Vớimong muốn là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng quốc tế, sẵn sàng hợptác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự ổn định, thịnh v ợng và phát triển chung, hơn 10 nă
Trang 1§ç thÞ hµ
Quan hÖ hîp t¸c th¬ng m¹i, ®Çu t
gi÷a ViÖt Nam vµ Liªn minh ch©u ¢u (EU)
(1995 - 2006)
LuËn v¨n th¹c sÜ lÞch sö
Vinh - 2007
Trang 2đỗ thị hà
giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU)
Trang 3Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu sử dụng 7
6 Những đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục luận văn 8
Nội dung 9
Chơng 1 Những nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác thơng mại, đầu t giữa Việt nam và EU 9
1.1 Đờng lối đối ngoại đổi mới của Việt Nam 9
1.2 Quá trình phát triển và sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của EU .13
1.2.1 Quá trình phát triển, mở rộng của EU 13
1.2.2 Chiến lợc mới của EU đối với châu á và Đông Nam á 20
1.3 Quá trình hình thành và phát triển quan hệ giữa Việt Nam và EU 25
1.31 Quan hệ trên lĩnh vực chính trị 25
1.3.2 Quan hệ trên lĩnh vực kinh tế (trớc 1995) 35
1.4 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến quan hệ thơng mại, đầu t giữa Việt Nam và EU 41
1.4.1 Sự thay đổi của cục diện thế giới 41
1.4.2 Bối cảnh khu vực 44
Chơng 2 Quan hệ hợp tác thơng mại, đầu t giữa Việt Nam và EU (1995 - 2006) 47
2.1 Quá trình xác định cơ sở pháp lý cho sự hợp tác kinh tế thơng mại, đầu t giữa Việt Nam và EU 47
Trang 42.2 Quan hÖ th¬ng m¹i, ®Çu t gi÷a ViÖt Nam vµ EU 53
2.2.1 Quan hÖ trªn lÜnh vùc th¬ng m¹i 53
2.2.2 Quan hÖ trªn lÜnh vùc ®Çu t 79
Ch¬ng 3: Mét sè nhËn xÐt vÒ quan hÖ th¬ng m¹i, ®Çu t gi÷a ViÖt Nam vµ EU (1995 - 2006) 95
3.1 Nh÷ng kÕt qu¶ bíc ®Çu 95
3.1.1 Thµnh tùu 95
3.1.2 Khã kh¨n, h¹n chÕ 100
3.2 TriÓn väng cña mèi quan hÖ hîp t¸c th¬ng m¹i, ®Çu t ViÖt gi÷a ViÖt Nam vµ EU 104
3.2.1 C¬ héi 104
3.2.2 Th¸ch thøc 107
3.2.3 TriÓn väng hîp t¸c th¬ng m¹i, ®Çu t ViÖt Nam - EU 110
3.3 Mét sè gi¶i ph¸p nh»m thóc ®Èy quan hÖ th¬ng m¹i, ®Çu t gi÷a ViÖt Nam vµ EU trong thêi gian tíi 112
KÕt luËn 116
Tµi liÖu tham kh¶o 118 Phô lôc
Trang 5Apec Asia Pacific Economic Cooperation Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng
Arf Asean Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN
Asean Association of Southeast Asian Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
Asem Asia - Euro Meeting Diễn đàn hợp tác á - Âu
Cap Common Agricultural Policy chính sách nông nghiệp chung
Ceec Central and Eastern European
Countries Các nớc Trung và Đông Âu
Ec European Commission Uỷ ban châu Âu
Ecsc European Coal and Steel Community Cộng đồng than, thép châu Âu
Ecu European Currency Unit Đồng tiền chung châu Âu
eec European Economic Community Cộng đồng kinh tế châu Âu
eu European Union Liên minh châu Âu
euratom European Atomic Organization Tổ chức hạt nhân châu Âu
fdi Foreign Direct Investment đầu t trực tiếp nớc ngoài
gatt General
Agreeon Trade and Tariffs Hiệp định chung về mậu dịch và thuế quan
gdp Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
gsp Generalized System of Preferences Hệ thống u đãi thuế quan chung
mfn Most Favored Nation Treatment Đãi ngộ tối huệ quốc
OEEC Organization for European
Economic Cooperation Tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu
treati Trans Regional EU - ASEAN Trade
initiatives
Sáng kiến thơng mại xuyên khu vực
EU - ASEAN wto Wold Trade Organization Tổ chức thơng mại thế giới
Mở đầu
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Quan hệ hợp tác để phát triển là xu thế hiện nay của thế giới, cũng lànhu cầu của các quốc gia Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa, khôngmột quốc gia nào muốn phát triển thịnh vợng mà lại “đóng kín cửa” Các nềnkinh tế (dù ở trình độ nào) đều phải tiếp xúc với nhau để trao đổi, học hỏi kinhnghiệm và hỗ trợ lẫn nhau Nói cách khác, bất cứ một quốc gia nào muốn mởcửa nền kinh tế đều phải phát triển các mối quan hệ kinh tế giữa nớc mình vớicác nớc khác Đây là mối quan hệ quan trọng nhất không những đối với các n-
ớc kém phát triển, quan hệ kinh tế đối ngoại còn hạn hẹp, mà cả đối với các
n-ớc phát triển, có nhiều mối quan hệ kinh tế trên toàn cầu Do vậy, phát triểnmối quan hệ hợp tác, đặc biệt là hợp tác kinh tế, giữa các nớc, các tổ chứcquốc tế đã trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại, trở thành một xu thế tấtyếu
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề đó, Việt Nam đã nhanh chóngthực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế để hoà nhập với bên ngoài,chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trờng Vớimong muốn là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng quốc tế, sẵn sàng hợptác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự ổn định, thịnh v ợng
và phát triển chung, hơn 10 năm qua, Việt Nam đã đạt đợc những thành côngnhất định trong quá trình phát triển đờng lối kinh tế đối ngoại của mình nh:Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (asean), Diễn đàn hợp tác á -
ÂU (asem); trở thành thành viên của diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - TháiBình Dơng (apec), Tổ chức thơng mại thế giới (wto) Bên cạnh việc tăng c-ờng hợp tác kinh tế với các nớc và các tổ chức trong khu vực, Việt Nam còn
mở rộng quan hệ thơng mại, tranh thủ nguồn viện trợ và vốn đầu t của các nớccũng nh các tổ chức quốc tế Trong đó Liên minh châu âu (EU) - Một tổ chứckinh tế, chính trị khu vực lớn nhất hiện nay, đang ngày càng trở thành mộttrong những đối tác kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam
Về phía EU, trớc xu thế toàn cầu hóa và xu thế phát triển của thế giớilấy kinh tế làm trung tâm, EU bắt đầu nhận thấy khu vực Đông Nam á (trong
đó có Việt Nam) một tiềm năng hợp tác to lớn trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, EU
đã có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại, tích cực đẩy mạnh mốiquan hệ hợp tác nhiều mặt với Đông Nam á, với Việt Nam Trong đó, quan hệhợp tác kinh tế thơng mại, đầu t đợc đặc biệt chú trọng
Trang 7Quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại, đầu t Việt Nam - EU trong thời gianqua đã có những thành tựu đáng khích lệ, triển vọng đầy hứa hẹn Tuy nhiên,quan hệ này về cơ bản vẫn cha tơng xứng với tiềm năng thực có của hai bên.Nguyên nhân chủ yếu là do hai bên cha có sự hiểu biết thật đầy đủ, sâu sắc vềnhau.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại,
đầu t Việt Nam - EU (từ 1995 đến 2006) không chỉ mang ý nghĩa khoa học màcòn đáp ứng đợc yêu cầu của thực tiễn đặt ra, đó là cung cấp những hiểu biết đểlàm căn cứ hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam với EU Việcnghiên cứu mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - EU, rút ra những bài họckinh nghiệm, vạch ra triển vọng, đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy mối quan
hệ đó lên một tầm cao mới là việc làm cần đợc đẩy mạnh
Xuất phát từ thực tiễn nói trên, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ
vào việc nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Quan hệ
hợp tác thơng mại, đầu t giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (1995- 2006)” là
nội dung chính cho luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên minh châu âu (EU) là một tổ chức khu vực lớn nhất hiện nay, có
sự liên kết khá chặt chẽ toàn diện và thống nhất, đợc coi là một trong ba “siêucờng” có vị thế chính trị, có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự ngàycàng tăng Vì vậy ngay từ những thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, việc nghiêncứu về tổ chức này đã đợc đặt ra đối với các nhà sử học phơng Tây
Đối với giới nghiên cứu, giới sử học châu á, do điều kiện cụ thể, việcnghiên cứu châu Âu khá muộn Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, nghiên cứuchâu Âu trở thành một bộ môn khoa học chuyên ngành Một số nớc đã thànhlập các viện, các tổ chức chuyên nghiên cứu về châu âu nh Viện nghiên cứuchâu âu ở Việt Nam Nhìn chung, các tác giả tập trung khai thác quá trìnhhình thành và phát triển, quá trình liên kết, nhất thể hoá, mở rộng cơ cấu tổchức của Liên minh châu âu Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu:
Mở rộng thành viên của Liên minh châu
“ âu” (1995) của Richard E.Baldwin, Hội nhập châu
“ âu: Mối đe doạ của các nền kinh tế chuyển đổi” (1996) của
Jozef M Van Brabant, Liên minh châu Âu: Cấu trúc và thể chế“ ” (2000) của
Clive Archer, Kinh tế - chính trị trong cạnh tranh ở châu Âu mở rộng“ ” (2001)
của Julie Pellegrin, Kinh tế và Chính sách của EU mở rộng“ ” (2004) của Carlo
Trang 8Altomonte, Mario Nava Theo hiểu biết của chúng tôi, hầu nh cha có một côngtrình nào của các nhà khoa học nớc ngoài nghiên cứu về mối quan hệ EU vàViệt Nam nói chung và hợp tác kinh tế giữa EU và Việt Nam nói riêng.
ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu châu âu, EU chủ yếu tập trung ởviện nghiên cứu châu âu thuộc Trung tâm KHXH&NV Quốc gia, Vụ châu
Âu thuộc Bộ ngoại giao và một số cơ quan khác Các công trình nghiên cứu đã
đợc công bố:
1 Liên minh châu Âu“ ” (1995) của tác giả Đào Huy Ngọc, Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung của công trình này tập trung trình bàyquá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động của EU Đây là cuốn sách
có giá trị giúp ngời đọc hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về tổ chức này
2 Trong cuốn Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu“ ” (2001), Nhàxuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tác giả Trần Thị Kim Dung trình bày quátrình hình thành, phát triển của quan hệ Việt Nam - EU, đặc biệt từ khi hai bênthiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (10-1990) đến năm 2000 Để làm nổibật quá trình này, tác giả dành hẳn một chơng để trình bày khái quát quá trìnhhình thành, phát triển của EU cũng nh quan hệ của EU với Mỹ, EU với châu á
và tác động của những mối quan hệ này đối với quan hệ Việt Nam - EU ởphần nội dung chính, tác giả phân tích quan hệ Việt Nam - EU trên tất cả cáclĩnh vực: Chính trị, kinh tế, giáo dục…
3 Thúc đẩy quan hệ th“ ơng mại - đầu t giữa Liên hiệp châu Âu và Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” (2001), Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, do Bùi Huy Khoát chủ biên Cuốn sách đợc biên soạn nhằm làm rõhơn cơ hội và thách thức mà sự liên minh kinh tế - tiền tệ của EU đang tạo ratrớc nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh vợt qua ảnh hởng tiêu cực của tìnhhình kinh tế khu vực vừa qua để tiếp tục thực hiện CNH, HĐH đất nớc trongnhững năm đầu thế kỷ XXI
4 “Mở rộng EU và các tác động tới Việt Nam” (2003), Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội, đợc biên soạn bởi các tác giả Bùi Huy Khoát, CarloFilippini, Stefan Hell Cuốn sách này đợc bắt nguồn từ cuộc Hội thảo quốc tế
về mở rộng EU và các tác động đến Việt Nam đợc tổ chức tại Hà Nội vàotháng 10-2003 Cuốn sách tập hợp các bài phát biểu của những ngời đứng đầuchính phủ Việt Nam, quan chức cấp cao của Uỷ ban châu Âu, đại sứ 4 nớc mớigia nhập EU và của một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc Nội dung cơ
Trang 9bản của ấn phẩm này tập trung phân tích quá trình mở rộng EU và tác độngcủa nó tới Việt Nam.
