1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ

517 399 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 517
Dung lượng 3,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu - Đổi mới chính sách tín dụng theo cơ chế thị trường, hoàn thiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển sản

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX.01/06-10 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN

KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

ĐỀ TÀI QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ

VIỆT NAM - HOA KỲ

(KX.01.03/06-10) BÁO CÁO TỔNG KẾT

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI GS.TS NGUYỄN THIẾT SƠN

CƠ QUAN CHỦ TRÌ VIỆN NGHIÊN CỨU CHÂU MỸ

8111

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

1

BÁO CÁO TỔNG HỢP

8111

Trang 3

2

PHẦN I

NHỮNG TIỀN ĐỀ QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT - MỸ

Trang 4

3

Chương I

Những vấn đề lý luận và thực tiễn

trong nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Mỹ  

Kể từ khi bỡnh thường hoỏ quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa

Kỳ, hợp tỏc kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ngày càng gia tăng và khụng ngừng mở rộng Mặc dự, quỏ trỡnh này chịu tỏc động của rất nhiều nhõn tố, nhưng theo chỳng tụi, cơ sở lý luận và thực tiễn tạo điều kiện cho quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ phỏt triển chớnh là những quan điểm về hợp tỏc phỏt triển, chớnh sỏch đối ngoại và chớnh sỏch kinh tế của cả hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ

Chớnh vỡ vậy, trong phần này, chỳng tụi trỡnh bày quan điểm của Đảng

và Chớnh phủ về đường lối hội nhập, chiến lược phỏt triển kinh tế huớng về xuất khẩu, bờn cạnh đú, chỳng tụi cũng trỡnh bày về nhận thức và chớnh sỏch thương mại của Hoa Kỳ Tất cả những vẫn đề này đó là cơ sở định hỡnh cho

sự phỏt triển của tiến trỡnh hợp tỏc kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ trong suốt thời gian vừa qua

i Quan điểm của đảng và chính phủ

trong đường lỐi hội nhập

Đường lối, chớnh sỏch đối ngoại luụn là bộ phận cấu thành rất quan trọng trong chiến lược phỏt triển của quốc gia, nú là nền tảng, cơ sở cho việc mở rộng quan hệ hợp tỏc, ngoại giao giữa Việt Nam với cỏc nước trờn thế giới Giống như cỏc quốc gia khỏc, Việt Nam thường xuyờn chịu tỏc động trực tiếp của những biến động trờn thế giới Cú thể cho rằng, cỏc quỏ trỡnh phỏt triển,

Trang 5

4

Đổi mới trong nước tùy thuộc rất nhiều vào môi trường bên ngoài, và đường lối chính sách đối ngoại luôn góp phần tạo dựng môi trường bên ngoài tích cực cho sự phát triển trong nước Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ từ chính sách đối ngoại của nhà nước Việt Nam

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã tổng kết 20 năm thực hiện đường lối Đổi mới về mọi mặt, trong đó có lĩnh vực đối ngoại Đại hội đã khẳng định đường lối đó là “đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam”, vì vậy Đảng đã tiếp tục chính sách đối ngoại được khởi xướng và thực hiện trong suốt thời kỳ đổi mới với những “cập nhật” cho phù hợp với tình hình mới Đó là đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Hoạt động đối ngoại bao giờ cũng phục vụ ba mục tiêu cơ bản là phát triển, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế

Với tư cách là sự nối tiếp của chính sách đối nội đối, chính sách đối ngoại đương nhiên phải phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, trong đó xây dựng được coi là nhiệm vụ trọng tâm Nói một cách khác, chính sách đối ngoại phục vụ hai mục tiêu “phát triển” và “an ninh”, trong đó mục tiêu phát triển được đặt lên hàng đầu vì chỉ có đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội mới có điều kiện vật chất để giữ vững an ninh và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước Điều đó không có nghĩa tuyệt đối hóa mục tiêu phát triển và xem nhẹ mục tiêu an ninh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, vì không thể phát triển được nếu như không có an ninh và vị thế quốc tế thấp kém

Để phát triển thuận lợi, hoạt động đối ngoại phải góp phần mở rộng tối

đa quan hệ quốc tế, tạo dựng mối quan hệ đan xen với các nước và các trung tâm trên thế giới, tạo dựng môi trường ổn định ở bên ngoài Trong 20 năm Đổi mới, chúng ta đã mở rộng được đáng kể quan hệ hợp tác quốc tế về

Trang 6

5

“chiều rộng”; Đại hội X nhấn mạnh yêu cầu “đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững” Đồng thời, vì mục tiêu phát triển, các hoạt động đối ngoại phải hướng mạnh vào các nhiệm vụ kinh tế - xã hội thiết thực, như mở rộng thị trường, có thêm đối tác, tranh thủ tối đa vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý Do đó, không phải ngẫu nhiên mà văn kiện Đại hội đã nêu cao yêu cầu “đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại”

Điểm mới nữa là Đại hội X đã nêu cao nhiệm vụ “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương” vì nước ta đang đứng trên ngưỡng cửa của sự hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới Hội nhập không phải là mục tiêu tự nhiên hoặc do sự thúc ép nào từ bên ngoài, mà là sự chọn lựa, là nhu cầu nội tại của bản thân nước ta, coi đó là một trong những biện pháp cần thiết để đạt tới mục tiêu phát triển Thực ra hội nhập kinh tế không phải là chủ trương mới được nêu ra, khi gia nhập AFTA vào năm 1995, nước ta trên thực tế đã hội nhập vào nền kinh tế khu vực Tại Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta đã nêu rõ chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực” và cuối năm đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra một nghị quyết riêng về hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, đây không phải là lúc trình bày về việc có hội nhập hay không hội nhập - một việc đã có quyết sách từ lâu, đã được thực hiện trên thực tế hàng chục năm nay và đã đem lại nhiều kết quả cụ thể - mà là tổ chức công việc cho thật tốt để khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm thiểu tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới

Cùng với phát triển kinh tế - xã hội thì việc đảm bảo an ninh quốc phòng cũng rất quan trọng và cần thiết Trong bối cảnh hiện nay, khi nói đến

an ninh không thể chỉ nghĩ tới việc giữ gìn bờ cõi, đề phòng sự tiến công từ bên ngoài; sử dụng những công cụ bảo vệ truyền thống Khái niệm an ninh

Trang 7

vì hòa bình và ổn định

Phát triển và an ninh là những tiền đề không thể thiếu được đối với yêu cầu nâng cao vị thế quốc tế của đất nước Trong 20 năm qua, một trong những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của công cuộc Đổi mới là vị thế nước ta trên trường quốc tế đã từng bước được nâng cao Vị thế ấy có được

là nhờ ở những chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và những đóng góp to lớn của dân tộc ta cho thời đại, nhờ ở đường lối đúng đắn, đưa tới những thành tựu được cả thế giới công nhận, nhờ ở vị trí địa - chính trị đặc thù của nước ta trong thế giới ngày nay, và nhờ ở chính sách đối ngoại có tính nguyên tắc và khôn khéo tranh thủ được lòng người

Để đạt được những mục tiêu trên, chúng ta luôn luôn kiên trì tư tưởng chỉ đạo là nắm vững nguyên tắc đi đôi với sự linh hoạt về sách lược Nguyên tắc ấy một lần nữa được nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội X là “tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi” Còn sách lược, có thể nói là thiên biến vạn hóa tùy theo từng vấn đề, từng tình huống, từng thời điếm, từng đối tác, nhưng luôn luôn phục tùng những nguyên tắc chỉ đạo nói trên

Việc xác định chuẩn xác mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo là rất quan trọng, song một nhân tố không kém phần quan trọng là định ra những

Trang 8

7

phương châm hành động phù hợp trong một thế giới đầy biến động và cực

kỳ phức tạp Một trong những phương châm ấy là “lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất” Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta theo đuổi một đường lối thực dụng, dân tộc hẹp hòi mà như Đại hội X đã nhấn mạnh, chúng ta luôn cố gắng “góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ

xã hội” dưới hình thức thích hợp

Một phương châm tích cực khác được Đại hội X khẳng định là kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế Phát triển tư tưởng được nêu ra trong ba đại hội trước, Đại hội X một lần nữa nhấn mạnh “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, đồng thời bổ sung thêm một tư tưởng về mong muốn

“tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” với hàm ý nâng cao tính chủ động, tích cực của mình trong các tổ chức quốc tế và khu vực mà nước ta tham gia Đại hội lần này không xếp thứ tự ưu tiên quan hệ với các đối tác khác nhau mà nhấn mạnh chủ trương “phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế”, vì thực ra, khi theo đuổi chính sách đa dạng hóa quan hệ quốc tế, mối quan hệ

ấy thường diễn biến rất linh hoạt tùy từng vấn đề, từng lĩnh vực, từng thời điểm cụ thể, chứ không theo một trình tự ưu tiên cứng nhắc Mặt khác, yêu cầu phát triển, an ninh và nâng cao vị thế quốc tế vẫn đòi hỏi dành nhiều sự quan tâm và công sức củng cố mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng có chung bên giới, hoặc trong khu vực Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương, cũng như các nước và trung tâm lớn ảnh hưởng trực tiếp tới cả ba mục tiêu của chính sách đối ngoại

Thực tiễn cho thấy, chính sách như vậy phù hợp với thực tế khách quan khi trên thế giới không còn cục diện “hai cực” đối đầu, mà xu thế chung là

Trang 9

8

đa dạng hóa quan hệ quốc tế, không phân biệt nước lớn, nước nhỏ, đồng thời xuất hiện nhiều tổ chức, diễn đàn rất đa dạng Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế góp phần giữ vững thế chủ động linh hoạt, tạo dựng cục diện lợi ích đan xen, bổ sung lẫn nhau, làm cho dễ dàng hơn trong việc giữ vững thế độc lập tự chủ

