác với các sáng tác của nhà Nho hành đạo, sáng tác của ng-ời ẩn dật (theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, tiêu biểu nh- Trần Định H-ợu [18], trần Ngọc V-ơng [51]) không bị ràng buộc vào yêu cầu giáo hoá trực tiếp, chúng ta có thể tìm thấy ở họ
những tâm sự, những xúc cảm thành thực hơn, mang sắc thái chiêm nghiệm của con ng-ời cá nhân một cách rõ ràng hơn Chán nản với thực
tế của chế độ chuyên chế, chán nản cảnh “chông gai bụi bặm” của con
đ-ờng công danh, họ rút lui về nông thôn “cày ăn, đào uống, yên đòi phận” (Nguyễn Trãi) ở những tác giả nào đó, sự lựa chọn của họ là dứt
Trang 20khoát, quyết liệt, triệt để, ta th-ờng bắt gặp sự phủ định không chỉ đối với ông Vua cụ thể, một nhóm quan lại cụ thể mà là sự “ngoảnh mặt, quay lưng đối với toàn bộ thể chế chính trị Tự nhận mình là người “bất tài, vô dụng” “lười biếng, ngu dốt”, họ tự cho cái quyền sống với thiên nhiên, với cây cỏ hoa lá Trong sáng tác của ng-ời ẩn dật, ta bắt gặp một thiên nhiên trữ tình:
Gió trăng chứa cả một thuyền đầy
Của kho vô tận biết ngày nào vơi
(Nguyễn Công Trứ) Hay Nguyễn Trãi trong bài Côn Sơn ca:
Côn Sơn thông tốt nhất trời
Thảnh thơi ngày tháng ta thời tiêu dao
Một cuộc sống có thể nói là ung dung, tự cho mình phóng túng hơn trong sinh hoạt, tự do th-ởng thức cái đẹp của tạo vật, cái lạc thú bình dị của đời sống: an nhàn, bình ổn, không lo âu, không v-ớng bận vì bổn phận, trách nhiệm, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn
Giang hồ lăng miếu trời đôi ngã
Bị gậy cân đai đất một hòn Với họ, “nghìn vàng khôn chuộc được chữ nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Thay cho sự giao thiệp rộng rãi, sự x-ớng hoạ thù tạc nơi chốn công môn,
họ tìm lấy cho mình một ng-ời tri âm tri kỷ." Thảnh thơi vui với ráng chiều Mai là bạn cũ, Hạc là ng-ời quen" (Trang Tử).Hay "Sào, Do hai bạn t-ơng tri " (Nguyễn Trãi) Họ chỉ mong đ-ợc hoà mình vào, càng nồng đ-ợm
càng hay, với “núi láng giềng, chim bầu bạn, mây khách khứa, nguyệt anh
tam (em)” (Nguyễn Trãi)
Nghèo khó không làm họ phiền muộn, lo âu Trái lại, đó còn là một sự thoả mãn:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Công danh là một hệ lụy ràng buộc tấm thân con ng-ời Đào Tiềm từng
khảng khái tuyên bố “Không vì năm đấu gạo mà chịu uốn gãy lưng”, họ
sẵn sàng vứt bỏ cả quan tước, từ chối cả thiên chức “minh đức, tân dân” để
về “ngắm ba luống cúc” ôm “đàn không dây” hát ngêu ngao, uống rượu say
Trang 21mặc sức rồi ngủ tít: "Thoát trần một gót thiên nhiên Tấm thân ngoại vật là tiên trên đời" (Đào Tiềm) Họ không cần biết ngoài kia là triều đại nào
“Thế sự hay chăng đã Hán, Tần” Họ chỉ sống với tạo vật, với tự nhiên,
thậm chí dùng sự biến đổi của thời tiết, sự đổi thay của cảnh vật làm “lịch”
("Trong núi lâu nay không có lịch, nhìn hoa cúc nở biết trùng d-ơng") Xa
lánh đời sống cộng đồng, đời sống chính trị - xã hội, ng-ời ẩn sĩ không bao giờ là mối đe doạ, ng-ợc lại nhiều lúc trở thành vật trang sức cho chế độ chuyên chế Sáng tác của họ đi xa hơn sáng tác của nhà Nho hành đạo, đ-a lại những ph-ơng diện bổ sung không thể thiếu cho sự phát triển của văn học Hai bộ phận văn ch-ơng trên đây không bao hàm trong nó toàn bộ nền văn ch-ơng nhà Nho Một giai đoạn mới của sự phát triển VHVN lại có mối liên hệ chặt chẽ với một loại hình nhà Nho - tác giả văn học mới khác - Nhà Nho tài tử
Về kiểu nhà Nho tài tử: Nhà Nho tài tử, tr-ớc hết vẫn là nhà Nho kể từ
nguồn gốc xuất thân, học vấn và quy trình đào tạo, lẫn hệ thống cơ bản trong nhân sinh quan và thế giới quan Để tự nhận và coi mình là ng-ời tài tử, họ từng phải là ng-ời học trò xuất sắc, nếu không toàn diện thì cũng là trên một số ph-ơng diện chính của Khổng môn.Ng-ời tài tử luôn tâm niệm về “tính trội” của mình và luôn lăm le sử dụng chúng khi có dịp
Điểm khác biệt cơ bản giữa ng-ời tài tử với ng-ời hành đạo và ng-ời
ẩn dật là ở chỗ người tài tử coi “tài” và “tình” chứ không phải đạo đức làm nên giá trị con người Người tài tử quan niệm “tài” theo nhiều cách Có thể
đó là tài “trị nước cầm quân” (kinh luân), có thể là tài trong học vấn Nhưng dẫu có tài năng ấy vẫn nhất thiết phải có thêm tài văn chương “phun châu nhả ngọc” rộng hơn nữa là “cầm kỳ thi hoạ”, những thứ nghệ thuật tài hoa, tài năng đó phải gắn với “tình” nữa mới thành ng-ời tài tử Ng-ời tài tử cậy tài, mơ -ớc không phải chỉ công danh phú quý mà còn lập nên những sự nghiệp phi th-ờng:
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Trang 22Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể
(Nguyễn Công Trứ) Thay con Tạo xoay cơn khí số
(Cao Bá Quát)
Trong điều kiện chế độ chuyên chế, muốn có sự nghiệp tất phải qua con đường công danh, làm theo mệnh Vua “Dù kiêu ngạo, thị tài đến đâu, ng-ời tài tử cũng không thể qua mặt đấng chí tôn mà có sự nghiệp phi thường được” Nhưng “Trí quân trạch dân, đối với họ là để trổ tài, thử tài, chứ họ không quan tâm nhiều đến nghĩa vụ, không coi đó là mục đích cuộc
