Do đó, Việt Namtăng cờng mối quan hệ hợp tác kinh tế với Xingapo cũng chính là học hỏinhững kinh nghiệm trong chính sách phát triển kinh tế, giúp cho nền kinh tếcủa Việt Nam tăng trởng,
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 3Chúng tôi chân thành cảm ơn Giáo s, Phó Giáo s, Tiến sỹ, trong Hội đồng bảo vệ có những ý kiến quý giá để luận văn thêm hoàn chỉnh.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn.
Vinh, tháng 12/2007
Tác giả
Trịnh Thị Hậu
Trang 4Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Giới hạn của đề tài 7
5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp luận văn 8
7 Bố cục luận văn 9
Nội dung 10
Chơng 1 Những nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ năm 1995 đến năm 2006 10
1.1 Yếu tố truyền thống 10
1.2 Tác động của khu vực và thế giới 17
1.2.1 Tình hình quốc tế 17
1.2.2 Tình hình khu vực Đông Nam á 19
1.3 Mối quan hệ chính trị 21
1.4 Sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam và Xingapo 30
1.4.1 Sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam .30
1.4.2 Sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại của Xingapo .34
Tiểu kết 40
Chơng 2 Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ năm 1995 đến năm 2006 42
2.1 Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ 1995 - 2000 42
2.1.1 Hợp tác về thơng mại 42
2.1.2 Hợp tác về đầu t 54
Mục lục
Trang 52.2 Quan hÖ hîp t¸c kinh tÕ ViÖt Nam - Xingapo tõ 1995 - 2006 60
2.2.1 Hîp t¸c vÒ th¬ng m¹i 60
2.2.2 Hîp t¸c vÒ ®Çu t 64
TiÓu kÕt 72
Ch¬ng 3 Mét sè nhËn xÐt vÒ quan hÖ hîp t¸c kinh tÕ ViÖt Nam -Xingapo 75
3.1 §Æc ®iÓm quan hÖ hîp t¸c kinh tÕ ViÖt Nam - Xingapo tõ 1995 - 2006 75
3.2 Nguyªn nh©n thµnh c«ng, mét sè h¹n chÕ vµ bµi häc kinh nghiÖm .79
3.2.1 Nguyªn nh©n thµnh c«ng 79
3.2.2 H¹n chÕ 82
3.2.3 Bµi häc kinh nghiÖm 86
3.3 TriÓn väng quan hÖ hîp t¸c kinh tÕ ViÖt Nam - Xingapo 88
KÕt luËn 97
Tµi liÖu tham kh¶o 101
Phô lôc 105
Trang 6mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Dới ánh sáng của đờng lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI, nhân dân ta đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoá, xây dựng và phát triển đất nớc theo nền kinh tế thị trờng định hớng xã hộichủ nghĩa, mở rộng quan hệ hợp tác và giao lu kinh tế với tất cả các nớc trongkhu vực và trên thế giới Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay với quá trìnhnhất thể hoá kinh tế khu vực và quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ramạnh mẽ thì việc mở rộng giao lu hợp tác kinh tế với các nớc nhằm phát huytốt nhất những lợi thế so sánh của đất nớc vào quá trình hợp tác và phân cônglao động quốc tế là một vấn đề hết sức cấp thiết
Tuy nhiên, từ một nền kinh tế chậm phát triển với những quan hệ kinh
tế chủ yếu bó hẹp trong phạm vi các nớc thuộc khối xã hội chủ nghĩa trớc đâythì việc đi vào kinh tế thị trờng và tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá để trởthành một nớc có nền kinh tế phát triển sao cho không bị chèn ép và thua thiệt
là điều không dễ Chính vì thế, việc giao lu hợp tác kinh tế với các nớc trongkhu vực và trên thế giới là điều kiện cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế của nớc
ta phát triển
1.2 Xingapo là một nớc có nền kinh tế phát triển nhất khu vực ĐôngNam á và đợc xem là “Con rồng châu á” với thu nhập bình quân đầu ngờicao nhất châu á Xingapo là thành viên của tổ chức ASEAN, có quan hệ kinh
tế với tất cả các nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới Do đó, Việt Namtăng cờng mối quan hệ hợp tác kinh tế với Xingapo cũng chính là học hỏinhững kinh nghiệm trong chính sách phát triển kinh tế, giúp cho nền kinh tếcủa Việt Nam tăng trởng, nhanh chóng đuổi kịp với các nớc lớn trong khu vực
và bắt nhịp cùng với xu hớng phát triển chung của thế giới, nhất là trong điềukiện Việt Nam đã là thành viên của WTO Mặt khác, Xingapo thiết lập quan
hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam nhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế và tăngthêm tình đoàn kết khu vực
1.3 Trớc khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức ASEAN, quan
hệ hợp tác giữa hai nớc đã đợc xác lập và bớc đầu phát triển Thậm chí trớcnăm 1913, khi hai nớc còn đang chịu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân thìquan hệ kinh tế đã đợc thiết lập Sau khi Xingapo giành độc lập, mặc dù giữahai nớc cha thiết lập quan hệ ngoại giao nhng ở Xingapo đã có văn phòng th-
ơng mại của Việt Nam Thông qua Xingapo, Việt Nam có thể bớc đầu tiếpxúc với thế giới t bản Đặc biệt sau khi Việt Nam rút quân tình nguyện khỏi
Trang 7Cămpuchia thì hai nớc hợp tác chặt chẽ cùng nhau giải quyết vấn đềCămpuchia Xingapo là một trong những nớc đầu t sớm nhất vào Việt Nam và
là nớc tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập vào tổ chức khu vực
1.4 Việt Nam và Xingapo đều là thành viên của tổ chức ASEAN,APEC, WTO và có mối quan hệ chính trị phát triển hết sức tốt đẹp Đó chính
là cơ sở để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nớc Nhng có thể nói, từnăm 1995 đến năm 2006, quan hệ kinh tế giữa hai nớc đã đạt đợc nhiều thànhtựu đáng kể Chính vì vậy, chúng tôi đã tìm hiểu mối quan hệ kinh tế giữa ViệtNam và Xingapo trong thời kỳ này nhằm làm rõ những đặc trng cơ bản cũng
nh sự tiến triển của mối quan hệ đó Việc tìm hiểu về quan hệ kinh tế giữaViệt Nam và Xingapo không chỉ nhằm làm rõ những nhân tố tác động tới nó,không chỉ cố gắng khái quát về mối quan hệ của hai nớc, mà còn rút ra một sốbài học lịch sử có tính chất tham khảo Đó là bài học có ý nghĩa lớn đối vớiquá trình phát triển đất nớc Đó chính là lý do chúng tôi chọn vấn đề “Quan hệkinh tế giữa Việt Nam và Xingapo từ năm 1995 đến năm 2006” làm đề tàiluận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo trong khoảng thờigian từ 1995 đến 2006 là vấn đề đã thu hút đợc sự quan tâm của rất nhiều nhà
sử học trong và ngoài nớc Song do khả năng có hạn nên nguồn tài liệu màchúng tôi tiếp cận đợc phần lớn là những công trình viết bằng tiếng Việt, cómột vài tác phẩm viết bằng tiếng Anh đã đợc dịch ra bằng tiếng Việt vànhững bài đăng trên các tạp chí nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình viết về
đề tài này còn ít nên nguồn tài liệu tham khảo của chúng tôi còn cha đợcphong phú
2.2 Trong các công trình của các tác giả nớc ngoài viết bằng tiếng Anh và
đợc dịch ra tiếng Việt chẳng hạn nh Walden Bello và Stephanie Rosenfe (1993)
Mặt trái của những con rồng
“ ”, Nxb Chính trị quốc gia; Jon Woronoff (1986)
Những nền kinh tế thần kỳ ở châu
cho ngời đọc những hiểu biết về sự phát triển nhanh chóng của một số nớc châu
á, trong đó có Xingapo, đồng thời tác phẩm đã cung cấp cho chúng tôi nguồn tliệu quý khi thực hiện đề tài “Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo” Tuynhiên, hạn chế những sự kiện còn cha đợc đánh giá một cách sâu sắc
Trang 8Giới sử học Việt Nam cũng có những chuyên gia hàng đầu có uy tín vềlịch sử quan hệ quốc tế, quan hệ khu vực, quan hệ giữa các nớc với nhau Riêngquan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo cũng có nhiều nhà sử học quan tâm.Thế nhng cha có một tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề này, màhầu hết chỉ đề cập một phần nhỏ nội dung vấn đề chúng tôi quan tâm, chẳng
hạn nh: Lê Thị Mỹ Hà, Nguyễn văn Tiến (2000) Singapore đối tác kinh tế“
lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN”, Trờng Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Xuân Sơn, Thái Văn Long (1997) Quan“
hệ đối ngoại của các nớc ASEAN”, Nxb Chính trị quốc gia; Hồ Thị Minh
Trâm (2000), Một số giải pháp nhằm thức đẩy quan hệ hợp tác th“ ơng mại giữa Việt Nam - ASEAN”, Trờng Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, TP.
