Trong tác phẩm “Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và t-ơng lai của tác giả Ngô Xuân Bình - Trần Quang Minh, các tác giả đã đánh giá một cách khách quan chặng đờng lịch sử t
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 3“Tơng lai châu á”: Chính Phủ Việt Nam mong muốn nâng tầm quan hệ kinh
tế, thơng mại và phát triển mạnh hơn nữa sự giao lu văn hoá giữa hai nớc,
đặc biệt là sự giao lu của thế hệ trẻ Việt Nam hy vọng rằng với nỗ lực chung của hai nớc, trong tơng lai châu á sẽ tơi sáng hơn, quan hệ hữu nghị, hợp tác phát triển và cùng có lợi giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ tiếp tục đợc tăng c- ờng và đơm hoa, kết trái”
1.2 Ngày 21/9/1973, Việt Nam và Nhật Bản đã chính thức thiết lậpquan hệ ngoại giao, sự kiện này đánh dấu bớc phát triển mới trong lịch sửquan hệ giữa hai nớc Trong suốt chặng đờng hơn 30 năm qua, với biết baobiến cố, sự kiện trong nớc và quốc tế nhng quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia
đã vợt lên tất cả, đơm hoa kết trái, đóng góp cho hoà bình, ổn định và pháttriển vì lợi ích của hai quốc gia, hai dân tộc Việt Nam - Nhật Bản Hiện nayNhật Bản là đối tác chiến lợc, là bạn hàng và là nớc viện trợ phát triển (ODA)lớn nhất cho Việt Nam
1.3 Nhật Bản là cờng quốc kinh tế thứ hai thế giới nên Nhật Bản rất cólợi về vồn, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và kinh doanh Vì thế mànhiều nớc trong khu vực cũng phấn đấu noi theo mô hình kinh tế Nhật Bảntrong đó có một số nớc, lãnh thổ Đông Nam á đã nhanh chóng trở thành conrồng, con hổ kinh tế chỉ trong vòng 2 - 3 thập niên
Trang 41.4 Hơn 30 năm qua, dù gặp không ít khó khăn, trở ngại, song quan hệhợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản đã có những bớc phát triển vữngchắc Thật vậy, tháng 12/1998, tại Hà Nội, Thủ tớng Obuchi đã khẳng định
mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thế kỷ XXI sẽ là “Những đối tác chân thành, cởi mở, cùng hành động, cùng tiến bớc trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng” Những chuyển biến tích cực trong quan hệ kinh tế giữa Việt
Nam và Nhật Bản có cơ sở khách quan vững chắc, gắn với nhu cầu phát triểncủa cả hai nớc cũng nh xu thế mới của liên kết kinh tế khu vực trong tơng lai
Là ngời học tập và nghiên cứu lịch sử, tôi chọn đề tài “Quan hệ hợp tác thơng mại đầu t giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1990 đến 2006” làm
luận văn Thạc sỹ Lịch sử với hy vọng góp phần nhỏ vào công việc nghiên cứulịch sử quan hệ Việt Nam với từng nớc trong khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng và tăng thêm sự hiểu biết cho bản thân, phục vụ cho việc giảng dạy bộmôn lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
2.1 Quan hệ hợp tác thơng mại đầu t giữa Việt Nam và Nhật Bản làmột vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Do vậy, từ tr ớc đến nay
đã không ít tác giả trong và ngoài nớc nghiên cứu về vấn đề này dới nhiều góc
độ khác nhau Tuy nhiên, trong điều kiện cho phép, chúng tôi mới chỉ tiếp cận
đợc các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nớc Nguồn tliệu mà chúng tôi tiếp cận đợc gồm: Sách tham khảo, sách chuyên khảo, luậnvăn, luận án, các bài đăng trên các báo vào tạp chí (Nghiên cứu Quốc tế,Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Nhật Bản, Nghiên cứu Đông Nam á), t liệuthông tấn xã Việt Nam, các t liêu lu hành nội bộ (VHTT, Thơng mại - kếhoạch và đầu t, ngoại giao…)
2.2 Dới đây là một số t liệu nghiên cứu về quan hệ hợp tác Việt Nam
và Nhật Bản mà chúng tôi tiếp cận đợc
Trong tác phẩm “Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và
t-ơng lai của tác giả Ngô Xuân Bình - Trần Quang Minh, các tác giả đã đánh
giá một cách khách quan chặng đờng lịch sử trong quan hệ của hai nớc ViệtNam - Nhật Bản, về những kết quả mà hai bên đã đạt đợc cũng nh những hạnchế cần đợc khắc phục nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ giữa hai nớc trên mọilĩnh vực để có thể đóng góp tốt hơn, có hiệu quả hơn vào sự thịnh vợng củamỗi dân tộc, nâng cao sự tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nớc cũng nh tạo
ra bầu không khí hoà bình - hợp tác phát triển trong khu vực và thế giới
Trang 5Trong chuyên đề của TS Trần Anh Phơng “Quan hệ thơng mại Việt Nam - Nhật Bản thời kỳ từ 1986 - 2000 và những tác động kinh tế- xã hội” tác
giả chủ yếu nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng thực trạng quan hệ thơngmại giữa Việt Nam và Nhật Bản trong những năm Việt Nam thực hiện côngcuộc đổi mới 1986 đến 2000, và những tác động của nó đối với việc phát triểnkinh tế - xã hội của hai nớc, đặc biệt là đối với Việt Nam
Trong tác phẩm “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản những năm 90
và triển vọng” do NXB KHXH phát hành, đã phân tích thực trạng hợp tác
quan hệ song phơng giữa Việt Nam và Nhật Bản đến nửa đầu 1999 một cáchkhá hệ thống và sâu sắc Tác phẩm đã trình bày một cách cụ thể mối quan hệcủa Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực kinh tế vào những năm 90 và triểnvọng về hợp tác kinh tế của hai nớc trong tơng lai
Trong tác phẩm “Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới” của GS TS - Dơng Phú Hiệp chủ biên đã tập trung phân
tích tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực ảnh hởng đến quan hệ song
ph-ơng giữa hai quốc gia; tác giả đã khảo sát, đánh giá thực tiễn hợp tác trên cácmặt thơng mại, đầu t, viện trợ phát triển (ODA) từ sau khủng hoảng tài chính -tiền tệ của khu vực trở lại đây; tác giả đã phân tích các quan điểm hợp tác, dựbáo triển vọng cũng nh đề xuất các giải pháp để thúc đẩy và nâng cao hiệuquả hợp tác trong thời gian tới
Trong bài viết “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong những năm gần đây” của TS Vũ Văn Hà, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số
1/2000, tác giả chủ yếu đề cập đến quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam Nhật Bản trong những năm 90 Tác giả phân tích và đa ra những số liệu cụ thể
-về quan hệ thơng mại, đầu t, viện trợ phát triển (ODA) của hai nớc trongnhững năm gần đây
Trong kỷ yếu hội thảo “30 năm quan hệ Việt Nam -Nhật Bản, kết quả
và triển vọng” có bài viết dới nhan đề; “Những đặc điểm của quan hệ Việt Nhật từ thập kỷ 90 đến nay” của tác giả Trần Thị Thu Lơng Trong bài viết
-này, tác giả phân tích những đặc điểm nổi bật của mối quan hệ Việt Nam thời
kỳ sau Chiến tranh Lạnh để thấy rõ sự phát triển toàn diện, sâu sắc về mối
Trang 6Trong bài viết "Đầu t trực tiếp của TNCs Nhật Bản ở Việt Nam - tổng quan và triển vọng" của tác giả Đinh Trung Thành Trong bài viết này tác giả
chia làm hai phần Phần đầu đánh giá tình hình đầu t trực tiếp của TNCs NhậtBản ở Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2005, và những yếu tố chủ yếu tác
động đến sự khởi đầu đầy hứa hẹn trong những năm cuối thập niên 90 Phầnthứ hai đánh giá triển vọng có thể tăng cờng thu hút đầu t trực tiếp của TNCsNhật Bản vào Việt Nam trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh đến các chínhsách liên quan trực tiếp đến cải thiện môi trờng đầu t, nhằm nâng cao sức cạnhtranh của nền kinh tế Việt Nam trong môi trờng tự do hoá thơng mại và đầu t
Có thể nói bài viết đã phản ánh một cách khách quan về môi trờng đầu t cũng
nh việc thu hút đầu t của nớc ngoài vào Việt Nam ở những năm cuối của thế
kỷ XX và đầu thế kỷ XXI
Đa số các công trình trên đều kết luận quan hệ Việt Nam - Nhật Bảnnói chung và hợp tác kinh tế nói riêng là mối quan hệ tốt đẹp diễn ra trongsuốt chiều dài lịch sử Mối quan hệ này có vai trò, tác động quan trọng trongviệc duy trì hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng
Những công trình trên là cơ sở, nguồn t liệu quan trọng để chúng tôithực hiện đề tài này Từ góc độ lịch sử, tác giả đề tài tập trung trình bày mộtcách có hệ thống mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản từ
1990 đến 2006 giai đoạn quan trọng và phát triển nhất trong lịch sử quan hệhai nớc từ trớc đến nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
3.1 Mục đích.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hớng tới làm rõ một số vấn đề sau
- Tác giả luận văn tập trung trình bày có hệ thống các vấn đề cơ bản vềmối quan hệ hợp tác thơng mại đầu t giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1990 đến
2006 Đây là mối quan hệ tơng đối tốt đẹp của hai nớc trong khu vực châu á Thái Bình Dơng đợc xây dựng và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử Thực
-tế cho thấy quan hệ này đã, đang và sẽ là nhân tố quan trọng tác động tới sựphát triển của mỗi nớc
- Quan hệ hữu nghị, hợp tác, đoàn kết giữa Việt Nam và Nhật Bản tronglĩnh vực kinh tế từ năm 1990 đến 2006 là mối quan hệ tơng đối tốt đẹp Do đó,
Trang 7khi nghiên cứu mối quan hệ này cho phép chúng tôi thấy đợc những tiến bộcủa mỗi nớc trong xu thế hội nhập của khu vực và thế giới.
- Quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản từ 1990 đến 2006
là mối quan hệ phát triển đợc kế thừa từ truyền thống Nó thể hiện sự hợp tác,
đoàn kết vì mục tiêu cùng xây dựng một nền kinh tế ổn định, hợp tác lâu dài
Do vậy, qua đề tài này giúp chúng tôi thấy đợc những đóng góp thiết thực củaquan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản trong sự phát triển chungcủa toàn khu vực châu á - Thái Bình Dơng
- Nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản từ
1990 đến 2006, sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ hai nớctrong lịch sử một cách liên tục, không gián đoạn Từ đó, chúng ta có nhữngchính sách phù hợp để thúc đẩy mối quan hệ này phát triển hơn
3.2 Nhiệm vụ
Quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản là một trong nhữngyếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam cũng nh củaNhật Bản Do vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam vàNhật Bản trong lịch sử, trong đó có giai đoạn từ 1990 - 2006 là nhiệm vụ khoahọc và cần thiết làm tăng thêm hiểu biết về lịch sử của hai nớc Đồng thời,thông qua mối quan hệ này giúp chúng tôi nhận thức đợc cơ sở lý luận và thựctiễn của mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tơnglai Trên cơ sở đó tác giả đề tài cố gắng giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
- Hệ thống những thành tựu chủ yếu trong quan hệ hợp tác giữa ViệtNam - Nhật Bản trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá…từ trớc 2006 Trong
đó chú trọng là giai đoạn từ 1990 đến 2006 Từ đó, tác giả rút ra những nhậnxét về mối quan hệ này
- Tác giả đã trình bày một số nhân tố về sự hợp tác kinh tế giữa ViệtNam và Nhật Bản rồi rút ra những nhận xét Đồng thời nêu lên những khókhăn, thuận lợi và triển vọng về mối quan hệ đó
- Trên cơ sở những thành tựu của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam vàNhật Bản tác giả luận văn cố gắng làm rõ vai trò của Nhật Bản trong quá trìnhphát triển nền kinh tế Việt Nam , đặc biệt trong giai đoạn từ 1990 đến 2006
- Từ thực tế quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản, tác giả
cố gắng rút ra một số nhận xét trong quan hệ hai nớc, bớc đầu phác thảo một
số giải pháp góp phần tăng cờng ảnh hởng hai nớc Việt Nam và Nhật Bản
Trang 8cũng nh trong quan hệ Việt Nam với các nớc trong khu vực châu á - TháiBình Dơng.
