ngời mới tránh đợc thảm hoạ của cái ác, mới có thể trừng phạt cái ác để thanhthản sống với hiện tại, hớng tới lẽ phải và điều thiện” [ 64,25].Với bài Ngời lính sau hoà bình trong tiểu th
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
- -lê thị thanh nga
phong cách
tiểu thuyết chu lai
Chuyên ngành: văn học Việt Nam
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Văn xuôi Việt Nam từ 1975 đến nay đã và đang có những đổi mới, nhữngbớc chuyển mình đáng ghi nhận Có thể khẳng định tiểu thuyết là một trongnhững thể loại có những cách tân về nhiều mặt, góp phần tạo nên đặc trng riêngcho thời kỳ văn học sau 1975 Chu Lai là một cây bút khá nổi bật, cùng với cáctác giả văn xuôi khác làm nên diện mạo mới của chặng đờng văn học nhiều biến
động này
1.1 Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tên tuổi Chu Lai đợcnhiều ngời biết đến với những tác phẩm có giá trị, đặc biệt là các sáng tác vềngời lính thời hậu chiến Tiểu thuyết là thể loại thành công nhất của ông vớinhững tác phẩm nh: Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba lần và một lần, Cuộc đời dài lắm…Đây là những tiểu thuyết đã từng đạt giải cao về văn học nghệ thuật Có
thể nói hơn chục cuốn tiểu thuyết của ông đã đặt ra nhiều vấn đề xung quanhcuộc sống con ngời nhất là số phận của ngời lính từ thời chiến qua thời bình.1.2 Cuối năm 2007, bằng những cống hiến của mình, nhà văn Chu Lai đợcnhận Giải thởng Nhà nớc về Văn học - Nghệ thuật
1.3 Trong số những công trình nghiên cứu, bài viết về tiểu thuyết Chu Laicha có một công trình nào nghiên cứu hoàn chỉnh về phong cách tiểu thuyết nhàvăn quân đội này
Đấy là những lý do giải thích tại sao chúng tôi chọn đề tài “Phong cách tiểu thuyết Chu Lai”.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ sau 1975, tiểu thuyết đã có những biến chuyển về nhiều mặt, cả nộidung lẫn hình thức Trong tiến trình vận động ấy, nhiều tác giả đã khẳng định đ-
Trang 3ợc tên tuổi và vị trí của mình trên văn đàn Chu Lai là một trong những tác giả
nh thế Đã có khá nhiều bài viết về Chu Lai cũng nh tác phẩm của ông Trongphạm vi khảo sát liên quan đến đề tài, chúng tôi chỉ nhắc đến những bài nghiêncứu, tìm hiểu tiểu thuyết Chu Lai nói chung, và những bài nghiên cứu về phongcách tiểu thuyết Chu Lai nói riêng Tuy vậy có một mảng khác viết về con ngời,nghiệp viết, những lời tâm sự, trò chuyện của nhà văn Chu Lai với độc giả quacác phơng tiện thông tin đại chúng nh báo viết, báo hình, báo điện tử , theochúng tôi, cũng góp phần không nhỏ để hiểu hơn Chu Lai nói chung và phongcách tiểu thuyết của ông nói riêng Với đề tài Phong cách tiểu thuyết Chu Lai,
chúng tôi chỉ thống kê, phân loại những bài viết thuộc hai trờng hợp đầu
2.1 Những bài nghiên cứu tiểu thuyết Chu Lai nói chung
Trên Báo Văn nghệ, số 7, tháng 7, năm 1992, mục Tác phẩm và d luận có
bài Trao đổi về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, trong đó bao gồm
những ý kiến của nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu nh: Hữu Thỉnh, Hồng Diệu,Cao Tiến Lê, Lê Th nh Nghị, Thiếu Mai, Lê Minh Khuê, Nguyễn Trí Huân,àPhạm Xuân Nguyên, Bùi Việt Thắng Cao Tiến Lê nhận xét: Cái tên sách rất
ăn nhập với chủ đề “hãy đừng lãng quên quá khứ, đừng xử tệ với những ngời đã
hi sinh trong quá khứ”[51,6] Lê Th nh Nghị cảm nhận: “Nhân vật của Chu Laiàquyết không phải là những viên gạch nung ra từ một lò [51,6] Thiếu Mai đánhgiá: “Những ngời trong chiến tranh cả ta và địch đều không trở lại đợc bình th-ờng trong hiện tại [51,6] Bên cạnh những thành công của tác phẩm, các nhàphê bình cũng đã đề cập đến một số hạn chế của tác phẩm nh: một vài tìnhhuống nhiều khi cha nhuyễn, cốt truyện hơi dài, ngôn ngữ cha thật chọn lọccông phu
Bích Thu, trong Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 qua hệ thống môtíp chủ đề, cho rằng tiểu thuyết của Chu Lai “là sự truy đuổi cuối cùng
của quá khứ để tìm nguyên nhân cái ác vì chỉ có nhìn thẳng vào quá khứ, con
Trang 4ngời mới tránh đợc thảm hoạ của cái ác, mới có thể trừng phạt cái ác để thanhthản sống với hiện tại, hớng tới lẽ phải và điều thiện” [ 64,25].