Để thực hiện thành công đường lối, chính sách nói trên, Đại hội X đã vạch ra bốn phương hướng hành động

Một là, vận dụng bài học về tạo dựng sức mạnh tổng hợp, đại hội nêu ra

những nhiệm vụ đối ngoại cả về mặt Đảng lẫn Nhà nước và ngoại giao nhân dân, nhấn mạnh yêu cầu phối hợp chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước

Hai là, đặt cao yêu cầu tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham

mưu về đối ngoại với sự tham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học Đây còn là điểm yếu của chúng ta, vì trong một thế giới biến động không ngừng và cực kỳ phức tạp, không nghiên cứu và dự báo kịp thời và chuẩn xác diễn biến tình hình, thì khó bề bảo đảm được tính chủ động, xử lý các tình huống một cách thích hợp

Ba là, nhân tố có ý nghĩa quyết định là đào tạo nguồn nhân lực vững

vàng về chính trị, có trình độ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt, do quan hệ đối ngoại của nước ta đang mở rộng nhanh chóng

cả về các lĩnh vực hoạt động, lẫn các đối tác và địa bàn trong bối cảnh quốc

tế không đơn giản

Bốn là, khẳng định cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo thống nhất, Nhà

nước quản lý tập trung đối với hoạt động đối ngoại - một trong những lĩnh vực thiết yếu và hết sức phức tạp của đất nước Về mặt này, trong nhiệm kỳ qua, lần đầu tiên đã xây dựng được quy chế quản lý thống nhất về hoạt động

Trang 10

II chiến lược kinh tế ĐốI NGOạI quan trọng của Việt Nam

1 Chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu

Đại hội X của Đảng đã khẳng định chủ trương xây dựng nền kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu những mặt hàng có hiệu quả Chủ trương này gắn chặt với việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở đó, Chính phủ

đã đề ra chiến lược phát triển xuất khẩu với các quan điểm phát triển đó là:

Thứ nhất, Tớch cực thực hiện chủ trương khuyến khớch xuất khẩu hàng

hoỏ và dịch vụ nhằm gúp phần tăng trưởng GDP, phỏt triển sản xuất, thu hỳt lao động phự hợp cỏc quy định của Tổ chức Thương mại thế giới và cỏc cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viờn

Thứ hai, Gắn kết thị trường trong nước với thị trường ngoài nước theo

hướng: phỏt triển thị trường trong nước để tạo nguồn hàng xuất khẩu, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu để kớch thớch sản xuất và thị trường trong nước; mở rộng và đa dạng hoỏ thị trường xuất khẩu đi đụi với việc mở rộng

và đẩy mạnh khai thỏc thị trường trong nước để hỗ trợ, giảm rủi ro cho xuất khẩu khi thị trường thế giới biến động

Trang 11

10

Thứ ba, Khuyến khích, huy động mọi nguồn lực của các thành phần

kinh tế và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, từng bước tạo ra các sản phẩm có thương hiệu đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới

Thứ tư, Phát triển nhập khẩu theo hướng tập trung nguồn lực cho phát

triển đầu tư và sản xuất; kiềm chế mức nhập siêu hợp lý chủ yếu bằng các giải pháp tăng kim ngạch xuất khẩu, không để ảnh hưởng đến cán cân thanh toán và ổn định vĩ mô nền kinh tế

Trên quan điểm đó, Chính phủ cũng đưa ra mục tiêu phát triển gồm:

Mục tiêu tổng quát: Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và

bền vững Đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, có khả năng chiếm lĩnh thị phần đáng kể trên thị trường thế giới Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô; đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ

cơ cấu địa lý, xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Á chiếm khoảng 45,0%, thị trường châu Âu chiếm khoảng 23%, thị trường châu Mỹ chiếm

Trang 12

11

khoảng 24%, thị trường châu Đại Dương chiếm khoảng 5,0% và thị trường khác chiếm khoảng 3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Và Tiến tới cân bằng xuất khẩu - nhập khẩu vào những năm đầu sau năm 2010

2 Các giải pháp chủ yếu

1 Hỗ trợ môi trường kinh doanh

- Mở rộng quyền kinh doanh và mở cửa thị trường kinh doanh, phân phối hàng hoá, dịch vụ theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động kinh doanh cung ứng các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tại Việt Nam; từng bước xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh dịch vụ về bưu chính - viễn thông, năng lượng, bảo hiểm, giao thông, cảng biển, Logistics để nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần giảm chi phí kinh doanh cho cộng đồng doanh nghiệp

- Tạo thuận lợi cho việc hình thành và hoạt động của các trung tâm cung ứng nguyên - phụ liệu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu

- Cải cách thủ tục và hiện đại hoá hải quan, rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục thông quan hàng hoá xuất - nhập khẩu

- Triển khai ký kết các thỏa thuận về thanh toán quốc tế qua ngân hàng với các thị trường xuất khẩu hiện đang gặp khó khăn trong giao dịch và bảo đảm thanh toán; ký kết các thỏa thuận song phương và công nhận lẫn nhau

về kiểm dịch động, thực vật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm với các nước đối tác

2 Hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu

- Đổi mới chính sách tín dụng theo cơ chế thị trường, hoàn thiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu và tín dụng xuất khẩu phù hợp quan điểm, mục tiêu của Đề án và các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành

Trang 13

12

viên; mở rộng các hình thức tín dụng, bảo đảm các điều kiện tiếp cận vốn và các hình thức bảo lãnh thuận lợi hơn tại các ngân hàng thương mại; từng bước thực hiện cho vay đối với nhà nhập khẩu có kim ngạch ổn định và thị phần lớn, trước hết đối với hàng nông sản

- Tổ chức thực hiện tốt cơ chế hoàn thuế đối với các nhà nhập khẩu nguyên liệu cung cấp cho các nhà sản xuất hàng xuất khẩu

- Cải cách, hoàn thiện các định chế tài chính theo hướng tập trung cho các yếu tố đầu vào của sản xuất hàng xuất khẩu và xúc tiến thương mại, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu; tiếp tục cải thiện các sắc thuế, phí và lệ phí; đẩy mạnh kinh doanh bảo hiểm tài sản, hàng hoá trong sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp

- Điều hành tỷ giá sát tỷ giá thực tế, phù hợp sức mua của đồng Việt Nam, đồng thời có chính sách gắn đồng Việt Nam với một số ngoại tệ chuyển đổi có lợi để tránh rủi ro cho xuất khẩu

3 Nâng cao hiệu quả điều hành công tác xúc tiến thương mại

- Đổi mới phương thức hoạt động và tổ chức quản lý, sử dụng Quỹ ngoại giao kinh tế nhằm phát huy tác dụng của Quỹ này trong hoạt động phát triển thị trường, tìm kiếm bạn hàng của cộng đồng doanh nghiệp

- Đa dạng hoá và mở rộng các hình thức xúc tiến thương mại

- Đổi mới chất lượng việc xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến thương mại quốc gia hàng năm; phối hợp các hoạt động xúc tiến để tổ chức các chương trình lớn liên ngành về xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch - văn hoá, nhằm quảng bá hình ảnh quốc gia, kể cả việc thông qua các kênh truyền thông quốc tế

- Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại cấp cao để thúc đẩy hợp tác, đầu tư và buôn bán, đặc biệt là đối với việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư trong các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu

Trang 14

13

- Tổ chức lại hệ thống các tổ chức xúc tiến thương mại và cơ chế cung cấp, dự báo thông tin thị trường, tư vấn đầu tư, thương mại, tư vấn pháp luật, môi trường kinh doanh ở trong, ngoài nước cho cộng đồng doanh nghiệp

4 Đào tạo phát triển nguồn lao động cho một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu

- Xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo nghề, giải quyết vấn đề thiếu hụt và nâng cao chất lượng lao động trong các ngành sản xuất hàng xuất khẩu đang gặp khó khăn về nguồn lao động; đẩy mạnh xã hội hoá các dịch vụ dạy nghề và đào tạo lao động; cân đối nguồn ngân sách hỗ trợ đào tạo nghề cho một số danh mục nghề phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu theo các địa chỉ cụ thể

- Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, luật pháp trong lĩnh vực lao động

và việc làm nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp và nâng cao mức thu nhập, điều kiện sống của người lao động; khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp tự đào tạo và trao đổi nguồn nhân lực, lao động

5 Xây dựng Chương trình dự báo và các đề án đẩy mạnh xuất khẩu theo ngành hàng

- Xây dựng Chương trình dự báo, phân tích khả năng cạnh tranh đến năm 2010 đối với các nhóm mặt hàng và dịch vụ xuất khẩu chủ yếu

- Xây dựng và thực hiện các đề án đẩy mạnh xuất khẩu ngành hàng (do các Bộ quản lý sản xuất chủ động xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện) dựa trên quan điểm, mục tiêu phát triển và các giải pháp định hướng của Đề

án này, Chương trình dự báo, phân tích khả năng cạnh tranh nêu trên, đồng thời phù hợp với chiến lược phát triển ngành hàng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong giai đoạn đến năm 2010

Việc xây dựng các đề án ngành hàng cụ thể phải được trao đổi, phối hợp với Bộ Thương mại, Ủy ban nhân dân các tỉnh và các tổng công ty, tập

Trang 15

14

đoàn ngành hàng liờn quan để bảo đảm tớnh khả thi và phự hợp với cỏc cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viờn; phải chỳ trọng đến cỏc giải phỏp thỳc đẩy quỏ trỡnh liờn kết giữa người sản xuất nguyờn liệu với cỏc doanh nghiệp sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu bằng cỏc chớnh sỏch kinh tế, nhằm gắn kết lõu dài lợi ớch và nghĩa vụ của hai nhúm sản xuất này

6 Hạn chế nhập siờu

Dựa trờn quan điểm của Đề ỏn là kiềm chế mức nhập siờu hợp lý, khụng để ảnh hưởng đến cỏn cõn thanh toỏn và ổn định vĩ mụ nền kinh tế, bảo đảm cỏc cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viờn, cỏc giải phỏp hạn chế nhập siờu được định hướng là:

- Thỳc đẩy tăng trưởng xuất khẩu hàng hoỏ và dịch vụ, trước hết là đối với cỏc thị trường nhập siờu và xem đõy là giải phỏp chủ yếu để hạn chế nhập siờu;

- Trờn cơ sở bảo đảm khả năng cạnh tranh và dự bỏo nhu cầu thị trường, phỏt triển sản xuất cỏc sản phẩm cú lợi thế so sỏnh để bảo đảm nhu cầu trong nước; đổi mới cụng nghệ sản xuất và quản lý để tiết kiệm nguyờn, nhiờn vật liệu;

- Điều hành tỷ giỏ và lói suất phự hợp tỡnh hỡnh phỏt triển kinh tế; hạn chế nhập siờu;

- Kiểm soỏt, điều tiết vay, nợ nước ngoài;

- Thỳc đẩy cỏc hỡnh thức dịch vụ, du lịch, xuất khẩu lao động, thu hỳt kiều hối;

- Tăng cường thu hỳt mạnh hơn nữa đầu tư nước ngoài; hỗ trợ phỏt triển ODA và sử dụng hiệu quả cỏc nguồn này

Các thành tựu xuất khẩu của Việt Nam trong thời kỳ từ 1995 đến nay đã vượt mọi dự đoán của các nhà kinh tế trong và ngoài nước ở đầu thập kỷ này Với tốc độ tăng trưởng trung bình năm vào khoảng 28%, đây là tốc độ tăng

Trang 16

15

trưởng cao nhờ xuất hiện những mặt hàng mới có quy mô ngày càng lớn là: dầu thô (chiếm 25% kim ngạch xuất khẩu), dệt-may (15%), hải sản (12%), gạo (10%), cà phê (10%), dày dép (10%)

Những mặt hàng này phản ánh nền kinh tế của Việt Nam hiện tại là nặng về phát triển nông nghiệp và phát huy ưu thế lao động rẻ là chủ yếu Để

có thể tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao như hiện nay, Việt Nam cần có một chiến lược lâu dài là tăng mạnh hàng chế biến sâu như : Nông sản chế biến (lên 10% vào năm 2020), sản phẩm điện tử (9% vào năm 2020), khí hóa lỏng (10% vào năm 2020), vật liệu xây dựng (7,5% vào năm 2020), sản phẩm cơ khí (4% vào năm 2020), sành sứ (5% vào năm 2020), đồ chơi trẻ

em (2,5% vào năm 2020), dịch vụ (20% vào năm 2020)

Xuất khẩu dự kiến sẽ tăng trưởng trung bình năm vào khoảng 12% /năm trong thời kỳ 2010 - 2020 Việt Nam năm 2020 sẽ đạt xuất khẩu hàng năm là

200 tỷ USD, chiếm 37% GDP (530 tỷ USD) và có mức thu nhập GDP theo

đầu người vào khoảng 4000-5000 USD

III Chính sách thương mại của Hoa Kỳ: một số vấn đề

cơ bản

1 Cơ sở hình thành chính sách thương mại của Hoa Kỳ

Có thể nói, lịch sử của chính sách thương mại hiện đại Mỹ bắt nguồn từ sau đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 với Đạo luật về các Hiệp định thương mại năm 1934 và những thảo luận lúc bấy giờ về Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) Những đạo luật thương mại về sau đều

có vai trò rất quan trọng đối với việc tiếp tục hoạch định và triển khai thực hiện chính sách thương mại của Mỹ Đó là những đạo luật sau: Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962 (Trade Expansion Act of 1962) và những kết quả của vòng đàm phán Kennedy, Đạo luật Cải cách Thương mại năm 1974 (Trade Reform Act of 1974) và những thành quả của vòng đàm phán Tokyo

Trang 17

16

(Export Administration Act 1979) và Vòng đàm phán Uruguay với sự ra đời của WTO ngày 1/1/1995

Sự ra đời của Đạo luật về các Hiệp định thương mại năm 1934:

- Chúng ta đều biết rằng đầu những năm 30, thương mại Thế giới và xuất khẩu của Mỹ giảm sút nghiêm trọng do hậu quả hoạt động kinh tế giảm sút vì ảnh hưởng Đại khủng hoảng Do thông qua Đạo luật biểu thuế Smoot - Hawley năm 1930 (Smoot - Hawley Tariff Act), quy định mức thuế nhập khẩu trung bình ở Mỹ cho đến năm 1932 sẽ tăng lên 59% gây nên các phản ứng trả đũa của nước ngoài Kết quả là nhập khẩu của Mỹ năm 1932 giảm còn bằng 31% so với mức năm 1929

- Để chống lại xu hướng giảm sút đó, quốc hội Mỹ với chính quyền Roosevelt đã thông qua Đạo luật về các Hiệp định thương mại năm 1934 Những nguyên tắc của Đạo luật này sẽ là cơ sở cho các quy định pháp luật thương mại sau này ở Mỹ Đạo luật đã chuyển việc hoạch định chính sách thương mại từ quốc hội có tính chất chính trị nhiều hơn sang Tổng thống và cho phép Tổng thống có quyền đàm phán với các nước khác biểu thuế tương quan thấp hơn khoảng 50% mức thuế của Đạo luật biểu thuế Smoot - Hawley Đến năm 1974, thuế nhập khẩu trung bình của Mỹ thấp hơn khoảng 50% so với mức năm 1934 Đạo luật này được hoàn thiện 11 lần trước khi

được thay bằng Đạo luật khuyếch trương thương mại năm 1962

Đạo luật năm 1934 lẫn các quy định luật lệ thương mại về sau đều dựa trên nguyên tắc MFN Đây là nguyên tắc không phân biệt đối xử với tất cả các bạn hàng cả trong đàm phán giảm mức thuế với nhau Mỹ muốn cả trong

đàm phán giảm mức thuế 2 bên, cũng như giữa 2 nước ký kêt hiệp định về tối huệ quốc đều có lợi như nhau Tuy nhiên, thương mại song phương đã đương

đầu với những khó khăn vừa xuất hiện như việc giảm biểu thuế được đàm phán phần lớn chỉ tập trung vào hàng hoá chủ yếu của thương mại song phương, và nhiều nước “ vô trách nhiệm” đã không tham gia trực tiếp vào các cuộc đàm

Trang 18

17

phán và không lập các biểu thuế quy định lúc giảm thuế của mình lại cũng có thể có lợi nhờ các cuộc đàm phán giảm thuế cho nhau giữa các nước khác

Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) khuyến khích tự

do thương mại thông qua các vòng đàm phán nhiều bên Với những nguyên tắc cơ bản (không phân biệt đối xử, loại bỏ các hàng rào thương mại phi thuế quan - trừ các mặt hàng nông sản và các nước có cán cân thanh toán khó khăn, giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng trong phạm vi GATT)

được các nước thành viên thông qua và qua 5 cuộc đàm phán khác nhau, mức thuế quan đã giảm 35% từ năm 1947 đến năm 1962 Năm 1965, GATT cho phép đối xử ưu đãi trong thương mại đối với các nước đang phát triển và cho phép những nước này có những khoản nợ nhờ giảm mức thuế trong đàm phán với các nước công nghiệp

Tuy nhiên, cho đến trước 1962 việc giảm mức thuế chưa đưa lại những kết quả lớn vì việc đàm phán về biểu thuế dựa trên nguyên tắc sản phẩm đổi sản phẩm ra đời vào năm 1950 , Quốc hội Mỹ đã gắn một số yêu cầu về bảo

hộ đối với việc đổi mới định kỳ Đạo luật về các Hiệp định thương mại :

- Dự phòng nguy hiểm (Peril- Point Provisions) (Ngăn cản Tổng thống

đàm phán giảm mức thuế ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp trong nước )

- Điều khoản giải tỏa (The Escape Clause) cho phép các ngành công nghiệp trong nước bị tổn hại do nhập khẩu đệ đơn lên Uỷ ban Thương mại Quốc tế (Uỷ ban Biểu thuế quan Mỹ-cho đến năm 1975) Uỷ ban này có thể

đề đạt Tổng thống bãi bỏ một số biểu thuế được giảm qua đàm phán

- Điều khoản An ninh Quốc gia (The National Security Clause) cho phép ngăn cản giảm biểu thuế (dù đã sẵn sàng đàm phán) nếu chúng gây tổn hại đến các ngành quan trọng đối với quốc phòng

Những yêu cầu này có thể có một số ý nghĩa nào đó, nhưng nhìn chung chúng mang tính chất hạn chế các hoạt động thương mại, đặc biệt là điều khoản giải toả và chúng ngày càng cản trở việc giảm nhiều hơn các mức thuế

Trang 19

18

Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962 và vòng đàm phán Kennedy

Đạo luật này ra đời là nhằm đáp ứng tình hình phát triển mới của cộng đồng kinh tế Châu âu (EEC) hay thị trường chung Châu Âu, nó được thay thế cho

Đạo luật về các Hiệp định Thương mại

Đạo luật cho phép Tổng thống đàm phán giảm biểu thuế đến 50% so với mức năm 1962 Đồng thời đạo luật hỗ trợ cho người lao động và các hãng khi bị tổn hại do việc giảm mức thuế gây nên Nó thay thế thuyết không

đối sử bất công và qui định hình thức được trang bị trợ giúp cho người lao

động bị mất việc làm và giảm thuế cho vay lãi suất thấp cũng như trợ giúp kỹ thuật khác cho các hãng bị tổn hại