4 Giới hạn của đề tài.
Đề tài “Quan hệ hợp tác thơng mại đầu t giữa Việt Nam và Nhật Bản
từ 1990 đến 2006” đợc giới hạn bởi hai mặt sau
4.1 Về thời gian
Thời gian nghiên cứu của luận văn đợc giới hạn bởi mốc mở đầu lànăm1990 Tháng 10/1990, Bộ trởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch
đã sang thăm Nhật Bản, đánh dấu bớc khởi đầu cho giai đoạn mới trong quan
hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản, khai thông mối quan hệ giữa hai nớc Và mốckết thúc là năm 2006 Tháng 10/2006, Thủ tớng Nguyễn Tấn Dũng sang thămNhật Bản và tháng11/2006, Thủ tớng Sindô Abê thăm chính thức Việt Nam vàtham dự hội nghị lãnh đạo các nền kinh tế APEC
4.2 Về nội dung
Tác giả luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ hợp tác th ơngmại đầu t giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1990 đến 2006 Trong luậnvăn này tác giả đã trình bày những nhân tố tác động đến quá trình hợptác kinh tế của hai nớc qua từng thời kỳ Đồng thời, tác giả rút ra nhữngnhận xét, nêu lên những triển vọng của mối quan hệ này
5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn t liệu
Luận văn đợc tiến hành chủ yếu trên cơ sở nguồn t liệu tại Trung tâmNghiên cứu Nhật Bản, Th viện Quốc gia Hà Nội
Các nguồn t liệu về Lịch sử Nhật Bản, Lịch sử châu á - Thái Bình
D-ơng, luận án Tiến sỹ, Luận văn Thác sỹ ngành Lịch sử
Ngoài ra luận văn còn tham khảo nhiều sách, báo, tài liệu tham khảo,báo cáo khoa học của các học giả trong nớc
Đó là một số nguồn t liệu mà tác giả luận văn tiếp cận đợc, song điềubăn khoăn mà chúng tôi cha tiếp cận đợc một số nguồn tài liệu gốc, tài liệucha đợc công bố về quan hệ hợp tác kinh tế của hai nớc trong thới gian vừaqua Đó chính là khó khăn làm hạn chế đến chất lợng của luận văn
Trang 9dụng phơng pháp tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và suy luận để giảiquyết vấn đề mà luận văn đa ra
Từ các nguồn t liệu tiếp cận đợc, với những phơng pháp nghiên cứu nêutrên, tác giả luận văn cố gắng khai thác và sử dụng các thông tin một cáchkhách quan và trung thực
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn là công trình tập hợp, hệ thống hoá các nguồn t liệu và
những kết quả nghiên cứu về quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và NhậtBản từ 1990 đến 2006 trên lĩnh vực thơng mại và đầu t, với các nguồn t liệunày, luận văn phần nào giúp chúng ta có đợc cách nhìn tổng quan và hiểu biếtthêm về quá trình hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản
6.2 Trên cơ sở những gì cho phép, tác giả luận văn đã xác định đợc
những nhân tố tác động đến sự phát triển của mối quan hệ hợp tác kinh tế giữaViệt Nam và Nhật Bản qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể Đồng thời chúng tôicũng đa ra những nội dung chính của mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam vàNhật Bản từ năm 1990 đến 2006 Rút ra nhận xét và nêu lên một số dự báo vềmối quan hệ này trong tơng lai
Nội dung quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm
1990 đến 2006 là phần chủ yếu của luận văn Thông qua những nội dung đó,luận văn phần nào làm rõ sự đóng góp của quan hệ hợp tác giữa Việt Nam vàNhật Bản đối với sự phát triển mọi mặt của mỗi nớc Đồng thời, nó giúpchúng ta rút ra một số kinh nghiệm và xây dựng những giải pháp phù hợp,nhằm đẩy mạnh hơn nữa quá trình phát triển kinh tế của hai nớc Việt Nam -Nhật Bản
6.3 Là đề tài nghiên cứu lịch sử theo hớng chuyên đề, luận văn trớc hết
phục vụ cho việc giảng dạy, biên soạn bài giảng, sau nữa là nguồn t liệu quantrọng về lịch sử quan hệ của hai nớc Việt Nam và Nhật Bản trên lĩnh vực kinhtế
Trang 10Ch¬ng 3: Thµnh tùu vµ triÓn väng hîp t¸c th¬ng m¹i ®Çu t gi÷a ViÖtNam vµ NhËt B¶n.
Trang 11nội dung Chơng 1những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1990 đến 2006
1.1 Quan hệ truyền thống
Ngợc dòng lịch sử, chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam và Nhật Bảnvốn có quan hệ thơng mại hàng trăm năm nay Ngay từ thế kỷ XVI, đã cónhững thơng gia Nhật Bản đến kinh doanh ở Việt Nam Sử sách đã ghi lại rằnglúc nhiều nhất có tới 600 thơng nhân Nhật định c, lập khu phố ngời Nhật vàxây dựng cầu Nhật Bản tại Hội An, nay thuộc tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.Ngay từ những năm này, đồ gốm xứ Việt Nam đã có mặt tại Nhật Bản và ngợclại Qua gần 4 thế kỷ, trải qua nhiều cuộc thăng trầm, quan hệ hai nớc cũng cónhiều biến động Song quan hệ thơng mại giữa hai nớc vẫn đợc duy trì ở mức
độ này hay mức độ khác Cho đến khi quan hệ ngoại giao chính thức giữa hainớc Việt Nam và Nhật Bản đợc thiết lập vào tháng 9/1973, quan hệ thơng mạihai nớc có điều kiện phát triển mạnh Trong thời kỳ hiện đại, mối quan hệ ấylại đợc nhân dân hai nớc vun đắp thêm Tuy nhiên, vấn đề mà chúng tôi muốnnói ở đây là mối quan hệ truyền thống này đợc biểu hiện nh thế nào và có tácdụng gì đến sự phát triển trong quan hệ của hai nớc Nếu xét về cội nguồn lịch
sử thì Việt Nam và Nhật Bản đã có quan hệ giao lu kinh tế, văn hoá từ lâu đời
Đặc biệt cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, quan hệ giao thơng giữa hai nớckhá phát đạt Nhiều thuyền buôn Nhật Bản cập bến các thơng cảng ĐàngTrong, Đàng Ngoài, nhiều ngời Nhật ở lại lập phố, mở cửa hàng buôn bán vàgiữ vai trò quan trọng trong nền mậu dịch đối với nền ngoại thơng của ViệtNam
Trong suốt thời kỳ phát triển bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, các thuyềnbuôn từ Nhật Bản, Hà Lan, Trung Quốc và Bồ Đào Nha thờng xuyên lui tới vàxin phép chính quyền sở tại đợc lập thơng điếm buôn bán tại Hội An Chính
điều này đã làm cho cảng thị này phát triển thành một khu phố buôn bán sầmuất Đầu thế kỷ XVII, một khu phố Nhật đã hình thành ở Hội An, sự kiện đó
là mốc quan trọng đánh dấu những bớc đi đầu tiên trong quá trình hợp tác vănhoá, kinh tế qua lại lâu dài giữa hai nớc Việt - Nhật
Năm 1600, việc Mạc phủ Tokugawa cầm quyền ở Nhật Bản đã mở ramột thời kỳ phát triển cao nhất và cũng là cuối cùng của chế độ phong kiếnNhật Bản Chính sách ngoại thơng thông thoáng châu ấn thuyền của chính
Trang 12quyền Tokugawa đã cho phép thơng nhân Nhật ra bên ngoài làm ăn thuậntiện Cùng sự kiện đó chính quyền Đàng trong của Chúa Nguyễn ở QuảngNam cũng rất tích cực mở rộng cửa thông thơng với bên ngoài nhất là vớiNhật Bản “Các tàu Nhật bắt đầu tới các cảng thị khác nhau ở vùng ven biển
Đông Nam á, chủ yếu là các cảng nằm ở vĩ tuyến 10 nh Hà nội Hội An Phnômpênh để trao đổi buôn bán” [18,26]
-Sự hình thành khu phố Nhật ở hải ngoại là một hệ quả tất yếu sau nhữnghoạt động thơng mại tích cực của thơng buôn ngời Nhật Phố Nhật hình thànhsớm nhất ở Luzon (Philippin) vào năm 1603 Sau đó ở Phnômpênh(Cămpuchia) 1618, Ayuthya (Thái Lan) năm 1622, tại Hội An Băt đầu thế kỷ
17 (1617), khu phố Nhật đã hình thành Ngời Nhật cũng có mặt tại nhiều
th-ơng cảng khác nh Thăng Long, phố Hiến, Thanh Hà Thông qua các cảng thịtrên tiêu biểu là Hội An, quan hệ giao lu giữa hai nớc phát triển mạnh mẽ Thtrao đổi giữa chính quyền Mạc phủ và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đợcchuyển qua các thơng nhân Nhật Bản đến buôn bán tại đây Tiêu biểu nh khinhận đợc th của Thụy Quốc Công An Nam tức Chúa Nguyễn Hoàng ở QuảngNam thông báo về việc không may của Shihamarakenki, khi buôn bán ởThuận Hoá
Từ Hội An, quan hệ buôn bán giữa Việt - Nhật đã diễn ra khá sôi nổi.Ngời Nhật đã đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế ở nơi đây Gần
đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện đợc gốm sứ Việt Nam tại nhiều thànhphố Nhật Bản nh Nagasaki, Sakai, Kyoto, Tokyo… và gốm sứ Nhật Bản, nhất
là gốm Hizen cũng đợc tìm thấy nhiều nơi ở Việt Nam, từ Hậu Lâu, TràngTiền… (Thăng Long - Hà Nội), Phố Hiến (Hng Yên), Mộ Mờng (Hoà Bình),Lam sơn (Thanh hoá), và Hội An (Quảng Nam) Đó là dấu ấn thời kỳ pháttriển của quan hệ giao lu kinh tế, văn hoá giữa hai nớc Theo các nhà nghiêncứu trong khoảng 30 năm (từ 1604 - 1634), Mạc phủ đã cấp tổng cộng 354giấy phép Trong đó những địa điểm thuộc khu vực Đông Nam á là 331,chiếm tỷ lệ 93,5% Số thuyền Nhật Bản đến buôn bán ở các thơng cảng thuộclãnh thổ Việt Nam hiện nay là 130 chiếc, chiếm 39,27%, trong đó thuyền đếnHội An là 86 chiếc, chiếm 66,15%.Thật không có gì phải bàn cãi khi nhận
định rằng, trong các cảng thị sầm uất ở Đông Nam á, thì Hội An chính làcảng thị có nhiều thuyền buôn Nhật Bản lui tới nhất Nhiều dấu tích sâu đậmcủa ngời Nhật ở miền Trung Việt Nam - Đô thị cổ Hội An hiện nay vẫn còn
Trang 13khu phố Nhật Bản kiều và những ngôi mộ Nhật vẫn đợc ngời Việt trân trọngbảo tồn.