Hồ Chí Minh; Lý Khánh Dơng (2001), Tìm hiểu tình hình kinh tế Xingapo“
từ 1973 - 1997”, Luận văn Thạc sĩ Sử học - Đại học S phạm Huế; N.H
(Tháng 9/2006), Quan hệ Việt Nam - Singapore“ ”, Thời báo kinh tế thế giới
Việt Nam; Phạm Hùng Nghị (2006), Việt Nam - Singapore hợp tác phát“
triển”, Thời báo kinh tế Việt Nam; Phó Tiến sỹ Đỗ Nh Khuê, Nguyễn Thị
Loan (1997), Quan hệ kinh tế th“ ơng mại Việt Nam - ASEAN”, Nxb Thống
kê, Hà Nội; Vũ Dơng Ninh (tháng 4/2005), Việt Nam - ASEAN 10 năm“
đồng hành trên chặng đờng hội nhập quốc tế (1995-2005)”, Viện Nghiên
cứu Đông Nam á, số 3 Những tác phẩm này tuy không trình bày một cáchtoàn diện về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo nhng đã cung cấpcho chúng tôi nguồn t liệu quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài
Bên cạnh đó trên các tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, tạp chí Nghiêncứu kinh tế thế giới đã xuất hiện những bài viết có nội dung liên quan đếnquan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo nh: Trần Thị Vinh (1999), Quan“
hệ Việt Nam - Singapore (1991 - 1998)”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á số
6 (39); Phạm Thị Ngọc Thu (2005), Chiến l“ ợc phát triển kinh tế dựa trên tri thức và chính sách thu hút nhân tài của Singapore vào những năm đầu thế kỷ XXI , ” tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á; Phạm Thị Ngọc Thu (2006), Bí quyết“
hoá rồng của Singapore ,” Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á số 3 (40); Thông
tấn xã Việt Nam, Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam -“
Xingapo”, ngày 6/3/2004, tr 20; Thông tấn xã Việt Nam, Thúc đẩy quan“
hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Xingapo”, ngày 7/3/2004 tr 3; Trần Thị
Vinh (1999), Quan hệ Việt Nam - Singapore (1991 - 1998)“ ”, Tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam á số (6), tr.32-40; Trần Thị Vinh, Quan hệ Việt“
Trang 9Nam - Xingapo”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á số 6, năm 1999, tr
33-35; N.H (Tháng 9/2006), Quan hệ Việt Nam - Singapore“ ”, Thời báo kinh
tế thế giới Việt Nam; Hoàng Khắc Nam (2001), Quan hệ Việt Nam -“
ASEAN từ song phơng tới đa phơng”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số
3, tr 5; Việt Nam hấp dẫn trong mắt giới đầu t“ Xingapo” The Straitstime,
Thời báo Kinh tế thế giới, 11/2006; Tuy nhiên, những bài báo đăng trên tạpchí cha nghiên cứu một cách toàn diện về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam vàXingapo mà chỉ đề cập một cách chung nhất những vấn đề có liên quan đến đềtài mà chúng tôi thực hiện
2.3 Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên cha nghiên cứu mộtcách toàn diện quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo Các côngtrình nghiên cứu chỉ đề cập một số vấn đề có liên quan đến quan hệ hợp táckinh tế giữa hai nớc Việt Nam - Xingapo Vì vậy, trong việc lựa chọn, xử lý tliệu theo nội dung khoa học mà đề tài đòi hỏi, chúng tôi gặp không ít khókhăn Tuy nhiên, luận văn một mặt kế thừa thành tựu của các nhà nghiên cứutrớc để hệ thống hoá lại những nét chính trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam
và Xingapo, đồng thời cố gắng tìm hiểu sâu thêm một khía cạnh trong phạm vinăng lực cho phép
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hớng đến làm rõ một số vấn đề sau
- Tác giả luận văn tập trung trình bày có hệ thống các vấn đề cơ bản vềquan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ năm 1995 - 2006 Đây là mốiquan hệ tốt đẹp giữa hai nớc trong khu vực Đông Nam á Thực tế cho thấyquan hệ này đã, đang và sẽ là nhân tố quan trọng tác động tới sự phát triển củamỗi nớc Vì vậy khi nghiên cứu mối quan hệ này chúng tôi thấy đợc nhữngtiến triển của mỗi nớc trong xu thế phát triển chung của thế giới
- Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ năm 1995 - 2006 làmối quan hệ phát triển đợc kế thừa từ những giai đoạn trớc Nó thể hiện sựhợp tác, hữu nghị vì mục tiêu cùng xây dựng một nền kinh tế ổn định cùngphát triển lâu dài Vì thế, qua đề tài này giúp chúng tôi thấy đợc những đónggóp thiết thực của quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo trong sự pháttriển chung của khu vực Đông Nam á cũng nh toàn khu vực châu á - TháiBình Dơng
Trang 10- Nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ năm 1995
- 2006 cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ hai nớc trong lịch
sử một cách liên tục không gián đoạn Từ đó, chúng ta có những chính sáchphù hợp để thúc đẩy mối quan hệ này ngày càng tiến triển hơn
3.2 Nhiệm vụ
Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo là một trong những yếu tốquan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam cũng nh củaXingapo Do vậy, nghiên cứu mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -Xingapo trong suốt chiều dài lịch sử nói chung, trong giai đoạn từ 1995 - 2006
là nhiệm vụ mang tính khoa học Đồng thời, qua mối quan hệ này giúp chúngtôi hiểu rõ về sự phát triển kinh tế của Việt Nam và Xingapo Trên cơ sở đóchúng tôi cố gắng giải quyết những vấn đề sau:
Làm rõ những nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác Việt Nam Xingapo trên lĩnh vực kinh tế trong giai đoạn từ năm 1995 - 2006, từ đó rút ranhững nhận xét từ mối quan hệ này
Hệ thống hóa những nội dung chủ yếu trong quan hệ hợp tác kinh tếViệt Nam - Xingapo trong giai đoạn 1995-2006, trong đó chủ yếu là lĩnh vựcthơng mại và đầu t Đồng thời cũng nêu lên những thành tựu đã đạt đợc trongmối quan hệ đó
- Mặt khác, luận văn cố gắng làm rõ vai trò trong quá trình phát triểnnền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong quá trình thực hiện đờng lối đổi mới củanớc ta trong giai đoạn hiện nay
- Từ thực tế quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo, chúng tôi cốgắng rút ra dặc trng cơ bản, nguyên nhân thành công, những mặt hạn chế, một
số bài học và những triển vọng trong quan hệ hai nớc, bớc đầu phác thảo một
số giải pháp góp phần tăng cờng sự hợp tác giữa hai nớc Việt Nam - Xingapocũng nh trong quan hệ Việt Nam với các nớc ASEAN và khu vực châu á
4 Giới hạn của đề tài
Đề tài “Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ 1995 đến 2006”
đợc giới hạn bởi hai mặt sau:
4.1 Về thời gian
Thời gian nghiên cứu của luận văn đợc giới hạn bởi mốc mở đầu là năm
1995 Tháng 2/ 1995, Bộ trởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm và làmviệc tại Xingapo Hai bên đã khẳng định tăng cờng sự hợp tác song phơng
Trang 11trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế - thơng mại Sự kiện này đánh dấu bớckhởi đầu cho giai đoạn mới trong quan hệ Việt Nam - Xingapo Tháng 4/1992,
Bộ trởng cao cấp Lý Quang Diệu thăm và làm việc tại Việt Nam Trongchuyến thăm này ông Lý Quang Diệu đã làm việc với các nhà lãnh đạo ViệtNam về sự phát triển của các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác Còn mốc năm
2006, Hội nghị APEC diễn ra tại Việt Nam Thủ tớng Lý Hiển Long sangthăm chính thức Việt Nam và tham dự hội nghị lãnh đạo các nền kinh tếAPEC
4.2 Về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam Xingapo từ năm 1995 đến 2006 Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, chúngtôi cũng so sánh quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nớc khác.Trong luận văn này, chúng tôi đã trình bày những nhân tố tác động đến quátrình hợp tác kinh tế của hai nớc qua từng thời kỳ Đồng thời, chúng tôi rút ranhững nhận xét, nêu lên những triển vọng của mối quan hệ này
-5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn t liệu
Luận văn đợc tiến hành chủ yếu trên cơ sở nguồn t liệu tại Viện Nghiêncứu Đông Nam á, Bộ Ngoại giao, Viện Kinh tế chính trị thế giới, Đại sứ quánXingapo
Ngoài ra luận văn còn tham khảo nhiều sách, báo, tài liệu tham khảo,luận văn Thạc sỹ ngành Lịch sử,
Đó là những nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp cận đợc, song điều bănkhoăn là chúng tôi cha tiếp cận đợc một số nguồn tài liệu gốc, tài liệu cha đợccông bố về quan hệ hợp tác kinh tế của hai nớc từ phía Xingapo tới Việt Nam
Đó chính là khó khăn làm hạn chế đến chất lợng của luận văn
5.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra, về mặt phơng pháp luận,chúng tôi dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vậtlịch sử Bên cạnh đó, chúng tôi cố gắng tiếp cận những quan điểm mới nhất.Những quan điểm ấy chính là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý các nguồn tàiliệu và tiếp cận với quan điểm của các học giả nớc ngoài
Còn về mặt phơng pháp luận, do đặc trng của khoa học lịch sử nên
ph-ơng pháp lịch sử đợc đặc biệt coi trọng, phải dựa trên cơ sở những tài liệu lịch
Trang 12sử, những sự kiện lịch sử có thật để phân tích, xử lý, hệ thống, khái quát vấn
đề Nói một cách khác là sử dụng kết hợp hai phơng pháp: phơng pháp lịch sử
và phơng pháp logic Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp đối chiếu sosánh và phơng pháp liên ngành để giải quyết các vần đề do đề tài đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Theo suy nghĩ chủ quan của bản thân chúng tôi, khoá luận này có thể
có những đóng góp sau:
6.1 Đây là công trình tập trung tìm hiểu quan hệ kinh tế giữa Việt Nam
và Xingapo từ 1995 đến 2006 Luận văn đã hệ thống hoá và dựng lại bức tranhtổng thể về mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo một cách kháiquát và trung thực, giúp ngời đọc hiểu đợc tơng đối rõ ràng về vấn đề quan hệkinh tế giữa Việt Nam và Xingapo là phù hợp với xu thế của thời đại, đó làgiao lu, học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển
6.2 Không chỉ dừng lại ở việc mô tả phôi phục lại lịch sử, luận văn cònrút ra những đặc điểm về quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo Đồngthời nêu lên những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam -Xingapo từ 1995 đến 2006
6.3 Nội dung quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo từ năm 1995
đến 2006 là phần chủ yếu của luận văn Thông qua nội dung đó, luận văn phầnnào làm rõ đóng góp của quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo đối với
sự phát triển mọi mặt của mỗi nớc Đồng thời, luận văn đã rút ra những bàihọc, những kinh nghiệm từ mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo làhành trang để chúng ta xây dựng đất nớc, hội nhập với sự phát triển chung củathế giới
6.4 Cuối cùng, nội dung và t liệu của luận văn có thể sử dụng làm tàiliệu tham khảo, phục vụ cho việc giảng dạy, biên soạn bài giảng và là nguồn tliệu quan trọng về lịch sử quan hệ của hai nớc trên lĩnh vực kinh tế
Trang 13Chơng 3 Một số nhận xét về quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam
-Xingapo từ năm 1995 đến năm 2006
Trang 14Nội dungChơng 1 Những nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác kinh tế
Việt Nam - Xingapo từ năm 1995 đến năm 2006
1.1 Yếu tố truyền thống
Năm 1957, Xingapo đợc Anh trao trả độc lập Đứng trớc những khókhăn to lớn về kinh tế, Xingapo tìm cách thoát khỏi đói nghèo, nhng đất canhtác quá ít ỏi, dân số tăng nhanh, nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng Năm
1963, Xingapo chọn giải pháp tự nguyện gia nhập Liên bang Malaixia, hyvọng tìm kiếm thêm thị trờng nội địa để phát triển Từ năm 1963 đến năm
1965, sau hai năm gia nhập Liên bang nền kinh tế Xingapo phát triển không
nh tính toán ban đầu của các nhà cầm quyền ở Xingapo, thêm vào đó là sựxuất hiện những mâu thuẫn quyền lợi giữa t sản ngời Hoa và t sản ngờiMalaixia Trớc tình hình đó, nhà cầm quyền Xingapo quyết định chuyển hớngchiến lợc tách ra khỏi Liên bang Malaixia vào năm 1965
Từ năm 1965 trở đi Xingapo bớc sang một giai đoạn phát triển mới vớichiến lợc kinh tế hớng ngoại Chính phủ Xingapo lập kế hoạch đa toàn bộ cáchoạt động kinh tế của mình hoà nhập vào hệ thống kinh tế thế giới Sự chuyển h-ớng của Xingapo diễn ra trong điều kiện quốc tế thuận lợi Lúc này các nớc t bảnphát triển đang ở trong giai đoạn d thừa vốn, đặt ra nhu cầu quốc tế hoá sản xuất,tạo điều kiện cho các nớc đang phát triển dễ dàng thu hút vốn đầu t Thêm vào
đó, Xingapo lại có một vị trí chiến lợc quan trọng về địa chính trị, quân sự vàkinh tế Chính điều này đã góp phần làm Xingapo trở thành một địa bàn hấp
dẫn thu hút nguồn vốn đầu t nhất trong khu vực [30;40].
Là hai nớc cùng nằm trên con đờng giao thơng buôn bán của khu vực
Đông Nam á và châu á - Thái Bình Dơng, Việt Nam và Xingapo đã có quan
hệ từ lâu đời Tuy nhiên, dới tác động của những nhân tố lịch sử, chính trị bêntrong và bên ngoài khu vực, quan hệ giữa hai nớc đã trải qua những thăngtrầm đầy biến động
Đầu thế kỷ XX, trên hành trình ra đi tìm đờng cứu nớc, Chủ tịch HồChí Minh (lúc đó là Nguyễn Tất Thành) đã ghé qua cảng Xingapo ngày 8- 6-
1911 Gần 20 năm sau, tháng 4-1930, Ngời trở lại Xingapo lần thứ hai trêncon đờng hoạt động cách mạng của mình Có thể coi đó là một trong những sự
Trang 15kiện của sự giao lu giữa hai nớc vào đầu thế kỷ XX, khi mà cả hai nớc đều làthuộc địa của chủ nghĩa thực dân.