đời nh- nhà Nho hành đạo Mối quan tâm của họ ở cuộc đời là việc thoả mãn hoài bão cá nhân:
Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông
(Nguyễn Công Trứ)
Tự thấy mình hơn ng-ời về tài năng, ng-ời tài tử cũng công khai phô ra cái tật dễ th-ơng -
đa tình Họ cũng từng mơ -ớc, nh- các thế hệ nhà Nho trung nghĩa, chính thống tr-ớc đây,
Trang 23các loại hình nghệ thuật này thường đóng vai trò công cụ giao tiếp, “phương tiện môi giới” hết sức hữu hiệu Điều này đã tạo nên cho người tài tử một phong cách nhã nhặn hiếm thấy Đem tài năng để làm tiêu chuẩn xét đoán bản thân mình và xét đoán người khác “không công danh thà nát với cỏ cây” (Nguyễn Công Trứ), đưa tình yêu làm phần thưởng, người tài tử không muốn sống một cuộc sống âm thầm phẳng lặng Họ muốn thể hiện hết bản thân mình và muốn nếm trải toàn diện các lạc thú của đời sống Thế nh-ng, d-ới chế độ chuyên chế lẫn trong học thuyết nho giáo, tài năng không phải
là cái để coi trọng Đúng như một tác giả đã viết “Chế độ đó sống bằng tô thuế nên điều nó quan tâm hơn cả là giữ gìn an ninh hay mở rộng lãnh thổ,
nó cũng cần đến tài năng và các t-ớng lĩnh, các nhà quản lý, trong cuộc sống thái bình, nó cũng cần đến một số nhà văn, nhà thơ để ca tụng, mua vui Nh-ng nói chung, mối lo hàng đầu của Vua chúa là giữ gìn cơ nghiệp cha ông, ngăn chặn kịp thời những hành động đổi thay để giữ yên sự thống trị của dòng họ Nó cần đến tr-ớc tiên là những phần tử trung thành, ngoan ngoãn, phục tùng, cẩn thận giữ lễ Ng-ời tài tử th-ờng cậy tài, trổ tài, th-ờng bất mãn với cái họ có sẵn, muốn xáo trộn, muốn hành động, phá phách trật tự Họ cũng th-ờng tự cao, tự phụ, ngông nghênh, vòi vĩnh, không chịu yên mệnh Cho nên chế độ chuyên chế th-ờng sợ tài, nghi kỵ ng-ời có tài, tìm cách ức chế họ" [18, 138] Bằng cách này hay cách khác tuyệt đại đa số ng-ời có tài và đã lẫy lừng một thời kẻ tr-ớc ng-ời sau đều nếm trải những nỗi đau xót mà chế đội chuyên chế "dành" cho họ
Tú X-ơng không ra làm quan, bởi với ông “Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy” Có thể xếp Tú X-ơng vào loại hình nhà Nho tài tử, nh-ng là
nhà Nho tài tử thất thế trong môi tr-ờng thị dân có nhiều biến đổi Xã hội thực dân nửa phong kiến đã dần thay thế xã hội phong kiến với tất cả những biến cải, lộn sòng, đảo ng-ợc các giá trị tác động sâu sắc đến kiểu nhà Nho nh- Tú X-ơng (Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đi sâu vào phần sau)
1.2.2 Đến đặc tr-ng loại hình hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng
Nhà Nho tài tử đ-ợc hình thành khi xã hội mà anh ta đang sống có đô thị, ý thức về con ng-ời cá nhân (ý thức h-ởng thụ, khẳng định cái Tôi, ý thức về cái tài, cái tình cá nhân) phát triển Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân H-ơng, Trần Tế X-ơng, Tản Đà đều xem tài - tình là hai yếu tố quan trọng ở đời, yếu tố làm nên giá trị con ng-ời
Trang 24Trần Tế X-ơng là một nhà Nho sống ở thành thị khi chế độ thực dân n-ả phong kiến đang bắt đầu hình thành Ông là nạn nhân đồng thời là sản phẩm của thời đại ấy Ông giữ lề lối của một nhà Nho muốn tiến thân bằng con đ-ờng khoa cử chân chính, không chịu uốn nắn theo những luật lệ tr-ờng thi mà ông cho là vô lý, kỳ quặc Bởi thế, Tú X-ơng suốt đời không
đổ cử nhân, suốt đời sống trong cảnh túng thiếu Thật ít ng-ời cay cú đối với thi cử nh- ông Ông không đỗ nh-ng những kẻ dốt nát lại đỗ Ông tự coi mình là ng-ời có tài, nh-ng vì thời thế mà không đỗ đạt, trong khi bao
kẻ dốt nát uốn mình theo khuôn khổ của chế độ mới sống xênh xang với
đồng tiền bất chính, địa vị khả ố lại đỗ Tú X-ơng căm ghét chế độ thi cử và cái chế độ đã đẻ ra chế độ thi cử ấy, song vẫn không thoát ra khỏi đ-ợc cái quy luật của chế độ này Đấy là một tấn kịch, “bi - hài kịch” của đời ông Bị xã hội bất l-ơng gạt bỏ ra ngoài, ông nhìn cuộc đời xấu xa, giả dối ấy bằng con mắt thù ghét, khinh bỉ Văn thơ ông bởi thế có những nét hiện thực sâu sắc, nhất là trong những bài mô tả cái xã hội quan lại do thực dân mới đẻ ra
và những lớp ng-ời mới có đồng tiền, tấp tễnh học làm sang
Chúng ta biết rằng về chính trị, Tú X-ơng thuộc tầng lớp phong kiến hạng d-ới, nh-ng sinh hoạt của ông là sinh hoạt của một thị dân Ông nhìn con ng-ời và thế giới qua lăng kính của một nhà Nho tài tử thất thế trong môi tr-ờng thị dân Tâm sự của Tú X-ơng chính là tâm sự của một con ng-ời thất thế, tâm sự chung cho những ng-ời thất thế bị xã hội đen bạc gạt
ra ngoài Dẫu rất nghèo nh-ng Tú X-ơng đã sống - hay nói đúng hơn muốn
sống - một cuộc đời “Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím,
ô lục soạn xanh Ra phố nghênh ngang quần tố nữ, bít tất tơ, giầy Gia Định bóng” Đời Tú X-ơng là đời “Lắm phen đi đó đi đây thất điên bát đảo” và