5 Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu“ ” (1990-2004), luận án tiến sĩlịch sử của tác giả Hoàng Thị Nh ý, phân tích một cách toàn diện mối quan hệhợp tác Việt Nam - EU trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, giáo dục, y
tế, du lịch… trong sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực Trên cơ sở đó,tác giả dự đoán triển vọng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển quan
hệ Việt Nam - EU trong thời gian tới
6 Trong cuốn: Các n“ ớc Đông Âu gia nhập Liên minh châu Âu và những tác động tới Việt Nam”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, các tácgiả Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn An Hà giới thiệu một cách tổng quát chiếnlợc mở rộng của EU hiện nay, những cải cách, hội nhập của các nớc Đông Âuvào EU và những tác động chủ yếu tới quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam -
EU
Vấn đề này còn đợc đề cập đến trong các báo (Thơng mại, Nhân dân,
Đầu t…), tạp chí (Nghiên cứu châu Âu, Những vấn đề kinh tế thế giới, Quốc
tế, Nghiên cứu Đông Nam á…) Trong mỗi bài viết, các tác giả nghiên cứumột số mặt có liên quan đến Liên minh châu âu hay đến mối quan hệ ViệtNam - EU
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựng lại bức tranh tổng thể về quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại, đầu tViệt Nam - EU (từ năm 1995 đến 2006), chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng ấy,phân tích cơ hội, thách thức, dự báo triển vọng phát triển của mối quan hệ Từ
đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thơngmại, đầu t Việt Nam - EU trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đợc những mục đích trên đề tài tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cơ bản sau:
- Phân tích những nhân tố tác động tới mối quan hệ hợp tác kinh tế thơngmại, đầu t Việt Nam - EU, trong đó tập trung làm sáng rõ sự thay đổi trongchính sách đối ngoại của EU và quá trình đổi mới t duy, triển khai đờng lối đối
Trang 10ngoại đổi mới (đa dạng hóa, đa phơng hóa quan hệ quốc tế) của Đảng và Nhànớc ta dới tác động của bối cảnh thế giới và khu vực.
- Khái quát quan hệ hợp tác Việt Nam - EU, chỉ ra nguyên nhân chủ yếucủa thực trạng ấy Lấy đó làm cơ sở để phân tích quan hệ hợp tác kinh tế thơngmại, đầu t Việt Nam - EU trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay
- Dự báo triển vọng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệhợp tác kinh tế thơng mại, đầu t Việt Nam - EU trong thời gian tới
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ kinh tế thơng mại, đầu t Việt Nam - EU(từ năm 1995 đến 2006) trong sự tác động của tình hình thế giới và khu vực dẫn
đến việc điều chỉnh chiến lợc mới của EU đối với châu á, Đông Nam á (trong
đó có Việt Nam) và sự đổi mới đờng lối đối ngoại của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, đề tài nghiên cứu đối tợng bắt đầu từ năm 1995, là nămdiễn ra nhiều sự kiện quan trọng: Việt Nam kết thúc thắng lợi kế hoạch 5 năm1991-1995, bình thờng hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập tổ chức Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam á (ASEAN), đặc biệt là việc Việt Nam - EU ký kết Hiệp
định khung (đây đợc coi là cơ sở pháp lý quan trọng nhất của mối quan hệ hợptác Việt Nam - EU), đến nay
Về nội dung, đợc xác định cụ thể là nghiên cứu toàn diện mối quan hệhợp tác kinh tế thơng mại, đầu t Việt Nam - EU
Quan hệ Viêt Nam - EU là mối quan hệ song phơng và đa phơng Vìvậy, trên cơ sở khái quát tình hình chung, đề tài đi vào phân tích quan hệ kinh
tế thơng mại, đầu t cụ thể giữa Việt Nam và các nớc thành viên EU Tuynhiên, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ kinh tế thơng mại, đầu tgiữa Việt Nam với một số nớc thành viên EU nh: Pháp, Đức, Anh, Hà Lan,Italia, Bỉ… Đây là những nớc thành viên chủ chốt sáng lập EU và đồng thời lànhững đối tác kinh tế chủ yếu của Việt Nam trong EU
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu sử dụng
5.1 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên nền tảng lý luận chung là chủ nghĩa Mác-Lênin, t ởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng ta về quan hệ quốc tế
Trang 11t-để giải quyết những vấn đề mang tính lý luận đặt ra trong quá trình thực hiện
đề tài
- Luận văn sử dụng kết hợp hai phơng pháp nghiên cứu cơ bản: Phơngpháp lịch sử và phơng pháp lôgic Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phơngpháp nghiên cứu chuyên ngành và các phơng pháp cụ thể nh: Phân tích, sosánh, tổng hợp…
5.2 Nguồn tài liệu sử dụng
- Nguồn tài liệu lấy từ kết quả nghiên cứu của các viện nghiên cứu: Việnnghiên cứu châu Âu, Viện kinh tế thế giới…
- Các tài liệu của Thông tấn xã, Th viện Quốc gia, Học viện Quan hệquốc tế, các webside của Bộ Ngoại giao, Bộ Thơng mại,…
- Các bài phát biểu, tuyên bố, trả lời phỏng vấn của các quan chức chínhphủ Việt Nam, EU và các nớc thành viên EU đợc đăng trên các báo, tạp chí(báo Nhân dân, báo Thơng mại, báo Đầu t…)
- Các bài viết đăng trên các báo và tạp chí (tạp chí Quốc tế, tạp chí Nghiêncứu châu Âu, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, tạp chí Những vấn đề kinh tếthế giới…)
đồng thời làm sáng tỏ thực trạng của mối quan hệ này đúng nh nó đã và đangdiễn ra
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu,giảng dạy, học tập chuyên ngành và các ngành có liên quan
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
có 3 chơng:
Chơng 1: Những nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác thơng mại,
đầu t giữa Việt Nam và EU.
Trang 12Ch¬ng 2: Quan hÖ hîp t¸c th¬ng m¹i, ®Çu t gi÷a ViÖt Nam vµ EU
(1995 - 2006).
Ch¬ng 3: Mét sè nhËn xÐt vÒ quan hÖ hîp t¸c th¬ng m¹i, ®Çu t gi÷a
ViÖt Nam vµ EU (1995 - 2006).
Trang 13nội dung
Chơng 1 Những nhân tố tác động tới quan hệ thơng mại,
đầu t giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) 1.1 Đờng lối đối ngoại đổi mới của Việt Nam
Bớc vào thập kỷ 80, Việt Nam đang ở trong tình trạng trầm trọng nhất“
của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội” [12, 9] Trong hơn một thập kỷ kể từ
sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam gặp không ít khókhăn, thử thách Nhiều nhiệm vụ nặng nề phải giải quyết cùng một lúc nh: giảiquyết hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định tình hình miền Nam saugiải phóng, thực hiện các nhiệm vụ của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xãhội… Đảng và nhân dân Việt Nam vừa phải khắc phục khó khăn, vừa phải tìmtòi, thử nghiệm con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đó, bên
cạnh những thành tựu đã đạt đợc, chúng ta phải “nhìn thẳng vào sự thật, đánh
giá đúng sự thật, nói rõ sự thật…”[10, 12] những mặt khó khăn, yếu kém còn
tồn tại đất nớc lâm vào tình trạng khủng hoảng, đỉnh điểm là giữa những năm
80, nền kinh tế lạm phát phi mã, đời sống xã hội vô cùng khó khăn
Cũng trong giai đoạn này, tình hình thế giới có những biến động mạnh
mẽ, xuất hiện những xu thế mới và những đặc điểm mới Những xu thế đó vừa
là thời cơ vừa là thách thức đối với Việt Nam Chúng ta muốn tiếp tục thựchiện thành công sự nghiệp cách mạng cũng nh bảo vệ những thành quả màchúng ta đã đạt đợc, thì yêu cầu đặt ra là phải đa đất nớc thoát ra khỏi khủnghoảng, dần đi vào thế ổn định và phát triển; đồng thời phải phá thế bao vây,cấm vận của các thế lực thù địch và thực hiện đa phơng hoá, đa dạng hoá quan
hệ, đổi mới là giải pháp Việt Nam phải tính đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam(12/1986) đã mở đầu cho công cuộc đổi mới Trên cơ sở đánh giá những thànhtựu và hạn chế trong thời gian qua, Đại hội đã đề ra những nhiệm vụ và mụctiêu cho chặng đờng tiếp theo, trong đó, đổi mới công tác đối ngoại là một nộidung quan trọng
đờng lối đối ngoại rộng mở do đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đề
ra, xác định nhiệm vụ hàng đầu là tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho“
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc” [10, 99] Đặc biệt,
một trong những phơng hớng chính về đối ngoại đợc thông qua tại Đại hội VI
Trang 14là mở rộng quan hệ với tất cả các n“ ớc trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”
[10, 99 - 100]
Ngày 20/8/1988, Nghị quyết Trung ơng 13 Bộ chính trị khoá VI đãthông qua chiến lợc đối ngoại đổi mới Cụ thể:
- Về đổi mới t duy, nghị quyết đã chuyển từ coi trọng an ninh sang coi
trọng phát triển và mở rộng quan hệ quốc tế Nghị quyết khẳng định “Với một
nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ quốc tế, chúng ta sẽ ngày càng có khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công CNXH hơn ”
- Mục tiêu của công tác đối ngoại của nớc ta là phải củng cố và giữ“
vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế”.
- Phơng thức đấu tranh mới là chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ“
trạng thái đối đầu sang đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình với tất cả các
đối tác chính”.
- Quan điểm bạn - thù đợc đánh giá lại, không còn coi nớc nào là “hòn
đá tảng”, “đối lập” hay kẻ thù nữa
Có thể nói, chính sách này của Việt Nam phù hợp với xu thế chung củathế giới nên đã nhận đợc sự hởng ứng tích cực từ bạn bè quốc tế Từ trong bốicảnh đó, quan hệ Việt Nam - EU có những biến chuyển căn bản, tiến tới thiếtlập quan hệ ngoại giao chính thức vào ngày 22/10/1990, tạo ra thời kỳ mớitrong quan hệ giữa hai bên Sự kiện đó đồng thời là một minh chứng sinh độngcho sự thành công của đờng lối đối ngoại đổi mới của Đảng và nhà nớc ViệtNam sau gần 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nớc
Bớc sang thập niên 90, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động
Sự sụp đổ của Liên Xô và CNXH ở các nớc Đông Âu đã làm thay đổi đặc
điểm của tình hình thế giới Loài ngời bớc vào một thời kỳ mới, thời kỳ hậuchiến tranh lạnh đây là một thời cơ đồng thời cũng là một thách thức hết sứcgay gắt Trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới sau chiếntranh lạnh, Việt Nam tiếp tục điều chỉnh, triển khai chính sách đối ngoại đổimới đã đợc đề ra năm 1986 Tại đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991), đờng lối
đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ đã có bớc chuyểncăn bản về định hớng Đại hội đã tiếp tục khẳng định lại nhiệm vụ bao trùm
của đờng lối đối ngoại Việt Nam là: “giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu
nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và
Trang 15bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”,
Việt Nam “muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển , coi trọng quan hệ hợp tác với các ” “coi trọng quan hệ hợp tác với các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới”, đặc biệt chú trọng “mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nớc tây Bắc Âu” [11, 88], trong đó nhấn
mạnh đến việc tận dụng vốn, công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinhnghiệm trong lĩnh vực ngân hàng và quản lý kinh tế của các nớc EU Đờng lốinày đã đợc khẳng định và phát triển trong nhiều Nghị quyết Trung ơng tiếptheo Nghị quyết Trung ơng 3 khoá VII (6/1992) cũng nhấn mạnh dành u tiêncho việc tham gia hợp tác khu vực, đồng thời chú trọng mở rộng, phát triểnquan hệ với tất cả các nớc và các trung tâm kinh tế chính trị lớn trên thế giới
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1/1994) đãkhẳng định: Việc mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị trí của ViệtNam trên thế giới, tạo môi trờng quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng vàbảo vệ tổ quốc là một thành quả quan trọng của công cuộc đổi mới Để pháthuy những kết qủa đã đạt đợc, Hội nghị nhấn mạnh phải tiếp tục thực hiệnchính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá,tranh thủ tối đa sự đồng thuận, hạn chế mặt bất đồng trong quan hệ với các n-
ớc, phải thấy rõ khó khăn và thách thức cũng nh thuận lợi và cơ hội, theo dõisát diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế để có chủ trơng thích hợp, giữvững nguyên tắc năng động, linh hoạt
Tiếp đó, Đại hội VIII và Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam tiếptục hoàn chỉnh t duy mới về chính trị đối ngoại của Việt Nam, theo phơngchâm: Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các n ớc trong
cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, “tiếp tục thực
hiện đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan
hệ đối ngoại , coi trọng quan hệ với các n ” “coi trọng quan hệ hợp tác với các ớc phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới” [12, 120].