Năm 1913, khi Xingapo đang là thuộc địa của Anh, tại đây đã đặt vănphòng đại diện thơng mại của Liên bang Đông Dơng thuộc Pháp Thị trờngcủa Xingapo là một thị trờng mở, vì thế mối quan hệ kinh tế của Xingapokhông chỉ bó hẹp trong khuôn khổ riêng mình khu vực mà Xingapo còn cóquan hệ kinh tế với các nớc ngoài khu vực nh Mỹ, Anh, Nhật Bản Vì thế,Việt Nam thiết lập quan hệ kinh tế với Xingapo có nghĩa là bớc đầu đến vớigiới t bản, hớng nền kinh tế của mình ra bên ngoài, nhanh chóng phát triển đấtnớc để thoát khỏi sự áp bức của thực dân
Trớc thời kỳ chống Mỹ, quan hệ Việt Nam và Xingapo cũng có nhữngbớc tiến, các văn phòng đại diện thơng mại của Miền Bắc, Miền Nam ViệtNam và Xingapo đợc mở rộng Đó chính là điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tếgiữa hai nớc
Ngày 9-8-1965, Xingapo tách khỏi Liên bang Malaixia trở thành mộtnớc cộng hoà độc lập Chính phủ ngụy quyền Sài Gòn là một trong mời nớc
đầu tiên công nhận Xingapo và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức Tronglúc có quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn, Xingapo vẫn duy trì quan
hệ thơng mại với Việt Nam dân chủ cộng hoà Bởi vì theo các nhà lãnh đạoXingapo thì “các nớc dù bất đồng về chính trị với Xingapo cũng có thể trởthành đối tác kinh tế, thơng mại của Xingapo” Điều đó cho thấy “chủ nghĩathực dụng”(pragmatism) và tính linh hoạt (flexibility) của Chính phủ Xingapotrong việc điều chỉnh các mối quan hệ với nớc ngoài
Bảng 1: Các con số trao đổi thơng mại của Xingapo với miền Bắc Việt Nam
(Việt Nam dân chủ cộng hoà) và miền Nam Việt Nam (Chính quyền nguỵ SàiGòn) 1965-1975 (triệu đô la Xingapo)
N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu Miến Bắc Việt Nam 4,59 8,57 4,49 5,69 4,43 3,76 4,21 3,77 Miền Nam Việt Nam 8,62 112,05 3,74 256,44 1,96 305,14 1.62 350,24 Tổng cộng trong năm 3.807,2 3.004,1 4.065,69 3.373,63 4.379,01 3.489,5 5.489,5 3.890,6
Trang 16N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu Miến Bắc Việt Nam 9,05 2,77 10,15 2,05 7,86 1,92 3,8 16,5 Miền Nam Việt Nam 1,16 447,5 7,08 336,61 6,20 392,66 29,3 511,8 Tổng cộng trong năm 6.243,59 4.740,68 7.533,84 4.755,76 8.654,96 5.371,25 20.405,0 14.105,6
N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu
Miến Bắc Việt Nam 3,67 6,56 3,8 16,5 2,2 4,6 Miền Nam Việt Nam 22,36 292,98 29,3 511,8 17,7 182,4 Tổng cộng trong năm 12.512,9 8.906,77 20.405,0 14.105,60 19.207,40 12.757,90
Ghi chú: Tất cả con số trên đều tính bằng triệu đô la Xingapo, trừ năm 1965 tính bằng triệu Ringhít Malaixia.
ở Việt Nam Đồng thời để tỏ rõ thiện chí với Việt Nam dân chủ cộng hoà,tháng 7-1971, Chính phủ Xingapo đã đồng ý để Việt Nam thiết lập cơ quan
đại diện các tổng công ty xuất nhập khẩu tại Xingapo Bên cạnh đó, Xingapobắt đầu thăm dò khả năng phát triển quan hệ với Việt Nam cả về kinh tế, th-
ơng mại và ngoại giao Về phần mình, Việt Nam xúc tiến việc thành lập cơquan đại diện các tổng công ty xuất nhập khẩu Việt Nam ở Xingapo
Trang 17Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Xingapo trớc năm 1973 có thể thấy rằng,
do tác động của sự đối đầu căng thẳng trong quan hệ quốc tế cũng nh quan hệkhu vực, do việc Xingapo cũng nh một số nớc ASEAN có dính líu vào cuộcchiến tranh của Mỹ chống nhân dân Việt Nam, nên quan hệ kinh tế Việt Nam
- Xingapo còn bị hạn chế Tuy nhiên, quan hệ thơng mại hai chiều vẫn đợcduy trì trớc những nhu cầu phát triển của hai nền kinh tế dù rằng số lợng trao
đổi mậu dịch còn rất nhỏ Về phía Việt Nam, trong quan hệ với các nớcASEAN, Việt Nam có những chính sách đối ngoại với từng nớc khác nhaunhằm tranh thủ có mức độ các nớc ASEAN, chống lại những hành động ủng
hộ Mỹ của một số nớc, trong đó có Xingapo
Ngày 1-8-1973, Việt Nam và Xingapo chính thức thiết lập quan hệngoại giao, đồng thời quan hệ hợp tác kinh tế cũng đợc mở rộng.Từ năm 1973
đến 1978, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chuyến thăm chính thức Xingapo.Trong những chuyến thăm đó, hai bên đã bày tỏ mối quan hệ về chung sốnghoà bình giữa hai nớc Việt Nam đã cử một số đoàn cấp thấp triển khai cáchoạt động hợp tác cụ thể và đón các đoàn kinh doanh, thơng mại Xingapo vàoViệt Nam.Từ đó trao đổi thơng mại giữa Việt Nam và Xingapo đã tăng lên
nhanh chóng [48;330].
Bảng 2: Các con số trao đổi thơng mại của Xingapo với Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam 1976-1994 (triệu đô la Xingapo)
Năm 1976 1977 1978 1979
N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu N khẩu X khẩu CHXHCN Việt Nam 62,7 39,1 47,4 39,1 32,6 91,6 39,6 109,5 Tổng cộng trong năm 22.404,5 16.265,9 25521,9 20.090,3 29.601,3 22.985,5 38.334,4 38.940,1
Trang 18Có thể nói, quan hệ thơng mại hai chiều giữa Việt Nam - Xingapo từ
đầu thập kỷ 70 tơng đối phát triển Ngay từ trớc khi hai nớc có quan hệ ngoạigiao chính thức, Việt Nam đã thành lập cơ quan đại diện các tổng công ty xuấtnhập khẩu Việt Nam ở Xingapo để điều hành các hoạt động thơng mại Khixảy ra vấn đề Campuchia, quan hệ chính trị giữa hai nớc bị chững lại, Xingapoban hành lệnh cấm vận đầu t vào Việt Nam Tuy vậy, quan hệ thơng mại giữahai nớc vẫn tiếp tục đợc duy trì trong suốt thời kỳ “băng giá” trong quan hệchính trị giữa hai nớc Vào những năm cuối thập kỷ 80, kim ngạch hàng xuấtkhẩu giữa hai nớc giữa hai nớc tăng lên đáng kể Việt Nam xuất khẩu sangXingapo trên hai mơi mặt hàng khác nhau, trong đó dầu thô là mặt hàng đứng
đầu, kế đó là các mặt hàng nông, lâm, hải sản Tổng kim ngạch hàng hoá củaViệt Nam trao đổi với Xingapo trong chín tháng đầu năm 1988 là 113.027.644USD, lớn gấp hai lần so với tổng kim ngạch hàng nhập khẩu từ Xingapo là
51.001,278 USD [36;43].
Sau khi hai nớc bình thờng hoá quan hệ (10-1991), Xingapo nhanhchóng đầu t và mở rộng quan hệ buôn bán với Việt Nam Để hỗ trợ các nhà
đầu t Xingapo làm ăn tại Việt Nam, tháng 12 năm 1991, cơ quan quản lý tiền
tệ của Xingapo (MAS) tuyên bố bãi bỏ việc ngăn cấm các cơ quan tài chínhcủa Xingapo cho các công ty của Việt Nam hoặc của Xingapo làm ăn của ViệtNam vay vốn, cho phép các công ty tài chính của Xingapo nối lại hoạt độngtài chính bình thờng ở Việt Nam [26;105]
Từ đầu thập kỷ 90, cùng với những bớc phát triển nhanh chóng củaquan hệ chính trị giữa hai nớc, quan hệ kinh tế song phơng có những bớc pháttriển nhảy vọt Việc ký các hiệp định kinh tế nh: Hiệp định thơng mại10/1992, Hiệp định hàng hải 04/1992, Hiệp định về vận chuyển hàng không(04/1992), Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu t (10/1992), Hiệp địnhtránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế (03/1994) đã tạo điều
Trang 19kiện thuận lợi và thúc đẩy buốn bán hai chiều giữa hai nớc, kim ngạch giữahai nớc tăng lên không ngừng, đồng thời cơ cấu hàng hoá xuất khẩu cũng đadạng hơn Cùng với Nhật Bản, Xingapo trở thành một trong hai bạn hàng lớn
nhất của Việt Nam [43;36].
Năm 1993, Xingapo đã đầu t 54 dự án vào Việt Nam với tổng số vốn
là 431 triệu USD, dẫn đầu các nớc ASEAN và đứng thứ sáu trong số các
n-ớc và vùng lãnh thổ đầu t vào Việt Nam Năm 1994, Xingapo đã vơn lên vịtrí thứ ba trong số các nớc đầu t vào Việt Nam với tổng số vốn là 1,24 tỷUSD
Quan hệ buôn bán giữa Xingapo và Việt Nam không ngừng tăng lên.Nếu năm 1989 nếu chỉ đạt 110 triệu USD, thì năm 1993 tăng lên 1,4 tỷ USD,năm 1994 tăng lên 1,9 tỷ USD và năm 1995 tăng lên 2,28 tỷ USD
Ngoài hợp tác kinh tế - thơng mại, quan hệ Việt Nam - Xingapo còn
đ-ợc mở rộng trong các lĩnh vực khác Với t cách là thành viên ASEAN,Xingapo là một trong những nớc ủng hộ tích cực Việt Nam tham gia Hiệp ớcBali và gia nhập ASEAN (1995) Xingapo cũng là một trong những nớc tíchcực ủng hộ Việt Nam gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái BìnhDơng (APEC) và Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) Chính điều đó đã thúc
đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo ngày càng tốt đẹp
Nhìn chung, quan hệ Việt Nam - Xingapo từ trớc năm 1973 đến 1995phát triển nhanh chóng và luôn đợc củng cố, tăng cờng, đáp ứng lợi ích củamỗi nớc và của khu vực Đông Nam á Phát biểu nhân chuyến thăm Xingapo(10-1993), Tổng Bí th Đỗ Mời khẳng định: Việt Nam và Xingapo có những cơ
sở vững chắc cho sự phát triển hơn nữa mối quan hệ song phơng Nhân dânViệt Nam và Xingapo đều có ý thức độc lập dân tộc, tự lực tự cờng giữ gìn vàphát huy bản sắc dân tộc, cùng mong muốn thúc đẩy xu thế hoà bình, ổn định
và phát triển trong khu vực và thế giới [26;102].
1.2 Tác động của tình hình quốc tế và khu vực
Bớc sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình quốc tế và khu vực
Đông Nam á có nhiều thay đổi Sự thay đổi này đã và đang tác động sâu sắc
đến quan hệ giữa các quốc gia, các khu vực và các tổ chức quốc tế
1.2.1 Tình hình quốc tế
Trang 20Có thể khái quát tình hình quốc tế đầu thập niên 90 thông qua một sốnét cơ bản sau đây:
Cuối năm 1989, tại cuộc gặp gỡ trên đảo Manta giữa hai Tổng thốngBusơ và Góocbachốp, Mỹ và Liên Xô đã tuyên bố chấm dứt “Chiến tranhlạnh” kéo dài trên 40 năm giữa hai nớc này “Chiến tranh lạnh” chấm dứt cùngvới những chuyển biến khác đã làm cho cục diện chính trị thế giới và quan hệquốc tế có nhiều thay đổi Quan hệ Mỹ - Xô từ đối đầu căng thẳng là chủ yếu
đã chuyển sang thời kỳ vừa đấu tranh, vừa hợp tác để cùng tồn tại hoà bình Sự
đối đầu hai phe XHCN và TBCN theo đó đi vào hoà hoãn Quan hệ Xô Trung sau 30 năm căng thẳng đã trở lại bình thờng và quan hệ Mỹ - Trung
-đang có dấu hiệu tiến bộ Một số điểm nóng khu vực (Đông Nam á, Trung
Đông ) đang đợc giải quyết thông qua đàm phán bằng biện pháp chính trị.Vậy là với sự kết thúc “Chiến tranh lạnh” thế giới đã có nhiều biến chuyểnbuộc tất cả các nớc trên thế giới phải điều chỉnh chính sách đối nội và đốingoại của mình cho phù hợp với tình hình mới
Sau thời kỳ đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống chính trị, cả thế giớinói chung, các nớc chậm phát triển nói riêng đều nhận thức đợc tác hại của
nó Do vậy, các nớc đều có chung nguyện vọng là tập trung xây dựng và pháttriển kinh tế để vừa nâng cao cuộc sống cho nhân dân, vừa đối phó với nhữngthách thức về kinh tế đang diễn ra gay gắt Quảng đại nhân dân tiến bộ đềumong muốn có sự hợp tác hoà bình, phát triển Sự hợp tác giữa các nớc trênnguyên tắc đảm bảo chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tôn trọng và hợp tác cùng
có lợi trớc xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới đang đợc tăng cờng Xu thếliên kết khu vực đi đôi với xu thế toàn cầu hoá phát triển nhanh Nhiều tổ chứckinh tế khu vực xuất hiện nh: Thị trờng chung Bắc Mỹ (Canada - Mêhico -Mỹ) năm 1992; khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 Cùng với
sự lớn mạnh của khối thị trờng chung châu Âu (EEC), sự phát triển kinh tế củaNhật Bản, của các nớc công nghiệp mới (NICs) đã tạo sức cạnh tranh gaygắt với Mỹ Đồng thời sự lớn mạnh về kinh tế của một số nớc trên thế giới đãtrở thành tấm gơng để nhiều nớc muốn phát triển kinh tế “theo hớng xuấtkhẩu” học tập kinh nghiệm Tất cả những điều đó buộc các nớc trên thế giớităng cờng xích lại gần nhau để cùng hợp tác trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnhvực kinh tế
Cuối năm 1991, một sự kiện lịch sử diễn ra làm cả loài ngời tiến bộ trênthế giới sửng sốt là việc Liên Xô tan rã Từ đây, đặc trng của thế giới hai cực
Trang 21(Xô - Mỹ) là đối kháng giữa hai siêu cờng (Xô và Mỹ) trong thời “Chiến tranhlạnh” chấm dứt Thế giới đang ở thời điểm chuyển giao giữa thời kỳ cha rõràng, đó là thời kỳ quá độ tiến tới một thế giới đa cực với đặc điểm chủ yếucủa nó là: “Một siêu đa cờng” Do vậy, có ngời đã gọi “sự tan rã của Liên Xô
là cơn đại hồng thuỷ chính trị, là chuyển dòng lịch sử” Sự sụp đổ của Liên Xô
đã để lại nhiều khó khăn cho các nớc XHCN và các nớc thuộc “thế giới thứba” Bởi lẽ, trong suốt thời gian tồn tại của mình, Liên Xô luôn là tấm chắn chocác nớc XHCN và một số nớc khác có điều kiện thuận lợi trong quá trình xâydựng và phát triển đất nớc Khi Liên Xô tan rã, các nớc XHCN và các nớc thuộc
“thế giới thứ ba” buộc phải tạo cho mình một thế đứng độc lập để có thể “giaotiếp” và hợp tác với các nớc ở mọi nơi trên thế giới Trong điều kiện lịch sửmới, các nớc ấy đều có sự điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại của mình
để tăng cờng quan hệ quốc tế và hợp tác khu vực
Cùng với những chuyển biến về chính trị, những tác động của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật đến đời sống kinh tế thế giới là vô cùng to lớn Sự tác
động ấy về cả tốc độ, trình độ và quy mô Quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trởthành xu thế tất yếu Những hàng rào ngăn cách các quốc gia bằng ý thức hệ,bằng chế độ xã hội khác biệt đang từng bớc đợc tháo gỡ Thế giới đang ngàycàng trở thành một thị trờng chung thống nhất Chính vì vậy mà một quốc gia
dù mạnh đến đâu cũng không thể phát triển một cách biệt lập với thế giớixung quanh Các quốc gia dân tộc đều từng bớc khép lại quá khứ để tạo dựng
sự hợp tác cho hiện tại và tơng lai Chính những tác động của cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật đã làm cho vị thế kinh tế của các nớc trên thế giới và khuvực có sự thay đổi lớn Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các n-
ớc luôn có sự biến thiên Đồng thời sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các nớchết sức chặt chẽ Do vậy, Việt Nam và Xingapo cần có những chính sách phùhợp trong quan hệ hợp tác kinh tế với nhau nhằm phát huy tốt những tiềmnăng vốn có của mỗi nớc
Tất cả điều đó đã có tác động không nhỏ đến quan hệ hợp tác giữa ViệtNam - Xingapo
1.2.2 Tình hình khu vực Đông Nam á
Có thể nói, trong một thời gian dài, Đông Nam á là khu vực luôn nằmtrong tình trạng không ổn định Sang thập kỷ 90, tình hình Đông Nam á cónhiều chuyển biến tích cực Sự biến chuyển này xuất phát từ những biếnchuyển tình hình quốc tế và lợi ích của các nớc Đông Nam á khi những xung
Trang 22đột, đối đầu trên thế giới đã chuyển sang thời kỳ hợp tác cùng tồn tại hoà bình
vũ khí hạt nhân Bên cạnh đó, từ những năm 90, các nớc lớn (Mỹ, Nhật, TrungQuốc ) đã từng bớc có sự điều chỉnh chính sách của mình đối với Đông Nam
á Do đó, các nớc này đã tích cực cùng với các nớc Đông Nam á tìm kiếmnhững giải pháp thích hợp để giải quyết những bất đồng ở đây, trong đó có
“vấn đề Campuchia”
Qua 11 năm đối đầu căng thẳng, sau nhiều cuộc đàm phán giữa các bên
có liên quan, “Vấn đề Campuchia” đã đợc giải quyết bằng Hiệp định Paris(23/10/1991) “Vấn đề Campuchia” đợc giải quyết sẽ mở ra một triển vọngmới cho sự hợp tác giữa các nớc Đông Nam á với nhau Theo đó, quan hệViệt Nam - Xingapo có điều kiện phát triển hơn Tất cả các nớc Đông Nam á
đều nhận thấy tầm quan trọng của việc tập hợp nhau trong tổ chức khu vựcnhằm tạo nên tiếng nói có “trọng lợng” và tự khẳng định mình trên trờng quốc
tế Bởi vậy, hai nhóm nớc ở Đông Nam á (ASEAN và Đông Dơng) đã khôngnhững thúc đẩy quan hệ chính trị với nhau mà còn tăng cờng quan hệ kinh tế
và các lĩnh vực khác Các nớc ASEAN coi đó là biện pháp tốt nhất để đảm bảo
an ninh ở Đông Nam á Điều này đã tạo cơ sở tốt để ba nớc Đông Dơng hộinhập vào tổ chức ASEAN
Trong những thập niên qua, nhờ những chiến lợc phát triển kinh tếmạnh mẽ mà một số nớc trong khu vực Đông Nam á nh: Xingapo, Thái Lan,Malaixia đã tạo đợc điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán và thu hút đầu tnớc ngoài Sự tăng trởng kinh tế (GDP) thời kỳ 1985 - 1990 của Inđônêxia từ2,5% (1985) lên 7% (1990); Thái Lan là 3,5% (1985) lên 10% (1990);Xingapo từ 1,6% (1985) lên 8,3% (1990) Với tốc độ phát triển kinh tế nh vậy,
Đông Nam á đợc các chuyên gia kinh tế đánh giá là khu vực “đạt tốc độ tăngtrởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới” Tuy nhiên, trong quá trình phát triểnkinh tế, các nớc Đông Nam á cũng gặp không ít thách thức nh: Sự cạnh tranhgay gắt trên thị trờng quốc tế, sự lớn mạnh của kinh tế Nhật, Đài Loan, Hàn
Trang 23Quốc, Cộng đồng Châu Âu và một số nớc khác Chính vì vậy mà các nớcASEAN mong muốn có một sự hợp tác toàn diện nhằm tạo ra sự ràng buộc lẫnnhau giữa hai nhóm nớc (ASEAN và Đông Dơng) Có nh vậy mới góp phần
đảm bảo an ninh và phát triển cho tất cả các nớc ở Đông Nam á từng bớc xâydựng ASEAN thành một tổ chức của cả khu vực
1.3 Mối quan hệ chính trị
Tháng 1/1973, Hiệp định Paris về Việt Nam đợc ký kết, Mỹ buộc phảingừng các hoạt động quân sự và rút quân khỏi Việt Nam, xu thế hoà bìnhtrung lập ở Đông Nam á phát triển mạnh Tình hình đó đã thúc đẩy quan hệsong phơng giữa Việt Nam và Xingapo Ngày 01/8/1973, Việt Nam vàXingapo chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Tuy nhiên, Chính phủXingapo vẫn tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với Chính quyền Ngụy quyềnSài Gòn cho đến khi Chính quyền này sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30/4/1975
Về phía Việt Nam, chúng ta luôn luôn tôn trọng độc lập dân tộc trênnguyên tắc bình đẳng, hữu nghị, cùng có lợi với tất cả các nớc Năm 1951,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới: Chính phủ Việt Nam dân“
chủ cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với bất cứ nớc nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ chủ quyền quốc gia của Việt Nam để
cùng nhau bảo vệ hoà bình thế giới” Trên tinh thần đó, sau thắng lợi năm
1975, Việt Nam đã công bố chính sách bốn điểm, bày tỏ quan điểm của mìnhtrong quan hệ với các nớc Đông Nam á Bốn nguyên tắc đó là:
1) Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, khôngxâm lợc lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳngcùng có lợi để tồn tại hoà bình
2) Không để lãnh tổ của mình cho bất cứ nớc nào làm căn cứ quân sựxâm lợc hoặc can thiệp nớc khác
3) Thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đẹp, trên cơ sở bình đẳngcùng có lợi, giải quyết vấn đề tranh chấp trong khu vực thông qua thơng lợngtheo tinh thần bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau
4) Phát triển sự hợp tác giữa các nớc trong khu vực, xây dựng đất nớcphát triển hoà bình
Trang 24Chính sách bốn điểm này rất phù hợp với nội dung của Hiệp ớc Bali(1976), nên đã đợc các nớc ASEAN (trong đó có Xingapo) nhiệt liệt hoannghênh Nó “có ý nghĩa nh là sự bình thờng hoá quan hệ với tất cả các nớcASEAN” Đờng lối đối ngoại này của Việt Nam là yếu tố tác động thuận lợi
đến sự phát triển quan hệ Việt Nam ASEAN nói chung, quan hệ Việt Nam Xingapo nói riêng Nếu nh trớc đây, có lúc Việt Nam coi ASEAN nh là một tổchức liên minh quân sự trá hình ủng hộ Mỹ chống phá cách mạng Việt Nam
-và nhìn nhận về Xingapo với con mắt hoài nghi thì từ nửa sau những năm 70,mối quan hệ Việt Nam - Xingapo đã diễn ra theo chiều hớng tốt đẹp
Trong các năm 1977 và 1979 đã diễn ra một số hoạt động ngoại giaogiữa hai nớc Đặc biệt là chuyến thăm chính thức Xingapo của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trởng Phạm Văn Đồng, tháng 10/1978, chuyến thăm của Bộ trởngngoại giao Nguyễn Duy Trinh tháng 1/1978 trong khuôn khổ các chuyến thămchính thức các nớc ASEAN Trong chuyến thăm này, hai bên đã ra tuyên bốchung về các nguyên tắc chỉ đạo quan hệ chung sống hoà bình giữa hai nớc.Ngoài ra, Việt Nam còn cử một số đoàn cấp thấp triển khai các hoạt động hợptác cụ thể và đón các đoàn kinh doanh, thơng mại Xingapo vào Việt Nam.Chính trong thời gian này, trao đổi thơng mại giữa Việt Nam và Xingapo đãtăng lên nhanh chóng
Từ năm 1979, khi xảy ra vấn đề Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam vớicác nớc ASEAN chuyển sang đối đầu, quan hệ song phơng Việt Nam -Xingapo giảm xuống mức rất thấp
Trong thời gian đầu khi mâu thuẫn Việt - Trung nổ ra công khai vàchiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia bùng nổ năm 1978, cũng nh khiquân đội Việt Nam cùng các lực lợng yêu nớc Campuchia vào Phnômpênh lật
đổ chế độ Pônpốt đầu năm 1979, Xingapo đã không muốn trực tiếp đối địch
căng thẳng với Việt Nam.
Tuy nhiên, cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2/197,
và đặc biệt sau sự kiện tháng 6/1980, trong khi truy đuổi tàn quân Pônpốt, một
số đơn vị quân Việt Nam đã tới sát biên giới Campuchia - Thái Lan thì quan
hệ của các nớc ASEAN, trong đó có Xingapo đối với Việt Nam trở nên hết sứccăng thẳng Trong giai đoạn này quan hệ giữa hai nớc bị chững lai Xingapoban hành lệnh cấm đầu t vào Việt Nam song hai bên vẫn tiếp tục duy trì quan
hệ thơng mại
Trang 25Từ giữa những năm 80 đã diễn ra những chuyển biến quan trọng trongchính sách của ASEAN đối với Việt Nam đợc đánh dấu bằng quyết định củaHội nghị Bộ trởng Ngoại giao ASEAN (AMM) tháng 2/1985 về việc cửInđônêxia làm đại diện đối thoại với các nớc Đông Dơng Sự kiện này mở đầu
xu thế đối thoại giữa hai nhóm nớc Đông Nam á nhằm tìm ra một giải phápchính trị cho vấn đề Campuchia
Về phía Việt Nam, từ năm 1986 với đờng lối đổi mới toàn diện, chínhsách đối ngoại đa phơng hoá, đa dạng hoá, cũng với việc Việt Nam giữ đúngcam kết rút quân khỏi Campuchia, đã tạo dựng lòng tin của các nớc ASEANvào thiện chí ở Việt Nam trong chính sách khu vực Quan hệ Việt Nam -Xingapo bắt đầu có những chuyển biến tích cực Những diễn biến mới củatình hình quốc tế và khu vực cũng đã tạo thêm điều kiện thuận lợi để thúc đẩy
xu hớng tích cực nói trên
Chuyến thăm Xingapo của Thủ tớng Võ Văn Kiệt (Tháng 10 năm 1991)
đã mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nớc Đánh giá chuyếnthăm này, Bộ trởng Ngoại giao Xingapo, ông Đankhanxeng tuyên bố:
Xingapo mong muốn Việt Nam phát triển và thịnh v
cùng có lợi giữa hai nớc là rất rộng lớn Xingapo sẽ bằng mọi cách hợp tác, giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam, Xingapo ủng hộ Việt Nam tham gia Hiệp ớc Bali ”
Năm 1992, hai nớc Việt Nam - Xingapo đã có nhiều hoạt động ngoạigiao sôi nổi Tháng 4/1992, Bộ trởng cấp cao Lý Quang Diệu thăm Việt Namlần thứ nhất Tháng 10/1992, Bộ trởng Ngoại giao Xin Wang Kan Seng thămhữu nghị chính thức Việt Nam Cũng trong tháng 10/1992, Phó Thủ tớng PhanVăn Khải thăm Xingapo Trong năm 1992, Việt Nam và Xingapo đã ký kếtHiệp định hàng hải (tháng 4/1992), Hiệp định về vận chuyển hàng không(tháng 4/1992), Hiệp định thơng mại (tháng 19/1992), Hiệp định về khuyếnkhích và bảo hộ đầu t (tháng 10/1992)
Chuyến thăm chính thức Xingapo của Tổng Bí th Đảng Cộng sản ViệtNam Đỗ Mời tháng 10/1993 là sự kiện nổi bật trong quan hệ giữa hai nớc sau
20 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đây là chuyến thăm chínhthức đầu tiên của Tổng Bí th Đảng Cộng sản Việt Nam đến một nớc thànhviên ASEAN Báo chí Xingapo bình luận: “Chuyến thăm Xingapo lần đầu tiêncủa vị lãnh tụ 76 tuổi của Đảng Cộng sản Việt Nam, một ngời rất hiếm khi đinớc ngoài, là một sự kiện đặc biệt quan trọng trong quan hệ hai nớc” Phát
Trang 26biểu tại buổi lễ đón đoàn, Thủ tớng Xingapo Goh Chock Tong nói: “Chúng tôi
sẽ làm tất cả những gì có thể làm đợc để giúp đỡ nhân dân Việt Nam pháttriển kinh tế” Tổng Bí th Đỗ Mời đã gặp gỡ Tổng thống Xingapo Ong TengCheong, Bộ trởng cao cấp Lý Quang Diệu và các nhà lãnh đạo Xingapo đểtrao đổi những quan điểm về các vấn đề quốc tế, vấn đề khu vực và quan hệhợp tác song phơng giữa hai nớc Về vấn đề Việt Nam chuẩn bị gia nhậpASEAN, Thủ tớng Goh Chock Tongnói: “Xingapo thực sự vui mừng khi ViệtNam tham gia vào cộng đồng các nớc Đông Nam á”
Tháng 11/1993, Bộ trởng cao cấp Lý Quang Diệu thăm Việt Nam lầnthứ hai Trong chuyến thăm này, ông đã làm việc với các nhà lãnh đạo ViệtNam tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Ông nhấn mạnh rằng, hai nămtới là thời gian rất quan trọng đối với Việt Nam Chính phủ cần có nhữngbiện pháp cải cách về hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
t nớc ngoài Đồng thời ông cho rằng việc tổ chức lại hệ thống thơng mạitrong nớc, xây dựng hệ thống kinh tế mở để hoàn thiện cơ chế thị trờng, cảicách hệ thống luật pháp là những vấn đề cấp bách đối với Việt Nam hiệnnay
Trang 27Cùng trong năm 1993 đã diễn ra các hoạt động trao đổi giữa các bộ, cácngành của hai nớc.
Tháng 1/1993, Bộ trởng Bộ Tài chính Hồ Tế sang thăm và làm việc tạiXingapo Bộ trởng Bộ Thơng mại và Công nghiệp Xingapo Lim Boon Heng;
Bộ trởng Bộ Môi trờng, Tiến sỹ Ahmah Mattar, thăm và làm việc tại Việt Namtháng 5/1993 Trong dịp này Việt Nam và Xingapo đã ký kết hiệp định hợptác trong quản lý và bảo vệ môi trờng Tháng 8/1993, Bộ trởng Bộ Giáo dụcXingapo Lee Yock Suan thăm và làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo ViệtNam, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác giáo dục và đào tạo giữahai nớc
Chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên của Thủ tớng XingapoGô Chock Tong tháng 3/1994 và chuyến thăm chính thức Xingapo lần đầutiên của Thủ tớng Võ Văn Kiệt tháng 5/1994 là những sự kiện nổi bật đánhdấu phát triển liên tục trong quan hệ của hai nớc Những cuộc trao đổi ý kiếnchân thành, cởi mở, hiểu biết lẫn nhau giữa các nhà lãnh đạo hai nớc về vấn đề
an ninh khu vực, về sự hợp tác kinh tế, thơng mại song phơng, đã củng cố vàtăng cờng quan hệ hai nớc
Thủ tởng Gô Chock Tong đồng thời cũng khẳng định sự ủng hộ củaXingapo đối với việc Việt Nam gia nhập ASEAN Hai bên đã khẳng định hailĩnh vực hợp tác kinh tế chủ yếu là các khu công nghiệp Việt Nam - Xingapo
và hợp tác du lịch
Hai nớc đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việctrốn thuế, lậu thuế (tháng 3/1994), thoả thuận về hợp tác trong vận tải đờng bộcho Hà Nội (tháng 3/1994), Hiệp định về hợp tác du lịch (tháng 8/1994)
Tháng 2 năm 1995, Bộ trởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm vàlàm việc với Bộ trởng Ngoại giao Jayakuma và các quan chức Bộ ngoại giaoXingapo Hai bên đã khẳng định tăng cờng sự hợp tác song phơng trong cáclĩnh vực chính trị, kinh tế - thơng mại Phía Xingapo đã khẳng định sự ủng hộhoàn toàn đối với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN.Tháng 3 năm 1995, Bộ trởng cao cấp Lý Quang Diệu thăm và làm việc tạiViệt Nam lần thứ ba Trong chuyến thăm này, ông Lý Quang Diệu đã làm việcvới các nhà lãnh đạo Việt Nam về sự phát triển của các lĩnh vực hợp tác kinh
tế khác
Năm 1995, cũng đánh dấu bớc phát triển mới trong quan hệ giữa hai
n-ớc trong lĩnh vực quốc phòng với chuyến thăm Xingapo chính thức đầu tiên
Trang 28của Bộ trởng Bộ quốc phòng, Đại tớng Đoàn Khuê tháng 3 năm 1995 Hai bên
đã thảo luận về sự hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, việc trao đổi các đoànquân sự và hợp tác trong công nghiệp quốc phòng giữa hai nớc Phát biểu tạicuộc họp báo ngày 8 tháng 3 năm 1995, Bộ trởng Bộ quốc phòng Xingapo,tiến sỹ Lee Boon Yang đánh giá: “Các cuộc thảo luận đã diễn ra tốt đẹp.Xingapo đã có quan hệ kinh tế rất mạnh với Việt Nam trong những năm gần
đây, chuyến thăm lần đầu tiên của Bộ trởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Đại ớng Đoàn Khuê, đã mở ra sự hợp tác mới trong lĩnh vực quốc phòng” Quan
t-hệ giữa hai nớc đợc tiếp tục phát triển với chuyên thăm tháng 7 năm 1995 của
Đoàn đại biểu quân sự Xingapo do t lệnh lục quân, Tớng Han Eng Juan dẫn
đầu
Năm 1995 cũng diễn ra cuộc trao đổi các đoàn đại biểu Quốc hội giữahai nớc Ngày 6 tháng 9 năm 1995, Chủ tịch Nghị viện Xingapo kiêm chủ tịchliên minh nghị viện ASEAN (AIPO) Tan Soo Khon dẫn đầu đoàn đại biểuAIPO thăm chính thức Việt Nam Ngày 16 tháng 9 năm 1995, Đoàn đại biểuquốc hội Việt Nam do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh dẫn đầu thămchính thức Xingapo theo lời mời của Chủ tịch nghị viện Xingapo Tan SooKhon, đồng thời dự lễ kết nạp Việt Nam thành thành viên chính thức củaAIPO Chuyến thăm này là một bớc phát triển mới trong quan hệ giữa Quốchội và Nghị viện hai nớc
Nh vậy từ năm 1992 đến năm 1995, quan hệ chính trị, ngoại giao giữaViệt Nam và Xingapo có những bớc phát triển liên tục và mở rộng trên nhiềulĩnh vực Qua các hội đàm, tiếp xúc ở các cấp khác nhau, các nhà lãnh đạo hainớc đi đến những nhận thức chung quan trọng nhằm tăng cờng tình hình hợptác về mọi mặt giữa hai nớc [43;33-35]
Cùng với sự nỗ lực của Việt Nam kết hợp với những ủng hộ tích cựccủa các nớc ASEAN, đặc biệt là Xingapo, ngày 28/7/1995, Việt Nam đã trởthành thành viên chính thức của ASEAN Từ đây quan hệ Việt Nam -Xingapo nói riêng, quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung bớc sang một giai
đoạn mới
Thủ tởng Gô Chock Tong phát biểu tại Hà Nội sau khi kết thúc chuyếnthăm Việt Nam (tháng 3-1994) đã khẳng định: “Thông quan ASEAN vàARF, mối quan hệ của hai nớc sẽ không chỉ đợc mở rộng mà còn thêm sâusắc hơn Hai nớc có thể cùng nhau hợp tác để bảo vệ nền an ninh ở ĐôngNam á” [26;102]
Trang 29Có thể nói mối quan hệ Việt Nam -Xingapo ngày càng có sự tiến triểntốt đẹp, các nhà lãnh đạo của hai nớc đã liên tục thăm và làm việc với nhau.Chính mối quan hệ này đã tạo điều kiện để thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữahai nớc bền vững hơn, nhất là trong giai đoạn 1995 - 2006.
Dới tác động của tình hình quốc tế và những thay đổi của tình tình khuvực cùng với các yếu tố khác đã làm cho quan hệ Việt Nam - ASEAN có bớcphát triển mới Đẩy mạnh quan hệ với các nớc ASEAN là mục tiêu quan trọngcủa Việt Nam vì tổ chức ASEAN là một tập hợp gồm những nớc vừa và nhỏ.Các nớc này lại có xuất phát điểm đi lên tơng tự Việt Nam Hợp tác vớiASEAN không những giúp Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào tổ chức này
mà còn tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển kinh tế và tăng cờng hội nhậpthế giới Phía các nớc ASEAN cũng muốn quan hệ hợp tác toàn diện với ViệtNam để phát huy những tiềm năng vốn có của mỗi bên
Với đờng lối đối ngoại mới từ Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ VI, VII,Việt Nam đã từng bớc mở cửa giao lu với các nớc trên thế giới, trên cơ sở bình
đẳng, hợp tác cùng có lợi, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau Trong đó, Việt Nam tích cực tiếp cận vớicác thành viên của tổ chức ASEAN thông qua nhiều hoạt động Các nớcASEAN sẵn sàng ủng hộ Việt Nam tham gia Hiệp ớc Bali Tại Hội nghị ngoạitrởng ASEAN lần thứ XXV ở Manila (tháng 7/1992), Việt Nam và Lào đãchính thức tham gia Hiệp ớc Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN Từ
đó đến năm 1995, Việt Nam đã không ngừng tham gia vào các chơng trìnhhoạt động của ASEAN nh: Tham dự cuộc họp hàng năm của Ngoại trởngASEAN; diễn đàn khu vực ASEAN (từ 1993); tham gia các chơng trình và dự
án của ASEAN trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, môi trờng, y tế, vănhoá Năm 1994, tại Hội nghị Ngoại trởng ASEAN lần thứ XXVII (ở BăngCốc), các nớc ASEAN đã hoàn toàn nhất trí kết nạp Việt Nam trở thành thànhviên chính thức của tổ chức này
Ngày 28/7/1995, tại Thủ đô Ban-đa-xê-ri Bê-ga-oăn (Brunây), ViệtNam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN D luận thế giới và khuvực coi đây là bớc đi lịch sử, là mốc lớn đánh dấu trên con đờng xây dựng
Đông Nam á hoà bình, ổn định và phát triển Về ý nghĩa của việc Việt Namgia nhập Hiệp hội các nớc Đông Nam á, Bộ trởng Bộ Ngoại giao NguyễnMạnh Cầm nói: “Chúng ta đang chứng kiến xu thế khu vực hoá và quốc tế hoáphát triển nhanh chóng ở mọi nơi, trong xu thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các
Trang 30quốc gia ngày càng rõ nét Trong tình hình đó, hội nhập khu vực và hội nhậpthế giới để phát triển đã trở thành tất yếu khách quan Việc Việt Nam gia nhậpASEAN là một biểu hiện cụ thể của xu thế đó” [4;81].
Với những gì đã đạt đợc trong lịch sử và hiện tại, Việt Nam “sẽ gópphần làm cho ASEAN phát triển mạnh hơn, năng động hơn, lên một tầm caomới” Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN sẽ mở ra cơ hội mới trên nhiều lĩnhvực Tuy nhiên, từ đây Việt Nam cũng phải đơng đầu với không ít thách thứcmới Song xét một cách tổng thể thì những thời cơ vẫn là cơ bản vì:
Thứ nhất, Việt Nam gia nhập ASEAN góp phần tạo điều kiện phát triểnkinh tế, hội nhập vào thị trờng khu vực và thế giới Từ đây, Việt Nam có nhiều
điều kiện mở rộng thị trờng xuất khẩu sang các nớc ASEAN, học tập nhữngkinh nghiệm tốt cho quá trình phát triển kinh tế Đồng thời cũng có điều kiệnthu hút vốn đầu t từ các nớc ASEAN nhiều hơn Khi Việt Nam gia nhậpASEAN, quan hệ giữa Việt Nam với các nớc khác trên thế giới sẽ đợc mởrộng Việt Nam sẽ có điều kiện hội nhập với một số thị trờng trên thế giớithông qua ASEAN
Bên cạnh đó, Việt Nam phải đối phó với nhiều thách thức về trình độphát triển kinh tế và thu nhập đầu ngời thấp hơn các nớc ASEAN Sự cạnhtranh hàng hoá Việt Nam với hàng hoá của các nớc ASEAN cũng rất quyếtliệt vì hàng Việt Nam chất lợng thấp nhng giá thành cao
Thứ hai, khi Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ thu hẹp sự khác biệt và tăngcờng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau với các nớc thành viên của tổ chức này Từ
đó, giúp Việt Nam và các nớc ASEAN tăng cờng cùng nhau trao đổi, bàn bạc
để thống nhất đi đến giải quyết các vấn đề song phơng và đa phơng Khi gianhập ASEAN, Việt Nam sẽ có một vị thế mới trong quan hệ quốc tế và cùngvới các nớc ASEAN xây dựng hoà bình, ổn định ở Đông Nam á
Thứ ba, gia nhập ASEAN, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng ờng trao đổi, giao lu văn hoá, giúp đỡ lẫn nhau đào tạo cán bộ, Đồng thời,Việt Nam có điều kiện giao lu văn hoá với từng nớc để làm giàu cho nền vănhoá dân tộc mình
c-Với ý nghĩa to lớn trên, cho phép chúng ta khẳng định: Việt Nam gianhập ASEAN sẽ tạo bớc ngoặt trong quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung,Việt Nam - Xingapo nói riêng
Việt Nam và Xingapo là hai quốc gia có quan hệ từ lâu Khi Việt Namtrở thành thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam và Xingapo lại càng
Trang 31có điều kiện phát triển mối quan hệ đó và hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực
để hoà nhập với khu vực và cộng đồng quốc tế Điều đó sẽ tạo nên sự tăng ởng kinh tế mới cho cả hai nớc, góp phần củng cố hoà bình, hữu nghị và hợptác ở khu vực Đông Nam á và trên thế giới
tr-1.4 Sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam và Xingapo
1.4.1 Sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam
Sau khi giải phóng miền Nam, đất nớc đợc thống nhất, với nền kinh tếlạc hậu lại bị tàn phá nặng nề sau mấy chục năm chiến tranh, nhân dân ViệtNam bớc vào giai đoạn khôi phục phát triển kinh tế theo định hớng xã hội chủnghĩa
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng và lãnh đạo
từ năm 1980 đã đột phá cơ chế cũ, phát huy sáng tạo, khơi nguồn nội lực, giảiquyết những nhiệm vụ kinh tế, xã hội của nớc ta, tham gia vào liên kết kinh tế
và hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc
Cùng thời gian này, tình hình quốc tế diễn ra những thay đổi sâu rộng
Từ giữa những năm 80 (thế kỷ XX), các nớc lớn điều chỉnh chính sách, thơnglợng với nhau dàn xếp các xung đột khu vực, trong đó có quan hệ tới Đông D-
ơng Từ đầu những năm 90 (thế kỷ XX), Chiến tranh lạnh kết thúc, các thể chếxã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã Cục diện thế giới hai cực kếtthúc, trật tự thế giới mới cha định hình rõ, những hình thái đa dạng hoá trongquan hệ chính trị, kinh tế quốc tế không ngừng tăng cờng mở rộng Khoa họccông nghệ phát triển nh vũ bão, liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu ngày càngsâu sắc Đông á trở thành một trung tâm phát triển kinh tế của thế giới, xuấthiện các “con rồng”, “con hổ” - những quốc gia công nghiệp mới Đến cuốithế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc trỗi dậy thành một đầu tàu kinh tếthế giới, một trung tâm quyền lực mới tại khu vực
Trớc những thay đổi và đảo lộn trên trờng quốc tế, đờng lối, chính sách
đối ngoại của Việt Nam đã có điều chỉnh lớn, tập trung giải quyết những vấn
đề trọng yếu trong quan hệ quốc tế của Việt Nam nhằm tạo thế ổn định và
điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ cho quá trình đổi mới, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Năm 1986, Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ VI, xác định nhiệm vụtrên lĩnh vực đối ngoại là: “Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnhthời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dơng, góp phần giữ vững hoà
Trang 32bình ở Đông Nam á và trên thế giới Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợicho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đồng thời tích cựcgóp phần vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội” [4;26].
Việt Nam tập trung mọi nguồn lực vào công cuộc phát triển, nâng cao
đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, từng bớc công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc, vừa đáp ứng nhu cầu bên trong, vừa giành vị trí thích hợp tối utrong phân công lao động và hợp tác quốc tế, tiến tới xây dựng một xã hội dângiàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đảng ta xác định hợp tác quốc tế lâu bền luôn dựa trên mẫu số chung vềlợi ích Thực tiễn quan hệ quốc tế những năm gần đây cho thấy các quốc giakhông thể trông chờ ngoại viện theo lối cũ Một quốc gia muốn hợp tác quốc
tế có hiệu quả cần phát huy đợc thực lực bên trong của mình đây là điểm cốtlõi trong t tởng Hồ Chí Minh: “Muốn ngời ta giúp cho, thì trớc mình phải tựgiúp lấy mình đã” Ngày nay tranh thủ hợp tác quốc tế chủ yếu là thu hútnguồn vốn FDI, tận dụng các quy chế u đãi thơng mại đối với những nớc đangphát triển, chủ động hội nhập kinh tế, tham gia liên kết thị trờng, phân cônglao động quốc tế, cũng nh các thể chế kinh tế toàn cầu Một số nhà chính trị ởcác nớc “cách mạng màu” vẫn hy vọng lớn vào viện trợ nớc ngoài; đại sứ củamột nớc lớn phơng Tây khuyên họ nên làm quen “với t duy tự chịu tráchnhiệm về mình” Tại một số khu vực của châu Phi, qua nhiều năm thiên taihạn hán, cùng với sự bất ổn của hệ thống chính trị, những lời kêu gọi cứu trợ ít
đợc quốc tế lắng nghe hoặc phản ứng chậm chạp, một số nớc đang đối mặt vớinạn đói và bệnh tật lan rộng Một số chính phủ phơng Tây nhấn mạnh rằngviện trợ phát triển chỉ riêng nó không thể xoá đói giảm nghèo Họ có thiên h-ớng u tiên cấp ODA cho những nớc sử dụng viện trợ có trách nhiệm và hiệuquả Nói cách khác là họ chỉ giúp những nớc có thể tự giúp mình
Trong trào lu cải cách, mở cửa với mọi khuynh hớng chính trị khácnhau nở rộ trên thế giới, có những nớc thành công, cũng không ít trải quanhững cuộc thể nghiệm thất bại cay đắng, tiếp tục “thập kỷ mất mát” và tìnhtrạng xung đột chính trị - xã hội triền miên Trong sự nghiệp đổi mới ở ViệtNam, sự gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tạo động lựccho sự phát triển Sự kiên định trong mục tiêu và định hớng chiến lợc pháttriển, các nỗ lực to lớn đổi mới cơ chế, hiện đại hoá đất nớc, đã góp phần tạonên các thành tựu kinh tế-xã hội quan trọng của nớc ta
Trang 33Một quốc gia muốn có môi trờng thuận lợi để tiến hành cải cách thìkhông thể không thực hiện các quan hệ láng giềng tốt đẹp “Nội yên, ngoạitĩnh” vừa là tiêu chí vừa là điều kiện cần của sự phát triển Ngoại giao ViệtNam kế thừa t tởng hoà mục, từng đợc Trần Hng Đạo nêu lên: “Hoà mục là
đạo rất hay trong việc trị nớc, hành binh Hoà ở trong nớc thì ít dùng binh, hoà
ở ngoài bên thì không sợ báo động”
Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã tích cực giải quyết những vấn đềtồn tại với các nớc láng giềng trên cơ sở tìm ra mẫu số chung về lợi ích: cácchơng trình liên kết kinh tế khu vực đợc mở rộng, phấn đấu tăng tính hiệu quảthiết thực Sự tác động đợc thực hiện trên nhiều tầng nấc, song phơng và đaphơng với các nớc láng giềng, các quốc gia ở Đông Nam á, Đông á, châu á -Thái Bình Dơng và Diễn đàn á - Âu Nhờ vậy đã góp phần tạo môi trờng và
mở rộng thị trờng cho Việt Nam [25;61].
Tiếp theo đó, với hàng loạt các chủ trơng chính sách đổi mới đùng đắn,chúng ta đã thu đợc kết quả quan trọng bớc đầu ổn định và phát triển nền kinh
tế, quan hệ kinh tế - chính trị đối ngoại đợc mở rộng, vị thế quốc tế đợc nângcao, tạo thế và lực, khả năng và cơ hội để tiếp tục phát triển trong những nămtới Đáng chú ý là Việt Nam nhanh chóng lần lợt trở thành thành viên chínhthức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) ngày 28/7/1995 vàDiễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (AFEC) tháng 11/1998
Tại Đại hội lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đa ra chủ trơng kiêntrì đờng lối đối ngoại đổi mới đã tạo ra đợc quan hệ rộng rãi cha từng có vớitất cả các nớc ở các châu lục, đặc biệt là quan hệ với các nớc lớn và các trungtâm chính trị, kinh tế hàng đầu của thế giới
Đại hội chủ trơng tiếp tục mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với cácnớc theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình, tôn trọng
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, giải quyết các tranh chấpbằng thơng lợng Mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng
hộ rộng rãi của các tổ chức và nhân dân các nớc đối với sự nghiệp đổi mới củanớc ta
Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đa ra đờng lối đối ngoại độclập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phơng hoá theo tinh thần “Việt Nam muốn làmbạn của tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển” Trong khi thực hiện đờng lối đối ngoại đó, Việt Nam hớng
Trang 34trọng tâm vào hai vấn đề đó là tăng cờng quan hệ với các nớc láng giềng, khuvực và tạo ra những chuyển biến cơ bản trong quan hệ với các nớc côngnghiệp phát triển, nhất là với các cờng quốc.
Việt Nam mong muốn có sự tham gia đầy đủ của các nớc công nghiệpphát triển với tầm vóc và tiềm năng về kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuậtcủa họ vào công cuộc phát triển của Việt Nam Đồng thời, Việt Nam cũng ủng
hộ tích cực vai trò của các nớc lớn đối với hoà bình và phát triển ở khu vực vàtrên thế giới
Đờng lối đối ngoại đó tiếp tục đợc khẳng định tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam với nhiệm vụ: “Tạo môi trờngthuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nớc Đó cũng là sự đóng góptích cực của nhân dân ta vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới vì hoàbình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội “
Đồng thời, Đại hội cùng đề ra chủ trơng mở rộng quan hệ quốc tế, hợptác song phơng và đa phơng với các nớc, các tổ chức quốc tế và khu vực trênnguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, thôngqua thơng lợng để tìm những giải pháp phù hợp nhằm giải quyết các vấn đềtồn tại và các tranh chấp, đảm bảo hoà bình, ổn định, an ninh, hợp tác vàphát triển
Đại hội lần này đã thông qua việc tăng cờng quan hệ với các nớc lánggiềng và các nớc thuộc ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nớcbạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nớc phát triển và các trung tâmkinh tế, chính trị trên thế giới, đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh
em với các nớc đang phát triển ở á, Phi, Mỹ Latinh và với phong trào không
liên kết [26;133-134].
Chính sự mở rộng quan hệ kinh tế cũng nh tinh thần đoàn kết với các
n-ớc bên ngoài đã giúp cho nền kinh tế Việt Nam có sự tăng trởng Việt Namthoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu và ngày càng có vị trí trong khu vực ĐôngNam á Đó cũng chính là một trong những nhân tố tác động đến quan hệ hợptác kinh tế Việt Nam - Xingapo trong giai đoạn 1995 - 2006
1.4.2 Sự phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại của Xingapo
Năm 1995, Xingapo kỷ niệm lần thứ 30 ngày độc lập và nền cộng hoàcủa mình Trải qua 3 thập kỷ xây dựng và phát triển, cộng hoà Xingapo đã
đạt đợc những thành tựu kỳ diệu, biến hòn đảo nhỏ bé của mình từ một hải
Trang 35cảng, nghèo nàn tài nguyên thiên nhiên với một mức sống thấp thành một
n-ớc công nghiệp mới, có nền công nghiệp chế biến, chế tạo tinh xảo, một hệthống dịch vụ kinh doanh hấp dẫn, có sức cạnh tranh vào bậc nhất thế giớicùng với đời sống vật chất của ngời dân cao ngang hàng với những nớc t bảnphát triển
Từ sau năm 1965, nền kinh tế của Xingapo không ngừng tăng trởng.Trong vòng 30 năm (1966-1994) tốc độ tăng trởng đạt tới 9% ở thời kỳ đầucủa chiến lợc công nghiệp hoá hớng vào xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động(1966-1979) tốc độ tăng trởng kinh tế đạt mức kỷ lục, khoảng 12% hàng năm
Do tốc độ tăng trởng kinh tế nhanh, Xingapo từ đầu thập kỷ 70 bắt đầu thời kỳcất cánh Khoảng giữa những năm 80 nhịp độ tăng trởng kinh tế có phần giảmsút, nhng từ năm 1987 trở đi, nền kinh tế Xingapo lấy lại đợc phong độ vớimức tăng trởng bình quân hàng năm, trong những năm 1987 -1990 khoảng9,5% Nhất là từ năm 1993 cho tới nay tốc độ tăng trởng lại trở lại ở mức cao[41;104]
Từ năm 1988 đến năm 1994, Xingapo đợc xếp vào những nớc có tốc độtăng trởng kinh tế cao nhất trên thế giới Trong thập kỷ 70, 80 và 90, tốc độtăng trởng GDP của Xingapo gấp gần 3 lần các nớc t bản phát triển và gấpkhoảng 2 lần so với các nớc đang phát triển
Bảng 3: Tốc độ tăng trởng GDP của các nớc có nền kinh tế năng động ở châu á trong
Đài loan 8,3 7,3 7,7 5,2 7,2 6,6 5,7 6,2 Indonesia 6,7 5,7 7,4 7,0 6,6 5,9 6,6 6,5 Malaixia 5,8 8,7 7,6 10,0 8,7 8,0 7,4 8,4 Tháilan 6,1 11,1 9,2 10,0 8,2 7,5 7,8 8,2 Trung Quốc 11,3 4,4 3,9 7,5 12,8 13,0 10,5 Việt Nam 5,2 8,0 5,3 6,0 8,6 8,1 8,8
Nguồn: Economic Survey of Singapore (1990-1994) Regional Outlook Southeast Asian 1992-1993: Asian Economic Outlook 1993, ADB, 1994.
Trang 36Xingapo là nớc có cơ sở hạ tầng hoàn hảo hàng đầu thế giới:
Ngành vận tải biển và hệ thống cảng khẩu dịch vụ phục vụ cho ngànhnày rất phát triển Cảng Xingapo là một trong ba cảng lớn nhất thế giới vềnăng lực lu thông hàng hoá và đứng thứ 3 thế giới về bốc rót dầu Xingapo cóhơn 60 nhà máy đóng tàu, là cơ sở sửa chữa và chế tạo tàu lớn nhất từ phía
đông kênh đào Suez và từ phía tây Nhật Bản, là trung tâm đóng tàu lớn thứ 3thế giới
Hiện nay, Xingapo có một hệ thống dịch vụ vận chuyển đờng biển gồmhàng chục cầu cảng hiện đại, hàng trăm kho hàng bến bãi và hàng nghìn chiếctàu biển đi khắp các đại dơng Xingapo là trung tâm đóng tàu lớn thứ 3 thếgiới [32]
Một trong những ngành công nghiệp phát triển mạnh nhất hiện nay tạiXingapo là ngành công nghiệp điện tử - bán dẫn và vi mạch điện tử Sự lớnmạnh của ngành này trong hai thập kỷ 70, 80 là nhờ vào vốn đầu t trực tiếpcủa Nhật Bản, Mỹ và Hà Lan Tính đến năm 1993, tại hòn đảo nhỏ bé này đã
có 900 cơ sở sản xuất và lắp ráp đồ điện tử - bán dẫn và mạch vi tính
Cùng với thành tựu của lĩnh vực công nghiệp chế biến - chế tạo, chiến
l-ợc xây dựng khối mậu dịch tổng hợp và phát triển toàn diện kết cấu hạ tầng đãlàm cho Xingapo trở thành một nớc có hệ thống dịch vụ kinh doanh hấp dẫn
và linh hoạt nhất ở Đông Nam á
Mặt khác, Xingapo còn là trung tâm tài chính quốc tế Đến cuối nhữngnăm 70, Xingapo có hơn 100 ngân hàng thơng mại hoạt động và con số đótăng lên 132 vào năm 1993 với vốn lu động là 170 tỷ đôla Dịch vụ đổi tiềncủa Xingapo cũng rất phát triển, với chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, các đồngtiền mạnh của thế giới đợc trao đổi tự do tại đây Mỗi ngày trung bình khối l-ợng ngoại hối giao dịch là 160 tỷ USD Về quy mô giao dịch, thị trờng ngoạihối Xingapo có quy mô gần bằng quy mô thị trờng ngoại hối Tokyo (xếp hàngthứ 3 sau Luân đôn và Nework)
Xingapo là trung tâm hoạt động hàng không của khu vực châu á - TháiBình Dơng Đến cuối năm 1993, Xingapo đã ký kết thoả thuận về hàng khôngvới 81 nớc ở Xingapo có tới 4 sân bay lớn nhỏ, trong đó có sân bay thơngmại Changi đợc đa vào hoạt động từ năm 1981 Từ cuối năm 1990, sân baynày có 2 nhà ga hành khách với 68 nơi đỗ máy bay Năm 1993, sân bayChangi đã phục vụ gần 20 triệu lợt hành khách qua lại Trong nhiều năm liền,
Trang 37sân bay Changi đợc đánh giá là sân bay phục vụ tốt nhất Số lần cất cánh và hạcánh chuyến bay quốc tế đứng thứ 14 trên thế giới, lợng chuyên chở hànhkhách và hàng hoá đứng thứ 9 trên thế giới [41;106].
Ngành dịch vụ viễn thông của Xingapo trong khoảng một thập kỷ 90phát triển một cách rầm rộ kể cả về các hình thức dịch vụ cũng nh tốc độ kỹthuật Hiện nay dịch vụ viễn thông tại nớc này có giá cớc rẻ vào bậc nhất thếgiới Xingapo là nớc đầu tiên ở Đông Nam á có trạm vệ tinh hàng hải mặt đất,
có thể liên lạc với hệ thống vệ tinh hàng hải quốc tế Immarsart Đến đầunhững năm 90 có khoảng 85% các doanh nghiệp sử dụng máy điện toán và cógần 20.000 km đờng dây cáp quang đợc đa vào hoạt động Chính hệ thốngdịch vụ viễn thông hiện đại và giá cớc rẻ, nên nhiều công ty trên thế giới đãchọn Xingapo làm trụ sở của họ để thiết lập các đầu mối thông tin và dữ liệucho hoạt động kinh doanh của họ ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng[41;112]
Xingapo là nớc có chính sách thơng mại hết sức năng động, là một trong
số ít thị trờng tự do nhất thế giới không áp dụng thuế hoặc hàng rào thuế quan.Khoảng 96% các mặt hàng nhập khẩu không phải đánh thuế, trừ những mặthàng nhập khẩu phải có giấy phép đặc biệt nh vũ khí, ma tuý, chất nổ và một sốmặt hàng khác và một số mặt hàng không khuyến kích tiêu dùng nh ôtô, xemáy, xăng dầu, rợu bia, chế phẩm xăng dầu Tuy nhiên, chính phủ luôn điềuchỉnh mức thuế xuất cho hợp lý và chỉ có một mức thuế áp dụng đồng nhất chocả công ty nớc ngoài tại Xingapo và các công ty của Xingapo
Hàng xuất khẩu từ Xingapo không phải đóng thuế Nếu tạm nhập để táichế thì phải nộp thuế hàng hoá dịch vụ 3%, khi tái xuất sẽ đợc hoàn lại Hàngnhập khẩu không phải nộp thuế nhập khẩu nhng đồng loạt phải chịu 3% thuếhàng hoá và dịch vụ theo trị giá CIF hoặc giá bán và phụ phí nếu có
Các công ty xuất nhập khẩu chỉ phải đóng thuế ngân hàng và thuế công
ty 26% tính trên lợi nhuận ròng của năm tài chính Ngoài ra không phải đóngthêm bất cứ loại thuế nào khác Tuy nhiên, các công ty lớn có vốn trên 200triệu USD chỉ phải nộp ở mức 10% do chính phủ khuyến kích các công ty lớn
và các công ty đa quốc gia đặt trụ sở tại Xingapo
Nh vậy, nền kinh tế của Xingapo trớc 1995 đã có bớc phát triển mạnh.Nền kinh tế của Xingapo là nên kinh tế tự do hoá nhất thế giới và có sức cạnhtranh nhất thế giới, hệ thống pháp luật của Xingapo chặt chẽ, môi trờng kinhdoanh ổn định nhất khu vực châu á Chính điều đó đã làm cho Xingapo trở
Trang 38thành một thị trờng đầy hấp dẫn với mọi quốc gia trên thế giới và Việt Namkhông thể không đẩy mạnh quan hệ kinh tế có ý nghĩa chiến lợc lâu dài với thịtrờng đầy tiềm năng này.
Sự thành công trong phát triển của Xingapo từ những năm 70 đến đầunhững năm 90 (thế kỷ XX) do đợc tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có sự
đóng góp to lớn của chính sách đối ngoại Với chính sách đối ngoại khônkhéo, linh hoạt, chính phủ Xingapo vừa khắc phục những yếu điểm của một n-
ớc nhỏ bé về diện tích và dân số, vừa khai thác tối đa vị trí địa lý, chính trị vàhoàn cảnh quốc tế
Các nhà lãnh đạo Xingapo tuyên bố phát triển quan hệ hoà bình hữunghị và hợp tác kinh tế với tất cả các nớc trên thế giới, không phân biệt chế độchính trị, thực hiện chính sách không liên kết, không tham gia các tổ chức,khối quân sự nào
Trên thực tế, Xingapo theo đuổi chính sách đối ngoại thực dụng, khônkhéo: “Con cá nhỏ bơi giữa dòng đại dơng”, thực hiện chính sách ngoại giao
“đánh đu” giữa các trung tâm quyền lực để thu hút nguồn lợi về mình [47;23].
Mọi quan hệ quốc tế đều nhằm mục tiêu làm lợi cho kinh tế đất nớc Chínhsách ngoại giao của Xingapo phụ thuộc vào thái độ của các nớc lớn
Với Mỹ và các nớc công nghiệp phát triển, Xingapo thực hiện chínhsách hợp tác toàn diện, xem đây là hớng u tiên hàng đầu Xingapo là nớc tiênphong trong nhóm ASEAN lôi kéo Mỹ có mặt tại Đông Dơng Trong nhữngnăm 1965 -1981, chính sách thân Mỹ của Xingapo đã đem lại cho đất nớcnhiều lợi thế Từ năm 1970 đến 1985, Mỹ đầu t trực tiếp vào Xingapo 7,9 tỷUSD Năm 1980, có 1307 chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia của cácnớc công nghiệp phát triển hoạt động tại Xingapo, trong đó Mỹ có 557, Anh
có 473, Tây Đức có 49, Hà Lan có 31, Nhật Bản có 125 công ty [26;91].Xingapo đợc Mỹ và các nớc đồng minh của Mỹ cho hởng quy chế tối huệquốc và thơng mại trong suốt một thời gian dài Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu luônluôn chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Xingapo và thặng d mậu dịchcủa Xingapo từ các thị trờng này rất lớn
Mặt khác, Xingapo theo đuổi chính sách đối ngoại giành u tiên cho việctạo dựng môi trờng hoà bình, ổn định tại Đông Nam á và châu á - Thái Bình D-
ơng, duy trì hệ thống thơng mại đa phơng và mở, sẵn sàng hợp tác với bất kỳquốc gia nào vì lợi ích chung, đặc biệt coi trọng việc tăng cờng quan hệ với các
Trang 39nớc trong khu vực Là một trong những nớc sáng lập ASEAN, Xingapo ủng hộchủ trơng xây dựng Hiệp hội đoàn kết, hợp tác và phát triển, tích cực phát huyvai trò trong nớc, đề xớng tiến trình hợp tác á-Âu (ASEM), thúc đẩy sángkiến thành lập Diễn đàn Đông á - Mỹ Latinh (EALAF) Vị thế của Xingapongày càng đợc nâng cao trên trờng quốc tế [35;20].
Đối với Việt Nam, Xingapo là đối tác quan trọng và gần gũi Trongchính sách của mình, Xingapo cũng luôn giành u tiên cho việc tạo dựng môitrờng hoà bình, ổn định tại Đông Nam á và châu á - Thái Bình Dơng, phục vụnhu cầu hợp tác thơng mại và phát triển kinh tế, bởi vậy, Việt Nam là mộttrong những đối tác và thị trờng chính của Xingapo Với lợi thế của mình, ViệtNam có thể cung cấp cho bạn những mặt hàng mà bạn cần nh nông sản, thuỷsản, Bởi vậy, Xingapo luôn coi trọng phát triển quan hệ hợp tác với ViệtNam cả trên phơng diện song phơng và trong khuôn khổ ASEAN, cũng nhtrên các diễn đàn quốc tế khác [36;3]
Tiểu kết
Là hai nớc cùng nằm ở khu vực Đông Nam á, Việt Nam và Xingapo đã
có quan hệ từ lâu Tuy nhiên, dới sự tác động của những nhân tố lịch sử, chínhtrị bên trong và bên ngoài khu vực, quan hệ giữa hai nớc đã trải qua những bớcthăng trầm biến động Nếu xét về cội nguồn lịch sử thì Việt Nam và Xingapo
có sự giao lu từ rất sớm Nhng mãi đến năm 1973 Việt Nam và Xingapo mớithiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ Nếu làm phép so sánh với các nớckhác trong khu vực Đông Nam á thì Việt Nam và Xingapo là hai nớc thiết lậpquan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ vào loại sớm thứ ba (Việt Nam - Lào 1962,Việt Nam - Malaixia, Xingapo 1973, Việt Nam - Mianma 1975, Việt Nam -Thái Lan, Philippin 1976, Việt Nam - Brunây 1992)
Việt Nam - Xingapo thiết lập quan hệ hợp tác kinh tế kể từ khi hai nớccha thiết lập quan hệ ngoại giao Nhng nhìn lại quan hệ Việt Nam - Xingapotrớc năm 1973 có thể thấy rằng, do tác động của sự đối đầu căng thẳng trongquan hệ quốc tế cũng nh quan hệ khu vực, do việc Xingapo cũng nh một số n-
ớc ASEAN có dính líu vào cuộc chiến tranh của Mỹ chống nhân dân ViệtNam, nên quan hệ Việt Nam - Xingapo còn bị hạn chế Nhng có thể nói quan
hệ thơng mại hai chiều Việt Nam - Xingapo từ đầu thập kỷ 70 tơng đối pháttriển Ngay từ trớc khi hai nớc có quan hệ ngoại giao chính thức, Việt Nam đãthành lập cơ quan đại diện các tổng công ty xuất nhập khẩu Việt Nam ở
Trang 40Xingapo để điều hành các hoạt động thơng mại Đây chính là bớc khởi đầu tốt
đẹp trong quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Xingapo
Nhìn chung, quan hệ Xingapo - Việt Nam từ trớc 1973 đến 1995 pháttriển nhanh chóng và luôn đợc củng cố, tăng cờng, đáp ứng lợi ích của mỗi n-
ớc và của toàn khu vực Đông Nam á Các nhà lãnh đạo đất nớc Việt Nam,Xingapo đã không thể ngờ về sự “thần kỳ” trong quan hệ giữa hai nớc Đây làtiền đề để hai nớc bớc vào một thời kỳ mới, phát triển về chất trong giai đoạnsau, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của Hiệp hội các quốcgia Đông Nam á (ASEAN) Phát biểu nhân chuyến thăm Xingapo (tháng10/1993), Nguyên Tổng Bí th Đỗ Mời khẳng định: Việt Nam và Xingapo cónhững cơ sở vững chắc cho sự phát triển hơn nữa mối quan hệ song phơng.Nhân dân Việt Nam và Xingapo đều có ý thức độc lập dân tộc, tự lực tự cờng,giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, cùng mong muốn thúc đẩy xu thế hoàbình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới