1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những thế giới nghệ thuật ca dao

22 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 396,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể khái quát một số đặc điểm chung của ngôn ngữ ca dao: + Sự kết hợp giữa ngôn ngữ nghệ thuật ngôn ngữ giàu chất thơ với ngôn ngữ của đời sống, với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quầ

Trang 1

Chương II

NGÔN NGỮ CA DAO

§ ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NGÔN NGỮ CA DAO

Có  thể  nói,  ngôn  ngữ  trong  ca  dao  đã  kết  tụ  những  đặc  điểm nghệ thuật tinh tuý đẹp đẽ nhất của ngôn ngữ dân tộc. 

Ngôn ngữ trong ca dao giản dị, cô đọng, trong sáng, chính xác 

vì đã được gọt rũa, trau chuốt, chắt lọc qua sự đồng sáng tạo của hàng 

bao thế hệ. Những câu ca dao đến được với chúng ta ngày nay phải đẹp cả nội dung và hình thức giúp cho việc biểu lộ thế giới tâm hồn 

đa dạng, phong phú và vô cùng sâu sắc của con người. Có thể khái quát một số đặc điểm chung của ngôn ngữ ca dao: 

+  Sự  kết  hợp  giữa  ngôn  ngữ  nghệ  thuật  (ngôn  ngữ  giàu  chất thơ) với ngôn ngữ của đời sống, với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân; 

+  Sự  kết  hợp  giữa  ngôn  ngữ  ca  dao  và  ngôn  ngữ  thơ  ca  văn học viết; 

+  Sự  kết  hợp  tính  dân  tộc  và  tính  địa  phương.  Văn  học  dân  gian 

đóng  vai  trò  cơ  sở,  nền  tảng  cho  văn  học  viết  trong  quá  khứ  trên nhiều phương diện, trong đó có ngôn ngữ. Các nhà thơ lớn của dân tộc như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Bính, Tố Hữu  đã tiếp thu nguồn mạch trong trẻo của ngôn ngữ ca dao để sáng tác nên những tác phẩm có giá trị lớn lao. Ngược lại, ca dao mang đặc điểm phong cách thơ ca trung đại rõ nét, thể hiện mối quan hệ ảnh hưởng qua  lại  giữa  văn  học  dân  gian  và  văn  học  viết.  Những  tác  giả  bình dân cũng tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của thơ ca văn học viết từ cách 

Trang 2

sử  dụng  từ  ngữ  đến  việc  đưa  vào  thơ  ca  của  mình  những  điển  cố, 

Đèn tà thấp thoáng bóng trăng 

Ai đem người ngọc thung thăng chốn này. 

Bên cạnh vẻ đẹp trang trọng, giàu chất thơ thì sức hấp dẫn của ngôn  ngữ  ca  dao  còn  ở  tính  chất  giản  dị,  đậm  màu  sắc  khẩu  ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Các nhà nghiên cứu thật có lý khi cho rằng sức quyến rũ của thơ ca dân gian chính là ở sự giản dị, chân thực. Ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp hài hoà giữa ngôn ngữ đời thường với ngôn ngữ thơ. Nó vừa giản dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động vừa mang tính nghệ thuật cao, giàu sức biểu cảm. 

‐ Lá này là lá xoan đào  Tương tư gọi nó thế nào hở em 

Lá khoai anh ngỡ lá sen  Bóng trăng anh ngỡ bóng đèn em khêu. 

‐ Gió sao gió mát sau lưng 

Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này. 