Lịch sử có những khúc quanh co thậm chí có thụt lùi tạm thời Khichính quyền Nhật Bản ban hành chính sách Toả quốc vào năm 1639, cấm cácthuyền buôn ra nớc ngoài, thậm chí nếu trái lệnh sẽ bị xử tử hoặc phải sống ởnớc ngoài vĩnh viễn, thì đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự tàn lụi dần củakhu phố Nhật, cảng ở ngoài nớc Nhật Mặc dù buôn bán giữa Hội An và NhậtBản vẫn còn tiếp tục cho đến cuối thế kỷ XVIII, thông qua thơng nhân Hoakiều và thuyền buôn Hà Lan - Những ngời vẫn đợc phép ra vào buôn bán ởNhật Bản thông qua thơng điếm của họ đặt tại Deshima (Nagasaki-Nhật Bản)
Cần phải nói thêm về mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đó làvào năm 1905, Cụ Phan Bội Châu đã đến Nhật Bản và phong trào thanh niênViệt Nam sang Nhật Bản du học
Cụ Phan Bội Châu muốn đào tạo những cán bộ và chiến sĩ tơng lai chocuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, Cụ đã kêu gọi thanh niên Việt Namsang Nhật du học Đáp ứng lại lời kêu gọi của Cụ Nhiều thanh niên Việt Namvới tinh thần cách mạng đã vợt qua nhiều khó khăn để đến Nhật Một số ngời
đợc vào học ở Shimbu Gakko (Chấn Vũ học hiệu) ở Tokyo Shimbu Gakko làtrờng học do Lục quân Tham mu bản bộ Nhật lập ra nhằm đào tạo quân sự dự
bị cho các học sinh Trung Quốc mà chính phủ Thanh quốc cử sang Nhật Sốhọc sinh Việt Nam đợc nhập vào trờng này không nhiều vì các nhà lãnh đạoquân đội Nhật sợ rằng ngời Pháp biết điều đó và nghi ngờ chính phủ ủng hộphong trào của ngời Việt Nam chống Pháp Vì vậy, Cụ Phan Bội Châu nhờ các
ông Inukai Tsuyoshi và Kashiwabara Buntaro nhận nhiều học sinh khác vàohọc ở Tokyo Dobun Shoin (Tokyo Đồng văn th viện), một trờng học do tổchức phi chính phủ - Đôabunkai (Đông á văn hội) thành lập
Tôkyô Dobun Shoin là một trờng học dành cho học sinh Trung Quốchọc dự bị trớc khi học các trờng cao đẳng và đại học Nhật Bản Trờng nàykhông dạy về quân sự Nhng Cụ Phan Bội Châu đã thuyết phục các nhà quản
lý trờng này lập một lớp đặc biệt cho học sinh Việt Nam Các học sinh ViệtNam học tập rất chăm chỉ, đợc các giáo viên trờng này đánh giá cao
Vào cuối năm 1908, số lợng học sinh Việt Nam ở Nhật đã tới gần 200ngời Nhng từ khi đó, chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dơng đã bắt đầutăng cờng đàn áp đối với phong tráo dân tộc của Việt Nam, đồng thời yêu cầuchính phủ Nhật can thiệp vào những hoạt động của phong trào cách mạng
Trang 14chống Pháp của ngời Việt Nam ở Nhật Do trớc đó, vào năm 1907, Nhật Bản
đã ký hiệp định với Pháp, trong đó tôn trọng đặc quyền của Pháp ở Đông
D-ơng, nên chính Phủ Nhật buộc phải thi hành chính sách gây áp lực đối với cụPhan Bội Châu và các học sinh Việt Nam ở Nhật Thất vọng với chính sáchcủa Nhật và lo lắng bị bắt bớ các học sinh Việt Nam đã rời Nhật Bản, sangTrung Quốc và Thái Lan tiếp tục hoạt động cách mạng Nh vậy, đến năm
1909, phong trào Đông Du về cơ bản đã chấm dứt, mặt dầu vẫn còn một sốhọc sinh Việt Nam vẫn ở lại Nhật để tiếp tục học lên cao đảng và đại học
Có thể nói, Việt Nam và Nhật Bản có mối quan hệ truyền thống tốt đẹp
từ lâu đời, đợc bảo tồn, phát huy và gìn giữ cho đến tận ngày nay quả là một
điều không dễ dàng gì có đợc Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sửnhng mối quan hệ ấy vẫn ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của thời
đại Mối quan hệ ấy không bị mất đi mà nó còn tồn tại mãi mãi Chính nó lànền tảng là cơ sở vững chắc cho mối quan hệ của hai nớc trong tơng lai
1.2 Sự phát triển toàn diện của Việt Nam và Nhật Bản
1.2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao
1.2.1.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam
Thập kỷ 90, tình hình thế giới và khu vực có những biến động sâu sắc.Liên Xô và Đông Âu tan rã, trật tự hai cực đã bị sụp đổ, Chiến tranh Lạnhchấm dứt mở ra một cục diện mới trong tình hình quốc tế nói chung và khu
vực châu á - Thái Bình Dơng (TBD) nói riêng Xu thế hoà bình, hợp tác và
phát triển cùng tồn tại hoà bình chiếm vị trí chủ yếu Các nớc trong khu vựctăng cờng tìm kiếm sự ổn định hợp tác, chia phạm vi ảnh hởng vì lợi ích mọimặt của quốc gia mình Nhiều vấn đề của toàn cầu hoá tác động mạnh đếnliên kết kinh tế khu vực châu á - Thái Bình Dơng Các nớc tận dụng mọi điềukiện vốn có ở khu vực tăng cờng sự hợp tác vì lợi ích phát triển bền vững, hoàbình ổn định và phát triển Tăng cờng quan hệ, đổi mới đờng lối đối ngoại củanhiều nớc
Lợi ích kinh tế ngày càng trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trongquan hệ các nớc vì nhu cầu phát triển quốc gia, chi phối chính sách đối ngoạicác nớc nhất là dới sự tác động ngày càng mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoahọc kỹ thuật (KHKT)
Xu hớng cải cách kinh tế, và cải cách trong các lĩnh vực khác của nhiều
nớc trong khu vực cho phù hợp với tác động mới của xu hớng toàn cầu hoánền kinh tế tri thức, xu hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá dới tác động của
Trang 15KHKT Cùng với những diễn biến của tình hình quốc tế nói chung ở khu vựcchâu á - Thái Bình Dơng đặc biệt là Đông Nam á cũng có những chuyển biếntích cực: nh việc giải quyết các vấn đề Cămpuchia, quan hệ Việt Nam vớiASEAN, Việt Nam với Trung Quốc đã tạo nên nhân tố quan trọng cho việckhai thông và phát triển quan hệ mọi mặt giữa Việt Nam và Nhật Bản trongthời kỳ này.
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986),
Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện việc đổi mới xã hội bắt đầu từ đổi mớikinh tế và đổi mới đờng lối đối ngoại theo định hớng mới: "Đa phơng hoá, đadạng hoá các quan hệ quốc tế nhằm chủ động tạo ra những điều kiện thuận lợi
để dần dần phá bỏ thế bị bao vây và cấm bỏ" Kế thừa những thành quả đốingoại có hiệu quả đợc Đảng ta đa ra một cách sáng suốt trớc khi Liên Xô tanrã góp phần đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, phát triển đất n-
ớc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII tháng 7/1991, đã đa ra phơng châm
"đa phơng hoá, đa dạng hoá ", "hoạt động đối ngoại lên một tầm cao mới vớichính sách đối ngoại rộng mở", chúng ta tuyên bố" Việt Nam muốn làm bạnvới tất cả các nớc trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập vàphát triển"
Trong xu thế hoà bình và phát triển ở khu vực sau Chiến tranh Lạnh, ViệtNam có điều kiện thuận lợi thực hiện chính sách đối ngoại của mình để " tạo
ra những chuyển biến căn bản trong quan hệ với các nớc lớn và thúc đẩy quan
hệ với các nớc trong khu vực vì những mục tiêu phát triển đất nớc"
Thực hiện nhất quán đờng lối đối ngoại mà Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X đã đề ra; độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách
đối ngoại mở rộng đa phơng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cựchội nhập quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác.Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, thamgia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực
Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trờng hoà bình, tạo các
điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh
tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, xây dựng và bảo vệ Tổquốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thếgiới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Đa các quan hệ quốc tế đã đợc thiết lập vào chiều sâu, ổn định bềnvững Phát triển quan hệ với tất cả các nớc, các vùng lãnh thổ trên thế giới vàcác tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn
Trang 16vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũlực hoặc đe doạ bằng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông quathơng lợng hoà bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơnvới các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phơng, lấy phục vụ lợi ích
đất nớc làm mục tiêu cao nhất
Đầu những năm 90, Nhật Bản là một trong những nớc đầu tiên mà ViệtNam hớng tới khi triển khai chính sách đối ngoại theo định hớng của mình.Còn Nhật Bản sau Chiến tranh Lạnh kết thúc cũng cần thấy có sự điều chỉnhtrong chính sách đối ngoại của mình với các nớc nh: Hoa Kỳ, Nga và TrungQuốc, theo hớng tự tin và chủ động theo mức độ lớn hơn trong khu vực Từsau Chiến tranh Lạnh vị thế của Nhật Bản trên trờng quốc tế và đặc biệt trongkhu vực ngày càng đợc nâng lên rõ rệt vì nhân tố kinh tế đã trở thành quantrọng hơn trong quan hệ quốc tế với tiềm lực kinh tế của mình Nhật Bản cótiếng nói trọng lợng hơn trong các diễn đàn khu vực và quốc tế Sau khi LiênXô và Đông Âu sụp đổ, nớc Nga, Mỹ cũng không còn quan tâm và có điềukiện tham gia các hoạt động khu vực nhiều nữa
Chính sự thay đổi về t duy và chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng
là một trong những nhân tố khiến Nhật Bản phải xem xét lại chính sách đốingoại và kinh tế của Nhật Bản đối với Việt Nam
Trong hơn 20 năm qua nhờ thực hiện tốt chính sách đổi mới của Đảng
ta đặc biệt là chính sách về đổi mới kinh tế, đã từng bớc đa nền kinh tế của
n-ớc ta thoát ra khỏi trì trệ và từng bn-ớc tiến dần lên theo định hớng chính sáchcủa Đảng đề ra, từng bớc đa dạng hoá nền kinh tế trong nớc, kêu gọi thu hútngày càng nhiều các nguồn vốn của nớc ngoài vào nhằm đa nền kinh tế nớc tahoà nhập vào nền kinh tế thế giới
1.2.1.2 Chính sách của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam á
Trong chiến lợc đối ngoại của mình sau Chiến tranh thế giới lần thứ II.Nhật Bản coi Đông Nam á là thị trờng quan trọng Quan hệ với các nớc ĐôngNam á đợc Nhật Bản coi là một trong những quan hệ đối ngoại quan trọngnhất Vì đây là nơi cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, nơi đầu t trực tiếp, chủyếu cho Nhật Bản Đông Nam á là một khu vực rộng lớn và đông dân, vớitổng diện tích 4,5 triệu km2, chiếm 3,3% diện tích thế giới với tổng dân số 500triệu ngời chiếm 10% dân số thế giới Đồng thời Đông Nam á là một khu vựctrù phú của thế giới, tài nguyên thiên nhiên giàu có, trữ lợng lớn về khoángsản, lâm sản, hải sản, lực lợng lao động lớn, cần cù chịu khó, là thị trờng tiêuthụ rộng lớn và đầy tiềm năng
Trang 17Trong quá trình phát triển chiến lợc đối ngoại mới của Nhật Bản, ngoàiquan hệ đối với các nớc lớn, Đông Nam á có một vị trí, vai trò rất quan trọng.
Đây là khu vực có ý nghĩa chiến lợc đối với an ninh kinh tế của Nhật Song,
Đông Nam á cũng là khu vực mà lợi ích của các nớc lớn đan xen và mâuthuận với nhau, do vậy, Nhật khó có khả năng đóng một vai trò chính trị quantrọng ở đây trong suốt thập kỷ 60 và nửa đầu thập kỷ 70 Những thay đổi củatình hình khu vực, bắt đầu từ việc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tạo điềukiện khách quan để Nhật Bản thực hiện một vai trò quan trọng hơn với việc ra
đời học thuyết Fukuda (1977)
Sau thắng lợi của nhân dân Việt Nam năm 1975, tình hình Đông Nam
á có những chuyển biến cơ bản mà đặc điểm nổi bật là với sự rút lui của Mỹ
ra khỏi chiến tranh Việt Nam, một khoảng trống quyền lực đã hình thành ở
đây Tình hình đó một mặt tạo điều kiện cho các nớc khu vực có thể xây dựngquan hệ với nhau mà không chịu sức ép của nớc lớn, mặt khác cũng tạo nêncảm giác bất ổn vì cha có một cơ chế an ninh nào để giải quyết quan hệ giữacác nớc này Trong bối cảnh đó, Nhật nổi lên nh một đối tợng quan trọng vìNhật là nớc có quan hệ tốt với các nớc Đông Dơng và ASEAN Hơn nữa, Nhậtcòn đợc sự khuyến khích của Mỹ trong việc giữ ổn định khu vực Trongchuyến thăm quan các nớc ASEAN tháng 8 năm 1977 Thủ tớng Nhật Fkuda
đã đọc một bài diễn văn về chính sách Đông Nam á của Nhật tại Manila, đợcbiết đến nh là học thuyết Fukuda gồm 3 nội dung chính
1 Nhật Bản cam kết sẽ không trở thành một cờng quốc quân sự và sẽ
đóng góp vào gìn giữ hoà bình ở khu vực
2 Nhật sẽ thiết lập quan hệ chân thành và tin cậy lẫn nhau giữa các nớc
Đông Nam á không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị mà cả văn hoá, xã hộinữa
3 Nhật sẽ phối hợp tích cực với ASEAN để giúp cho sự đoàn kết và tựcờng của các nớc này và phát triển quan hệ với các nớc Đông Dơng trên cơ sốhiểu biết lẫn nhau và do đó đóng góp vào hoà bình và thịnh vợng ở khu vực
Đây là lần đầu tiên Nhật Bản tuyên bố công khai về chiến lợc đối ngoại
đối với Đông Nam á của mình
Sau khi Việt Nam thống nhất đất nớc năm 1976, Nhật Bản thấy rõ vị tríchính trị, kinh tế và quân sự của Việt Nam nên đã chủ động nối lại đàm phán
và viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam và tiến tới lập đại xứ quán Thúc đẩybình thờng hoá quan hệ với Việt Nam, mục đích của Nhật Bản là tạo cơ hộilàm ăn với Việt Nam vừa kiềm chế Việt Nam, mặt khác tìm mọi cách ủng hộ
Trang 18và hỗ trợ hơn nữa cho ASEAN vì quân Mỹ đã dần rút khỏi khu vực Đông Nam
á
Học thuyết Fukuda ra đời đánh dấu bớc chủ động của Nhật coi trọnghàng đầu thị trờng Đông Nam á và châu á Từ đây, t tởng chiến lợc của NhậtBản là đảm bảo an ninh thông qua việc sử dụng mạnh mẽ hơn công cụ kinh tế,chính trị, coi trọng châu á, Đông Nam á Học thuyết này lần đầu tiên đánhdấu sự chuyển hớng rõ rệt của Nhật Bản trong quan hệ đối ngoại từ sau chiếntranh thế giới thứ II nhằm tăng cờng vai trò chính trị của Nhật Bản thông qua
đòn bẩy kinh tế ở khu vực Đông Nam á, chuyển từ chính sách đơn thuần bồithờng chiến tranh và bành trớng mậu dịch sang sử dụng mạnh mẽ hơn cáchoạt động kinh tế, văn hoá với các nớc Đông Nam á mà chủ yếu là các nớcASEAN
Học thuyết Fukuda cùng với khoản vay bằng đồng Yên đã thể hiện sựcam kết của Nhật Bản đối với sự phồn vinh và ổn định của ASEAN Họcthuyết này đã tạo nên khuôn khổ để Nhật Bản can dự vào nền chính trị khuvực Đông Nam á và Nhật Bản muốn làm chất xúc tác, tạo cầu nối giữa ĐôngDơng và các nớc ASEAN, mở đờng cho việc tăng cờng quan hệ với các nớctrên bán đảo này thời kỳ sau Việt Nam
Học thuyết Fukuda ra đời cho thấy Nhật Bản có tầm nhìn xa, trông rộng
và một tiềm năng phát triển to lớn của khu vực Đông Nam á còn chứa nhiềubất ổn do bầu không khí Chiến tranh Lạnh mang lại Tuy nhiên, do những khókhăn của Nhật Bản, Tây Âu và Bắc Mỹ, Nhật Bản đã sớm nhận ra vị trí quantrọng của Đông Nam á và muốn quay trở lại củng cố vị trí của mình tại miền
đất mới này Học thuyết Fukuda là nhân tố cơ bản của chính sách đối ngoạicủa Nhật Bản ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng Cho đến nay, mặc dù trảiqua các đời Thủ tớng từ Hashimoto, Obuchi, Koizumi, đến Shizo Abê, cácThủ tớng đều cho ra đời các học thuyết với nhiều tên gọi khác nhau: Họcthuyết Hashimoto, học thuyết Curamari, học thuyết Kaifu Nội dung cơ bảnxuyên suốt trong các học thuyết của các đời Thủ tớng là chính sách đối ngoạicủa Nhật Bản Nhng những nội dung đó chỉ làm sống lại học thuyết Fukudatrong tình hình mới tức là “Nhật Bản sẽ triển khai ngọai giao kinh tế với các n-
ớc châu á và đặc biệt là trọng tâm châu á - Thái Bình Dơng và coi Đông Nam
á có vị trí đặc biệt” [41,26]
1.2.1.3 Sự phát triển của quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam và Nhật Bản.
Trang 19Trong giai đoạn từ 1945 đến 1975, quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản
là mối quan hệ rất phức tạp, tế nhị và còn nhiều mặt hạn chế Do hoàn cảnhlịch sử, sau Hiệp định Giơnevơ (1954) Việt Nam bị chia làm hai miền với haichế độ chính trị khác nhau, Nhật Bản - lúc này là đồng minh của Mỹ đã côngnhận chính quyền Sài Gòn, bình thờng hoá với chính quyền Sài Gòn, bồi th-ờng chiến tranh và thực hiện viện trợ, đầu t vào Sài Gòn Trong khi đó, đối vớichính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, cho đến trớc khi hiệp định Paris đợc
ký kết, quan hệ chính thức giữa hai nớc không thực hiện Tuy nhiên, quan hệcủa nhân dân hai nớc, các tổ chức phi chính phủ và buôn bán của một số công
ty t nhân Nhật Bản với Việt Nam vẫn phát triển
Sau Hiệp định Paris đợc ký kết (27/1/1973), quan hệ giữa Việt NamDân chủ Cộng hoà và Nhật Bản dần dần đợc cải thiện Đến ngày 21/9/1973,hai nớc đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ
Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu
n-ớc đã đa dân tộc Việt Nam bn-ớc vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, thốngnhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội Uy tín và địa vị của Việt Nam trên trờngquốc tế đợc nâng cao hơn bao giờ hết, các thế lực thù địch Việt Nam khôngthể giữ mãi thái độ cực đoan trong quan hệ với Việt Nam Điều này đã khiếnchính phủ Nhật Bản thấy rõ vai trò của Việt Nam ở khu vực này, một đất nớcnhiều tiềm năng cần thiết cho nền kinh tế Nhật trong tơng lai Do đó, ViệtNam trở thành một nhân tố phải tính đến trong chính sách Đông Nam á củaNhật Bản Trên cơ sở đó, quan hệ ngoại giao, chính trị Việt Nam - Nhật Bản
đợc đẩy mạnh
Để tỏ rõ thiện chí của mình, Nhật Bản đã "quyết định công nhận chínhphủ lâm thời Công hoà Miền Nam Việt Nam là chính phủ kế tục hợp phápchính phủ Sài gòn trớc đây" Tiếp sau đó, năm 1976, Nhật Bản đã khẳng địnhchính sách của mình đối với các nớc Đông Dơng, trong đó có Việt Nam:
"chính sách của nớc ta đối với các nớc Đông Dơng là cố gắng thiết lập nhữngquan hệ tốt đẹp của họ, dù chế độ chính trị của họ, khác chế độ chúng ta Việntrợ thích hợp của nớc ta cho công cuộc tái thiết kinh tế của những nớc nàyphải đóng góp vào hoà bình và phát triển ở khu vực và cuối cùng là ở Đông D-
ơng nói chung" [41,51]
Về phía mình, chính phủ Việt Nam đã thực hiện một chính sách ngoạigiao cởi mở đã tạo ra cơ hội mới trong quan hệ Việt - Nhật, chấm dứt giai
Trang 20đoạn trì trệ trong quan hệ giữa hai nớc, nhằm củng cố hoà bình, tranh thủnhững điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế…hàn gắn vết th-
ơng chiến tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đối với Việt Nam, Nhật Bảnkhông chỉ là cờng quốc về kinh tế, mà còn có vai trò chính trị quan trọng và
có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến ở châu á Vì vậy, chính phủ Việt Nam rấtcoi trọng sự phát triển đúng hớng và có hiệu quả quan hệ với Nhật Bản, đặcbiệt là quan hệ về kinh tế Trong bối cảnh chung của hai nớc, việc đẩy mạnhquan hệ hợp tác Việt - Nhật là yêu cầu cấp bách từ hai phía vì lợi ích của haiquốc gia
Quan hệ giữa hai nớc đợc đẩy mạnh thông qua các cuộc tiếp xúc ngoạigiao của hai chính phủ Cuộc gặp giữa Bộ trởng Ngoại giao Hatoyama và Bộtrởng Nguyễn Duy Trinh tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào tháng 9/1977
đã cải thiện tốt mối quan hệ ngoại giao chính trị giữa hai nớc Đến tháng 7năm 1978, Thứ trởng Ngoại giao Phan Hiền sang thăm Nhật Bản với t cách là
đặc phái viên của chủ tịch Hội đồng Bộ trởng Phan Văn Đồng Trong chuyến
đi này, ông đã có cuộc gặp với Thủ tớng Nhật Bản Fukuda, Bộ trởng Ngoạigiao Sonoda và bàn việc xúc tiến quan hệ giữa hai nớc trên tất cả các lĩnh vực,
đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Đến tháng 8 năm 1977, học thuyết Fukuda đợccông bố đã xác nhận chính thức chính sách ngoại giao Đông Nam á mới củaNhật Bản sau chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, qua đó mở rộng ảnh hởngnhiều mặt của Nhật Bản ở Việt Nam thông qua sự đóng góp về kinh tế, giúpViệt Nam tác thiết đất nớc sau chiến tranh
Từ đầu năm 1979, quan hệ giữa hai nớc bị thu hẹp đến tối đa Nguyênnhân của nó, theo phía Nhật Bản là do Việt Nam giúp nhân dân Cămpuchiatiến hành cuộc chiến tranh lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt Trong khoảngthời gian này, Nhật Bản đã đơn phơng thi hành chính sách đối ngoại "lạnhnhạt" với Việt Nam, mà hành động đầu tiên là đơn phơng tuyên bố ngừng cấpviện trợ ODA cho Việt Nam kể từ ngày 08/01/1980 Có thể lý giải bởi nhiềunguyên nhân về vấn đề này, song cần thấy có một nguyên nhân rất quan trọng
là do áp lực của Mỹ và các nớc phơng Tây và kể cả áp lực từ các nớc ASEAN
về vấn đề này đối với Việt Nam
Trong khoảng thời gian từ năm 1981 đến 1989, các phái đoàn ngoạigiao của Việt Nam và Nhật Bản vẫn qua lại thăm hỏi lẫn nhau Đầu tháng5/1981, Akitane Kiuchi, Tổng vụ châu á Bộ Ngoại giao Nhật Bản thăm Việt
Trang 21Nam Đây là cuộc thăm lần đầu tiên của một qua chức ngoại giao cấp cao củaNhật Bản tới Việt Nam kể từ năm 1978, một số đại biểu Quốc hội Việt Namthăm Nhật Bản theo lời mời của liên minh nghị sĩ Quốc hội Việt Nam - NhậtBản Tháng 1/1982, Hiroaki Fujii, một quan chức cấp cao Bộ ngoại giao NhậtBản đã tới thăm Việt Nam Tại đây, hai phía đã ký một văn bản về viện trợnhân đạo cho Việt Nam Đây đợc coi là hành động đầu tiên tự chọc thủngchính sách "đông cứng" trong quan hệ với Việt Nam của Nhật Bản từ năm
1979
Năm 1989, việc Việt Nam rút hết quân tình nguyện khỏi Cămpuchia đãtạo một bầu không khí thuận lợi trong khu vực Đặc biệt kể từ khi xảy ra sựsụp đổ của Đông Âu và Liên Xô, tình hình Đông Nam á càng đợc cải thiện
Sự đối đầu giữa hai siêu cờng Mỹ - Xô và các mối quan hệ căng thẳng thờngxuyên nguy hiểm giữa Liên Xô và Trung Quốc đã chấm dứt Chiến tranh Lạnhchấm dứt đã tạo ra cơ hội để các quốc gia lớn và nhỏ trong khu vực ĐôngNam á và các đối tác của họ điều chỉnh lại chiến lợc đối ngoại theo hớng tăngcờng sự hiểu biết và thúc đẩy các mối liên kết kinh tế, chính trị, an ninh vàvăn hoá nhằm tạo ra một môi trờng thuận lợi cho sự tăng trởng bền vững
Trong khi đó, công cuộc đổi mới của Việt Nam đợc xúc tiến, đẩy mạnh
và thu đợc nhiều kết quả tích cực Cần phải nhấn mạnh rằng, những thànhcông trong quá trình đổi mới ở Việt Nam đã tạo ra một hình ảnh tích cực vàmột niềm tin cho các đối tác, trong đó có Nhật Bản Từ đó, chính phủ NhậtBản đa ra những thay đổi trong chính sách đối với Việt Nam
Bớc vào thập kỷ 90, tình hình chính trị và kinh tế thế giới, khu vựcchâu á - Thái Bình Dơng đặc biệt là Đông Nam á và Việt Nam đã có nhữngthay đổi quan trọng Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh kết thúc và tình hìnhthế giới có những thay đổi nhanh chóng và sâu sắc, xu thế hợp tác và đốingoại ngày càng phát triển, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nớc đang ngàycàng trở nên mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu cũng nh khu vực
Đối với Nhật Bản, sau Chiến tranh Lạnh đã có sự điều chỉnh chính sách
đối ngoại, từ chỗ gắn chặt với Mỹ và phơng Tây chuyển sang chủ trơng quaytrở lại với châu á theo hớng coi trọng khu vực này hơn, chủ động hơn trongquan hệ đối ngoại nhằm phát huy ảnh hởng ở khu vực, đặc biệt là Đông Nam
á Quan hệ giữa Nhật Bản với các nớc Đông Nam á đã từng bớc chuyển từquan hệ truyền thống về kinh tế sang quan hệ đối ngoại về chính trị và anninh
Trang 22Về phía mình, trong tình hình quốc tế mới, Việt Nam đã thực hiệnthành công đờng lối đổi mới kinh tế và chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạnghoá, đa phơng hoá quan hệ quốc tế trên tinh thần sẵn sàng là bạn của tất cảcác nớc vì hoà bình, độc lập và phát triển nhằm tranh thủ tối đa các nguồn lựcbên ngoài, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng đất nớc Trong bối cảnh
đó, Nhật Bản đã tích cực điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình nhằm cảithiện quan hệ với các nớc Đông Dơng, trong đó có Việt Nam Quan hệ Việt -Nhật bắt đầu có những bớc cải thiện rõ rệt
Tháng 10 năm 1990, Bộ trởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch
đã sang thăm Nhật Bản, đánh dấu bớc khởi đầu cho giai đoạn mới trong quan
hệ giữa Việt Nam - Nhật Bản, khai thông mối quan hệ giữa hai nớc Ngoại ởng Nhật Bản Nakayama đó đánh giá cao chuyến thăm của Bộ trởng ViệtNam, xem đây là chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với quan hệhai nớc Bộ trởng Nguyễn Cơ Thạch khẳng định với chính phủ Nhật Bản lậptrờng của chính phủ Việt Nam là quan hệ giữa Việt Nam - Nhật Bản phải đặttrên cơ sở mới, bình đẳng tôn trọng nhau, hai bên cùng có lợi, phù hợp với xuthế chung góp phần xây dựng và ổn định của hai nớc và khu vực và cả haichính phủ thống nhất quan điểm sẵn sàng hợp tác với nhau Đến tháng 6/1991,Ngoại trởng Nhật Bản Nakayama đến thăm Việt Nam mở ra một thời kỳ pháttriển mới trong quan hệ giữa hai nớc Việc khai thông quan hệ chính trị đã tạo
tr-điều kiện cho các mối quan hệ khác mở rộng và phát triển mạnh mẽ
Đặc biệt, sau khi Hiệp định Paris về Cămpuchia đợc ký kết vào tháng1/1991, Nhật Bản đã có những bớc đi tích cực nhằm cải thiện quan hệ với ViệtNam Ngày 16/11/1992, chính phủ Nhật Bản đã mở lại viện trợ phát triểnchính thức (ODA) cho Việt Nam và cho Việt Nam vay với điều kiện u đãi45,5 tỷ Yên và viện trợ không hoàn lại 14,75 triệu USD Nhật Bản đã trở thànhnớc cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam Từ năm 1992, những chuyếnviếng thăm lẫn nhau của các quan chức đứng đầu chính phủ, các ban ngànhngày càng tăng, mở ra triển vọng tốt đẹp và thuận lợi cho hai nớc
Tháng 3/1993, lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ ngoại giao giữa hai
n-ớc, Thủ tớng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã tới thăm Nhật Bản và đến tháng8/1994, lần đầu tiên Thủ tớng Nhật Bản Murayama đã sang thăm Việt Nam.Các sự kiện này đã đánh dấu bớc ngoặt phát triển quan trọng trong quan hệngoại giao chính trị giữa hai nớc, qua đó đặt nền tảng cho sự phát triển quan
hệ mọi mặt Trong cuộc hội đàm với Thủ tớng Võ Văn Kiệt, Thủ tớng NhậtBản Murayama đã nói rằng "Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu cuộc viếng thăm nàygiúp mở ra một kỷ nguyên mới cho quan hệ Việt Nam - Nhật Bản" Về phía
Trang 23Việt Nam, Thủ tớng Võ Văn Kiệt cũng "hy vọng hai nớc sẽ đóng lại quá khứ,
và cùng tiến về tơng lai vì lợi ích của nhân dân hai nớc chúng ta"
Có thể nói, một kỷ nguyên mới trong quan hệ giữa hai nớc đã mở ra
Đúng nh lời Thủ tớng Nhật Bản Murayama tuyên bố khi đến thăm Việt Nam:
"Từ nay trở đi, hớng tới tơng lai của kỷ nguyên mới trong quan hệ Việt Nam Nhật Bản, tôi muốn xây dựng các mối quan hệ hợp tác rộng rãi không chỉtrong lĩnh vực chính trị, văn hoá và các lĩnh vực khác… Vì rằng sự phát triển Vì rằng sự phát triểncủa Việt Nam không những quan trọng với riêng Việt Nam mà còn rất quantrọng đối với Đông Nam á, châu á - Thái Bình Dơng và cả thế giới Xuất phát
-từ nhận thức này, Nhật Bản sẽ đóng góp tối đa vào sự nghiệp đó trong khảnăng của mình" [41,56]
Tiếp theo đó, tháng 4 năm 1995, Tổng bí th Đỗ Mời sang thăm chínhthức Nhật Bản theo lời mời của Thủ tớng Murayama Đây đợc xem là sự kiệnquan trọng vì lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ giữa hai nớc, một Tổng bí th
Đảng CSVN thăm Nhật Bản Sự kiện này đã đánh dấu bớc phát triển quantrọng trong việc tăng cờng quan hệ hữu nghị hai nớc Tại đây, Tổng bí th ĐỗMời đã mong rằng: "Chính phủ và nhân dân Nhật Bản sẽ tăng cờng hợp tácvới Việt Nam, góp phần thiết thực giúp chúng tôi phấn đấu thực hiện mựctiêu:"dân giàu, nớc mạnh xã hội công bằng văn minh"
Vào tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức củaASEAN, từ đó mở ra một bớc ngoặt mới cho sự phát triển các quan hệ hợp táccủa Việt Nam với tất cả các nớc trên thế giới với tinh thần "Việt Nam muốnlàm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới" Hai sự kiện trên đã tạocho Việt Nam có vị thế mới trong quan hệ với Nhật Bản Tháng 1/1996, Hộinghị "Hợp tác kinh tế Nhật Bản - Việt Nam" lần thứ nhất đã khai mạc tạiTokyo Đây là Hội nghị hợp tác kinh tế đầu tiên giữa chính phủ hai n ớc đánhdấu quan hệ hai nớc chuyển sang một bớc ngoặt quan trọng trong quan hệ hợptác kinh tế
Một sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong nấc thang tiến triển quan hệgiữa Việt Nam - Nhật Bản trong thập niên 90, đó là chuyến thăm hữu nghịchính thức Việt Nam của Thủ tớng Nhật Bản Ryutaro Hashimoto diễn ra tronghai ngày 11 và 12/ 1/1997 Trong cuộc hội đàm với Thủ tớng Võ Văn Kiệtngày 11/1/1997, Thủ tớng Hashimoto đã nhấn mạnh tới việc Nhật Bản sẽ tiếptục tài trợ cho Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng kinh
tế, phát triển nguồn nhân lực, phát triển nông thôn, bảo vệ môi trờng… Hai
Trang 24bên đã ký một loạt những văn kiện quan trọng Chuyến thăm Việt Nam củaThủ tớng Nhật Bản đã tăng cờng thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nớc[41,58]
Tháng 12/1998, nhân dịp Hội nghị thợng đỉnh ASEAN lần thứ 6 diễn ratại Việt Nam, Thủ tớng Nhật Bản K.Obuchi đã sang thăm Việt Nam Chuyến
đi của Thủ tớng Nhật Bản K.Obuchi đã củng cố thêm quan hệ giữa hai nớctrên tất cả các lĩnh vực Tiếp đó, là các chuyến viếng thăm của Ngoại trởngNhật Bản, Cục trởng Cục Phòng vệ Nhật Bản, phái đoàn Liên minh nghị sĩhữu nghị Nhật Bản đến Việt Nam
Về phía Việt Nam, tháng 3/1999, một phái đoàn cấp cao của nớc ta doThủ tớng Phan Văn Khải dẫn đầu đã sang thăm chính thức Nhật Bản Trongchuyến thăm này, chính phủ Nhật Bản đã bày tỏ và cam kết sẽ có những cốgắng thúc đẩy hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, nhằm phát triển quan hệ hợp tác giữahai nớc, tạo đà cho các công ty Nhật Bản chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong đầu
t vốn, thiết bị công nghệ vào Việt Nam
Quan hệ giữa hai nớc ngày càng đợc củng cố và phát triển mạnh mẽ vàonhững năm đầu thế kỷ XXI, với sự kiện Thủ tớng Phan Văn Khải đến thămNhật Bản (6 - 2001) và Thủ tớng Nhật Bản Junichiro Koizumi thăm chính thứcViệt Nam (4 - 2002) Trong chuyến viếng thăm Việt Nam, Thủ tớng Koizumi
đã khẳng định: "Nhật Bản rất coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác với ViệtNam, chủ trơng của chính phủ Nhật Bản nhất quán ủng hộ Việt Nam trongviệc xây dựng và phát triển đất nớc theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá".Thủ tớng Phan Văn Khải đại diện cho chính phủ Việt Nam đáng giá cao sựủng hộ của Nhật Bản đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam và khẳng địnhchính sách nhất quán và lâu dài của Việt Nam là không ngừng củng cố và tăngcờng quan hệ hợp tác hữu nghị với Nhật Bản trên tinh thần đối tác tin cậy, ổn
định lâu dài trong thế kỷ XXI
Tháng 10/2002, Tổng bí th Nông Đức Mạnh đã sang thăm Nhật Bảntheo lời mời của Thủ tớng Koizumi Trong chuyến viếng thăm Nhật Bản củaTổng bí th Nông Đức Mạnh, hai nớc Việt Nam - Nhật Bản đã ra "Thông cáobáo chí "chung và tại đây, hai nớc Việt Nam - Nhật Bản đã cam kết trở thành
đối tác cùng tiến vào thế kỷ XXI theo tinh thần "ổn định lâu dài và tin cậy lẫnnhau" trên cơ sở bình đẳng
Vào tháng 4/2003, Thủ tớng Phan Văn Khải đã sang thăm Nhật Bản.Trong chuyến thăm này, Thủ tớng Phan Văn Khải đã có cuộc hội đàm, gặp gỡ
Trang 25và tiếp xúc với các nhà lãnh đạo chính phủ, Quốc hội, các tổ chức kinh tế - tàichính, lãnh đạo các tỉnh Fukuoka và Osuka, các tập đoàn kinh tế lớn của NhậtBản nhằm thoả thuận những biện pháp cụ thể để thúc đẩy mối quan hệ nhiềumặt giữa Việt Nam - Nhật Bản, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, đầu t, thơng mại
và du lịch Nhân dịp này, Thủ tớng Phan Văn Khải cảm ơn sự hợp tác, giúp
đỡ hiệu quả của chính phủ và nhân dân Nhật Bản cũng nh việc Nhật Bảnduy trì viện trợ (ODA) cho Việt Nam trong thời gian qua Thủ tớng Phan VănKhải khẳng định chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ làm hết sức mình đểquan hệ hai nớc phát triển ngày càng sâu rộng theo phơng châm "đối tác tincậy, ổn định lâu dài" đã dợc hai nớc thoả thuận năm 2002 [37, 59] Thànhcông của chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tớng Phan Văn Khải đã mở ra mộtgiai đoạn mới cho sự hợp tác kinh tế, để Việt Nam và Nhật Bản thực sự lànhững đối tác tin cậy trong tơng lai
