1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình kinh tế xã hội inđônêxia từ 1997 đến 2007

118 511 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Kinh Tế - Xã Hội Inđônêxia Từ 1997 Đến 2007
Tác giả Lê Thị Thủy Hà
Người hướng dẫn PGS. Phan Văn Ban
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Lịch Sử
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 725 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tr-Từ năm 1998 đến nay, đã có hàng loạt tin bài đăng trên Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam về chủ đề khủng hoảng tài chính -tiền tệ và sự phục hồi kinh tế - xã hội

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

Trong thời gian thực hiện đề tài này cũng

nh trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại Trờng Đại học Vinh, chúng tôi đã nhận đợc

sự quan tâm, dạy bảo ân cần của PGS Phan Văn Ban cùng các thầy cô giáo Khoa Lịch sử và Khoa Sau Đại học Nhân dịp này, chúng tôi xin đ-

Trang 2

ợc gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả quý thầy cô, đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy Phan Văn Ban, ngời đã luôn chỉ bảo tận tình chúng tôi trong việc thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học của mình.

Xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan khoa học, giáo dục tại Nghệ An và Hà Nội đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình su tầm t liệu để tiến hành nghiên cứu đề tài này.

Cuối cùng xin đợc cảm ơn gia đình, bạn bè, những ngời luôn quan tâm, động viên và mong chúng tôi trởng thành.

Tự đáy lòng mình, chúng tôi luôn tự nhủ

sẽ phải cố gắng nỗ lực, phấn đấu nhiều hơn nữa

để xứng đáng với sự quan tâm, dạy bảo và giúp

5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 9

Trang 3

7 Bè côc cña luËn v¨n 10

sau khñng ho¶ng tµi chÝnh - tiÒn tÖ ( 1997 - 2007)38

2.1 Nh÷ng biÖn ph¸p kh¾c phôc khñng ho¶ng vµ

Trang 4

của kinh tế - x hội Inđônêxia trong tình hình ã

3.3 Bài học đối với tình hình kinh tế - xã hội

đa sắc tộc, đa tôn giáo; về diện tích lãnh thổ, Inđônêxia là nớc có diện tích lớnnhất khu vực Đông Nam á, lại có vị trí chiến lợc quan trọng, án ngữ con đờnghàng hải quốc tế giữa ấn Độ Dơng và Thái Bình Dơng, là quốc gia có nguồn

Trang 5

tài nguyên khoáng sản rất giàu có - do đó, vấn đề phát triển kinh tế và ổn địnhcủa xã hội luôn là điều kiện tiên quyết trong chiến lợc phát triển của đất nớcnày.

Inđônêxia là nớc có vị thế quan trọng không những trong khu vực màtrên trờng quốc tế Vì thế, mỗi sự thành công hoặc thất bại của kinh tế - xã hộiInđônêxia luôn có sự tác động mạnh mẽ đến môi trờng của khu vực và quốctế

1.2 Nh chúng ta đã biết, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á

nổ ra đã hơn một thập kỷ (02/7/1997), đợc đánh dấu bằng sự kiện chính phủThái Lan tuyên bố thả nổi đồng Bạt Sự kiện này nh một “quân bài Đôminô”

đã nhanh chóng lan truyền sang các nớc khác trong khu vực, chấm dứt ba thập

kỷ phát triển kinh tế “thần kỳ” của các nớc Đông Nam á và đặt các nớc nàytrong tình trạng đáng lo ngại Không phải là "ngòi nổ" của cuộc khủng hoảngnhng Inđônêxia lại là nớc chịu tác động nặng nề nhất và nhanh chóng chuyểnthành cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, hay nói cách khác là một cuộckhủng hoảng “kép” - khủng hoảng kinh tế - chính trị Cha bao giờ trong lịch

sử 30 năm xây dựng và phát triển đất nớc của Inđônêxia lại lâm vào tình trạng

đen tối nh vậy Bởi vì, "thực tế cho thấy, từ thập kỷ 70 (XX) đến trớc khi xảy

ra khủng hoảng kinh tế vào cuối năm 1997, Inđônêxia đợc xếp là một trong 20nớc có tốc độ tăng trởng kinh tế cao và ổn định trên thế giới" [26, tr 8]

Trớc tình hình đó, chính phủ Inđônêxia ngay lập tức đã đa ra nhữngbiện pháp tích cực nhằm đa đất nớc thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng Mặc dù,Inđônêxia là nớc chịu ảnh hởng cuộc khủng hoảng nặng nề nhất, nhng kể từkhi cuộc khủng hoảng diễn ra cho đến nay đã hơn một thập kỷ bằng nỗ lựccủa mình Inđônêxia đã tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế, ổn định xã hội

Vậy, Inđônêxia đã có những biện pháp nh thế nào, kinh tế - xã hộiInđônêxia đợc khôi phục và phát triển ra sao trong hơn một thập kỷ qua, nỗlực tái thiết đất nớc của Inđônêxia có trở thành bài học kinh nghiệm cho nhiềunớc trong khu vực cùng lựa chọn con đờng phát triển giống nh Inđônêxia haykhông? Do đó, theo chúng tôi, việc tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề trên sẽgóp phần làm sáng tỏ những đờng lối, chính sách đúng đắn và kịp thời màchính phủ nớc này đa ra nhằm “làm lành vết thơng của con rồng Đông Nam

á”, tái thiết và phát triển đất nớc

Trang 6

1.3 Mặt khác, việc tìm hiểu nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hộiInđônêxia từ khủng hoảng tài chính - tiền tệ (7/1997) đến 2007 có ý nghĩa rấtquan trọng đối với Việt Nam Nếu nh cách đây hơn 10 năm, Việt Nam là nớcduy nhất trong khu vực Đông Nam á ít chịu tác động của cuộc khủng hoảng

do lúc đó nớc ta cha hội nhập "sâu" vào kinh tế thế giới Tuy nhiên, với tìnhhình hiện nay, khi Việt Nam đã có sự hội nhập vào tình hình kinh tế toàn cầu(Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thơng mại thế giới(WTO), thì tính phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế về: mô hìnhquản lý kinh tế, tài chính của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới có sự

1.4 Là một quốc gia có vị thế quan trọng trong khu vực, sự phục hồi vàphát triển của Inđônêxia sau hơn một thập kỷ qua đã đợc thông tin ở nhiềusách báo, tạp chí, bản tin trong nớc và ngoài nớc Tuy nhiên cha có một côngtrình nào tập hợp lại, hệ thống hoá các thông tin về quá trình đó của đất nớc

"vạn đảo" này Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề: Tình hình

kinh tế - xã hội Inđônêxi từ 1997 đến 2007 là việc làm vừa có ý nghĩa khoa

học vừa có ý nghĩa thực tiễn

Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: Tình hình kinh tế - xã

hội Inđônêxia từ 1997 đến 2007 làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của

mình

2 Lịch sử vấn đề

Là một trong những quốc gia có vị thế lớn trong khu vực, vì thế những

"bớc đi" nhằm khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội của Inđônêxia đã thuhút đợc sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu Chỉ tính riêng ở ViệtNam, trong thời gian qua các cơ quan báo chí, các tạp chí khoa học chuyênngành đã dành một dung lợng lớn để đăng tải các bài viết, các công trìnhnghiên cứu về chủ đề này

Trang 7

2.1 Có thể liệt kê một số bài viết, công trình mà chúng tôi tiếp cận đợcsau đây:

Báo Tin tức ra ngày 19 tháng 09 năm 2000 có bài "Inđônêxia gian nan

trên chặng đờng phục hồi kinh tế - xã hội" Bài báo đã phân tích tình hình xãhội Inđônêxia đang từng bớc ổn định với sự đắc cử của vị Tổng thống mớiAbdurraman Wahid và những thành quả bớc đầu trong chiến lợc cải cách kinh

tế của nớc này

Báo Nhân dân, số ra ngày 9 tháng 02 năm 2000, đăng tải bài "Nỗ lực

v-ơn dậy của Inđônêxia" của tác giả Phv-ơng Hà Bài báo đã chỉ ra nỗ lực củachính phủ Inđônêxia nhằm giải quyết các vấn đề lịch sử để lại và mới nảy sinhtrong đời sống chính trị - xã hội do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ tháng

7 năm 1997 để lại

Tác giả Hoa Hữu Lân (2000), với cuốn "Kinh tế Inđônêxia: thực tế vàthách thức" của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, đề cập một cách khásâu sắc cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Inđônêxia từ nguyên nhân, tác

động và giải pháp đối phó của Inđônêxia

Cuốn "Kinh tế các nớc Đông Nam á thực trạng và triển vọng" do Phạm

Đức Thành và Trơng Duy Hoà (Chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, HàNội năm 2002, đề cập đến vấn đề kinh tế Inđônêxia trong khủng hoảng tàichính - tiền tệ, những giải pháp phục hồi cũng nh đa ra những dự báo trong 5năm (2000 - 2005) của kinh tế nớc này

Trên Tạp chí Kinh tế quốc tế, số ra ngày 12 tháng 12 năm 2004, có bài

"Tổng thống Yudhoyono và lộ trình phục hồi kinh tế Inđônêxia" Trong đó đãnêu lên kế hoạch phục hồi kinh tế của vị "thủ lĩnh" mới nhậm chứcYudhoyono, kế hoạch này đợc đánh giá là đa ra "đúng lúc, đúng chỗ"

Trong bài "BOI: Triển vọng kinh tế Inđônêxia năm 2004" đăng trên

Tạp chí kinh tế Việt Nam và Thế giới, số ra ngày 27 tháng 02 năm 2004, tác

giả Thanh Bình đã khái quát tình hình kinh tế Inđônêxia trong năm 2003 và đa

ra nhận định về triển vọng kinh tế của nớc này trong năm 2004

Trong luận văn Thạc sĩ "Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ởInđônêxia (1997 - 2001)", Trờng Đại học Vinh Tác giả Lê Thu Thủy trìnhbày nguyên nhân, diễn biến, của cuộc khủng hoảng đối với kinh tế, xã hội vàchính trị của Inđônêxia

Trang 8

Trên Tuần báo quốc tế, số ra ngày 23 tháng 02 đến ngày 01 tháng 03

năm 2006, đăng bài "Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono: nhà cải cáchxuất sắc của Inđônêxia" Bài báo đã phác hoạ chân dung một nhà lãnh đạo đợcngời dân Inđônêxia mệnh danh là "ngời hùng" trong việc giải quyết các vấn đềkhó khăn của đất nớc

Các tác giả Đăng Hoà - Ngọc ánh (2006) có bài "Quân đội quốc giaCộng hoà Inđônêxia và tiến trình xoá bỏ hoạt động kinh doanh" đăng trên

Tạp chí Đông Nam á, số 1+2 Trong bài này, các tác giả đã nêu rõ để kinh tế

Inđônêxia đi vào ổn định và đúng với quỹ đạo của nó thì quân đội nớc nàyphải hạn chế quyền hạn của mình trong hoạt động kinh doanh, "quân đội làmkinh doanh" trở lại là "quân đội nhân dân", để đất nớc không còn đi lại "vết xe

đổ" dới thời " Trật tự mới" của cựu Tổng thống Suharto, nhng điều này vẫncòn là niềm hy vọng và chờ đợi của dân chúng Inđônêxia

Tạp chí Đông Nam á, số 7 + 8 năm 2007 có bài "Inđônêxia với vấn đề

năng lợng hạt nhân" của tác giả Vân Anh Bài báo đã phân tích tình trạngthiếu điện, nhu cầu năng lợng trong sản xuất và tiêu dùng của Inđônêxia Điều

đó buộc chính phủ nớc này phải nghĩ tới một giải pháp xây dựng nhà máy

điện nguyên tử đầu tiên ở Đông Nam á, nhng với quyết định này thì tình trạngmôi trờng của quốc gia vốn đã chịu ảnh hởng nặng nề bởi hiệu ứng nhà kínhnày đứng trớc nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng

Báo Kinh tế Việt Nam và Thế giới, số ra ngày 25 tháng 01 năm 2007

có bài "Liệu Inđônêxia có duy trì đợc đà tăng trởng kinh tế trong năm 2007?".Bài báo đã nêu ra những bớc tiến trong nền kinh tế Inđônêxia trong năm 2006cũng nh nêu lên những thách thức mới của kinh tế Inđônêxia trong năm 2007

Với bài "Kinh tế Inđônêxia tăng trởng nhanh nhất trong mời năm qua"

đăng trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam và Thế giới, ngày 23 tháng 12 năm

(2007), tác giả Ngọc Tiến đã đa ra những số liệu về sự tăng trởng nhanh vàbền vững nhất của kinh tế Inđônêxia trong năm 2007 Đây là năm có mức tăngtrởng lớn nhất của kinh tế nớc này trong mời năm qua kể từ khi cuộc khủnghoảng tài chính - tiền tệ nổ ra

Tạp chí Kinh tế Việt Nam và Thế giới, ngày 27 tháng 10 năm 2007

đăng bài "Cuộc chiến khắc phục khó khăn kinh tế của Inđônêxia" Bài báo đãphân tích những giải pháp hợp lý của chính phủ Inđônêxia đa ra nhằm lấy lại

Trang 9

sức mạnh tài chính nhờ vào sự dẫn dắt của ngời "dẫn đờng" Boediono - Bộ ởng điều phối kinh tế Inđônêxia

tr-Từ năm 1998 đến nay, đã có hàng loạt tin bài đăng trên Tài liệu tham

khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam về chủ đề khủng hoảng tài chính

-tiền tệ và sự phục hồi kinh tế - xã hội của Inđônêxia cũng nh quan hệ thơngmại giữa nớc này với các nớc trong khu vực và trên thế giới Tiêu biểu các bài:

"Kinh tế Inđônêxia đạt mức tăng trởng nhanh hơn 5% trong năm 2004", ngày

15 tháng 02 năm 2004; "Cộng hoà Inđônêxia trên đờng phát triển", ngày 22tháng 02 năm 2006; "Quan hệ Inđônêxia với các nớc", ngày 20 tháng 03 năm2007; "Chính phủ Inđônêxia cho phép xuất khẩu gạo", ngày 16 tháng 4 năm2008; "Inđônêxia công nhận 24 chính đảng mới", ngày 5 tháng 04 năm 2008;

"Inđônêxia đề xuất hội nghị về khủng hoảng lơng thực", ngày 20 tháng 4 năm2008; Nguồn tài liệu này cung cấp nhiều thông tin quan trọng mang tính thời

sự cao nhng hạn chế của nó là quá ngắn và thờng thiếu chiều sâu phân tích,

là "con rồng Đông Nam á" này Nhiều công trình, bài viết đã phân tích khásâu sắc một số vấn đề của chiến lợc phát triển kinh tế cũng nh thành quả màInđônêxia đã đạt đợc trong hơn một thập kỷ qua Đặc biệt, từ các công trìnhnày chúng tôi đã đợc tiếp cận hệ thống số liệu khá phong phú về sự phát triểnvợt bậc của kinh tế - xã hội Inđônêxia sau khủng hoảng kinh tế - chính trị(tháng 7 năm 1997) Mặt khác, với một số lợng công trình, bài viết phong phú

đợc tiếp cận từ nhiều góc độ, chúng tôi cũng có điều kiện để tiếp thu, nhìnnhận vấn đề một cách toàn diện Từ đó, có thể đa ra những kiến giải cá nhân

về sự phát triển của đất nớc vạn đảo này, cũng nh nhận định một cách nghiêmtúc và trung thực về nguy cơ của một cuộc khủng hoảng mới mang tính quyluật có thể nổ ra

2.2.2 Mặc dù vậy, việc nghiên cứu vấn đề: Tình hình kinh tế - xã hội

Inđônêxia từ 1997 đến 2007 vẫn còn là "khoảng trống" mà tác giả của luận

văn quan tâm

Trang 10

Thứ nhất, hầu hết các tài liệu mà tác giả tiếp cận đợc mới chỉ phản ánh

sự phục hồi kinh tế - xã hội Inđônêxia từ khi cuộc khủng hoảng nổ ra đến hếtnăm 2007 mới chỉ phản ánh về một mặt nào đó chứ cha có một công trình nàonghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về sự phát triển củakinh tế - xã hội của đất nớc này Cha có tác giả nào nghiên cứu riêng biệt về

sự nỗ lực tái thiết đất nớc nhằm phát triển kinh tế và ổn định xã hội củaInđônêxia sau cuộc khủng hoảng "kép" vào tháng 7 năm 1997, mà mới chỉ cócác bài viết ngắn mang tính chất chuyên khảo về tài chính, kinh tế, tình hìnhxã hội, một số khác là các tin tức cập nhật cha thực sự sâu sắc trong nhận xét

đánh giá

Thứ hai, trong quá trình nghiên cứu sự phục hồi và phát triển của kinh

tế - xã hội ở Inđônêxia, những ngời đi trớc hầu nh chỉ chú trọng đến cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ cũng nh tác động của nó tới xã hội Inđônêxia

mà ít phân tích, đề cập đến một cách đầy đủ chính sách thúc đẩy phát triểnkinh tế và ổn định xã hội của Inđônêxia trong mời năm qua Nói cách khácvấn đề này cha đợc nghiên cứu đúng mức từ phơng diện sử học

Thứ ba, những vấn đề mà Inđônêxia áp dụng trong chiến lợc phát triển

của mình có trở thành bài học quý giá cho Việt Nam hay không, Inđônêxia sẽ

đối phó với nguy cơ của một cuộc khủng hoảng mới sắp diễn ra nh thế nào,liệu "kịch bản" của cuộc khủng hoảng năm 1997 có lặp lại với Inđônêxiatrong thời gian tới hay không?…

2.3 Những kết quả nghiên cứu trên đây sẽ là nguồn t liệu để chúng tôitiếp tục nghiên cứu và có những nhận định sâu sắc, toàn diện hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Trang 11

- Nghiên cứu về sự phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Cộng hoàInđônêxia từ khi khủng hoảng tài chính - tiền tệ tháng 7/1997 đến năm 2007

sẽ giúp chúng tôi và những ai quan tâm đến bản luận văn này có thêm đợcnhững hiểu biết về kinh nghiệm khắc phục khủng hoảng, phục hồi và pháttriển kinh tế cũng nh ổn định tình hình xã hội của một quốc gia vốn chứa đựngnhiều mâu thuẫn này

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ mà chúng tôi phải thực hiện đólà: trên cơ sở nguồn t liệu thu thập đợc tiến hành xác minh, phân loại, từ đóphân tích một cách sâu sắc những biến đổi của "bộ mặt" kinh tế - xã hội củaInđônêxia trong mời năm qua

Từ việc nghiên cứu sự phục hồi kinh tế - xã hội Inđônêxia mời năm saukhủng hoảng nhiệm vụ của luận văn là phải nêu lên đợc bài học đối với ViệtNam nói riêng và các nớc đang phát triển nói chung trong tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế

4 Giới hạn của đề tài

Về mặt thời gian: đề tài đợc giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian từtháng 7 năm 1997- khi Inđônêxia chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng tàichính - tiền tệ, cho đến cuối năm 2007 - khi tình hình kinh tế - xã hội nớc này

đã phục hồi và đi vào quỹ đạo phát triển chung với kinh tế thế giới

5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

- Hệ thống tin bài về chủ đề nghiên cứu trên báo chí từ năm 1997 đếnnay: Báo Đầu t, Báo Nhân dân, Báo Hà Nội mới, Báo Tiền phong,…

Trang 12

- Nguồn tài liệu Tham khảo đặc biệt của TTXVN trong các năm từ

1997 đến nay

- Nguồn t liệu từ Internet…

5.2 Phơng pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, về mặt phơng pháp luận, chúng tôi dựa trên quan

điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và đờng lối xây dựng nềnkinh tế thị trờng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Về phơng pháp nghiên cứu, do đây là đề tài nghiên cứu các lĩnh vực vềkinh tế - xã hội của một quốc gia nên đây là một đề tài lịch sử Vì vậy, chúngtôi chủ yếu vận dụng hai phơng pháp truyền thống là phơng pháp lịch sử vàphơng pháp logíc Tuy nhiên, trong khía cạnh kinh tế chúng tôi chú trọngnhiều đến các phơng pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành: thống kê, sosánh, phân tích, tổng hợp

Từ các nguồn tài liệu trên, chúng tôi cố gắng khai thác và xử lý thôngtin một cách khách quan và trung thực nhất

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Luận văn sẽ đa đến một cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn dới góc

độ sử học về tình hình kinh tế - xã hội của Inđônêxia từ 1997đến 2007 Từ đó,góp thêm hiểu biết cho ngời đọc về sự nỗ lực của một đất nớc gần nh "kiệtquệ" trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997

6.2 Đợc tiếp cận từ góc độ sử học, do đó đề tài có thể đợc sử dụng làmtài liệu tham khảo về lịch sử Inđônêxia giai đoạn tháng 7/1997 - 2007 trên cáclĩnh vực kinh tế, xã hội

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm ba chơng:

Chơng 1: Tình hình Inđônêxia trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền

Trang 13

Tình hình Inđônêxia trong cuộc khủng hoảng

tài chính - tiền tệ (1997 - 2001)

Đến giữa năm 1997, Inđônêxia đợc Ngân hàng thế giới (WB) chọn làm

điển hình cho phong trào "xoá đói giảm nghèo" ở thế giới thứ ba, với mức tăngtrởng kinh tế liên tiếp trong hai thập kỷ đạt 7%, GDP bình quân đầu ngời là

1330 USD Cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái lan đã lan sangInđônêxia từ đầu tháng 7/1997, cơn bão này đã nhanh chóng đẩy đất nớc nàyvào cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất trong lịch sử Hàng loạt doanh nghiệp

bị phá sản, ngân hàng đổ vỡ, lạm phát do đồng tiền mất giá (từ 2340 Rupiah(IDR) đổi đợc 1 đô la Mỹ (USD) tháng 7/1997 đến tháng 5/1998 lên tới 9300IDR ăn 1 USD), nợ nớc ngoài gia tăng và nạn thất nghiệp lan tràn Nhiềuchuyên gia quốc tế và trong nớc đã từng đánh giá Inđônêxia có "cơ sở vữngmạnh" đã phải xem xét lại Từ những bất ổn của nền kinh tế đã nhanh chóngtác động đến hệ thống chính trị của Inđônêxia Chỉ 5 tháng sau khi cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra, Inđônêxia đã trở thành tâm điểm của cơnbão, kể từ tháng 7/1997 đến tháng 1/1998, đồng IDR đã mất giá khoảng 60%

so với đồng USD, khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã nhanh chóng cuốn đất

n-ớc này vào cuộc khủng hoảng kinh tế rồi dẫn tới một cuộc khủng hoảng "kép":khủng hoảng kinh tế - chính trị

Vậy, điều gì đã dẫn đến một kết cục nh vậy và tác động của nó đếnInđônêxia ra sao?

1.1 Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Inđônêxia

-Cũng nằm trong quỹ đạo chung của nền kinh tế thế giới, việc chịu ảnhhởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đối với Inđônêxia là điều tấtyếu không thể tránh khỏi Tuy nhiên, đối với quốc gia Đông Nam á này tuykhông phải là ngòi nổ của cuộc khủng hoảng nhng lại là quốc gia chịu tác

động nặng nề nhất, nó không chỉ tàn phá nền kinh tế đợc coi là "một trong 20nớc có tốc độ tăng trởng kinh tế cao và ổn định trên thế giới"[26, tr 8], màcòn làm cho tình hình chính trị - xã hội cũng lâm vào tình trạng khủng hoảngtheo Căn nguyên dẫn đến một cuộc khủng hoảng "kép" ở Inđônêxia đợc bắtnguồn chủ yếu từ tình hình nội tại cũng nh các tác nhân trong quan hệ giữaInđônêxia và các thế lực kinh tế, chính trị quốc tế

1.1.1 Nguyên nhân chủ quan

Trang 14

1.1.1.1 Tình hình kinh tế

Inđônêxia, từ một nớc đứng khá vững trớc những đợt sóng đầu tiên củacơn bão tài chính - tiền tệ, nhng lại trở thành quốc gia bị tác động mạnh nhất,nền kinh tế từ chỗ đợc đánh giá rất cao dần đi tới chỗ sụp đổ hoàn toàn với tỷ

lệ tăng trởng GDP dự báo -15%; lạm phát có thể lên tới mức 3 con số trongnăm 1998 - và tính đến thời điểm tháng 6/1998 đồng IDR đã mất giá khoảng83% so với tháng 7/1997 - thời điểm cơn bão bắt đầu nổ ra Trớc hết, đó là dobắt nguồn từ sự yếu kém về cơ cấu kinh tế vĩ mô, những "yếu tố căn bản" đãyếu dần trong suốt những năm 90 (XX) và sự mất cân đối về cơ cấu trở nênnghiêm trọng vào thời kỳ 1995- 1996

Tốc độ tăng GDP thực tế của Inđônêxia đạt 8,2% năm 1995, tăng từ7,3% lên 7,5 tơng ứng trong các năm 1993 và 1994 Sự tăng trởng này đã báohiệu một nền kinh tế "quá nóng" với lạm phát ở mức 9,4%, thặng d thơng mạigiảm mạnh với 41% (từ 8 tỷ USD năm 1994 xuống còn 4,9 tỷ USD năm 1995)

do hàng tiêu dùng nhập khẩu tăng, điều này dẫn tới sự tăng tơng ứng trongthâm hụt cán cân thanh toán từ 2,9 USD lên 7,9 USD (tơng ứng 1,7% và 3,9%GDP) Trong tình hình đó, Ngân hàng Trung ơng Inđônêxia (BI) đã nâng lãisuất năm 1995, nâng yêu cầu dự trữ đối với khu vực ngân hàng thơng mại từ2% lên 3% vào tháng 01/1996; tiếp đó tháng 9, BI thông báo rằng mức dự trữbắt buộc này sẽ nâng lên 5% vào tháng 4/1997 Trong tình trạng xấu đi củacán cân thanh toán, BI hy vọng kiềm chế nhu cầu trong nớc nhng lại khôngmuốn tăng lãi suất cao hơn nữa để đối phó với nguồn vốn mang tính đầu cơ từnớc ngoài; chỉ trong năm 1996 đã có tới ba lần điều chỉnh lãi suất, biên độ dao

động của tỷ giá trung bình hàng ngày trong hoạt động mua bán đồng IDR đã

đợc nới rộng từ 2% lên 8% Thế nhng, biện pháp này chỉ có tác dụng chút ít

đối với việc ngăn ngừa dòng vốn "đầu cơ" từ bên ngoài

Kết quả là mức thâm hụt cán cân thanh toán 3,3% GDP trong năm 1996

đã đợc bù đắp chủ yếu bằng nguồn vốn đầu t nớc ngoài ngắn hạn trên thị trờngchứng khoán Cùng với dấu hiệu nhịp độ tăng trởng giảm nhẹ (7,8% trongnăm 1996) BI đã mạnh dạn giảm lãi suất 0,5 điểm % vào tháng 12/1996 vàtiếp tục giảm 0,5 điểm % vào tháng 3/1997 với hy vọng sẽ hạ bớt "cơn sốt"dòng vồn đầu t nớc ngoài chảy vào, giảm nhẹ ghánh nặng nợ nần của các công

ty Inđônêxia đang còn trong tình trạng khó khăn và cho phép tăng kim nghạchxuất khẩu [13] Tuy nhiên, kịch bản không diễn ra nh mong đợi của BI, các

Trang 15

công ty Inđônêxia vẫn tiếp tục vay nhiều từ các thị trờng vốn quốc tế Tìnhhình nợ nớc ngoài đã vợt khỏi tầm kiểm soát của chính phủ cũng nh của BI,những con số thực tế phạm vi các khoản nợ nớc ngoài bị che dấu bởi các ngânhàng thơng mại và các công ty Inđônêxia đang vay mợn nớc ngoài (Chỉ saukhi khủng hoảng, một báo cáo của Ngân hàng thanh toán Quốc tế (BIS ) mộtcông bố con số ớc tính là tổng số nợ của Inđônêxia lên tới gần 200 tỷ USD, sovới con số chính thức do chính phủ Inđônêxia là 117 tỷ USD [26, tr 12]; báocáo này ớc rằng có ít nhất 44 tỷ USD vay nớc ngoài dới dạng kỳ phiếu không

đợc tính trong số chính thức trên, và cũng không đợc tính nợ ngắn hạn nớcngoài Tiếp đến, tổng số nợ nớc ngoài của khu vực công ty của Inđônêxia đợcphát hiện lên tới 67 tỷ USD, lớn hơn nhiều so với con số đã đợc biết trớc đó)

Trớc tình hình kinh tế tài chính nh vậy, thì việc Inđônêxia bị cuốn vàotâm điểm của cơn bão tài chính - tiền tệ là điều không thể tránh khỏi Sự yếukém về kinh tế Inđônêxia nổi bật ở những điểm sau, cụ thể:

Thứ nhất, sự mất cân bằng trong tài khoản vãng lai và sự gia tăng nợ

n-ớc ngoài Nếu trong năm 1990 - 1991, mức thâm hụt tài khoản vãng lai củaInđônêxia là 4% GDP và đợc thu hẹp lại trong năm 1992 - 1993; thì đếnnhững năm 1995 - 1996 lại tăng lên mức 3- 4% GDP, thâm hụt tài chính 7 tỷUSD (3,4% GDP), tăng lên 8,8 tỷ USD (4% GDP) năm 1996 - 1997 Bên cạnh

đó, cán cân thơng mại của nớc này năm 1990 là 1,68% GDP và biến động thấtthờng theo hớng giảm dần vào năm 1995, Inđônêxia đã thâm hụt 1,03% GDP.Mặt khác, Inđônêxia lại là nớc dựa nhiều vào FDI đã bù đắp 60- 90% lợngthâm hụt tài khoản vãng lai trong các năm 1992- 1995; nhng trong năm 1996,

sự sụt giảm FDI ở Inđônêxia là 25% so với năm 1995 (39,9 tỷ USD năm 1995xuống còn 29,9% năm 1996) Điều này gây nên sức ép mạnh mẽ đến tìnhtrạng mất cân bằng tài khoản vãng lai của đất nớc này Bên cạnh đó, vấn đề nợnớc ngoài luôn là một trong những điểm yếu và dễ tổn thơng nhất của nềnkinh tế Inđônêxia Tỷ lệ nợ nớc ngoài / GDP của Inđônêxia thuộc loại caonhất trong khu vực, giá trị tuyệt đối tăng từ 88,3 tỷ USD; tỷ lệ thanh toán nợ(DSR) luôn ở mức trên 30% (so với mức thông thờng DSR là không vợt quá25%) Ngoài ra, tỷ lệ nợ ngắn hạn / tổng số nợ đã dần tăng từ 14,5% (1991)lên 18,75% (1995) và 61% cuối năm 1996, trong khi đó lợng dự trữ ngoại tệchỉ 13,7 tỷ USD (1998) và 18,25 tỷ USD (1996) [26, tr 250]

Trang 16

Những yếu tố đó chỉ chờ đến “cú hích” từ Thái Lan rồi lan sangPhilippin và tới Inđônêxia, cuộc tấn công vào đồng IDR là tất yếu.

Thứ hai, đồng IDR đợc định giá quá cao dẫn tới sự sai lệch trong giá trị

tiền tệ Về mặt lý thuyết thuần tuý, một tỷ giá thực quá cao có thể gây ra sựsuy giảm khả năng cạnh tranh, không thúc đẩy xuất khẩu dẫn tới tình trạngxấu đi của cán cân thơng mại Đối với Inđônêxia, cán cân thơng mại xấu đikhiến cho tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai suốt từ đầu thập kỷ 90 (XX)trở nên khó duy trì, đặc biệt là khi tỷ giá đợc định mức quá cao Sở dĩ nh vậydo: sự lựa chọn tỷ giá cố định về cơ bản là gắn cố định IDR với USD, phục vụcho chiến lợc duy trì tỷ lệ đầu t cao để đạt tốc độ tăng trởng cao; đồng IDR đ-

ợc định giá quá cao tất yếu sẽ dẫn tới sự tăng lên của những đồng tiền gắn cố

định với USD

Nh vậy, việc theo đuổi một tỷ giá IDR / USD cố định nhằm khuyếnkhích các nguồn vốn nớc ngoài vào đầu t trong nớc đã dẫn tới hành động phágiá đồng IDR IDR bị cuốn vào cơn bão tiền tệ là điều không thể tránh khỏi

Thứ ba, thực trạng yếu kém của hệ thống ngân hàng Inđônêxia đã trở

thành một "lỗ hổng" lớn trong nền kinh tế nớc này Tuy nhiên, nó chỉ bắt đầugây chú ý cho công chúng khi chính phủ Inđônêxia tiến hành t nhân hoá ngânhàng Negara vào tháng 11/1996 Tiếp đó là một loạt vụ đổ bể của các ngânhàng nh Bank Dacific, Bank Summa … đã "thức tỉnh" công chúng

Theo BI, vào tháng 4/1996, trong tổng số 240 ngân hàng có 15 ngânhàng không đạt mức 8% tỷ lệ vốn bắt buộc, 41 ngân hàng không chấp hànhgiới hạn chi tiêu theo luật định Khi khủng hoảng nổ ra, theo nhận định củamột công ty môi giới chứng khoán châu Âu là sẽ có ít nhất 150 ngân hàngInđônêxia đóng cửa, trên thực tế chỉ còn 5 ngân hàng có khả năng thanh toán,hơn 100 ngân hàng phải gồng mình với những khoản nợ khó đòi

Mặt khác, ở Inđônêxia phần lớn các ngân hàng có tiếng là của concháu, tay chân của tổng thống; vì vậy, sự mong đợi trợ giúp từ chính phủkhiến cho các ngân hàng dù thiếu vốn nghiêm trọng vẫn có động cơ để lao vàonhững dự án mạo hiểm hơn Tin tởng vào điều đó, hoặc do nhạy cảm với địnhhớng của chính phủ trong cách thức cho vay, chất lợng tài sản của các ngânhàng quốc doanh ngày càng tồi tệ

Trang 17

Do đó, hệ thống ngân hàng của Inđônêxia khó có thể "lột xác" nếu cácthành viên của gia đình thống trị và các chính trị gia cao cấp vẫn trực tiếpquản lý một số lợng lớn các ngân hàng và các tổ chức tài chính.

1.1.1.2 Tình hình chính trị - xã hội

Do những nét đặc thù về lịch sử Inđônêxia đã duy trì một chế độ độc tàitrong suốt hơn 3 thập kỷ Sau khi lật đổ Sukarno, ông Suharto đã lập nên chínhquyền "Trật tự mới" (New Order) và đã giữ chức Tổng thống trong 32 năm(1965 - 1997) Suốt quãng thời gian này, ông đã đợc mệnh danh là "vị cha của

sự phát triển" với việc đa Inđônêxia lên hàng đầu trong thế giới các nớc đangphát triển Tuy nhiên, trong 32 năm cầm quyền cũng là khoảng thời gian ôngdùng quyền lực chính trị và ảnh hởng của mình thiết lập nên một chế độ gia

đình trị, thâu tóm hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt của đất nớc, gia đình ôngSuharto đã lọt vào danh sách 10 dòng họ giàu nhất thế giới với tổng tài sản ớckhoảng 50 tỷ USD [11, tr.165]

Do đó, Suharto đã quản lý một đất nớc mà nh "lãnh địa" của riêng mình

và xử sự nh một ông vua chuyên chế Là một tổng thống, Suharto có đủ mọiquyền hạn để tạo điều kiện làm giàu cho các thành viên trong gia đình, giatộc, bạn bè và giới quân sự, để đổi lại họ ủng hộ ông lâu dài trên ghế quyềnlực Chẳng có ai có thể buộc tội ông là lợi dụng quyền lực để vơ vét thamnhũng, thế nhng việc ông đã tạo dựng một môi trờng kinh doanh béo bở chocon cái, họ hàng và vây cánh của mình thì ai ai cũng đều thấy rõ Để duy trì

"miếng ngon" béo bở trong nhiều ngành kinh tế cho riêng mình, chế độ độctài này đã phớt lờ tất cả những tín hiệu về một nền kinh tế mất cân đối cơ cấu

và có nhiều dấu hiệu của sự bóp méo thị trờng Những bớc đi ngụy tạo cho sựbảo vệ quyền lợi và đặc ân của chế độ độc tài Suharto đã cho thấy sự khôngsẵn lòng của chính phủ Inđônêxia trong việc giải quyết nghiêm túc các vấn đềcấp bách của đất nớc [26, tr 259] Đây chính là nguồn gốc sâu xa và xuyênsuốt dẫn tới khủng hoảng của Inđônêxia

Chỉ cần nhìn vào hoạt động kinh doanh của gia đình tổng thống, chúng

ta có thể thấy chế độ gia đình trị đã lũng đoạn nền kinh tế nớc này nh thế nào

Đế chế kinh doanh Suharto toả khắp các ngành kinh tế, gồm: năng lợng, đóngtàu, mỏ, sản xuất xe hơi, hàng không, đánh cá, báo chí, phát thanh và ngânhàng … Mỗi một ngời trong số 6 ngời con của Suharto nắm giữ một phần kinh

tế của đất nớc, cụ thể:

Trang 18

Siti Hardiyandi Rukmana - ngời con gái cả của Suharto, có số tài sảnròng giá trị 2 tỷ USD Bà là ngời có tham vọng lớn cả về kinh tế lẫn chính trị,

bà có "liên quan" đến hơn 100 công ty, trong đó công ty chính là tập đoàn

th-ơng mại Citra Lamtoro Gung Persada; nắm giữ 17,8% cổ phần của Ngân hàngtrung á (Central Asia Bank), góp cổ phần vào các ngành truyền hình, sản xuấtgiấy và các dự án giao thông thu phí trong nớc cũng nh nớc ngoài…

Banbang Trihatmodjo - ngời con thứ ba của Suharto, có tài sản ròng ớctới 4,5 tỷ USD Ông dành đợc các hợp đồng béo bở nhờ vào vị thế của cha,

ông cũng đạt tới độ "tinh xảo" trong việc dùng cha làm bàn đạp cho bất kỳ phi

vụ làm ăn nào Banbang nắm quyền kiểm soát Bimantara Citra, một tổ hợpkinh doanh đa ngành từ hoá dầu, ôtô, ngân hàng cho đến viễn thông Các hoạt

động kinh doanh ở nớc ngoài gồm các dự án điện nớc ở Philippin và TrungQuốc, khai thác vàng ở Việt Nam, Mianma và Kazắcstan…

Hutomo Mandala Putra - ngời con thứ năm của Suharto, có tài sản ròngkhoảng 60 triệu USD Hutomo sở hữu 60% Humpuss, một tổ hợp gồm hơn 70công ty trong các lĩnh vực hàng không, viễn thông, kinh doanh nông sản, đờngthu phí, dầu khí, gỗ và bất động sản Ông là chủ của công ty BPPC, một hãng

độc quyền sản xuất găng tay và là chủ dự án "chính trình ô tô quốc gia" vớinhiều u đãi đặc biệt về thuế và trợ giá

Sigit Harjojudanto, ngời con thứ hai của tổng thống Ông ta là ngời đầutiên dám dựa vào ông bố để lập nên công ty vận tải hàng không PT Bayu Air,công ty này sử dụng máy bay quân sự để chuyên chở súc vật sống từ trang trạicủa gia đình đến các vùng khác trong nớc mà không bị sự kiểm soát của quân

đội Ông nắm cổ phần của khoảng 20 công ty hoạt động trong lĩnh vực bándẫn và ngân hàng; ông cũng là ngời sáng lập nên Humpuss Group Tài sản củaSigit ớc khoảng 450 triệu USD

Siti Hediati Harijiadi, ngời con thứ t của Suharto Ngời con gái này tăngdần ảnh hởng của mình trên thơng trờng Inđônêxia với sự hỗ trợ của cha vàchồng - thợng tớng Prabowo, t lệnh trởng lực lợng dự bị chiến lợc Tập đoànMaharini Paramita của bà bao gồm các lĩnh vực bất động sản, viễn thông, tàichính và lâm nghiệp Tài sản ròng của bà khoảng 200 triệu USD

Ngời con út Siti Hutami Endarg Adiningsih, cũng có tài sản khoảng

100 triệu USD Siti sở hữu một số đồn điền dầu cọ, các công ty chuyên doanhvận tải và kho tàng đối với dầu cọ Bà cũng là chủ của một dự án cải tạo, khai

Trang 19

hoang ở vùng Bắc Jakarta, đồng thời là giám đốc của vờn quả Mekarsari rộnglớn ở vùng Tây Java [26, tr 259 - 262]

Vào đầu những năm 80 (XX), các hoạt động kinh doanh của gia đìnhSuharto mới chỉ mang hình thức "môi giới", nhng về sau những ngời con gáicủa Suharto đã biết cách thay đổi vị thế của mình từ ngời trung gian thànhnhững chủ đầu t Đối với đế chế kinh doanh Suharto, không một vùng đất nào

là quá xa, không một ngành kinh doanh nào là quá phức tạp và không mộtmiếng thơm nào là quá bé nhỏ để có thể thoát khỏi sự chú ý của đế chế này

Bên cạnh đó, giới quân sự thân tín và bạn bè của Suharto cũng nhận đợckhông ít bổng lộc Các viên tớng kiểm soát một đế chế sinh lời rất nhanh ở n-

ớc này: từ sản xuất và phân phối phim cho tới các hãng vận tải hàng không, từlĩnh vực bất động sản tới khai thác gỗ… một đế chế đợc hởng nhiều u đãi đặcbiệt về thuế Đế chế kinh doanh của giới quân sự Inđônêxia (ABRI) cũng biếtkhéo léo kéo các phi vụ làm ăn của họ với đối tác nớc ngoài, giới t sản gốcHoa và các thành viên trong gia đình Suharto Tam giác "gia đình - tớng lĩnh -bạn bè" của Suharto nắm độc quyền những ngành kinh tế có sinh lời cao

Ngoài ra, sự bất công trong phân phối của cải và phúc lợi xã hội ởInđônêxia cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn xã hội đa

đất nớc đi đến khủng hoảng Tất nhiên, không thể không công nhận rằng,trong ba thập kỷ dới quyền Suharto, từ một đất nớc nghèo đói, lạc hậu,Inđônêxia đã phát triển thành một đất nớc tơng đối phồn thịnh: tỷ lệ nghèo đóitơng đối giảm từ 60% năm 1970 xuống 12% năm 1996; khoảng 60% trẻ em

đợc đi học năm 1970 tăng lên 91% năm 1996; năm 1991 có 25.000 bác sĩ và ytá so với 6000 năm 1970 [62, tr 21]

Tuy nhiên, theo các nhà quan sát nớc ngoài, cùng với sự tăng trởngkinh tế cao, ở Inđônêxia đã xuất hiện những nhóm t bản độc quyền, nhữngquan chức tham nhũng giàu có, tạo ra khoảng cách quá lớn giữa ngời giàu vànhững ngời nghèo Điều đó, dẫn tới mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gaygắt và khi có điều kiện nó sẽ bùng nổ xung đột

Cùng với sự tăng trởng của nền kinh tế thì sự khác biệt giữa ngời giàu

và ngời nghèo ngày càng lớn, do trong xã hội thiếu sự phân công công bằng vềcủa cải Một thiểu số ngời Inđônêxia gốc Hoa (chỉ chếm 5% tổng số dân)chiếm 3/4 của cải khu vực t nhân; kiểm soát 83% của 163 công ty trong danhsách thị trờng chứng khoán và cứ 6 tập đoàn kinh tế lớn thì 5 là của ngời Hoa

Trang 20

Chính phủ đã không có sự cố gắng toàn diện và đồng bộ để điều chỉnh sự mấtcân đối này Vì vậy, trong xã hội dẫn đến khủng hoảng là điều không thểtránh khỏi.

Tóm lại, việc duy trì sự độc tài của Suharto cũng đem lại cho Inđônêxiamột thời kỳ ổn định khá lâu dài để ngời dân nớc này nỗ lực tăng trởng kinh tế

Từ đầu thập kỷ 70 (XX) tới giữa năm 1997, nền kinh tế đất nớc này luôn tăngtrởng ở mức gần 7% / năm thu nhập bình quân từ 70 USD (1967) lên tới1.1000 USD (1996) Đất nớc Inđônêxia dờng nh đã trở thành "hình mẫu thànhcông" của "chủ nghĩa tự do mới" cho thế giới đang phát triển Thế nhng, hìnhmẫu này chứa đựng trong nó những ung nhọt tham nhũng, hối lộ bị che đậy,căn bệnh ung th đã tới lúc "di căn" Một chính sách quản lý đất nớc bị chiphối mạnh mẽ bởi sự chuyên chế quá mức, bởi cái gọi là chủ nghĩa lạm dụngquyền hành tất sẽ đa Inđônêxia tới bất ổn Một nền kinh tế bị bóp méo, hi sinhlợi ích của toàn thể quần chúng nhân dân

1.1.2 Nguyên nhân khách quan

Là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam á, Inđônêxia cũng phải chịutác động của một số yếu tố định hình trong bối cảnh kinh tế khu vực trớc khicuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nổ ra

Thứ nhất, sự đình trệ kéo dài của kinh tế Nhật Bản trong thập kỷ 90

(XX) đã gây ra sự giảm sút lớn về tốc độ tăng xuất khẩu sang Nhật Bản củacác nớc châu á nói chung và Inđônêxia nói riêng

Thứ hai, việc phá giá 50% của đồng Nhân dân tệ (NDT) Trung Quốc so

với đồng USD vào năm 1994 đã dẫn tới sự giảm sút lớn khả năng cạnh tranhcủa các nớc trong khu vực, đặc biệt Inđônêxia, nớc có lợi thế so sánh khá tơng

đồng với Trung Quốc

Thứ ba, ảnh hởng của cuộc khủng hoảng từ Thái Lan, qua Philippin đã

tràn sang Inđônêxia Chính yếu tố này đã làm cho các nhà đầu t của Mỹ vàchâu Âu là những ngời thờng có cái nhìn toàn cục sẽ rút vốn của họ để chuyểnsang các vùng khác ngoài châu á nh sang châu Mỹ, Đông Âu hay Mỹ Latinh.Còn các nhà đầu t châu á sẽ chuyển vốn của mình sang các thị trờng ngoài

Đông Nam á - những nơi ít bị ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính hơnnh: Hồng Kông, Trung Quốc, ấn Độ

Thứ t, một số nớc lớn, nhất là Mỹ có hành động can thiệp lũng đoạn,

gây mất ổn định đồng tiền của các nớc Đông Nam á mà trớc hết là đồng Peso

Trang 21

(Philippin), đồng Ringit (Malaixia), đồng Đôla (Singapore) và đồng Rupiah(Inđônêxia) Qua đó "đe doạ" các nớc trong khối hòng "kiềm chế" ảnh hởngngày càng một gia tăng của khối ASEAN - trong đó Inđônêxia là một thànhviên.

Một nguyên nhân khách quan nữa cũng không kém phần quan trọng,

đó là không loại trừ khả năng có những thế lực bên ngoài ngầm can thiệp vàoInđônêxia

Tổng thống Suharto cho rằng có những thế lực bên ngoài muốn hạ bệ

ông Mặc dù, ngày 06/5/1998, ngời phát ngôn cảnh sát Inđônêxia cho biết, chatìm thấy bất cứ dấu hiệu nào về sự dính líu của nớc ngoài vào cuộc biểu tìnhcủa sinh viên, nhng các nguồn tin nớc ngoài cho thấy Mỹ có vai trò nổi bậttrong sự kiện tháng 5/1998 ở Inđônêxia

Từ năm 1995, Mỹ đã viện trợ cho các tổ chức đối lập ở Inđônêxia 26triệu USD để thúc đẩy quá trình cải cách dân chủ theo quan điểm của Mỹ.Tháng 02/1998, t lệnh lực lợng Mỹ tại Thái Bình Dơng - Pruher tuyên bố rằng,

160 tàu chiến và 10 vạn binh lính dới quyền của ông sẽ tận lực giúp Inđônêxia

ổn định tình hình

Ngày 07/5/1998, tờ Shimbun Akahata đa tin, Mỹ đang tiếp tục huấnluyện lực lợng chống bạo động ở Inđônêxia để ủng hộ chính quyền Suharto,giúp quân đội duy trì chức năng giữ gìn an ninh và chức năng chính trị Đồngthời cũng đã quyết định huỷ bỏ một cuộc diễn tập quy mô chung, dự kiến kéodài một tháng ở Inđônêxia với lời giải thích là do ngại các cuộc biểu tìnhchống chính phủ Cùng thời gian này, tàu ngầm nguyên tử tấn công Hustoncủa Mỹ đã lên đờng sang Đông Nam á để cùng các lực lợng ở Thái Bình D-

ơng sẵn sàng đối phó với tình hình khủng hoảng ở Inđônêxia ngày càng xấu

đi

Ngày 19/5/1998, Tổng thống Mỹ Bin Clinton tuyên bố rằng: Mỹ sẵnsàng giúp phục hồi kinh tế Inđônêxia một khi cuộc khủng hoảng chính trị đợcgiải quyết Ông cũng nói rằng: cái mà chúng tôi tìm kiếm và cái mà chúng tôitiếp tục làm là phục hồi trật tự mà không có xung đột và một cuộc đối thoạichính trị thực sự cởi mở mà mỗi bên cảm nhận một cách cơ bản là họ có phầntrong đó [62, tr 24]

Về thái độ của Mỹ, theo báo Mainichi (Nhật Bản) ngày 15/5/1998 chorằng, có thể Mỹ sẽ không tiếp tục ủng hộ chính quyền Suharto khi mà phong

Trang 22

trào sinh viên ngày càng phát triển có tổ chức Nh vậy, nếu tiếp tục nhữngchính sách mà Mỹ và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) yêu cầu để khôi phục kinh tếthì bạo động của sinh viên và nhân dân sẽ càng trầm trọng, mà Mỹ lại ủng hộtầng lớp sinh viên phản đối Suharto và Hoa kiều Lập trờng không nhất quánnày của Mỹ đã đặt chính quyền Suharto vào tình thế khó xử.

Các hãng thông tin thế giới đa tin rằng, Bộ quốc phòng Mỹ đã liên lạcvới một số tớng lĩnh Inđônêxia để tiến hành một cuộc đảo chính không đổmáu Tổng thống Suharto đã phàn nàn rằng có những phần tử nớc ngoài nào

đó muốn hạ bệ ông bằng cách cố tạo ra sự hỗn loạn chính trị trong nớc Vìvậy, đã có ý kiến cho rằng: có vẻ một số trung tâm nhất định của thế lực toàncầu, những ngời mà tổng thống đã có mối quan hệ gắn bó, giờ đây đã quyết

định rằng ông ta chỉ là một món nợ chứ không phải là một tài sản [62, tr.24]

Thật mỉa mai khi Suharto phàn nàn về việc đó Việc ông giành đợcquyền lực tiếp tục theo sự kiện Gestapu đẫm máu ngày 30/9/1965, ở mức độnào đó đợc tạo ra bởi các thế lực bên ngoài Trong những năm "chiến tranhlạnh" ông đợc coi là một trong những đồng minh trung thành nhất của Mỹ, ởchâu á giúp cho siêu cờng này giữ gìn tầm quan trọng chiến lợc của họ ở khuvực

1.2 Diễn biến và tác động của cuộc khủng hoảng

1.2.1 Diễn biến của cuộc khủng hoảng

Kinh tế Inđônêxia phát triển liên tục trong suốt 3 thập kỷ (1967 - 1997)với nhịp độ tăng trởng trung bình 6% GDP / năm Điều đó khiến cho GDPbình quân đầu ngời tăng từ 70 USD (1975) lên tới mức 1100 USD (1996) và tỷ

lệ nghèo khổ giảm từ 70% dân số năm 1970 xuống còn 14% năm 1995 [71, tr

100 - 101] Inđônêxia đợc đánh giá là nớc có nền tảng kinh tế khá vững chắctrong số các nớc ASEAN Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệbùng nổ ở Thái Lan đã nhanh chóng tràn vào tàn phá nền kinh tế Inđônêxia

ở Inđônêxia, cũng đã có đầy đủ những nguyên nhân chủ quan và kháchquan, nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài nh các nớc khác trongkhu vực Tuy nhiên, do thời gian "ủ bệnh" quá lâu, mức độ trầm trọng lớn nênnét đặc trng của đất nớc này là diễn biến của cuộc khủng hoảng với tốc độ cao

Trang 23

và hậu quả gây ra nặng nề, kéo dài hơn nhiều so với các nớc khác cũng bịkhủng hoảng.

Khủng hoảng tài chính - tiền tệ nổ ra ở đây đợc khởi đầu bằng việc mấtgiá của đồng IDR, với tốc độ không gì ngăn cản nổi Đồng IDR của Inđônêxiatừng có thời điểm mất giá cao nhất tới trên 625% (tỷ giá đồng IDR/ USD tơngứng vào các ngày 02/7/1997; 31/12/1997; 15/7/1998 là 2430; 4375; 15200)[71, tr 102]

Trớc tình hình đó, chính phủ Suharto đã kêu gọi sự giúp đỡ của IMF.Trong các chơng trình bắt buộc của IMF đa ra đối với Inđônêxia để nhận đợckhoản tiền viện trợ 47 tỷ USD là phải thực hiện điều chỉnh một số chính sáchtrợ cấp trớc đây về điện nớc, xăng dầu, cớc phí vận tải và bu điện… khi chínhphủ tuyên bố xoá bỏ trợ cấp và nâng giá một số mặt hàng cơ bản trong điềukiện đồng IDR mất giá trầm trọng đã ảnh hởng đến đời sống của ngời lao

động, quần chúng nhân dân bất bình Do đó, liên tiếp trong các ngày từ ngày14/4 đến ngày 20/4/1998, hơn 3 triệu ngời ở Thủ đô Jakarta đã xuống đờngphản đối chính phủ và đòi Tổng thống Suharto từ chức Đi đầu trong các cuộcbiểu tình là tầng lớp thanh niên, sinh viên kết hợp với sự đồng tình của lực l-ợng Hồi giáo

Lúc đầu các cuộc biểu tình chỉ diễn ra trong khuôn viên các trờng đạihọc, về sau sinh viên đã xuống đờng và đã nhận đợc sự ủng hộ rất lớn của

đông đảo quần chúng nhân dân Đa số nhân dân Inđônêxia cho rằng chínhTổng thống và chính phủ phải chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng kinh tếcủa đất nớc, sự trợ giúp của IMF là cần thiết nhng quần chúng nhân dân lao

động không đáng phải chịu những điều kiện áp đặt khắc nghiệt của IMF trongcải cách kinh tế Vì vậy, những ngời biểu tình yêu cầu Quốc hội huỷ quyết

định đã bầu ông Suharto tiếp tục giữ chức Tổng thống nhiệm kỳ thứ 7 với thờihạn 5 năm

Nhiều nhà phân tích cho rằng, những cuộc biểu tình với quy mô lớndiễn ra ở 77 điểm nóng ở thủ đô Jakarta vào giữa tháng 4/1998 có "bàn tay"giúp đỡ ngầm của Mỹ Theo họ, Mỹ muốn thông qua đó để thay con bài chínhtrị Suharto bằng con bài chính trị khác, với lý do là Mỹ nghi ngờ Suharto khi

ông này từ chối mua máy bay phản lực của mình mà thay vào đó là mua Mic

25 của Nga

Trang 24

Các cuộc biểu tình ở Jakarta không có xu hớng giảm bớt mà ngày cànglan rộng và trở nên quyết liệt hơn khi nó đợc lồng ghép giữa sự phản khángcủa dân chúng đối với chính phủ và sự xúi giục của tầng lớp Hồi giáo Lực l-ợng đối lập cực đoan đập phá cửa hiệu, đe doạ đến tính mạng và tài sản hơn 10triệu ngời Hoa đang sinh sống ở Inđônêxia Các lực lợng phái hữu cho rằng, tbản Hoa đã cấu kết với giới quan liêu trong chính phủ gây nên sự khủnghoảng kinh tế, chính trị ở đất nớc này.

Nỗi bất bình và mâu thuẫn giữa nhân dân và chính phủ đã lên tới đỉnh

điểm vào tháng 5/1998 khi Tổng thống Suharto tuyên bố chỉ tiến hành cảicách chính trị sau khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống vào năm 2003 và ngày04/5 ra quyết định bãi bỏ chính sách hỗ trợ công nghiệp và năng lợng nhằm

đáp ứng những đòi hỏi của IMF, làm tăng giá xăng dầu 71%, điện 60%

Trong ngày 05 - 06/5/1998, nhiều cuộc biểu tình của sinh viên và tầnglớp dân thờng đã diễn ra ở các thành phố lớn nh Ujungpandang, Jakarta,Yogyakarta, Surabaya … Trong các cuộc bạo loạn ở thành phố Medan BắcInđônêxia, cảnh sát đã dùng đạn hơi cay và bắn chỉ thiên để giải tán đoàn ngờibiểu tình khi họ đập phá các cửa hiệu của ngời Hoa, làm 1 ngời chết và 2 ngời

bị thơng Sau đó chính phủ đã phái thêm quân đội để dẹp loạn và sau 3 ngàynáo loạn ở Medan đã có ít nhất 6 ngời chết Tại Sôlô và trung tâm Java, cảnhsát bắn đạn hơi cay và đạn cao su làm ít nhất 50 ngời bị thơng

Sáng ngày 08/5, sinh viên một số trờng Đại học ở Jakarta đã mở phiêntoà tợng trng xử tử hình ông Suharto về tội sát nhân, tham nhũng, câu kết bấtchính và sau đó đã đốt hình nộm ông

Trớc khi đi Ai cập dự Hội nghị G - 5, Tổng thống Suharto tuyên bố làlực lợng an ninh sẽ có hành động cứng rắn chống lại bất cứ ai gây rối an ninhquốc gia

Trớc tình hình bạo động ngày càng lan rộng, T lệnh quân đội đã điều15.000 quân và xe thiết giáp để lập lại trật tự, nhng cha phát lệnh giới nghiêm.Lực lợng triển khai gồm: lực lợng tác chiến đặc biệt, lực lợng quân khuJakarta và cảnh sát … Từ Cairô - Thủ đô Aicập, Tổng thống Suharto tuyên bốsẵn sàng từ chức nếu nhân dân không tín nhiệm ông nữa và ông sẽ khôngdùng vũ lực để tiếp tục nắm quyền

Chỉ trong 3 ngày bạo loạn (từ ngày 12 đến ngày 14/5/1998), tại Jakarta,

ít nhất 200 ngời chết Vụ khủng khiếp nhất là ngày 14/5, hơn 100 ngời chết

Trang 25

kẹt trong một cửa hàng bách hoá bị đốt cháy Tại các nơi khác nh ở Sôlô,Padan … cũng có bạo động và có ngời chết.

Do đó, Tổng thống Suharto đã phải rút ngắn chuyến thăm Aicập trở vềnớc để ổn định tình hình Sai lầm lớn nhất của ông khi tiếp tục sử dụng biệnpháp bạo lực đã từng đợc áp dụng trong cuộc đảo chính của 32 năm về trớc.Tuy nhiên, nếu ở thời điểm 32 năm về trớc là sự trung thành của quân đội vớichính phủ thì lúc này là sự ủng hộ của lực lợng cảnh sát đối với Tổng thống

Sau cuộc đàn áp đẫm máu của chính phủ, xã hội Inđônêxia rơi vào tìnhtrạng hỗn loạn nghiêm trọng

Về kinh tế: tốc độ tăng trởng GDP vào tháng 6/1998 sụt giảm mức thấpnhất (- 10%), lạm phát 80% Theo dự đoán, mức lạm phát của Inđônêxia cóthể tăng ở mức xấp xỉ 100% Đồng IDR của Inđônêxia vốn đã mất giá nay lạimất giá trầm trọng hơn Tháng 7/1997, tỷ giá giữa IDR với USD là 2560 thìsau một năm đã tăng trung bình từ 1100 đến 1300 IDR, thời điểm cao nhấtvào tháng 6/1998 lên tới 18500 IDR = 1USD Do lạm phát tăng cao, dẫn đếngiá cả tiêu dùng tăng lên 400% làm cho 70% dân số Inđônêxia có mức thunhập thấp bị dồn vào cảnh khốn cùng

Trên 80% công ty, xí nghiệp trong nớc bị phá sản dẫn đến 12 triệu ngờithất nghiệp, chiếm 22% lực lợng lao động Dự trữ ngoại tệ đã xuống đến mứcquá thấp (khoảng 14 tỷ USD) trong khi nợ nớc ngoài vào thời điểm tháng4/1998 theo công bố chính thức là 133,67 tỷ USD [26, tr 242] Các nhà phântích phơng Tây cho rằng số nợ thực tế của số nợ của Inđônêxia còn lớn hơn vàvào khoảng 200 tỷ USD vì có ít nhất 49 tỷ USD vay nớc ngoài dới dạng kỳphiếu không đợc tính vào các khoản nợ công bố Riêng nợ của t nhân là 80 tỷUSD, trong đó 14,2 tỷ USD là khoản nợ ngắn hạn đến thời gian phải trả [71,

tr 103]

Trớc diễn biến xấu về tình hình kinh tế - chính trị ở Inđônêxia, 70% sốnhà đầu t nớc ngoài đã nhanh chóng chuyển tiền về nớc hoặc tạm gửi tiền ởcác ngân hàng nớc ngoài Đặc biệt, tình hình trở nên nghiêm trọng khi lànsóng bài Hoa diễn ra mạnh mẽ ở thủ đô Jakarta và các nơi khác dẫn đến nhiềungời Hoa phải lánh nạn kèm theo khoản vốn đầu t lớn gần 10 tỷ USD cũng đi

“lánh nạn” cùng với họ T bản Hoa có ảnh hởng và vị trí quan trọng trong nềnkinh tế Inđônêxia, kiểm soát 70% mạng lới lu thông - phân phối hàng tiêudùng cơ bản ở thị trờng nội địa, 80% thị trờng cổ phiếu ở Jakarta, hùn vốn vào

Trang 26

5 công ty trên tổng số 6 công ty lớn nhất ở Inđônêxia [19, tr 39] Do đó, việccộng đồng ngời Hoa ở Inđônêxia bị đe dọa dẫn đến thị trờng lu thông trong n-

ớc bị ngng trệ, giá cả tăng vọt

Trong lúc Inđônêxia đang bê bối về kinh tế, chính trị, hậu quả của nạncháy rừng và hạn hán kéo dài từ đầu năm 1998 dẫn đến tình hình thiếu lơngthực trầm trọng, ớc tính có từ khoảng 12 đến 15 triệu ngời dân nớc này cónguy cơ chết đói Chính phủ không có ngoại tệ để nhập lơng thực của Mỹcũng cha có dấu hiệu mở cửa "hầu bao " theo luật PL 480 viện trợ lơng thựccho Inđônêxia [26, tr 243]

Về chính trị: do tác động khủng hoảng kinh tế làm cho hệ thống chínhtrị của Inđônêxia rạn nứt Trong nội các chính phủ Suharto nảy sinh mâuthuẫn, chia rẽ Lực lợng quân đội trớc đây là trụ cột của chế độ "Trật tự mới"cũng tỏ ra bất bình khi thấy Suharto vẫn ra tranh cử tổng thống lần thứ 7 Lựclợng Hồi giáo vốn là đối thủ chính của các giới cầm quyền trong suốt 50 nămqua và có ảnh hởng lớn trong xã hội, đặc biệt trong tầng lớp sinh viên, thanhniên cũng bất bình với chế độ Suharto

Trớc sức ép của phong trào quần chúng và các đảng phái chính trị ởInđônêxia, ngày 21/5/1998, ông Suharto tuyên bố từ chức và nhờng quyền cho

vị phó của mình là ông B J Habibie, kết thúc một chính thể gia đình trị kéodài trong suốt 32 năm ở Inđônêxia

Sau ngày nhậm chức (21/5/1998), Tổng thống mới, ông Habibie đãtuyên bố tiếp tục công cuộc cải cách toàn diện phù hợp với ý nguyện của dânchúng và các tổ chức quốc tế Ngày 24/6/1998, Chính phủ mới của ông cũng

đã đạt đợc thoả thuận lần thứ t giữa IMF và Inđônêxia về việc tiếp tục giảingân cho khoản vay trọn gói 47 tỷ USD đã bị "đóng băng" hơn 1 tháng trớc dotình hình chính trị bất ổn

Tuy đạt đợc thoả thuận với IMF, nhng phản ứng của thị trờng khôngmấy tích cực: đồng IDR tiếp tục giảm giá do các nhà đầu t không tin tởng vàokhả năng đạt đợc những chỉ tiêu kinh tế mà Inđônêxia đã thoả thuận với IMF

và sự mất tín nhiệm của dân chúng đối với chính phủ của ông Habibie Dovậy, chính phủ nớc này lại phải dựa vào WB để vay khoản tín dụng 1 tỷ USD.Triển vọng vợt qua khủng hoảng của Inđônêxia là cha rõ ràng, thậm chí là đentối nhất trong số các nớc khu vực đang trải qua khủng hoảng Tuy nhiên,Chính phủ Habibie đã thể hiện một ý chí chính trị mạnh mẽ và đầy quyết tâm

Trang 27

trong công cuộc cải cách, phục hồi nền kinh tế Đây là yếu tố quyết định việcInđônêxia thoát khỏi khủng hoảng toàn diện này sớm hay muộn.

Tiếp theo ông Habibie là ông Addurahman Wahid, một lãnh tụ của pháiHồi giáo, những cải cách kinh tế đợc thực hiện dở dang trong thời kỳ ôngHabibie nắm quyền tiếp tục đợc ông Addurahman Wahid triển khai, đời sống

- chính trị - kinh tế - xã hội dần đợc ổn định, tốc độ tăng trởng kinh tế của nớcnày đạt ở mức 3 - 3,5% năm 2000, tốc độ lạm phát giữ ở mức 11%, các vấn đềnan giải khác nh nạn thiếu lơng thực, giảm bớt thất nghiệp đã đợc cải thiện.Năm 2001, Inđônêxia đã thoát ra đợc khủng hoảng và nền kinh tế có dấu hiệulạc quan hơn

1.2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu tác động mạnh vàoInđônêxia từ tháng 01/1998 mà theo đánh giá của Liên Hiệp quốc và IMF thìcuộc khủng hoảng này đã tác động sâu sắc và toàn diện đến đời sống kinh tế,chính trị và xã hội của đất nớc này [45, tr 189]

1.2.2.1 Đối với kinh tế

Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu tác động mạnh mẽ đến nềnkinh tế Inđônêxia, nó đợc biểu hiện trong các lĩnh vực kinh tế chủ chốt củaInđônêxia

Theo điều tra của Cục thống kê Inđônêxia cho thấy vào năm 1998, hầuhết cơ cấu kinh tế của nớc này đều giảm sút, “lỗ hổng” lớn của nền kinh tếchính trị và xã hội nớc này đã bị cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khoét sâu,

ăn rỗng và làm mục nát chỉ trong một thời gian ngắn

Bảng 1.1: Tỷ trọng của lĩnh vực kinh tế trong tăng trởng GDP

Quý II/ 1998

so với Quý II/ 1997

Quý II/ 1998 Quý II/ 1997

Trang 28

Tài chính kinh doanh -14,4 - 24,6 9,1 8,3

Nguồn: Cục thống kê Trung ơng Inđônêxia [45, tr 109]

Trớc hết, trong các ngành kinh tế thuộc khu vực bất động sản và xây dựng: tơng tự nh các nớc trong khu vực, do đầu t lớn vào thị trờng bất động

sản cũng nh do nhiều công ty đầu t nớc ngoài rút vốn về nớc, dẫn đến tổng cầu

về nhu cầu văn phòng, khách sạn ở Inđônêxia giảm mạnh Số văn phòng chothuê ở Inđônêxia giảm từ 9% quý I/1998 lên 29% vào quý IV/1998 Gắn liềnvới số văn phòng cho thuê giảm, giá thuê văn phòng cũng giảm mạnh từ 26%lên 44% so với USD

Ngành xây dựng bị tác động mạnh nhất do nhiều dự án bị đình chỉ, dẫn

đến sản lợng xi măng giảm 32,2%, lợng xi măng xuất khẩu giảm 18% khi sosánh quý IV/1998 với quý IV/1997 [45, tr 191]

Thứ hai, các ngành kinh tế thuộc khu vực chế tạo: đây là khu vực bị

khủng hoảng nghiêm trọng nhất Tính đến năm 1998, doanh số xe hơi giảm81,7%, xe máy giảm 63%, máy vi tính cá nhân giảm 16% so với năm 1997

Sự giảm sút mạnh mẽ này xuất phát từ sự suy giảm mạnh của sức mua thực tế

do lạm phát tăng cao và đồng IDR mất giá trầm trọng Trong ngành côngnghiệp lắp ráp cửa ô tô của Inđônêxia cho thấy, hầu hết việc thanh toán tiềnmua xe không phải bằng tiền mặt mà theo phơng thức tín dụng Trong khi đó,nguồn tín dụng cạn kiệt dẫn đến khả năng mua xe của ngời tiêu dùng sẽ giảmmạnh

Thứ ba, trong khu vực đầu t: trớc hết, xét về đầu t t nhân thì thấy, từ

năm 1998 trở lại đây, số lợng các dự án đầu t t nhân đã giảm mạnh, số dự án

đầu t t nhân trong nớc giảm 50%, t nhân nớc ngoài giảm 25%; sang đến quýIV/ 1998, các con số tơng ứng là 65% và 58% Cụ thể, tính theo giá trị thì sốvốn đầu t t nhân trong nớc giảm từ 6,5tỷ USD xuống còn 4,3 tỷ USD và tnhân nớc ngoài giảm từ 9,4 tỷ USD xuống còn 5,2 tỷ USD

Sự giảm sút trên đây là do sự bất ổn định chính trị - xã hội, do việc rútvốn của các nhà đầu t nớc ngoài và quá trình lánh nạn của các dòng vốn đầu tcủa t bản Inđônêxia gốc Hoa

Trang 29

Về đầu t của chính phủ: Theo thoả thuận với IMF, nhằm cải thiện khuvực tài chính và ngân sách đòi hỏi chính phủ phải cắt giảm các nguồn chi,nhất là các nguồn chi cho xây dựng các cơ sở hạ tầng, các dự án đầu t lớn,dành một phần ngân sách cho trợ cấp lơng thực Vì thế, các khoản đầu t củachính phủ Inđônêxia 2 năm sau khủng hoảng đã bị cắt giảm từ 30% đến 35%

so với năm 1997 Thực tế cho thấy, thâm hụt ngân sách của Inđônêxia vàokhoảng 8,5% so với GDP, tơng đơng 4 - 6 tỷ USD, do đó dù muốn hay khôngchính phủ cũng phải thực hiện ráo riết chính sách "thắt chặt tài chính", giảmthiểu tối đa các nguồn chi ngân sách

Thứ t, trong thơng mại: So với các lĩnh vực kinh tế khác đang trong tình

trạng giảm sút nghiêm trọng thì riêng xuất khẩu của Inđônêxia lại có chiều ớng đợc cải thiện Đó là, nhờ đồng IDR giảm giá mạnh (60- 80%) so với đồngUSD nên các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá trong nớc có giá thành tínhbằng đồng IDR đều có lợi và "miễn dịch" khỏi cuộc khủng hoảng

h-So với quý IV/1998, quý IV/1999 xuất khẩu của Inđônêxia tăng 2%,trong đó xuất khẩu dầu mỏ đạt 4,8 tỷ USD; xuất khẩu các sản phẩm phi dầu

mỏ đạt 3,54 tỷ USD Số d cán cân thơng mại tăng gần gấp đôi so với năm

1998 (2,56 tỷ USD so với 1,4 tỷ USD) [45, tr 193] Tuy nhiên, các ngành xuấtkhẩu phải nhập khẩu nguyên nhiên liệu từ nớc ngoài, do chi phí đầu vào cao,nên giá trị xuất khẩu giảm 14 - 16% so với năm 1998

Thứ năm, trong các ngành dịch vụ - du lịch: Dịch vụ giao thông vận tải

nh đờng thu phí (Toll - Road) giảm 17,2% - 25,4% Khoảng 50% số xe buýt

và mini buýt ở Thủ đô Jakarta phải ngừng hoạt động vì phụ tùng nhập khẩutăng cao Dịch vụ bu chính - viễn thông, đặc biệt với bên ngoài, giảm 5,8%.Ngành du lịch giảm đáng kể, số khách du lịch nớc ngoài đến nớc này giảm19% (năm 1999: 2,91 triệu ngời so với 1998: 3,56 triệu ngời) Thu nhập ngoại

tệ từ du lịch cũng giảm mạnh khoảng 19,5%, từ 3,65% tỷ USD xuống còn2,94 tỷ USD Ngành kinh doanh khách sạn thua lỗ nặng nề Số phòng kháchsạn bỏ trống ở thủ đô Jakarta khoảng 60 - 70% so với 25% của năm 1997 [45,

tr 193]

1.2.2.2 Đối với chính trị - xã hội

Trang 30

Về chính trị: vốn dĩ Inđônêxia đã là một quốc gia có nhiều đảng pháichính trị đối lập, nên do tác động khủng hoảng kinh tế làm cho hệ thống chínhtrị của Inđônêxia rạn nứt Trong nội các chính phủ Suharto nảy sinh mâuthuẫn và chia rẽ Lực lợng quân đội trớc đây là trụ cột của chế độ "trật tự mới"cũng tỏ ra bất bình trớc quyết định ra tranh cử Tổng thống lần thứ 7 củaSuharto Lực lợng Hồi giáo vốn là đối thủ chính của các giới cầm quyền trongsuốt 50 năm qua và có ảnh hởng lớn trong xã hội, đặc biệt trong tầng lớp sinhviên, thanh niên cũng không đồng tình với chế độ Suharto Trong lúc đó, trên

chính trờng Inđônêxia đang nổi lên vai trò lãnh đạo của vị lãnh tụ Hồi giáoAmien Rais

Là nhà lãnh đạo của phong trào Mahammadiyah gồm 28 triệu tín đồ,Amien đã kêu gọi sinh viên tiếp tục biểu tình để chống lại Suharto Do thiếumột trong ba phẩm chất cho bất kỳ ai trở thành Tổng thống ở Inđônêxia (ứng

cử viên phải là ngời đảo Java; là ngời Hồi giáo; và đã từng phục vụ Abi (quân

đội), nên theo giới phân tích nhận định rằng rất có thể Amien sẽ đứng sau ủng

hộ một nhân vật trong quân đội đứng ra tranh cử tổng thống

Đảng Golka, đảng chính trị lớn nhất Inđônêxia, tập trung chủ yếu làquan chức chính phủ và tớng lĩnh cao cấp, chiếm 80% số ghế trong Quốc hộicũng đang có xu hớng chia rẽ Các thành viên Golkar đòi Suharto phải từ chứctổng thống và lãnh tụ của đảng, yêu cầu thành lập Đảng Golkar mới có sự liênminh với các đảng phái chính trị khác

Trớc sức ép của phong trào quần chúng và các đảng phái chính trị ởInđônêxia ngày 21/5/1998, ông Suharto đã buộc phải tuyên bố từ chức tổngthống và nhờng quyền cho Phó tổng thống Habibie lên thay, chấm dứt 32 nămtrị vì đất nớc

Tuy nhiên, ảnh hởng chính trị của cuộc khủng hoảng đối với Inđônêxiakhông dừng lại ở việc thay đổi lãnh đạo ở giới chóp bu Do phải đối phó vớikhủng hoảng, chính phủ Trung ơng đã không đủ sức kiểm soát đợc sự pháttriển của tình hình chính trị ở các địa phơng, nhất là ở Đông Timor, tỉnh thứ

27 của Inđônêxia Là một trong những hòn đảo lớn của Inđônêxia lại là mộttrong những con đờng hàng hải nhộn nhịp nhất trên thế giới và là "vùng đấtmới" đợc sát nhập vào lãnh thổ nớc này (7/1976) Nên qua quá trình đấu tranh

đòi li khai khỏi Inđônêxia, đến thời Tổng thống Habibie, qua cuộc trng cầudân ý, cuối cùng Đông Timor cũng đã tách khỏi Inđônêxia

Trang 31

Việc Đông Timor tách khỏi Inđônêxia không chỉ là thất bại lớn củachính phủ nớc này mà nó còn gây nên một "hiện tợng Đông Timor", hiện tợngnày nh một "hiệu ứng Đôminô" đã lan sang các địa phơng khác, kích thíchkhuynh hớng li khai Một trong những tỉnh đang đòi li khai mạnh nhất lúc này

là tỉnh Aceh

Đợc khuyến khích bởi thành công của ngời Đông Timor, phong trào lykhai ở Aceh bùng lên mạnh mẽ Làn sóng ly khai thực sự trở thành thách thức

đối với sự toàn vẹn lãnh thổ của Inđônêxia khi Tổng thống Wahid lỡ nói rằng:

ông ủng hộ quan điểm của ngời dân Aceh; vì theo ông nếu có một cuộc trngcầu dân ý ở Đông Timor thì tại sao ở Aceh lại không thể, điều đó phụ thuộckhi nào mà thôi

Tình hình Inđônêxia lúc này vừa phải lập lại trật tự chính trị trong nớc,vừa phải đối phó với khuynh hớng ly khai và vừa phải đối phó với nhân tốnhạy cảm với biến động chính trị, kinh tế, xã hội và là vấn đề gay cấn trongquan hệ ngoại giao không chỉ giữa Trung Quốc và Inđônêxia mà cả giữaInđônêxia với cộng đồng quốc tế Đó là vấn đề ngời Hoa ở Inđônêxia

Ngời Hoa - một bộ phận chiếm giữ vị trí kinh tế quan trọng ở quốc gianày không thể không chịu hậu quả của cơn lốc khủng hoảng tài chính - tiền tệ

Họ không những chịu sự tổn hại nặng nề về kinh tế mà còn trở thành đối tợngtấn công của dân chúng Inđônêxia, khi chính phủ Inđônêxia thi hành biệnpháp gia tăng một số mặt hàng nhu yếu nh xăng, dầu, điện dân dụng, cớc phígiao thông… với hy vọng bù đắp phần nào cho lợng tiền bị phá giá trongcuộc khủng hoảng Lợi dụng tình hình này, các công ty t nhân (trong đó ngờiHoa nắm phần chủ yếu) cũng tự tiện nâng giá số mặt hàng tiêu dùng Ngờidân Inđônêxia vốn đã cùng cực nay lại càng cùng cực hơn trớc cơn bão giá

Do đó, họ chỉ biết tấn công vào lực lợng thơng nhân ngời Hoa nhng thực chất

là họ phải đấu tranh trực tiếp vào lực lợng lãnh đạo của đất nớc này mới hợp

lý Vì thế, trong cuộc khủng hoảng này ngời Hoa lại trở thành "khiêng" chắntên cho những ngời lãnh đạo cuả đất nớc này trớc cơn phẫn nộ của quần chúngnhân dân

Cơn bão khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Inđônêxia không chỉ tác động

đến đời sống kinh tế mà nó còn tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị, xãhội của đất nớc này

Trang 32

Về xã hội: trớc hết trong lĩnh vực giáo dục: Tác động của cuộc khủng

hoảng trong lĩnh vực này đợc biểu hiện thông qua tiêu chí nh: tỷ lệ học sinh

bỏ học tăng; tỷ lệ học sinh chuyển từ cấp I lên cấp II giảm và chất lợng họctập giảm do thiếu các tài liệu giảng dạy thiết yếu Các trờng t thu hút học sinh

từ những hộ có thu nhập thấp phải đóng cửa vì không tuyển đợc học sinh Dovậy, các trờng công bị quá tải vì phải tiếp nhận thêm số học sinh từ trờng tsang Ngay trong năm 1998, tỷ lệ nhập học vào cấp II của nhóm hộ có thunhập thấp chỉ khoảng 30% trong khi con số này ở nhóm hộ có thu nhập caolên đến 90% Khoảng cách này vốn đã lớn bởi chi phí cho học tập của cấp IIlớn gấp 3 lần của cấp I, sẽ còn tăng lên bởi cuộc khủng hoảng đã khoét sâuthêm hố ngăn cách giữa giàu và nghèo Và nh vậy, nhóm trẻ ở độ tuổi 13 - 15

sẽ phải chịu tác động nhiều nhất Đây là độ tuổi vị thành niên rất nhạy cảm,việc thất học sẽ lôi kéo các em vào nhiều vấn đề tệ nạn xã hội, làm tăng nguycơ mất ổn định xã hội… Còn theo số liệu trên báo (Jakarta Post) ngày06/10/1998, cuộc khủng hoảng xảy ra đã làm cho 3,1 triệu trẻ em không đợc

đến trờng hoặc bỏ học Năm 1998 có khoảng 1,5 triệu trẻ em ở độ tuổi 7 - 12không có điều kiện ghi tên vào các trờng tiểu học Số trẻ em ở độ tuổi từ 13

đến 15 khoảng 3,5 triệu, chiếm 5,1% số trẻ em trong nhóm tuổi không đi học[45, tr 194] Vấn đề này về lâu dài sẽ tác động mạnh đến nền tảng giáo dục vànguồn nhân lực bổ sung của nớc này trong thời gian tới Đây lại là nguồn nhânlực chủ yếu cho sự cờng thịnh của mỗi quốc gia dân tộc trên thế giới

Trong lĩnh vực y tế: chi phí cho phòng bệnh và điều trị đã tăng gấp đôi

chỉ trong vài tháng Thuốc chữa bệnh bình thờng và các dụng cụ kế hoạch hóagia đình thiếu trầm trọng Các bệnh viện và các cửa hàng thuốc không đủ đểcác loại dợc phẩm thiết yếu và có nguy cơ phải đóng cửa do không duy trì đợchoạt động với phí dịch vụ thấp, nguồn thu viện phí tính bằng IDR đã khôngcòn đủ để nhập khẩu các loại thuốc cần thiết có giá tính bằng USD Do vậy,nếu không có sự trợ giúp quốc tế kịp thời thì những thành quả về giảm tỷ lệ tửvong và tỷ lệ mắc bệnh trong 30 năm qua sẽ bị xói mòn nghiêm trọng Nhómngời bị tác động nhiều nhất là trẻ em dới 3 tuổi, ngời nghèo, trẻ mồ côi, phụnữ mang thai và những ngời nuôi con bằng sữa mẹ Trên thực tế giá cả leothang khiến nhiều ngời không có đủ số tiền cần thiết cho phòng và chữa bệnh.Cũng do thu nhập thấp, chi phí y tế cao dẫn đến khoảng 40% dân c có thunhập thấp bị ốm đau không có khả năng đến bệnh viện Tỷ lệ sản phụ tử vong

Trang 33

ở Inđônêxia tơng đối cao: cứ 100.000 ca sinh đẻ thì có khoảng 390 - 400 casản phụ tử vong Tỷ lệ này trớc khi xảy ra khủng hoảng thuộc mức thấp nhấttrong khu vực [45, tr 194].

Số ngời thiếu ăn và có nguy cơ chết đói ở Inđônêxia có khoảng từ 15

-25 triệu ngời Theo báo cáo của Ngân hàng phát triển châu á (ADB), số hộ

đói nghèo của nớc này năm 1999 vào khoảng 41,6 triệu ngời Tính đến tháng6/2000, tỷ lệ này giảm đến năm 2002 còn khoảng 23,3 triệu ngời Tình trạngdinh dỡng của ngời Inđônêxia cũng bị tác động nghiêm trọng của khủnghoảng Lợng protêin giảm do sức mua của ngời dân giảm, đặc biệt là đối vớinhóm thu nhập thấp Điều này sẽ làm chậm tốc độ phát triển trí tuệ của trẻnhỏ và nhanh chóng đảo ngợc những tiến bộ trong thập niên qua Vậy làInđônêxia còn phải đối phó với một cuộc chiến mới: cuộc chiến chống đóinghèo

 Tiểu kết

Những khủng hoảng kinh tế xã hội sâu sắc ở Inđônêxia diễn ra cuốinăm 1997 đã bộc lộ những điểm yếu của Inđônêxia Qua đó, ngời ta nhìn nhậnlại những đánh giá "lạc quan" của mình về tình kinh tế - xã hội nớc này, trongsuốt hơn 30 năm dới cái gọi là "Trật tự mới" của vị nhạc trởng là Tổng thốngSuharto Từ thập niên 70 (XX) cho đến tháng 7/1997, Inđônêxia quen với mứctăng trởng kinh tế 7% / năm Ung dung với con số tăng trởng GDP đạt hơn7%/ năm nên Inđônêxia đã coi thờng những khiếm khuyết, khuyết tật củamình, để rồi khi cơn bão khủng hoảng diễn ra ở quốc gia này và chính những

điểm yếu trong nền kinh tế đó đợc bộc lộ ra nh những lỗ hổng lớn đã “khoétrỗng” nền kinh tế Cụ thể: tăng trởng kinh tế của Inđônêxia liên tục giảm sút

từ (- 7,89%) trong 6 tháng đầu năm 1998 và (- 12,23%) vào 6 tháng cuối nămnày Lạm phát tăng từ 46,55% (6 tháng đầu năm 1998) đến 83,2% (6 thángcuối năm 1998) Nếu so với năm 1997, trớc khi xảy ra khủng hoảng, mức lạmphát của Inđônêxia là 6,6% Do lạm phát phi mã, giá cả các mặt hàng thiếtyếu tăng cao đã tác động mạnh đến đời sống của hơn 200 triệu dân, cộng vớinạn cháy rừng và hạn hán đã làm cho 15 triệu dân thiếu lơng thực trầm trọng.Trên 80% số công ty, xí nghiệp trong nớc bị phá sản dẫn đến việc 12 triệu ng-

ời (chiếm 22% lực lợng lao động) bị thất nghiệp [45, tr 187] Dự trữngoại tệ của Inđônêxia năm 1998 đạt ở mức thấp nhất (khoảng 14 tỷ USD) so

Trang 34

với (58 tỷ USD năm 1997) Mức nợ nớc ngoài đợc xác định là 133,67 tỷ USD(thực tế là khoảng 200 tỷ USD)

Đi kèm với khủng hoảng kinh tế, hệ thống chính trị của Inđônêxia cũngrạn nứt nghiêm trọng Trong nội các chính phủ Suharto nảy sinh nhiều mâuthuẫn và có xu hớng chia rẽ Nguyên nhân chính là chế độ "Trật tự mới" với

đặc trng là tham nhũng, móc ngoặc và gia đình trị đã gây bất bình trong xãhội Lực lợng quân đội vốn là trụ cột của chính phủ Suharto đã quay lng lạivới tổng thống Các đảng phái chính trị đối lập đã khuấy động quần chúngnhân dân biểu tình chống chính phủ, đòi tổng thống từ chức Kết quả là Tổngthống Suharto từng đợc mệnh danh là "cha đẻ" của sự phát triển kinh tế củaInđônêxia buộc phải từ chức, nhờng quyền cho Phó tổng thống Habibie lênthay, chấm dứt 32 năm trị vì đất nớc

Những biến động kinh tế - xã hội đó đã tác động mạnh mẽ đến đời sốngkinh tế, chính trị và xã hội của Inđônêxia Ngời ta vẫn gọi đây là thời kỳ "đentối" của đất nớc này trong suốt 3 thập kỷ phát triển thần kỳ Chính từ cuộckhủng hoảng trầm trọng đó ngời ta đã nghi ngờ về một sự phát triển bề ngoài

nh "bọt bóng xà phòng", thiếu bền vững và không có nền tảng vững chắc củanền kinh tế Inđônêxia

Một khi lòng tin bị mất đi thì việc lấy lại và gây dựng nó lại là vấn đềrất lớn đối với mỗi quốc gia, dân tộc và nó lại càng khó khăn hơn đối vớiInđônêxia lúc này Ngay cả những ngời lạc quan nhất cũng phải nhìn nhận lạicái gọi là "phát triển thần kỳ" ấy, từ đó họ nhìn nhận lại khái niệm thế nào làphát triển, muốn phát triển phải đảm bảo tính bền vững của nó để rồi khikhủng hoảng có xảy ra thì cũng không bị bất ngờ và bị cuốn theo nó để rồi trởthành "tâm bão" Do trong suốt một thời gian dài Inđônêxia sống trong lớp

"véc ni" bóng nhoáng của sự phát triển kinh tế nhng bên trong nó đã bị mốimọt khoét rỗng chỉ chờ một cú hích là sụp đổ ngay mà không kịp trở tayphòng vệ

Do đó, vấn đề đặt ra cho chính phủ cũng nh giới cầm quyền Inđônêxialúc này là phải có một quyết sách thật hợp lý vừa phát triển kinh tế, vừa đảmbảo ổn định chính trị xã hội, làm yên lòng quần chúng nhân dân đang hoangmang, mất lòng tin vào chính phủ Đó là bài toán đặt ra cho những nhà cầmquyền của Inđônêxia sau này

Chơng 2.

Trang 35

Tình hình kinh tế - xã hội Inđônêxia mời năm sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ ( 1997 - 2007)

2.1 Những biện pháp khắc phục khủng hoảng và kết quả

đạt đợc

2.1.1 Trong kinh tế

Ngay từ khi cuộc khủng hoảng tiền tệ mới nổ ra, chính phủ Inđônêxia

đã có những hành động “sửa sai” cấp bách cũng nh đề ra những kế hoạch dàihơi nhằm khôi phục kinh tế đất nớc

Trớc hết, nhằm chống lại lực lợng đầu cơ tiền tệ, biên độ tỷ giá đã đợcnới rộng vào tháng 7/1997 (từ 5% lên 12%), sau đó trớc sức ép mạnh mẽ lên

đồng IDR do ảnh hởng từ việc thả nổi đồng Baht Thái Lan và Pêsô Philippin,chính phủ Inđônêxia đã quyết định thả nổi đồng IDR vào ngày 14/8/1997.Biện pháp đó đã đợc hỗ trợ bằng việc thắt chặt hơn nữa các điều kiện thanhkhoản và tuyên bố của chính phủ rằng khoản bội thu ngân sách sẽ đợc cảithiện bằng cách trì hoãn các dự án cơ sở hạ tầng lớn; xoá bỏ các chơng trìnhphát triển ít u tiên hơn và mở rộng diện nộp thuế tiêu thụ đặc biệt Bên cạnh

đó, thuế xuất nhập khẩu đánh vào hơn 150 mặt hàng, chủ yếu là các nguyênliệu thô và các hàng hoá trung gian cũng đợc cắt giảm từ trung tuần tháng9/1997; quy định về ngời nớc ngoài chỉ đợc nắm giữ tối đa 49% cổ phần tạicác công ty đăng ký trên thị trờng chứng khoán Jakarta cũng đã đợc bãi bỏ.Tháng 11/1997 chính phủ Inđônêxia cũng đã tuyên bố là sẽ thực hiện thêm 2biện pháp tự do hoá thơng mại bao gồm cả việc xoá bỏ những quy định mangtính độc quyền về nhập khẩu nông sản Tuy nhiên, những hành động này cha

đủ để lấy lại lòng tin đối với IDR cũng nh đối với toàn bộ nền kinh tếInđônêxia

Hai tháng sau khi thả nổi đồng IDR, đến tháng 10/1998 chính phủ củacựu Tổng thống Suharto đã phải tìm tới sự trợ giúp của cộng đồng tài chínhquốc tế, chính xác hơn là của IMF Hai thoả thuận đầu tiên với IMF (IMF I vàIMF II) đã đợc ký kết vào các ngày 31/10/1997 và 15/01/1998 với mục tiêuchính là hỗ trợ cải cách tài chính nhằm khôi phục lại lòng tin đối với nền kinh

tế Inđônêxia Năm nội dung chính trong IMF I và IMF II là:

+ Kể từ năm 1998 xoá bỏ độc quyền nhà nớc trong một số lĩnh vựckinh doanh, đặc biệt trong ba ngành lơng thực, xi măng và gỗ dán

+ Giảm thuế nhập khẩu từ 5 - 10% trong giai đoạn 1998 - 2003

Trang 36

+ Xoá bỏ những u đãi thuế quan đối với ngành sản xuất xe hơi, máybay phản lực dân dụng trong vòng 3 năm tới.

+ Cất giảm chi tiêu của chính phủ: giảm 8% chi ngân sách để duy trìthâm hụt ngân sách ở mức 3,5% GDP

+ Thúc đẩy nhanh quá trình t nhân hóa các doanh nghiệp nhà nớc: công

bố việc không giới hạn số cổ phiếu mà ngời nớc ngoài có thể mua của cáccông ty Inđônêxia [26, tr 296]

ý thức đợc điều đó của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khuvực, cựu Tổng thống Suharto lúc đó đã cho thành lập một số cơ quan mới nhHội đồng chuyên trách cao cấp về kinh tế và tiền tệ hay cơ quan Tái cơ cấungân hàng (IBRA)… để đối phó với khủng hoảng Song, một thực tế rõ ràng làmạng lới lợi ích của dòng họ Suharto và nhóm ngời thân tín đã không chophép ông “chặt đứt ngay” những sợi dây lợi ích theo đúng yêu cầu của IMF.Không thực hiện đúng những cải cách đã cam kết, quan hệ Inđônêxia - IMFcàng trở nên căng thẳng khi ông Suharto bất ngờ tuyên bố kế hoạch Chế độbản vị tiền tệ (CBS) nhằm cố định tỷ giá IDR / USD ở mức 2.500 Kế hoạchCBS bị cộng đồng tài chính quốc tế phản đối mạnh mẽ, IMF đe dọa sẽ xóa bỏ

sự trợ giúp tài chính nếu CBS đợc thực thi, còn theo giới quan sát thì đây chỉ làhành động “hoãn binh” để gia đình Suharto tìm cách bảo toàn tài sản củamình… Giới chuyên gia thì cho rằng CBS không khả thi vì vào thời điểm này(tháng 2/1998), Inđônêxia đang nợ nớc ngoài khoảng 140 tỷ USD, dự trữngoại tệ giảm xuống dới 20 tỷ USD, nếu muốn thực hiện CBS nớc này phảicần thêm 30 -35 tỷ USD dự trữ nữa… Số tiền này kiếm đâu ra ngay đợc? Nhvậy, việc đình hoãn kế hoạch cải cách đã dẫn tới nguy cơ kế hoạch cứu trợquốc tế do IMF khởi xớng bị sụp đổ

Lúc này (3/1998), tình hình xã hội thêm căng thẳng với nhiều vụ cớpbóc, bạo loạn xảy ra Ngời dân và giới doanh nghiệp càng hoang mang, mấtniềm tin khi Tổng thống, IMF, các cố vấn về kinh tế và giới ngoại giao quốc

tế phải mất tới 6 tuần để “thỏa hiệp” về vấn đề CBS, nền kinh tế Inđônêxia đã

bị “thả nổi” trong khoảng thời gian này Ông Suharto đã “đổ thêm dầu vàolửa” khi tuyên bố chơng trình của IMF thất bại trong việc ổn định tỷ giá IDR/ USD và phát biểu rằng một số phần trong chơng trình của IMF trái với một

số điều trong Hiến pháp của Inđônêxia, trớc tình hình đó IMF cũng ra tuyên

bố ngừng giải ngân khoản cứu trợ đợt II trị giá 3 tỷ USD dự kiến vào ngày

Trang 37

15/3/1998 (khoản cứu trợ 3 tỷ USD đợt I đợc cung cấp hồi tháng 11/1997) Sự

“quay lng” của cộng đồng tài chính quốc tế đã đẩy nền kinh tế Inđônêxia tới

đình trệ GDP giảm tới hơn 7,8% trong quý I/1998, nợ nớc ngoài tiếp tục tăngvì IDR tiếp tục “tụt dốc”; ngoại thơng đình trệ, mạng lới phân phối sụp đổ đã

đẩy ngời dân thờng từ chỗ no đủ tới chỗ thiếu đói và bệnh tật… Sự cùng cựccủa ngời dân đã dẫn tới sự phản kháng, và kết quả là ông Suharto đã phải từchức vào ngày 21/5/1998, để lại cho ngời kế nhiệm, ông Habibie, một cuộckhủng hoảng “kép” không hề có dấu hiệu kết thúc

Ông Habibie có quan hệ khăng khít với dòng họ Suharto nên ông đãkhông tạo đợc niềm tin với ngời dân và bị coi là “cái bóng” của Suharto Đểthoát khỏi định kiến này, vị tân tổng thống đã có nhiều hành động để chứng tỏbản thân và chính phủ mới do ông đứng đầu thực sự là những nhà cải cách,

đồng thời khôi phục lại lòng tin của cộng đồng tài chính quốc tế

Ngay sau khi nhậm chức vào ngày 21/5/1998, Tổng thống Habibie đãtuyên bố tiếp tục công cuộc cải cách toàn diện phù hợp với ý nguyện của dânchúng và các tổ chức quốc tế, nhất là IMF Ngày 24/6/1998, chính phủ của

ông đã đạt đợc thỏa thuận thứ IV với IMF (IMF IV) IMF IV đặt u tiên vàoviệc tăng cờng mạng lới an ninh xã hội và nhanh chóng khôi phục lại khu vựcngân hàng Nội dung chính của IMF IV gồm:

+ ổn định tỷ giá ở mức 10.000 IDR / USD vào cuối năm 1998 (IMF III

là 6000 IDR / USD)

+ Giới hạn thâm hụt ngân sách ở mức 8,5% GDP; với chi phí cho mạnglới an ninh xã hội chiếm 7,5% GDP Cho phép duy trì chế độ trợ giá, xúc tiếncác chơng trình tạo việc làm để khắc phục tác động của cuộc khủng hoảng tớitầng lớp nghèo Khoản thâm hụt ngân sách khoảng 4 - 5 tỷ USD sẽ đợc bù đắpphần lớn bởi vay nợ nớc ngoài

+ Tăng cờng việc quản lý tiền tệ, BI sẽ chuyển từ cơ quan quản lý việcphát hành chứng khoán nợ chính phủ (SBIs) sang cơ quan hoạt động giống nhmột hệ thống đấu giá, điều này là để hình thành cơ chế lãi suất đ ợc định theogiá thị trờng

+ Cam kết không phát hành thêm tiền và mở rộng tín dụng để hạn chếlạm phát ở mức 66% trong năm tài chính 1998- 1999 và khoảng 80% trongnăm 1998

Trang 38

+ BI sẽ thiết lập một chơng trình bảo lãnh xuất khẩu với quỹ khoảng 0,5

tỷ USD nhằm hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu

+ Các biện pháp chính sách về cơ cấu vẫn đợc duy trì, các tập đoàn nhànớc là Pertamina (xăng dầu), PLN (điện) và Bulog phải đợc kiểm toán bởi cáccông ty kiểm toán tài chính đạt tiêu chuẩn quốc tế

Tiếp theo việc ký kết IMF IV, cả ADB và WB đã tuyên bố nối lại cáckhoản vay lớn cho Inđônêxia Ngày 26/6/1998, ADB tuyên bố cho vay 1,5 tỷUSD, giải ngân làm 3 đợt trong năm 1998 - 1999, để khắc phục sự yếu kémcủa khu vực tài chính cũng nh của nền kinh tế Ngày 02/7/1998, WB cũngtuyên bố cho vay 1 tỷ USD đợc giải ngân ngay Ngày 15/7/1998, IMF cũngthông qua việc cung cấp ngay cho Inđônêxia 1tỷ USD… Những động thái nàycho thấy những hành động mạnh dạn của ông Habibie đã đợc cộng đồng tàichính quốc tế ghi nhận Sau gần 2 tháng lên nắm quyền, ông Habibie đã lấylại đợc niềm tin của các tổ chức tài chính quốc tế, điều kiện tiên quyết củaInđônêxia nhanh chóng ổn định và khôi phục kinh tế

Về phần mình, ông Habibie cũng đã cố gắng đa ra một số biện phápnhằm cải thiện tình hình kinh tế - tài chính trong nửa cuối năm 1998, khungchính sách của chính phủ Habibie gồm:

+ Duy trì họat động của IBRA: Để đẩy nhanh chơng trình hồi phụckinh tế BI đã quyết định gia hạn các khoản tín dụng trị giá tới 10,8 nghìn tỷIDR (1,46 tỷ USD) cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hợp tác xã Đểphục hồi khu vực ngân hàng yếu kém và kiệt quệ, IBRA đã tái cấp vốn chokhoảng 70 trong 160 ngân hàng thơng mại quốc gia, với chi phí là 257,2 nghìn

tỷ IDR (34,3 tỷ USD)

+ Thành lập Cơ quan tái cơ cấu nợ Inđônêxia (INDRA): Cơ quan này

đ-ợc thành lập theo nghị định số 95 (02/7/1998) của Tổng thống, có trách nhiệm

“khắc phục ảnh hởng” của khoản nợ nớc ngoài thuộc khu vực t nhân đối vớinền kinh tế Đặc điểm nổi bật trong phơng thức xử lý nợ nớc ngoài của khuvực t nhân sang nợ dài hạn với kỳ hạn ngắn nhất là 8 năm…

+ Ban hành Luật phá sản mới vào tháng 8/1998 đồng thời thành lập mộttòa án thơng mại đặc biệt: Hiệu lực của bộ luật mới và sự vận hành hiệu quảcủa tòa án thơng mại là yếu tố sống còn đối với vấn đề giải quyết các khoản

nợ trong và ngoài nớc Việc thực thi bộ luật phá sản mới sẽ quyết định niềmtin đối với nền kinh tế Inđônêxia đợc phục hồi nhanh hay chậm

Trang 39

+ Thúc đẩy quá trình t nhân hóa: chính phủ thời cựu Tổng thốngSuharto đã đa ra danh sách 12 công ty nhà nớc (SOEs) sẽ tiến hành t nhân hóa,bao gồm 5 công ty đã yết giá trên Thị trờng chứng khoán (TTCK) Jakarta vàcác TTCK khác Chính phủ của tân Tổng thống Habibie cam kết tiếp tục thúc

đẩy việc t nhân hóa các công ty này và phấn đấu thu về 15.000 tỷ IDR để hỗtrợ cho ngân sách và xử lý nợ Inđônêxia hiện có 164 SOEs, 70% số này thua

lỗ trong năm 1997 Chính phủ Habibie cũng đã lựa chọn 9 ngân hàng hỗ trợcho quá trình t nhân hóa 12 công ty này

+ Tranh thủ và tăng cờng sự hỗ trợ của cộng đồng tài chính quốc tếthông qua IMF và các nhà tài trợ: Sau phiên họp 2 ngày (30 và 31/7/1998) tạiPari, WB và các nhà tài trợ quốc tế đã quyết định cấp tiếp cho Inđônêxia 7,9 tỷUSD nhằm “xoa dịu” phần nào các tác động xã hội cuộc khủng hoảng…

Những biện pháp chính sách trên cho dù hiệu quả đến đâu cũng khôngthể chặn đứng đà trợt dốc của nền kinh tế Inđônêxia trong một sớm một chiều.Trong quý III/1998 GDP giảm tới 17,4% so với cùng kỳ năm ngoái, bạo loạnvẫn xảy ra ở một số vùng, ngời dân vẫn cha thực sự tin tởng vào chính phủmới bởi họ đã bị đẩy xuống đáy của sự nghèo khổ

Để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng, Inđônêxia là một tronghai nớc ở Đông Nam á (Inđônêxia và Thái Lan) phải kêu gọi Quỹ Tiền tệQuốc tế (IMF) trợ giúp Để đổi lại Inđônêxia phải tiến hành cải tổ cơ cấu theocùng giải pháp mà IMF quyết định Theo đó, Inđônêxia phải thực hiện hai ch-

ơng trình cơ bản: Một là, Chơng trình cải cách và phục hồi kinh tế 4 điểm; Hai là, Chơng trình hành động 8 điểm.

Trên cơ sở đó, ngày 15/8/1998, Tổng thống Habibie đã có một bài phátbiểu quan trọng trớc Quốc hội Inđônêxia (MPR), trong đó nhấn mạnh tới cácchơng trình, chính sách cải cách và khôi phục kinh tế của chính phủ:

- Chơng trình cải cách và phục hồi kinh tế 4 điểm:

+ u tiên vực dậy các thể chế tài chính

+ Tìm giải pháp cho vấn đề nợ của khu vực t nhân

+ Tăng cờng tính hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế bằng cáchloại bỏ các hoạt động độc quyền còn tồn tại song song với việc phát triển một

hệ thống khuyến khích, thúc đẩy đổi mới và hiệu quả

Trang 40

+ Thúc đẩy mở cửa và lành mạnh hóa hơn nữa bộ máy chính quyền vàquản lý kinh doanh để loại bỏ tham nhũng, chủ nghĩa móc ngoặc và chế độgia đình trị.

- Chơng trình hành động 8 điểm:

+ Tăng cờng tôn trọng nhân quyền, tăng cờng quyền cơ bản cân bằngvới nghĩa vụ cơ bản của con ngời

+ Tăng cờng chất lợng cuộc sống và tinh thần dân chủ

+ Tăng cờng và phát triển các bộ luật quốc gia

+ Tăng cờng chất lợng và hiệu quả kinh tế làm cơ sở cho việc tăng cờngsức cạnh tranh trên thế giới, từ đó mang lại chất lợng khoa học và công nghệcao hơn

+ Tạo thêm việc làm thông qua các chính sách kinh tế

+ Tăng cờng tính chuyên nghiệp thông qua đào tạo trực tiếp, đợc hỗ trợbởi việc mở rộng chức năng của cơ sở đào tạo, các tổ chức chuyên nghiệp

+ Phát triển và cải thiện cơ sở hạ tầng vi mô

+ Tạo cơ sở bình đẳng trong kinh doanh

Tiếp đó, Tổng thống Habibie đã tiến hành cải tổ nội các để thu hút nhântài của đất nớc vào chính phủ của ông Nội các mới bao gồm những nhà kinh

tế giỏi đợc giữ lại của nội các cũ và đa vào một số nhân vật mới ÔngBambang Subianto, một chuyên viên nổi tiếng về sự chính trực, từng giữ chứcTrởng ban cải tổ Ngân hàng, đợc bổ nhiệm làm Bộ trởng tài chính mới Tiếp

đó, Tổng thống Habibie quyết định tách ngân hàng Inđônêxia (BI) ra khỏi cơcấu nội các và trao quyền tự chủ cho Ngân hàng nhằm xây dựng BI thành mộtcơ quan hoạt động độc lập, linh hoạt

Chính phủ cũng đa ra một số chơng trình tái tạo vốn cho các ngân hàng,trong đó nhà nớc sẽ cấp 80% vốn hoạt động cho các ngân hàng có khả năngphát triển, 20% còn lại do các ngân hàng tự đóng góp Bộ tài chính sẽ bán tráiphiếu cho Ngân hàng Trung ơng và chia số tiền thu đợc cho các ngân hàngnằm trong diện tái tạo vốn Các ngân hàng đó sẽ dùng tiền mặt để mua tráiphiếu của BI và đợc hởng lãi suất

Để có cơ sở giúp các ngân hàng còn có khả năng phát triển tái tạo vốn,

Bộ tài chính đã phân chia các ngân hàng ở trong nớc thành 3 loại:

+ Loại A: bao gồm các ngân hàng có tỷ lệ đủ vốn hoạt động trên 4%.+ Loại B: các ngân hàng có vốn hoạt động từ 4% xuống - 25%

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vân Anh (2007), Inđônêxia với vấn đề năng lợng hạt nhân, Tạp chíĐông Nam á, số 7 + 8, tr. 5 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia với vấn đề năng lợng hạt nhân
Tác giả: Vân Anh
Năm: 2007
[14] Nguyễn Văn Hà (1999), Tác động xã hội của khủng hoảng tài chính ở Inđônêxia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động xã hội của khủng hoảng tài chínhở Inđônêxia
Tác giả: Nguyễn Văn Hà
Năm: 1999
[15] Phơng Hà (1998), Inđônêxia cố gắng tạo môi trờng thuận lợi, Báo Nhân dân, ngày 4 tháng 11, tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia cố gắng tạo môi trờng thuận lợi
Tác giả: Phơng Hà
Năm: 1998
[16] Phơng Hà (2000), Nỗ lực vơn dậy của Inđônêxia, Báo Nhân dân, ngày 9 tháng 2, tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗ lực vơn dậy của Inđônêxia
Tác giả: Phơng Hà
Năm: 2000
[17] Mỹ Hạnh (2006), Inđônêxia: trả hết nợ IMF - "niềm tự hào quốc gia", Báo Điện tử Báo Quân đội Nhân dân, ngày 7 tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: niềm tự hào quốcgia
Tác giả: Mỹ Hạnh
Năm: 2006
[18] Hồng Hạnh (2008), Inđônêxia thiếu hụt ngân sách nặng, Thời báo kinh tế Việt Nam, ngày 27 tháng 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia thiếu hụt ngân sách nặng
Tác giả: Hồng Hạnh
Năm: 2008
[19] Châu Thị Hải (2001), Ngời Hoa ở Inđônêxia với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 1, tr. 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời Hoa ở Inđônêxia với cuộc khủng hoảngtài chính - tiền tệ
Tác giả: Châu Thị Hải
Năm: 2001
[20] Nguyễn Huy Hoàng (2003), Sự kiện 11/ 9 và tác động của nó với liên kết kinh tế ASEAN, Tạp chí Đông Nam á, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kiện 11/ 9 và tác động của nó với liênkết kinh tế ASEAN
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 2003
[21] Đăng Hoà - Ngọc ánh (2006), Quân đội quốc gia Cộng hoà Inđônêxia và tiến trình xoá bỏ hoạt động kinh doanh, Tạp chí Đông Nam á, số1 + 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân đội quốc gia Cộng hoàInđônêxia và tiến trình xoá bỏ hoạt động kinh doanh
Tác giả: Đăng Hoà - Ngọc ánh
Năm: 2006
[22] Lê Thanh Hơng (2002), Xung đột giữa ngời Dayak và Madura ở Tây Kalimantan (Borneo) Inđônêxia, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, sè1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột giữa ngời Dayak và Madura ở TâyKalimantan (Borneo) Inđônêxia
Tác giả: Lê Thanh Hơng
Năm: 2002
[23] Lê Thanh Hơng (2007), Inđônêxia và tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 9, tr. 10 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia và tiến trình xây dựng cộng đồngASEAN
Tác giả: Lê Thanh Hơng
Năm: 2007
[24] Lê Hờng (2008), WB: Lạm phát là vấn đề hàng đầu của Đông á, Thời báo kinh tế Việt Nam, ngày 2 tháng 4, tr 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: WB: Lạm phát là vấn đề hàng đầu của Đông á
Tác giả: Lê Hờng
Năm: 2008
[25] Trần Bá Khoa (2007), Đông á 10 năm sau khủng hoảng tài chính, Báo điện tử Tạp chí Cộng sản, số 23 (143) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông á 10 năm sau khủng hoảng tài chính
Tác giả: Trần Bá Khoa
Năm: 2007
[26] Hoa Hữu Lân (2000), Kinh tế Inđônêxia thực tế và thách thức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Inđônêxia thực tế và thách thức
Tác giả: Hoa Hữu Lân
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2000
[27] Phạm Nguyên Long (1996), Các con đờng phát triển của ASEAN, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đờng phát triển của ASEAN
Tác giả: Phạm Nguyên Long
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
[28] Nguyễn Cảnh Long (2002), Inđônêxia: 3,14 tỷ đô la Mỹ cho năm 2002, Tạp chí Đông Nam á, số 1, tr. 19 – 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia: 3,14 tỷ đô la Mỹ cho năm2002
Tác giả: Nguyễn Cảnh Long
Năm: 2002
[29] Công Minh (2004), Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono: nhà cải cách xuất sắc của Inđônêxia, Tuần báo Quốc tế, ngày 23 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3, tr. 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono: nhà cảicách xuất sắc của Inđônêxia
Tác giả: Công Minh
Năm: 2004
[30] Vũ Minh (2007), Mời năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu á tăng trởng kinh tế bền vững phải dựa vào sức mạnh nội tại, Báo Sài Gòn giải phóng, ngày 22 tháng 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mời năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu átăng trởng kinh tế bền vững phải dựa vào sức mạnh nội tại
Tác giả: Vũ Minh
Năm: 2007
[31] Trần Kinh Nghị (1998), Inđônêxia: tiền tệ và chính trị, Tuần báo Quốc tế, ngày 4 tháng 3 đến ngày 10 tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia: tiền tệ và chính trị
Tác giả: Trần Kinh Nghị
Năm: 1998
[32] Võ Văn Nhung (1962), Lợc sử Inđônêxia, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợc sử Inđônêxia
Tác giả: Võ Văn Nhung
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1962

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Xuất khẩu cao su của Inđônêxia 2000 - 2004 - Tình hình kinh tế   xã hội inđônêxia từ 1997 đến 2007
Bảng 2.1 Xuất khẩu cao su của Inđônêxia 2000 - 2004 (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w