Trang 3

hệ, nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau nên nó mang tính thống nhất và tính  đa  dạng.  Ngôn  ngữ  ca  dao  vừa  đậm  đà  bản  sắc  dân  tộc  vừa mang  sắc  thái  địa  phương  rõ  nét.  Việc  sử  dụng  tiếng  địa  phương đúng chỗ, thích hợp sẽ làm cho ca dao có sắc thái riêng, thêm phong phú đa dạng. Đúng như một số ý kiến nhận xét rất tinh tế: ca dao Bắc 

Bộ thường trau chuốt, bóng bẩy, hay dùng lối so sánh, ví von, nghĩa 

là hay nói vòng vo, bóng gió, gần với lối diễn đạt điêu luyện của văn chương  bác  học;  còn  ca  dao  miền  Trung  và  đi  sâu  hơn  vào  nam Trung Bộ, nó mang phong cách của ngôn ngữ vùng đất mới, có phần 

tự nhiên, phóng khoáng, không bị trói buộc bởi các quy tắc một cách quá chặt chẽ: 

Trang 4

cho việc  nghiên  cứu  tính  ngữ:  Từ  lịch  sử  của  tính  ngữ,  Sự  lặp  lại tính  ngữ như một thời điểm niên đại trong công trình nổi tiếng Thi pháp lịch 

sử  của  mình.  V.M.Xidennhicôp  có  bài Tính  ngữ  trong  bài  hát  trữ  tình  dân  gian  (M,  1959),  N.L.Crapxôp  có  bài  Tính  ngữ  trong  các  bài  ca  sinh  hoạt  trữ  tình, E.I.Iaxucôp:  Tính  ngữ,  trong  các  bài  ca  múa  vòng,   N.V.Pôchiavina: Tính ngữ trong các bài ca binh lính, C.G.Laduchin Tính  ngữ  trong tráng  sĩ  ca,  bởi  ca  lịch  sử oà bài  ca  trữ  tình   Trong  các  công 

trình này, các nhà nghiên cứu đã đi sâu khảo sát tính ngữ trong các thể  loại  khác nhau,  tìm  hiểu  đặc  điểm  sử  dụng  tính  ngữ  ở  mỗi  thể loại, từ đó hiểu rõ hơn đặc thù thể loại.  

Trang 5

Tính ngữ chiếm một vị trí quan trọng trong phong cách thơ ca, trong  cấu  trúc  nghệ  thuật,  tư  tưởng  của  tác  phẩm. Trong  mối  liên quan  với  sự  hiện  diện  của  khoa  học  ngữ  văn, một  lĩnh  vực  lí  luận mới xuất hiện với việc cần thiết nghiên cứu tính ngữ ở một khía cạnh mới  nào  đó;  hiện  nay,  tính  ngữ cần  được  nghiên  cứu  sâu  sắc  hơn dưới  ánh  sáng  của  việc  giải quyết  vấn  đề  thể  loại,  xác  định  những đặc  trưng  của  phương pháp  nghệ  thuật,  sự  phát  triển  có  tính  quy luật của phônclo và văn học. Các thể loại văn học dân gian khác nhau không chỉ  được  phân  biệt  ở  những  đặc  trưng  phản  ánh  trong 

nó những chất liệu cuộc sống mà còn ở chính những nguyên tắc, cách thức, phương pháp nghệ thuật của sự phản ánh đó. Sự sử dụng tính ngữ ở mỗi thể loại có những đặc điểm riêng thể hiện đặc thù thể loại.  Chuyên khảo này của chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào những  vấn  đề  lớn  như  lịch  sử  tính  ngữ,  những  đặc  điểm tính  ngữ trong việc góp phần phân biệt các thể loại mà chỉ đi vào việc khảo sát tính ngữ trong thơ trữ tình dân gian Việt Nam; bước đầu nghiên cứu đặc điểm sử dụng tính ngữ trong ca dao, tìm hiểu nét đặc sắc có tính chất truyền thống trong hình thức nghệ thuật đã góp phần biểu hiện thế giới tâm hồn phong phú của nhân dân lao động Việt Nam.  

II Phân loại tính từ, tính ngữ trong thơ ca trữ tình dân gian

Theo định nghĩa của Viện sĩ A.N.Vêxêlôpxki: ʺTính ngữ là định ngữ một phía của ngôn từ, hoặc xác định ý nghĩa chung chiếm ưu thế hoặc làm tăng thêm, nhấn mạnh thêm một phẩm chất đặc trưng, nổi 

bật nào đó của sự vậtʺ (Thi pháp lịch sử. M, 1940).  

Muốn  nghiên  cứu  sâu  một  đối  tượng,  công  việc  đầu  tiên của người nghiên cứu là phân loại đối tượng. Mỗi cách phân loại đều đi theo một tiêu chí nhất định, chúng đều có hạt nhân hợp lý cũng như 

sẽ  có  những  hạn  chế,  hoặc  khó  phân định  tư  liệu  hoặc  chưa  bao quát được hết đối tượng. A.N.Vêxêlôpxki đã phân loại tính ngữ ra thành bốn nhóm:  

‐  Tính  ngữ  trùng  lặp.  Về  bản  chất  có  sự  đồng  nghĩa, gần  gũi 

giữa danh từ và tính từ, chúng đều diễn đạt một ý tưởng của cuộc 

Trang 6

‐  Tính  ngữ  ẩn  dụ.  Tạo  ra  sự  song  hành  của  cảm  giác, ngầm  so 

sánh chúng. Như bất kỳ ẩn dụ nào, sự giả định chuyển đổi dấu hiệu nhận  thức  nổi  bật  từ  một  trong  những đối  tượng  so  sánh  này  sang đối tượng khác.  

Ví dụ: Nỗi buồn đen, nỗi buồn chết chóc.  

‐  Tính  ngữ  nguyên  hợp.  Cơ  sở  của  nhóm  tính  ngữ  này là  tính 

dính  kết  giữa  tính  ngữ  này  và  tri  giác  bên  ngoài  với kết  quả  liên tưởng, biểu tượng tình cảm của chúng ta.  

Ví dụ: Chất giọng sáng, lời cay độc, đêm dày đặc.  

Theo chúng tôi, giữa tính ngữ ẩn dụ và tính ngữ nguyên hợp có nhiều điểm có thể hòa đồng. Xét về mặt cội nguồn, chúng có thể có 

sự  phân  biệt  rõ  nhưng  trên  lớp  cắt  đồng  đại, có  thể  tạm  gộp  chúng với nhau để tiện nghiên cứu. Vì thế, với tính ngữ trong các bài dân ca trữ tình dân gian Việt Nam, chúng tôi khảo sát theo ba nhóm.  

1 T˝nh ngữ tr•ng lặp

Nghiên  cứu  bộ  phận  tính  ngữ  trùng  lặp  trong  bài  ca  trữ tình dân gian Việt Nam có thể thấy chúng thiên về nhóm tính từ chỉ màu 

Trang 7

sắc. Nếu tính ngữ ở nhóm này trong bài ca trữ tình dân gian Nga là ʺcô gái đẹpʺ, ʺmặt trời đỏʺ, thì trong các bài hát trữ tình dân gian Việt Nam  nó  thường  cụ  thể  hóa những  nét  đặc  điểm  nào  đó  của  con người,  sự  vật:  ʺmá  đỏ hồng  hồngʺ,  ʺyếm  thắm  lòa  lòaʺ,  ʺrăng  đen nhưng nhứcʺ, ʺchim xanh ăn trái xoài xanhʺ.  

‐ Người khôn con mắt đen sì  

Người dại con mắt nửa chì nửa thau.  

Nhân  dân  lao  động  thường  thiên  về  miêu  tả  những  gam màu tươi  tắn,  sáng  sủa.  Theo  sự  quan  sát  thì  màu  xanh chiếm  tỷ  lệ  cao nhất, rồi đến màu vàng, màu trắng, màu đỏ, màu đen. Có tả màu đen thì cũng phải là màu đen theo quan điểm thẩm mỹ một thời: ʺRăng 

đen nhưng nhức hạt dưaʺ….  

‐ Gặp cô má phấn răng đen  

A di đà Phật anh quên mất chùa.  

Trang 8

Sau các tính từ chỉ màu sắc, có thể còn có các từ láy tạo thành tính ngữ kép. Phải chăng đây là một đặc điểm của tính ngữ chỉ màu sắc của ca dao Việt Nam. Miêu tả, gọi tên màu sắc chưa đủ, còn phải dùng  từ  láy  để  nhấn  mạnh,  để diễn  tả  đậm  nét  hơn:  ʺmá  đỏ  hồng hồngʺ, ʺyếm thắm lòa lòaʺ, ʺcon mắt đen sìʺ, ʺđất rộng mênh môngʺ, ʺtrời  cao lồng  lộngʺ. Tính ngữ kép  có  tác  dụng  gây  ấn  tượng  nhanh mạnh,  có  thể khái  quát  chăng  về  tâm  lý  yêu  ghét  rõ  ràng,  rạch  ròi, 

không chấp nhận sự nửa vời của nhân dân lao động. 

Nhóm tính từ chỉ màu sắc cho thấy đặc điểm tâm lý dân tộc qua cách  miêu  tả.  Những  màu  sắc  mà  người  dân  lao  động yêu  thích thường được dùng để miêu tả đối tượng trữ tình ‐ đó là những chàng trai  cô gái mà  họ  đang  thầm  yêu  trộm  nhớ hoặc  đang tìm  mọi  cách khéo léo để giãi bày tâm trạng.  

‐ Hỡi cô thắt dải lưng xanh  

Ngày ngày thấp thoáng bên mành chờ ai.  

Thiên  nhiên  tươi  tắn,  rực  rỡ,ʺmây  trắng  trời  hồngʺ,  ʺmây bạc chín tầngʺ, trời cao lồng lộngʺ, ʺmây xanh mây trắng mây vàngʺ, luôn hiện  lên trong tâm trạng  của  chàng trai đang yêu. Thường ở những bài  ca  này, nhân  vật trữ  tình là các  chàng  trai,  còn  cô  gái  nhìn  cảnh sắc thiên nhiên bằng con mắt trầm tĩnh hơn, tâm tưởng hơn, cho nên 

họ  ít  miêu  tả cảnh  sắc  thực,  có  chăng  là  màu  sắc  đã  được  chuyển theo nghĩa tâm trạng: ʺHỡi anh áo trắng vân vânʺ. 

Người  phụ  nữ  thường  nhìn  không  gian  trong  tâm  tưởng. Đây 

Trang 9

Có thể thấy rõ là, bên cạnh màu sắc được sử  dụng để miêu tả màu  sắc  thực  của  đối  tượng  còn  có  một  bộ  phận không  nhỏ  được dùng theo nghĩa bóng, cần hiểu theo văn cảnh:  

Trang 10

Để cho người hèn bẻ lái không ra.  

Chiếm một số lượng lớn trong nhóm tính ngữ này là nhóm tính ngữ chỉ khoảng cách không gian, đặc biệt là những từ chỉ không gian 

xa  cách  (cao,  dài,  rộng)  non  cao, sông  rộng,  rừng  sâu  bộc  lộ  thuộc tính nội tại của sự vật, qua đó khắc họa những khó khăn cách trở của đôi lứa yêu đương.  

Trang 11

Nhiều khi thiên nhiên được nêu ra với những giả định về tính chất bền vững, vĩnh cửu của không gian để so sánh với tình cảm con người. Thiên nhiên thường được đưa ra để thề nguyền, ước hẹn: 

Trang 12

khúc  về  miếng  trầu,  không cần  một  thông  báo  nào  khác  ngoài  sự chuyển  đổi  dấu  hiệu nhận  thức  đối  tượng  với  những  tên  gọi  đa dạng  phong  phú  về miếng  trầu.  Chỉ  cần  gọi  tên  miếng  trầu  trong các tính ngữ ẩn dụ, bài ca đã diễn đạt được sự trân trọng người yêu (biểu tượng  của  đẹp  đôi  vừa  lứa  (ʺtrầu  loan  trầu  phượngʺ),  sự thắm thiết và đạo lý tình yêu (ʺtrầu nhân trầu ngãiʺ); sự thông minh chững chạc của nhân vật trữ tình, sự duyên dáng ở lối phô diễn tình cảm trong cách vơ vào rất có duyên (ʺtrầu tôi trầu mìnhʺ, ʺtrầu tính trầu tìnhʺ, ʺtrầu mình lấy taʺ). Đây  là một  trong những  kiểu  bài  ca 

có chức năng giao duyên (có thể rõ hơn là bài ca mời trầu) trong hát giao duyên mà sự sử dụng hàng loạt tính ngữ có giá trị biểu cảm rõ rệt. Chỉ  bằng  cách  sử  dụng  và  thay  đổi  các  tính  ngữ,  người  hát 

đã diễn  đạt  rõ  ý  tưởng  của  mình,  bộc  lộ  rõ  tâm  trạng  trữ  tình của thể  loại  mang  đậm  bản  chất  trữ  tình.  Trong  ca  dao,  ta  có  thể  gặp không  ít  sự  chuyển  nghĩa  đặc thù  như  vậy.  Nỗi  buồn  của  lòng người  cũng  như  niềm  vui sướng  hạnh  phúc  thường  được  gửi  gắm trong cỏ, cây, hoa lá:  

Tưởng rằng bóng cả cây cao  

Thiếp lăn mình vào những nắng cùng mưa.  

‐ Ai ơi chua ngọt đã từng  

Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau 

Trang 13

III. Đặc ₫iểm sử dụng tính ngữ trong ca dao

Trên đây trong quá trình phân loại, chúng tôi đã sơ bộ trình bày một số đặc điểm sử dụng tính ngữ trong từng nhóm. Để có cái nhìn tổng quát, chúng tôi xin rút ra một số nhận xét chính về đặc điểm sử dụng tính ngữ trong các bài hát trữ tình dân gian.  

1.  Tính  ngữ  được  sử  dụng  trong  ca  dao  trữ  tình  với  số lượng 

lớn,  lớn  hơn  bất  kỳ  một  thể  loại  tự  sự  hay  văn  vần  nào khác  trong văn  học  dân  gian  (so  với  vè,  truyện  thơ).  Là  một yếu  tố  ngôn  ngữ nghệ thuật của thể loại mang đậm bản chất trữ tình, tính ngữ đã góp phần  bộc  lộ  tâm trạng  trữ  tình, biểu  lộ  tư  tưởng  thẩm mỹ  một  cách 

ưu việt. Tính từ trong nhóm định ngữ này đã đóng vai trò trung tâm trong  ý  nghĩa biểu  cảm.  Hãy  thử  che  đi  các  tính  từ,  chỉ  giữ  lại  các danh  từ, ta  sẽ  thấy  lời  ca  mất  hẳn  đi  ý  nghĩa  biểu  cảm  đặc  thù. Thế giới tâm hồn con người là vô hình, vô hạn, phong phú, phức tạp muốn biểu hiện nó phải viện đến các biện pháp nghệ thuật mà tính ngữ là một trong những phương tiện nghệ thuật đắc dụng. 

2.  Ca  dao  mang  đặc  điểm  phong  cách  thơ  ca  trung  đại  rõ nét, 

thể hiện rõ mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn  học  viết.  Điều  này  đặc  biệt  rõ  khi  ta  khảo sát  nhóm  tính  ngữ trong  ca  dao.  Tính  ngữ  trong  các  bài  ca trữ  tình  dân  gian  vừa  chứa đựng  những  yếu  tố  ngôn  ngữ nghệ  thuật  cụ  thể  sinh  động,  diễn  tả 

một cách chân thật tình cảm của người lao động (Em như tép nhỏ lộn  rong,  em  như chiếu  rách,  củi  than  nhem  nhuốc )  vừa  sử  dụng  nhiều 

hình ảnh  ước  lệ,  đôi  khi  dẫu  có  sáo  mòn  nhưng  được  lặp  đi  lặp lại nhiều lần trở thành cách nói quen thuộc trong dân gian. Các điển 

cố, điển tích được sử dụng nhiều trong văn học viết cũng xuất hiện với mật độ cao trong thơ ca trữ tình dân gian, đem lại cho thơ ca dân gian một vẻ đẹp thẩm mỹ thời đại.  

Lối nói phóng đại hoặc lối nói nhún nhường với những điển cố, những  ẩn  dụ  trong  ca  dao  rõ  ràng  chịu  ảnh  hưởng của  văn  thơ  bác học trung đại.  

Trang 14

Em như chỉ thắm, thêu rồng nên chăng. 

‐ Tơ hồng chỉ thắm là duyên  Dẫu bao giờ gặp thì nên bấy giờ. 

‐ Ước sao chỉ Tấn tơ Tần  Sắt cầm hòa hợp lửa vần quan thư. 

‐ Cánh hồng bay bổng trời thu  Thương con chim gáy cúc cu trong lồng. 

‐ Dâu về dâu chẳng về không  Ngựa ô đi trước, ngựa hồng theo sau  Ngựa ô đi đến vườn cau  Ngựa hồng chậm rãi đi sau vườn dừa. 

Cách nói giàu tính chất ước lệ kết hợp hài hoà với cách miêu tả không  gian,  cảnh  vật  thực  khiến  cho  lời  ca  vừa  đẹp, mang  phong cách ngôn ngữ trang trọng của một thời đã xa mà vẫn chan chứa hồn quê, làng quê Việt Nam thân thuộc.  

3. Một đặc điểm dễ nhận thấy khi khảo sát tính ngữ ca dao là sự 

sử dụng đậm đặc tính ngữ, thành ngữ dân gian. Chính việc sử dụng nhuần  nhị  thành  ngữ  dân  gian,  tận  dụng lối  tư  duy,  lối  nói  quen thuộc trong lời ăn tiếng nói của nhân dân nên kết cấu của ca dao tuy ngắn gọn mà vẫn đủ sức diễn đạt ý tưởng, tình cảm một cách sâu sắc, 

rõ  ràng.  Các  tính ngữ,  thành  ngữ  quen  thuộc  thường  được  dùng 

trong  ca  dao như:  gừng  cay  muối  mặn,  gừng  cay  mía  ngọt,  non  xanh  nước bạc, đồng trắng nước trong, dạ sắt gan đồng… 

‐ Thấy anh em cũng muốn chào 

Sợ lòng bác mẹ cây cao lá dài. 

‐ Tưởng rằng bóng cả cây cao  Thiếp lăn mình vào những nắng cùng mưa. 

Trang 15

‐ Trăm năm đá nát vàng phai  Sông mòn bể cạn, không sai lời nguyền. 

Các tính ngữ, thành ngữ này mang lớp ý nghĩa tổng hợp, có giá trị khái quát cao. Tưởng ít có cách diễn đạt nào gọn lời đa nghĩa mà chất văn chương vẫn đậm đà đến vậy.  

Còn có thể nhận thấy những đặc điểm khác nữa trong tính ngữ 

ca dao… Ví dụ dấu ấn của biện pháp tu từ qua lối đảo từ đưa tính từ lên trước danh từ để nhấn mạnh tính chất đối tượng:  

bát,  của  đặc  điểm  ngôn  ngữ thơ  Việt  Nam,  phù  hợp  với  nhịp  bằng trắc theo luật ngữ âm. Tất cả những đặc điểm này và một số vấn đề khác nữa như: tính ngữ ca dao trong sự so sánh với một số thể loại văn  vần (vè  truyện  thơ,  sử  thi);  tính  ngữ  trong  sự  phát  triển  lịch 

về  thi  pháp,  tính ngữ  là  một  phương  diện  ngôn  ngữ  nghệ  thuật được sử dụng một cách ưu việt trong việc diễn tả tâm trạng trữ tình của một thể loại mang bản chất trữ tình đặc thù.  

Ngày đăng: 06/01/2020, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w