“Chơi liều chơi lĩnh, tứ khố tam khoanh”
Có thể thấy tính chất “đô thị hoá” khá mạnh ở một số thành phố Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Cái quá trình thị dân hoá này đã không lọt khỏi con mắt của nhà Nho tài tử Tú X-ơng Là một nhà Nho tài
tử nh-ng đặc điểm nhà Nho tài tử ở Tú X-ơng có khác các nhà Nho tài tử
truyền thống ở khá nhiều điểm cơ bản Thứ nhất, nh- chúng tôi đã trình
bày, Tú X-ơng sinh ra trong một môi tr-ờng, một bối cảnh xã hội khác tr-ớc quá nhiều Đây là thời kỳ mà phong kiến Việt Nam đã gần đi đến chỗ sụp đổ, chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành, Tú X-ơng lại sống trong một môi tr-ờng đô thị sớm bị thực dân hoá, tính chất thị dân ở trong
Trang 25Tú X-ơng khác nhiều so với các nhà Nho tài tử tr-ớc đó Thứ hai, bản thân
Tú X-ơng lại hoàn toàn bế tắc tr-ớc mọi h-ớng đi, Tú X-ơng rơi vào
khoảng trống của lịch sử Thứ ba, cá tính Tú X-ơng lại tỏ ra ngông ngạo,
thích nếm mùi thế tục nh-ng lại không chịu bán rẻ nhân phẩm của mình,
ông sẵn sàng đối lập và thách thức với chế độ thực dân nửa phong kiến Đấy chính là một khối mâu thuẫn lớn trong con ng-ời ông
Có thể nói: Tú X-ơng thuộc kiểu nhà thơ trung đại, nh-ng ở ông vừa
có nét truyền thống lại vừa có nét phi truyền thống, báo hiệu một kiểu nhà thơ ít nhiều muốn đi ra ngoài quỹ đạo của kiểu nhà thơ trung đại Hình t-ợng tác giả ấy nh- là một hình t-ợng trung tâm trong thế giới nghệ thuật thơ Tú X-ơng và có quan hệ hữu cơ biện chứng với nhiều yếu tố khác trong thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế X-ơng
1.3 Đặc tr-ng hình t-ợng tác giả trong thơ Trần Tế X-ơng
1.3.1 Sự tự thể hiện của Trần Tế X-ơng
Sự tự thể hiện của Trần Tế X-ơng đ-ợc bộ lộ rõ trên hai ph-ơng diện cơ bản: ý thức về vai trò xã hội, vai trò văn học của tác giả, và Nhân vật trữ tình - tác giả trong thơ
1.3.1.1 Là chứng nhân và cũng là nạn nhân của một giai đoạn bi
th-ơng nhất của đất n-ớc, Tú X-ơng phải gánh chịu nhiều nỗi buồn đau Thực dân Pháp từng b-ớc đặt ách thống trị lên đất n-ớc ta, các phong trào chống Pháp diễn ra sôi nổi đều lần l-ợt thất bại Đặt ách thống trị lên đất n-ớc ta, thực dân Pháp đồng thời nắm quyền điều khiển một cuộc đổi thay lớn về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Việt Nam Xã hội phong kiến lỗi thời, cổ hũ, phản động đ-ợc thay thế bằng xã hội thực dân nửa phong kiến mới ló mặt ra đã thấy đầm đìa bùn và máu Bộ mặt thống trị quan liêu kiểu phong kiến đ-ợc thay thế bằng bộ máy quan liêu kiểu mới
do quan chức thực dân cầm đầu Sự giao tranh giữa hai chế độ cũng là sự giao tranh giữa hai nền văn hoá ph-ơng Đông cổ truyền và văn hoá ph-ơng Tây tân thời Hệ t- t-ởng, vũ trụ quan, nhân sinh quan và ứng xử văn hoá xây dựng từ lâu đời trong cuộc đụng độ lịch sử này thực sự bị bật gốc Cái mới ra đời từ những đô thị thuộc địa là những yếu tố ngoại lai đang giao thoa và lấn l-ớt yếu tố dân tộc cổ truyền Ông sống trong sự giao tranh ấy,
ông cảm thấy mình thật sự bất lực vô nghĩa tr-ớc thời cuộc Tú X-ơng luôn
Trang 26ý thức mình sáng tác thơ ca để làm gì, và đã dùng thơ ca nh- là một hình thức, một ph-ơng tiện nhận thức phản ánh cuộc sống
Thế nh-ng rồi, Tú X-ơng nhận thấy văn ch-ơng trong thời đại mình thực trở nên vô nghĩa: Nghĩ việc văn ch-ơng thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thế có ra gì
(Buồn thi hỏng) Hay: Muốn bỏ văn ch-ơng học võ biền
(Thói đời)
Tất cả đều nh- vô nghĩa Chính vì lẽ đó, hiện hình lên trong Tú X-ơng một cái tôi sáng tạo đầy bi kịch, dấu hiệu báo hiệu bi kịch sau này ở kiểu tác giả văn nghệ sĩ trong môi tr-ờng xã hội t- sản (ở hình t-ợng tác giả trong thơ Tản Đà, kể cả trong sáng tác của Nam Cao sau đó (hình t-ợng nhà văn Hộ trong “Đời thừa”))
Cái Tôi trong thơ Trần Tế X-ơng hiện ra rõ rệt không chỉ với t- cách
là cái tôi trữ tình mà còn với t- cách là ng-ời tổ chức văn bản tác phẩm thơ
- một nhà thơ đã chán ch-ờng cho vai trò nhà thơ của mình Có những tr-ờng hợp ông muốn thẩm định tác phẩm của mình bằng cách tạo dựng tình huống, cho vợ là ng-ời bình phẩm tác phẩm của mình (ông trao quyền thẩm bình cho vợ)
Viết vào giấy dán ngay lên cột Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay
Đứng tr-ớc b-ớc ngoặt lịch sử, Tú X-ơng đồng thời cũng đứng tr-ớc
sự chuyển mình của văn học có tính chất giao thời chuẩn bị vào chặng quá
độ từ trung đại sang cận hiện đại Văn học giai đoạn này (nửa sau thế kỷ XIX) là một giai đoạn có vị trí và vai trò đặc thù khép lại một chặng đ-ờng dài của văn học trung đại - văn học phát triển trong hoàn cảnh xã hội phong kiến với một hệ thống thi pháp riêng mà nét bao trùm là chủ nghĩa qui phạm; chịu sự chi phối sâu sắc của văn hóa mỹ học, ý thức hệ phong kiến
và truyền thống văn hoá, t- t-ởng dân tộc Về mặt lý thuyết, sự khép lại hay
Trang 27kết thúc một thời kỳ cũng có nghĩa là sự báo hiệu hay chuẩn bị cho một thời kỳ mới tiếp theo
1.3.1.2 Đã làm thơ, nhất là thơ hay, ai mà chẳng để lại trong tác phẩm của mình một nhân vật trữ tình - tác giả Chúng ta biết rằng, nhân vật trữ
tình có quan hệ mật thiết với con ng-ời tác giả nh-ng không hoàn toàn
đồng nhất với tác giả “Nhân vật trữ tình là con người “đồng dạng” của tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình nh- một con ng-ời có
đ-ờng nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung” [22, 201]
Tú X-ơng đã đ-a chính mình vào thơ nh- một nhân vật khách thể: Nhân vật Tú X-ơng có cá tính rõ rệt và ít nhiều có ý nghĩa điển hình sâu sắc cho cả một lớp ng-ời - lớp ng-ời Tú X-ơng - trong một thời buổi - thời buổi Tú X-ơng Nhân vật trữ tình đó, dù đ-ợc khách thể hoá, nh-ng tr-ớc hết cũng là thuộc thế giới trữ tình của Tú X-ơng Nhân vật ấy với Tú X-ơng vừa là một, vừa không là một, vì nó đã là một nhân vật của văn học, đ-ợc xây dựng theo qui luật sáng tạo của nghệ thuật vốn dĩ là thiên hình vạn trạng, vừa thực, vừa h-, nh-ng tất cả là trên một nền tâm trạng thực, nhân cách thực của Tú X-ơng
Nhân vật Tú Xương đã tự xưng khi thì bằng “tôi”, bằng “ta”, bằng
“min”, bằng “tớ”, khi thì bằng “thằng tôi”, bằng “bác”, bằng “ông”, bằng
“thầy” và có khi bằng "em" nữa Ông tự xưng danh rất nhiều trong thơ của mình (69 lần) Nhân vật Tú X-ơng tự nói về mình, về cuộc sống tâm t- tình
cảm của mình thật khác lạ cứ nh- là cố bôi cho đen kịt mình đi vậy (Tự c-ời mình, Tự vịnh, Hỏng khoa Canh tí ) Một Tú X-ơng nh- vậy phải là
lên án, phải chê trách Nh-ng đằng sau cái lem luốc đó, ở Tú X-ơng lại là cả một đời sống tâm hồn phong phú, một nhân cách thật đáng trân trọng Tú X-ơng sinh ra trên đời vốn là ng-ời hồn nhiên thật thà Tú X-ơng có tật này tật khác đáng chê trách, nh-ng ông không hề giấu diếm, ng-ợc lại cứ tự thồi phồng lên nh- thế, tr-ớc hết là cho vui sự đời, dù là vui g-ợng, nh-ng quan trọng là muốn đ-ợc tách mình ra khỏi lớp ng-ời ô uế của thời buổi không may mình phải sống Có thể ông ch-a tìm đ-ợc một lý t-ởng sống cao đẹp nhất, tích cực nhất, song ít ra cũng tạo đ-ợc cho mình một triết lý sống trong sạch của một kẻ không chịu nhập vào dòng đời ô trọc kia Chú
Mán trong bài thơ “Nghèo mà vui” chính là Tú X-ơng chứ chẳng phải ai khác Cũng giống nh- nhân vật Mẹ Mốc của Nguyễn Khuyến, chú Mán
trong thơ Tú X-ơng là một con ng-ời thực ở thành phố Nam Định bấy giờ,
Trang 28nh-ng trong thơ Tú X-ơng, nó lại mang hình bóng của chính tác giả Nếu nh- ở Nguyễn Khuyến, một nhà thơ trọng đạo đức, cho nên nhân vật mẹ Mốc của ông là một phụ nữ rất đạo đức, khí tiết, thì ở Tú X-ơng, một nhà thơ muốn lấy sự ăn chơi của mình để c-ời vào mũi của xã hội, cho nên hình
ảnh chú Mán của nhà thơ cũng rất ăn chơi:
Khi cao lâu, khi cà phê, khi n-ớc đá, khi thuốc lá, khi đủng đỉnh ngồi xe
(Chú Mán)
Và cũng c-ời đời: Chẳng nhuộm răng để trắng dễ c-ời đời
Chốn quyền môn luồn cúi mặc ai ai Ngoài c-ơng toả thảnh thơi ai đã biết ?
(Nghèo mà vui)
Tú X-ơng giống nh- nhiều ng-ời khác, ông rất yêu vợ Thái độ của Tú
X-ơng đối với vợ “Vuốt râu nịnh vợ con bu nó” thật cởi mở, đầy nghĩa
tình Ông cảm nhận sâu sắc công ơn của vợ đối với mình, với con mình
Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng
(Th-ơng vợ)
Th-ơng vợ bao nhiêu, ông thấy mình vô tích sự bấy nhiêu Trong cơn hối hận, chẳng có gì tạ lại công ơn của vợ, Tú X-ơng buột lên một tiếng chửi, chửi cái anh chồng “dài lưng tốn vải” là mình, chửi luôn cả thói đời bạc bẽo
Trang 29vợ bằng cách đ-a vợ ra làm
văn tế sống:
Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ;
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo ai dám chê rằng béo rằng lùn; Ng-ời ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán m-ời;
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
mà đãi vợ Sống trong một xã hội “trai năm thê bảy thiếp”, tài tử thường phong tình, thì thái độ, việc làm của Tú X-ơng trở nên hiếm và thật đáng quý Nói đến tình bạn của Tú X-ơng, cũng là phong phú, hấp dẫn, cũng là chân tình cao cả Với ng-ời bạn Tú X-ơng cho là tri âm, tri kỷ nh- Huấn
Trang 30Mĩ, Cử Thăng, Tú Tây Hồ thì chủ yếu là ông lấy cái đùa, cái tếu ra mà đãi nhau cho vui sự đời trong chốc lát! Còn bạn là bậc đáng kính đáng tôn thì cái tình của Tú X-ơng gắn bó hồn nhiên và tha thiết vô cùng Tú X-ơng có những nỗi nhớ bạn đến cháy bỏng:
Đi đâu một b-ớc một chờ, Vắng nhau một khắc một giờ không khuây
(Viếng bạn)
Tú X-ơng mở rộng tình th-ơng của mình ra khỏi phạm vi quan hệ cá nhân,
lo cái lo chung của cả thiên hạ khi đại hạn lâu ngày:
Dạo này đá chảy với vàng trôi, Thiên hạ mong m-a đứng lại ngồi
(Đại hạn)
Gặp một ng-ời đói ăn xin, Tú X-ơng nghèo túng không có gì để cho, ông
ân hận, bực dọc, rồi làm thơ thề thốt về sự nghèo túng của mình:
Ng-ời đói, ta đây cũng chẳng no;
Cha thằng nào có, tiếc không cho!
Họ đày đoạ mãi dân cày cuốc,
Ai xét soi cho cảnh học trò
(Thề với ng-ời ăn xin)
Tú X-ơng là con ng-ời của trần gian, cũng biết ăn ngon mặc đẹp, biết nếm mùi vị của sự đời:
Nghiện chè nghiện r-ợu, nghiện cả cao lâu;
Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng
Quanh năm phong vận, áo hàng tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh;
Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng
(Hỏng khoa thi Canh Tí)
Trong thơ, Tú X-ơng đã c-ờng điệu hoá cái ham muốn trần gian của mình nh-ng vẫn để lộ cái hồn nhiên Có điều cái hồn nhiên của Tú X-ơng
đã không đ-ợc cuộc đời bấy giờ dung nạp Nghèo đói đã bám riết Tú X-ơng, kết quả là Tú X-ơng cũng phải vất vả, cay cú, buồn phiền nh- ai
Cái khó theo nhau mãi thế thôi,
Có ai, hay chỉ một mình tôi?
Trang 31(Than nghèo)
Cái nghèo của Tú X-ơng là cái nghèo cùng cực:
Bức sốt nh-ng mình vẫn áo bông
(Mùa nực mặc áo bông)
Thêm vào cái nghèo đó là nạn đông con:
Gạo cứ lệ ăn đong bữa một
Điều đáng quý là Tú X-ơng không để cái nghèo tha hoá mình Tú X-ơng
nói: “Biết thân thủa tr-ớc đi làm quách Chẳng ký không thông cũng cậu bồi” cũng chỉ là một lối nói nhất thời trong cơn quằn quại mà thôi
Cùng với cái nghèo, chuyện thi cử của Tú X-ơng cũng là một bầu tâm sự đầy bi kịch, ông tr-ợt thi không phải vì dốt mặc dầu ông vẫn nói:
Rõ thật Nôm hay mà Chữ dốt Tám khoa ch-a khỏi phạm tr-ờng quy
(Buồn thi hỏng) Học đã sôi cơm nh-ng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
(Mai mà tớ hỏng)
Ông đã cực tả nỗi đau đớn trong bài “Phú hỏng thi”:
Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng;
Tủi bút tủi nghiên, hổ lều hổ chõng
Trang 32Và đến lần hỏng cuối đời thì Tú X-ơng đã cáu, đã ức, đã nản và nạn tr-ợt thi đó ông đành quy vào số mệnh
Trách mình phận hẩm lại duyên ôi!
Đỗ suốt hai tr-ờng, hỏng một tôi
phát điên, phát dại (Tự trào, Thói đời)
Nhân vật trữ tình trong thơ Tú X-ơng cũng th-ờng băn khoăn, thao thức đối với vận mệnh non sông đất n-ớc Những bài thơ thể hiện tâm sự yêu n-ớc của Tú X-ơng th-ờng có bối cảnh mù mịt của đêm tối, trong đêm tối và nhà thơ thì buồn não ruột:
Trời không chớp bể chẳng m-a nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn!
(Đêm buồn) Hay là: Kìa cái đêm nay mới gọi đêm!
Mắt d-ơng, trong bụng ngủ không thèm Tình này ai tỏ cho ta nhỉ?
Tâm sự năm canh một ngọn đèn
(Dạ hoài)
Nhìn cuộc sống đang trôi đi, Tú X-ơng có cảm giác nh- chỉ có mình
là thức còn mọi ng-ời đang ngủ cả: Thiên hạ dễ th-ờng đang ngủ cả
Việc gì mà thức một mình ta?
(Chợt giấc)
Hoặc có lúc ông thấy mọi ng-ời cũng thức nh- ông, nh-ng cũng bất lực Bực bội, chán ch-ờng nhà thơ viết:
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Chùa đâu chú trọc đã hồi chuông
Trang 33(Đêm buồn)
Cái buồn của Tú X-ơng là cái buồn đến nẫu ng-ời mà đâu chỉ có một
đêm “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn” Có thể nói, toàn tâm trạng của Tú
X-ơng là tâm trạng của một bộ phận trí thức Nho sĩ, trong cơn vận hạn của
đất n-ớc, trong cuộc đổi thay nghịch chiều của thời cuộc vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX này, ch-a tìm đ-ợc h-ớng đi đúng đắn nhất, chân chính nhất Do đó, họ là con ng-ời đầy bi kịch, con ng-ời của bi kịch
ở nhân vật bi kịch Tú X-ơng điều mà muôn đời vẫn quý trọng là còn có chữ tâm, lại cộng thêm chữ tài Tâm, tài cố gắng gắn bó với vận n-ớc, vận dân, không chịu buông trôi cho kẻ thù, không chịu để cho dòng đời cuốn vào ô uế
Trở lên, ta thấy, nhân vật trữ tình và cái tôi tác giả trong thơ Tú X-ơng hiện lên rất rõ, mang nhiều nét cá tính riêng, đặc điểm riêng của Tú X-ơng (từ lai lịch đến hành vi, tính cách, từ hình thức bên ngoài đến tâm hồn, sở thích, yêu ghét ) không thể lẫn lộn với ai khác Tất cả con ng-ời Tú X-ơng
đều hiện lên đầy đủ ở Tú X-ơng ta thấy mang nhiều nét phi truyền thống, dấu hiệu của một kiểu tác giả muốn phá bỏ mọi tính quy phạm chuẩn mực của loại hình tác giả trong thơ Trung đại
1.3.2 Cái nhìn nghệ thuật của Trần Tế X-ơng
1.3.2.1.Cái nhìn nghệ thuật là một ph-ơng diện, một thành tố quan
trọng thuộc phạm trù tác giả (trong tác phẩm là một hình t-ợng tác giả) Sáng tác nghệ thuật thực chất là phản ánh của một cái nhìn Cái nhìn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có điểm nhìn, góc nhìn hay thế đứng, vị thế quan sát, bao quát của ng-ời nghệ sĩ Trần Tế X-ơng không có đ-ợc một vị thế may mắn trong xã hội Nh-ng có lẽ nhờ thế mà cái nhìn nghệ thuật của ông có tầm bao quát riêng, độc đáo về hiện thực thời đại bấy giờ Cuộc đời Tú X-ơng gặp nhiều thất bại đắng cay Gia cảnh của ông cũng