Nguyên tắc điều chỉnh hỗ trợ là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của Đạo luật khuếch trương Thương mại năm 1962 Và đến đầu những năm 70, khi các tiêu chuẩn trợ giúp được nới lỏng, rất nhiều người lao động

và các hãng có đủ điều kiện để được điều chỉnh trợ giúp Trong những năm

80, vào năm cao điểm của chương trình trợ giúp Với Đạo luật này, dưới sự bảo trợ của GATT, Mỹ đã có nhiều cuộc đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ vòng đàm phán Kennedy Đến năm 1967, sau 5 năm đàm phán, mức thuế trung bình đối với hàng công nghiệp được cắt giảm 35% so với mức 1962, và đến cuối năm 1972 khi Hiệp định được thực hiện đầy đủ mức thuế trung bình đối với hàng công nghiệp chỉ còn dưới 10% ở các nước công nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn hàng rào phi thuế quan đặc biệt trong nông nghiệp

Đạo luật cải cách Thương mại năm 1974 và vòng đàm phán Tokyo: là

đạo luật thay thế cho đạo luật năm 1962 Đạo luật 1974 cho phép Tổng thống: 1) đàm phán giảm biểu thuế tới 60% và bãi bỏ mức thuế khoảng 5% hoặc hơn, và 2) đàm phán giảm các hàng rào phi thuế quan trong thương mại Đạo luật này cũng tự do hoá các tiêu chuẩn đối với điều chỉnh hỗ trợ Với đạo luật này Mỹ tham gia vào các cuộc đàm phán thuế quan đa biên được gọi là Vòng đàm phán Tokyo 1973-1979 Các đàm phán giảm thuế

Trang 20

Các đạo luật thương mại năm 1984 - 1988, Đạo luật thương mại và Thuế quan Mỹ năm 1984 có ba điều khoản lớn: 1) Uỷ quyền cho Tổng thống tham gia đàm phán các Hiệp định quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và giảm các hàng rào thương mại trong các ngành dịch vụ, các sản phẩm công nghệ cao,và đầu tư trực tiếp; 2) Mở rộng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập,

ưu đãi cho các nước đang phát triển xuất khẩu vào Mỹ trong vòng 5 năm từ tháng 7 năm 1993, nhưng lại “có mức độ” hoặc bỏ ưu đãi đối với những nước

đã phát triển lên như Hàn Quốc hoặc Đài Loan chẳng hạn; 3)Cho phép Tổng thống đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Israel

Đạo luật Thương mại Tổng hợp và Cạnh tranh năm 1988 (có bao gồm

điều khoản "Super 301") có những qui định quan trọng như: 1) Cho phép Đại diện thương mại của Mỹ (USTR) qui định những món được ưu tiên được duy trì một số hàng rào thương mại nhất định 2) Nêu tiến trình rõ ràng về đàm phán để có thể loại bỏ dần các hàng rào trên 3) cho phép trả đũa bằng cách hạn chế nhập khẩu từ những nước mà đàm phán không đi đến kết quả nào

2 Vòng đàm phán Uruguay và chính sách của Hoa Kỳ

2.1 Đặc điểm và xu hướng của chính sách thương mại Hoa Kỳ

Vòng đàm phán thứ tám của GATT bắt đầu từ tháng 8 năm 1986 với những mục tiêu: 1) Cắt giảm các hàng rào phi thuế quan đối với thương mại 2) Các nước đang phát triển tham gia nhiều hơn vào đàm phán GATT 3) Mở

Trang 21

20

rộng phạm vi áp dụng GATT sang các lĩnh vực thương mại hàng dệt may, dịch vụ, nông sản, sở hữu trí tuệ, mà các vòng đàm phán trước chưa được thực hiện Để tránh những tổn hại trong thuơng mại quốc tế, các nước đã bỏ phiếu tán thành những nguyên tắc quan hệ mới như: mở của hơn nữa thị trường của các nước thành viên, tự do hoá thương mại nông sản phẩm, dịch

vụ, thực hiện thay đổi thuế suất trong thương mại hàng dệt (thuế suất trung bình đối với hàng dệt giảm từ 15,5% xuống 12,1%), chống bán phá giá, thực hiện quyền sở hữu trí tuệ Nguyên tắc cuối cùng, rất quan trọng đối với quan

hệ thương mại quốc tế đã được các nước thành viên nhất trí tán thành chuyển

Tổ choc Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan thành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bắt đầu hoạt động từ 1-1-1995, WTO lúc này gồm 125 thành viên, chiếm 90% kim ngạch buôn bán thế giới Kết quả của Vòng đàm phán Uruguay đang tác động mạnh mẽ vào quá trình tự dó hoá thương mại toàn cầu, WTO đã nổi lên vai trò lớn trong diễn đàn kinh tế Quốc tế, làm lu

mờ vai trò của UNCTAD trước đây vốn lớn mạnh hơn GATT rất nhiều

Mục tiêu và thể chế của chính sách

Mục tiêu của chính sách thương mại Mỹ là duy trì các cam kết đối với việc mở rộng và tự do hoá thương mại đa phương, cũng có nghĩa là thị trường thế giới phải được mở cửa, và với sức mạnh kinh tế của Mỹ, việc mở của thị trường trước hết là để cho hàng hoá Mỹ tràn vào Mỹ cũng tham gia ký kết các hiệp định khu vực và song phương; đồng thời, trong nhiều trường hợp,

Mỹ hành động đơn phương và gây áp lực đối với bạn hàng để thực hiện được mục tiêu của mình ở Mỹ, việc ban hành các đạo luật thương mại và thuế quan là thuộc quyền của Quốc hội, việc thực thi (hành pháp) thuộc quyền của Tổng thống và các cơ quan của Chính phủ giúp việc Tổng thống ở Mỹ,

có rất nhiều cơ quan có chức năng liên quan đến việc quản lý các chính sách thương mại như: Bộ nông nghiệp, Bộ Thương mại (ở Bộ này có các bộ phận rất quan trọng như vụ Thương mại Quốc tế - International Trade

Trang 22

21

Administration, Tổ chức Dịch vụ thương mại ở Mỹ và ở Nước ngoài-US and Foreign Commercial Services), Cục quản lý kinh doanh nhỏ, Ngân hàng xuất nhập khẩu , Hội tín dụng hàng hoá, Hiệp hội buôn bán với nước ngoài, các chương trình thương mại và phát triển Nhìn chung, việc hoạch định chính sách thương mại của Mỹ luôn gắn liền với quá trình ban hành các đạo luật thương mại và liên quan đến thương mại, liên quan đến các quan hệ thương mại quốc tế đa phương, song phương và các đàm phán thương mại quốc tế

đồng thời nó cũng liên quan chắt chẽ đến việc bảo đảm cho các ngành kinh

tế trong nước phát triển trong mối tương quan có lợi cho Mỹ

Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu chính sách thương mại Mỹ, cần phải hướng tới tìm hiểu những qui định về luật pháp (các đạo luật), các kết quả đàm phán thương mại và mối quan hệ giữa thương mại với các ngành sản xuất, dịch vụ của Mỹ

Từ khi bước vào vòng đàm phán Uruguay, khung thể chế và luật pháp hình thành chính sách thương mại Mỹ về cơ bản ít có những thay đổi lớn Tuy nhiên, một vài thay đổi quan trọng về luật lệ và chương trình thương mại hiện hành có ảnh hưởng đến việc hình thành chính sách và có thể gây tác

động lớn đến hệ thống thương mại đa phương

Quốc hội đã gia hạn thủ tục “fast track” thuộc Đạo luật Thương mại Tổng hợp và Cạnh tranh năm 1988 thêm 2 năm, tới 1/6/1993 Thiếu sự gia hạn này, việc hồi phục lại các cuộc thương thuyết của Vòng đàm phán Uruguay vào mùa xuân năm 1991 có thể phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng.”Fast track” cũng được áp dụng trong thương thuyết Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ và được mở rộng đối với chương trình ”cam kết vì sáng kiến Châu Mỹ” nhằm thúc đẩy các Hiệp định thương mại khác ở Châu Mỹ

Đạo luật Lương thực, Nông sản, Bảo quản và Thương mại năm 1990 (Đạo luật Nông nghiệp) đã được gia hạn và mở rộng phạm vi hỗ trợ nông nghiệp cũng như các chương trình trợ giúp xuất khẩu hiện tại trong 5 năm

Trang 23

22

Các điều khoản của nó được Đạo luật Điều hoà Ngân sách Tổng hợp năm

1990 (Ommibus Budget Reconciliation Act of 1990) trợ giúp, trong đó chưa

đựng ”điểm chốt” của Vòng đàm phán Uruguay, theo đó, nếu Hiệp định về nông nghiệp không được ký kết vào 30/6/1992, thì chính quyền Mỹ sẽ được yêu cầu tăng trợ cấp xuất khẩu lên 1tỷ USD/năm cho các năm tài chính 1994

và 1995, và phải đẩy mạnh hơn nữa các trợ giúp đối với sản phẩm nông nghiệp đặc biệt của Mỹ

Đạo luật điều hoà ngân sách tổng hợp năm 1990 cũng bao hành một

điều khoản thử nghiệm quan trọng với tên gọi “trả trước khi đi/pay as you go” Theo điều khoản thử nghiệm này, bất kỳ đề nghị uỷ thác nào làm mất lợi nhuận bởi một cơ quan Chính phủ, phải được bù đắp bằng cách giảm sự chi tiêu uỷ thác khác hoặc bằng cách tăng lợi nhuận, mặc dù điều khoản thử nghiệm này không áp dụng trong các chương trình giảm thuế của vòng đàm phán Uruguay với những thoả thuận đa phương, nhưng nó dược áp dụng trong các hiệp định của vòng đàm phán này về các biện pháp miễn giảm thuế, các hiệp định thương mại tự do, các chương trình ưu đãi thuế quan, cùng các điều luật khác Điều khoản thử nghiệm này có thể buộc Chính phủ phải ký các hiệp định thương mại quốc tế hoặc ban hành các biện pháp tự do hoá thương mại tự quản

Đạo luật bổ xung “Super” 301 về cạch tranh không lành mạnh, được thực hiện trong hai năm Đạo luật Thương mại tổng hợp và cạnh tranh năm

1988, đã hết hiệu lực vào năm 1990 Tuy nhiên, những mục bình thường của

301 về các hành vi thương mại của nước ngoài, cũng như thư mục “301 đặc biệt” về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và những điều khoản khác về mua sắm của Chính phủ, về thương mại bưu chính viễn thông vẫn được duy trì

Mục 337 của Đạo Luật Thuế quan năm 1930 về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn chưa được sửa đổi Mỹ đã tuyên bố sẽ sửa đổi nội dung của điều

337 một cách thích hợp nhất trong khuôn khổ luật pháp

Trang 24

23

Về căn bản phần 337 liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm trợ giúp các công ty là nạn nhân của những vi phạm về bản quyền do các đối thủ nước ngoài gây ra, và những hành động lẫn cách thức cạnh tranh không lành mạnh trong việc nhập khẩu hàng hoá Năm 1988, Đạo luật thương mại Mỹ đã định nghĩa lại thế nào là ngành công nghiệp Mỹ, điều đó cho phép những người giữ quyền sở hữu trí tuệ đủ tư các để đệ đơn kiện lên

Uỷ ban thương mại quốc tế đòi bồi thường Căn cứ vào 337, người ta cũng có quyền kiện về những vi phạm về chống độc quyền, lấy cắp bí mật kinh doanh, miêu tả sai nguồn sản xuất, Việc thực hiện phần 337 khá nghiêm khắc, nếu

vi phạm thì hàng hoá có thể bị loại bỏ khỏi thị trường Mỹ, hoặc có thể bị ngừng bán, bị phạt tiền nặng (có thể bằng 2 lần giá trị lô hàng được vào Mỹ) Năm 1989 GATT đã khuyến cáo rằng phần 337 vi phạm những nguyên tắc của GATT và đối xử không công bằng giữa những vi phạm của hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa

Các đạo luật thương mại này và những đạo luật khác có liên quan đều

được ban hành theo những nguyên tắc giải quyết cụ thể những đòi hỏi thực tiễn của các ngành sản xuát kinh doanh cụ thể theo hướng kinh tế mở và thị trường tự do hoá và Mỹ cũng là một nước có trình độ phát triển cao hơn so với một số nước khác

Chẳng hạn trong vòng đàm phán Uruguay, Mỹ đã tham gia đầy đủ vào tất cả các lĩnh vực đàm phán và trong khi chờ đợi kết quả cuối cùng của vòng

đàm phán, Mỹ đã tiến hành một số hoạt động đơn phương, như Đạo Luật về thuế quan và Thương Mại năm 1990, bao gồm những biện pháp miễn thuế tạm thời, gia hạn việc miễn thuế đới với một số mặt hàng hoá (như một số loại hoá chất) cho đến hết năm 1992

2.2 Một số đặc điểm

Đặc điểm chính sách thương mại Mỹ được thể hiện qua các biện pháp hoạt động thương mại với các nước khác (như các quy định về MFN, GSP),

Trang 25

24

các hiệp định thương mại ưu đãi, các hoạt động đơn phương và quy chế giải quyết tranh chấp

Quy chế tối huệ quốc (MFN)

Mỹ luôn sử dụng Quy chế Tối huệ quốc là quyền ưu đãi chung như

những công cụ chính sách thương mại trong quan hệ với các nước ràng buộc

họ phải có những cải cách thích hợp về kinh tế và thương mại

Trên thực tế, thuế quan có MFN và thuế quan không có MFN có sự khác biệt lớn, do đó việc khước từ cấp Quy chế MFN là một công cụ quan trọng khi việc đàm phán thương mại với nước khác gặp bế tắc, hoặc đối tác không có những bước tiến cụ thể

Nội dung cơ bản của “Mục 301” được quy định trong Đạo Luật Thương mại năm 1974 bao hàm toàn bộ những hoạt động của các ngành liên quan

đến hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ Chính phủ Mỹ theo dõi

và xử lý những vi phạm các cam kết với Mỹ của nước ngoài, được tiến hành

ở Mỹ, ở ngay chính bên nước ngoài, hoặc được tiến hành ở nước thứ ba Mục

đích của nó nhằm thi hành các quyền của Mỹ theo các thoả thuận thương mại đã được ký kết, đồng thời nhằm quy trách nhiệm cho các hoạt động thương mại của nước ngoài không theo cam kết

Phần này cho phép Đại diện Thương mại Mỹ thực hiện các hoạt động thích đáng, kể cả việc trả đũa, nhằm loại bỏ bất cứ một đạo luật, một chính sách hoặc bất cứ một hành động nào của Chính phủ nước ngoài bị xem là vi phạm thoả thuận thương mại quốc tế, không hợp pháp, không hợp lý, xâm phạm và có ảnh hưởng không tốt hoặc hạn chế thương mại của Mỹ

Chính phủ Mỹ cũng đã ban hành các đạo luật thực hiện phù hợp hơn các

điều khoản của GATT với ba nhóm công cụ như thuế “super fund”, phí với những người sử dụng dịch vụ hải quan và quota nhập khẩu đường

Đầu những năm 90, cũng đã có những thay đổi đáng kể các biện pháp tác động trực tiếp với xuất khẩu, bao gồm cả việc bãi bỏ những kiểm soát của

Trang 26

25

Chính phủ về hạn chế về xuất khẩu hàng liên quan đến COCOM, ngăn chặn luật hạn chế thương mại đã được ban hành (như luật dự thảo về thương mại hàng dệt, đồ trang sức, giầy dép)

Các hiệp định thương mại ưu đãi

Là một công cụ quan trọng của chính sách thương mại Mỹ Mỹ đã có các hiệp định thương mại song phương (với Canada, Israel) và đa phương (như NAFTA) Mỹ tích cực tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á- Thái Bình Dương (APEC) và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế của các nước Châu Mỹ nhằm đặt những cơ sở thuận lợi để tăng cường ảnh hưởng của mình trong những khu vực này

Đồng thời, Mỹ cũng thúc đẩy chương trình “Cam kết và sáng kiến Châu Mỹ” (EAI) với những mục tiêu dài hạn, bao gồm cả các hiệp định tự do hoá thương mại khu vực Bắc, Trung và Nam Mỹ

Mức gia tăng các thoả thuận ưu đãi sẽ làm giảm dần tầm quan trọng thương mại dựa vào MFN của Mỹ Năm 1989 hàng nhập khẩu được hưởng quy chế MFN, ngoại trừ các bạn hàng thuộc Hiệp định về hàng dệt may (FTAs) và thuộc GSP, chiếm khoảng 63% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Mỹ, nhưng trên thực tế, tỷ lệ hàng nhập khẩu được hưởng quy chế MFN lại lớn hơn, nên kế hoạch GSP của Mỹ chỉ chiếm khoảng 1/2 tổng doanh mục thuế quan Những ưu đãi quan thuế tăng thêm đối với Mehico và các nước Mỹ Latinh khác sẽ mở rộng phạm vi ưu đãi thuế tự do

Việc huỷ bỏ toàn bộ thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do với Canada và Israel đã được thực hiện, và chắc chắn các hàng rào thuế quan,

đặc biệt trong nông nghiệp , vẫn được duy trì Theo kế hoạch GSP và chương trình ưu đãi dành cho các nước Caribean, cũng như theo mục đích của chương trình ưu đãi cho các nước ASEAN, những sản phẩm nhập khẩu như hàng dệt và quần áo, giầy dép chắc chắn bị loại trừ Kết quả NAFTA cũng có thể chuyển hướng thương mại của các nước này và các nước khác ở Trung và

Trang 27

26

Nam Mỹ trên cơ sở kinh nghiệm mở rộng các điều kiện thương mại đã được

mở rộng với Mêhicô và cuộc họp thượng đỉnh ở khu vực

Sự tồn tại FTAs và những thoả thuận ưu đãi khác rõ ràng đã tạo ra một loạt các biện pháp thuế quan và phi thuế quan phức tạp Ví dụ, các thoả thuận này mang lại những tỷ lệ và cách đối đãi khác nhau về phương diện nguồn gốc, phí hải quan, những hạn chế chất lượng, thủ tục hành chính, các biện pháp bảo vệ và các thủ tục giải quyết tranh chấp, ngoại trừ những điều trái với hiệp định, các thể lệ

Hoạt động đơn phương và tranh chấp thương mại

Hoạt động đơn phương của Mỹ trong thương mại quốc tế là một trong những vấn đề gây tranh cãi đặc biệt, cả ở Mỹ cũng như trên các diễn đàn thương mạị quốc tế, nhất là việc cắt MFN và GSP và cả việc thực hiện điều khoản “Mục 301” (Section 301) Điều này chứng tỏ GATT trước đây không muốn có sự giải thích đơn phương về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên ký kết hiệp định Tuy nhiên, kết quả vẫn không ngã ngũ, Mỹ vẫn sử dụng biện pháp của “Mục 301” nhiều hơn (mặc dù hiệu quả không phải lúc nào cũng như ý muốn, và không phải lúc nào cũng thực hiện được) Có thể nêu tình hình chung như sau: Từ khi có điều khoản này cho đến giữa 1995, Mỹ đã dùng nó để chì trích các bạn hàng "Không công bằng” trong buôn bán với

Mỹ trên 90 lần, trong số đó rất nhiều lần Mỹ doạ trừng phạt (có ba lần đối với Nhật bản về mặt hàng da, giầy dép và bán dẫn) Trên thực tế khi Mỹ đe doạ trừng phạt, một số nước đã phải nhượng bộ (ngay cả Nhật bản), một số nước khác không chịu nhượng bộ nên đã phải đưa ra Hội đồng Hoà giải của GATT để giải quyết

Biện pháp cưỡng chế này có thể không đủ để xua tan những mối quan ngại về tác động của “Mục 301” và các điều luật có liên quan tới nó Các bên

ký kết đang tìm kiếm một lời cam kết rõ ràng của Mỹ không sử dụng áp lực của “Mục 301” khi quá trình giải quyết tranh chấp của GATT đi tới đoạn

Trang 28

27

cuối Tuy vậy, Mỹ đã không giữ lời hứa Hơn thế nữa, Chính phủ Mỹ còn có

ý định tiếp tục sử dụng “Mục 301” để gây áp lực trong các cuộc thương thuyết song phương và cả khi WTO đã hoạt động Những ví dụ điển hình có thể thấy là: năm 1993, Mỹ đã căn cứ theo điều khoản về mua sắm của Chính phủ Mỹ để trừng phạt các hợp đồng mua hàng cuả các Chính phủ EU Hai bên

đã vướng vào tranh chấp không lối thoát và đã đi đến trừng phạt lẫn nhau Năm 1995, Mỹ căn cứ vào Điều khoản 301 để công bố danh mục trừng phạt Trung quốc vì những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Trung Quốc, giá trị lên tới 2,8 tỷ USD Trung Quốc đã chống lại bằng cách ngừng các cuộc đàm phán về liên doanh với Mỹ Thế nhưng cuối cùng Trung Quốc đã phải đáp ứng một số yêu cầu của Mỹ, hai bên đã đi đến thoả thuận và sự trừng phạt đã không xảy ra

IV Những tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Hoa

Kỳ trong chính sách kinh tế thương mại

Giữa một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường như Việt Nam với một nền kinh tế thị trường phát triển vào loại bậc nhất thế giới như Hoa Kỳ thì sự khác biệt về tính chất, quy mô, trình độ phát triển và phạm vi ảnh hưởng của chúng trong nền kinh tế toàn cầu là điều hiển nhiên Tuy vậy, trong điều kiện sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế

đang trở thành đặc trưng của sự phát triển thế giới, xu hướng tự do hóa về thương mại đầu tư đang trở thành định hướng chủ đạo cho mọi nền kinh tế quốc gia thì các nền kinh tế đều mang trong mình tính đồng nhất của quá trình hội nhập Trên nền tảng của những thể chế, tiêu chí đồng nhất, việc tiếp cận, xâm nhập và bổ sung cho nhau thông qua các hiệp định song phương và

đa phương là một xu thế tất yêu không gì cưỡng nổi Do đó, tìm ra tính đồng nhất và khác biệt trong chính sách kinh tế thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ

là điều hết sức cần thiết để hai nước có thể xác lập, điều chỉnh và rút ngắn

Trang 29

Đây là vấn đề dễ thấy, song lại là vấn đề hết sức quan trọng trong việc tạo lập các quan hệ hợp tác đích thực Bởi vì các quan hệ kinh tế quốc tế đều

được quy định bởi mô thức phát triển, tính chất và trình độ của sức sản xuất, vai trò và vị thế của chúng trong nền kinh tế thế giới Chính sách kinh tế thương mại của Hoa Kỳ, dù hướng vào nhu cầu trong nước hay hướng mạnh vào các thị trường xuất khẩu đều mang đặc tính chi phối thế giới và các xu hướng phát triển quốc tế Điều này được quy định bởi đặc điểm và tiềm lực

của nền kinh tế Hoa Kỳ Thứ nhất, Hoa Kỳ là một nền kinh tế hùng hậu và

hiệu quả nhất Năm 2009, GDP là khoảng 14.463,4 tỷ USD, với khoảng 300 triệu dân, Hoa Kỳ là một thị trường có sức mua rất lớn Nếu sức tiêu dùng của người châu Âu và Nhật Bản là 1 thì sức mua của người dân Mỹ là 1,7 Hiện tại, xuất nhập khẩu của Mỹ đạt 1400 tỷ USD, chiếm khoảng 14% tổng

chu chuyển thương mại thế giới Thứ hai, Hoa Kỳ là một quốc gia chi phối

hầu hết các tổ chức kinh tế quốc tế như GATT, WTO, WB, IMF bởi Mỹ có tiềm lực tài chính, đóng góp nhiều và theo đó quyền phủ quyết áp đảo để trở

thành thói quen điều khiển thế giới của Hoa Kỳ Thứ ba, đồng USD có vai

trò thống trị thế giới Với 24 nước gắn trực tiếp các đồng tiền của họ vào

đồng USD, 55 nước "neo giá" vào đồng USD để thị trường tự do ấn định tỷ

Trang 30

29

giá, các nước còn lại, ở nhiều mức độ khác nhau, vẫn sử dụng các hệ thống dựa vào chỉ tiêu biến động của đồng USD để tính toán giá trị đồng tiền của mình và đặc biệt, với một thị trường chứng khoán chi phối hàng năm khoảng 10.000 tỷ USD (trong khi đó các thị trường chứng khoán Nhật chỉ vào khoảng 4800 tỷ USD, thị trường EU khoảng 7000 tỷ USD) mọi sự biến

động của đồng USD và hệ thống tài chính Mỹ đều có ảnh hưởng đáng kể đến

sự biến động của nền tài chính quốc tế

Với một nền kinh tế như vậy nên trong các tính toán chiến lược nói chung, các chính sách kinh tế - thương mại nói riêng, Hoa Kỳ luôn tận dụng

vị thế và ảnh hưởng của mình để đưa ra những tính toán có lợi cho Hoa Kỳ

So với nền kinh tế Hoa Kỳ, nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm rất thấp, mãi đến thập kỷ cuối của thế kỳ XX mới chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường sự hợp tác kinh tế giữa "một nền kinh

tế khổng lồ" và "một nền kinh tế tín hon" sẽ rất khó khăn, thường là rất không bình đẳng và trong ngày một ngày hai, nền kinh tế Việt Nam sẽ không thể thích nghi được ngay với các "luật chơi" hiện tại của nền kinh tế Hoa Kỳ

và các tổ choc quốc tế mà phần lớn "luật chơi" của các tổ chức này đều được mô phỏng hoặc chịu sự dẫn dắt của Mỹ Những khó khăn của một nền kinh

tế chuyển đổi trong việc tạo lập thị trường, tạo lập hệ thống ngân hàng đủ mạnh, xây dựng hạ tầng cơ sở thuận lợi cho các hoạt động đầu tư, thương mại, thực hiện sự cải cách kinh tế theo các thể chế quốc tế là đương nhiên Song điều quan trọng hơn cả là phải thấy được, ý thức được những khó khăn

to lớn từ những sự khác biệt này Không thể nói nền kinh tế Việt Nam với những nền tảng hiện nay là quan trọng đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, kể cả vấn

đề tài nguyên khi mà các tài nguyên chủ lực như vàng, than, sắt, dầu mỏ của Hoa Kỳ đều có trữ lượng vào loại nhất, nhì thế giới Theo chúng tôi, cái

đáng nhấn mạnh nhất trong sự khác biệt này giữa hai nền kinh tế chính là vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế của Việt Nam - một vấn đề có ý nghĩa to lớn

Trang 31

30

đối với sự tái hoạch định chiến lược kinh tế Châu á - Thái bình Dương của Hoa Kỳ Chính việc Hoa Kỳ nối lại các quan hệ kinh tế với Việt Nam là nhằm để tăng cường sự ảnh hưởng của họ ở Đông Nam á về mọi phương diện Hoa Kỳ muốn tạo dựng lại hình ảnh mới của mình ở khu vực này sau thời kỳ chiến tranh lạnh bằng việc thể hiện vai trò dẫn dắt của nền kinh tế Hoa Kỳ trong APEC, bằng việc tạo lập các địa bàn đầu tư mới ở khu vực

Đông, Đông Nam á và Nam á hiện là những thị trường đầu tư - thương mại hấp dẫn, tỷ suất lợi nhuận cao mà Nhật Bản, theo đó, đang chuyển dần những khoản đầu tư của mình ra khỏi các địa bàn đầu tư châu Âu, Bắc Mỹ để trở về

Do vậy, mặc dù Hoa Kỳ chưa đánh giá hết các lợi thế của một nền kinh tế nhỏ bé như Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam đã trở thành là một nhân tố "đáng kể" để Hoa Kỳ phải tính đến trong chiến lược kinh tế Châu á - Thái Bình Dương của họ Điều này cũng đặt ra cho phía Việt Nam là trong phương hướng phát triển các quan hệ với Hoa Kỳ, quan niệm về lợi ích phải được đặt trong một cách nhìn dài hạn, rộng lớn của sự hội nhập từng bước của nền kinh tế Việt Nam vào các nền kinh tế khu vực và thế giới Càng hội nhập thực sự vào khu vực, Việt Nam càng trở nên sáng giá

và có nhiều ưu thế trong tiến trình thực hiện sự hợp tác đầy đủ của Hoa Kỳ với Việt Nam

1.2 Sự khác biệt giữa các chính sách của một nền kinh tế giữ vai trò chủ đạo và dẫn dắt xu thế tự do hóa về thương mại và đầu tư quốc tế với một nền kinh tế đang bắt đầu tiếp cận với xu thế này

Tự do hóa về thương mại và đầu tư đang trở thành một đặc trưng của sự phát triển thế giới Mầm mống của nó được phôi sinh từ những ý tưởng đầu tiên của việc thiết lập tổ chức buôn bán quốc tế (ITO) không thành công sự

ra đời của GATT Cùng với sự phát triển của nền sản xuất quốc tế hóa, các quan hệ thương mại và đầu tư phát triển rộng lớn đã tạo dựng nền tảng cho sự

Trang 32

31

ra đời của GATT Cùng với sự phát triển của nền sản xuất quốc tế hóa, các quan hệ thương mại và đầu tư phát triển rộng lớn đã tạo dựng nền tảng cho sự

ra đời của các tổ chức mậu dịch tự do khu vực và thế giới Sau sự ra đời của

EU là sự xuất hiện của NAFTA và AFTA Kể từ 1-1-1995, WTO ra đời với tư cách là một hiệp định thương mại - dịch vụ đa biên nhằm thay thế GATT Trong các sự kiện này, Hoa Kỳ luôn luôn là nền kinh tế có vai trò chủ đạo hoặc chí ít là có ảnh hưởng đáng kể đối với sự vận hành của chúng Cụ thể là cùng với Canada và Mêxicô, Hoa Kỳ giữ vai trò chủ chốt (nếu không nói là quyết định nhất) của NAFTA Hoa Kỳ giữ vai trò dẫn dắt trong APEC và WTO Ngay cả đối với ASEAN và AFTA, Hoa Kỳ không là thành viên song lại là một bên đối thoại quan trọng nhất của tổ chức này Bởi lẽ trừ Brunei và Việt Nam, hiện Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của các thành viên ASEAN

Trong khi Mỹ có vai trò to lớn đối với các tổ chức thương mại tự do của các khu vực và thế giới thì Việt Nam, kể từ 28-7-1995, lần đầu tiên trở thành thành viên chính thức của ASEAN và do đó, của AFTA Là thành viên mới,

đi sau với các tiêu chí phát triển chưa có sự đồng nhất với các thành viên khác, Việt Nam đang vấp phải nhiều trở ngại lớn trong việc chuyển đổi nền kinh tế của mình theo các thể chế quốc tế Ví dụ, các thủ tục, luật lệ, quy

định của Việt Nam chưa phù hợp với những thông lệ và thể chế quốc tế Việt Nam chưa có hệ thống thuế, hệ thống hải quan, hệ thống phi quan thuế phù hợp với các yêu cầu của AFTA Chẳng hạn, trong khi hệ thống điều hòa thuế quan của Việt Nam là HS6, quy định chung của ASEAN lại là HS8, các hàng rào phi quan thuế của Việt Nam là hạn ngạch, giấy phép xuất - nhập khẩu mà chưa có các hàng rào thuế quan về tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm Đồng tiền Việt Nam chưa phải là đồng tiền có khả năng chuyển đổi, chưa tham gia vào thị trường tiền tệ quốc tế cũng là một trở ngại lớn cho các hoạt động thương mại và đầu tư Ngay việc Việt Nam chậm kết thúc lịch trình thực hiện

Trang 33

đặc điểm phát triển của khu vực ASEAN Việt Nam tham gia có hiệu quả vào AFTA sẽ có điều kiện để gia nhập vào hoạt động tốt trong WTO Tuy vậy, về một phương diện khác, các quốc gia dẫn dắt WTO như Hoa Kỳ sẽ đòi hỏi khắt khe hơn đối với Việt Nam khi việc dẫn các nguyên tắc quốc tế này vào

đàm phán với Việt Nam về các hiệp định kinh tế - thương mại Điều này gắn liền với việc xác lập một cơ chế chính sách thương mại mở và một nền kinh

tế thị trường đích thực mà không riêng gì Hoa Kỳ, bất kỳ một quốc gia nào khi quan hệ với Việt Nam đều phải tính đến Hơn nữa, Hoa Kỳ bằng vai trò của mình, có thể phủ quyết bất kỳ một nền kinh tế nào muốn gia nhập WTO

Trang 34

Sự thật là Hoa Kỳ đã đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng quy chế của GATT

và WTO với 5 nguyên tắc cơ bản: 1 Không phân biệt đối xử với mọi tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài, thể hiện trong điều khoản về tối huệ quốc, nghĩa là hàng hóa nước ngoài nhập khẩu được đối xử bình đẳng như đối với hàng hóa trong nước; 2 Việt Nam phải gỡ bỏ mọi vướng mắc và 20 năm sau phải dỡ bỏ hết các hàng rào thuế quan và phi quan thuế Vẫn có thể bảo hộ sản xuất trong nước nhưng phải bằng thuế nhập khẩu, không được dùng hạn ngạch và không tăng thuế để cho mức thuế chung sau 20 năm chỉ còn 0-5%;

3 Thực hiện cạnh tranh công bằng trên thị trường trong nước và thế gới, giữa công ty tư nhân và công ty nhà nước, cạnh tranh bằng chất lượng, không

được áp dụng bất kỳ hình thức ưu tiên, ưu đãi nào; 4 Xác lập và áp dụng quyền được tự bảo vệ trong xuất nhập khẩu Nếu hàng nước ngoài nhập vào gây lộn xộn thị trường trong nước, gây ảnh hưởng đến sản xuất thì nhà nước

có quyền chặn lại (ví dụ áp dụng luật chống bán phá giá) nhưng phải báo cho bên kia biết; 5 Chính sách và luật thuế phải rõ ràng, công khai khi ban hành phải thông báo rộng rãi

Đây là những nguyên tắc mà Việt Nam đều thấy cần thiết để chuyển đổi nền kinh tế của mình Song là nước nghèo, nếu không duy trì phân biệt đối

xử, không bảo hộ sản xuất bằng tăng thuế, không có sự ưu đãi các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện có thể duy trì được sự phát triển kinh tế ổn

định của mình? Chúng tôi coi đây là một vấn đề nan giải mà hai cách tiếp cận của hai nền kinh tế tất yếu gặp nhau Một cách tiếp cận từ phía Hoa Kỳ

Trang 35

34

thuộc về xu thế phát triển chung của thế giới và cách tiếp cận của Việt Nam thuộc về việc bảo vệ những lợi ích trước mắt để có thể từng bước (chứ không thể ngay lập tức) hội nhập vào xu thế chung Liệu có phải phía Hoa Kỳ đã

đặt ra cho Việt Nam những đòi hỏi, những tiêu chuẩn quá cao trên cơ sở WTO mà không chịu tính đến thực tiễn và đặc điểm phát triển, hệ thống pháp luật của một nền kinh tế đang sang thời kỳ chuyển đổi?

Chính sách kinh tế thương mại giữa 2 nước sẽ luôn luôn bị chi phối bởi những sự khác biệt này Đây sẽ là một trở ngại rất đáng kể trong quan hệ kinh tế Hoa Kỳ và Việt Nam, kể cả sau khi hai nước đã có hiệp định thương mại song phương

1.3 Sự khác biệt về các quan điểm chính trị trong nhìn nhận quá khứ, mặc dù đã được giải tỏa về cơ bản, vẫn còn ảnh hưởng đáng kể đến tiến trình bình thường hóa kinh tế giữa hai nước

Trong điều kiện ngày nay, chính trị và kinh tế là những nội dung không thể tách biệt Vì một sự bất đồng nhỏ về chính trị, các quan hệ kinh tế có thể

đổ vỡ và ngược lại, từ nhiều những hiện tượng xung đột kinh tế, các quan hệ chính trị có thể biến dạng xấu đi, mặc dù những tranh chấp quốc tế hiện đã

có các cơ chế giải quyết một cách hòa bình, công khai và thỏa đáng Nhìn chung, người ta thường viện dẫn các vấn đề chính trị bất đồng, được ngụy trang dưới những "lý do kỹ thuật" để công khai thực hiện các cuộc trừng phạt

về kinh tế Do đó, tưởng như là những vấn đề ít liên quan, sự khác biệt về quan điểm chính trị rất cần phải được nêu ra để có phương thức ứng xử trước khi giải quyết các vấn đề về kinh tế

Trong quan hệ với Hoa Kỳ, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã đề xướng phương châm "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai" Đây không còn là một mong muốn mà là một đánh giá đúng đắn về mối quan hệ giữa hai nước trong bối cảnh mới Cùng với việc điều chỉnh các quan hệ cũ là việc xây dựng những hình ảnh mới đối nhau Đại sứ Mỹ tại Việt Nam D.Peterson đã

Trang 36

động của nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường Hai bên đã đạt được thỏa thuận về giải quyết khoản nợ cũ 145 triệu USD của chính quyền Sài Gòn Điều này chứng tỏ sự nỗ lực và thiện chí của phía Việt Nam Các hiệp

định về quyền tác giả được ký, vòng 3 về Hiệp định thương mại đã đàm phán xong ở chừng mực nhất định, chứng tỏ sự xích lại gần nhau giữa hai nước Tuy vậy, điều không thể phủ nhận là việc ký kết Hiệp định thương mại và do

đó việc trao cho Việt Nam Quy chế Tối huệ quốc, vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Theo bà Nancy Linn Patton, phó trợ lý Bộ trưởng Thương mại Mỹ thì người ta có thể cảm nhận những khó khăn trong đàm phán bình thường hóa quan hệ kinh tế không nằm trong những vấn đề kỹ thuật hay chuyên môn mà

là ở những chủ trương chiến lược cao hơn Dĩ nhiên là có vấn đề chủ trương chiến lược (ở các điểm trên chúng tôi đã đề cập) song ở đây chúng tôi cho rằng còn có những lý do khác bắt nguồn từ những quan niệm cũ về một nước Việt Nam mới Những người hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn bị chi phối bởi một số áp lực nhất định từ một bộ phận dư luận bị ám ảnh của quá khứ Một bộ phận dân cư Hoa Kỳ vẫn chưa coi Việt Nam là một đất nước mà vẫn nghĩ tới Việt Nam như một cuộc chiến tranh - một phần lịch sử của Hoa Kỳ Họ vẫn bị ám ảnh bởi vấn đề quân nhân Mỹ mất tích, tù binh

Trang 37

36

chiến tranh, người tị nạn Chính vì vậy việc đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ mất khá nhiều thời gian bởi lẽ họ vẫn cố tình gắn các vấn đề chính trị thậm chí cả các vấn đề nhân đạo như POW/MIA vào quá trình thương lượng Dù cho Hoa Kỳ nói rằng họ đang nhìn Việt Nam ở mặt tốt nhất, thì những lý do về việc họ chưa xóa bỏ điều luật bổ sung Jackson - Vanik sẽ khó biện minh cho việc họ chưa làm hết sức mình để xóa bỏ một cản trở lớn nhất trong con đường bình thườn hóa quan hệ kinh tế với Việt Nam Điều luật này

ra đời năm 1974 bổ sung cho phần IV Luật thương mại Mỹ nhằm ngăn cấm việc giành cho các nước XHCN Quy chế Tối huệ quốc (MFN) trong thương mại và không cho phép các quốc gia này tham gia vào các chương trình của Chính phủ Mỹ, trong đó bao gồm cả hoạt động cung cấp tín dụng, bảo đảm tín dụng và đảm bảo đầu tư dưới hình thức trực tiếp và gián tiếp Hoa Kỳ đã tuyên bố miễn áp dụng điều luật này đối với 20 nước thuộc Liên xô, đông

âu cũ, Trung Quốc, Mông Cổ Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục áp dụng

điều luật này với Việt Nam vì cho rằng Việt Nam chưa đảm bảo vấn đề tự do

di cư Đây là lý do thứ yếu bởi lẽ sau khi Việt Nam đã ký kết thỏa thuận về vấn đề tự do di cư, điều luật Jackson - Vanik vẫn chưa được xóa bỏ cho Việt Nam Điều đó cũng có nghĩa là các công ty Mỹ vẫn không được thụ hưởng các hoạt động tài trợ của OPIC, EXIMBANK, TDA khi tiến hành làm ăn ở Việt Nam Nếu không giải tỏa được điều luật Jackson - Vanik, việc mở

đường cho quá trình ký kết hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và giành cho nhau tối huệ quốc sẽ còn rơi vào bế tắc

Nêu lên 3 sự khác biệt cơ bản trên, chúng tôi muốn rút ra một kết luận: cần hiểu đúng vai trò của nền kinh tế Việt Nam trong chiến lược kinh tế quốc

tế của Mỹ và Việt Nam cần phải có những chính sách mềm dẻo, linh hoạt vừa phù hợp với nguyên tắc quốc tế, vừa phù hợp với hoàn cảnh thực tế của mình để có những bước đi thích hợp với tiến trình hội nhập của nền kinh tế

Trang 38

37

Việt Nam vào các nền kinh tế khu vực và thế giới Cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ cần nhìn nhận đúng hơn về hiện tại, gạt bỏ quá khứ và hướng tới tương lai bằng việc ký kết Hiệp định thương mại

2 Những tương đồng trong chính sách kinh tế thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ

2.1 Hoa Kỳ và Việt Nam có chung mục tiêu với một nền tảng cơ bản là lấy thúc đẩy kinh tế - thương mại làm chính, tạo dựng cơ hội tham gia thị trường của nhau trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi

Hoa Kỳ, trong sự điều chỉnh các chiến lược kinh tế đối ngoại của mình, luôn đứng trước ba vấn đề cần giải quyết: 1 Với tư cách là nền kinh tế lớn nhất thế giới, Hoa Kỳ tiếp tục đeo đuổi những chính sách có vai trò quyết

định đối với những điều kiện kinh tế hiện nay, nghĩa là tiếp tục con đường kỷ luật về tài chính, cân bằng ngân sách, duy trì lãi suất thấp và duy trì sự phục hồi về kinh tế; 2 Phải tiếp tục các chính sách nhằm mang lại cho Hoa Kỳ những công cụ để tận dụng tiềm năng của nền kinh tế toàn cầu và 3 Duy trì vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ đối với các vấn đề trong nền kinh tế toàn cầu Nói cách khác, sự dính líu ở nước ngoài là nằm trong lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ Những tuyên bố này của Bộ trưởng tài chính Rubin phát biểu trước ban giám đốc thị trường chứng khoán New York và các Uỷ ban cố vấn châu

Âu, Châu á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đã nêu lên những mục tiêu căn bản trong việc xác lập chính sách kinh tế thương mại của Hoa Kỳ Phát triển quan hệ kinh tế với Việt Nam, do đó là một mắt khâu trong sự điều chỉnh chiến lược Châu á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ khi mà hiện tại Việt Nam với việc gia nhập AFTA và tiến tới APEC đang là nhân tố có vai trò ảnh hưởng nhất định ở khu vực Ngoài ý nghĩa tận dụng các tiềm năng của thị trường Việt Nam về thương mại, đầu tư Hoa Kỳ chắc chắn không muốn sự thiếu vắng "vai trò lãnh đạo của họ" ở một đất nước có vị trí an ninh chiến

Trang 39

38

lược và sau hàng chục năm bằng quân sự họ không thể nắm được Thông qua việc nhìn nhận Việt Nam là một đất nước đang thực sự hướng nhanh tới nền kinh tế thị trường, Hoa Kỳ không còn con đường nào khác là nỗ lực về mọi mặt để nhanh chóng xác lập sự có mặt của họ về bảo vệ quyền tác giả - điều kiện bắt buộc trước khi ký kết hiệp định thương mại - đã được ký kết vào ngày 16/4/1997, nhanh hơn các dự kiến Theo logic này, điều luật bổ sung Jackson Vanik chắc chắn sẽ được miễn áp dụng sớm đối với Việt Nam Đã

đến lúc, Hoa Kỳ cũng rất mong muốn có được Hiệp định thương mại với Việt Nam cho dù họ đang cố vớt vát bằng những đòi hỏi cao về các quy chế thương mại với mục đích họ là kẻ được lợi hơn, ngay từ đầu, trong quan hệ với Việt Nam so với các nước khác

Những chuyển động về chính sách của Hoa Kỳ với Việt Nam đang rất trùng hợp với định hướng mở cửa, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam Trong sự ưu tiên chiến lược, Việt Nam muốn đẩy mạnh các quan hệ kinh tế với các nước ASEAN và các nước trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương Hoa Kỳ thuộc quốc gia dẫn dắt APEC và do đó phát triển quan hệ với Việt Nam là vấn đề thuộc nội hàm của chiến lược kinh tế Châu á - Thái Bình Dương của họ

Về phần mình, Việt Nam rất mong muốn được bình thường hóa các quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ Thị trường Hoa Kỳ to lớn, công nghệ hiện đại, tri thức quản lý tiên tiến là những yếu tố thúc đẩy tăng trưởng của nhiều quốc gia trên thế giới Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia nào nhận

được MFN của Hoa Kỳ, họ sẽ có điều kiện nhanh chóng thực hiện thành công tiến trình công nghiệp hóa

Thị trường Việt Nam và thị trường Hoa Kỳ đều là mới đối với cả hai bên Nền kinh tế Việt Nam thành công nằm trong sự quan tâm của Hoa Kỳ bởi họ sẽ có được một thị trường mới để tăng cường buôn bán và đầu tư, một

Trang 40

39

thị trường để qua đó họ tăng cường hơn sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với cả khu vực APEC Cũng như vậy, với việc Mỹ cởi bỏ các trở ngại và ký kết Hiệp định thương mại, trao cho Việt Nam Quy chế Tối huệ quốc, Việt Nam

sẽ có được một thị trường xuất khẩu mới, một thị trường công nghệ và quản

lý có ý nghĩa đặc biệt đối với việc thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa của Việt Nam Tất nhiên, cũng không nên có ảo tưởng cho rằng, có quan hệ thương mại với Mỹ, có Quy chế Tối huệ quốc, nền kinh tế Việt Nam mới cất cánh được Nội lực và định hướng phát triển đúng bao giờ cũng là yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển của một nền kinh tế quốc gia

2.2 Đều là những nền kinh tế thị trường ở những trình độ khác nhau, Việt Nam và Hoa Kỳ có thể bổ sung cho nhau mà không làm phương hại đến các lợi ích của nhau

Những phân tích trên đã phần nào làm sáng tỏ nhận định này ở đây chúng tôi muốn khẳng định thêm là một trong những đòi hỏi của Hoa Kỳ là Việt Nam phải có một nền kinh tế thị trường đích thực thì hiện tại Việt Nam không những đã có mà đang đóng góp có hiệu quả vào các tiến trình hợp tác quốc tế Nhìn vào nhịp độ đầu tư và buôn bán của thế giới với Việt Nam (trong đó có cả Hoa Kỳ), người ta thấy Việt Nam đã chuyển đổi nền kinh tế của mình rất nhanh sang kinh tế thị trường, tạo ra một môi trường đầu tư và thương mại thông thoáng, hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài Theo đó, mức độ rủi ro, mạo hiểm theo mô thức hướng nội của cơ chế cũ đã

bị đẩy lùi Việt Nam đang từng bước tuân thủ theo các quy chế quốc tế về tài chính, tiền tệ, di chuyển lao động, chuyển giao công nghệ, vấn đề quyền sở hữu trí tuệ Đây là những vấn đề chỉ có thể điều chỉnh từng bước để không vượt quá các khả năng hiện thực của Việt Nam Những cải cách này sẽ có tác dụng làm yên lòng các nhà đầu tư và thương mại nước ngoài đồng thời góp

phần xác lập một cơ chế thị trường hoàn hảo hơn cho nền kinh tế Việt Nam

Ngày đăng: 30/07/2015, 19:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Trị giá xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ giai đoạn 2000 - 2007 - Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ
Bảng 1 Trị giá xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ giai đoạn 2000 - 2007 (Trang 131)
Bảng 2: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ của một số mặt hàng chính - Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ
Bảng 2 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ của một số mặt hàng chính (Trang 132)
Bảng 3: Trị giá nhập khẩu hàng hoá của Mỹ giai đoạn 2001 - 2007 - Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ
Bảng 3 Trị giá nhập khẩu hàng hoá của Mỹ giai đoạn 2001 - 2007 (Trang 134)
Bảng 4 : Dự báo xuất, nhập khẩu của Việt Nam - Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ
Bảng 4 Dự báo xuất, nhập khẩu của Việt Nam (Trang 146)
Bảng 3: Đầu tư FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam giai đoạn 2001 - 2008 - Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ
Bảng 3 Đầu tư FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam giai đoạn 2001 - 2008 (Trang 185)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w