Có thể thấy, phát triển kinh tế đối ngoại là một trong những nội dungquan trọng nhất của đờng lối đối ngoại rộng mở của Đảng ta Chủ trơng của
Đảng và Nhà nớc là: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và
thế giới” [12, 84-85] Hội nghị Trung ơng 4 (12/1997) đã đề ra chủ trơng hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là tích cực và chủ động thâm nhập và mở“
Trang 16rộng thị trờng quốc tế ” Với phơng châm đó, công tác đối ngoại của Đảng và
ngoại giao Nhà nớc chuyển mạnh sang “phục vụ kinh tế”, gắn ngoại giao kinh
tế với việc chủ động hội nhập kinh tế, thực hiện thành công sự nghiệp CNH,
HĐH đất nớc nhiệm vụ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là phát huy cao độ“
nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững ” [13, 89]
Theo phơng hớng này, cùng với việc triển khai chính sách láng giềng vàkhu vực thân thiện, Việt Nam đã nâng quan hệ với EU lên một giai đoạn mới,sôi động và phong phú hơn từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức(1990) Từ đây, Việt Nam coi EU là một đối tác rất quan trọng trong chínhsách đối ngoại của mình, là nhân tố giúp Việt Nam có đợc uy tín quốc tế caohơn và là một bạn hàng quan trọng giúp Việt Nam thu đợc những nguồn lợikinh tế to lớn Chính vì vậy, Việt Nam chủ trơng thực hiện chính sách đốingoại rộng mở cả song phơng và đa phơng trên nhiều phơng diện với EU vàtừng nớc thành viên EU bằng cách tăng cờng đối thoại chính trị và thúc đẩyhợp tác kinh tế trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi Đặc biệt, từ mùa hè năm
1995, khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức Hiệphội các quốc gia đông Nam á (ASEAN) thì quan hệ Việt Nam - EU lại càng
có cơ hội để phát triển trên ba hớng: quan hệ Việt Nam với toàn bộ EU, quan
hệ Việt Nam với từng nớc thành viên EU, quan hệ Việt Nam với EU và các
n-ớc thành viên trong khuôn khổ ASEAN, ASEM
1.2 Quá trình phát triển và sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của EU
1.2.1 Quá trình phát triển, mở rộng của EU
Trong lịch sử, nhiều đế quốc châu Âu đã sử dụng phơng thức chiếntranh xâm lợc để thống nhất châu Âu, nhng rút cuộc đều thất bại Sau khichiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, năm 1946, trong bài diễn văn tại Duyrích(Thụy Sỹ), cựu thủ tớng Anh W Sớcsin, đã đa ra kiến nghị lập “Hợp chủngquốc châu Âu” do Pháp và Đức lãnh đạo (Anh không tham gia) W Sớc sinmuốn bắt đầu liên kết từ chính trị, nhng một số chính khách khác lại chủ trơngkhởi đầu là kinh tế để từng bớc thúc đẩy sự liên hợp châu Âu
Lịch sử 50 năm qua đã chứng minh việc châu Âu bắt đầu bằng con đờnghợp nhất về kinh tế là đúng đắn Những nỗ lực nhất thể hoá châu Âu đã đợcbắt đầu từ đầu thập niên 50 của thế kỷ XX năm 1951, Cộng đồng than thép
Trang 17châu Âu (ESSC) ra đời với sự tham gia của 6 nớc: Pháp, Cộng hoà liên bang
Đức, Bỉ, Hà Lan, Lúcxămbua và Italia Sáu năm sau, ngày 25 tháng 7 năm
1957, 6 nớc thành viên ECSC quyết định thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu(EEC) và Cộng đồng năng lợng nguyên tử châu Âu (Euratom)
Sự phát triển của Liên minh châu Âu diễn ra theo ba tiến trình chínhtrong mối quan hệ khăng khít, vừa là tiền đề vừa là điều kiện của nhau, đó là:
- Tiến trình hợp tác và liên minh kinh tế
Thành công bớc đầu của Cộng đồng than thép châu Âu đã thúc đẩy 6nớc thành viên tiến tới thành lập EEC và Euratom nhằm mở rộng sự hợptác và hội nhập sang toàn bộ các sản phẩm và tạo điều kiện thuận lợi cho việcphổ biến và sử dụng năng lợng nguyên tử
Hiệp định Rome thành lập EEC (1957) ấn định nhiệm vụ xác lập mộtLiên minh thuế quan và một thị trờng chung giữa các nớc thành viên Liênminh thuế quan là sự hợp nhất một số địa bàn thuế quan vào một địa bàn duynhất, ở đó xoá bỏ các loại thuế quan giữa các nớc thành viên Không giống nhkhu vực mậu dịch tự do, các thành viên của liên minh không đợc phép thu cácloại thuế quan riêng của mình đối với các hàng hoá nhập khẩu từ các nớc bênngoài mà phải sử dụng biểu thuế quan chung Việc cắt giảm thuế quan đối vớitất cả các sản phẩm theo Hiệp ớc Rome đợc thực hiện nhiều lần, đến ngày 1tháng 7 năm 1968 đợc xoá bỏ hoàn toàn Sau nhiều lần điều chỉnh, “Biểu thuếquan chung” đã thay cho biểu thuế quan quốc gia Kể từ ngày 1 tháng 1 năm
1970, các nớc thành viên thực hiện chính sách ngoại thơng thống nhất do Uỷban châu Âu hoạch định
Tháng 1 năm 1962, những quy tắc đầu tiên về một chính sách nôngnghiệp chung (CAP) đã đợc hình thành và đa vào thực hiện nhằm thiết lập mộtthị trờng thống nhất về nông sản, tạo ra các u đãi cho sản xuất nông nghiệp vàgắn kết nguồn lực của các nớc thành viên trong việc hỗ trợ nông nghiệp Chínhsách nông nghiệp chung đợc triển khai trên ba mặt chủ yếu: Thực hiện chínhsách điều hoà thị trờng nông sản theo các hớng: xoá bỏ thuế quan và nhữnghạn chế khối lợng nông sản luân chuyển giữa các nớc thành viên, thực hiệnbiểu thuế thống nhất để bảo vệ hàng hoá của Cộng đồng trớc sự cạnh tranh từbên ngoài và xây dựng hệ thống giá cả chung với từng loại hàng nông sản luchuyển trên thị trờng chung; thực hiện chính sách hiện đại hoá nông nghiệp;thực hiện chính sách tài chính nông nghiệp theo hớng đảm bảo tài chính cho
Trang 18việc thực hiện CAP Từ giữa những năm 70, chính sách nông nghiệp chung
đ-ợc thực hiện theo hớng giải quyết tình trạng d thừa nông sản phẩm và giảm chiphí sản xuất
Bớc sang thập niên 70, nền kinh tế của các nớc EEC gặp nhiều khókhăn, thị trờng chung bộc lộ nhiều khiếm khuyết, trong khi đó hệ thống tiền
tệ thế giới bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu rạn nứt do sự lạm dụng địa vị đặcbiệt của đồng đôla tình hình đó làm cho tỉ giá giữa các đồng tiền Tây Âubiến động mạnh Nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc nhiều vào thịtrờng bên ngoài của các nớc thành viên Cộng đồng trở nên bất ổn định Liênkết tiền tệ giữa các nớc thành viên EC trở thành yêu cầu cấp bách Năm 1972,các nớc thành viên EC đã đa ra thực hiện cơ chế “con rắn tiền tệ” hay còn gọi
là hệ thống “con rắn trong đờng hầm” Cơ chế “con rắn tiền tệ quy định biên
độ giao động của tỷ giá chính thức giữa các đồng tiền châu âu cộng trừ là1,25% Cộng đồng hy vọng qua đó có thể xác lập đợc hệ thống tỷ giá ổn định
để tiếp tục thúc đẩy tiến trình liên kết và cải thiện tình hình kinh tế chung.Tuy nhiên, cơ chế này tỏ ra ít có hiệu quả Nhiều nớc tự tuyên bố không cókhả năng tuân thủ cơ chế vì sự yếu kém của đồng tiền quốc gia và rút khỏi hệthống Cơ chế “con rắn tiền tệ” sụp đổ vì không đạt đợc mục đích đề ra Trớctình hình đó, để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế của cộng đồng, tháng 12năm 1978, Hội đồng bộ trởng EEC đã thoả thuận đợc cơ chế tiền tệ mới gọi là
“Hệ thống tiền tệ châu Âu” (EMS) Cơ chế này đã nới rộng biên độ giao độngcủa tỷ giá chính thức giữa các đồng tiền trong hệ thống Đồng tiền của các n-
ớc trong hệ thống cha gia nhập “con rắn tiền tệ” đợc phép thay đổi giá trị vớinhau trong giới hạn 2,25% Ngày 13/3/1979, Hệ thống tiền tệ châu Âu bắt
đầu đi vào hoạt động Hệ thống tiền tệ này đã đợc thực hiện thành công quahai giai đoạn: Giai đoạn một thực hiện việc liên kết các đồng tiền của các nớcthành viên vào một đơn vị tiền tệ chung của châu Âu, đợc gọi là đồng Ecu;giai đoạn hai thực hiện việc kiểm soát các chính sách tiền tệ của các nớcthành viên và biến đồng Ecu thành đồng tiền chung đợc sử dụng song hànhvới các đồng tiền quốc gia trong dự trữ và thanh toán
Tiếp đó, hội nghị Madrit (12/1995) đã thông qua “kịch bản” 3 giai đoạncho việc đa vào sử dụng đồng tiền chung, trong đó giai đoạn 2, từ ngày 1tháng 1 năm 1999, đồng Euro chính thức ra đời; và giai đoạn 3, từ 1/1/2002,
đồng Euro chính thức đợc đa vào sử dụng hoàn toàn
Trang 19Việc ra đời đồng tiền chung châu Âu là một sự kiện quan trọng đối với
EU và thế giới: Gần mời năm kể từ khi đồng Euro ra đời, tuy trải qua nhiềuthăng trầm, có một thời gian mất giá mạnh, nhưng từ đầu năm 2003, đồngEuro đã tăng giá mạnh so với đồng đôla Mỹ Sự ra đời của đồng Euro đã mở
ra con đường mới - liên minh tiền tệ khu vực - có lợi cho ổn định chính trị vàphồn vinh của châu Âu, cung cấp cho thế giới một đồng tiền mạnh, cạnh tranhvới đồng đôla Mỹ trong thanh toán quốc tế v dà ự trữ ngoại tệ của các nước
Sự ra đời của Liên minh kinh tế tiền tệ châu Âu và đồng Euro không chỉ là cơ
sở của quá trình thống nhất tiền tệ mà nó còn là một bộ phận của quá trìnhthống nhất thị trờng, thống nhất kinh tế châu Âu và vì một châu Âu thốngnhất
- Tiến trình hoàn thiện và củng cố thể chế, luật pháp
Qúa trình hình thành và phát triển sâu rộng của Liên minh châu Âu gắnliền với các Hiệp ớc Đây là những nền tảng pháp lý cơ bản mang tính hiếnpháp đặt ra các mục tiêu liên kết cũng nh các nghĩa vụ và quyền lợi mà các n-
ớc tham gia ký kết cam kết thực hiện Quyền hạn của các thể chế và cácnguyên tắc hoạch định chính sách cũng đợc quy định ngay trong các Hiệp ớc
và đợc các nớc thành viên tôn trọng và tuân thủ
Ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình liên kết kinh tế châu Âu, trongCộng đồng than thép, những ngời sáng lập ra Liên minh châu Âu đã muốnsáng tạo ra một mô hình cai quản hiệu quả, có khả năng thực hiện đợc cácquyết định ở tầm khu vực
Mô hình này bao gồm bốn thể chế quyền lực cơ bản: Cơ quan tối cao,Hội đồng bộ trởng các nớc thành viên, Quốc hội châu Âu và Toà án châu Âu
Đây cũng là cấu trúc thể chế của các Cộng đồng kinh tế châu Âu và Cộng
đồng Năng lợng nguyên tử châu Âu đợc thành lập từ hai Hiệp ớc EEC vàEuratom (đều ký tại Rome tháng 2/1957) Hai cộng đồng này lúc đầu có Quốchội và Toà án chung với Cộng đồng than thép, mỗi Cộng đồng có Hội đồng và
Uỷ ban (cơ quan tối cao) riêng Hiệp ớc hợp nhất năm 1965 đã thống nhất bahội đồng làm một, còn cơ quan tối cao và hai Uỷ ban đợc hợp nhất thành một
Uỷ ban Cho đến khi Liên minh châu Âu (EU) đợc thành lập năm 1993 với batrụ cột liên kết chính là kinh tế - chính trị - t pháp; các thể chế chính của EU
Trang 20bao gồm : Hội đồng châu Âu, Hội đồng Bộ trởng, Nghị viện châu Âu, Uỷ banchâu Âu và toà án châu Âu Trong đó Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu
Âu đóng vai trò lập pháp, Uỷ ban châu Âu nh một cơ quan hành pháp, toà ánchâu Âu đóng vai trò t pháp Đơng nhiên Liên minh châu Âu cha phải là mộtchỉnh thể hoàn chỉnh mà là một tiến trình vận động liên tục, bản thân các thểchế cũng nh các mối quan hệ tơng tác giữa các thể chế của Liên minh luônluôn thay đổi, việc phân chia quyền lực giữa các thể chế chỉ mang tính tơng
đối
Ngoài ra còn có các thể chế bổ trợ nh Ngân hàng Đầu t châu Âu, Uỷban kinh tế - xã hội, Uỷ ban vùng và Viện kiểm toán Khi chuẩn bị thành lậpLiên minh kinh tế - tiền tệ, một thể chế chính quan trọng nữa là Ngân hàngtrung ơng châu Âu mới ra đời vào tháng 8/1998
- Tiến trình mở rộng không gian thông qua việc kết nạp thêm các thành
viên mới
Từ ngày thành lập đến năm 2006, EU đã trải qua 5 lần mở rộng:
Lần thứ nhất, ngày 1 tháng 1 năm 1973, kết nạp ba nớc là Anh, Ai len
và Đan mạch, đa EU- 6 thành EU- 9
Lần thứ hai, ngày 1 tháng 1 năm 1981, kết nạp Hy Lạp, đa EU- 9 thànhEU- 10
Lần thứ ba, ngày 1 tháng 1 năm 1986, kết nạp Tây Ban Nha và Bồ ĐàoNha, đa EU- 10 thành EU- 12
Lần thứ t, ngày 1 tháng 1 năm 1995, kết nạp áo, Phần Lan và Thụy
Điển, đa EU- 12 thành EU- 15
Lần thứ năm, ngày 1 tháng 5 năm 2004, kết nạp 10 nớc là Ba Lan, Séc,Hungari, Slôvakia, Estonia, Látvia, Lítva, Slôvenia, Síp và Manta, đa EU- 15thành EU- 25 Đây đợc coi là đợt mở rộng lớn nhất trong lịch sử phát triển của
EU, nhng không phải là lần cuối vì mục tiêu của EU là bao quát toàn châu Âu
Việc mở rộng sang phía đông năm 2004 là cơ hội để Liên minh châu
Âu trở thành cộng đồng kinh tế mạnh nhất, một thị trờng thống nhất lớn nhấtthế giới, với 450 triệu ngời tiêu dùng, chiếm 27,8% GDP toàn cầu, 17,3% thịphần thế giới, tăng khả năng cho EU trong cạnh tranh toàn cầu cũng nh giảiquyết những thách thức mới của thế kỷ XXI Việc hình thành một thị trờngthống nhất rộng lớn hơn sẽ thúc đẩy sự luân chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn vàcông nghệ từ các thành viên phát triển hơn của EU sang Đông Âu, góp phầntăng trởng và kích thích đầu t trong khu vực
Trang 21Mặt khác, việc sáp nhập các nớc Đông Âu giúp cho củng cố an ninhquân sự, làm cho EU trở nên mạnh hơn ngay trong châu Âu, bảo đảm lợi thếcho EU trong cuộc cạnh tranh giành giật khu vực Trung và đông Âu với Nga
và Mỹ Đồng thời, EU mở rộng sang phía Đông sẽ thực sự xoá bỏ rào cản chiacắt châu Âu từ thời chiến tranh lạnh, tạo nên một ngôi nhà chung để mọi dântộc châu Âu cùng đợc hởng những lợi ích của sự tiến bộ, ngăn chặn xung đột,
đem lại hoà bình, ổn định và thịnh vợng cho cả châu lục cũng nh từng ngờidân, phù hợp với mục tiêu cơ bản của Liên minh Đây cũng là cơ sở cho quátrình kết nạp thêm các thành viên mới nh Rumani, Bungary, Thỗ Nhĩ Kỳ…trong một tơng lai gần (ngày 1/1/2007, EU đã kết nạp thêm hai thành viên mới
là Bungari và Rumani)
Tuy nhiên, đợt mở rộng lần này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với cả
EU và các thành viên mới trong việc hoà nhập thể chế các nớc thành viên cũ
và mới trong cộng đồng, việc cố gắng giảm bớt chênh lệch về trình độ pháttriển giữa các nớc thành viên cũ và mới, sự thống nhất về ý chí chính trị trongtoàn Liên minh khi có sự khác biệt lớn về lợi ích giữa các nớc thành viên, đặcbiệt là mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ của các nớc thành viên trong việc
đóng góp và hởng thụ từ ngân sách vốn đã hết sức phức tạp nay lại càng phứctạp hơn Mặc dù còn có nhiều khó khăn phức tạp, nhng rõ ràng với khối liênkết ngày càng mở rộng và phát triển nh vậy sẽ tác động mạnh mẽ đến quan hệvới bên ngoài nói chung, với Việt Nam nói riêng
1.2.2 chiến lợc mới của EU đối với châu á và Đông Nam á
Hai châu lục á - Âu có quan hệ gắn bó từ trong lịch sử xa xa kể từ khicác nhà buôn phơng Tây tìm đờng sang ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản… tiêuthụ hàng hoá và mua vàng bạc, hàng xa xỉ Thời kỳ lịch sử cận đại tiếp theo làthời kỳ lịch sử châu á bị các nớc châu Âu xâm chiếm làm thuộc địa Nhngnếu bỏ qua những dấu ấn thực dân thì có thể thấy ảnh hởng của châu Âu đợcghi nhận khá rõ trong đời sống xã hội châu á, chẳng hạn nh văn hoá, ngônngữ, thiết chế nhà nớc…
Sau thế chiến thứ hai, với sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa ở châu á,quan hệ á - Âu bắt đầu trở nên xa cách và mờ nhạt Trong thời kỳ chiến tranhlạnh, EC chủ yếu quan tâm đến vấn đề an ninh châu Âu và hợp tác nội khối.Quan hệ á - Âu chỉ thực sự thay đổi sau sự nổi lên của “các con rồng” châu á
Có thể nói, sự thay đổi trong chính sách châu á của Liên minh châu Âu mộtmặt là do sự thay đổi tổng thể trong chính sách đối ngoại của nó, mặt khác do
Trang 22chính những biến đổi đang diễn ra ở châu á Sự trỗi dậy ở châu á đang làmthay đổi một cách sâu sắc sự cân bằng của thế giới về sức mạnh kinh tế Vàonăm 2000, theo ớc tính của ngân hàng thế giới, một nửa sự tăng trởng của nềnkinh tế toàn cầu sẽ đến từ Đông á và Đông Nam á Chiến tranh lạnh kết thúc,nền kinh tế châu á, trớc hết là Đông á và Đông Nam á bùng phát với cáchiện tợng “thần kì” rồi sự xuất hiện của “các nền kinh tế mới nổi”… Trớc sựphát triển đầy ấn tợng đó, EC nhận ra rằng không thể “bỏ lỡ chuyến tàu châu
á” [33, 3] Tháng 7/1994, EC công bố văn kiện “Tiến tới một chiến lợc mới
đối với châu á”, điều chỉnh quan hệ với các khu vực Nam á, Đông Bắc á và
Đông Nam á Văn kiện đó đề ra định hớng và chính sách của EU đối với châu
á không chỉ cho những năm còn lại của thế kỷ XX mà còn cho cả những năm
đầu thế kỷ XXI Điều đặc biệt trong chính sách này là EU xây dựng mối quan
hệ bình đẳng, hợp tác với châu á
Chiến lợc xác định 4 mục tiêu chủ yếu:
- Tăng cờng sự hiện diện kinh tế của EU ở khu vực châu á nhằm duy trìvai trò lãnh đạo của Liên minh trong nền kinh tế toàn cầu Mục tiêu này đợcquán xuyến trong toàn bộ các chính sách và biện pháp thực hiện nhằm đạt đợc
sự hiện diện nổi bật của EU tại khu vực châu á trong những thập niên đầu thế
kỷ XXI để đảm bảo gặt hái đợc các lợi ích đầy đủ ở khu vực này Mục tiêucũng nói rõ EU khuyến khích các công ty của mình tham gia vào các hoạt
động kinh tế ở khu vực châu á, đồng thời cũng tạo thêm công ăn việc làm chongời lao động của mình
- Đóng góp cho sự ổn định chính trị ở châu á thông qua xúc tiến hợptác quốc tế và tăng cờng sự hiểu biết lẫn nhau;
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia kém phồn vinh trongkhu vực;
- đóng góp cho sự phát triển và củng cố dân chủ, cai quản bằng phápluật, tôn trọng các quyền con ngời và các quyền tự do cơ bản ở châu á
Các u tiên chính trong “chiến lợc châu á mới”:
- Tiếp tục tăng cờng các quan hệ song phơng của EU với các nớc và khuvực riêng biệt ở châu á;
- Tăng cờng sự hiện diện của EU tại châu á;
- ủng hộ hợp tác khu vực (theo hớng củng cố hoà bình, an ninh);
Trang 23- Khuyến khích châu á đóng vai trò lớn hơn trên các diễn đàn đa phơngnhằm tăng cờng hoà bình và an ninh quốc tế;
- Bảo đảm các thị trờng mở và khuôn khổ kinh doanh không phân biệt
đối xử;
- Khuyến khích sự liên kết các nền kinh tế nhà nớc vào thị trờng tự do;
- đóng góp cho sự phát triển bền vững và giảm đói nghèo ở các nớcchâu á kinh tế kém phát triển nhất;
- Đảm bảo cách tiếp cận phối hợp giữa các nớc EU đối với sự phát triểnquan hệ của EU với khu vực châu á
Thực hiện chiến lợc mới này, quan hệ EU với châu á đã có bớc pháttriển mạnh mẽ, hình ảnh của EU đã đợc gia tăng thông qua sự hợp tác toàndiện của EU với khu vực này trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, an ninh vàvăn hoá
Kể từ năm 1994, khi chiến lợc mới đối với châu á đợc công bố, tìnhhình thế giới và khu vực á - Âu đã có những biến động đáng kể cả về kinh tếlẫn chính trị Cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế năm 1997 bắt đầu từ TháiLan đã nhanh chóng lan nhanh ra toàn khu vực Cuộc khủng hoảng đã tác
động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống: từ kinh tế, chính trị đến xã hội Tuynhiên, sự phục hồi kinh tế của khu vực này đã diễn ra khá nhanh nhờ sự năng
động của các nền kinh tế mới nổi ở Đông á ở Đông Nam á, tổ chức ASEAN
đã có thêm các nớc thành viên mới: Mianma, Lào, Campuchia Trung Quốctiếp tục thực hiện thành công công cuộc cải cách, mở cửa và có vai trò ngàycàng tăng trên trờng quốc tế và trong khu vực Trong khi đó, ở châu Âu, EU đã
và đang thực hiện thành công chiến lợc mở rộng và nhất thể hoá của mình.tiến trình toàn cầu hoá đang trên đà gia tăng cả về tốc độ và cờng độ làm cho
sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế - chính trị - xã hội giữa các quốc gia, khu vựcngày càng tăng
Trong bối cảnh đó, để thích ứng trớc sự biến đổi nhanh chóng của thếgiới nói chung và khu vực nói riêng, tháng 9 năm 2001, EU lại công bố vănbản mới: “châu Âu và châu á: Một khuôn khổ chiến lợc quan hệ đối tác đã đ-
ợc gia tăng” Đây đợc coi là một bớc điều chỉnh và cập nhật chiến lợc châu ámới Trong lần điều chỉnh này, chiến lợc châu á đợc mở thêm phạm vi điềuchỉnh tới cả Ôxtrâylia và Niudilân
Trang 24Đây là sự điều chỉnh đã tính đến lợi thế so sánh của EU và những giá trị
mà EU có thể bổ sung Chiến lợc đợc điều chỉnh lần này xác định: mục tiêuchủ chốt là tập trung vào việc tăng cờng sự hiện diện của EU về chính trị vàkinh tế trong khu vực tới mức tơng xứng với sức nặng toàn cầu đang tăng lêncủa một EU mở rộng Để đạt đợc mục tiêu cốt lõi này, sự điều chỉnh chiến lợccũng đã tính đến và xác định 6 mục tiêu cụ thể:
- Đóng góp cho hoà bình và an ninh trong khu vực và trên toàn cầuthông qua việc mở rộng cam kết của EU với khu vực;
- Tăng cờng hơn nữa quan hệ thơng mại và đầu t với khu vực;
- Khuyến khích sự phát triển của các nớc kém phát triển, đặc biệt làtrong lĩnh vực xoá nghèo;
- Đóng góp cho việc mở rộng dân chủ, quản trị tốt và cai quản bằngpháp luật;
- Xây dựng quan hệ đối tác đồng minh toàn cầu với các nớc châu á;
- Trợ giúp cho việc tăng cờng hiểu biết lẫn nhau giữa châu Âu vàchâu á
Nh vậy, chiến lợc điều chỉnh này đã rất coi trọng việc tăng cờng quan
hệ với các nớc Đông Nam á, coi đây là u tiên then chốt của EU trong nhữngnăm trớc mắt Điều này đợc thể hiện ở chỗ: EU tăng cờng gia tăng đối thoạitoàn diện với ASEAN và đề cao các quan hệ song phơng với các đối tácASEAN chủ chốt Trên cơ sở đó, ngày 9 tháng 7 năm 2003, Uỷ ban châu Âu
đã ban hành văn bản “Đối tác chiến lợc mới với các nớc Đông Nam á” nhằmtăng cờng hợp tác mạnh mẽ hơn nữa giữa hai bên Các nhà lãnh đạo EU chorằng, hai khu vực châu Âu và Đông Nam á chia sẻ các lợi ích và những giá trị
để có thể xác lập quan hệ đối tác mới, làm sống động sự hợp tác hai chiều Phùhợp với những ý tởng chiến lợc xây dựng và xác định các mục tiêu chủ chốttrong quan hệ với châu á, chiến lợc đối với Đông Nam á nh là sự thể hiện cáichung trong cái riêng với những mục tiêu, chính sách và biện pháp xác thựcnhất cho khu vực này Trong văn bản này, ủy ban châu Âu đã đa ra những lĩnhvực u tiên hợp tác với ASEAN nh sau:
Thứ nhất, ủng hộ sự ổn định khu vực và chống lại chủ nghĩa khủng bố Thứ hai, thấm nhuần các vấn đề nhân quyền, dân chủ và quản trị tốt trong
mọi khía cạnh của đối thoại và hợp tác đây là một trong những vấn đề đợc EU
u tiên trong chính sách phát triển và chúng sẽ đợc EU đa ra bàn thảo trong cáccuộc đối thoại song phơng, khu vực hay trong chính sách khu vực
Trang 25Thứ 3, xây dựng và tăng cờng quan hệ thơng mại đầu t mới Trong chính
sách này với Đông Nam á, EU khẳng định phải hợp tác chặt chẽ với nhau hơnnữa, song phơng cũng nh đa phơng Hai bên cùng nhau hợp tác trong việc chia
sẻ lợi ích, phát triển hệ thống thơng mại đa phơng trong khuôn khổ Vòng đàmphán phát triển thơng mại Doha của WTO Đồng thời, Uỷ ban châu Âu đa ra
kế hoạch hành động thơng mại giữa hai khối “Sáng kiến thơng mại xuyên khuvực EU - ASEAN”, gọi là TREATI Thực hiện TREATI sẽ mở rộng dòng th-
ơng mại và đầu t, đồng thời thiết lập một cơ chế có hiệu quả trong việc đốithoại và tạo điều kiện cho thơng mại thâm nhập thị trởng của nhau TREATI
sẽ tạo ra một khung pháp lý rõ ràng trong quan hệ thơng mại hai bên, đồngthời sẽ mở đờng cho việc hình thành khu vực mậu dịch tự do thơng mại trongtơng lai
Thứ 4, tiếp tục trợ giúp các nớc nghèo trong khu vực.
Thứ 5, tăng cờng đối thoại và hợp tác trong các lĩnh vực cụ thể Đây là
một nội dung quan trọng để đẩy mạnh trở lại quan hệ của EU với Đông Nam á
Có thể nói, chiến lợc châu á mới, kể cả chiến lợc đợc điều chỉnh vàchiến lợc đông Nam á riêng biệt là dấu hiệu khẳng định ý đồ chiến lợc EUmuốn trở lại một khu vực từng gắn bó với mình trong lịch sử với một vị thếmới Trong tiến trình xây dựng một châu Âu “mạnh hơn và mở rộng hơn”,phía EU muốn khẳng định xu hớng trở thành “siêu quốc gia”, tạo một cực có
vị thế ngang ngửa với Mỹ Do đó, chiến lợc châu á theo đuổi mục tiêu giatăng sự hiện diện kinh tế và chính trị của EU với t cách là một chỉnh thể chứkhông phải đơn thuần là con số cộng, là đại diện của các nớc thành viên riêng
lẻ Vì thế, EU đã “đầu t” cho sự hiện diện - sự quay trở lại này với việc luônluôn yêu cầu sự “hiển thị” EU trong hầu hết các hoạt động của mọi dự ánODA mà EU tài trợ
Đặc biệt, trong chiến lợc Đông Nam á, EU xác định một số mục tiêuchiến lợc đối với Việt Nam nhằm thúc đẩy gia tăng thơng mại hai chiều theonguyên tắc cùng có lợi Trong các báo cáo định kỳ có tính chiến lợc về ViệtNam, EU đã đánh giá một cách khách quan và đầy đủ vai trò của Việt Nam
đối với khu vực châu á, EU đã tìm thấy ở Việt Nam một u thế chính trị vàkinh tế, có thể làm cầu nối để eu vơn ra chiếm lĩnh thị trờng châu á rộng lớn,giàu tiềm năng, nên đã hoạch định và thực hiện một số chính sách mới đối với
Việt Nam Thủ tớng Anh J Major tuyên bố sẽ cùng Việt Nam phát triển“
quan hệ toàn diện ” [15, 17] Đại sứ CHLB Đức, ông K.C Kraemer thì phát
Trang 26biểu Trong chính sách của chính phủ “ liên bang (Đức), Việt nam có tầm quan trọng đặc biệt và Việt Nam là nhịp cầu nối có một không hai của Đức tại châu á ” [15, 17] Đây là một trong những cơ sở để mối quan hệ hợp tác
Việt Nam - EU nói chung, quan hệ kinh tế thơng mại, đầu t Việt Nam - EUnói riêng phát triển lên một tầm cao mới
1.3 Quá trình hình thành và phát triển quan hệ Việt Nam - EU
1.3.1 Quan hệ trên lĩnh vực chính trị
- Mối quan hệ Việt Nam - EU trớc 1990
Quan hệ giữa Việt Nam và các nớc châu Âu thuộc EU đã có lịch sửhàng trăm năm nay Tuy có nhiều thăng trầm nhng nền văn minh châu Âu đã
có ảnh hởng mạnh mẽ và để lại một dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống vănhoá, tinh thần của Việt nam suốt hơn bốn thế kỷ qua Trong cuộc đấu tranhgiành độc lập và thống nhất đất nớc của nhân dân ta, châu Âu là nơi có phongtrào quần chúng đoàn kết ủng hộ Việt Nam rất mạnh mẽ Các nớc EU cũng lànhững nớc đầu tiên ở phơng Tây thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.Tình cảm đoàn kết Việt Nam - châu Âu đã in đậm trong trái tim của thế hệnhững ngời châu Âu - “Thế hệ Việt Nam” - những năm 60 - 70, những ngời
đang có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của cácnớc Tây Âu, cũng nh trong cơ cấu lãnh đạo của EU hiện tại Các nớc EU cũng
là những nớc đi đầu trong việc đòi Mỹ bỏ cấm vận chống Việt Nam, góp phầnquan trọng thúc đẩy quá trình bình thờng hoá quan hệ giữa Mỹ và các trungtâm kinh tế - tài chính t bản chủ nghĩa với Việt Nam
Tuy nhiên, đây chỉ là mối quan hệ riêng giữa các nớc thành viên củaEEC với hai miền Nam, Bắc Việt Nam mà thôi cho tới trớc năm 1975, trongchính sách của mình, Việt Nam cũng nh EEC với t cách là một thực thể kinh
tế, xã hội vẫn cha xem nhau là đối tác Do vậy, quan hệ hợp tác giữa hai bênhầu nh cha đợc thiết lập
Tháng 1/1973, Hiệp định Pari về Việt Nam đợc ký kết, đây là một dấumốc rất quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và các nớc EC Từ đây, thái
độ của các nớc EC đối với Việt Nam Dân chủ cộng hoà ngày càng thực tế vàtích cực hơn Một số nớc đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt NamDân chủ cộng hoà nh Italia và Hà Lan (3/1973), Pháp (4/1973) Song chínhsách chung của các nớc này vẫn là duy trì cân bằng quan hệ ngoại giao với cảhai miền Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nớc thống nhất thì uy
Trang 27tín của Việt Nam đã đợc nâng cao trên trờng quốc tế Bối cảnh này đã làm choquan hệ Việt Nam - EC bớc sang một trang mới Các nớc thành viên EC (tiềnthân của EU ngày nay) đã có những cuộc tiếp xúc chính trị và viện trợ kinh tếcho Việt Nam Trong đó có thể kể đến chuyến thăm Pháp của Thủ tớng ViệtNam Phạm Văn Đồng (4/1977); chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trởng Pháp
De Guiringaud (9/1978); tháng 1/1977, đoàn thứ trởng Ngoại giao NguyễnCơ Thạch sang thăm Italia… Nhng từ sau năm 1978, do ảnh hởng của t duythời kỳ sau chiến tranh lạnh, sự chi phối mang tính áp đặt của Mỹ và “vấn đềCampuchia”, chính sách đối ngoại của Việt Nam cha thực sự cởi mở, ViệtNam cha coi EC là một đối tác quan trọng Lúc này ta chỉ chú trọng phát triểnquan hệ với các nớc xhcn và các nớc trong khu vực Về phần mình, EC cũngcha coi châu á là một đối tác kinh tế quan trọng mà còn đang tập trung củng
cố quan hệ đối tác với các nớc địa trung hải và giúp đỡ các nớc nhóm acp(nhóm các nớc châu Phi, Caribê và Thái Bình Dơng) theo công ớc Lome
Mặt khác trong giai đoạn này, châu á nói chung và Đông Nam á nóiriêng cũng không tránh khỏi “bức màn sắt” của cuộc chiến tranh lạnh đangchia cắt thế giới thành hai nhóm nớc đối lập nhau Điều đó khiến cho tình hìnhkhu vực chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn định, không có lợi cho các hoạt động
đầu t và mậu dịch nớc ngoài Do vậy, mối quan hệ giữa Việt Nam và EC bịgián đoạn, EC đã ngừng viện trợ cho Việt Nam
Từ những năm 80, đặc biệt là từ sau năm 1984, tình hình chung trên thếgiới và khu vực Đông Nam á có nhiều thay đổi Một xu thế mới trong quan hệquốc tế đã bắt đầu, xu thế hoà bình, đối thoại và hợp tác đã dần dần thay thếcho xu thế đối đầu giữa hai cực Xô - Mỹ và hai khối Đông - Tây Các cờngquốc lớn nh Mỹ, liên Xô, Trung Quốc cải thiện mối quan hệ với nhau, tiến tớichấm dứt cuộc chiến tranh lạnh kéo dài suốt mấy chục năm Điều này đã mở
ra cơ hội mới cho sự phát triển quan hệ quốc tế trên phạm vi toàn cầu nóichung và ở khu vực Đông Nam á nói riêng năm 1986, Việt Nam tiến hànhcông cuộc đổi mới, mở cửa nhằm đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng Nhữngthành tựu bớc đầu trong việc thực hiện đờng lối đổi mới và kế hoạch 5 năm(1986 - 1990) là cơ sở để Việt Nam thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở với
eu nói riêng và các nớc trên thế giới nói chung Cũng từ đây, quan hệ ViệtNam - EC đã đợc cải thiện rõ rệt, EC bắt đầu nối lại viện trợ cho Việt Nam
- Mối quan hệ Việt Nam - EU từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính
thức đến trớc năm 1995
Trang 28Bớc sang thập kỷ 90, bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều chuyển biếnquan trọng Sự sụp đổ của Liên Xô và chủ nghĩa xã hội ở các nớc Đông Âu đãlàm cho trật tự hai cực bị phá vỡ, thế giới bớc sang thời kỳ hậu chiến tranhlạnh, các nớc đều điều chỉnh chiến lợc nhằm giành lấy một vị thế tối u trongtrật tự thế giới mới Xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển trở thành xu thế chủ
đạo trong quan hệ quốc tế Mặt khác, quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá,nhất là toàn cầu hoá về kinh tế đang làm cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa cácquốc gia và lãnh thổ trở nên phổ biến
Đối với Việt Nam, đến đầu những năm 90, tình hình trong nớc gặpnhiều khó khăn Mặc dù Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu rấtquan trọng trong công cuộc đổi mới, song chúng ta vẫn cha hoàn toàn thoátkhỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Việt Nam bị Mỹ thi hành chính sách cấmvận, bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị Trong khi đó, sự sụp đổ của LiênXô và các nớc xã hội chủ nghĩa đông Âu làm cho Việt Nam mất đi một thị tr-ờng truyền thống rộng lớn và một nguồn viện trợ to lớn Trớc tình hình đó, Đạihội Đảng lần thứ VII (1991) đã đề ra chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoáquan hệ quốc tế, tranh thủ nguồn vốn và công nghệ nớc ngoài để phát triển
kinh tế đất nớc Chúng ta chủ tr “coi trọng quan hệ hợp tác với các ơng hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nớc, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình” [11, 88].
Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá,nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí và chiến lợc của EU, cho nên việc thúc đẩycác mối quan hệ hữu nghị truyền thống với các nớc Tây Âu và EU luôn là một
u tiên quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới vàhội nhập Theo phơng hớng này, cùng với việc triển khai chính sách lánggiềng và khu vực, khai thông quan hệ với các nớc lớn và các trung tâm kinh tế
- chính trị trên thế giới, Việt Nam đã nâng quan hệ với EU lên một tầm caomới, phong phú và sôi động Mục tiêu cơ bản trong quan hệ lâu dài giữa ViệtNam và EU là: trên đà phát triển tốt đẹp, đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tếkhông chỉ về thơng mại, đầu t và hợp tác phát triển mà còn cả trong đối thoạichính trị…“coi trọng quan hệ hợp tác với các biến quan hệ Việt Nam - EU thành quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau, vì hoà bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các thập kỷ của thế kỷ XXI” [73, 49]
Trang 29Kể từ ngày 22/11/1990, khi Việt Nam và EU chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao, quan hệ chính trị giữa hai bên ngày càng đậm nét hơn EU vàViệt Nam đã có hàng loạt các cuộc tiếp xúc và gặp gỡ, góp phần tăng c ờng sựhiểu biết lẫn nhau, củng cố mối quan hệ chính trị và từ đó làm cơ sở pháp lýcho các quan hệ hợp tác khác Bên cạnh các chuyến thăm chính thức cấp caolẫn nhau giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ các nớc thành viên EU, cácchuyến thăm và làm việc giữa chính phủ Việt Nam và Uỷ ban châu Âu đã đợcxúc tiến thờng xuyên Ngày 12/6/1992, Nghị viện châu Âu đã thông qua nghịquyết tăng cờng quan hệ giữa EU (khi đó là EC) và ba nớc Đông Dơng, trong
đó yêu cầu Uỷ ban châu Âu và Hội đồng Bộ trởng EU đề ra những biện pháp
cụ thể đẩy mạnh quan hệ mọi mặt với Việt Nam Tháng 7/1994, Uỷ viên Uỷban châu Âu phụ trách quan hệ chính trị đối ngoại, Hanse Denbrok, đã sangthăm Việt Nam
Chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Pháp F Mitterand tháng2/1993 đã đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ Pháp - Việt nói riêng và giữa cácnớc EU với Việt Nam nói chung Tiếp sau đó là các chuyến thăm Việt Namcủa Tổng thống áo Th Klestin, thủ tớng Thuỵ Điển Carl Bild, thủ tớng HàLan W Kok…, Bộ trởng ngoại giao của các nớc Pháp, Anh, đức, Bỉ, HàLan; Uỷ viên phụ trách đối ngoại của Uỷ ban châu Âu… Nhiều phái đoànkinh tế cấp cao các nớc thành viên EU vào Việt Nam để bàn về khả năngphát triển sự hợp tác kinh tế, thơng mại Ngoài ra, EU còn mở nhiều khóahọc bồi dỡng cho cán bộ Việt Nam, phối hợp với Việt Nam tổ chức nhiềucuộc hội thảo tại Brúcxen (Bỉ) và tại Việt Nam nhằm tăng cờng hơn nữa sựtrao đổi thông tin về châu Âu Trong những ngày này, Hà Nội đã trở thànhmột trong những trọng điểm của cuộc hành trình sang Đông Nam á của giớilãnh đạo EU
Về phía Việt Nam, đầu năm 1995, đoàn đại biểu của chính phủ ViệtNam do thủ tớng Võ Văn Kiệt dẫn đầu đã đi thăm một số nớc Tây Âu (Pháp,
Đức, Bỉ, Anh…) và Uỷ ban châu Âu Chuyến đi này có ý nghĩa hết sức quantrọng, là một biểu hiện rõ ràng của chính sách đối ngoại đa phơng và đa dạng,coi kinh tế đối ngoại là u tiên hàng đầu của Việt Nam Với hành trình “xuyênchâu Âu” này, Việt Nam đã thành công trong việc “phủ sóng ngoại giao” [2,70] với toàn bộ các thành viên EU, trên cơ sở đó xây dựng đợc mối quan hệhợp tác hai bên cùng có lợi Cùng thời gian này, đoàn đại biểu Quốc hội ViệtNam do Chủ tịch Nông Đức Mạnh dẫn đầu cũng đi thăm chính thức Nghị viện
Trang 30châu Âu Tháng 7/1995, bộ trởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm và làmviệc với Uỷ ban châu Âu.
Ngày 17/7/1995, Hiệp định khung đợc ký kết, quan hệ Việt Nam - EUchuyển sang một giai đoạn mới
- Mối quan hệ Việt Nam - EU từ khi ký kết hiệp định khung (1995)
đến nay
Hiệp định khung đã mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ hợp tác giữaViệt Nam và EU Các nhà lãnh đạo cao cấp hai bên đã gặp gỡ, trao đổi vềnhững vấn đề cùng quan tâm Tháng 9/1995, Phó chủ tịch Uỷ ban châu ÂuManuel Marin thăm Việt Nam Đến tháng 1/1996, văn phòng đại diện thờngtrực của Uỷ ban châu Âu và Việt Nam đã đi vào hoạt động Cùng thời giannày, lần đầu tiên, “ngày châu Âu” đã đợc tổ chức long trọng tại thủ đô Hà Nội.Tháng 6/1996, Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam - EU đợc thành lập nhằm cụ thể hoáHiệp định hợp tác giai đoạn 1996 - 2000 Các kỳ họp của Uỷ ban hỗn hợp đợctiến hành 2 năm một lần để đánh giá những kết quả thực hiện Hiệp định trongtừng thời kỳ, cũng nh xác định trọng tâm hợp tác cho giai đoạn tiếp sau Trongnăm 1998, Thủ tớng Việt Nam Phan Văn Khải đã có chuyến thăm và làm việctại Uỷ ban châu Âu
Sự kiện quan trọng nhất đánh dấu quan hệ hợp tác Việt Nam - EU cónhững chuyển biến bớc ngoặt về chất và đạt tới đỉnh cao là chuyến thăm lịch
sử của Tổng bí th Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đến Pháp và Italia(hai thành viên quan trọng của EU và cũng là hai đối tác lớn của Việt Nam ởTây Âu) và Uỷ ban châu Âu vào giữa tháng 5/2000 Giữa Tổng bí th Lê KhảPhiêu và ông Romano Prodi, chủ tịch Uỷ ban châu Âu, cùng nhiều quan chứccấp cao của hai bên đã có các cuộc trao đổi thẳng thắn và bổ ích Những thoảthuận và hiệp định đợc ký kết trong cuộc gặp gỡ này đã từng bớc đợc triểnkhai mạnh mẽ, toàn diện và hiệu quả
Cũng trong năm 2000, Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam - EU đã họp đánh giátổng kết những kết quả đạt đợc của chiến lợc hợp tác giai đoạn 1996 - 2000 và
ký kết chiến lợc hợp tác giai đoạn 2001 - 2005 Ngày 21-22/6/2001, phiênhọp thứ ba của Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam - EU đã đợc triệu tập nhằm xâydựng chiến lợc hợp tác giai đoạn 2001 - 2005 Những nội dung của chiến lợcnày đã thể hiện đợc mối quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - EU trong bớcchuyển sang thế kỷ mới Ngày 27/9/2002, Thủ tớng Phan Văn Khải kết thúctốt đẹp chuyến thăm các nớc Tây Bắc Âu và Uỷ ban châu Âu Tháng 1/2005,
Trang 31Thủ tớng cộng hoà Ba Lan Marếch Benca thăm chính thức Việt Nam Tháng9/2006, Thủ tớng Nguyễn Tấn Dũng thăm EU và lần đầu tiên sau 10 năm, Uỷviên đối ngoại EU đã sang thăm Việt Nam Những cuộc tiếp xúc và đối thoạichính trị ở cấp cao Việt Nam - EU nói chung, giữa Việt Nam với các thànhviên EU nói riêng đã tạo ra bầu không khí chính trị và những điều kiện khung
về pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ giữa hai bên bớc vào thời kỳmới với chất lợng và hiệu quả cao hơn
Bên cạnh những chuyến thăm ở cấp cao, hai bên thờng xuyên phối hợpqua các đại sứ Việt Nam và EU, cũng nh các cuộc trao đổi hàng năm ở các cấpkhác nhau Hàng tháng, các đại sứ của EU và các nớc thành viên tại Hà Nội
đều có cuộc họp chung và đều mời các quan chức cấp cao của Việt Nam đếndự
Song song với những quan hệ về mặt nhà nớc và chính phủ, quan hệViệt Nam - EU về mặt quốc hội cũng đợc thúc đẩy thờng xuyên Tuy quan hệngoại giao Việt Nam - EU đợc chính thức thiết lập từ năm 1990 nhng phải đếnnăm 1995, các chuyến thăm viếng, trao đổi đoàn giữa quốc hội Việt Nam vàNghị viện châu Âu mới chính thức đợc bắt đầu và từ đó đến nay ngày càng pháttriển Chính phủ và quốc hội Việt Nam luôn luôn chú trọng việc thúc đẩy mốiquan hệ giữa hai bên Hầu nh hàng năm, hai bên đều có trao đổi đoàn nh: Chủtịch Quốc hội Việt Nam Nông Đức Mạnh thăm Nghị viện châu Âu (2/1995);
đoàn nghị sĩ Nghị viện châu Âu thăm việt Nam (3/1996); đoàn đại biểu Quốchội Việt Nam tham dự AIPO - EP lần thứ 10 (4/1996); đoàn Nghị viện châu Âu
do ông Gunter Rinsche dẫn đầu thăm Việt nam (1/1999), tháng 3/2005, Chủtịch quốc hội Việt Nam Nguyễn Văn An thăm các nớc Tây Bắc Âu và Nghịviện châu Âu… Các cuộc thăm viếng và tiếp xúc cấp cao này đã tạo ra nhữngcơ sở chính trị rất quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của mối quan hệ hợp tác đadạng giữa Việt Nam và EU trong nhiều lĩnh vực Những kết quả đạt đợc là rấttích cực, góp phần thiết thực và cụ thể vào việc tăng cờng sự hiểu biết lẫn nhau
và duy trì kênh đối thoại giữa hai bên Quan hệ với Nghị viện châu Âu sẽ giúpcho Việt Nam có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm cho việc tổ chức các hoạt
động của quốc hội Việt Nam nói riêng và hoàn thiện hệ thống pháp luật củaViệt nam nói chung Những cuộc tiếp xúc từ cấp cao đến các ngành, giới, thôngqua các chuyến thăm, các hình thức trao đổi thông tin, diễn đàn, hội thảo… lànhững nhân tố bổ trợ cho quan hệ chính trị Việt Nam - EU Chúng vừa gópphần hoàn thiện thêm các khuôn khổ pháp lý, vừa mở rộng các lĩnh vực hợp tác,
Trang 32lại vừa định hớng cho những giai đoạn hợp tác tiếp theo giữa hai bên đi vào cụthể, thiết thực và có chiều sâu hơn.
Trên bình diện đa phơng, sau khi trở thành thành viên của ASEAN, mốiquan hệ giữa Việt Nam với EU nói chung và với các nớc thành viên EU nóiriêng đã đợc bổ sung và hỗ trợ thêm bằng mối quan hệ EU - ASEAN và trongkhuôn khổ ASEM là một thành viên chính thức, Việt Nam ngày càng có vaitrò tích cực, quan trọng trong hoạt động của ASEAN, ARF, ASEM Qua cácdiễn đàn này, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - EU, đặc biệt là về chínhtrị, từng bớc đợc phát triển và tăng cờng Nhiều cuộc tiếp xúc chính thức vàbên lề các Hội nghị thợng đỉnh ASEM, các diễn đàn đối thoại trong ASEAN,ARF giữa lãnh đạo Việt Nam và nguyên thủ các nớc thành viên EU, lãnh đạo
Uỷ ban châu Âu đã thờng xuyên diễn ra Trong khuôn khổ của ASEAN vàAPEC, Việt Nam đã và đang tham gia vào quá trình liên kết khu vực Bản thân
EU là một điển hình về liên kết khu vực và là một tác nhân hàng đầu trongWTO Đó là một thuận lợi rất lớn cho việt Nam trong tiến trình gia nhậpWTO Ngày 9/10/2004, Việt Nam và EU đã kết thúc vòng đàm phán song ph-
ơng thứ 10 về việc Việt Nam gia nhập WTO EU khẳng định và coi Việt Nam
là nớc đang phát triển, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và là thị ờng giàu tiềm năng đối với EU Cuộc đàm phán đánh dấu bớc phát triển mạnh
tr-mẽ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO của Việt Nam.Bởi vì, EU là một trong những đối tác thơng mại lớn nhất của WTO Việc EUcông nhận Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nớc ta trong quá trình đàmphán với mỹ, Trung Quốc và các đối tác thơng mại khác để gia nhập WTO
Đồng thời, nó thể hiện vai trò và sự ủng hộ của EU đối với nớc ta trong tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế đây là một bớc tiến mang tính chất đột phá, cótác động tích cực đến đàm phán song phơng của Việt Nam với các đối táckhác, đặc biệt trong “giai đoạn nớc rút” của Việt Nam trong quá trình hoànhập một cách đầy đủ vào cộng đồng thơng mại quốc tế Theo ý kiến của Bộtrởng thơng mại Trơng Đình Tuyển, thì “thoả thuận với EU mang ý nghĩachiến lợc’’ Còn ông Paxcan Lamy, Cao uỷ thơng mại EU, cho rằng, việc kếtthúc đàm phán thơng mại song phơng với Việt Nam là sự kiện có ý nghĩa quantrọng khẳng định lại EU luôn cố gắng thúc đẩy để Việt Nam sớm gia nhậpWTO
Trang 33Quan hệ Việt Nam - EU còn đợc thể hiện trong hội nghị á - Âu(ASEM 5) tổ chức tại Hà Nội (8 và 9/10/2004) Việc chuẩn bị và tổ chức thànhcông ASEM 5 đã nâng cao uy tín của nớc ta trong cộng đồng khu vực và thếgiới Điều muốn nói ở đây là, nhân hội nghị này, Việt Nam đã có dịp đón vàtiếp xúc với rất nhiều nhà lãnh đạo các nớc á - Âu, thoả thuận và ký kết songphơng hàng chục văn bản (45 văn bản), trong đó có những dự án viện trợ, hoặchợp tác trị giá hàng chục triệu USD, góp phần thắt chặt quan hệ hợp tác hữunghị với các nớc á - Âu, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế,xã hội của nớc ta Thông qua ASEM 5, chúng ta đã làm đẹp thêm hình ảnhmột nớc Việt Nam năng động, ổn định, giàu tiềm năng, đáng tin cậy và đangchủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối táctin cậy của tất cả các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình vàphát triển
Ngay sau ASEM 5, Việt Nam - EU đã tổ chức thành công cuộc họpcấp cao Việt Nam - EU đầu tiên tại Hà Nội (10/2004), đánh dấu đỉnh caomới trong lịch sử quan hệ hợp tác giữa hai bên Đây cũng là dịp quan trọng
để lãnh đạo hai bên khẳng định quyết tâm chính trị, thảo luận các biện pháp
và phơng hớng, xây dựng mối quan hệ đối tác lâu dài và toàn diện trên cơ sởtin cậy lẫn nhau và hai bên cùng có lợi, vì hoà bình, ổn định, thịnh v ợngtrong thế kỷ XXI
Có thể nói, việc mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện với EU và với từngnớc thành viên của EU trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi có ý nghĩa chiến lợc
đối với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Nhận thức đợc điều
đó, ngày 14 tháng 6 năm 2005, Chính phủ Việt Nam ban hành và đa vào thựchiện bản Đề án Tổng thể và Chơng trình hành động phát triển quan hệ với Liênminh châu Âu đến năm 2010 và định hớng đến năm 2015 Bản đề án mô tảquá trình hình thành, phát triển, các chính sách lớn và vị thế của EU; đánh giáthực trạng quan hệ việt Nam - EU; trên cơ sở đó đề ra các chủ trơng và giảipháp lớn trong thời đến năm 2010 và định hớng đến 2015 nhằm nâng mối
quan hệ này lên một tầm cao mới: quan hệ đối tác bình đẳng, hợp tác toàn“
diện, lâu dài giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu vì hoà bình và phát triển”
[61, 11] Nh vậy, bản đề án đã tạo nên một khuôn khổ mới, toàn diện và lâudài cho quan hệ Việt Nam - EU, trong đó, hợp tác kinh tế thơng mại là nềntảng, trên cơ sở đẩy mạnh hợp tác chính trị Với bản đề án này, Việt Nam lànớc đầu tiên ở Đông Nam á chủ động có chiến lợc tổng thể về hợp tác với EU
Trang 34Nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - EU trong thờigian tới, ngày 7/12/2006, Thủ tớng chính phủ đã có công văn số 2007/TTg -QHQT về việc giao cho bộ Ngoại giao phối hợp với các cơ quan liên quanthúc đẩy đàm phán hiệp định mới về quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Liênminh châu Âu, trong đó nhấn mạnh việc đề ra các biện pháp nhằm thúc đẩy
EU công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trờng
1.3.2 Quan hệ trên lĩnh vực kinh tế
- Thời kỳ trớc khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức
Cho tới trớc năm 1975, trên thực tế chỉ có một vài nớc thành viên của
EU có quan hệ kinh tế đáng kể với Việt Nam, trong đó, quan hệ kinh tế và trao
đổi mậu dịch với chính quyền Sài Gòn là chủ yếu Sau khi giải phóng hoàntoàn miền Nam, thống nhất đất nớc, uy tín của Việt Nam đã đợc nâng cao trêntrờng quốc tế Trên cơ sở đó, quan hệ giữa Việt Nam với các nớc thành viên
EU đợc cải thiện rõ rệt Trong giai đoạn từ 1975 đến 1978, viện trợ kinh tế của
EC giành cho Việt Nam là 109 triệu đôla, trong đó viện trợ trực tiếp là 68 triệu
đôla [9, 100] Trong ba năm (1975 - 1977), Pháp đã ký với Việt Nam 3 nghị
định th tài chính, cho Việt Nam đợc sử dụng hết số tiền Pháp cho chính quyềnSài Gòn vay mà cha sử dụng hết Tổng số tiền của 3 nghị định th là 1.444,63triệu Frăng Đồng thời, Pháp còn ký với Việt Nam nhiều hiệp định khác nh:Hiệp định hợp tác kinh tế và công nghiệp, Hiệp định hằng hải… Năm 1977,chính phủ Italia cho Việt Nam vay 40 triệu đôla và viện trợ cho Việt Nam
3311 tấn bột mì Tháng 4/1978, tổng cục dầu khí Việt Nam và công ty AGIPcủa Italia đã ký hợp đồng về thăm dò và khai thác dầu ở ngoài khơi Việt Nam.Ngoài ra còn phải kể đến nguồn viện trợ của các nớc: Hà Lan, Đan Mạch,CHLB Đức… Nhng từ tháng 7 năm 1979, do “vấn đề Campuchia”, quan hệhai bên chuyển sang đối đầu lạnh nhạt, EU ngừng viện trợ cho Việt Nam, kểcả khoản viện trợ 36 triệu USD đã đợc phê chuẩn Từ cuối năm 1984, trớcnhững biến chuyển của tình hình thế giới và khu vực, quan hệ Việt Nam - EC
đã đợc cải thiện, EC bắt đầu nối lại viện trợ nhân đạo cho Việt Nam Năm
1986, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng Trong đó, quan hệ kinh tế với các nớc
đợc xác định là “chuyển quan hệ kinh tế đối ngoại theo hớng nền kinh tế mở,
đa phơng hoá quan hệ và đa dạng hoá hình thức” [41, 82] Năm 1987, ViệtNam ban hành luật đầu t nớc ngoài, tạo nên những điều kiện và tiền đề quantrọng cho quan hệ giữa Việt Nam với các nớc nói chung và với EC nói riêng
Trang 35- Thời kỳ từ khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức
(10/1990) đến trớc năm 1995
- Về thơng mại, ngay sau khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - EU chính
thức đợc thiết lập (10/1990), quan hệ buôn bán giữa hai bên đã có những bớcphát triển mới Mở đầu cho quan hệ hợp tác thơng mại Việt Nam - EU là Hiệp
định buôn bán hàng dệt may (sau gọi tắt là Hiệp định dệt may) đợc ký kếtngày 15/12/1992, có hiệu lực 5 năm, bắt đầu từ năm 1992 dới tác động củaHiệp định dệt may, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam có nhiều khởi sắc.Trong ba năm (1993 - 1995), kim ngạch hàng dệt may xuất vào EU tăng từ
130 triệu USD năm 1992, lên 249 triệu USD năm 1993, lên 289 triệu USD
năm 1994 và 340 - 350 triệu USD năm 1995 [46, 218]
Nhờ việc ký kết các hiệp định thơng mại, kim ngạch nhập khẩu hànghoá của Việt Nam từ EU không ngừng tăng lên Nếu nh năm 1985, tổng giá trịhàng hoá Việt Nam nhập từ EU mới là 87,2 triệu USD thì đến năm 1992, đãtăng lên tới 311,7 triệu USD, nghĩa là gấp 3,57 lần Riêng năm 1992, giá trịnhập khẩu hàng từ EU đã tăng với con số kỷ lục 13,7% so với năm 1991 Tốc
độ nhập khẩu tăng bình quân thời kỳ này 7,8%/ năm EU ngày càng có vị tríquan trọng trong nền kinh tế ngoại thơng Việt Nam Cho đến năm 1995, ViệtNam đã nhập khẩu hàng hoá của tám nớc thành viên EU là Anh, Pháp, Đức,
Đan Mạch, Italia, Bỉ, Hy Lạp Nhng thực tế, khối lợng hàng nhập khẩu vàoViệt Nam tập trung chủ yếu từ ba nớc Pháp, Đức và Hà Lan, chiếm tới 86,5%giá trị xuất khẩu hàng hoá của EU sang Việt Nam trong năm 1992 Việt Namchủ yếu nhập từ EU các sản phẩm công nghiệp chất lợng cao: thiết bị, máymóc, hoá chất, sắt thép và thành phẩm các loại
Không chỉ nhập khẩu hàng hoá từ EU, Việt Nam còn có chủ trơng đẩymạnh xuất khẩu sang EU Chiến lợc của Việt Nam là tăng cờng xuất khẩusang các khu vực thị trờng mới mà EU là một trọng điểm ở châu Âu Hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam gia tăng mạnh mẽ, chủ yếu là các mặt hàng dệtmay, hàng công nghiệp nhẹ, hàng thủ công mỹ nghệ và nông sản Hàng dệt vàmay mặc là một trong hai mặt hàng cùng với sắn lát khô của Việt Nam đã đợc
EU cấp hạn ngạch xuất khẩu miễn thuế sang thị trờng khối này Năm 1989,kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt 9,7 triệu USD thì năm 1992
đã lên tới 198,9 triệu USD Riêng tám tháng đầu năm 1993, sau khi Hiệp địnhkhung đợc ký tắt thì xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang EU đạt 180,2 triệu
Trang 36USD, gần bằng giá trị xuất khẩu của cả năm 1992 Tuy nhiên, tốc độ tăng ởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang EU không đều, năm 1991
tr-và năm 1993 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm nhng năm 1992 lạităng đến 103,1% và năm 1994 tăng 77,6% Trong giai đoạn này, Việt Namliên tục nhập siêu hàng hoá từ EU (xem bảng 1)
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - EU giai đoạn 1990 - 1994
Đơn vị: triệu USD
Năm
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ EU
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Trị giá xuất siêu
Trị giá
(triệu
USD)
Tốc độ tăng (%)
Trị giá
(triệu USD)
Tốc độ tăng (%)
Trị giá
(triệu USD)
Tốc độ tăng (%)
Trị giá (triệu USD)
1993 và năm 1995 tăng 45,4% so với năm 1994
- Về đầu t, các nhà đầu t thuộc khối EU từ lâu đã có vị trí quan trọng
trong hoạt động đầu t quốc tế; song ở từng thời điểm, từng khu vực, họ có vị tríkhác nhau bởi chính sách lựa chọn địa bàn đầu t của họ có thay đổi Trongsuốt những năm 80, các nhà đầu t châu Âu chủ yếu chú trọng tới thị trờng củachính mình, và ngoài ra là thị trờng Mỹ Đầu thập kỷ 90, các nhà đầu t EU lạichú trọng tới thị trờng Đông Âu, Trung Âu và các nớc thuộc Liên Xô cũ Mặc
dù cha phải là địa bàn đầu t chủ yếu của EU thời kỳ này nhng châu á và Việt
Trang 37Nam là một thị trờng giàu tiềm năng ở cấp cộng đồng, trong giai đoạn này,
EU cha có dự án hoặc những hình thức đầu t trực tiếp nào vào Việt Nam Tuyvậy, việc đầu t vào Việt Nam vẫn đợc thực hiện bởi các nớc thành viên EU cónền kinh tế khá phát triển
Trong giai đoạn 1988 - 1990, EU mới chỉ có 44 dự án đầu t vào ViệtNam với tổng số vốn đầu t là 844 triệu USD Con số nhỏ bé này có thể giảithích do một mặt, các nớc EU còn thăm dò môi trờng đầu t còn khá mới mẻnày, mặt khác nhiều công ty EU còn e ngại va chạm với chính sách cấm vậnkinh tế của Mỹ khi đầu t vào Việt Nam Bớc sang giai đoạn 1991 - 1995, đầu
t của EU vào Việt Nam có nhiều tiến triển hơn so với giai đoạn trớc Từ năm
1994 trở đi, khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, đầu t của EU có sựchuyển biến mạnh mẽ và đạt kỷ lục vào năm 1995 trong năm này, EU có 41
dự án đợc cấp giấy phép với số vốn đăng ký là 998 triệu USD Trong 5 năm
(1991 - 1995), EU có 139 dự án đợc cấp phép với số vốn đạt 2,501 tỷ USD
[39, 507] Cho đến năm 1995, EU đã có 10 dự án đầu t lớn vào Việt Nam:Pháp có 2 dự án liên doanh xây dựng khách sạn với số vốn 129,894 triệu USDthực hiện trong 30 năm; Hà Lan có 4 dự án thăm dò và khai thác dầu khí vớitổng số vốn 268 triệu USD thực hiện trong 25 năm; Anh có 2 dự án thăm dò vàkhai thác dầu với số vốn 127,5 triệu USD [69, 62] Các nhà đầu t EU có mặttrong nhóm các nhà đầu t nớc ngoài tích cực nhất ở Việt Nam, 11 trong số 15nớc EU đã tham gia đầu t vào Việt Nam, trừ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, HyLạp và Ailen Tính đến tháng 7/1995, các nớc EU đã có 168 dự án đợc cấpgiấy phép với tổng số đầu t hơn 2,3 tỷ USD Trừ 29 dự án ngừng hoạt động (dohết hạn hoặc bị rút giấy phép trớc hạn) còn lại 139 dự án đang hoạt động vớitổng số vốn đầu t 1.948 triệu USD, chiếm khoảng 9% về số dự án và 12% vềtổng số vốn đầu t của tất cả các dự án nớc ngoài đang hoạt động tại Việt Nam
Bảng 2: Vốn FDI đăng ký và vốn thực hiện tại Việt Nam hàng năm
Tỷ lệ thực hiện so với vốn đăng ký (%)
Trang 381993 2777 267 1001 36,0
1994 4041 345 1722 42,6
Quý I/1995 2133 87 440 20,6
Nguồn: Bùi nhật Quang, Việt Nam - châu Âu: Một số vấn đề về thu hút
đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nghiên cứu châu Âu, 1995, số 3, tr 62
Các nhà kinh tế đã chỉ ra rằng, quy mô và chất lợng của các dự án đầu tnớc ngoài vào Việt Nam tăng dần qua từng năm: từ 3,5 triệu USD cho mỗi dự
án trong các năm 1989 - 1990, đến năm 1994, con số đó là 11,6 triệu USD Cơcấu đầu t cũng có thay đổi đáng kể đến tháng 10/1994, đã có 42% số vốn đầu
t dành cho công nghiệp với số tiền là 3,6 tỷ USD Trớc tình hình trên, các đốitác EU ngày càng có vai trò quan trọng đến hết năm 1994, đầu t từ châu Âuchiếm tỷ lệ lớn thứ hai về vốn (25%) cũng nh về số dự án (24%), bao gồmnhiều lĩnh vực từ khai thác dầu khí đến sản xuất hàng tiêu dùng, láp ráp, chếtạo ô tô, xe máy…
Nh vậy, trong thời kỳ 1990 - 1994, hoạt động đầu t của các nớc châu Âuchiếm 25% số vốn FDI tại Việt Nam Con số này so với tiềm lực về vốn củacác nớc châu Âu nói chung, EU nói riêng, cha thực sự đáng kể đó là donhững nguyên nhân cơ bản sau:
trớc hết, đối với EU, thị trờng đợc coi là nhân tố quan trọng nhất trớckhi quyết định thâm nhập vào nền kinh tế của các nớc khác Trong khi đó, dớicon mắt của các nhà đầu t EU, Việt Nam không đợc coi là thị trờng rộng lớnnếu xét theo sức mua của nó;
hai là, các nớc EU có thế mạnh trong các lĩnh vực đòi hỏi công nghệcao nh ngành chế tạo máy, kỹ thuật điện, công nghiệp chế biến… Song thị tr-ờng tiêu thụ mặt hàng này ở Việt Nam còn nhỏ;
ba là xu hớng hợp tác đầu t trong nội bộ khối EU phát triển mạnh Hơnnữa, EU đang xem xét về việc mở rộng không gian sang các nớc Trung và Đông
Âu nên tất nhiên họ phải quan tâm đầu t nhiều hơn cho các nớc này nhằm giúpcác nớc này hội tụ đầy đủ các điều kiện để có thể gia nhập EU
Trang 391.4 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến quan hệ quan hệ th ơng mại, đầu t Việt Nam - EU
1.4.1 Sự thay đổi của cục diện thế giới
Bớc sang những năm 90, cục diện kinh tế, chính trị thế giới có nhiềuthay đổi nhanh chóng, phức tạp và khó lờng chiến tranh lạnh kết thúc đồngnghĩa với sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu, chủnghĩa xã hội lâm vào thoái trào Trong khi đó, chủ nghĩa t bản đã có sự điềuchỉnh trong chính sách, ngày càng phát triển mạnh mẽ Một thời kỳ mới trongquan hệ quốc tế đã bắt đầu: Thời kỳ thế giới không còn đứng theo hàng dọc vàkhông bị chi phối bởi trật tự hai cực nữa Loài ngời cũng không còn bị đe doạbởi một cuộc chiến tranh huỷ diệt lớn nhng những cuộc xung đột về sắc tộc,tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, những cuộc chiến tranh cục bộ… vẫn còn xuấthiện ở nhiều nơi làm cho tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp
Cùng với những thay đổi về chính trị, kinh tế, trong thập niên cuối củathế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển tăng tốcvới các đợt sóng công nghệ cao, nổi bật là công nghệ thông tin, mang lạinhững biến đổi ngày càng sâu sắc và nhanh chóng mọi mặt đời sống nhân loại.Khoa học công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp Sự phát triển của xãhội không còn dựa chủ yếu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếudựa vào những nguồn có yếu tố tri thức, nguồn lực con ngời, dần dần hìnhthành nên nền kinh tế tri thức với thông tin và tri thức là những yếu tố đầu vàoquan trọng của hệ thống sản xuất, quản lý; chính sự phát triển mạnh mẽ ấy đãlàm thay đổi quan hệ kinh tế, chính trị giữa các quốc gia, tác động đến chiến l-
ợc phát triển của mỗi nớc, đồng thời làm thay đổi t duy trong việc đánh giá sứcmạnh tổng hợp của đất nớc trong đó, nớc nào cũng nhận thức sâu sắc rằngsức mạnh của mỗi quốc gia là một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chínhmạnh mẽ và một nền công nghệ có trình độ cao (tức nhân tố kinh tế đóng vaitrò nổi trội); và đó mới là cơ sở để xây dựng sức mạnh thực sự của mỗi quốcgia Từ đó, các nớc buộc phải điều chỉnh, “cải tổ”, “cải cách”, “đổi mới”…cho phù hợp
Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ cha từngthấy với những biểu hiện của xu thế tăng cờng hợp tác giữa các quốc gia vàkhu vực trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị an ninh và văn hoá xã hội Thế giới
đang chuyển mạnh từ chạy đua quyết liệt về quân sự, tranh giành khoảng trống
Trang 40quyền lực sang cạnh tranh về kinh tế, chiếm lĩnh các thị trờng kinh tế ngàycàng đóng vai trò quyết định trong việc xác định vị thế, sức mạnh tổng hợpcủa mỗi quốc gia, dân tộc trên trờng quốc tế Mặt khác, những mâu thuẫntrong thơng mại quốc tế ngày càng diễn ra gay gắt mà điển hình nhất là thấtbại của Hội nghị Cancun ở Mêxicô, của vòng đàm phán Doha mà thực chất lànhững mâu thuẫn về lợi ích trong thơng mại quốc tế giữa các nớc phát triển và
đang phát triển Xu thế phát triển mạnh mẽ các khối liên kết kinh tế nh hìnhthành Hiệp định tự do toàn châu Mỹ năm 2005; tăng cờng hợp tác trong khuvực châu á - Thái Bình Dơng thông qua diễn đàn APEC; sáng kiến hình thànhnhóm kinh tế Đông á (EAEC) của Malaixia… Quá trình này một mặt gắn kếtcác nớc lại với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết, tạo cơ hội cho quá trình hộinhập và phát triển nhng mặt khác, nó cũng làm trầm trọng thêm sự bất bình
đẳng đang tồn tại giữa các quốc gia, đặt ra những thách thức gay gắt đối với tấtcả các nớc, nhất là các nớc chậm và đang phát triển, đó là nguy cơ tụt hậu vàcuộc cạnh tranh gay gắt về kinh tế đồng thời, nhiều vấn đề mang tính cấpbách toàn cầu nh chênh lệch giàu nghèo, khan hiếm nguồn năng lợng, dịchbệnh, thiên tai… đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải có sự phối hợp chung
Sự thay đổi của tình hình thế giới nói trên đã làm nảy sinh những xu thếmới trong quan hệ quốc tế Hoà bình, ổn định, u tiên phát triển kinh tế, quốc tếhoá và liên kết khu vực trở thành những xu thế chủ đạo Các quốc gia lớn nhỏtham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác, liên kết khu vực và quốc tếtrên các bình diện, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, vừa hợp tác vừa
đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình Bên cạnh đó, các dân tộc vẫn nâng cao ýthức độc lập tự chủ, đấu tranh chống lại sự áp đặt của nớc ngoài, các lực lợngcách mạng vẫn đang đấu tranh vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trớc tình hình đó, các nớc lớn đã có sự điều chỉnh chính sách, giảm camkết về quân sự ở bên ngoài, dàn xếp với nhau về các vấn đề khu vực và đẩymạnh cải thiện quan hệ với nhau, để tập trung vào củng cố nội bộ, phát triển
kinh tế và kỹ thuật nhằm tăng cờng sức mạnh quốc gia Hoà bình, ổn định và “coi trọng quan hệ hợp tác với các hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia trên thế giới Các nớc dành u tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế
có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cờng sức mạnh quốc gia” [10, 77], nh
lời chủ tịch nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Giang Trạch Dân đã phát biểu
khi sang thăm Mỹ tăng c “coi trọng quan hệ hợp tác với các ờng hiểu biết, mở rộng nhận thức chung, phát triển
hợp tác, cùng tạo ra tơng lai” [30, 405]