đầy khó khăn thiếu thốn Mọi việc trong nhà, ông đều trông cậy vào ng-ời
vợ đảm đang “Quanh năm buôn bán ở mom sông” là bà Tú Tú X-ơng
cũng từng tự thấy mình là không có một "chỗ đứng" nào trong xã hội Khác Nguyễn Khuyến - ng-ời cũng gần nh- cùng thời với Tú X-ơng, Tú X-ơng
đã mất hết mọi chỗ dựa, mọi niềm an ủi Nhìn chung, cuộc đời Tú X-ơng là cuộc đời của một nghệ sĩ biết bám chắc vào mảnh đất quê h-ơng mình, lấy
đó làm điểm xuất phát để theo dõi và quan sát mọi hiện t-ợng của đời sống
Trang 34Sinh ra và lớn lên trên quê h-ơng Nam Định, hồn thơ Tú X-ơng đ-ợc -ơm trồng và nảy nở từ đây Không phải tất cả những gì của quê h-ơng cũng ảnh h-ởng tới cuộc đời và hồn thơ của Tú X-ơng Nh-ng chắc chắn phần ảnh h-ởng của nó tới con ng-ời Tú X-ơng là không nhỏ Điều đáng quý là Tú X-ơng đã biết đền ơn trả nghĩa bằng cách đem tài thơ của mình gắn bó với quê h-ơng tới mức thành ra một hiện t-ợng nghệ thuật độc đáo
“Đọc thơ Tú Xương thấy bật lên một địa phương trong thơ Tú Xương, trong phú Tú X-ơng, chỉ có rặt cảnh Nam Định, sự Nam Định, lời Nam
Định, người Nam Định” (Nguyễn Tuân) Có thể nói, ít có được nhà thơ nào lại gắn chặt với địa ph-ơng của mình nh- Tú X-ơng gắn chặt với Nam Định Cuộc đời Tú X-ơng thật ngắn ngủi, và lại nằm trọn trong một giai
đoạn bi đát nhất của lịch sử dân tộc Thực dân Pháp xâm l-ợc và đặt ách thống trị lên đất n-ớc ta Các phong trào kháng chiến đều lần l-ợt thất bai
Tú X-ơng đã sinh ra và lớn lên trong cái không khí sôi sục đấu tranh nh-ng
bi th-ơng nặng nề đó của đất n-ớc Sự đổi thay đất n-ớc cũng từ đây Xã hội phong kiến lỗi thời, cổ hũ, lạc hậu, phản động đ-ợc thay thế bằng xã hội thực dân nửa phong kiến Bộ máy thống trị quan liêu của phong kiến Trung cổ ph-ơng Đông đ-ợc thay bằng bộ máy thống trị quan liêu kiểu mới
do quan chức thực dân cầm đầu kéo theo một hệ thống tay sai gồm quan lại phong kiến kiểu cũ và thông ngôn, ký lục, viên chức mới, đặc biệt là sự đổi thay về chữ viết và những áp đặt văn hoá phương Tây với lối sống “Tư bản hoá”, “Âu hoá” dần dần hình thành, tấn công các lối sống cổ truyền, lối sống phong kiến Tú X-ơng vừa là chứng nhân, vừa là nạn nhân của cuộc
đổi thay này Lớn lên trên bối cảnh thất bại của dân tộc và tầng lớp mình, chính trên cơ sở đó, tâm trạng, tình cảm và cuộc đời Tú X-ơng càng đáng
để chúng ta thông cảm
Lịch sử đời riêng của Tú X-ơng, nh- ta đã biết, cũng lại là một lịch sử thất bại, lịch sử của một con ng-ời suốt đời long đong, lận đận vì thi cử mà chẳng bao giờ toại nguyện Hỏng thi, không tiến thân đ-ợc bằng con đ-ờng khoa cử, Tú X-ơng vẫn không tiến thân bằng con đ-ờng nào khác Tr-ớc sau chúng ta vẫn thấy Tú X-ơng là con ng-ời trong sạch Nh-ng vì hỏng thi, Tú Xương bị xã hội đương thời loại ra khỏi hàng ngũ “thượng lưu” của thời đại và đẩy xuống một chỗ đứng “thấp kém” Có thể gọi Tú Xương là một nhà Nho tài tử thất thế trong chế độ thực dân nửa phong kiến Ông không có cái may mắn của Cao Bá Quát - Cử nhân của tr-ờng H-ơng thí
Hà Nội, cái may mắn của Nguyễn Th-ợng Hiền, đỗ Tiến sĩ, hay cái tài giỏi
Trang 35của Tam nguyên Yên Đổ- Nguyễn Khuyến, đi thi h-ơng, thi hội, thi đình, ở
đâu cũng đỗ Cái nhìn thời cuộc của những nhà Nho có thế chắc hẳn sẽ có những điều khác với Tú X-ơng - một nhà Nho thất thế Với Tú X-ơng
“Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy” thế nh-ng, chính từ chỗ đứng đó,
Tú X-ơng chẳng những thấy đ-ợc cái thân phận buồn tủi của một kẻ hỏng thi, mà còn thấy đ-ợc cái nhục của bọn thi đậu, cái nhục của ng-ời mất nước Chính từ chổ đứng đó mà cái ông “Tú tài” suốt đời hỏng “Cử nhân”
ấy, đã thấy đ-ợc bao nhiêu điều mới lạ trong một xã hội đang biến đổi chóng vánh
Với cái nhìn tinh nhạy, sắc sảo, cái nhìn của ng-ời trong cuộc và với một bút lực dồi dào, Tú Xương thực sự đã đóng vai “Người thư ký giỏi” để nếu ch-a ghi chép phản ánh đ-ợc bao nhiêu cái mâu thuẫn cơ bản trung tâm của thời đại thì cũng đã ghi chép đ-ợc nhiều mặt của cuộc đổi thay xã hội
đó “Nếu hình dung thơ Tú Xương như tiếng hát của con người thất bại thì chính trong sự thất bại của kiểu nho sĩ kiểu truyền thống, ở vào một tài năng nh- Tú X-ơng đã tạo ra nhiều biến đổi quan trọng trong văn ch-ơng nhà Nho thế kỷ XIX" [37, 233]
1.3.2.2 Trần Tế X-ơng nhìn con ng-ời và thế giới qua lăng kính của nhà Nho tài tử thất thế trong môi tr-ờng thị dân Tú X-ơng là một nhà Nho phong kiến Nh-ng những cảm nhận về con ng-ời và thế giới của Tú X-ơng bộc lộ trong thơ lại mang đậm tính chất thị dân Trong cảm thức thị dân, bằng lối tự trào, tự vịnh, Tú X-ơng đã tạo nên một kiểu hình nhà Nho thị dân Trong dòng thơ trào phúng của nhà Nho, chất tự trào
trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú X-ơng là đậm nét và sinh động nhất Nguyễn Khuyến tự trào một cách trực tiếp (tự trào, tự thuật, tự giễu mình ) có khi tự trào một cách kín đáo, ý nhị (Vịnh tiến sĩ giấy (I và II), Vịnh Kiều ) Nhưng dù trong hình thức nào thì kiểu tự trào “ngôn chí” của Nguyễn Khuyến cũng có sự khẳng định bản ngã - sự khẳng
Trang 36định của một nhà Nho theo những chuẩn mực nhà Nho, ch-a thoát khỏi quy phạm của văn ch-ơng nhà Nho Tú X-ơng không nh- vậy, ông tự trào một cách trực tiếp, khi thì phủ định, khi thì khẳng định ở tr-ờng hợp nào cũng độc đáo Ông tự hoạ chân dung bằng lối hý hoạ “Râu rậm như chổi, đầu to tày giành” (Phú thầy Đồ) và tự giễu, bôi xấu mình “ở
phố Hàng Nâu có phổng sành, mắt thời thao láo, mặt thời xanh” (Tự
c-ời mình I) Ông lôi tất cả cái dốt nát của mình ra mà cợt nhã “ý hẳn
thầy văn dốt vũ dát, cho nên thầy luẩn quẩn, loanh quanh” (Phú thầy
Đồ) Tuy nhiên, giễu cái dốt nát của mình là ông giễu cái "dốt nát", nhếch nhác của nhà Nho phong kiến, chế giễu tính chất ăn bám của đức
ông chồng trong chế độ gia tr-ởng phong kiến Với kiểu tự trào phủ định này, Tú X-ơng đã chế giễu, phê phán tính chất hủ lậu của kẻ sĩ phong kiến và phủ nhận những khuôn phép lỗi thời của xã hội phong kiến
Bên cạnh đó, kiểu tự trào khẳng định lại hoàn toàn khác (Tự đắc, Phú thầy
đồ, Văn tế sống vợ ), ở đây có một Tú X-ơng tài hoa phong l-u ở chốn thị thành:
Kìa thơ tri kỷ đàn anh nhất,
Nọ khách phong l-u bậc thứ nhì
ăn mặc vẫn ra ng-ời tiệp thế, Giang hồ cho biết bạn t-ơng tri
(Tự đắc)
Một Tú X-ơng ân tình, nồng hậu trong cách làm chồng:
"Mình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển,
Trang 37Bồng Hồ; Tớ nuôi con cho có
rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ" (Văn tế sống
vợ)
Một Tú X-ơng tha thiết với vận n-ớc:
Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh n-ớc nhà!
(Lễ x-ớng danh khoa Đinh Dậu)
Có thể thấy như Đoàn Hồng Nguyên, rằng: “Tự phô mình ra ở mọi góc cạnh, Tú X-ơng phác hoạ nên một hình ảnh của chính ông: Một kẻ thị dân
đầy bản ngã Không chấp nhận xã hội t- sản cũng nh- lối sống t- sản ở chốn thị thành, nh-ng Tú X-ơng lại tỏ ra khá nâng niu con ng-ời thị dân này - không đ-ợc lý t-ởng hoá theo bút pháp miêu tả nhân vật anh hùng trong văn ch-ơng nhà Nho, nh-ng nhân vật thị dân của Tú X-ơng cũng đ-ợc tác giả miêu tả trong dáng vẻ hiên ngang, đầy tự tin, đầy khí phách thị dân” [37, 359]
Tú X-ơng nhìn mình, rồi nhìn ra cuộc đời, con ng-ời, thế giới quanh mình với muôn màu muôn vẻ của đời sống đa dạng và phong phú ở thành Nam lúc giao thời Cuộc sống đi vào thơ ông bằng cái vẻ nguyên sơ vốn có của nó Cuộc sống tự nó Không chỉ cụ thể, tự nhiên mà còn ồn áo náo động
bởi những cảnh, những ng-ời, những lời, những tiếng Đó là tiếng “chê nhỏ cười to”, “khua múa trống chiêng”, “xì xèo tôm tép”, “ỏm tiếng Hà
Đông”, “nó chúc nhau”, “nó mừng nhau” Các âm thanh của cuộc sống
cũng đ-ợc cực tả với một âm sắc cụ thể, rất riêng và đặc biệt chính xác: âm thanh rời rạc và ảm đạm của cái tết nghèo, âm thanh chát chúa của sự học
đòi khoe sang đầy đủ âm thanh đặc tr-ng đan cài nhau một cách ồn ào rất
đặc tr-ng của lối sống đô thị hoá Cái gì cũng chi tiết đến tận chân tơ kẻ
tóc; màu sắc thì đen kịt, đen thủi đen thui, loẹt loè Con ng-ời thì cá biệt,
cụ thể đến từng đặc điểm riêng biệt nhất: “Mũi nó gồ”, “trán nó dô”, "mốc thếch nh- trăn gió", "đen kịt", "lang" Ta thấy trực tiếp trong thơ ông bức
tranh toàn cảnh của xã hội từ những thay đổi lớn trên bề mặt đến những thay đổi nhỏ trong cuộc sống, mọi hiện t-ợng trong đời sống đều đáng c-ời
và lố bịch: Sự suy sụp của đạo học, của chữ Thánh Hiền “Đạo học ngày nay
đã chán rồi M-ời ng-ời đi học chín ng-ời thôi”; Kẻ sĩ mất giá trở nên nực c-ời “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ”; quan tr-ờng thoái hoá biến chất “chỉ quen
Trang 38phê một chỉ tiền” Đáng c-ời hơn, đồng tiền làm chủ, mọi thứ đều có thể mua bán, chốn quan tr-ờng trở thành cái chợ để ng-ời ta “tranh nhau cái thủ khoa” Sản phẩm của sự mua bán đó là những ông cử Nhu “vừa dốt lại vừa ngu”, những cái phố nh- phố Hàng Song “thật lắm quan”, “đất nhiều quan” Thuần phong mỹ tục, luân lý truyền thống cũng suy đồi Quan hệ thầy trò, cha con, vợ chồng, trở thành trái đạo “vợ chán chồng”, “con khinh bố” Tất cả đều đáng cười và lố bịch Tết, người ta đốt pháo mừng xuân, Tú X-ơng cũng nhìn thấy cái đáng c-ời “Một mâm mứt rận mới bày ra” Đặc biệt là năm mới thiên hạ chúc nhau “trăm tuổi bạc đầu râu” Đến cái chết
của cô Ký - chính trong sự chết chóc cũng chứa đựng cái đáng c-ời, cái sự
lố bịch của kẻ sống với ng-ời chết “Ông chồng thương đến cái xe tay” C-ời cả đến chốn điện phủ thâm nghiêm “Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng” Sống ở đô thị, hơn ai hết, ông thấy
rõ những đổi thay của đất n-ớc “sông nên bãi”, “phố nửa làng” và sức
mạnh của đồng tiền làm đảo lộn mọi giá trị Đó là phát hiện đau đớn của Tú X-ơng về hiện thực thời đại mình
Phải là nhà Nho chân chính, có lòng tự trọng, tinh thần tự tôn dân tộc cao mới thấm thía hết tr-ớc những đổi thay quái gỡ không sao ngờ tới Phải
là ng-ời có vị thế nh- Tú X-ơng mới có cái giọng cay cực chua chát nh- thế Là một nhà Nho tài tử sống trong một môi tr-ờng thị dân nhiều biến
đổi, bản thân Tú X-ơng không biết mình nên nh- thế nào, -ớc mong cái gì, phong l-u là nên hay không nên, thi cử, vợ con là nghiêm túc hay để đùa giỡn Tất cả đều đảo lộn Tất cả đều trở thành trớ trêu, vô nghĩa Vậy thì cứ sống ngông nghênh, cứ đem tất cả ra mà trào lộng
1.3.3 Nhà thơ trào phúng - trữ tình với một giọng điệu riêng
1.3.3.1 Âm h-ởng chung của giọng điệu thơ Trần Tế X-ơng
Trong cuộc sống cũng nh- trong văn học x-a nay, cái vui, cái buồn, cái c-ời, cái khóc th-ờng đan xen nhau, hoà lẫn vào nhau và đều xuất phát
từ nỗi niềm tâm sự, từ cái tình của mỗi con ng-ời Vôn te, nhà văn nổi danh của nước Pháp từng nói: “Con người là loài duy nhất biết khóc và biết cười” Vậy thì trong thơ văn, dù trào phúng hay trữ tình cũng là từ một gốc nhân bản “Cành kia cũng ở cội này mà ra” Từ trước đến nay, Tú Xương đã nổi tiếng trên văn đàn với t- cách là một nhà thơ trào phúng kiệt xuất Điều
đó rất đúng, nh-ng ch-a đủ Trong thơ văn Tú X-ơng không chỉ có tiếng c-ời châm biếm, đả kích mà còn có tiếng than, tiếng thở dài Tú X-ơng
Trang 39không chỉ là một nhà thơ trào phúng mà còn là một nhà thơ đậm chất trữ tình Trữ tình và trào phúng trong thơ Tú X-ơng chỉ là mặt này hay mặt khác của cùng một hiện t-ợng, chỉ là sự khúc xạ vào những lăng kính khác nhau của cùng một tâm hồn và nó thể hiện rõ ở giọng điệu
“Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệu” [22, 113] Với Tú X-ơng, giọng điệu có khi là phê phán, trào phúng, mỉa mai, cay độc, có khi là giọng tự trào chua chát, buồn bã ngao ngán cho mọi biến
đổi đáng buồn ở cuộc đời, khi thì giọng nanh nọc, bốp chát khó chịu D-ờng nh- ông muốn tống tiễn tất cả mọi hiện t-ợng lố bịch của đời sống xã hội thực dân nửa phong kiến vào "v-ơng quốc của bóng tối", của cái chết Mỗi một nhà thơ đều có giọng nói riêng, hoà vào tác phẩm tạo nên văn khí, hơi văn, tạo nên giọng “trời phú” Với Tú Xương, giọng thơ sắc, mạnh,
đầy cá tính, thiên về trào phúng nh-ng luôn gắn với trữ tình Tiếng c-ời nh-ng luôn để lại d- vị, thấm đậm n-ớc mắt
1.3.3.2 Giọng điệu trào phúng
Tú X-ơng là nhà thơ trào phúng có biệt tài Ông ghi chép lại những cảnh đời lố lăng bằng những hình ảnh góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén Giọng thơ của Tú X-ơng biến đổi nhiều vẻ từ bài này sang bài khác, có những nụ c-ời nhẹ nhàng dí dỏm, có những nụ c-ời mỉa mai, cay độc, chua chát, đập thẳng vào bọn xu thời, tục rởm; cũng có những tiếng c-ời đau lòng, c-ời ra n-ớc mắt Trong một số bài tự thuật, Tú X-ơng tự giễu hoặc là khoác lác
một cách tình tứ Vịnh cảnh thất nghiệp nằm nhà chơi cái trò “Bốn con làm lính, bố làm quan”, ông kết thúc hóm hỉnh:
Hỏi ra quan ấy ăn l-ơng vợ,
Đem chuyện trăm năm giở lại bài
(Quan tại gia)
Ông khoe có lần đ-ợc vợ khen trong mấy câu thơ giản dị, ý vị:
Rằng hay thì thật là hay Không hay sao lại đỗ ngay tú tài!
X-a nay em vẫn chịu ngài
(Tết dán câu đối)
Có hôm “Đi hát mất ô” ông có mấy câu tình tứ, nhẹ nhàng:
Trang 40Hỏi ô, ô mất bao giờ, Hỏi em, em cứ ậm ờ không th-a, Chỉn e rầy gió mai m-a,
Lấy gì đi sớm về tr-a với tình?
Nh-ng trong thơ Tú X-ơng, tiếng c-ời hài h-ớc vô t- nh- thế thực ra cũng khá hiếm hoi! Tiếng c-ời th-ờng gặp trong thơ Tú X-ơng là một tiếng c-ời hoàn toàn khác hẳn
Nếu Yên Đổ thiên về lối mỉa mai bóng gió, thâm thuý:
Anh mừng cho chú đỗ ông nghè Chẳng đỗ thì trời chẳng dám nghe
C-ời cái giả dối, h- danh của khoa cử chữ Hán thời mạt vận, Nguyễn Khuyến chỉ c-ời theo giọng mỉa mai chua chát và cũng ở mức nhẹ nhàng:
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi
Tú X-ơng thì chửi ra chửi: Cử nhân: cậu ấm Kỷ,
Tú tài: con đô Mỹ Thi thế mới là thi!
ới khỉ ơi là khỉ!
(Than sự thi)
Ông chửi vào mặt một viên quan chấm thi dốt nát gian dối: