Trong đó quan hệhợp tác kinh tế giữa các nớc nói chung và giữa các nớc với các vùng lãnh thổtrên thế giới nói riêng, là một bộ phận không thể thiếu trong tiến trình hộinhập kinh tế khu v
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
====o0o====
đỗ thị hoài thu
Quan hệ hợp tác kinh tế việt nam – hồng Kông
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Công Khanh
và các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử và khoa Đào tạo Sau
đại học Trờng Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với bạn
bè, gia đình và những ngời thân thiết đã luôn động viên, giúp
đỡ, tạo mọi điều kiên tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập Vinh, tháng 12 năm 2008
Tác giả
Đỗ Thị Hoài Thu
Mục lục
Trang Các chữ viết tắt
Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài………1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… ……… 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………5
4 Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu……….6
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu……… 7
6 Đóng góp của luận văn……….8
7 Bố cục của luận văn……… 9
Nội dung Chơng 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Công ……… 10
1.1 Cơ sở phát triển quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Hồng Kông………10
Trang 31.1.1 Tình hình và chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam………10
1.1.1.2 chính sách mở cửa kinh tế của Việt Nam ………10
1.1.1.1 Tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam ………….……… 12
1.1.2 chính sách “kinh tế thị trờng tự do” và đờng lối phát triển kinh tế đối ngoại của Hồng Kông 15
1.1.2.1 chính sách “Kinh tế thị trờng tự do” của Hồng Kông………15
1.1.2.2 Đờng lối phát triển kinh tế đối ngoại của Hồng Kông………18
1.2 Khái quát quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Hồng Kông trớc năm 1986………22
1.3 Sự chuyển biến của tình hình khu vực và thế giới……… 24
* Tiểu kết Chơng 2 quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông từ 1986 đến 2007 ……… 28
2.1 Quan hệ thơng mại………30
2.1.1 Kim ngạch thơng mại……….30
2.1.2 Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam - Hồng Kông……… 42
2.2 Quan hệ hợp tác đầu t……… ……… 51
2.2.1 Khối lợng đầu t……….52
2.2.2 Quy mô đầu t……… 63
2.2.3 lĩnh vực đầu t……….67
2.2.4 Phơng thức đầu t……… 75
2.2.5 Địa bàn đầu t……… 77
* Tiểu kết Chơng 3 Thành tựu và triển vọng trong quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông ……… 85
3.1 Thành tựu……… 85
3.2 Triển vọng……….89
3.2.1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Hồng Kông trong thời gian tới……….89
3.2.1.1 Thuận lợi………89
3.2.1.2 Khó khăn………94
3.2.2 Triển vọng……….97
*Tiểu kết Kết luận ……… 103
Trang 4Tài liệu tham khảo……….106
2 Apec Asian Pacific Economic Cooperation – Diễn đàn
hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng
3 asean Association of South East Asian Nations - Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam á
4 asem The Asia – Europe meeting – Diễn đàn hợp tác
11 fdi Foreign Direct Investment - Đầu t trực tiếp
nớc ngoài
12 GATT General Agreement on Tariffs and Trade – Hiệp
định chung về thuế quan và thơng mại
13 GDP Gros Domectic Productions – Tổng sản phẩm
quốc nội
14 HKD Hong Kong Dollar - Đôla Hồng Công
15 KCN - KCX Khu công nghiệp – Khu chế xuất
19 wto World Trade Organration – Tổ chức thơng mại
Trang 5hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và mỗi vùng lãnh thổ Trong đó quan hệhợp tác kinh tế giữa các nớc nói chung và giữa các nớc với các vùng lãnh thổtrên thế giới nói riêng, là một bộ phận không thể thiếu trong tiến trình hộinhập kinh tế khu vực và thế giới.
Trong tình hình đó, việc các nớc, các vùng lãnh thổ không ngừng mởrộng quan hệ với nhau đã trở thành một yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết vàquan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Hồng Kông không nằm ngoài tiếntrình vận động đó
Với chính sách đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam, quan hệ kinh tế
đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua đã có bớc phát triển mạnh mẽ
Đặc biệt là quan hệ kinh tế với các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực
Đông á nh Hồng Kông Lãnh thổ Hồng Kông là một trung tâm tài chính, tiền
tệ, thơng mại, chuyển khẩu, du lịch của khu vực và quốc tế Bên cạnh đó,Hồng Kông cũng là một trong “bốn con rồng châu á” Hiện nay, Hồng Kông
đợc xếp vào năm quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu t lớn nhất tại ViệtNam
Là nền công nghiệp mới thuộc “làn sóng thứ hai” (A Toffler) trong tiếntrình công nghiệp hoá của các quốc gia châu á, Hồng Kông có vị trí địa lí –kinh tế thuận lợi để phát huy “hiệu ứng chảy tràn” của tăng trởng khu vực.Mặc dù đã đợc trao trả về Trung Quốc kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1997, HồngKông vẫn là nền kinh tế “trung chuyển tài chính” vào loại lớn nhất khu vực vàthế giới Nhờ vậy, dẫu là một lãnh thổ với diện tích khoảng hơn 1000 km2 nh-
ng Hồng Kông có quan hệ rộng rãi với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trênthế giới Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Hồng Kông do đó cũng hoàntoàn không phải là một ngoại lệ Trái lại, trong sự gần gũi giữa hai nền kinh tếláng giềng, mối quan hệ mang tính chất bổ sung về cơ cấu giữa Việt Nam vàHồng Kông đã hình thành sớm Việt Nam trở thành địa chỉ thu hút Hồng Kôngcũng nh các quốc gia châu á khác bởi sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên,bởi những địa danh thơng mại sầm uất có từ xa xa và bởi sự hấp dẫn của thị tr-ờng dung lợng lớn, nguồn lao động dồi dào và rẻ… Bên cạnh đó, tình hìnhchính trị ở Việt Nam ổn định, môi trờng luật pháp đang đợc sửa đổi bổ sung,thể chế hoá và hoàn thiện theo hớng nhà nớc pháp quyền; luật đầu t nớc ngoàicủa Việt Nam đợc xem là một trong những bộ luật thông thoáng và hấp dẫntrong khu vực Ngoài ra, Việt Nam và Hồng Kông cũng có nhiều điểm tơng
đồng về văn hoá Khổng giáo, sự gần gũi về mặt địa lí…
Trang 6Qua hơn hai mơi năm quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, mặc dù tìnhhình Hồng Kông có nhiều thay đổi song quan hệ hợp tác kinh tế giữa ViệtNam và Hồng Kông đã có những bớc phát triển vững chắc và mở ra nhữngtriển vọng đầy lạc quan trong tơng lai, có thể dẫn ra đây nhận định khá lạcquan của Nguyên Bộ trởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm khi trả lời phỏngvấn của Phân xã trởng Tân Hoa Xã ngày 24 tháng 6 năm 1997: “Chúng tôi hivọng rằng sau khi trở về với Trung Quốc, quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam– Trung Quốc nói chung và quan hệ Hồng Kông – Việt Nam nói riêng sẽtiếp tục đợc củng cố và phát triển vì lợi ích của Việt Nam, Trung Quốc vàHồng Kông”.
Là ngời học tập và nghiên cứu lịch sử, chúng tôi chọn vấn đề “Quan hệ
hợp tác kinh tế việt nam – Hồng Kông (1986 ” – 2007) làm đề tài luậnvăn Thạc sĩ lịch sử với hi vọng góp một phần nhỏ vào công việc nghiên cứuquan hệ Việt Nam với các nớc và vùng lãnh thổ trong khu vực châu á - TháiBình Dơng nói riêng và với các nớc trên thế giới nói chung, đồng thời tăngthêm hiểu biết cho bản thân, phục vụ cho việc giảng dạy môn lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Hồng Kông – “thành phố cảng tự do”, “hòn ngọc viễn đông”, từ mấychục năm nay đợc coi nh là biểu tợng của sự phồn vinh, một trong “bốn conrồng nhỏ châu á” Toàn thể thế giới biết đến Hồng Kông bởi đây là một trungtâm quốc tế về thơng mại, tài chính, giao thông, thông tin và du lịch HồngKông có liên quan đến lợi ích kinh tế của gần hai trăm quốc gia và khu vựctrên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc, Mỹ, Anh, Nhật Bản và nhiều nớc ĐôngNam á, Hàn Quốc, Đài Loan… vì vậy, nghiên cứu về Hồng Kông đã đợcnhiều tác giả tiến hành Có thể chia các loại công trình đó nh sau:
Loại công trình do các tác giả trong nớc nghiên cứu hoặc dịch từ các tàiliệu nớc ngoài đợc viết thành sách hoặc dới dạng các đề tài cấp viện nh: Trungtâm nghiên cứu Trung Quốc (1984): “Trung Quốc và vấn đề Hồng Kông”; VũThuỳ Dơng (1998): “Hồng Kông trên đờng phát triển” - đề tài nghiên cứu cấpviện, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc; Vũ Thuỳ Dơng (1999): “Hồng Kôngsau hai năm Trung Quốc khôi phục chủ quyền” - đề tài nghiên cứu cấp viện,Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc; Vũ Thuỳ Dơng su tầm (1999): “HồngKông năm 1998: qua các bản tin tham khảo đặc biệt và tham khảo hàng ngày”
- Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc; Nguyễn Minh Hằng (1996) : “Kinh tếHồng Kông và những nhân tố Trung Quốc” - Trung tâm nghiên cứu TrungQuốc; Hoàng Thế Anh (1998): “Tình hình kinh tế Hồng Kông sau một năm
Trang 7trở về với Trung Quốc” - Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc; Hoàng Thế Anh(1999): “Tình hình kinh tế Hồng Kông sau hai năm trở về với Trung Quốc” -Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc; Trung tâm châu á - Thái Bình Dơng, Tr-ờng Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (1994): “Bốn con rồng nhỏ: trào
lu công nghiệp hoá ở Đông á” - nXB Thống kê; Thông tấn xã Việt Nam(2006): “Con đờng dân chủ của Hồng Kông – cuộc đấu tranh giữa TrungQuốc và phơng Tây”; Thông tấn xã Việt Nam (2007): “Kinh tế Hồng Kôngsau hai mơi năm tới”; Thông tấn xã Việt Nam (2006): “Viễn cảnh chính trịHồng Kông năm 2006” Nội dung của các công trình nghiên cứu trên chủyếu đề cập đến Hồng Kông nói chung, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vềcác biện pháp quản lí để đa Hồng Kông trở thành một nền kinh tế “siêu tốc”,thành “con rồng” châu á, cũng nh tình hình Hồng Kông sau khi trở về vớiTrung Quốc… mà cha đề cập đến sự phát triển của Hồng Kông trong quan hệtơng tác với Việt Nam
Các công trình dới dạng bài viết đợc đăng tải trên các tạp chí nghiên cứunh: tạp chí nghiên cứu Trung Quốc: “Hiện tình và triển vọng Hồng Kông saungày Trung Quốc khôi phục chủ quyền và quan hệ Việt Nam - Hồng Kông”(1999); Lê Thị Thu Hà (1996): “Vài nét về chiến lợc xuất khẩu của HồngKông”, số 2 tháng 4; Xuân Thắng (1996): “Việt Nam - Hồng Kông nhữngquan hệ kinh tế tiên phong và những giới hạn thấy trớc”, số 3 tháng 6; NguyễnHuy Quý (1997): “Hồng Kông trên đờng trở về với Trung Quốc Quan hệ ViệtNam - Hồng Kông”; Xuân Thắng – Duy Lợi (1998): “Triển vọng hợp táckinh tế Việt Nam - Hồng Kông sau thời kỳ Hồng Kông trở về với Trung Quốc,
số 2 tháng 4… ;Tuần báo Quốc tế: Lan Anh (1997): “Quan hệ kinh tế ViệtNam - Hồng Kông”, số 27 từ ngày 2 đến ngày 8 tháng 7… Ngoài ra, còn một
số bài viết dới dạng các tác phẩm báo chí đợc đăng rải rác trên các tờ báo củaViệt Nam Nội dung của các bài viết này đã đề cập đến quan hệ hợp tác kinh
tế Việt Nam - Hồng Kông, nhng chỉ đề cập đến quan hệ hợp tác mang tínhchất từng mặt, từng bộ phận ở một vài lĩnh vực chuyên biệt, hoặc chính sách,
định hớng nào đó của hai bên mà cha có công trình nào nghiên cứu một cáchtổng thể, toàn diện, có hệ thống quá trình quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -Hồng Kông
Đa số các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đều kết luận quan hệhợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông là mối quan hệ tốt đẹp diễn ra trongsuốt hơn hai mơi năm chiều dài lịch sử Mối quan hệ hợp tác kinh tế này có vai
Trang 8trò, động lực quan trọng trong việc duy trì hoà bình, ổn định và phát triển ởkhu vực châu á - Thái Bình Dơng.
Những công trình trên là cơ sở, nguồn t liệu quan trọng để chúng tôithực hiện đề tài này Từ góc độ lịch sử, tác giả đề tài tập trung trình bày mộtcách có hệ thống quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông từ năm 1986
đóng góp một phần không nhỏ đối với sự phát triển của mỗi bên
Nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông từ năm
1986 đến năm 2007 sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ giữaViệt Nam và Hồng Kông trong lịch sử một cách liên tục, không gián đoạn Từ
đó, chúng ta có những chính sách phù hợp để thúc đẩy mối quan hệ này pháttriển cao hơn
3.2 Nhiệm vụ.
Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông là một trong những yếu
tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam và HồngKông nói chung Do vậy, nghiên cứu mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa ViệtNam - Hồng Kông, đặc biệt là giai đoạn từ 1986 đến 2007 là nhiệm vụ khoahọc cần thiết và tăng thêm hiểu biết lịch sử về quan hệ hợp tác kinh tế giữaViệt Nam Hồng Kông Trên cơ sở đó, nhằm giải quyết những nhiệm vụ chínhsau:
- Hệ thống hoá những thành tựu chủ yếu trong quan hệ hợp tác kinh tếgiữa Việt Nam - Hồng Kông trong giai đoạn từ 1986 đến 2007 Từ đó, rút ranhững nhận xét về mối quan hệ này
- Trình bày một số nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế giữa ViệtNam - Hồng Kông
- Từ thực tế quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông, tác giả cốgắng đa ra một số nhận xét về quan hệ hợp tác kinh tế hai bên, bớc đầu phácthảo một số giải pháp nhằm góp phần tăng cờng quan hệ hợp tác kinh tế ViệtNam - Hồng Kông, cũng nh quan hệ Việt Nam với các nớc trong khu vực châu
á - Thái Bình Dơng
Trang 9- Trình bày những triển vọng và thách thức của mối quan hệ này.
Từ cách tiếp cận nh vậy, chúng tôi mong rằng công trình nghiên cứu củamình sẽ góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu rõ hơn quan hệ hợp tác kinh tếViệt Nam - Hồng Kông
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Luận văn “Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam Hồng Kông” (1986 2007) là một đề tài thuộc phạm trù chuyên ngành kinh tế, song đây là côngtrình nghiên cứu đợc tác giả tiếp cận dới góc độ khoa học lịch sử Chính vìvậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi không đi sâu vào các khái niệm,thuật ngữ kinh tế, cũng nh không đề cập đến các quan điểm, lập trờng khácnhau trong mối quan hệ chính trị, ngoại giao mà chỉ tập trung làm nổi bật đốitợng và phạm vi nghiên cứu của mình là “Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -Hồng Kông” dới góc độ sử học, đặc biệt là quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -Hồng Kông từ năm 1986 đến năm 2007
-Sở dĩ chúng tôi chọn năm 1986 làm mốc mở đầu vì đây là thời điểmchính phủ Việt Nam thực hiện đờng lối mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Kể từ
đó, không chỉ với lãnh thổ Hồng Kông mà Việt Nam còn có quan hệ hợp táckinh tế với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới Đối với mốc kếtthúc là năm 2007, vì đây là thời gian gần nhất với thời điểm mà chúng tôi tiếnhành nghiên cứu luận văn này; hai là năm 2007 là năm Việt Nam đã trải qua
21 năm tiến hành đổi mới đất nớc, nhiều vấn đề về quá trình phát triển kinh tế– xã hội đã đợc tổng kết và rút kinh nghiệm, trong đó vấn đề hợp tác kinh tếvới nớc ngoài là một trong những nội dung quan trọng đã đợc tổng kết và đúcrút, trong đó có quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Hồng Kông
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chú trọng đến những kết quả đạt
đợc trong quan hệ hợp tác kinh tế, đặc biệt là trên hai lĩnh vực thơng mại và
đầu t Thông qua quá trình và kết quả đạt đợc của sự hợp tác đó, chúng tôi hivọng sẽ tìm ra những mặt làm đợc và cha làm đợc do những nguyên nhân chủquan của cả hai bên Từ đó, góp một vài ý kiến đề xuất với những ngời có chứctrách và các cơ quan hữu quan để có những điều chỉnh kịp thời bằng nhữngchính sách kinh tế nhằm đẩy mạnh tốc độ phát triển, nâng cao hiệu quả hợptác của cả hai bên ngày càng đạt đợc những thành tựu to lớn hơn
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
5.1 Nguồn t liệu.
Trang 10Phần lớn t liệu phục vụ nghiên cứu luận văn là t liệu bằng tiếng Việt baogồm các sách và các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trong nớcviết Những công trình này đã đợc công bố trên thị trờng do các nhà xuất bản
có uy tín, các trung tâm nghiên cứu chuyên ngành ấn hành trong thời gian từ
1986 đến 2007
Loại t liệu thứ hai, là những thông tin, bảng biểu do tác giả trực tiếp sutầm đợc trong quá trình tìm kiếm tài liệu do các cơ quan hữu quan cung cấp:Viện kinh tế - chính trị thế giới, Cục đầu t nớc ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu
t, Tổng cục thống kê, Cục xuất nhập khẩu – Bộ Công Thơng…
Loại t liệu thứ ba, là các bài viết đăng trên các tạp chí, nhật báo của ViệtNam, mạng Internet… trong đó, các bài viết chủ yếu nhất về Hồng Kông làtrên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc của Viện Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Dù những nguồn tài liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc là cha đầy đủ, song
đó là những nguồn tài liệu tơng đối phong phú, đáng tin cậy để tác giả hoànthành luận văn của mình
5.2 Phơng pháp nghiên cứu.
Quán triệt phơng pháp luận Mác – Lênin thể hiện ở việc kết hợp haiphơng pháp lôgic và lịch sử Trong đó, luận văn chủ yếu trình bày theo phơngpháp của bộ môn lịch sử để phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử một cáchchân thực trong khi viết
Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài, luận văn có sử dụng phơng pháp tổnghợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và suy luận để giải quyết vấn đề luận văn đara
Từ các nguồn t liệu tiếp cận đợc, với những phơng pháp nghiên cứu nêutrên, tác giả luận văn cố gắng khai thác và sử dụng các thông tin một cáchkhách quan và trung thực
- Trên cơ sở những gì cho phép, tác giả luận văn đã xác định đợc nhữngnhân tố tác động đến mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông nhất
là từ giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2007
Trang 11- Thông qua những số liệu mà luận văn tổng hợp đợc sẽ nêu lên nhữngthành tựu và hạn chế cũng nh nguyên nhân của quan hệ hợp tác kinh tế ViệtNam - Hồng Kông Đa ra và phân tích dựa trên phán đoán của mình Từ đó,mạnh dạn rút ra một số bài học kinh nghiệm cần thiết cho sự điều chỉnh chínhsách hợp tác giữa hai bên để làm sao đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế ngàycàng có hiệu quả hơn nh mong muốn của Việt Nam, Hồng Kông
- Là đề tài nghiên cứu lịch sử theo hớng chuyên đề, luận văn trớc hết phục
vụ cho việc giảng dạy, biên soạn bài giảng, sau nữa là nguồn t liệu quan trọng
về lịch sử quan hệ giữa Việt Nam - Hồng Kông trên lĩnh vực kinh tế
7 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
Trang 12chơng 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác
kinh tế Việt Nam Hồng Kông. – Hồng Kông.
1.1 Cơ sở phát triển quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam –
Hồng Kông.
1.1.1 Tình hình và chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam.
1.1.1.1 Chính sách mở cửa kinh tế của Việt Nam.
Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Việt Nam đứng trớc mộthoàn cảnh hết sức khó khăn Cơ chế quản lý tập trung bao cấp đã làm cho nềnsản xuất nớc ta ngày càng đình trệ, tụt hậu, dẫn đến nguy cơ khủng hoảngnghiêm trọng Trong tình hình đó, tháng 12 năm 1986, Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI đã đa ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc, bao gồm đổi mới
t duy, nhất là đổi mới t duy cán bộ, phong cách lãnh đạo, phong cách làm việc
Đặc biệt, Đại hội nhấn mạnh phải đổi mới t duy, trớc hết là t duy kinh tế Với
phơng châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”,
Đại hội đã đề ra ba chơng trình kinh tế lớn là lơng thực – thực phẩm, hàngtiêu dùng và hàng xuất khẩu Xem đó là mũi nhọn phát triển kinh tế trong thời
kỳ mới, kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chếquản lí mới, kích thích phát triển sản xuất hàng hoá, xoá bỏ tình trạng “ngănsông, cấm chợ”, chia cắt thị trờng Đại hội VI đã đánh dấu một bớc ngoặttrong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, tạo ra bớc đột phá lớn,toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới, đa nớc ta vợt qua giai đoạn khủnghoảng để phát triển đi lên
Đờng lối đổi mới của Đại hội Đảng VI đã mở ra thời cơ mới cho đất n ớc
ta, đa Việt Nam bớc đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới Đó là nền tảng, cơ
sở cho những bớc đổi mới sâu rộng hơn nữa đợc đa ra trong các Nghị quyết
Đại hội Đảng VII, VIII, IX và X trong đó, Đại hội Đảng VIII đã khẳng định
đờng lối nhất quán trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là: “Đối ngoại
độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [14, tr.10 ].
Những phân tích, tổng kết trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X
là nền tảng lí luận vô cùng quan trọng đợc đúc rút từ thực tiễn hai mơi nămtiến hành đổi mới đất nớc, là ánh sáng soi đờng đa con thuyền cách mạng Việt
Trang 13Nam tiến nhanh ra biển lớn Đúng nh Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đãkhẳng định:
“Thực hiện nhất quán đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp
tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quóc tế, đồng thời
mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam muốn là bạn, đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” [14, tr.12 ].
Quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng là cơ sở quantrọng để Chính phủ Việt Nam liên tục đa ra những điều chỉnh về các chínhsách kinh tế phù hợp với sự phát triển của kinh tế thế giới Thừa nhận sự pháttriển kinh tế hàng hoá theo quy luật của kinh tế thị trờng, định hớng XHCN;cho phép sự tồn tại của các thành phần kinh tế, trong đó phát triển kinh tế tnhân là chiến lợc kinh tế lâu dài; ban hành nhiều chính sách, luật pháp nhằm
đảm bảo hành lang pháp lí nh: Luật Đầu t nớc ngoài, Luật Doanh nghiệp, chophép Đảng viên làm kinh tế t nhân…
Nhờ những đờng lối đổi mới đúng đắn đó, Việt Nam đã xác lập đợc quan
hệ ổn định với các nớc lớn và hầu hết tất cả các nớc lớn đều coi trọng vai tròcủa Việt Nam ở khu vực Đông Nam á Việt Nam đã kí hiệp định hợp tác với
EU (1995); Thoả thuận với Trung Quốc phơng châm quan hệ “mời sáu chữ
vàng”: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hớng tới tơng
lai (1999); Tuyên bố về quan hệ đối tác chiến lợc với Nga (2001); Quan hệ đối
tác tin cậy và ổn định lâu dài với Nhật Bản (2002); Bình thờng hoá quan hệ với
Mỹ, mở ra một thị trờng hợp tác rộng lớn Khi tuyên bố xoá bỏ cấm vận choViệt Nam, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã công bố với toàn thể nhân dân Mỹrằng: “giờ đây, chúng ta có thể tiến tới một nền tảng chung Bất kể những gìchia rẽ chúng ta trớc đây, chúng ta hãy xếp vào quá khứ Hãy để cho giờ phútnày là một thời điểm để hàn gắn và kiến tạo” [46]) Đó chính là thắng lợi trongchính sách đối ngoại của nhà nớc Việt Nam
chính chủ trơng, đờng lối đổi mới toàn diện và sâu sắc đã trở thành địnhhớng quan trọng cho quá trình hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nớc vàvùng lãnh thổ trên thế giới Điều này đã góp phần chi phối mạnh mẽ chiều h-ớng hợp tác kinh tế ngày càng phát triển giữa Việt Nam - Hồng Kông
1.1.1.2. Tình hình kinh tế Việt Nam.
Trang 14Ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở thành một trong những sự kiện trọng đạinhất của lịch sử dân tộc, kết thúc giai đoạn đất nớc bị chia cắt lâu dài, đem lạinền hoà bình, độc lập, thống nhất đất nớc Đó là cơ hội lớn để Việt Nam bắttay vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc Tuy nhiên, do điểm xuấtphát thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cộng với những sai lầm trongchính sách kinh tế… đã làm cho nền sản xuất ở nớc ta bị đình trệ nghiêmtrọng, hàng hoá khan hiếm, giá cả đắt đỏ, lạm phát và thâm hụt ở mức cao, sảnxuất không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu dùng… làm cho đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn “thu nhập quốc dân chỉ bằng 80 – 90% chỉ tiêu quốc gia”[5, tr.15] Toàn bộ quỹ tích luỹ và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa vào nguồnviện trợ của nớc ngoài, chiếm tới 38,2% tổng thu ngân sách và bằng 61,9%tổng số thu trong nớc Mặc dù đến năm 1981 – 1985 hai số liệu tơng ứng cógiảm (22,4% - 28,9%) nhng vẫn cha có sự cải thiện đáng kể nào trong khi
đó, những bạn hàng truyền thống, những nớc tài trợ cho Việt Nam đang đứngtrớc những nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng Nớc ta đang đứng trớc tình thếvô cùng khó khăn
Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã đa rachủ trơng đổi mới toàn diện đất nớc trong đó trọng tâm là đổi mới về t duykinh tế chính đờng lối đúng đắn đó đã đa Việt Nam thoát ra khỏi khủnghoảng kinh tế – xã hội, tránh đợc sự sụp đổ không đáng có nh sẽ xảy ra ởLiên Xô và các nớc Đông Âu
Từ năm 1986 đến năm 1989, công cuộc đổi mới bớc đầu đạt đợc nhữngthành tựu quan trọng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hớng xuất khẩu.Tấn dầu thô đầu tiên đợc khai thác vào năm 1986, đến năm 1989 đã xuất khẩu
đợc 1,5 triệu tấn dầu thô Trớc năm 1989, lợng gạo xuất khẩu không đáng kểthì đến năm 1989 chúng ta đã xuất khẩu đợc 1,5 triệu tấn, nâng tổng giá trịkinh ngạch xuất khẩu của Việt Nam lần đầu tiên đạt gần 2 tỉ usd Một con số
dù cha phải là lớn nhng cả chục năm trớc chúng ta cha hề đạt đợc Tuy vậy,cho đến những năm đầu thập kỷ 90 (của thế kỷ XX),khi bớc vào thực hiệnchiến lợc 10 năm (1991 – 2000), Việt Nam vẫn cha thực sự bớc ra khỏikhủng hoảng Nhờ triển khai mạnh mẽ đờng lối đổi mới toàn diện, đến năm
1995 hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều đạt kế hoạch đề ra Đất nớc thoát ra khỏikhủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo tiền đề cho nớc ta chuyển sang một giai
đoạn phát triển mới
Trang 15Từ năm 1996 đến năm 2000, kinh tế Việt Nam đã đạt đợc nhịp độ tăng ởng cao Tốc độ tăng trởng GDP bình quân từ năm 1990 đến năm 2000 là7,5% GDP của năm 2000 tăng gấp hai lần so với năm 1990 “Sắp xếp hợp lí
tr-sự phát triển của các thành phần kinh tế, theo đó kinh tế nhà nớc ngày cànggiảm đi (năm 1990 là 12.084 doanh nghiệp, đến tháng 6 năm 2005 còn 2.980doanh nghiệp có 100% vốn nhà nớc), đóng góp 39% GDP” [5, tr.71]
Kinh tế t nhân ngày càng phát triển, đặc biệt từ sau khi “Luật doanhnghiệp” ra đời năm 2000 “Đến năm 2005 cả nớc có khoảng 108.300 doanhnghiệp đăng kí, đa tổng doanh nghiệp đăng kí lên khoảng 150.000, gấp hai lần
so với chín năm trớc đó Tổng số vốn đăng kí đầu t đạt 302.250 tỉ đồng (tơng
đơng 18 tỉ usd), cao hơn số vốn đầu t nớc ngoài đăng kí cùng thời kỳ, đónggóp 37.7% GDP của cả nớc” [5, tr.71]
Bộ phận kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài có bớc phát triển quan trọng
“tính đến ngày 22 tháng 2 năm 2007 có 6.992 dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài
đợc cấp giấy phép và còn hiệu lực, với tổng số vốn đăng kí đạt gần 63 tỉ usd”(Cục đầu t nớc ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu t) Năm 2005, khu vực này đónggóp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách, 17,1% tổng vốn đầu t xã hội,35% giá trị sản xuất công nghiệp, thu hút hơn nửa triệu lao động”[5, tr.71].Nhờ vào chính sách chuyển dịch theo hớng xuất khẩu đã đa nền kinh tếViệt Nam giai đoạn này đạt đợc tốc dộ tăng trởng kinh tế rất cao “Tăng trởngGDP bình quân cho cả thời kỳ 1991 – 1995 là 8,77%, năm 1996 là là 9,3%.GDP bình quân đầu ngời đã đạt từ 168 usd năm 1991 lên 310 usd năm 1996
và mời năm sau đó GDP bình quân đầu ngời đã tăng gấp đôi với 720 usd năm2006”[5, tr.73] về cơ cấu kinh tế, đã có sự chuyển dịch mạnh theo hớng CNH– HĐH “Từ năm 1988 đến nay, tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDPtăng nhanh và liên tục (năm 1988 là 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8% GDP,năm 2003 là 40% GDP…) Từ chỗ trớc năm 1986, chúng ta cha khai thác đợcdầu thì đến năm 2005 chúng ta đã khai thác đợc 20 tấn/năm tỉ trọng nôngnghiệp trong GDP năm 1988 là 46,3% thì đến năm 2003 chỉ còn 21,8%, năm
2005 còn 20,5%” [5, tr.73]
Trên đây là những thành tựu đạt đợc của đất nớc ta qua hai mơi năm đổimới Có đợc những thắng lợi to lớn đó là nhờ vào đờng lối lãnh đạo đúng đắncủa Đảng Cộng sản Việt Nam từ Nghị quyết Đại hội Đảng VI đến Đại hội
Đảng X Nó đã tạo ra sức bật to lớn, gặt hái đợc những thành công rực rỡ vàtoàn diện trong năm 2006
Trang 16Năm 2006, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã tổ chức thành công rực
rỡ với những quyết sách, chiến lợc đúng đắn: đa nớc ta trong vòng 5 năm(2006 – 2010) ra khỏi tình trạng kém phát triển, có mức thu nhập đạt mứctrung bình của thế giới (theo quy định của Liên hợp quốc năm 2007, một nớc
đợc coi là kém phát triển nếu thu nhập GDP bình quân đầu ngời cha đạt 850usd/ ngời/ năm) Phấn đấu đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp vào năm
2020 trong năm 2006, mọi chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội đề ra đều đạt
và vợt mức, tăng trởng GDP đạt mức 8,17% Kinh tế đối ngoại đạt một lúc ba
kỉ lục: kim ngạch xuất khẩu gần đạt ngỡng 40 tỉ usd; đầu t nớc ngoài vợt ỡng 10 tỉ usd và tài trợ nớc ngoài vợt ngỡng 4 tỉ usd Đặc biệt, là trên lĩnhvực đối ngoại, có bốn sự kiện nổi bật là: Việt Nam trở thành thành viên thứ
ng-150 của Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO); Việt Nam tổ chức thành côngHội nghị cấp cao APEC lần thứ 14; đợc Mỹ thông qua quy chế bình thờngvĩnh viễn (PNTR) và đợc Hạ viện Mỹ rút tên khỏi danh sách những nớc đợcquan tâm đặc biệt về tôn giáo; đợc các nớc châu á nhất trí đề cử làm Uỷ viênkhông thờng trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 vàtháng 10 năm 2007 đã trúng cử với số phiếu gần nh tuyệt đối Cũng đồng thờivới tuần lễ cấp cao APEC là một loạt các chuyến thăm chính thức Việt Namcủa nguyên thủ của các quốc gia lớn: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga… Đó
là những sự kiện lịch sử lớn trong lịch sử ngoại giao Việt Nam Đồng thời, thểhiện vị thế ngày càng quan trọng của Việt Nam trên trờng quốc tế Có thểkhẳng định rằng: những thắng lợi của những năm qua đã đa Việt Nam đứng tr-
ớc những cơ hội lớn, những thời cơ lớn để đa đất nớc ta nhanh chóng hoà nhập
và phát triển cùng với thế giới
1.1.2 Chính sách “kinh tế thị trờng tự do và đ” ờng lối phát triển kinh tế
đối ngoại của Hồng Kông.
1.1.2.2. Chính sách “kinh tế thị trờng tự do của Hồng Kông.”
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hồng Kông bắt đầu xây dựng từ mộtthành phố đổ nát, nghèo đói, cùng với đó là áp lực của dòng ngời di c từ TrungQuốc lục địa sang Nhng, đến nay, Hồng Kông đã hoàn thành quá trình CNH– HĐN, trở thành một trong các nền kinh tế năng động, linh hoạt, dễ thíchnghi vào loại bậc nhất trên thế giới Chính “kì tích kinh tế” của Hồng Kông đã
là một hiện tợng lịch sử Bởi lẽ, lịch sử kinh tế trớc đây tạo cho nhiều ngời một
sự ngộ nhận là các nớc và vùng lãnh thổ đang phát triển ở á - Phi – MỹLatinh muốn CNH – HĐH đất nớc thì phải rập khuôn theo mô hình các nớcTây Âu và Bắc Mỹ Hiện tợng Hồng Kông cũng nh các nớc NICs khác ở châu
á đã phủ nhận quan điểm đó Các nớc và vùng lãnh thổ này đã có chiến lợcphát triển kinh tế riêng không lặp lại hoàn toàn quá trình CNH – HĐH của
Trang 17các nớc Tây Âu và Bắc Mỹ đã trải qua Đồng thời với quá trình tăng trởngkinh tế, các “con Rồng châu á” đã giải quyết đợc những vấn đề xã hội mangbản sắc riêng và bằng con đờng riêng của mình.
“kinh tế thị trờng tự do” là đặc trng cơ bản nhất của kinh tế Hồng Kông,
là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công về kinh tế Đồng thời, chínhsách “kinh tế thị trờng tự do” giúp Hồng Kông mở rộng các mối quan hệ hợptác kinh tế với các nớc và vùng lãnh thổ trên thế giới Bên cạnh đó, phải kể đếnmột nhân tố nữa không kém phần quan trọng là sự điều tiết của quy luật giátrị, của quan hệ cung cầu và cơ chế cạnh tranh để từ đó có thể thực hiện hiệuquả nguồn tài nguyên xã hội
Năm 1842, sau khi thực dân Anh chiếm Hồng Kông, Hồng Kông đợctuyên bố là một bến cảng mậu dịch tự do chính sách “Cảng mậu dịch tự do”
đã đợc thực thi liên tục trong hơn 150 năm qua, với đặc trng cơ bản là chínhphủ không tham gia hoặc can thiệp dù ở mức thấp nhất vào mậu dịch và thị tr-ờng Ngoài việc khống chế, sắp xếp và quản lí trực tiếp các ngành công cộngliên quan đến xã hội, dân sinh nh: đất đai, nớc sạch… thì chính quyền khôngcan thiệp vào các ngành quan trọng nh: thơng mại, công nghiệp, vận tải biển…
để cho thị trờng tự vận hành, điều tiết Đồng thời, chính quyền còn thi hànhchế độ giảm thuế để thu hút đầu t nớc ngoài
“kinh tế thị trờng tự do” đợc hình thành dựa trên cơ sở chính sách “Cảngmậu dịch tự do”, dù đã trải qua bao khó khăn, thử thách vẫn ngày càng pháttriển Ngày nay, mặc dù có sự can thiệp mạnh mẽ của nớc ngoài, toàn bộ hệthống thị trờng Hồng Kông vẫn toả sáng với đầy đủ sự tự do cao độ, mở cửacao độ và quốc tế hoá cao độ
Hồng Kông là nơi có tự do kinh tế nhiều nhất thế giới ở Hồng Kông,hàng hoá, tiền tệ, vốn và nhân viên đợc tự do xuất nhập khẩu Mậu dịch đốingoại tự do, tiền vốn lu động tự do, xí nghiệp kinh doanh tự do, ngoại hối tự
do, xí nghiệp địa phơng và nớc ngoài là nh nhau: tự do cạnh tranh
Mức độ mở cửa của nền kinh tế Hồng Kông cũng là số 1 thế giới, khôngthiết lập bảo hộ thuế quan kiểu nhà nớc, thị trờng địa phơng mở cửa ra khắpthế giới và phạm vi mở rộng là hầu nh tất cả các ngành nghề của lĩnh vực kinh
tế Hồng Kông là một “thành phố cảng tự do” (Free Port City) hiếm có trên thếgiới
Hệ thống thị trờng mở cửa và tự do cao độ của Hồng Kông đã thúc đẩy cơchế thị trờng lao động có hiệu quả cao ở Hồng Kông, “bàn tay vô hình” của
Trang 18kinh tế thị trờng đã có thể phát huy tốt khả năng điều phối nguồn tài nguyên
và tự điều tiết nền kinh tế Loại hình và số lợng hàng hoá xuất nhập khẩu hoàntoàn chịu sự chi phối của quan hệ cung cầu trên thị trờng quốc tế Hồng Kôngsản xuất loại hàng hoá gì, số lợng bao nhiêu, đều do thị trờng quốc tế và thị tr-ờng địa phơng quy định Sự thịnh suy của ngành công nghiệp chất dẻo trongnhững năm 1960 ở Hồng Kông đã phản ánh rõ uy lực của cơ chế tự động điềutiết thị trờng Những năm 1950, do thị trờng quốc tế có nhu cầu mạnh mẽ,ngành sản xuất chất dẻo ở Hồng Kông đã phát triển rất mạnh Đến giữa nhữngnăm 1960, ngành hoá chất dẻo thị trờng quốc tế dần dần hết thời, các xởng sảnxuất ở Hồng Kông nhanh chóng chuyển sang làm đồ chơi bằng nhựa Có thểthấy, qua cơ chế điều tiết của thị trờng, chức năng điều tiết tự động trong hệthống thị trờng vừa tạo ra thị trờng cạnh tranh công bằng cho các xí nghiệp,tức là thu hút các xí nghiệp hớng vào những lợi ích trên thị trờng, vừa tạo sức
ép thị trờng để các xí nghiệp nỗ lực nâng cao năng suất kinh tế Từ đó, khôngngừng kích thích tính năng động trong kinh doanh của các xí nghiệp, duy trì
động lực mạnh mẽ trong phát triển kinh tế Hơn nữa, cơ chế thị trờng làm chocác xí nghiệp tích cực và linh hoạt đáp ứng đòi hỏi của thị trờng, căn cứ vàonhu cầu để hoạt động kinh doanh, làm cho các xí nghiệp có thể tự chủ trongviệc lựa chọn hớng đầu t và kinh doanh, kết hợp nhu cầu của thị trờng và sảnxuất của xí nghiệp mình, làm cho toàn bộ hoạt động kinh tế giữ đợc trạng tháicân bằng Vì vậy, có thể nói rằng, trong cơ chế vận hành kinh tế đó, cơ chế thịtrờng là cực kì quan trọng, nó là khâu then chốt để nâng cao hiệu quả, kíchthích sức sống, giữ đợc sức cạnh tranh quốc tế và sự tăng trởng ổn định Đồngthời, là cái máy điều tiết của sự vận hành kinh tế tơng đối Nh vậy, trong sựvận hành kinh tế đó sự can thiệp của chính phủ ở mức độ thấp nhất cũng có tácdụng kích thích sức sống, vừa có thể giữ cân bằng
Tóm lại, cơ chế vận hành kinh tế kết hợp điều tiết thị trờng ở mức độ caonhất với sự can thiệp của chính phủ ở mức thấp nhất là một trong những nhân
tố quan trọng hàng đầu, đồng thời là đặc điểm nỗi bật nhất trong thành côngkinh tế của Hồng Kông Từ đó, tạo cơ sở cho Hồng Kông mở rộng giao lu, hợptác với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới
1.1.2.2 Đờng lối phát triển kinh tế đối ngoại của Hồng Kông.
với một môi trờng thơng mại thoáng, cơ sở hạ tầng linh hoạt, hiện đại,một khung luật rõ ràng và cởi mở, một trung tâm quốc tế về tài chính, thơng
Trang 19mại, Hồng Kông đã trở thành khu vực tốt nhất trên thế giới cho các hoạt độngkinh doanh, buôn bán.
Sau khi Hồng Kông trở về với Trung Quốc, quan hệ các mặt kinh tế,
th-ơng mại, quân sự, ngoại giao… với các nớc trong khu vực và trên thế giới cónhững thay đổi phù hợp với tình hình mới Theo đó, Hồng Kông từ sau năm
1997 đến nay vẫn là một trung tâm tài chính, thơng mại giao thông, du lịch…
đối với khu vực châu á - Thái Bình Dơng và thế giới, Hồng Kông vẫn là cửangõ buôn bán của Trung Quốc với thế giới bên ngoài Các nớc cũng coi HồngKông là trung tâm luân chuyển trong buôn bán với Trung Quốc Điều này
đang là thuận lợi của Hồng Kông, xuất phát từ một vùng đất không rộng, ngờikhông đông, tài nguyên thiên nhiên lại khan hiếm, nền kinh tế chủ yếu dựavào nền kinh tế trí tuệ Vì vậy Hồng Kông vẫn sẽ dựa vào khoa học kỹ thuậtcao, tập trung phát triển tài chính và dịch vụ Công nghiệp Hồng Kông chuyểndần vào nội địa Trung Quốc
Với lợi thế của mình Hồng Kông đã mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế vớitất cả các nớc và vùng lãnh thổ trên thế giới nhng u tiên các nớc: Anh, Mỹ,Nhật Bản, các nớc Đông Nam á…
* Trong quan hệ với nớc Anh
Lẽ đơng nhiên, Anh là nớc quan tâm nhiều nhất đến Hồng Kông sau sựkiện ngày 1 tháng 7 năm 1997 Hằng năm, Hồng Kông đã đem về cho Vơngquốc Anh một nguồn lợi nhuận không nhỏ Hồng Kông thực sự trở thành
“Viên ngọc Viễn Đông” của Vơng quốc Anh, tính đến trớc năm 1997 “Anh cókhoảng trên 1.000 công ty hoạt động tại Hồng Kông, đầu t của Anh tại HồngKông khoảng 3,5 tỉ usd đứng sau Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Đài Loan”[34, tr.5] Cũng có tài liệu cho rằng, đầu t của Anh vào Hồng Kông là lớn nhấtvới khoảng 20,5 tỉ usd Riêng thị trờng chứng khoán, các nhà t bản Anh có
cổ phần lên đến 840 tỉ HKD tơng đơng với 109 tỉ usd đứng đầu thị trờngchứng khoán Hồng Kông
Đến nay, nớc Anh vẫn chiếm 25 – 30% tổng FDI vào Hồng Kông vàtrên thực tế, sau ngày 1 tháng 7 năm 1997 ngời Anh vẫn giành đợc sự u ái nhất
định ở Hồng Kông chính phủ Anh đã đầu t 30 triệu Bảng để xây dựng trụ sở
đại diện của Anh tại Hồng Kông điều đó thể hiện sự khẳng định rằng: sự ổn
định của Hồng Kông vẫn là mối quan tâm hàng đầu của Anh quốc nhằm bảo
vệ các quyền lợi kinh tế và chính trị của Anh tại đây
Trang 20Nhìn chung, sau hơn một thế kỷ chiếm đóng Hồng Kông, t bản Anh đãkhống chế toàn bộ nền kinh tế Hồng Kông, giữ u thế trong hoạt động kinh tế
và chiếm vị trí quan trọng trong những ngành kinh tế quan trọng nhất nh tàichính, bảo hiểm, nhà đất, thông tin, giao thông… Đồng thời, đóng góp vai tròquan trọng trong các ngành ngoại thơng, công nghiệp, chế tạo, hàng hải, hàngkhông… Ưu thế này đã đem lại đặc quyền, đặc lợi cho t bản Anh, đa đếnnhững món lợi kếch xù, làm giàu cho t bản Anh Sau khi trao trả chủ quyềncủa Hồng Kông cho Trung Quốc, t bản Anh tại Hồng Kông vấp phải sự cạnhtranh mạnh mẽ của t bản ngời Hoa, t bản Nhật Bản và t bản Mỹ T bản ngờiHoa ở Hồng Kông ngày càng chiếm u thế trong các ngành chế tạo, nhà đất,ngoại thơng, dịch vụ ăn uống…
Vấn đề chính trị – xã hội ở Hồng Kông sau năm 1997 cũng đợc hai bênTrung Quốc và Anh quan tâm Hơn một thế kỷ ngời Anh cai trị Hồng Kông đãtạo cho Hồng Kông một nền kinh tế tự do nhất thế giới, một chính sách vănhoá - xã hội cởi mở Điều đó đã thu hút một lực lợng khá đông t bản Anh đầu
t kinh doanh ở Hồng Kông Trên thực tế, ngời Anh c trú ở Hồng Kông chiếmmột số lợng đông thứ hai sau ngời Hoa Suốt một thời gian dài, với sự du nhậpcủa văn hoá phơng Tây, xã hội Hồng Kông mang màu sắc Âu châu đậm nét
Đặc biệt, Hồng Kông có một nền giáo dục hiện đại nhất thế giới, các trờng
đại học có trình độ tơng đơng với các trờng đại học ở Anh, Mỹ, Nhật Bản… ởHồng Kông, tiếng Anh rất phổ biến, nó đợc sử dụng trong các công việc hànhchính Ngời Hồng Kông đã quen với hình ảnh Nữ hoàng Anh trên huy hiệu vàlá cờ của Anh quốc
Sự tích cực trong quan hệ giữa “Hồng Kông – Trung Quốc” với Anhquốc đã đem đến sự ổn định về chính trị, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ củakinh tế Hồng Kông từ sau năm 1997 đến nay
* Trong quan hệ với Mỹ
Bên cạnh Anh, Mỹ cũng là nớc có mặt ở Hồng Kông từ rất sớm và có một
vị trí nhất định trong nền kinh tế Hồng Kông Mỹ đã nhanh chóng tăng cờng
sự có mặt của mình ở Hồng Kông, ngời Mỹ trở thành cộng đồng nớc ngoài lớnnhất ở đây với gần 50.000 ngời Hơn 1.200 công ty Mỹ có văn phòng tại HồngKông với số vốn đầu t là 14 tỉ usd Mỹ có tới 50 tỉ usd gửi trong các ngânhàng Hồng Kông Là bạn hàng lớn thứ hai của Hồng Kông, hàng năm Mỹ xuấtsiêu sang thị trờng Hồng Kông gần 7 tỉ usd và đa tới đây gần một lợng khách
du lịch lớn tính chất Mỹ ngày càng nổi rõ trong mọi hoạt động kinh tế, văn
Trang 21hoá, xã hội… của Hồng Kông Ngời Hồng Kông ăn bánh Hamberger, muahàng Disney, xem truyền hình Mỹ, chơi Cricket trong giới trí thức HồngKông, số ngời đợc đào tạo tại Mỹ nhiều hơn so với số ngời đợc đào tạo tạiAnh, Nhật Bản…
Đối với Mỹ, giá trị của Hồng Kông không phải ở chỗ nó là cảng nớc sâu
mà giá trị của Hồng Kông ở chỗ, Hồng Kông là “thủ đô phơng Tây” tronglòng Trung Quốc Mỹ coi Trung Quốc là đối thủ chính, tiềm tàng trong việccạnh tranh địa vị cờng quốc số 1 ở châu á - Thái Bình Dơng Do vậy, HồngKông có thể đợc sử dụng để kiềm chế và làm mất ổn định tình hình TrungQuốc Vấn đề Hồng Kông còn đợc Mỹ sử dụng để gây sức ép với Trung Quốctrong việc Trung Quốc gia nhập WTO
* Trong quan hệ với Nhật Bản
Với Nhật Bản, từ những năm 1980 t bản Nhật Bản đã tăng cờng xâm nhậpvào Hồng Kông Ngời Nhật đầu t chủ yếu vào các ngành điện tử, điện khí, chếtạo đồng hồ… Trong hoạt động tài chính, ngời Nhật có nhiều cỗ phần trongcác ngân hàng Hồng Kông và Hồng Kông đợc Nhật sử dụng nh một khâuquan trọng nối liền hoạt động của họ ở New York, London và Trung Quốc lục
địa Trong tơng lai, vị trí Nhật Bản ở Hồng Kông có lẽ chỉ sau Trung Quốc lục
địa và Mỹ
* Trong quan hệ với các nớc Đông Nam á
Quan hệ kinh tế – thơng mại giữa Hồng Kông và các nớc Đông Nam ásau khi Hồng Kông trở về với Trung Quốc Đại lục vẫn tiếp tục phát triển.Hồng Kông đầu t nhiều vào các nớc Đông Nam á và ngợc lại, các nớc ĐôngNam á nh: Singapo, Malaisia, Inđonexia, Philippin, Thái Lan…đều có đầu tvào Hồng Kông với mức độ khác nhau
Về thơng mại, Hồng Kông vừa buôn bán trực tiếp với các nớc Đông Nam
á, vừa đóng vai trò chuyển khẩu trong buôn bán giữa các nớc Đông Nam ávới nớc thứ ba
Sau khi Hồng Kông trở về với Trung Quốc, vai trò chuyển khẩu ngàycàng lớn, đặc biệt sẽ có những mặt hàng do các xí nghiệp Hồng Kông kinhdoanh tại lục địa Trung Quốc, chuyển qua Hồng Kông để xuất khẩu sang cácnớc Đông Nam á
Có thể nói, triển vọng quan hệ kinh tế – thơng mại giữa Hồng Kông vàcác nớc trong khu vực và trên thế giới khá sáng sủa và ngời ta có thể hi vọng
Trang 22rằng Hồng Kông sẽ trở thành viên ngọc sáng trên vũ đài kinh tế khu vực và thếgiới trong thế kỷ XXI.
1.2. Khái quát quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Hồng Kông
tr-ớc năm 1986.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đi vào lịch sử nh một trong những sự kiệnquan trọng bậc nhất của dân tộc ta, chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranhchống lại chủ nghĩa đế quốc thực dân kéo dài suốt ba mơi năm Kể từ đó, nớc
ta bớc vào giai đoạn mới: đất nớc đợc độc lập, thống nhất nhân dân ta cần cùsáng tạo trong lao động, giàu lòng yêu nớc, có chính quyền vững mạnh, đã trảiqua nhiều thử thách trong chiến tranh, sự lãnh đạo kiên cờng của Đảng; nớc talại giàu tài nguyên thiên nhiên, có lực lợng lao động dồi dào… Đó là nhữngtiền đề vô cùng quan trọng để nớc ta thiết lập, mở rộng quan hệ hợp tác với cácnớc trên thế giới Mặt khác, tình hình thế giới đang có nhiều thay đổi tích cực,
đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Nótrở thành cơ hội hiếm thấy cho các quốc gia xích lại gần nhau hơn cùng hợptác và phát triển Tuy nhiên, do những chính sách cha thực sự phù hợp trong b-
ớc đầu xây dựng đất nớc mà trong suốt mời năm sau ngày giải phóng, đất nớc
ta vẫn đứng trớc nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế – xã hội, hầu
nh cha tạo ra đợc một cơ hội đáng kể nào trong việc hoà nhập vào xu hớngphát triển chung của thế giới Cho nên, ngoài quan hệ “làm ăn” mà chủ yếu lànhận nguồn viện trợ của các nớc XHCN, chúng ta cha thiết lập đợc một sự hợptác bình đẳng nào với các nớc TBCN, thậm chí còn góp phần làm tình hìnhngày càng căng thẳng và phức tạp hơn
Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam và Hồng Kông là hai khu vực có khoảngcách địa lí không xa, thuận lợi về giao thông nên đã sớm có quan hệ kinh tế vàbuôn bán với nhau Tuy nhiên, trong nhiều năm quan hệ này bị ảnh hởng bởi
sự khác biệt về quan điểm phát triển, bởi cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành ởViệt Nam và sự bao vây kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam Mặc dù vậy, ngay
từ đầu những năm 80 (của thế kỷ XX), bất chấp lệnh bao vây, cấm vận của
Mỹ, các công ty Hồng Kông đã thực hiện quan hệ buôn bán với Việt Nam.Các doanh nghiệp Hồng Kông đã lợi dụng sự gần gũi về địa lí cùng với sự hoàhợp ở mức độ nhất định văn hoá Khổng giáo để nhanh chóng mở rộng đầu t,buôn bán ở Việt Nam Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu quan hệ buôn bán của haibên còn nhỏ bé, không chính thức mà chủ yếu mang tính chất “phi vụ”
Trang 23Từ năm 1986 tình hình đã có những thay đổi tích cực Năm 1986, ViệtNam bắt đầu thực hiện đờng lối đổi mới theo một t duy hoàn toàn mới, với tinhthần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đùng sự thật, nói rõ sự thật” xác địnhchính xác tình hình đất nớc sau mời năm xây dựng và phát triển Từ đó, Đạihội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã xác định đổi mới toàn diện đất nớctrên mọi lĩnh vực, trong đó trọng tâm là đổi mới về chính sách kinh tế, lấy thựctrạng đời sống nhân dân làm thớc đo cho mọi đờng lối chủ trơng của Đảng.
Đây là t tởng sáng suốt và đúng đắn chỉ đạo xuyên suốt các chủ trơng chínhsách của Đảng và Nhà nớc sau này
Mặt khác, ở thời kỳ này quan hệ kinh tế quốc tế cũng có nhiều thay đổi,cuộc Chiến tranh lạnh kéo dài gần nửa thế kỷ đã kết thúc, chấm dứt sự đối đầugiữa các thế lực chính trị thế giới, mở ra một tơng lai tơi sáng cho xu thế cùnghợp tác phát triển của các nớc trên thế giới
Tất cả những điều kiện trên đã thúc đẩy, làm cho quan hệ hợp tác kinh tếViệt Nam - Hồng Kông có những bớc phát triển mới trên cả hai lĩnh vực đầu t
và thơng mại Mặc dù, thời kỳ này cha có một số liệu thống kê cụ thể, song cóthể nói rằng, đó là những bớc đi tích cực, cần thiết, tạo ra những tiền đề choquan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Hồng Kông phát triển sau này
1.3. Sự chuyển biến của tình hình khu vực và thế giới.
Tình hình khu vực và quốc tế là nhân tố tác động thờng xuyên đến quan
hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Hồng Kông Đây là những nhân tố tác
động có tính chất hai chiều Điều này có nghĩa là, khi môi trờng quốc tế thuậnlợi nó sẽ trở thành nhân tố tích cực Ngợc lại, khi môi trờng quốc tế xấu đi, nótrở thành nhân tố tác động tiêu cực Sau đây, chúng tôi xin khái quát những nétchính của tình hình khu vực và thế giới tác động đến quan hệ hợp tác kinh tếViệt Nam - Hồng Kông
Khu vực Đông á đợc coi là khu vực phát triển năng động của thế giới,
đặc biệt là trong những thập kỷ gần đây có nhiều nguyên nhân để đa đến sựthành công vợt bậc của khu vực này, trong đó hợp tác kinh tế vì sự phồn thịnhchung của mỗi nớc cũng nh mỗi vùng lãnh thổ, nhất là trong lĩnh vực kinh tế
đợc coi nh là chìa khoá của những thành tựu nỗi bật đó Điều có thể dễ dàngnhận thấy, bất luận sự khác nhau về cấp độ phát triển thì hợp tác khu vực luôn
đợc coi là lựa chọn và u tiên trong chiến lợc phát triển của mỗi nớc Hơn thếnữa, trong điều kiện các quốc gia khu vực và trên thế giới có nhiều biến đổi
Trang 24phức tạp, các nớc đều thực hiện chính sách điều chỉnh nhằm tìm kiếm các hìnhthức hợp tác phù hợp và hiệu quả.
Thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, cục diện thế giới đã có nhiều thay đổi: từchỗ đối đầu về quân sự chuyển sang cạnh tranh về kinh tế là chính, vị trí của
địa - chính trị đã bị địa - kinh tế thay thế mà tiêu chí của nó là việc hình thànhLiên minh châu Âu (EU), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và vòngcung hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng “Là nền kinh tế công nghiệpmới thuộc “làn sóng thứ hai” trong tiến trình công nghiệp hoá của các quốcgia châu á, Hồng Kông có vị thế địa kinh tế thuận lợi để phát huy “hiệu ứngchảy tràn” của tăng trởng khu vực Bất kể việc đợc trả về Trung Quốc kể từngày 1 tháng 7 năm 1997, Hồng Kông vẫn tiếp tục là nền kinh tế “trungchuyển tài chính” vào loại lớn nhất khu vực và thế giới Nhờ vậy, dẫu chỉ làmột đảo quốc bé nhỏ với diện tích khoảng hơn 1000 km2, Hồng Kông có quan
hệ rộng rãi với nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới” [32, tr.59]
Nh vậy, khu vực Đông á có tác động đến mối quan hệ giữa Việt Nam Hồng Kông
-Thứ nhất, xét về động lực tăng trởng, khu vực Đông á là nơi đang diễn ra
những biến động quan trọng, là nơi đang ở cao trào của các cuộc cách mạng vềkinh tế thị trờng Trong đó, hầu hết các nền kinh tế năng động đang thực hiệnthị trờng hoá kể cả những nớc trớc đây thực hiện cơ chế kinh tế chỉ huy TrungQuốc, Việt Nam, Myanma
Thứ hai, nơi đây đang diễn ra cuộc cách mạng về vốn mà thông qua đó
ngời ta đang thực hiện các biện pháp kết hợp để huy động tối đa các nguồn lựctrong nớc và nớc ngoài, thực hiện chế độ tài chính chặt chẽ Điều này đã làmthay đổi một cách mạnh mẽ tình hình tài chính khu vực, cơn sốt lạm phát đợckìm chế, cán cân thanh toán đợc cải thiện Nhiều nớc công nghiệp mới vàASEAN trớc đây còn là nơi thâm hụt ngân sách nặng nề, thì bớc vào nhữngnăm 90 (XX) đã trở thành những nớc không chỉ có vốn mà thậm chí còn cóvốn d thừa để đầu t sang các nớc chậm phát triển khác trong khu vực
Thứ ba, cách đây không lâu công nghiệp dịch vụ, đặc biệt là ngành du
lịch trong khu vực cha phát triển Sang những năm 90 (XX), công nghiệp dịch
vụ nói chung và ngành du lịch nói riêng ở các nớc trong khu vực đã trở thànhngành quan trọng, chiếm từ 25% đến 35% GDP Cuộc cách mạng về viễnthông đang diễn ra mạnh mẽ cũng đợc tập trung vào các ngành du lịch thanh
Trang 25toán và du lịch dịch vụ, và đợc coi là một ngành công nghiệp quan trọng trongcác nớc công nghiệp phát triển Đông á.
Thứ t, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi căn bản nền
kinh tế lạc hậu và phụ thuộc của châu á, chuyển một số nền kinh tế ở Đông á
từ chỗ phụ thuộc vào các kỹ thuật phơng Tây sang nghiên cứu thích ứng vàphát triển các kỹ thuật công nghệ, thích ứng từ thị trờng trong nớc Các nớcNIEs Đông á cũng đã trở thành khu vực xuất khẩu các nguồn kỹ thuật côngnghệ chủ yếu trong các nớc chậm phát triển của khu vực
Thứ năm, gắn với quá trình chuyển đổi cơ cấu và tự do hoá thơng mại,
khu vực Đông á hiện nay đang tiến hành cuộc cách mạng thơng mại, tăng ởng khả năng xuất khẩu hàng hoá lẫn dịch vụ với số lợng ngày càng tăng, chấtlợng càng cao sang thị trờng thế giới
tr-Từ những chuyển biến của tình hình khu vực và quốc tế, khu vực Đông á
đã tạo nên những động lực hấp dẫn mới Điều này không chỉ tạo ra tốc độ tăngtrởng kinh tế ổn định, mà còn là điều kiện quan trọng để tăng khả năng liênkết và khu vực hoá nền kinh tế giữa các quốc gia đang phát triển châu á.Trong tơng lai không xa, Đông á sẽ hình thành những mối liên kết kinh tếmang tính chất bao trùm khu vực Trong lĩnh vực thơng mại thông qua các mốiliên kết này, hệ thống thơng mại tự do, hệ thống sở hữu trí tuệ, hệ thốngchuyển giao kỹ thuật quốc tế, tự do hoá các hớng đầu t trực tiếp nớc ngoàicũng nh các luồng viện trợ phát triển sẽ ngày càng đợc đẩy mạnh Trong lĩnhvực giao thông, ở Đông á sẽ hình thành một khu vực cao tốc, đờng sắt, đờngbiển và đờng hàng không nối liền các nớc trong khu vực Trong lĩnh vực viễnthông, thông qua các biện pháp hiện đại hoá, quốc tế hoá ngành viễn thông,trong tơng lai không xa châu á sẽ trở thành các hệ thống tự vận động về mãhoá ngôn ngữ, các trung tâm bu chính viễn thông phát triển nhanh, hệ thốngviễn thông và các trung tâm xử lí thông tin tần số cao…
Điều đó không chỉ chứng minh cho xu thế hoà nhập khu vực ngày càngtăng thông qua các mối liên kết mà còn là những cơ hội để chứng minh vai tròngày càng tăng của Việt Nam, Hồng Kông trong khu vực Đông á
* Tiểu kết
quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông là hoàn toàn xuất phát từnhu cầu khách quan của mỗi bên trong quá trình hợp tác kinh tế, bên cạnhnhững thuận lợi nhất định nh tơng đồng về mặt văn hoá; xuất phát từ một thiệnchí hợp tác cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình và phát triển của thế giới hiện
Trang 26nay Nhng cũng còn nhiều trở ngại không đáng có do những lý do khách quan
và chủ quan khác nhau Điều quan trọng nhất mà chúng ta hy vọng vào quátrình hợp tác này là mục tiêu lí tởng của nhân dân Việt Nam, Hồng Kông,phán đấu vì một nền hoà bình, ổn định và phát triển Đó là lý do chính đángnhất kiến chúng ta tin tởng vào mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - HồngKông ngày càng bền chặt và phát triển hơn
Chơng 2 quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông
sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới “Nếu trong thập niên 70 (của thế
kỷ XX), tốc độ tăng trởng thơng mại của thế giới là 5,8%/năm, cao hơn 1,5 lầntốc độ tăng trởng kinh tế thì đến thập kỷ 90 số liệu tăng lên tơng ứng là 7% và2,5 lần, chiếm 29,6% trong tổng GDP của toàn thề giới” [6, tr.22] Đồng thời,với sự tăng trởng mạnh mẽ của nền thơng mại thế giới, đầu t trực tiếp nớcngoài trên toàn thế giới cũng tăng lên nhanh chóng Theo thống kê của Tổchức Thơng mại và phát triển Liên hợp quốc, “tổng mức đầu t nớc ngoài trênthế giới năm 1967 là 112 tỉ 400 triệu usd, đến năm 1983 tăng tới 600 tỉ usd,năm 1990 là 1.700 tỉ usd, năm 1999 là 4.000 tỉ usd Trong tổng vốn đầu ttrực tiếp nớc ngoài trên thế giới, khoảng 58% là đầu t vào các nớc phát triển,37% đầu t vào các nớc đang phát triển và 5% đầu t vào các nớc Đông Âu” [6,
Trang 27tr.23] Từ năm 1990 – 1999, hai nớc nhận nhiều nhất từ nguồn FDI của thếgiới là Mỹ (420 tỉ usd) và Trung Quốc (200 tỉ usd) Từ những số liệu trêncho thấy những nớc có nền kinh tế phát triển mạnh và giàu nhất chính là nhờnhững nớc có kim ngạch thơng mại và đầu t trực tiếp nớc ngoài lớn nhất thếgiới Qua đó để thấy rằng, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới cómột ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế mỗi nớc và mỗikhu vực Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông cũng chính là đểtăng thêm sự phát triển theo chiều hớng trên.
Trong những năm gần đây, thơng mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng
so với nền kinh tế thế giới, chắc chắn rằng xu thế này vẫn còn tiếp tục Đối vớicác nớc đang phát triển thơng mại là phơng tiện chủ yếu để thực hiện lợi íchtoàn cầu hoá Nhập khẩu làm tăng thêm tính cạnh tranh và tính đa dạng của thịtrờng nội địa, mang lại lợi ích cho ngời tiêu dùng Còn xuất khẩu sẽ góp phần
mở rộng các thị trờng nớc ngoài, mang lại lợi ích cho kinh doanh Nhng điềucòn quan trọng hơn có thể là thơng mại đã giúp các công ty trong nớc tiếp xúcvới thực tiễn tốt nhất của các công ty nớc ngoài và nắm bắt đợc những yêu cầucủa những khách hàng khó tính, khuyến khích tạo ra hiệu quả cao hơn Thơngmại đã giúp các công ty có cơ hội cải tiến nguồn vốn đầu t vào máy móc công
cụ, cũng nh tăng năng suất lao động Kích thích sự phân phối lại sức lao động
và vốn cho những khu vực có năng suất lao động tơng đối cao hơn Đặc biệt,
nó giúp chuyển dịch một số hoạt động dịch vụ và chế tạo từ các nớc côngnghiệp sang các nớc đang phát triển, tạo những cơ hội mới cho tăng trởng.Việc sáng lập ra Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) vào năm 1995 dựa trênHiệp định chung về Thuế quan và Thơng mại (GATT), đó là bớc phát triển đaphơng gần đây nhất, tạo ra môi trờng thuận lợi để trao đổi hàng hoá, dịch vụ…cho các quan hệ hợp tác kinh tế song phơng, đa phơng cùng những quan hệhợp tác kinh tế phi chính phủ khác một hành lang pháp lí minh bạch, rõ ràng,
đợc điều tiết bởi một hội đồng trọng tài quốc tế Trong các quan hệ hợp tác ấy,quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Hồng Kông cũng không nằm ngoài nhữnggiới hạn quy định của WTO
Đờng lối mở cửa hội nhập, đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ quốc tế
đ-ợc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đa ra cho đến nay có thểkhẳng định rằng đó là một hớng đi hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thếvận động của nền kinh tế thế giới Kể từ đó, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam vàcác nớc trên thế giới đợc mở rộng nhanh chóng và diễn ra trên nhiều lĩnh vực
từ kinh tế, chính trị cho đến văn hoá, xã hội, đặc biệt và chủ yếu là trên lĩnhvực kinh tế Trong các mối quan hệ đó nổi bật lên là quan hệ hợp tác kinh tếViệt Nam - Hồng Kông Những thành tựu về hợp tác kinh tế giữa Việt Nam -
Trang 28Hồng Kông đạt đợc trong hơn hai mơi năm qua có ý nghĩa to lớn, góp phầnlàm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng, đa tên tuổi Việt Namtrở thành “tấm gơng” của sự đổi mới và hoà nhập vào quá trình toàn cầu hoá
2.1 Quan hệ thơng mại.
2.1.1 Kim ngạch thơng mại.
Từ 1986 trở đi kim ngạch quan hệ thơng mại giữa Việt Nam - Hồng Kôngluôn phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và giá trị Hoạt động xuất nhập khẩuViệt Nam - Hồng Kông thể hiện rõ ở bảng 2.1 và bảng 2.2
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Hồng
Kông (1987 – 2000) Đơn vị : triệu usd
Nguồn: Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thơng.
Bảng 2.2: Kim ngạch Xuất Nhập khẩu
Việt Nam - Hồng Kông (2001 – 2006) Đơn vị: triệu usd
Năm Tổng XNK Tăng tr- ởng Nam Việt
XK
Tăng ởng Nam Việt
tr-NK
Tăng trởng
Trang 29trung gian quá cảnh cho buôn bán Hồng Kông với các tỉnh Tây Nam củaTrung Quốc Tuy nhiên, chức năng cũng chỉ xuất hiện một thời gian ngắn đốivới các mặt hàng nh: ô tô con, máy móc, thiết bị… do các thơng nhân ViệtNam và Hồng Kông phối hợp xuất qua biên giới Trung Quốc.
Có thể nói đến nay, Hồng Kông luôn duy trì vị trí là một trong số 10 bạnhàng buôn bán lớn nhất của Việt Nam, với nhịp độ tăng trởng tổng kim ngạchbuôn bán khá cao, nhng không đều Hiện nay, Hồng Kông chỉ còn đứng thứ 9trong số 10 bạn hàng lớn nhất của Việt Nam
Tốc độ tăng trởng ban đầu khá nhanh từ 72,6 triệu usd năm 1987 lên
đến 440 triệu usd năm 1990, tăng hơn 6 lần Trong giai đoạn 1990 – 1993,tổng kim ngạch thơng mại năm sau giảm đi so với năm trớc Nếu năm 1990,tổng kim ngạch thơng mại đạt 440 triệu usd thì năm 1991 giảm xuống còn
418 triệu usd, năm 1992 giảm xuống còn 344,6 triệu usd và năm 1993 giảmcòn 314,4 triệu usd Nhng đến năm 1993 – 1994, tổng kim ngạch buôn bánlại tăng hơn 60% từ 314,4 triệu usd lên đến 512,4 triệu usd Đến năm 1995,tổng kim ngạch buôn bán tăng lên 675,6 triệu usd, nhiều hơn 160,2 triệuusd so với năm 1994 sở dĩ tổng kim ngạch buôn bán năm 1995 có sự tăngmạnh so với năm 1994 là do đây là năm Việt Nam trở thành thành viên chínhthức của tổ chức ASEAN Sau khi trở thành thành viên chính thức của tổ chứcASEAN (ngày 28 tháng 7 năm 1995) quá trình hội nhập của Việt Nam vào cáchoạt động hợp tác trong khuôn khổ ASEAN nói chung và các nớc ngoài khuvực nói riêng ngày càng đợc tăng cờng Do vậy, thị trờng Việt Nam lúc này đ-
ợc nhiều nớc trên thế giới đặc biệt chú ý, trong đó có lãnh thổ Hồng Kông.Mặt khác, năm 1995, Mỹ – nớc có nền kinh tế lớn nhất thế giới đã chínhthức bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam Các doanh nghiệp Hồng Kông coi
đó là cơ hội lớn để đa hàng hoá của mình vào thị trờng Việt Nam Nhờ vậy,
mà luồng vốn từ Hồng Kông vào Việt Nam tăng nhanh
Từ năm 1996 đến 1997, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục có sựtăng đột biến so với năm 1995 Năm 1996 đạt 1,1 tỉ usd, năm 1997 đạt 1,08
tỉ usd Song, đến năm 1998 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu có chiều hớngchững lại và giảm đột ngột chỉ còn 913,7 triệu usd so với 1,08 tỉ usd năm
1997 Sở dĩ có tình trạng đó là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính –tiền tệ ở châu á năm 1997 Cuộc khủng hoảng lúc đầu nổ ra ở Thái Lan đãnhanh chóng lan sang và tác động mạnh mẽ đến các nền kinh tế trong khu vực
Đông Nam á và Đông Bắc á, trong đó có Hồng Kông Điều đó, đã ảnh hởng
Trang 30đến việc tăng vốn đầu t của Hồng Kông vào khu vực Bớc sang năm 2000, khinền kinh tế các nớc dần dần hồi phục trở lại thì tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu giữa Việt Nam - Hồng Kông cũng bắt đầu có những dấu hiệu tích cực.Năm 2000, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 921,8 triệu usd, năm 2002
đạt 1,14 tỉ usd Kể từ đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng đều qua cácnăm Năm 2006, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 1,89 tỉ usd
Nhìn vào số liệu thống kê ở bảng 2.1 và bảng 2.2, chúng ta thấy tổng kimngạch xuất nhập khẩu hai bên không ngừng tăng lên từ 72,6 triệu usd năm
1987, sau hai mơi năm đã tăng lên 1,89 tỉ usd (2006) chỉ số đó đã góp mộtphần không nhỏ vào sự tăng trởng của kinh tế Việt Nam trong hai mơi nămqua Tuy nhiên, cũng chính từ số liệu ở bảng thống kê cũng cho ta thấy một sựtăng trởng không cân xứng trong cán cân thơng mại của hai bên, trong đóchiều hớng không có lợi nhiều hơn liên tục về phía Việt Nam Nghĩa là lợi íchthu đợc của các doanh nghiệp mậu dịch Hồng Kông luôn đợc nhiều lợi ích hơncủa các doanh nghiệp Việt Nam Sự chênh lệch đó ngày càng cao thậm chí làgấp nhiều lần Nếu nh giai đoạn 1990 – 1993, tỉ lệ xuất khẩu hàng hoá củaViệt Nam sang Hồng Kông lớn hơn so với tỉ lệ nhập khẩu hàng hoá từ HồngKông vào Việt Nam (xuất siêu): năm 1990 xuất khẩu đạt 243,2 triệu usd,nhập khẩu đạt 196,9 triệu usd; năm 1991 xuất khẩu đạt 223,3 triệu usd,nhập khẩu đạt 194,8 triệu usd; năm 1992 xuất khẩu đạt 201,7 triệu usd,nhập khẩu đạt 142,9 triệu usd; năm 1993 xuất khẩu đạt 169 triệu usd, nhậpkhẩu đạt 145,4 triệu usd Nh vậy, giai đoạn 1990 – 1993, thực chất ViệtNam đang xuất siêu Nhng từ năm 1994 trở đi cán cân thơng mại giữa ViệtNam - Hồng Kông bắt đầu có sự chênh lệch đáng lo ngại cho nền mậu dịchViệt Nam, nếu chúng ta không có sự điều chỉnh kịp thời Mức thâm hụt mậudịch Việt Nam so với Hồng Kông qua các năm là: 1994 là -121,8 triệu usd,năm 1996 là - 484,2 triệu usd; năm 2002 là - 472,3 triệu usd; năm 2004 là -694,3 triệu usd và năm 2006 là - 998 triệu usd Những số liệu này cho thấy,trong những thời kỳ mà tốc độ tăng trởng kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam
- Hồng Kông đều tăng thì Việt Nam lại nhập siêu Và xu hớng này tăng nhanhqua các năm
“Tỉ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kông trong tổng kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam là 4,86% trong khi nhập khẩu là 5,26%, thấp hơnnhiều so với mức xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản là 28,46% xuất khẩu
và 10,67% nhập khẩu Với Singapo là 14,62% xuất khẩu và 20,09% nhập
Trang 31khẩu” [38, tr.63] Trong thời kỳ 1990 – 1996, các bạn hàng chủ chốt của ViệtNam đều tăng tổng kim ngạch buôn bán lên gấp hai lần “Singapo thờng chiếm3/5 khối lợng buôn bán với nớc ta; Nhật Bản tăng từ 322 triệu usd năm 1989lên đến 2,6 tỉ usd năm 1995” [38, tr.63], nhng Hồng Kông tăng không đều.Mặc dù nhịp độ thơng mại Việt Nam - Hồng Kông giai đoạn 1990 – 1996 ch-
a tơng xứng với tiềm năng và mong đợi của hai bên, nhng đến giai đoạn sauHồng Kông đã dần dần lấy lại đợc thế chủ động trong quan hệ buôn bán vớiViệt Nam Mặt khác, “Việt Nam gia tăng nhập khẩu từ Hồng Kông còn do chỗcác công ty Hồng Kông đã áp dụng rộng rãi các hình thức trả chậm đối với cácnhà nhập khẩu Việt Nam” [38, tr.63]
So sánh giữa kim ngạch nhập khẩu và kim ngạch xuất khẩu của HồngKông trong suốt hai mơi năm qua thì thấy rằng giá trị hàng hoá mà HồngKông xuất sang Việt Nam là rất lớn, nhng giá trị nhập khẩu từ Việt Nam sangHồng Kông lại rất thấp Nếu nh năm 1987 giá trị kim ngạch của Hồng Kôngsang Việt Nam mới chỉ 28,6 triệu usd, thì đến năm 1995 đã tăng vọt lên418,9 triệu usd, năm 2003 là 991,6 triệu usd và năm 2006 là 1,4 tỉ usd.Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của Hồng Kông từ Việt Nam vẫn tăng lênrất chậm chạp và khiêm tốn: năm 1987 là 44 triệu usd, năm 1995 là 256,7triệu usd, và năm 2003 là 373,9 triệu usd Đến năm 2006, kim ngạch xuấtkhẩu của Hồng Kông sang Việt Nam chỉ mới đạt 452,9 triệu usd, nghĩa làcán cân so sánh kim ngạch hai chiều của Hồng Kông gấp hơn 3,17 lần so vớiViệt Nam Cho dù quá trình hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Hồng Kông đãdiễn ra hơn hai mơi năm nhng phía các doanh nghiệp Việt Nam vẫn cha có đ-
ợc một sự điều chỉnh tích cực nào để có thể rút ngắn sự chênh lệch
Tuy kim ngạch nhập khẩu của Hồng Kông vẫn tăng đều qua các nămsong tỉ trọng xuất nhập khẩu qua các năm tăng, giảm không ổn định Nếu giai
đoạn 1987 – 1993, kim ngạch nhập khẩu của Hồng Kông từ Việt Nam luôn
đạt trên 50% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Hồng Kông; thì từnăm 1994 trở về sau kim ngạch nhập khẩu của Hồng Kông từ Việt Nam giảmdần qua các năm, thấp nhất là năm 2005 đạt 22% trong tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu Việt Nam - Hồng Kông Điều này cho thấy tốc độ xuất khẩu củaHồng Kông sang Việt Nam ngày càng tăng, trong khi đó tốc độ nhập khẩu củaHồng Kông từ Việt Nam lại tăng chậm
Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ vài chục năm trở lại
đây, các doanh nghiệp Hồng Kông đã nhận thức đợc rằng, việc tiếp cận và mở
Trang 32rộng thị trờng sang các nớc đang phát triển sẽ tạo ra những lợi thế và mang vềnhững nguồn lợi nhuận lớn Từ đầu những năm 80 (của thế kỷ XX) các thơnggia Hồng Kông đã tìm hiểu và bớc đầu có sự đầu t vào khu vực Đông Nam á.Một khối lợng lớn về thiết bị máy móc, linh kiện điện tử đã đợc nhập khẩu vàothị trờng này và luôn đạt tỉ trọng thơng mại ở mức xuất siêu Đó cũng là thựctrạng chung của nền thơng mại Việt Nam trong nhiều năm qua Điều nàychứng tỏ ở bảng số liệu sau:
Bảng 2.3: Tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá và
Việt Nam XK
Nhập siêu Kim
ngạch
Tăng ởng(%)
Nguồn: Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thơng.
Năm 2005, nhập siêu của Việt Nam từ Hồng Kông là 882 triệu usd, năm
2006 đạt 988 triệu usd và bảy tháng đầu năm 2007 đạt 720 triệu usd.Nguyên nhân của tình trạng nhập siêu là do: xuất khẩu của Việt Nam tuy cótăng trởng nhng tốc độ không cao trong những năm qua (dới 5%) Hơn nữa,những mặt hàng xuất khẩu truyền thống có thế mạnh lại giảm sút (ví nh hàngdệt may và hàng thuỷ sản) Bên cạnh đó, Hồng Kông với tính chất là thị trờngtrung chuyển với dung lợng thị trờng không lớn nên việc tăng đột biến kimngạch xuất khẩu sang thị trờng Hồng Kông sẽ gặp nhiều khó khăn
Việc mở rộng các thị trờng trực tiếp nh Mỹ, EU, Nhật Bản… đã khiếncho vai trò trung chuyển của thị trờng này giảm sút đáng kể, khiến kim ngạchxuất khẩu sang thị trờng Hồng Kông khó tăng trởng ở mức cao
Trong khi đó Việt Nam nhập khẩu với giá trị lớn nhóm hàng phục vụ chongành dệt may, da giày trong nớc để xuất khẩu Đồng thời, nhu cầu nhập khẩumáy móc, thiết bị, linh kiện điện tử của Việt Nam là khá lớn nhằm phục vụhiện đại hoá cho các ngành sản xuất trong nớc
Việc Hồng Kông là một trong năm đối tác đầu t hàng đầu vào Việt Namcũng dẫn đến kim ngạch nhập khẩu từ Hồng Kông tăng nhanh
Trang 33Mặc dù vậy, tình hình nhập siêu giữa Việt Nam - Hồng Kông cha phảithực sự đáng lo ngại Điều quan trọng để giảm bớt khoảng cách nhập siêu là
đẩy mạnh xuất khẩu Ngoài việc thực hiện các công tác xúc tiến thơng mại thì
điều quan trọng nhất là các doanh nghiệp Việt Nam phải tự nâng cao sức cạnhtranh, thúc đẩy hàng hoá nội địa Đó mới là giải pháp bền vững
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang Hồng Kông dự kiến sẽ
đạt khoảng 600 triệu usd, tăng 33,3% so với năm 2006 nhập khẩu đạt 1,43
tỉ usd, tăng 10% so với năm 2006, nhập siêu khoảng 830 triệu usd
Nguồn: Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thơng
Chúng ta thấy rằng, giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ HồngKông không ngừng tăng cao Nếu từ năm 1993 trở về trớc, mức tăng nhậpkhẩu của Việt Nam từ Hồng Kông chỉ đạt dới 50% thì đến giai đoạn sau đã
Trang 34tăng lên trên 50% Điều đó chứng tỏ hàng hoá của Hồng Kông rất phù hợp vớithị trờng và thị hiếu của ngời tiêu dùng Việt Nam Đồng thời, phản ánh “trình
Bảng 2.5: 10 quốc gia và vùng l nh thổ xuất khẩu lớn ãnh thổ xuất khẩu lớn
sang Việt Nam trong các năm 1990 – 1995 – 2006
Nguồn: Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thơng.
Về xuất khẩu, nh số liệu thống kê ở bảng 2.5 thì giá trị kim ngạch xuấtkhẩu của Hồng Kông sang Việt Nam không ngừng tăng liên tục qua các năm.Song ở chiều ngợc lại, chiều nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam tuy có tăng vềgiá trị kim ngạch nhng tăng rất chậm và nếu so sánh với mời quốc gia và vùnglãnh thổ nhập khẩu hàng hoá lớn từ Việt Nam thì Hồng Kông không hề cảithiện đợc vị trí Trái lại, lúc đầu đứng ở vị trí thứ ba, về sau tụt xuống vị trí thứchín trong số mời quốc gia và vùng lãng thổ có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất
từ Việt Nam Thứ bậc đó đang phản ánh một sự yếu kém nhiều mặt từ phíaViệt Nam: từ khâu tiếp thị, quảng bá cho đến chất lợng hàng hoá của ViệtNam đối với thị trờng Hồng Kông Từ đó, cũng khuyến nghị với các nhà quản
Trang 35lí Việt Nam cần có những nghiên cứu kịp thời để nhanh chóng điều chỉnh tìnhhình yếu kém nh hiện nay
Từ các bảng số liệu thống kê nh đã trình bày, cho thấy quan hệ thơng mạigiữa Việt Nam và Hồng Kông không ngừng phát triển và đã đạt đợc nhữngthành tựu đáng mừng Đến năm 2006, kim ngạch mậu dịch hai chiều đã đạtgần 2 tỉ usd Nếu so sánh với các nớc có nền kinh tế phát triển nh Mỹ, EU,Nhật Bản… thì con số đó cha đáng kể Song nếu nhìn lại một thời kỳ lâu dàicủa đất nớc trớc đó, đặc biệt là những năm trớc thập kỷ 90 (của thế kỷ XX) thìcon số đó quả là một số lợng ngoại tệ lớn, góp phần không nhỏ vào sự pháttriển của kinh tế Việt Nam Sự tăng lên về giá trị kim ngạch mậu dịch haichiều Việt Nam - Hồng Kông đã góp phần quan trọng trong sự thành côngchung của chính sách mở cửa và hội nhập của Việt Nam, làm cho nền kinh tếViệt Nam liên tục duy trì đợc tốc độ tăng trởng cao trong nhiều năm Cho nên,
dù ở mặt này hay mặt khác sự hợp tác đó cha thoả mãn nh những gì chúng tamong muốn, song nó phản ánh một sự hợp tác tích cực, tiến bộ trong quan hệthơng mại của hai bên Tuy nhiên, nhìn vào cán cân thơng mại hai chiều giữaViệt Nam - Hồng Kông thì chúng ta cũng phải thừa nhận là lợi ích mà chúng
ta thu đợc so với phía các doanh nghiệp Hồng Kông còn nhiều bất cập và cần
đợc điều chỉnh Trong khi các doanh nghiệp Hồng Kông luôn luôn đứng ở vịtrí xuất siêu thì các doanh nghiệp Việt Nam luôn ở vị trí nhập siêu và xu hớngnày ngày càng tăng Nếu nh chiều hớng này không đợc điều chỉnh thì cácdoanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi Đây chính là sự yếu kém mangtính phổ biến của hầu hết các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển hiện nay.Vậy nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là gì? Trớc hết về mặt chủ quan,phía Việt Nam, do chúng ta đi lên từ một nền kinh tế thấp kém, trình độ khoahọc kỹ thuật lạc hậu dẫn đến chất lợng hàng hoá mà chúng ta có đợc khó có
điều kiện để cạnh tranh với một nền kinh tế Hồng Kông phát triển tr ớc chúng
ta hàng chục năm Hơn nữa, trình độ tổ chức quản lí của chúng ta còn yếu, từkhâu tiếp thị đến phân phối hàng hoá… đều thua kém các doanh nghiệp HồngKông Việt Nam cha thể tạo lập và hình thành đợc những mạng lới phân phối
đủ mạnh, có hệ thống và có thơng hiệu nh ở Hồng Kông; còn yếu kém trongviệc nắm bắt thị hiếu ngời tiêu dùng ở Hồng Kông nh các doanh nhân HồngKông đã nắm bắt thị trờng Việt Nam, dẫn đến hàng hoá của Việt Nam khôngcạnh tranh và chiếm lĩnh đợc thị trờng Hồng Kông
Trang 36Bên cạnh đó, do phía Hồng Kông hơn hẳn chúng ta nhiều lợi thế từ khâuthăm dò, tìm hiểu và nắm bắt thị trờng cho đến chất lợng hàng hoá, giá cả hợp
lý do hiệu quả của công tác tổ chức quản lí, trình độ công nghệ… Thêm vào
đó, giai đoạn 1952 – 1970 ở Hồng Kông thực hiện giai đoạn công nghiệp hoáphát triển đất nớc
Hồng Kông nghèo nàn tài nguyên, khoáng sản, vốn lại không nhiều nên
“
khó có thể xây dựng các xí nghiệp lớn, phát triển công nghiệp nặng đợc Nhng Hồng Kông lại có lợi thế về lao động rẻ và một đội ngũ lao động đông đảo thì việc chú trọng phát triển công nghiệp nhẹ tập trung nhiều sức lao động là ph-
ơng án tối u hơn cả Mặt khác, thị trờng Hồng Kông nhỏ bé cả về số lợng và sức mua nên muốn phát triển sản xuất, đạt mức tăng trởng cao thì phải vơn ra thị trờng nớc ngoài Do đó, mô hình công nghiệp hoá của Hồng Kông giai
đoạn 1952 – 1970 là mô hình h ớng vào xuất khẩu, lấy công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều sức lao động làm trọng tâm [11, tr.33].”
Đến các giai đoạn sau: 1971 – 1984 và 1984 đến nay, Hồng Kôngchuyển từ giai đoạn “ Công nghiệp hoá” sang “ Đa nguyên hoá” kinh tế và
“Thay đổi cơ cấu” kinh tế Tuy nhiên, Hồng Kông vẵn luôn xem xuất khẩu là
-u tiên hàng đầ-u để phát triển kinh tế Khi chính phủ Việt Nam thực hiện chínhsách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hơn bất cứ quốc gia nào, chính quyềnHồng Kông là ngời hiểu hơn ai hết những nhu cầu về hàng hoá của thị trờngViệt Nam vì Việt Nam chính là “hình ảnh” của họ mấy chục năm trớc Họhiểu đợc Việt Nam đang cần những loại hàng hoá gì để phục vụ cho công cuộcCNH – HĐH, cần những công nghệ gì để có thể tăng tốc và đuổi kịp các nớctrong khu vực Nghĩa là, trớc khi xâm nhập vào thị trờng Việt Nam thì cácdoanh nhân Hồng Kông đã hiểu rõ những nhu cầu ở Việt Nam, trong khi ViệtNam đang ở giai đoạn thăm dò, tìm hiểu từng bớc để nghiên cứu, nắm bắt thịtrờng Hồng Kông Trong tình hình đó, việc họ luôn giữ đợc vị trí xuất siêu sovới Việt Nam là điều hiển nhiên
Kinh tế Việt Nam vốn ở trong giai đoạn chuyển đổi, các tiêu chuẩn vềchất lợng hàng hoá còn hết sức mập mờ, cha minh bạch, hay nói cách khác, thìViệt Nam là một thị trờng “dễ tính” cho nên hàng hoá từ Hồng Kông khi nhậpvào Việt Nam đợc dễ dàng chấp nhận hơn nhiều so với chiều ngợc lại
Mặt khác, hàng hoá của Việt Nam khi xâm nhập vào thị trờng HồngKông gặp phải một trở ngại lớn từ một đối thủ khổng lồ: Trung Quốc Từ lâu,Hồng Kông và Trung Quốc là những đối tác buôn bán, đầu t lớn nhất Hai hệ
Trang 37thống này đã thâm nhập đan xen vào nhau theo hớng vừa độc lập, vừa phụthuộc nh là một biểu hiện nổi bật của tiến trình khu vực hoá và toàn cầu hoá.chính sách mở cửa của Trung Quốc phù hợp với nhu cầu hớng ngoại mạnh mẽcủa trung tâm thơng mại, tài chính, dịch vụ quốc tế Hồng Kông, đã góp phầnthúc đẩy sự phát triển kỳ diệu của nền kinh tế Hồng Kông cũng nh tạo “cầunối” cho nền kinh tế Trung Quốc vơn ra thế giới bên ngoài Hồng Kông là
“khu tài chính đặc biệt” của Trung Quốc theo đó hàng hoá từ Trung Quốc vàoHồng Kông không chỉ thuận lợi về mặt giao thông vận tải mà còn thuận lợi cả
về quy mô, chủng loại, đặc biệt là về giá cả đều vợt trội so với hàng hoá củaViệt Nam Đây là một thực tế khốc liệt trong cuộc cạnh tranh không khoan nh-ợng của luật chơi tự do đầy lạnh lùng này
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mất cân đối trong cáncân thơng mại giữa Việt Nam - Hồng Kông Giải quyết đợc vấn đề này thực
sự không đơn giản và cần có nhiều thời gian Chính vì vậy các nhà hoạch địnhchính sách Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp cần phải không ngừng nỗlực trong việc tiếp cận, quảng bá đối với thị trờng Hồng Kông Nhng quantrọng hơn, ở một thời điểm mà giá cả không còn là lợi thế để cạnh tranh nữathì việc sản xuất ra những hàng hoá có chất lợng, hớng đến phục vụ tốt nhấtcho con ngời mới thực sự là điều vô cùng cần thiết Có nh vậy chúng ta mớicải thiện đợc tình trạng mất cân đối trong cán cân thơng mại giữa Việt Nam -Hồng Kông
2.1.2 Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam - Hồng Kông.
Hồng Kông trớc hết có một vị trí hết sức thuận lợi về mặt địa lí đối vớiViệt Nam, thuận lợi cho vận tải biển, với dân số không lớn chỉ khoảng 7 triệudân nhng Hồng Kông lại có mức sống rất cao với thu nhập GDP/đầu ngời của
Đặc khu hành chính này đạt xấp xỉ 32.294 usd/năm (2005) Bên cạnh đó,Hồng Kông thực sự trở thành một trung tâm thơng mại, tài chính, kinh doanh
và viễn thông của thế giới Hồng Kông đứng thứ 8 trên thế giới về tổng kimngạch xuất nhập khẩu Cảng Container của Hồng Kông là một trong nhữngcảng Container lớn nhất thế giới xét về năng lực thông quan Sân bay củaHồng Kông là một trong 10 sân bay lớn nhất thế giới xét về cả vốn đầu t xâydựng sân bay, số lợng hành khách và hàng hoá chuyên chở Ngoài nhữngthuận lợi trên, đối với Việt Nam, chủng loại mặt hàng nhập khẩu của HồngKông chủ yếu là những mặt hàng mà Việt Nam hoàn toàn có thể cung cấp đợc
Trang 38Chính vì những lí do trên, thị trờng nội địa Hồng Kông cũng có sức tiêu thụkhông nhỏ Nhng bên cạnh đó, nh ta đã biết, Hồng Kông chủ yếu là chuyểnkhẩu hàng hoá Mạng lới tiêu thụ hàng hoá và khách hàng của các công tyHồng Kông trải rộng trên khắp các quốc gia trên thế giới Hàng hoá tái xuấtcủa Hồng Kông sang các thị trờng khác chiếm tới 93% tổng xuất nhập khẩucủa Hồng Kông trong năm 2003 Chính vì thế, điều quan trọng của Việt Namkhông chỉ phải tập trung vào thị trờng nội địa Hồng Kông mà phải chú trọngtới cả hiệu suất chuyển tải rất cao của đặc khu này sang các thị trờng khác trênthế giới.
Hồng Kông hiện nay là một trong mời bạn hàng lớn nhất của Việt Nam,giá trị kim ngạch mậu dịch hai chiều năm 2006 đạt gần 2 tỉ usd Số liệu đókhông chỉ phản ánh vị trí quan trọng của Hồng Kông đối với nền mậu dịchViệt Nam mà còn thể hiện sự phong phú đa dạng trong cơ cấu những mặt hàngxuất nhập khẩu của hai bên
Bảng 2.6: Các mặt hàng xuất khẩu chính từ Việt Nam
sang Hồng Kông năm 2002 và 10 tháng đầu năm 2003 Đơn vị: usd
Trang 3920 Than đá 21.000 10.500
Chú thích: - - - biểu thị số liệu cha thống kê đợc
Nguồn: Hải quan Việt Nam
Nguồn: Hải quan Việt Nam.
Hồng Kông vào những năm 80 (của thế kỷ XX) đã đợc mệnh danh là mộttrong bốn “con Rồng” của châu á, với một nền kinh tế – xã hội tơng đối pháttriển Ngày nay, cho dù Hồng Kông trải qua nhiều thay đổi về cơ cấu chính trị,song Hồng Kông vẫn là một khu vực có tiềm lực kinh tế vợt trội so với ViệtNam Sự khác nhau về trình độ phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa họccông nghệ, kinh tế tất yếu dẫn tới sự không tơng đồng trong giao dịch hànghoá và nếu nh hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kông chủ yếu lànhững mặt hàng thô, phần lớn là do yếu tố của tự nhiên và lao động thủ cônglàm việc Trong một thời đại mà khoa học kỹ thuật đang trở thành một nhân tốchủ yếu, quyết định đến chiều hớng phát triển của một nền kinh tế thì đơngnhiên những mặt hàng có chất lợng chất xám cao hơn sẽ có giá trị kinh tế lớnhơn và ngợc lại những hàng hoá không có hoặc có rất ít hàm lợng khoa học sẽnhận đợc giá trị kinh tế nhỏ hơn cho nên, chúng ta hoàn toàn dễ hiểu tại sao
sự thâm hụt thơng mại trong cán cân mậu dịch hai chiều lại nghiêng về phía
Trang 40Việt Nam Điều này càng đợc phản ánh rõ hơn qua các bảng thống kê 2.8 và2.9.
Bảng 2.8: các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
sang Hồng Kông năm 2006 Đơn vị: usd
tháng (%)
Chú thích: - - - Biểu thị số liệu cha thống kê đợc
Nguồn: Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thơng
1 Nguyên phụ liệu dệt