Có thể nói, từ năm 1992, quan hệ ngoại giao - chính trị của hai nớc ViệtNam - Nhật Bản đã thật sự đi vào thế ổn định và phát triển, đặc biệt là từ năm
1995, sau khi Việt Nam bình thớng hoá quan hệ với Mỹ và trở thành thànhthành viên chính thức của ASEAN Quan hệ giữa hai nớc trong thời kỳ 1992 -
2006 đều hớng đến mục tiêu "khép lại quá khú và nhìn về tơng lai", mở rộnghợp tác trên tất cả các lĩnh vực nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu phát triển kinh
tế - văn hoá của mỗi nớc Hiện nay, Nhật Bản không chỉ là nhà tài trợ số mộtcho Việt Nam, mà còn là bạn hàng thơng mại lớn nhất và là nớc đầu t lớn thứ
ba vào Việt Nam với những dự án quan trọng và có ý nghĩa thiết thực với nềnkinh tế Việt Nam Với sự gần gũi về địa lý, tơng đồng về văn hoá, Nhật Bản làquốc gia mà Việt Nam hy vọng sẽ có đóng góp tích cực trong quá trình pháttriển kinh tế của Việt Nam trong tơng lai
Từ năm 2004 - 2005, hàng năm hai nớc đều có cuộc gặp gỡ cấp cao
Nh tháng 10 năm 2004 Thủ tớng Koizumi dự hội nghị cấp cao ASEM 5 tại HàNội, hay Thủ tớng Phan Văn Khải ghé thăm Nhật vào tháng 7/2005 Trongchuyến thăm của các Thủ tớng đều mở ra một bớc đi mới trong quan hệ giữahai nớc Quan hệ giữa hai nớc phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và b-
ớc sang một giai đoạn mới nhất và đi vào chiều sâu kinh tế - chính trị, giao luvăn hoá không ngừng đợc củng cố mở rộng
Ngày 18 - 22/10/2006, Thủ tớng Nguyễn Tấn Dũng, vị khách mời,chính thức đầu tiên của nội các mới Nhật Bản, đến thăm Nhật Bản Thủ tớngNhật Bản Sindô Abê đó đã có cuộc hội đàm nhân dịp Thủ tớng Nguyễn Tấn
Trang 26Dũng sang thăm Nhật Bản Hai bên đánh giá cao tình hữu nghị giữa hai nớc
đ-ợc phát triển trên tinh thần ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau dựa trên tuyên
bố chung giữa hai nớc Việt Nam - Nhật Bản Hai bên bày tỏ quyết tâm tăng ờng và thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phơng với t cách là đối tác chiến lợc vìhoà bình và phồn vinh ở châu á Hai bên đã khẳng định mong muốn tăng c-ờng hơn nữa các chuyến thăm và trao đổi ý kiến cấp cao [29, 64] Để thúc
c-đẩy quan hệ song phơng một cách chặt chẽ và hiệu quả hơn, hai bên bày tỏmong muốn thúc đẩy các cuộc đối thoại trong các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao,
ớc Việt Nam hoà bình, độc lập, phát triển và đang tích cực hội nhập quốc tế,khu vực có ý nghĩa rất quan trọng đối với Nhật Bản Đẩy mạnh quan hệ toàndiện với Việt Nam có lợi cho Nhật Bản cả về kinh tế và chính trị Mục tiêu tr-
ớc mắt của Nhật Bản đối với Việt Nam là tăng cờng ảnh hởng về chính trị và
có vai trò chủ đạo về kinh tế trong quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Có thể nói, vào cuối thập kỷ 90, quan hệ hai nớc Việt Nam - Nhật Bản
đã phát triển nhanh chóng cả bề rộng lẫn chiều sâu Tạo cơ sở vững chắc cho
sự phát triển ổn định trong thế kỷ XXI Trong giai đoạn quá độ của việc cơcấu lại tơng quan lực lợng trong khu vực và trên thế giới, quan hệ giữa hai nớc
có điều kiện phát triển thuận lợi so với các nớc khác, do hai nớc có những lợiích tơng đồng là cùng ở châu á, có nhu cầu hoà bình và ổn định để phát triển,
có tiềm năng kinh tế có thể bổ sung cho nhau và cần có sự ủng hộ lẫn nhautrong việc năng cao vai trò chính trị ở khu vực Điều này đúng với phát biểucủa Thủ tớng Phan Văn Khải tại Hội nghị "Tơng lai châu á", "Chính phủ ViệtNam mong muốn nâng tầm quan hệ kinh tế - thơng mại và phát triển mạnhhơn nữa sự giao lu văn hoá giữa hai nớc, đặc biệt là sự giao lu của thế hệ trẻ.Việt Nam hy vọng rằng với nỗ lực chung của hai nớc chúng ta, trong tơng laichâu á sẽ tơi sáng hơn, quan hệ hữu nghị, hợp tác phát triển và cùng có lợigiữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ tiếp tục đợc tăng cờng đơm hoa, kết trái "[41,61]
Trang 27Sự phát triển của quan hệ chính trị, ngoại giao hai nớc Việt Nam NhậtBản diễn ra trong suốt một thời gian dài Trải qua nhiều biến cố thăng trầmnhng mối quan hệ này vẫn ngày càng đợc củng cố, mở rộng và không ngừngphát triển trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống
1.2.2 Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản từ 1973 đến 1990
1.2.2.1 Hợp tác thơng mại
Kể từ khi hai nớc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ
th-ơng mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã hình thành, phát triển và trải quanhững thăng trầm, trong đó năm 1990 đợc coi là mốc phát triển đặc biệt trongquan hệ kinh tế giữa hai nớc nói chung và trong quan hệ thơng mại nói riêng
Sau khi hiệp định Paris về Việt Nam đợc ký kết vào tháng 1/1973 thì
đến ngày 21/9/1973 Nhật Bản đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.Tuy nhiên, đến tận tháng 10/1975, Nhật Bản mới ký hiệp định viện trợ khônghoàn lại cho Việt Nam 49 triệu USD và mở đại sứ quán của họ tại Hà Nội.Quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và Nhật Bản kể từ năm 1973 đến 1990 đã
có những tiến triển bớc đầu tích cực dù có những thời điểm bị giảm rút donhững trở ngại về chính trị và ngoại giao Quan hệ thơng mại giữa Việt Nam
và Nhật Bản đợc phản ánh cụ thể qua bảng sau số liệu
Bảng 1: Buôn bán của Việt Nam với Nhật Bản năm 1973 đến 1990.
Trang 28ơn lên trở thành bạn hàng xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau Liên Xô cũngay từ năm 1976 Tháng 12/1976 lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ giữa hainớc, một đoàn đại biểu các quan chức Nhật Bản thuộc các lĩnh vực: Côngnghệ, tài chính, thơng mại giao thông và lâm nghiệp do ông Kusuke Arita,một quan chức ngoại giao dẫn đầu sang thăm Việt Nam, cùng từ mối quan hệnày Việt Nam đã từng bớc mở rộng thị trờng từ các bạn hàng truyền thống ởkhu vực các nớc XHCN, sang các bạn hàng, thị trờng khác các nớc t bản chủnghĩa Điều này đã khiến cho khối lợng buôn bán hai chiều giữa Việt Nam vàNhật Bản tăng mạnh từ 159 triệu USD năm 1976 lên tới 286 triệu USD năm1978.
Tuy nhiên, từ năm 1979 đến năm 1982, kim ngạch xuất nhập khẩu giữaViệt Nam và Nhật Bản đã giảm hẳn so với giai đoạn trớc, nếu năm 1979 kimngạch xuất nhập khẩu giữa hai nớc là 166 triệu USD thì đến năm 1982 chỉ còn
129 triệu USD, thậm chí còn thấp hơn một nửa so với năm 1976 Nguyên nhâncủa hiện tợng suy giảm này là do việc Nhật Bản thi hành chính sách hai mặtvới Việt Nam Một mặt là áp dụng chính sách trừng phạt Việt Nam để giữ mốiquan hệ hợp tác với Mỹ và Phơng Tây Mặt khác, Nhật Bản lại duy trì chính
Trang 29sách hớng về Việt Nam Do Nhật Bản duy trì chính sách hai mặt này là bởi áplực từ phía Mỹ "Nhật Bản đã bị Mỹ, Trung Quốc và một số nớc ASEAN chỉtrích là đã có quan hệ tốt đẹp với Việt Nam trong một số giai đoạn… Vì rằng sự phát triển vànhững hoạt động thơng mại của các nhà kinh doanh t nhân Nhật Bản đã làmcho chính sách trừng phạt Việt Nam bị mất hiệu lực Mặt khác, tình hình quốc
tế và khu vực trong giai đoạn này cũng có nhiều diễn biến phức tạp Tronggiai đoạn này, Việt Nam có sự xung đột với Trung Quốc (đó là cuộc Chiếntranh Biên giới phía Bắc) và với Cămpuchia (Chiến tranh Biên giới phía TâyNam) Thêm vào đó là việc Việt Nam đa quân vào Cămpuchia để giúp nhândân nớc này chống lại Khơmeđỏ Tất cả những diễn biến trên đã khiến ViệtNam rơi vào thế cô lập"
Từ năm 1983, quan hệ thơng mại giữa hai nớc lại tiếp tục chuyển biếntheo hớng tích cực đi lên Kim ngạch giữa hai nớc lại tăng nhanh trở lại từ 157triệu USD năm 1983 lên tới 272,1 triệu USD năm 1986 Cơ sở để giải thích sựthay đổi này là xuất phát từ lợi ích kinh tế của cả hai nớc Phía Việt Nam thìcần có các sản phẩm hàng hoá mà những mặt hàng cần thiết là máy móc, kỹthuật, công nghệ tiến tiến của Nhật Trong khi đó, Nhật Bản cũng rất cần đếnViệt Nam do muốn khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là năng l-ợng
Từ cuối năm 1986, thực hiện đờng lối đổi mới kinh tế do Đại hội VI của
Đảng CSVN đề ra, kinh tế đối ngoại đã đợc coi là "mũi nhọn" của công cuộc
đổi mới Cùng với việc "bung ra" nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, lần
đầu tiên ở Việt Nam các thuật ngữ "mở cửa nền kinh tế", "đa dạng hoá kinh tế
đối ngoại", "đa phơng hoá thị trờng"…đã đợc đề cập đến trong chủ trơng,chính sách phát triển kinh tế đối ngoại Chính việc Việt Nam chuyển hớng nềnkinh tế sang nền kinh tế thị trờng và thực hiện chính sách mở cửa đã có tácdụng mang tính khích lệ đối với quan hệ thơng mại hai nớc Kể từ năm 1987trở đi, quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và Nhật Bản cùng bớc vào giai đoạnmới với sự tăng lên tục về khối lợng buôn bán [4,21]
Dới đây là bảng xếp hạng các bạn hàng thơng mại lớn nhất của ViệtNam giai đoạn 1976 -1990
Trang 30Bảng 2: Danh sách 5 bạn hàng thơng mại lớn nhất của Việt Nam (1976
Nh vậy, xem xét lại quá trình phát triển của quan hệ thơng mại giữaViệt Nam - Nhật Bản có thể rút ra một số nhận xét sau:
Về kim ngạch xuất khẩu, hai nớc đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể:Nhật Bản đã trở thành bạn hàng thơng mại lớn thứ hai của Việt Nam Bắt đầu
từ năm 1989, Việt Nam đã đạt đợc thặng d thơng mại với Nhật Bản, kimngạch buôn bán giữa hai nớc nhìn chung các chiều hớng gia tăng Tuy nhiên,bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế trong quan hệ giữa hai nớc: khối lợngbuôn bán hai chiều gia tăng nhng không ổn định Mặc dù là bạn hàng lớn thứhai của Việt Nam nhng Nhật Bản vẫn cha trở thành thị trờng chủ đạo vì chỉchiếm 10,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Về cán cân thơng mại và cơ cấu xuất nhập khẩu, do trong một thời giandài duy trì cơ cấu kinh tế bất hợp lý, không chú trọng đến những mặt hàngxuất khẩu nên hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam cha có giá trị cao và kém sứccạnh tranh trên thị trờng Nhật Bản Hơn nữa, phần lớn hàng hoá Việt Nam đợcxuất sang thị trờng Liên Xô Mặt khác hàng hoá xuất khẩu chủ đạo của ViệtNam trong giai đoạn này chủ yếu là nguyên nhiên liệu thô trong khi đó ViệtNam nhập khẩu từ Nhật Bản phần lớn là các loại máy móc công nghiệp, hàngloạt thiết bị yếu, t liệu sản xuất Vì vậy cán cân thơng mại giữa Việt Nam và
Trang 31Nhật Bản luôn bị thâm hụt Từ năm 1989 trở đi, Việt Nam bắt đầu có thặng dthơng mại nhờ xuất khẩu dầu thô sang Nhật.
là sự chuyển đổi cả một hệ thống kinh tế, đặc biệt là đổi mới t duy, từ nềnkinh tế kế hoạch tập trung tới nền kinh tế thị trờng có định hớng của nhà nớc.Những biến chuyển này thực sự là tiền đề cho mở rộng và phát triển cho quan
hệ quốc tế của Việt Nam trên trờng quốc tế Mặc dù Nhật Bản nằm ngoàiphạm vi ảnh hởng trực tiếp của tình hình biến đổi tại Đông Dơng, nhng ViệtNam lại là một phần của Đông Nam á nên Nhật Bản càng có mối quan tâm
đặc biệt hơn Việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài đang trở thành một bộ phậnchủ yếu trong quan hệ kinh tế quốc tế Nhu cầu đầu t ngày càng trở nên bứcthiết trong điều kiện của xu hơng quốc tế hoá đời sống kinh tế, của cuộc cáchmạng khoa học công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng tăng.Cuộc vận động thu hút vốn đầu t nớc ngoài là hoạt động mới mẻ của ViệtNam, nó đợc triển khai trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trên thị trờng đầu
t thế giới và khu vực Thực tế này là một tất yếu bởi vì luồng vốn đầu t trên thếgiới không phải là lớn lắm nhng nhu cầu về vốn của các quốc gia lại rất lớn, v-
ợt xa khả năng cung cấp Khi đầu t nớc ngoài ngày càng phát triển trên phạm
vi thế giới và trở thành phơng thức phân công lao động quốc tế, thì đơng nhiênnền kinh tế Nhật Bản cũng phải tham gia và khai thác phơng thức này Đầu t
ra nớc ngoài phần nhiều đợc tiến hành cùng với các công ty kinh doanh tổnghợp cho nên khuynh hớng đầu t ra nớc ngoài gắn với xuất khẩu ngày càngtăng, song, đây còn là nhu cầu của nền kinh tế quốc dân Nhật Bản nữa Để h-ởng ứng kế hoạch công nghiệp hoá rầm rộ của các nớc đang phát triển, đầu tNhật Bản đã tăng lên Đầu t trực tiếp từ nớc ngoài (FDI) đợc coi là một trongnhững công cụ hữu hiệu của quá trình này nhằm mở rộng thị trờng hàng hoá,tìm kiếm nguồn nguyên liệu, và thị trờng đầu t cho việc chuyển giao nhữngcông nghệ kỹ thuật sử dụng nhiều lao động Có thể nói trong thời đại ngàynay, không một quốc gia nào dù đi lên bằng con đờng xã hội chủ nghĩa hay t
Trang 32bản chủ nghĩa lại không cần đến nguồn vốn (FDI), nó đợc coi là nguồn lựcquốc tế cần đợc khai thác để từng bớc hoà nhập vào cộng đồng quốc tế Dovậy, chỉ có hợp tác quốc tế mới đem lại hoà bình và phát triển cho các quốcgia mà (FDI) là một loại hình đầu t hợp tác có hiệu quả nhất, không nớc nào
bỏ qua hình thức này Đây cũng chính là thời điểm tốt nhất dành cho nhân dânViệt Nam có cơ hội để đẩy mạnh các quan hệ hiểu biết lẫn nhau, cùng nhauhợp tác kinh doanh và phát triển với nhân dân Nhật Bản cũng nh nhân dân cácnớc khác trên thế giới
Với những cơ sở kinh tế dành đợc từ chế độ cũ, cùng với những thành tựukinh tế trong hơn hai mơi năm qua, đặc biệt kết quả công cuộc đổi mới hiệnnay đợc xem là cơ sở, điều kiện cho tạo lập những nguồn vốn quan trọng làmnội lực cho công nghiệp hoá Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra mục tiêu tổng quáttrong quá trình phát triển kinh tế tơng lai là "ra khỏi khủng hoảng, ổn địnhtình hình kinh tế - xã hội , cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và
an ninh tạo điều kiện cho đất nớc phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI"
Để đạt đợc mục tiêu này, chúng ta thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong
đó đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài đợc đặt lên hàng đầu Tuy nhiênquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, đang đòi hỏi khối lợng vốnkhổng lồ, phần lớn lợng vốn này phải khai thác từ trong nớc nhng nhìn thựclực vào kinh tế thị trờng vốn của Việt Nam quả là không đơn giản để thoả mãn
đợc nhu cầu về nguồn vốn Điều này góp phần làm căng thẳng về vấn đề vốn
đầu t Đó là cha kể hiệu xuất đồng vốn của ta thấp do thất thoát, do điều trakhảo sát kém Thiếu vốn làm chậm đổi mới máy móc thiết bị thiếu vốn dẫn
đến việc đầu t xây dựng cơ bản cũng bị hạn chế
Thiếu vốn đang là thách thức lớn của Việt Nam hiện nay Để thực hiệnmục tiêu ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở thế kỷ XXI, chúng ta cầnmột lợng vốn rất lớn Trong khi đẩy mạnh khai thác các nguồn vốn trong nớcthông qua nâng cao hiệu quả sản xuất và tiết kiệm là chủ yếu, chúng ta luôncoi trọng việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài nhằm bù đắp sự thiếu hụt về vốn lúcban đầu
Thực tế cho thấy kể từ khi Việt Nam thực hiện chơng trình đổi nền kinh
tế vào năm 1986, kinh tế Việt Nam đã trở thành một trong các nền kinh tế cótốc độ tăng trởng nhanh trong khu vực
Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã phản ánh một tỷ trọng gia tăng củacông nghiệp và dịch vụ, trong khi tỷ phần của công nghiệp có sự giảm sút t-
Trang 33ơng đối Việt Nam cũng đã thành công trong các chiến lợc xoá đói giảmnghèo và đã có thể đảm bảo sự tăng trởng nhanh với mức ổn định tơng đối.Trong các yếu tố dẫn tới sự thành công này, đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI),trong đó phải kể đến (FDI) từ Nhật Bản đã đóng một vai trò quan trọng cungcấp cho nền kinh tế Việt Nam nguồn lực quý giá về vốn và công nghệ đã tạo
điều kiện quan trọng cho sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh
tế thế giới, trớc hết là ở cấp độ khu vực
Những kết quả ban đầu trong tiến trình đầu t của Nhật Bản vào ViệtNam
Khi Luật đầu t nớc ngoài công bố (12 - 1987), việc thu hút vốn đầu t
n-ớc ngoài của Việt Nam đã có những bn-ớc tiến đáng kể về nhiều mặt Đầu t củaNhật vào Việt Nam có phần chậm hơn so với các quan hệ kinh tế khác và đặcbiệt là về cơ cấu ngành còn cha hợp lý Đến năm 1989, mới thật sự là nămNhật Bản bắt đầu tiến hành các dự án đầu t vào Việt Nam Các công ty củaNhật Bản chủ yếu quan tâm đến các dự án về tài nguyên thiên nhiên và dịch
vụ (dầu khí, khách sạn, du lịch …) hơn là các ngành công nghiệp chế tạo Đâycũng là tình hình chung của (FDI) tại Việt Nam ở thời điểm này, vốn đầu ttrực tiếp tập trung chủ yếu vào thăm dò, khai thác dầu khí (32,2%) và kháchsạn du lịch (20,6%), các dự án này thờng là với quy mô nhỏ và lợng vốn ít
1 3 Sự chuyển biến của tình hình quốc tế và khu vực
Tình hình khu vực và quốc tế là nhân tố tác động thờng xuyên đến quan
hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản Đây là những nhân tố tác động có tính chấthai chiều Điều đó có nghĩa là khi môi trờng quốc tế thuận lợi, nó sẽ trở thành
Trang 34nhân tố tác động tích cực Ngợc lại, khi môi trờng quốc tế xấu đi, nó trở thànhnhân tố tác động tiêu cực Sau đây chúng tôi xin khái quát những nét chínhcủa tình hình khu vực và quốc tế tác động đến quan hệ giữa Việt Nam và NhậtBản.
Châu á - Thái Bình Dơng đợc coi là một khu vực phát triển năng độngcủa thế giới, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây Có rất nhiều nguyên nhân
để đa đến sự thành công vợt bậc của khu vực này, trong đó hợp tác vì sự phồnthịnh chung của mỗi nớc cũng nh của cả vùng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế
đợc coi nh là chìa khoá của những thành tựu nổi bật đó Điều có thể dễ dàngnhận thấy là bất luận sự khác nhau về cấp độ phát triển thì hợp tác khu vựcluôn đợc lựa chọn và u tiên trong chiến lợc phát triển của mỗi nớc Hơn thếnữa trong điều kiện các quốc gia, khu vực và thế giới có nhiều biến đổi phứctạp,các nớc đều thực hiện chính sách điều chỉnh nhằm tìm kiếm các hình thứchợp tác phù hợp và hiệu quả Với t cách là một cờng quốc kinh tế của khu vực,Nhật Bản luôn coi châu á là địa bàn hết sức quan trọng trong chiến lợc pháttriển, nhất là trong kinh tế
Thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, cục diện thế giới đã có nhiều thay đổi: từchỗ đối đầu về quân sự chuyển sang cạnh tranh về kinh tế là chính: vị trí của
địa - chính trị đã bị địa - kinh tế thay thế mà tiêu chí của nó là việc hình thànhLiên minh châu Âu (EU), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và cùngvòng cung hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng, trong đó Nhật Bản,Trung Quốc và Mỹ là những nớc đóng vai trò quan trọng Trớc mắt, trong 3 n-
ớc này, xét về sức mạnh tổng hợp cũng nh ảnh hởng toàn cầu thì Mỹ là nớcnổi trội hơn cả Về một phơng diện nào đó, có thể nói, sau khi Chiến tranhLạnh chấm dứt, Mỹ đã trở thành siêu cờng duy nhất Tuy nhiên, sau nhiềunăm tranh giành sức mạnh và ảnh hởng với Liên Xô, thực lực của Mỹ, đặc biệt
là kinh tế đã bị giảm đi rất nhiều Tuy các thế lực tài phiệt ở Mỹ đã dần nhìnthấy tầm quan trọng của khu vực châu á - Thái Bình Dơng với tốc độ pháttriển kinh tế nhanh chóng của nó, song do lực bất tòng tâm, Mỹ vẫn không thể
mở rộng hơn nữa ảnh hởng của mình ở khu vực này Trong khi đó, bối cảnhquốc tế và khu vực sau Chiến tranh Lạnh đã cho Nhật Bản một cơ hội to lớn
để có thể trở thành một cờng quốc kinh tế ở khu vực này ý tởng từ bỏ châu
Âu để quay về với châu á đã ngày càng trở nên rõ nét trong các nhà lãnh đạocũng nh giới kinh doanh Nhật Bản Chính vì thế Nhật Bản đã tranh thủ mọi cơhội để tăng cờng ảnh hởng của mình trong khu vực
Trang 35Thực ra ý tởng về hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng của NhậtBản đã có mầm mống từ đầu những năm 60, dới những tên gọi khác nhau
“Vòng cung kinh tế Đông á”, “Vòng cung kinh tế châu á - Thái Bình Dơng”,
“Cộng đồng kinh tế châu á - Thái Bình Dơng”, “cộng đồng kinh tế lòng chảoThái Bình Dơng”… Song, phải đến đầu năm 1990, ý tởng này mới thực sự trởthành t tởng chỉ đạo trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Nhật Bản đãngày càng tập trung sự chú ý của mình vào khu vực này Đặc biệt là ý tởng vềthiết lập một “hành lang phát triển châu á” ngày càng thể hiện rõ trong chínhsách đối ngoại của Nhật Bản Đây chính là một khái niệm mới đợc đề cập đếnsau Chiến tranh Lạnh Song, thực chất của nó chính là đợc triển khai từ các ýtởng trớc đây về mục tiêu thiết lập một “khu vực thịnh vợng chung đại Đông
á” của Nhật Bản Nội dung của khái niệm này là thiết lập các mối liên kếtkinh tế chặt chẽ giữa các nớc có nền kinh tế tăng trởng cao trong khu vực nhNhật Bản, NiEs Đông á, ASEAN và Trung Quốc với các nền kinh tế chậmphát triển nh bán đảo Đông Dơng, Nam và Tây á Tuy nhiên, điểm mới cănbản của “hành lang phát triển châu á” không phải do tác động chủ quan và ýthức chính trị, chính sách đối ngoại… để xác định vị trí của một siêu cờnghoặc vài ba siêu cờng thống trị khu vực Thay vào đó, sự liên kết kinh tế, khảnăng phát triển và các tác động khách quan về thơng mại, đầu t, chuyển giao
kỹ thuật công nghệ là động lực chính trong vấn đề này
Nh vậy, khu vực châu á có tác động, ảnh hởng đến mối quan hệ giữahai nớc
Thứ nhất, xét về động lực tăng trởng, khu vực Đông và Tây Nam á là
nơi đang diễn ra những biến động quan trọng, hay còn đợc mệnh danh là nơi
đang diễn ra các cuộc cách mạng sôi động về kinh tế Điều đó trở nên hết sức
rõ ràng là, nơi đây đang ở cao trào của các cuộc cách mạng về kinh tế thị ờng Trong đó, hầu hết các nền kinh tế năng động đang thực hiện thị trờng hoá
tr-kể cả những nớc trớc đây thực hiện cơ chế kinh tế chỉ huy Trung Quốc, ViệtNam và Myanma
Thứ hai, nơi đây đang diễn ra một cuộc cách mạng về vốn mà thông
qua đó ngời ta thực hiện các biện pháp kết hợp để huy động tối đa các nguồnlực trong nớc và nớc ngoài, thực hiện chế độ tài chính chặt chẽ Điều này đãlàm thay đổi một cách mạnh mẽ tình hình tài chính khu vực, cơn sốt lạm phát
đợc kìm chế, cán cân thanh toán đợc cải thiện Nhiều nớc công nghiệp mới vàASEAN trớc đây còn là nơi thâm hụt ngân sách nặng nề, thì bớc vào những
Trang 36năm 90 đã trở thành những nớc không chỉ có vốn mà thậm chí còn có vốn dthừa để đầu t sang các nớc chậm phát triển khác trong khu vực.
Thứ ba, cách đây không lâu, công nghiệp dịch vụ, đặc biệt là ngành du
lịch trong khu vực cha phát triển Song, trong những năm 90, công nghiệpdịch vụ nói chung, ngành du lịch nói riêng ở các nớc trong khu vực đã trởthành ngành quan trọng, chiếm trung bình từ 25% đến 35% GDP Cuộc cáchmạng về viễn thông đang diễn ra mạnh mẽ cũng đợc tập trung nhiều vào cácngành du lịch thanh toán và dịch vụ, và hiện đang đợc coi là một ngành côngnghiệp quan trọng trong các nớc công nghiệp phát triển châu á
Thứ t, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm thay đổi căn bản
nền kinh tế lạc hậu và phụ thuộc của châu á, chuyển một số nền kinh tế ở
Đông Bắc á và Đông Nam á từ chỗ phụ thuộc vào các kỹ thuật du nhập từphơng Tây sang nghiên cứu thích ứng và phát triển các kỹ thuật công nghệthích ứng từ thị trờng trong nớc Các nớc NiEs Đông á cũng đã trở thành khuvực xuất khẩu các nguồn kỹ thuật công nghệ chủ yếu song các nớc chậm pháttriển trong khu vực
Thứ năm, gắn với quá trình chuyển đổi cơ cấu và tự do hoá thơng mại,
khu vực châu á hiện nay đang tiến hành cuộc cách mạng thơng mại, tăng khảnăng xuất khẩu của hàng hoá lẫn dịch vụ với số lợng ngày càng tăng và chất l-ợng ngày càng cao sang các thị trờng thế giới Nếu nh vào năm 1980, Đông và
Đông Nam á chỉ chiếm 20,6% giá trị thơng mại thế giới thì đến năm 1990 đãtăng lên 31,4% và dự đoán vào năm 2000, sẽ chiếm khoảng 46% tổng giá trịthơng mại thế giới Điều này cho thấy trong tơng lại gần, châu á sẽ là khu vựcchiếm gần một nửa tổng giá trị thơng mại thế giới [29,143]
Từ những chuyển biến của tình hình khu vực và quốc tế, khu vực châu
á - Thái Bình Dơng đã tạo nên những động lực hấp dẫn mới Điều này khôngchỉ tạo ra tốc độ tăng trởng kinh tế ổn định, mà còn là điều kiện quan trọng đểtăng khả năng liên kết và khu vực hoá nền kinh tế giữa các quốc gia đang pháttriển châu á Trong tơng lai không xa, châu á sẽ hình thành những mối liênkết kinh tế mang tính chất bao trùm khu vực Trong lĩnh vực thơng mại, thôngqua các mối liên kết này, hệ thống thơng mại tự do, hệ thống sở hữu trí tuệ, hệthống chuyển giao kỹ thuật quốc tế, tự do hoá các hớng đầu t trực tiếp nớcngoài cũng nh các luồng viện trợ phát triển sẽ ngày càng đợc đẩy mạnh Tronglĩnh vực giao thông, ở châu á sẽ hình thành một hệ thống khu vực cao tốc, đ-ờng sắt, đờng biển và đờng hàng không nối liền các nớc trong khu vực Trong
Trang 37lĩnh vực viễn thông, thông qua các biện pháp hiện đại hoá, quốc tế hoá ngànhviễn thông, trong tơng lai không xa châu á sẽ hình thành các hệ thống tự vận
động về mã hoá ngôn ngữ, các trung tâm bu chính viễn thông phát triểnnhanh, hệ thống viễn thông và các trung tâm xử lý thông tin có tần số cao…
Điều đó không chỉ chứng minh cho xu thế hoà nhập khu vực ngày càngtăng thông qua các mối liên kết mà còn là những cơ sở để chứng minh vai tròngày càng tăng của Nhật Bản, Việt Nam trong khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng
Tiểu kết:
Khi tìm hiểu về quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản không thể khôngnghiên cứu những tác động của các sự kiện lịch sử chủ yếu ở khu vực và thếgiới đối với mối quan hệ này Nghiên cứu vấn đề này cho thấy ảnh hởng của
nó đối với tình hình kinh tế, chính trị xã hội hai nớc chi phối mạnh mẽ chiềuhớng phát triển của quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản, ảnh hởng to lớn đôikhi có tính thúc đẩy hoặc kìm hãm mối quan hệ nói trên Do đó đòi hỏi chínhphủ hai nớc phải năng động, kịp thời sáng tạo đa ra những quyết sách có tínhchiến lợc, sách lợc đúng đắn, phù hợp với đối tác của mình nhằm huy độngmọi tiềm năng cho sự phát triển của đất nớc, chuẩn bị cho những dự báo vềtriển vọng và tơng lai của mối quan hệ giữa Việt và Nhật; thúc đẩy phát triểnhơn nữa mối quan hệ hai nớc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi lợi ích lâu dài của hai n-ớc
Kể từ khi hai nớc Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệngoại giao với nhau thì mối quan hệ này đã có cơ sở nền tảng để phát triển.Nhng đặc biệt hơn là khi Việt Nam thống nhất đất nớc về mặt nhà nớc đã tạocơ sở pháp lý trên trờng quốc tế về một Việt Nam thống nhất và tạo mọi điềukiện cơ bản về kinh tế, chính trị - văn hoá - xã hội, phát huy sức mạnh toàndiện của đất nớc, cho phép Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao với các nớc,nâng cao vị trí và uy tín của Việt Nam ở khu vực và thế giới Đây là sự kiệnquan trọng nhất trong thời kỳ này ở khu vực Đông Nam á, sự kiện này dẫn
đến việc ổn định hoà bình khu vực tác động mạnh đến việc thay đổi chínhsách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Dơng và Đông Nam á
Đi cùng với việc thiết lập quan hệ ngoại giao là việc hợp tác kinh tế củahai nớc Từ sau khi thống nhất đất nớc, nền kinh tế Việt Nam còn nhiều khókhăn Trớc những khó khăn đó, Đảng và chính phủ đã chỉ đạo nhân dân ViệtNam vợt qua khó khăn khôi phục và phát triển kinh tế tìm kiếm sự hợp tác của
Trang 38các nớc trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và bình đẳng cùng có lợi ờng lối này đã chỉ đạo quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nớc có chế độchính trị xã hội khác nhau nhằm một mặt tăng cờng vị thế của Việt Nam trêntrờng quốc tế tạo môi trờng thuận lợi cho Việt Nam tham gia vào các hoạt
Đ-động quốc tế, mặt khác tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ, hợp tác kinh tế để nhanhchóng hàn gắn vết thơng chiến tranh, ổn định và phát triển kinh tế xã hội
Dới những tác động của các sự kiện lịch sử, sự thay đổi của tình hìnhquốc tế và khu vực đã góp phần khai thông quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trêncác lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hoá…, góp phần tăng cờng, củng cố mốiquan hệ của hai nớc, nâng cao hơn nữa vai trò của hai nớc trên trờng quốc tế
Chơng 2Quan hệ Hợp tác thơng mại đầu t giữa Việt Nam và Nhật
Bản từ năm 1990 đến 2006
2.1 Thơng mại
Tháng 10/1990, lần đầu tiên trong quan hệ ngoại giao hai nớc, Phó Thủtớng kiêm Bộ trởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã sang thămNhật Bản, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nớc Sau đó một thời
Trang 39gian ngắn, tháng 6/1991, Ngoại trởng Nhật Bản Makayama đã sang thăm ViệtNam.
Đó là những bớc tiến có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan hệchính trị - ngoại giao giữa hai nớc Kể từ đó đến nay, quan hệ thơng mại hainớc Việt Nam - Nhật Bản đã đạt đợc những thành tựu rất đáng khích lệ Côngcuộc đổi mới của Việt Nam với các chính sách phát triển kinh tế đối ngoạinăng động, phù hợp với xu thế phát triển thời đại và lợi ích của cả hai bên ViệtNam - Nhật Bản cộng với môi trờng quốc tế thuận lợi…đó là những nguyênnhân cơ bản nhất, quan trọng để thúc đẩy quan hệ thơng mại giữa hai nớcngày càng phát triển mạnh mẽ, sôi động hơn và càng ngày càng đi vào thế ổn
định, vững chắc hơn Tuy nhiên, quan hệ thơng mại giữa Việt Nam - Nhật Bảnvốn có khá nhiều bất cập đòi hỏi sự cố gắng chung của cả hai phía để khắcphục nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế khu vực đã
Đông Âu (cũ) Các nhà kinh tế khi đó đã tính toán và cho thấy, chỉ riêng việcmất đi một thị trờng lớn với các bạn hàng truyền thống nh vậy, hàng năm kể(từ năm 1991) Việt Nam đã mất đi 70 - 80% tổng giá trị xuất nhập khẩu, nếukhông có giải pháp tìm kiếm thị trờng khác để thay thế kịp thời Ngoài ra sự
đổ vỡ của Liên Xô và các nớc XHCN Đông Âu còn gây nên tâm lý hoangmang, dao động trong không ít ngời về sự đổ vỡ của CNXH trên toàn thế giới
Tình hình khó khăn phức tạp trên đây đòi hỏi đờng lối phát triển kinh tếcủa Việt Nam cần phải tiếp tục đổi mới hoàn thiện hơn nữa sao cho phù hợp với xu thế thời đại nhng lại không đi chệch hớng xã hội chủ nghĩa Đại hội VII (tháng 6/1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua “Chiến lợc ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” tiếp tục khẳng định quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo
đúng định hớng xã hội chủ nghĩa Với t tởng chỉ đạo “Việt Nam muốn làm
Trang 40bạn với tất cả các nớc” và “mở cửa hoạt động kinh tế đối ngoại với tất cả các nớc ở các khu vực trên thế giới” Chính phủ Việt Nam chủ trơng tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hơn nữa cơ chế quản lý và chính sách kinh tế đối ngoại theo hớng “đa phơng hoá và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại” Trong lĩnh vực ngoại thơng, để tiến tới “tự do hoá thơng mại” và từng bớc tham gia, hội nhập vào các tổ chức thơng mại khu vực và toàn cầu, nhiều văn bản, chínhsách mới về các hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là khuyến khích các thànhphần kinh tế sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu thu hút các nhà đầu t nớc ngoài tham gia đầu t liên doanh với Việt Nam để phát triển các mặt hàng xuất khẩu… đã đợc chính phủ ban hành.
Nhờ kiên trì sự nghiệp đổi mới theo nhiều giải pháp tích cực khác nhau,chính phủ Việt Nam đã lái con thuyền kinh tế Việt Nam vợt qua đợc cơn sónggió, đi dần vào thế ổn định Sản xuất và lu thông trong nớc đã trở lại chiều h-ớng phát triển ngày càng tốt hơn, khiến cho thị trờng hàng hoá ngày càngphong phú, sôi động hơn Giá cả thị trờng tơng đối ổn định, nguy cơ lạm phát
đã đợc đẩy lùi Việc làm gia tăng và đời sống ngời lao động do đó đã đợc cảithiện hơn trớc
Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và ngoại thơng nóiriêng, nhờ có việc nỗ lực thực thi một chiến lợc phát triển kinh tế mở vớinhiều giải pháp chính sách, cơ chế quản lý ngày càng thông thoáng hơn trớcnên Việt Nam đã đợc sự quan tâm, ủng hộ, hợp tác phát triển kinh tế củanhiều quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau trên thế giới và do
đó đã liên tục gặt hái đợc nhiều thành công trong tất cả các lĩnh vực hoạt độngkinh tế đối ngoại Riêng với Nhật Bản trong quan hệ hợp tác phát triển kinh tếvới Việt Nam, có thể nói rằng kể từ năm 1992 đến nay đã có sự tiến triển khảquan với nhiều sự kiện đáng ghi nhớ ở trên cả các lĩnh vực thơng mại, đầu ttrực tiếp và viện trợ phát triển chính thức (ODA)
Tháng 11/1992, sau khi có “Hội thảo quốc tế về sự chuyển sang kinh tếthị trờng” chính phủ Nhật Bản đã thông báo quyết định viện trợ (ODA) trở lạicho Việt Nam với một khoản tín dụng u đãi bằng hàng hoá trị giá 45,5 tỷ Yênvới lãi suất u đãi 17%/năm trong vòng 30 năm trong đó 10 năm đầu khôngphải trả lãi Nh vậy, sau 13 năm gián đoạn (1979 - 1992) Nhật Bản đã chủ
động nối lại viện trợ cho Việt Nam
Sau đó 5 năm đến tháng 12/1997, chính phủ Nhật tiếp tục tuyên bố huỷ
bỏ quy chế “hạn chế xuất khẩu một số hàng hoá kỹ thuật cao, hàng chiến lợc