1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ hợp tác kinh tế việt nam campuchia từ 1979 đến 2007

116 506 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Hợp Tác Kinh Tế Việt Nam - Campuchia Từ 1979 Đến 2007
Tác giả Lê Thị Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Lịch Sử
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới đây là một số tư liệu nghiên cứu về quan hệ Việt Nam Campuchia mà chúng tôi tiếp cận được: -- Cuốn “Việt Nam -- ASEAN quan hệ đa phương và song phương” VũDương Ninh cb - Nxb Chính t

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

Trang 2

MỞ

ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8

5 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 9

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Bố cục của luận văn 11

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - CAMPUCHIA 12

1.1 Quan hệ truyền thống 12

1.2 Quan hệ chính trị - ngoại giao 15

1.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam và Campuchia 20

1.3.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam 20

1.3.2 Chính sách đối ngoại của Campuchia 24

1.4 Bối cảnh quốc tế và khu vực 26

1.4.1 Bối cảnh quốc tế 26

1.4.2 Bối cảnh khu vực 30

Tiểu kết 32

CHƯƠNG 2 QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - CAMPUCHIA (1979 - 2007) 34

2.1 Giai đoạn 1979 đến 1993 34

2.1.1 Viện trợ không hoàn lại 34

2.1.2 Một số lĩnh vực hợp tác kinh tế khác 40

2.2 Giai đoạn 1993 đến 2007 42

2.2.1 Hợp tác trong lĩnh vực thương mại 42

2.2.1.1 Thuận lợi 43

Trang 3

2.2.1.2 Khó khăn 45

2.2.1.3 Thực trạng hợp tác thương mại Việt Nam và Campuchia từ 1993 đến 2000 48

2.2.1.4 Thực trạng hợp tác thương mại Việt Nam và Campuchia từ 2001 đến 2007 51

2.2.1.5 Định hướng phát triển thương mại giữa Việt Nam và Campuchia đến năm 2010 60

2.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực đầu tư 62

2.2.3 Hợp tác trong lĩnh vực du lịch 64

2.2.4 Hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia trong khuôn khổ hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê kông mở rộng 67

2.2.5 Một số lĩnh vực hợp tác khác 70

Tiểu kết……… 72

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - CAMPUCHIA 73

3.1 Đặc điểm của quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia 73

3.2 Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia trong tương lai 76

3.3 Triển vọng hợp tác Việt Nam - Campuchia 82

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Với sự phát triển của thế giới ngày nay, xu thế hợp tác kinh tế củacác quốc gia, các dân tộc ngày càng được mở rộng Hội nhập và hợp tác trởthành động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗiquốc gia Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển đều phải là thành viênkhông thể tách rời của cộng đồng quốc tế Khi thế giới chuyển dần từ đối đầusang đối thoại thì sự hợp tác để cùng phát triển có vai trò rất quan trọng đối vớibất kỳ quốc gia nào trên thế giới Trong đó quan hệ hợp tác kinh tế giữa cácnước là một nhu cầu thiết yếu trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế

Trong tiến trình đó, việc các nước không ngừng mở rộng quan hệ hợptác với nhau đã trở thành một yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết và quan hệ hợptác kinh tế Việt Nam - Campuchia không nằm ngoài tiến trình vận động đó

1.2 Việt Nam và Campuchia là hai nước có vị trí chiến lược quan trọng

ở khu vực Đông Nam Á, là hai nước láng giềng có chung đường biên giới trên

bộ khoảng 1.137 km, có vùng biển chung và có dòng sông Mê kông nối liềnhai nước Vùng đất Nam Bộ và Tây Nguyên của Việt Nam và đất nướcCampuchia trên cơ bản đều thuộc địa vực hạ lưu và châu thổ của sông Mêkông, đây là một vùng có nền văn hoá lâu đời và tập trung sâu đậm nhữngquan hệ văn hoá truyền thống của hai nước Từ những kết quả nghiên cứu củangành khảo cổ học người ta có thể nhận ra rằng trong suốt mấy ngàn năm lịch

sử miền Nam Việt Nam và Campuchia cùng nằm trong một khu vực văn hoáchung với những đặc trưng thống nhất trong lối làm ăn, lối sống, nếp nghĩ,nghệ thuật âm nhạc, diễn xướng dân gian, cùng nhiều loại hình nghệ thuậtkhác… Tất cả đã gắn bó với nhau, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử

1.3 Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng trong hàng ngàn năm qua,nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia đã có mối quan hệ láng giềnghữu nghị, chia ngọt sẻ bùi, tương thân tương ái, chung lưng đấu cật cải tạo tự

Trang 5

nhiên và chống ngoại xâm Trong suốt tiến trình lịch sử, nhân dân hai nước đãnhiều lần cùng sát cánh bên nhau chiến đấu đánh bại các thế lực bành trướng

từ phương Bắc xuống hoặc từ phương Tây sang để bảo vệ nền độc lập dântộc Đến nay lịch sử cả hai dân tộc còn ghi lại những trang sử chiến đấu vàchiến thắng chói lọi của tình đoàn kết chiến đấu chống ngoại xâm

1.4 Quan hệ giao thương giữa hai nước được xác lập từ lâu đời Vớihàng chục tuyến đường bộ và nhiều cửa khẩu qua lại thuận tiện giữa hai nước,nhất là dòng Mê kông - tuyến đường thuỷ hết sức thuận tiện cho việc giaothương đi lại, buôn bán giữa hai quốc gia, càng làm cho quan hệ giữa nhân dânhai quốc gia ngày càng bền chặt Hai nước còn có vùng biển chung rất thuậnlợi cho việc hợp tác cùng khai thác phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp, giaothông đường thuỷ và khai thác các nguồn hải sản, tài nguyên dưới đáy biển

1.5 Hiện nay, quan hệ Việt Nam - Campuchia nói chung và quan hệhợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia nói riêng đang diễn ra trong bối cảnhkhu vực và quốc tế có những chuyển biến quan trọng Chiến tranh lạnh đã kếtthúc, xu hướng khu vực hoá, quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh

mẽ buộc các quốc gia trên thế giới phải tích cực hội nhập, gia tăng sức mạnhkinh tế để đương đầu với các cuộc cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắthơn Việt Nam và Campuchia đều là các thành viên chính thức của ASEAN,

vì thế việc tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và áp lực thựchiện lộ trình AFTA khiến hai nước cần tăng cường hơn nữa hợp tác kinh tếtrên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch

về kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới

Với nền tảng vững chắc là mối quan hệ truyền thống thuỷ chung lâuđời giữa hai nước đã tạo cơ sở thuận lợi cho hai nước trong quá trình hợp táckinh tế và thực tế quá trình hợp tác này đã thu được những kết quả tốt đẹp

Trang 6

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quan hệ

hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia từ 1979 đến 2007” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Quan hệ Việt Nam - Campuchia là đề tài thu hút sự chú ý đối vớicác nhà nghiên cứu trong khu vực cũng như ở hai nước Việt Nam vàCampuchia Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu viết về mối quan

hệ này Nhưng nhìn chung, những công trình đó nằm rải rác ở các bài báo, tạpchí, hơn nữa các công trình nghiên cứu đó lại thiên về nghiên cứu một cáchkhái quát mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam -Campuchia, ít thấy công trình nghiên cứu nào đi sâu vào từng lĩnh vực củamối quan hệ đó, đặc biệt là quan hệ trong lĩnh vực kinh tế giữa hai nước Tuynhiên, trong điều kiện cho phép chúng tôi mới chủ yếu tiếp cận được các bàiviết, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Nguồn tư liệuchúng tôi tiếp cận được dưới nhiều dạng khác nhau: sách tham khảo, các luậnvăn, luận án, nhiều bài tham luận trong các hội thảo liên quan, các bài viếtđăng trên các bài báo và tạp chí như: Nhân Dân, Nghiên cứu Đông Nam Á,Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu Quốc tế, Những Vấn đề kinh tế thế giới…

2.2 Dưới đây là một số tư liệu nghiên cứu về quan hệ Việt Nam Campuchia mà chúng tôi tiếp cận được:

Cuốn “Việt Nam ASEAN quan hệ đa phương và song phương” (VũDương Ninh (cb) - Nxb Chính trị Quốc gia, HN - 2004) đã tập trung trình bàyquan hệ nước ta với tổ chức ASEAN và với từng nước thành viên trên cáclĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá… Trong đó có bài viết: “Quan

hệ Việt Nam - Campuchia” của TS Phạm Đức Thành đã đề cập đến mối quan

hệ giữa Việt Nam và Campuchia trong suốt chiều dài lịch sử, mặc dù còn sơlược nhưng đó là những nét cơ bản trong quan hệ hai nước

Trang 7

- Cuốn “Kỷ nguyên mới của đoàn kết, hợp tác Việt Nam - Campuchia”(Nxb Sự thật, HN - 1987) với nội dung: Được sự giúp đỡ của quân tìnhnguyện Việt Nam, nhân dân Campuchia đã lật đổ tập đoàn phản động PônPốt

- Iêng Xari, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự vàcũng từ đây mở ra một chương mới trong quan hệ Việt Nam và Campuchia

Đó là nội dung cơ bản mà cuốn sách đề cập tới

- Cuốn “Lịch sử Campuchia” (của tác giả Phạm Đức Thành - Nxb Vănhoá Thông tin, HN - 1995) tác giả khái quát lịch sử của Campuchia từ thờitiền sử cho đến những năm đầu của thập niên 90 - thế kỷ XX Qua tác phẩmnày chúng ta hiểu được quá trình hình thành và phát triển của lịch sửCampuchia cũng như những nỗ lực của nhân dân Campuchia để xây dựngmột nhà nước tự do, hoà bình và trung lập

- Cuốn “Gợi ý về phương hướng của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế

- xã hội đến năm 2005 của nước CHND Campuchia” (của Uỷ ban kế hoạchnhà nước - Viện Kế hoạch dài hạn và phân bố lực lượng sản xuất) là bản tậphợp của Viện Kế hoạch dài hạn và phân bố lực lượng sản xuất của nước tanhằm giúp Bộ Kế hoạch Campuchia xây dựng kế hoạch dài hạn phát triểnkinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học - kĩ thuật… của Campuchia đến năm 2005.Đây là kế hoạch phát triển dài hạn giúp chúng ta phần nào hình dung đượcbước phát triển của Campuchia trong khoảng thời gian 20 năm (1985 - 2005)

- Cuốn “Campuchia - 10 năm xây dựng và phát triển Chính sách đốingoại của Campuchia” (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á): Đây là bản tổng hợpnhững bài viết của các tác giả trong nước nhân Hội nghị khoa học: “Kỷ niệm

10 năm quốc khánh nước CHND Campuchia 1979 - 1989)” được tổ chức ởViện Nghiên cứu Đông Nam Á Các tác giả này đã trình bày những bản thamluận có liên quan đến Campuchia như: “Sự hồi sinh những giá trị tinh thầntrong văn hoá Campuchia”, “CHND Campuchia: 10 năm xây dựng và phát

Trang 8

triển”, “Những vấn đề cơ bản về tiềm năng và thực trạng kinh tế của CHNDCampuchia”, “Chính sách đối ngoại của nước CHND Campuchia”…

- Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Quan hệ Việt Nam - Campuchia trongbối cảnh mới: Hợp tác toàn diện cùng phát triển” gồm các báo cáo chủ yếusau đây:

“Quan hệ thương mại Việt Nam - Campuchia” của TS Từ Thanh Thuỷ

- Viện Nghiên cứu Thương mại

“Tỉnh Rattanakiri Vương quốc Campuchia: tiềm năm và triển vọng hợptác với các tỉnh Tây Nguyên Việt Nam” của TS Vũ Công Quý - Viện Nghiêncứu Đông Nam Á

“Những nhân tố thuận lợi và khó khăn trong quan hệ Việt Nam –Campuchia” của TS Nguyễn Cát Ngọc - Học viện Ngoại giao

“Hợp tác thương mại Việt Nam - Campuchia” của tác giả Lê PhươngHoà - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á

“Phương hướng hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia năm 2004 vànhững năm tiếp theo” của tác giả Lê Minh Điển - chuyên viên của Bộ Kếhoạch và Đầu tư

“Tình hình hợp tác kinh tế và đầu tư Việt Nam - Campuchia” của tácgiả Nguyễn Tiến Hiệp - Viện Chiến lược phát triển

“40 năm quan hệ Việt Nam - Campuchia nhìn lại và triển vọng” của TS

Vũ Tuyết Loan - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á

“Hợp tác phát triển du lịch Việt Nam - Campuchia” của tác giả ĐinhNgọc Đức - Vụ Hợp tác quốc tế - Tổng cục du lịch

“Tam giác phát triển góp phần tăng cường hợp tác Việt Nam Campuchia” của tác giả Phạm Đức Thành -Viện Nghiên cứu Đông Nam Á

Trang 9

-“Hợp tác Việt Nam - Campuchia trong bối cảnh hợp tác phát triển tiểuvùng Mê kông mở rộng” của TS Nguyễn Trần Quế - Viện Kinh tế và Chínhtrị thế giới.

“Một số kiến nghị tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam –Campuchia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của các tác giả Trần KimHào và Lương Minh Anh - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Ngoài các sách tham khảo, các báo cáo khoa học, các tham luận trongcác hội nghị liên quan đến mối quan hệ hai nước, chúng tôi còn tiếp cận cácbài viết trên các báo, tạp chí có liên quan Chẳng hạn như các bài: “35 nămquan hệ láng giềng gần gũi Việt Nam - Campuchia” của TS Vũ Dương Huân

- Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 47 (2002); bài “ Campuchia những năm cuốithập kỷ 90” của Uông Trần Quang - Tạp chí Những Vấn đề kinh tế thế giới số

2 (70) (2001); bài “Cải cách và những tiến triển gần đây ở Campuchia” củaUông Trần Quang - Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 1 (39) (1996);bài “ Xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Campuchia: thực trạng vàmột số giải pháp” của TS Từ Thanh Thuỷ - Tạp chí Những Vấn đề kinh tếthế giới số 9 (101) (2004)

Bên cạnh đó chúng tôi còn cập nhật được những thông tin về tình hìnhquan hệ kinh tế giữa hai nước cũng như bản thân mỗi nước thông qua tài liệucủa Thông tấn xã Việt Nam

2.3 Khảo sát các nguồn tư liệu viết về quan hệ Việt Nam - Campuchiachúng tôi rút ra được một số nhận xét sau đây:

Các tài liệu được dẫn ra trên đây phần nào ít nhiều đã đề cập đến quan

hệ Việt Nam - Campuchia Tuy vậy, các tài liệu đó chỉ mới phản ánh đượcmột số mặt hoặc một số lĩnh vực cụ thể hoặc một giai đoạn nào đó về sự hợptác giữa hai nước mà chưa có một tài liệu nào đề cập đến quan hệ hợp táckinh tế giữa hai nước một cách trọn vẹn và có hệ thống

Trang 10

Đa số các nguồn tài liệu trên đều khẳng định quan hệ Việt Nam Campuchia là mối quan hệ láng giềng truyền thống tốt đẹp, mối quan hệ đóngày càng thắt chặt hơn trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay Đây đượccoi là nền tảng cơ bản để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước.

-Những kết quả nghiên cứu trên được chúng tôi kế thừa, tiếp thu mộtcách có chọn lọc trong quá trình thực hiện luận văn của mình Từ đó, tác giảluận văn tập trung trình bày một cách có hệ thống quan hệ hợp tác kinh tếViệt Nam - Campuchia từ 1979 đến 2007

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Từ lịch sử vấn đề nêu trên chúng tôi xác định đối tượng của luậnvăn là quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia từ 1979 đến 2007

3.2 Về mặt thời gian: Luận văn giới hạn từ năm 1979 - là thời điểmNhân dân Campuchia lật đổ tập đoàn phản động PônPốt - Iêng Xari, mở ramột kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự và cũng từ đây mở ramột chương mới trong quan hệ Việt Nam và Campuchia Đến năm 2007 làtròn 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia (1967

- 2007)

3.3 Về nội dung:

Trọng tâm của luận văn là nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế ViệtNam - Campuchia trong giai đoạn 1979 - 2007 Trong đó chúng tôi cố gắngtrình bày những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế của hai nước vànhững thành tựu mà hai bên đạt được trên một số lĩnh vực như: thương mại,đầu tư, hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, du lịch… Từ đó nêu lên một sốnhận xét về mối quan hệ này và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan

hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước ngày càng phát triển

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Trang 11

Để giải quyết những vấn đề khoa học do đề tài đặt ra, chúng tôi sửdụng nguồn tài liệu gốc là chính phục vụ cho việc thực hiện luận văn Nguồntài liệu gốc bao gồm: Các văn kiện Đại hội Đảng (Đại hội VII, VIII, IX, X);Nghị quyết, Chỉ thị của TW Đảng; một số tác phẩm của các nhà lãnh đạoĐảng và Nhà nước; các bài diễn văn, bản tuyên bố, các văn kiện, hiệp ước,hiệp định song phương ký kết giữa Việt Nam và Campuchia;…

Ngoài ra để hoàn thành luận văn này, chúng tôi còn sử dụng các tàiliệu tham khảo từ các sách, báo, tạp chí, chuyên đề… liên quan đến quan

hệ hai nước

Đó là những nguồn tài liệu mà chúng tôi có điều kiện tiếp cận được, tuyvậy do có nhiều hạn chế nên chúng tôi đã không tiếp cận được tất cả các tàiliệu có liên quan cũng như những công trình nghiên cứu nước ngoài về mốiquan hệ hai nước, đó là điểm hạn chế trong quá trình nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề do đề tài đặt ra, về mặt phương pháp luận, chúngtôi dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch

sử Bên cạnh đó, chúng tôi cố gắng tiếp cận những quan điểm mới nhất,những quan điểm ấy chính là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý các nguồn tàiliệu và tiếp cận với quan điểm của nhiều học giả khác nhau

Tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng phươngpháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phươngpháp định lượng (thống kê toán học), phương pháp đối chiếu, so sánh để xử lýcác số liệu và làm nổi bật đặc điểm của quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -Campuchia Sử dụng những phương pháp này nhằm đảm bảo tính trung thực,khách quan và chính xác của luận văn

5 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

5.1 Mục đích

Trang 12

Nghiên cứu về đề tài này chúng tôi nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề sau đây:Thông qua luận văn chúng tôi tập trung hệ thống hoá những thành tựu

cơ bản của quan hệ kinh tế Việt Nam - Campuchia từ 1979 đến năm 2007.Trên cơ sở đó làm sáng rõ những thách thức và triển vọng của mối quan hệnày trong những thập niên đầu thế kỷ XXI

Ngày nay, với xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá và toàn cầu hoá thìviệc tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt Nam vàCampuchia là một tất yếu và là yêu cầu khách quan Do đó khi nghiên cứuquan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam và Campuchia cho phép chúng ta nhậnthấy sự phát triển về kinh tế của mỗi nước trong xu thế hội nhập khu vực

Nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia trong giaiđoạn 1979 - 2007 sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ kinh

tế giữa hai nước Từ đó chúng ta có những chính sách phù hợp để thúc đẩyquan hệ hợp tác này phát triển hơn, giúp chúng ta rút ra được một số kinhnghiệm trong quan hệ hợp tác kinh tế với Campuchia nói riêng và với cácnước trong khu vực Đông Nam Á nói chung trong bối cảnh khu vực và quốc

tế hiện nay

5.2 Nhiệm vụ

Trang 13

Nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia là rấtquan trọng, nó thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước Đặc biệt lànghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế hai nước giai đoạn 1979 - 2007 là nhiệm

vụ khoa học cần thiết góp phần làm tăng thêm hiểu biết về tình hình kinh tếcủa hai nước Đồng thời thông qua mối quan hệ hợp tác này giúp chúng tanhận thức được cơ sở lý luận và thực tiễn mối quan hệ Việt Nam - Campuchiatrong những giai đoạn tiếp theo sau này Trên cơ sở đó, luận văn giải quyếtmột số nhiệm vụ sau đây:

Trình bày những nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ hợp tác kinh tếcủa hai nước trong giai đoạn 1979 - 2007 Khái quát những thành tựu chủ yếutrong quan hệ hợp tác kinh tế như hợp tác về thương mại, hợp tác về đầu tư…

Từ quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia chúng tôi cố gắngrút ra một số nhận xét, bước đầu phác thảo một số giải pháp góp phần đưaquan hệ hợp tác kinh tế hai nước lên một bước pháp triển mới

Trên cơ sở những thành tựu trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa ViệtNam và Campuchia chúng tôi cố gắng làm rõ vai trò của nó trong sự pháttriển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình thực hiện đường lối đổimới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, khẳng định đường lốiđối ngoại của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn

Đó là nhiệm vụ mà luận văn đặt ra, hi vọng rằng trong quá trình thựchiện thì các nhiệm vụ đó đều được giải quyết thoả đáng

6 Đóng góp của luận văn

Mặc dù nguồn tư liệu còn hạn chế nhưng chúng tôi cố gắng trình bàyquan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia và một số thành tựutrên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hợp tác trong nông nghiệp, du lịch…qua đó chúng ta có cái nhìn tổng quát về mối quan hệ này

Trang 14

Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nghiên cứu quan hệhợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia nhằm làm rõ sự đóng góp củamối quan hệ này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của bản thân mỗinước cũng như đóng góp của hai nước trong quá trình xây dựng Đông Nam Áthành khu vực hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển Đề tài cũng đưa ramột số kiến nghị, giải pháp để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -Campuchia phát triển hơn nữa trong tương lai.

Khảo sát mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia trong giaiđoạn 1979 đến 2007 chúng tôi không có tham vọng khám phá ra nhiều điềumới mẻ nhưng hy vọng rằng đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích chonhững người học tập, nghiên cứu lịch sử và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chialàm ba chương:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế ViệtNam - Campuchia

Chương 2: Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia từ 1979 đến2007

Chương 3: Một số nhận xét về quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam Campuchia

Trang 15

-NỘI DUNG

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - CAMPUCHIA

1.1. QUAN HỆ TRUYỀN THỐNG

Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vàongày 24/6/1967, đến nay đã được 40 năm Có thể nói quan hệ hai nước là mốiquan hệ lịch sử truyền thống, láng giềng thân thiết Tình hữu nghị Việt Nam -Campuchia đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thế hệ lãnh đạo caocấp của Việt Nam và Campuchia dày công vun đắp Quan hệ hai nước đã trảiqua những thăng trầm trong lịch sử và đã có bề dày từ xa xưa trong truyềnthống, hiện nay đang ngày càng được phát triển về mọi mặt

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng gần gũi, núi liền núi,sông liền sông Trong quá trình hàng ngàn năm thời tiền sử và sơ sử, tổ tiênnhững cộng đồng tộc người sống trên đất Campuchia và những cư dân vùngđất Nam bộ Việt Nam đã có quan hệ gắn bó với nhau, “cùng sáng tạo nên nềnvăn minh sông Mê kông với hai trung tâm chính là Tonlê Sap và Đồng Nai”[86,tr 8]

Lịch sử cũng đã chứng minh rằng trong suốt tiến trình lịch sử, nhân dânhai nước đã nhiều lần cùng nhau chống giặc ngoại xâm và đã làm nên nhữngtrang sử vẻ vang của cả hai dân tộc

Trong phong trào Tây Sơn (1771 - 1789), nhân dân Campuchia đã liênminh với nghĩa quân Tây Sơn chống lại Nguyễn Ánh và phong kiến Xiêm.Lịch sử còn ghi các cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Nguyễn TrungTrực đã có sự hỗ trợ, phối hợp của các lãnh tụ yêu nước Campuchia nhưAchar Soa (1862) và Pukumbor (1866 - 1867),…

Trang 16

Sự liên minh chiến đấu của hai dân tộc Việt Nam - Campuchia chốngquân Xiêm cũng như sự hỗ trợ lẫn nhau trong những ngày đầu chống thực dânPháp xâm lược đã là những minh chứng thể hiện sự hợp tác chặt chẽ của haidân tộc cùng chống kẻ thù chung trong tiến trình lịch sử.

Từ năm 1930 trở đi với sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương,truyền thống đoàn kết chiến đấu của hai dân tộc lại được nâng cao một bước,biến đổi về chất, thấm đượm tinh thần cách mạng của hai dân tộc Theo tinhthần của nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930, phongtrào cách mạng ở Việt Nam, Lào, Campuchia đã phối hợp chặt chẽ với nhau,cùng nhau đánh Pháp, đuổi Nhật giành lại nền độc lập tự do cho mỗi nước.Đảng Cộng sản Đông Dương nhận định Đông Dương là một chiến trường, dovậy nhân dân các nước Đông Dương phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sau đó là ĐảngCộng sản của mỗi nước, cách mạng mỗi nước ngày một trưởng thành Cáchmạng Tháng Tám thành công, cuộc trường kỳ kháng chiến từng bước thắnglợi Hội nghị Giơnevơ đã mang lại thắng lợi to lớn cho cả ba nước trên bánđảo Đông Dương Đó là điều kiện lịch sử vô cùng thuận lợi để nhân dânCampuchia tiếp tục đấu tranh đưa đất nước Campuchia thoát khỏi khối Liênhiệp Pháp (22/09/1955), chấm dứt 100 năm ách đô hộ của thực dân Pháp trênđất nước Campuchia anh em

Tuy nhiên tinh thần đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Campuchia - Lào lạiphải tiếp tục với cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai kéo dài từ 1954đến 1975 với sự thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ba nước Đông Dương

Phải thừa nhận rằng chưa có lúc nào tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam

- Campuchia lại được thử thách như lúc này Từ năm 1970 Việt Nam vàCampuchia cùng một chiến trường chung trong công cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước, nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia đã phối hợp cùng

Trang 17

đánh thắng các chiến lược quân sự của Mỹ và tay sai như Việt Nam hoá,Campuchia hoá chiến tranh Nhân dân hai nước đã đánh bại các cuộc hànhquân chiến lược của Ních xơn như “Chen La I”, “Chen La II”… Trên đà thắnglợi ngày càng có quyết định trên chiến trường, mùa xuân 1975, cuộc Tổng tấncông và nổi dậy của quân dân Việt Nam đã tạo ra một thời cơ vô cùng thuận lợicho quân và dân Campuchia tổng công kích vào quân nguỵ Phnômpênh và đãgiành thắng lợi quyết định ngày 17/4/1975 Cùng với thắng lợi to lớn của nhândân Việt Nam, Campuchia, tháng 12 năm 1975, nhân dân Lào cũng hoàn thànhthắng lợi công cuộc giải phóng đất nước.

Sau thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại của nhân dân ba nước ĐôngDương, từ ngày 17/4/1975, đáng lẽ nhân dân Campuchia phải được hưởngnhững ngày hoà bình, cùng nhau xây dựng đất nước Chùa Tháp trở nên hưngthịnh nhưng chính quyền PônPốt - IêngXary đã đẩy đất nước Campuchia vàovực thẳm của hoạ diệt vong với những lý thuyết xây dựng chủ nghĩa xã hộihết sức kỳ quái Đứng trước hoạ diệt vong của dân tộc Campuchia và trước

âm mưu tấn công xâm lược Việt Nam của lực lượng PônPốt, quân đội ViệtNam đã phối hợp với các lực lượng yêu nước Campuchia làm lại cuộc cáchmạng, lật đổ chế độ diệt chủng có một không hai trong lịch sử loài người, đưađến sự ra đời của nhà nước Cộng hoà Nhân dân Campuchia

Có thể thấy rằng, hàng ngàn năm qua, hai nước Việt Nam vàCampuchia đã có mối quan hệ thân thiết, chia ngọt xẻ bùi; truyền thống đoànkết chiến đấu của hai dân tộc thấm đượm tinh thần cách mạng Hai nước cùngnhau trải qua thời kỳ đánh Pháp, đuổi Nhật, chống đế quốc Mỹ, giành đượcthắng lợi hoàn toàn, mang lại nền độc lập dân tộc Hiệp ước hoà bình, hữunghị và hợp tác đã được chính phủ Việt Nam và Campuchia ký ngày18/02/1979 mở ra trang mới trong quan hệ giữa hai nước

Trang 18

Như vậy, có thể thấy rằng quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia là mốiquan hệ truyền thống có từ lâu đời, cả hai dân tộc đã cùng sát cánh bên nhauđấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc, đồngthời củng cố thêm tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc.

1.2 QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có quan hệ gần gũi lâuđời Quan hệ hữu nghị truyền thống đó đã được tôi luyện và thử thách quanhững năm tháng lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước của hai dân tộc Chínhtrải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm của hai nước, lãnh đạo và nhândân hai nước đều nhận thức sâu sắc rằng mối quan hệ hữu nghị truyền thống

đó là tài sản vô giá của hai dân tộc, cần phải gìn giữ vì lợi ích chung của haidân tộc Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 24/6/1967 Hai nước đã

tổ chức kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 6/2007

Sau khi Hiệp định Pari về Campuchia được ký kết (23/10/1991), cùngvới các nước có liên quan, Việt Nam đã thi hành nghiêm chỉnh những điềukhoản của Hiệp định, góp phần vào tiến trình hoà bình ở Campuchia ViệtNam ủng hộ Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) và Nhà nước Campuchia đấutranh thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari Ở Campuchia đã có sự thay đổilớn trong hệ thống chính trị, Campuchia trở thành nước quân chủ lập hiến vàthực hiện chế độ đa đảng Mặc dù có sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trịnhưng lãnh đạo hai nước vẫn khẳng định quyết tâm tăng cường và củng cốquan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống giữa hai nước Ngay sau khi Chínhphủ lâm thời ở Campuchia được thành lập, tháng 2/1992, Bộ trưởng Ngoạigiao Nguyễn Mạnh Cầm đã thăm Campuchia và cùng với Chủ tịch Hội đồngdân tộc tối cao (SNC) Norodom Sihanouk ra Thông cáo chung nhấn mạnhtầm quan trọng của việc đưa quan hệ truyền thống vào giai đoạn phát triểnmới nhằm xây dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác láng giềng thân thiện

Trang 19

giữa hai nước trên cơ sở các nguyên tắc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ mỗi nước, không dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực, giải quyết mọi vấn đề trong quan hệ giữa hai nước bằng con đường hoà bình, hợp tác, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình”.[20, tr.1]

Trong tình hình nền chính trị đa đảng ở Campuchia, Việt Nam chủtrương duy trì, củng cố quan hệ với hai chính đảng lớn nhất ở Campuchia làCPP và FUNCINPEC

Với CPP, Việt Nam xác định mối quan hệ giữa hai đảng là nền tảngcho mối quan hệ tốt đẹp giữa hai chính phủ cũng như nhân dân giữa hai nước

Với FUNCINPEC, từ tháng 6/1995, Việt Nam có quan hệ chính thứcvới Tổ chức Đảng này Mối quan hệ này ngày càng có những bước phát triểnthông qua các chuyến viếng thăm của những người đứng đầu hai đảng Chínhmối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và FUNCINPEC đã góp phầntăng cường mối quan hệ giữa hai nước

Bên cạnh việc củng cố mối quan hệ với hai đảng CPP và FUNCINPEC,Việt Nam đã xúc tiến tìm hiểu, phát triển quan hệ bình thường và bình đẳngvới các đảng phái khác, các tổ chức quần chúng, xã hội… Việc làm này đãgóp phần thúc đẩy quan hệ giữa hai nước, đặc biệt làm cho các phe phái, cáclực lượng chính trị ở Campuchia hiểu rõ thiện chí của Việt Nam, đồng thờigóp phần đẩy lùi các thế lực thù địch chống Việt Nam

Trên nền tảng nhận thức như trên, trong thời kỳ này Việt Nam chủtrương xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị với chính phủ Vương quốcCampuchia trên tinh thần láng giềng hữu nghị, thân thiện Trong những năm

đó lãnh đạo cấp cao hai nước đã thực hiện nhiều chuyến viếng thăm hữu nghị

Trong các chuyến viếng thăm ngoại giao của các nhà lãnh đạo cấp caocủa hai nước đáng chú ý nhất là các chuyến thăm Vương quốc Campuchia của

Trang 20

Thủ tướng Võ Văn Kiệt tháng 4/1994 và tháng 4/1996, của Chủ tịch nước LêĐức Anh tháng 8/1995, của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu tháng 6/1999, của Chủtịch Quốc hội Nguyễn Văn An tháng 12/2002, của Tổng bí thư Nông ĐứcMạnh tháng 3 năm 2005, của Thủ tướng Phan Văn Khải tháng 3/2006, củaThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 12/2006, của Chủ tịch Quốc hội NguyễnPhú Trọng tháng 4/2007 Về phía Campuchia có các đoàn lãnh đạo cao cấpsang thăm Việt Nam như các chuyến thăm chính thức Việt Nam của Quốcvương Sihanouk tháng 12/1995, tiếp đến là chuyến thăm Việt Nam của Chủtịch Quốc hội N.Ranarit ngày 31/5/1999, của Thủ tướng Hun Sen tháng 10năm 2005, của Quốc vương Sihamoni tháng 3 năm 2006 Đáng chú ý làtrong chuyến thăm Campuchia tháng 6/1999, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu vàcác nhà lãnh đạo cấp cao Campuchia đã nhất trí tăng cường và phát triển quan

hệ hai nước theo phương châm: “Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” Tuyên bố chung Campuchia - Việt Nam

nhân chuyến thăm của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã nêu rõ hai bên hài lòng

về mối quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa hai nước và khẳng định quyết tâm củng cố

và tăng cường quan hệ hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyềnthống, ổn định lâu dài trên cơ sở các nguyên tắc đã được nêu rõ trong cácthông cáo chung Campuchia - Việt Nam năm 1992 và năm 1995 là tôn trọngđộc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào côngviệc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, không chophép bất cứ lực lượng chính trị quân sự nào dùng lãnh thổ nước này để chốngnước kia, hợp tác bình đẳng cùng có lợi… Hai bên thoả thuận duy trì các cuộctiếp xúc ở cấp cao nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện cho việc không ngừng mởrộng hợp tác nhiều mặt giữa hai nước, Mở rộng giao lưu giữa nhân dân hai

nước nhất là giao lưu hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam - Campuchia “… Hai bên hoan nghênh các thoả thuận đạt được giữa chính phủ hai nước nhằm

Trang 21

tăng cường sự hợp tác hữu nghị và lâu dài giữa hai nước, nhất là trên lĩnh vực kinh tế” [20, tr.2].

Những chuyến viếng thăm ngoại giao của các nhà lãnh đạo cấp cao hainước đã thắt chặt mối quan hệ giữa hai nước và đưa mối quan hệ này lên tầmcao mới Ngoài việc thường xuyên trao đổi các chuyến thăm cao cấp giữalãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, hai bên cũng rất chú trọngtăng cường quan hệ giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể quần chúng, địaphương, nhất là các địa phương có chung biên giới hai nước Có thể nói tronglịch sử quan hệ, ít có nước nào mà có nhiều đoàn sang thăm viếng qua lại lẫnnhau như trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia Riêng năm 2006, hainước đã trao đổi 106 Đoàn trong đó Việt Nam có 62 đoàn và Campuchia có

44 đoàn

Việt Nam và Campuchia là hai nước có đường biên giới trên bộ là1.137 km và trên biển là vùng nước lịch sử còn chưa được phân định Giốngnhư bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quan hệ giữa hai nước cũng có nhữngbước thăng trầm, thậm chí có thời kỳ vấn đề biên giới còn là nguyên nhân dẫnđến xung đột giữa hai nước (thời kỳ Pôn Pốt 1975 - 1979) Tuy vậy, cùng vớinhững tiến triển tốt đẹp trong quan hệ chính trị hai nước, vấn đề biên giới hainước cũng từng bước được giải quyết Có thể nói bước đột phá trong việc giảiquyết vấn đề biên giới hai nước là việc hai bên đã ký được Hiệp ước bổ sungHiệp ước hoạch định biên giới quốc gia tháng 10 năm 2005 nhân chuyến thămchính thức Việt Nam của Thủ tướng Campuchia Hun Sen Nội dung chính củathoả thuận này là hai bên đã thống nhất được 6/7 điểm còn khác biệt về biêngiới và nguyên tắc giải quyết những vấn đề tồn tại; hai bên cũng đã nhất trí lộtrình phân giới cắm mốc trên đất liền hai nước đến cuối năm 2008 Trên tinhthần đó, ngày 27/9/2006, cột mốc đầu tiên đã được khánh thành tại cửa khẩuquốc tế Mộc Bài - Bàvẹt với sự chứng kiến của Thủ tướng hai nước Hiện nay,

Trang 22

các Bộ, ngành, địa phương của hai nước đang tích cực triển khai để hoàn tấtviệc phân giới cắm mốc vào cuối 2008 như đã thoả thuận.

Việc đạt được những bước tiến trong việc giải quyết vấn đề biên giớitrên bộ giữa hai nước đã tạo điều kiện cho việc thông thương qua lại củangười và hàng hoá tại khu vực biên giới hai nước, góp phần quan trọng vàoviệc phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới hai nước, biến khu vựcbiên giới hai nước thành khu vực hợp tác và phát triển

Vấn đề kiều dân cũng là một vấn đề phức tạp trong quan hệ hai nước.Hiện nay có khoảng 10 vạn Việt kiều sống ở Campuchia trong khi đó Khmerkiều ở Việt Nam không nhiều, chủ yếu là những người chạy tị nạn trong thời

kỳ diệt chủng Pôn Pốt và phần lớn họ đều có cuộc sống hoà nhập vào cộngđồng Việt Nam Tuy nhiên, Việt kiều ở Campuchia lại có hoàn cảnh tươngđối khác: Việt kiều ở Camphuchia có địa vị pháp lí bấp bênh và thường làmục tiêu của những chính sách thù hận và phân biệt đối xử ở Campuchia,Việt kiều ở Campuchia đã từng là nạn nhân của chính sách diệt chủng củachính quyền Pôn Pốt và là mục tiêu tàn sát của lực lượng Khơme đỏ Trongnhững năm gần đây, do quan hệ chính trị hai nước phát triển tốt đẹp, Việtkiều ở Campuchia cũng được Chính phủ và các cấp chính quyền địa phươngCampuchia quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi làm ăn và sinh sống Địa vịpháp lí của Việt kiều cũng được cải thiện hơn Năm 2003, Bộ Nội vụCampuchia đã đồng ý cho thành lập 19 chi hội ở 19/24 tỉnh, thành trong cảnước Campuchia Hiện nay, Cộng đồng người Việt ở Campuchia đã và đangtừng bước đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nướcCampuchia và góp phần quan trọng vào tăng cường và củng cố quan hệ hữunghị và hợp tác truyền thống giữa hai nước Việt Nam - Campuchia

Trang 23

1.3 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VÀ CAMPUCHIA

1.3.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam

Ngay từ khi mới thành lập, thông điệp ngoại giao quan trọng đầu tiêncủa Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi tới nhân dân toàn thế giớichính là bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày2/9/1945, thể hiện khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam vàkhẳng định quyết tâm "đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải

để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"

Trong khi thực lực cách mạng còn nhỏ bé, nước Việt Nam Dân chủCộng hoà lại phải đương đầu với nhiều đối thủ mạnh Dưới sự lãnh đạo sángsuốt, đúng đắn của Đảng, Bác Hồ, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành nhiềuhoạt động ngoại giao khôn khéo, mềm mỏng để xây dựng và củng cố chínhquyền nhân dân còn non trẻ, bảo vệ đến cùng nền độc lập tự do Độc lập dântộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là tư tưởng chủ đạo tạo nên bản sắcngoại giao Việt Nam

Kể từ khi Đảng ta ra đời cho đến nay, ngoại giao Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn như: đưa nước ta thoát khỏi tình trạng bị bao vây côlập, mở rộng quan hệ quốc tế cả về chính trị lẫn kinh tế, không ngừng nângcao vị thế ở khu vực và trên thế giới, tạo môi trường bên ngoài thuận lợi cho

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Có được những thành tựu ấy mộtphần quan trọng là nhờ sự đổi mới tư duy sâu sắc về đường lối, chính sách,phương châm hành động trên mặt trận đối ngoại

Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới trong bối cảnh quốc tế, khu vựccũng như trong nước có những biến động hết sức phức tạp Để đưa đất nướcthoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tháng 12/1986, Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ VI của Đảng với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự

Trang 24

thật, nói rõ sự thật” [11, tr.12], đã phân tích sâu sắc những sai lầm và khuyếtđiểm, vạch rõ nguyên nhân, từ đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.Đây chính là thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ, mở ra một giai đoạn mới vớinhững chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội cũng

như trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam “Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới từng bước được định hình, hoàn chỉnh và triển khai thành công trong hiện thực cuộc sống” [34, tr.323].

Trước sự phát triển của tình hình trong nước và quốc tế, tháng 7 năm

1986, Bộ Chính trị Khoá V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết,bước đầu điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam Nghị quyết đề ranhiệm vụ là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ nhữngđiều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc,chủ động tạo thế ổn định để tập trung xây dựng kinh tế Nghị quyết cũng nhấnmạnh cần chủ động chuyển sang thời kỳ cùng tồn tại hoà bình, góp phần xâydựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, ổn định, hợp tác

Những phương hướng chính về đối ngoại thời kỳ này được đề ra trongĐại hội VI là:

- Phát triển và củng cố quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia trên cơ sởtôn trọng độc lập chủ quyền mỗi nước, hợp tác toàn diện

- Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chínhsách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

- Sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữaViệt Nam và Trung Quốc, bình thường hoá quan hệ giữa hai nước

- Tích cực cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ, với chủ trương “thêm bạn bớt thù”

- Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.Thực hiện đường lối của Đại hội VI, Đảng Cộng sản và Nhà nước ViệtNam đã ra sức giữ vững và củng cố hoà bình, tập trung xây dựng đất nước,

Trang 25

phát triển kinh tế, xem đó là lợi ích cao nhất, là nhân tố quyết định để bảo vệđộc lập, duy trì an ninh đất nước.

Ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị khoá VI ra Nghị quyết Trung ương 13với chủ đề “giữ vững hoà bình, phát triển kinh tế”, xác định ngoại giao phải

ưu tiên giữ vững hoà bình để phát triển và khẳng định rằng trong tình hìnhmới ở khu vực và trên thế giới, Việt Nam lại càng có những cơ hội lớn để cóthể giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế Không những thế, Việt Nam còn

có khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mộtkhi Việt Nam có một nền kinh tế mạnh và quan hệ hợp tác quốc tế mở rộng.Nghị quyết còn nhấn mạnh chính sách “thêm bạn bớt thù”, đa dạng hoá quan

hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi và chỉ ra nhữngnhiệm vụ trước mắt cho ngoại giao, trong đó quan trọng là: bình thường hoáquan hệ với Trung Quốc và góp phần giải quyết vấn đề Campuchia

Các Nghị quyết của Bộ Chính trị trong những năm 1986 - 1988 trênlĩnh vực ngoại giao đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng trong đổi mới

tư duy nhận thức về các vấn đề quốc tế và đường lối đối ngoại của ĐảngCộng sản Việt Nam Các Nghị quyết không chỉ đánh dấu bước chuyển biến có

ý nghĩa chiến lược trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ViệtNam mà còn đặt cơ sở cho việc đổi mới và hoạt động của ngành ngoại giaotrong tình hình mới

Tiếp tục phát huy những thành tựu đường lối đối ngoại đổi mới củaĐại hội Đảng lần VI, Đại hội Đảng lần thứ VII (tháng 6/0991) khẳng địnhlại nhiệm vụ bao trùm đường lối đối ngoại Việt Nam là “giữ vững hoà bình,

mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi chocông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời gópphần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình,độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [12, tr.88] Trước những chuyển

Trang 26

biến mới của tình hình thế giới, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, ĐảngCộng sản Việt Nam kịp thời vạch ra đường lối đối ngoại mang tính chiếnlược Đại hội Đảng lần thứ VII xác định cần phải đa dạng hoá, đa phươnghoá quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất

cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hoà bình, dân chủ và tiến bộ

xã hội” [12, tr.147].Đại hội VII cũng đề ra chủ trương hợp tác bình đẳng vàcùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, trênnguyên tắc cùng tồn tại hoà bình Đồng thời nhấn mạnh cần phải coi trọngvận dụng bài học kết hợp sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sứcmạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại trên cơ sở nhạy bénnhận thức và dự báo những diễn biến phức tạp, với những thay đổi sâu sắctrong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xuhướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới để có những đối sách phù hợp trongquan hệ đối ngoại trên tinh thần hợp tác bình đẳng, cùng có với tất cả cácnước Đây chính là đường lối, là ngọn cờ tư tưởng mới dẫn đường cho chínhsách đối ngoại và hoạt động quốc tế của Việt Nam thời kỳ hậu Chiến tranhlạnh và sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, trật tự haicực Ianta tan rã

Đường lối nói trên tiếp tục được Đảng ta khẳng định, bổ sung và từngbước hoàn thiện tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6/1996), lần thứ IX(tháng 4/2001) và đến Đại hội Đảng lần thứ X (tháng 4/2006), chính sáchđối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ được Đảng ta bổsung và nâng lên một bước với tuyên bố mang nội dung mới: “Việt Nam làbạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cựcvào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” [15, tr.38]

Đổi mới tư duy và chính sách đối ngoại là quá trình đánh giá, nhìnnhận và nắm bắt xu thế thời đại, xác định mục tiêu, định hướng phát triển

Trang 27

cho đất nước, từ đó đề ra vai trò và nhiệm vụ đối ngoại cũng như trongchính sách để thực hiện mục tiêu ấy Nhìn lại sau hơn 20 năm đối mới,chúng ta thấy đối ngoại Việt Nam đã có những bước tiến dài trong quá trìnhđổi mới tư duy lý luận, đã có nhiều đóng góp to lớn vào thành tựu chung củađất nước Nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn, phù hợp, năng động vàsáng tạo của Đảng và Nhà nước mà Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu

to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam đã thiết lập quan hệngoại giao với 160 quốc gia và hầu hết các tổ chức quốc tế quan trọng; cóquan hệ thương mại với 165 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã ký kết trên 80hiệp định thương mại song phương; có quan hệ hợp tác đầu tư với trên 70quốc gia, ký kết 41 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương,trở thành thành viên tích cực của các tổ chức khu vực và quốc tế nhưASEAN, ASEM, APEC, WTO…

1.3.2 Chính sách đối ngoại của Campuchia

Theo quy định của Hiến pháp, Campuchia thực hiện chính sách trunglập, không liên kết vĩnh viễn, không xâm lược hoặc can thiệp vào công việcnội bộ của nước khác; đồng thời, chú trọng quan hệ với các nước lớn, cácnước láng giềng và khu vực

Trong Cương lĩnh chính trị của Chính phủ Hoàng gia nhiệm kỳ III đãvạch ra chính sách đối ngoại như sau:

Chính sách ngoại giao chiến lược của Chính phủ Campuchia nhằmnâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế, tăng cường việc tham gia củaCampuchia vào công việc của khu vực và trên thế giới Đồng thời, phát huytính ưu tiên trong yếu tố quốc tế để thúc đẩy việc phát triển kinh tế, xã hội vànâng cao đời sống của nhân dân ngày càng phồn vinh, thịnh vượng, hiện đại

và tăng cường bảo vệ tổ quốc bằng việc ra sức củng cố, phát triển hợp tácquốc tế trên cơ sở song phương và đa phương

Trang 28

Chính phủ giữ vững chính sách đối ngoại độc lập, trung lập, không liênkết và cố gắng củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trong khu vực

và thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, dựa trên nguyên tắcbình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ, tôn trọng độc lập chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi bên, để hai bên cùng có lợi và để phát triểnkinh tế, kỹ thuật, khoa học của mỗi nước

Chính phủ quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ vàtính chất trung lập của Vương quốc Campuchia được tồn tại trên cơ sở hiếnpháp như đã được ghi trong điều 55 và phù hợp với hiến chương Liên HợpQuốc và luật pháp quốc tế Trên cơ sở này, chính phủ sẽ thúc đẩy để uỷ banbiên giới của chính phủ gồm hai thành phần của hai đảng tiếp tục thươnglượng song phương cùng với nước láng giềng để quy định tuyến biên giới, cộtmốc, ranh giới giữa hai nước với mục đích bảo đảm có một đường biên giớichung, được quốc tế công nhận

Chính phủ sẽ tiếp tục thúc đẩy đưa Campuchia hội nhập vào khu vực vàthế giới, ưu tiên việc cố gắng rút ngắn khoảng cách phát triển trong ASEAN,thông qua các nước thành viên ASEAN và các nước đối tác, tham gia tích cựcviệc thực hiện các dự án mà ASEAN đã thông qua tại cuộc họp cấp caoASEAN ngày 08/11/2002 tại Phnôm Pênh Trong khuôn khổ này, chính phủ sẽtiếp tục cố gắng vận động các nước đối tác ASEAN để thu hút viện trợ cho việcphát triển, kể cả song phương và đa phương với ASEAN, nhằm phục vụ mụcđích nói trên Song song với việc này, chính phủ sẽ tiếp tục tham gia tích cựcthực hiện các dự án lớn trong khuôn khổ “Tiểu vùng Mê kông”, nhất là các dự

án ưu tiên đã được thông qua tại các cuộc họp thượng đỉnh Tiểu vùng Mê kônglần một ở Phnôm Pênh tháng 11 năm 2002 và sáng kiến “Khu vực phát triểntam giác” Campuchia - Việt Nam - Lào và Campuchia - Lào - Thái Lan; vàChiến lược hợp tác kinh tế giữa Campuchia - Lào - Mianma - Thái Lan

Trang 29

Chính phủ ủng hộ và giữ vững chủ trương hợp tác cùng có lợi trongquan hệ quốc tế, coi đây là cơ sở vững chắc để bảo đảm thực hiện việc giữ gìn

và củng cố hoà bình, ổn định, an ninh khu vực và thế giới Đồng thời chínhphủ ủng hộ tiến trình tìm kiếm sáng kiến để giải quyết những mâu thuẫn phátsinh trong khu vực cũng như ở mỗi nước thông qua giải pháp chính trị vàbằng biện pháp hoà bình Chính phủ tuyệt đối chống lại việc chạy đua vũtrang và sử dụng không gian vì mục đích quân sự Đồng thời chính phủ ủng

hộ việc cắt giảm các loại vũ khí, không phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khíhoá học, vũ khí sinh học các loại, không sản xuất, lưu hành và sử dụng mìn

Trên tinh thần này, chính phủ sẽ tiếp tục tham gia tích cực vào hoạtđộng chung của khu vực, quốc tế để giải quyết những vấn đề lớn trên thế giớihiện nay, bao gồm những vấn đề liên quan đến hoà bình, khủng bố, lươngthực, sức khoẻ, môi trường, tội phạm xuyên biên giới và nhất là việc buôn bánphụ nữ, trẻ em, ma tuý, vũ khí trái phép

1.4 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC

1.4.1 Bối cảnh quốc tế

Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, thế giới đã diễn ranhững biến đổi vô cùng to lớn, sâu sắc trong quá trình phát triển nói chungcũng như trong quan hệ quốc tế nói riêng

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, một loạt nhà nước xã hộichủ nghĩa ra đời ở Đông Âu và châu Á, dẫn đến sự hình thành hệ thống xã hộichủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất chi phối nềnchính trị thế giới Cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội, phong trào giảiphóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế ở các nước tư bảncũng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng và liên tục tấn công vào chủ nghĩa tư bảnthế giới Lo ngại trước tình hình đó, Mỹ đã tiến hành những biện pháp quyếtliệt nhằm chống lại sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản “Chủ nghĩa Truman”

Trang 30

ra đời làm cho mối quan hệ tốt đẹp giữa các đồng minh trong chiến tranh lậptức chấm dứt Xô - Mỹ từ chỗ là đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phátxít đã quay lưng lại với nhau và coi nhau như kẻ thù, dẫn đến một cuộc chiếntranh mới - Chiến tranh lạnh Đây không chỉ là cuộc chiến giữa hai quốc gianày mà nó còn làm cho cục diện thế giới trở nên phức tạp, căng thẳng và lôicuốn hàng loạt quốc gia vào vòng xoáy của nó.

Bước sang cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các nước

xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng và dẫn đến sự sụp đổ của

hệ thống xã hội chủ nghĩa Chính trường quốc tế có những biến đổi phức tạp

và khó lường Xuất phát từ tình hình mới, tại cuộc gặp gỡ giữaM.Goocbachop và G.Bush trên bán đảo Manta (Địa Trung Hải), hai siêucường Xô - Mỹ đã tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh, đánh dấu một mốclớn trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, kết thúc hơn 40 năm đối đầu căngthẳng giữa hai cực Xô - Mỹ

Trong điều kiện lịch sử mới, các nước lớn bắt đầu có những điều chỉnhchiến lược, chú trọng phát triển nội lực, tăng cường cạnh trạnh và chạy đuakinh tế Về đối nội, các nước này tích cực đẩy mạnh chương trình phát triểnkinh tế Về đối ngoại, thực hiện chính sách hoà hoãn, vừa hợp tác vừa đấutranh, kiềm chế lẫn nhau Bắt đầu từ đây mở ra một thời kỳ mới trong quan hệquốc tế - thời kỳ hoà bình, hợp tác, cùng có lợi và phát triển giữa các quốc gia

có chế độ chính trị khác nhau Xu thế này ngày càng chiếm ưu thế và trởthành xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế

Ở châu Á - Thái Bình Dương, Chiến tranh lạnh kết thúc, sự sụp đổ củaTrật tự hai cực Ianta đã làm cho khu vực này không còn chịu sự chi phối củacác thế lực bên ngoài Những thay đổi này góp phần cải thiện quan hệ giữahai nhóm nước sau nhiều năm bị chia rẽ bởi sự đối đầu trong Trật tự thế giới

Trang 31

lưỡng cực Tình hình đó đã làm cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương nóichung và Đông Nam Á nói riêng có nhiều biến đổi sâu sắc.

Sau Chiến tranh lạnh, châu Á - Thái Bình Dương đã trở thành một thịtrường thống nhất, sự hợp tác kinh tế, thương mại đã vượt qua sự khác biệt vềchế độ xã hội, ý thức hệ Sự trùng hợp về lợi ích kinh tế trong một phạm vinhất định đã khiến các nước trong khu vực thấy rõ tầm quan trọng của việcgiữ gìn an ninh và cục diện chính trị cân bằng, ổn định trên cơ sở sự hiểu biết

và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia lớn trong khu vực

Cùng với sự phát triển về kinh tế, các nước trong khu vực đều cónguyện vọng cùng tồn tại hoà bình, hữu nghị và hợp tác để phát triển Sự hợptác này ngày càng tăng ở nhiều tầng, nhiều nấc và dưới nhiều hình thức như

Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Khu vựcThương mại tự do ASEAN (AFTA); Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á(SAARC); Diễn đàn hợp tác Đông Á - Mỹ Latinh (FEALAC);… cùng nhiềuchương trình hợp tác tam giác, tứ giác phát triển khác cũng đã ra đời Cácquốc gia trong khu vực đều có nhu cầu muốn mở rộng thị trường, phối hợpcác nguồn nhân lực, tài lực, kết cấu hạ tầng và các nguồn tài nguyên trong khảnăng sẵn có, cũng như điều kiện của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ chophép Các nước đều điểu chỉnh chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vàchiến lược đối ngoại của mình cho phù hợp với xu thế chung đang diễn ramạnh mẽ trên thế giới Quan hệ giữa các nước lớn trong khu vực tuy cònnhiều vấn đề phải giải quyết, song nhìn chung vẫn nằm trong khuôn khổvừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau nhưng tránh đối đầu

Cũng trong những năm cuối thập niên 80 đầu 90, cuộc cách mạng khoahọc - Công nghệ phát triển như vũ bão với các đợt sóng công nghệ cao, nổibật là công nghệ thông tin đã mang lại những biến đổi ngày càng sâu sắc mọimặt đời sống Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã thúc đẩy sản xuất vật

Trang 32

chất, tạo ra bước phát triển nhảy vọt về tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất, đẩy mạnh việc cơ cấu lại các nền kinh tế, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới

và thúc đẩy nền kinh tế tri thức Đồng thời, xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoáđược tăng cường, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, mở rộng các hoạtđộng kinh tế thương mại thế giới và làm gia tăng nhu cầu hợp tác quốc tế Xuthế hoà bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo chi phối quan hệquốc tế sau Chiến tranh lạnh ở các khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu.Nhân tố kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và dần trở thành nhân tố chủđạo trong quan hệ quốc tế “Cải cách và mở cửa đã xuất hiện như một trào lưutại nhiều nước trên thế giới, nhất là sau cuộc Chiến tranh lạnh” [34, tr.320]

Để tồn tại và phát triển, các quốc gia trên thế giới đều đặt ưu tiên cao cho pháttriển kinh kết, coi đó là nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của quốc gia

và đều phải nhanh chóng hội nhập vào xu thế phát triển chung trong cuộcchạy đua kinh tế toàn cầu

Những thay đổi to lớn trong đời sống chính trị, kinh tế thế giới dẫn đếnnhững tập hợp lực lượng mới trên thế giới Sự kết thúc của cục diện thế giớihai cực thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng đa phương, đa dạng hoá trong quan hệquốc tế, “tính tương thuộc lẫn nhau” giữa các quốc gia ngày càng lớn Bêncạnh đó, các vấn đề mang tính toàn cầu cũng đặt ra nhiều vấn đề mà một quốcgia, khu vực không thể giải quyết được, cần phải có sự hợp tác quốc tế, ở đómỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triểnđều đóng vai trò, vị trí nhất định Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế phổ biến màtrọng tâm là tự do hoá thương mại đã tạo ra những cơ hội lớn, những động lựclớn cho quá trình phát triển, đồng thời cũng đặt ra những thách thức gay gắtđối với tất cả các nước, trước hết là các nước đang phát triển Vì vậy, vấn đềgiao lưu hội nhập và phát triển mang tính sống còn đối với mỗi quốc gia, dântộc cũng như vận mệnh chung của thế giới

Trang 33

1.4.2 Bối cảnh khu vực

Những biến đổi của tình hình thế giới đã tác động trực tiếp hoặc giántiếp đến khu vực Đông Nam Á - nơi đây từ lâu đã trở thành địa bàn chiến lượctrọng yếu, nơi tranh chấp ảnh hưởng của các nền văn hoá - văn minh và cácthế lực lớn trên thế giới Khoảng một thập niên trở lại đây, cùng với sự kếtthúc của Chiến tranh lạnh, sự gia tăng của toàn cầu hoá kinh tế và bùng nổcủa công nghệ thông tin đã tác động sâu sắc đến cục diện thế giới nói chung,đến môi trường địa - chính trị Đông Nam Á nói riêng Sau Chiến tranh lạnh,Đông Nam Á trải qua một thập niên phát triển năng động trong cuộc hànhtrình vào thiên niên kỷ mới với những bước tiến đầy hứa hẹn Với việc kýHiệp định Pari về Campuchia tháng 10/1991, quan hệ giữa hai nhóm nướcASEAN và Đông Dương thay đổi cơ bản, chuyển từ trạng thái đối đầu sangđối thoại, thúc đẩy hoà bình, hữu nghị và hợp tác - xu hướng này trở thành xuhướng chính ở Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh và bước sang thế kỷ mới.Bản thân các nước ASEAN cũng nhận thức được rằng họ khó có thể đóng vaitrò có ý nghĩa hơn trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nếu như chưagiải quyết được những vấn đề của chính mình ở Đông Nam Á Bên cạnh đó,việc mở rộng thành viên sẽ giúp ASEAN giảm thiểu khả năng lôi kéo, gây áplực của các nước lớn đối với các nước trong khu vực

Việc mở rộng ASEAN từ 6 lên 7 thành viên không chỉ là sự phát triển

về số lượng mà còn mở ra triển vọng cho sự liên kết toàn khu vực Đồng thời,

sự kiện trọng đại này đánh dấu sự kết thúc về việc đối đầu trong ý thức hệ tưtưởng chính trị giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á Với việc kết nạp ViệtNam, thực tế cho thấy các quốc gia có hệ thống chính trị và ý thức hệ khácnhau có thể liên kết trong một khu vực vì những mục tiêu chung để cùng tồntại, hợp tác và phát triển Sau đó tiếp tục mở rộng từ ASEAN 7 lên ASEAN

10 đã nâng cao vị thế của tổ chức này trong khu vực châu Á - Thái Bình

Trang 34

Dương và trên trường quốc tế Ngôi nhà chung ASEAN, bao gồm 10 nướcĐông Nam Á được xây dựng trên nền móng những lợi ích chung về an ninh,chính trị sẽ góp phần ngăn chặn những mâu thuẫn bên trong và hạn chế sự canthiệp từ bên ngoài vào khu vực Xét về khía cạnh kinh tế, việc mở rộngASEAN sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường thương mại và đầu tư nội khối.Việc phát huy những lợi thế so sánh, bổ sung cho nhau về nguồn tài nguyênthiên nhiên, cơ cấu sản xuất các ngành hàng, nguồn lao động và khả năng tiếpthu công nghệ… sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác kinh tế, thương mạigiữa hai nhóm nước cũ và mới trong ASEAN Với ASEAN 10, tổ chức này sẽ

có sức mạnh và tiếng nói trọng lượng hơn trong hệ thống kinh tế toàn cầuhoá Tuy nhiên, việc mở rộng ASEAN cũng diễn ra trong sự đan xen giữa hivọng và lo lắng về sự khác biệt giữa các thành viên trên một số vấn đề vềchính trị - an ninh và kinh tế Sự đa dạng về thể chế chính trị - xã hội sẽ dẫntới những cách nhìn nhận khác nhau về các vấn đề an ninh, hợp tác và pháttriển Đồng thời sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các nướcthành viên trong ASEAN cũng ảnh hưởng đến quá trình hợp tác kinh tế trongkhu vực Trên thực tế, ASEAN chỉ có thể cạnh tranh có hiệu quả trong hệthống kinh tế thế giới khi nền kinh tế của các nước thành viên có thể hội nhập

và phát triển đồng đều

Mặc dù vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, các nước ở khu vựcnày đã lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, kéo theo khủng hoảngkinh tế - xã hội nghiêm trọng, gây nhiều bất lợi cho các nước trong khu vựctrước thềm thiên niên kỷ mới Song đây vẫn là khu vực rộng lớn, tập trungnhững nước đông dân nhất thế giới, với nguồn nhân lực đông, cần cù, sángtạo, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, nằm trên trục đường giaothông quan trọng vào bậc nhất thế giới vì vậy Đông Nam Á vẫn được coi là

Trang 35

“khu vực đầy tiềm năng, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các khu vựckhác và không ngừng lớn mạnh [34, tr.322]

Nhìn chung, môi trường hoà bình, ổn định và phát triển của khu vựcchưa thật vững chắc, vẫn còn tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định.Trong nội bộ một số nước và giữa các nước với nhau còn tồn tại mâu thuẫn,xung đột về chính trị, sắc tộc, tôn giáo, kinh tế, xã hội, biên giới trên đất liền,hải đảo và trên biển, đặc biệt là cuộc tranh chấp liên quan nhiều nước ở BiểnĐông Những diễn biến trong quan hệ giữa các nước lớn có liên quan đến khuvực và có sự dính líu, can thiệp dưới những hình thức mới có thể gây không

ít phức tạp cho các quốc gia và quan hệ giữa các nước trong khu vực vớinhau Trước hoàn cảnh mới, điều kiện mới, tại Hội nghị Thượng đỉnhASEAN + 3 lần thứ tư được tổ chức ở Xingapo (tháng 11/2000), các nhàlãnh đạo của 13 nước Đông Á (10 nước ASEAN, 3 nước Đông Bắc Á) đãbày tỏ nguyện vọng xây dựng một cộng đồng Đông Á hoà bình, thịnhvượng và tiến bộ, đặt trên cơ sở sự phát triển đầy đủ của các nước trongkhu vực, đóng góp tích cực đối với phần còn lại của thế giới

Những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực đã tạo điều kiện, môitrường khách quan thuận lợi cho việc thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác quốc

tế cũng như quan hệ giữa các quốc gia với nhau Mặt khác, trong xu thế hộinhập hiện nay, để tồn tại và phát triển, các quốc gia, dân tộc đều có sự ràngbuộc, chế định lần nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó sựphát triển bền vững của mỗi quốc gia sẽ là điều kiện cho sự phát triển bềnvững của cả khu vực và cộng đồng quốc tế Mối quan hệ giữa Việt Nam vàCampuchia cũng nằm trong điều kiện đó

Tiểu kết:

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có lịch sử lâu đời, gắnkết chặt chẽ với nhau Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử (các triều đại phong

Trang 36

kiến, giai đoạn kháng chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc của hai nước,giai đoạn kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, và giai đoạn hoà bình pháttriển đất nước) số phận của hai nước có những nét tương đồng, giống nhau.

Sự gần kề về địa lý và sự gắn bó sâu sắc về lịch sử của hai nước một mặt đãthúc đẩy sự hiểu biết, thông cảm và chia sẻ giữa hai quốc gia Những năm gầnđây quan hệ Việt Nam - Campuchia đang phát triển tốt đẹp Điều này đượcthể hiện rõ nhất qua những con số và mức độ thường xuyên của nhữngchuyến đi thăm của các nhà lãnh đạo hai nước, cũng như trong việc thốngnhất quan điểm giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ Ngoài ra, nhữngnhân tố quốc tế và khu vực cũng tác động đến quan hệ của hai nước, thúc đẩyhai nước ngày càng mở rộng quan hệ đa phương và song phương, hội nhậpvào nền kinh tế thế giới

Trang 37

Chương 2 QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ VIỆT NAM - CAMPUCHIA

TỪ 1979 đến 2007

2.1 GIAI ĐOẠN 1979 ĐẾN 1993

2.1.1 Viện trợ không hoàn lại

Sau ngày giải phóng 07/01/1979, nền kinh tế Campuchia đứng trước sựsụp đổ Dưới thời Pôn Pốt, hơn 3/4 diện tích đất canh tác bị bỏ hoang, 2/3 đàntrâu bò bị giết, hầu hết các máy móc, công cụ và các công trình thuỷ lợi đầumối quan trọng đều bị phá huỷ hoặc hư hại nặng… Số lương thực ít ỏi còn lạiđều bị bọn Pôn Pốt cướp phá, nhân dân Campuchia không có gạo dự trữ Saugiải phóng, nhân dân trở về quê cũ với hai bàn tay trắng, trong một tâm trạnghoang mang, hoảng sợ, chưa thể bắt tay ngay vào sản xuất được Thêm vào

đó, tình hình an ninh chưa ổn định do sự phá hoại của bọn phản động đã phầnnào tác động đến nhân dân Campuchia khiến họ không dám ra đồng sản xuất.Trước tình hình như vậy, nạn đói là không thể tránh khỏi Đến giữa năm 1979,nạn đói rộng lớn, khủng khiếp đã đe doạ tính mạng hàng triệu người Việc cứuđói sau giải phóng không những là một nhiệm vụ kinh tế đơn thuần mà còn trởthành một nhiệm vụ chính trị cấp bách, có tác dụng quyết định tới việc ổn địnhtình hình chính trị, xã hội và tới sự tồn tại của chính quyền cách mạng non trẻ ởCampuchia

Ý thức rõ được trách nhiệm của mình, với yêu cầu của việc khôngngừng củng cố mối quan hệ toàn diện, đặc biệt, Đảng, Chính phủ, quân đội vànhân dân Việt Nam luôn đứng bên cạnh nhân dân Campuchia, chia sẻ khókhăn, sẵn sàng giúp bạn qua cơn hoạn nạn Ngay sau ngày giải phóng, mặc dùbản thân nhân dân Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn nhưng với tinh thầnquốc tế cao cả và thấm nhuần tư tưởng “giúp bạn là tự cứu mình”, nhân dân

Trang 38

và chính phủ Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ nhân dân Campuchia trong côngcuộc hồi sinh Từ năm 1979 đến năm 1984, Chính phủ Việt Nam và Chínhphủ Campuchia đã kỳ kết một số hiệp ước, hiệp định quan trọng như Hiệpước hoà bình và hữu nghị ngày 18/02/1979, tiếp sau đó là các hiệp định việntrợ kinh tế, văn hoá ngày 19/8/1980, ngày 02/5/1981, ngày 06/4/1983 và ngày12/12/1984 Thực hiện các hiệp định đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã gửitặng nhân dân Campuchia hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, các loại giốngcây trồng, hàng triệu nông cụ, dụng cụ gia đình, hàng ngàn tấn thuốc cácloại… để trực tiếp giúp cho việc cứu đói, phục hồi sản xuất, xây dựng lại cuộcsống Các bộ, các ngành, các tỉnh, thành phố của Việt Nam từ trung ương đếnđịa phương đã khẩn trương huy động lương thực, hàng hoá, phương tiện vậntải sang giúp bạn cứu đói “Trong lúc lương thực của Liên Xô, của các nước

xã hội chủ nghĩa chưa vào kịp, từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1979, ta đã chuyểnkịp thời 2,9 vạn tấn lương thực tới các tỉnh và thành phố ở Campuchia” [64]

Bộ Giao thông vận tải Việt Nam đã huy động lực lượng vận tải ở miền Nam

có lúc tới 2/3 lực lượng về đường bộ và đường sông để kịp thời tiếp nhận vàvận chuyển hàng hoá viện trợ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và các

tổ chức quốc tế tới thủ đô Phnôm Pênh và tới tận các tỉnh, huyện, xã theo yêucầu của nước bạn Bộ đội Việt Nam ở Campuchia cũng đã được lệnh san sẻkhẩu phần lương thực ít ỏi của mình để cứu giúp dân

Bên cạnh những biện pháp khẩn cấp kể trên, biện pháp cơ bản và quantrọng nhất để đảm bảo khắc phục được nạn đói là phải nhanh chóng giúp dân

ổn định và khôi phục lại sản xuất Cứu đói và sản xuất nông nghiệp là hainhiệm vụ gắn chặt với nhau Có cứu được đói, nông thôn mới ổn định và dânmới có sức để đi vào khôi phục sản xuất Có khôi phục được sản xuất, trướchết là sản xuất lương thực thì mới có cơ sở vững chắc để đẩy lùi và khắc phụcđược nạn đói Với phương châm đó, “trong năm 1980, Việt Nam đã giúp

Trang 39

nước bạn 1 vạn tấn thóc giống, 20 vạn tấn đậu giống, 2 vạn tấn ngô giống,

5000 con vịt giống, 7000 gà giống, 1000 lợn giống, 7000 tấn lương thực, thựcphẩm, 135.000 tấn thuốc thú y…” [64] Việt Nam đã góp sức khôi phục 1,3triệu ha đất trồng trọt, trong đó ta trực tiếp sang cày 5000 ha, sửa chữa lại hầuhết các công trình thuỷ lợi bị phá hỏng Ngành nông nghiệp Việt Nam giúpCampuchia khôi phục trên 1 vạn ha cao su, xây dựng các trạm bảo vệ thựcvật, các công trình nhân giống cây lương thực như lúa, ngô Viện trợ choCampuchia 50 máy bơm nước loại 450m3/h, một số máy khoan địa chất vàthăm dò địa hình, xây dựng giúp Campuchia 3 trạm khí tượng, 3 trạm thuỷvăn và 30 trạm đo nước Các công trình thuỷ lợi do Việt Nam giúp đã tướiđược trên 6 vạn ha đất gieo trồng ở Campuchia Ngoài ra Việt Nam còn thựchiện được 244 công trình xây dựng giúp Campuchia trong đó có 120 côngtrình là viện trợ không hoàn lại

Một trong những biện pháp đưa lại hiệu quả thiết thực, nhanh chóngtrong công tác viện trợ không hoàn lại là sự kết nghĩa giữa các tỉnh của ViệtNam với Campuchia, nhằm tận dụng mọi nguồn tài nguyên sẵn có, phát huytính chủ động, sáng tạo, nhanh chóng đáp ứng kịp thời yêu cầu bức thiết củađịa phương, tác động trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân

Đến năm 1986, nhiều địa phương của Việt Nam (tập trung chủ yếu làcác tỉnh phía Nam) đã kết nghĩa với tất cả các tỉnh, thành phố của nước bạnCampuchia: An Giang - Ta Keo, Bến Tre - Kon Đan, Cửu Long - Công PôngXpư, Đồng Tháp - Prây Viêng, Đồng Nai - Công Pông Thom, Hậu Giang -Công Pông Chnăng, Minh Hải - Cô Công, Quảng Nam Đà Nẵng - Bát đomboong, Tây Ninh - Công Pông Cham, Thuận Hải - Prết Vi hia, Sông Bé - Crachê… Công tác kết nghĩa không chỉ mang ý nghĩa chính trị, góp phần pháttriển tình hữu nghị, thuỷ chung, trong sáng giữa nhân dân hai nước, mà thật

sự mang nội dung hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật Việc viện trợ

Trang 40

trên tinh thần “Bát cơm xẻ nửa, hạt muối cắn đôi” của nhân dân các địaphương Việt Nam đối với nhân dân các tỉnh của Campuchia trong nhữngngày đầu đã giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn đói.

Các tỉnh, địa phương kết nghĩa với Campuchia một mặt gửi lương thựcsang giúp bạn (Hậu Giang giúp Công Pông Chnăng 600 tấn, Bến Tre giúpKon Đan 3.118 tấn, Kiên Giang giúp Campốt 790 tấn…) [64], mặt khác còntrực tiếp đưa máy móc, lực lượng sang khai hoang, làm đất, gặt hái giúp bạn

Với tinh thần cách mạng cao, được sự giúp đỡ chí tình của nhân dânViệt Nam, nhân dân Campuchia đã thu hoạch thắng lợi vụ lúa đầu tiên Diệntích gieo trồng từ 866.000 ha (năm 1979) tăng lên 1,6 triệu ha (năm 1980) vàsản lượng lương thực tăng từ 576.000 tấn (năm 1979) lên 1,5 triệu tấn (năm1980) Mức bình quân lương thực tính theo đầu người từ 60 kg (năm1979) lên

260 kg (năm 1980) và nạn đói ở Campuchia cơ bản bị đẩy lùi

Cùng với thắng lợi trong việc cứu đói, nhân dân Campuchia cũng đãgiành được những thắng lợi to lớn trong khôi phục, phát triển sản xuất nôngnghiệp Phát huy thắng lợi của vụ mùa 1980, Đảng và Chính phủ Campuchiaquyết tâm tạo cho nông nghiệp từ năm 1981 trở đi có một bước chuyển biếnmạnh mẽ, với phương hướng: tiếp tục khôi phục nền nông nghiệp mà trọngtâm là lương thực, thực phẩm, chú trọng lúa, đồng thời đẩy mạnh hoa màu,rau đậu; từng bước khôi phục các cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày;nhằm tạo ra một khối lượng nông sản lớn để tự túc được lương thực, cung cấpmột phần nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và bắtđầu có nông sản xuất khẩu Khôi phục chăn nuôi, bảo vệ và từng bước khôiphục đàn trâu bò, gia cầm…, khôi phục nghề cá và bắt đầu khôi phục nghềkhai thác lâm sản ở những nơi có điều kiện…

Được sự giúp đỡ của Việt Nam, từ năm 1980 đến năm 1984,Campuchia phục hoá thêm được hàng chục vạn ha đất trồng trọt, mở rộng

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực của Campuchia từ 1979 - 1983 - Quan hệ hợp tác kinh tế việt nam   campuchia từ 1979 đến 2007
Bảng 2.1 Diện tích gieo trồng và sản lượng lương thực của Campuchia từ 1979 - 1983 (Trang 41)
Bảng sau thể hiện kim ngạch và mặt hàng nhập khẩu từ Campuchia sang Việt Nam từ năm 2000 đến 2006. - Quan hệ hợp tác kinh tế việt nam   campuchia từ 1979 đến 2007
Bảng sau thể hiện kim ngạch và mặt hàng nhập khẩu từ Campuchia sang Việt Nam từ năm 2000 đến 2006 (Trang 60)
Bảng 2.7: 10 nước, vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn nhất và Việt Nam ở Campuchia - Quan hệ hợp tác kinh tế việt nam   campuchia từ 1979 đến 2007
Bảng 2.7 10 nước, vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn nhất và Việt Nam ở Campuchia (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w