Với bài Ngời lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới, Nguyễn Hơng Giang chỉ ra rằng: “Phố của Chu Lai là một cuốn tiểu thuyết
trong tiểu thuyết: Một cuốn về gia đình Thảo – Nam với sự phá vỡ và làm tan nátnhững giá trị truyền thống, một cuốn khác về cuộc đời Lãm, một ngời lính từ haibàn tay trắng đi lên, bảo vệ và tha thiết gìn giữ những giá trị ấy Cái chết thơng tâmcủa Thảo, Lãm ở cuối tác phẩm đẩy suy nghĩ của ngời đọc về hai hớng khác nhaunhng đều thấm một nỗi buồn cao cả” [12,110].
Trong cuộc tọa đàm xung quanh cuốn tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm do Ban
Lý luận – Phê bình Tạp chí Văn nghệ quân đội phối hợp với Phòng Biên tập
văn nghệ Nxb Quân đội nhân dân tổ chức, nhiều ý kiến sâu sắc của nhà vănNguyễn Trí Huân, nhà phê bình văn học Lê Quang Trang, Lý Hoài Thu, Lê
Th nh Nghị , có cả ý kiến của chính nhà văn Chu Lai, đà ợc tác giả NguyễnHoà ghi lại trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 3.2002, với nhan đề Về tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm của nhà văn Chu Lai Theo Lê Quang Trang: “Cuộc
đấu tranh giữa thiện và ác trong cuốn tiểu thuyết diễn ra khá quyết liệt, chứng tỏChu Lai có vốn sống phong phú, hiểu biết về vấn đề, có chiêm nghiệm nghiêmtúc” [17,97] Nhà văn Chu Lai cho rằng: “Qua tác phẩm, tôi muốn gửi tới bạn
đọc một thông điệp về “cái ác” và hậu quả của nó nếu chúng ta không nhận ra
nó để đấu tranh với nó” [17,97] Nhà phê bình văn học Lê Th nh Nghị nhậnàxét: “Đây là cuốn sách viết về một bi kịch của sự phát triển Cái mới, cái cũ, cáikhoa học trong quản lý kinh tế; cái công bằng trong phân phối lao động; cáihiệu quả trong thực tế sản xuất, cái sòng phẳng, hợp lý trong sở hữu đã va
đập, xung đột sâu sắc với nền nếp làm ăn cũ ” [17,97]
Trên Tạp chí Nhà văn, số 8 năm 2006 với bài Nội lực của Chu Lai, tác giả
Bùi Việt Thắng đa ra những đánh giá mang tính bao quát toàn bộ các tác phẩmthuộc thể loại tiểu thuyết của Chu Lai ở phơng diện nhân vật và giọng điệu Ông
Trang 5nhấn mạnh đến “những dấu son đỏ” nh những cột mốc ghi nhận lộ trình sángtạo của Chu Lai là Ăn mày dĩ vãng (1992) và Khúc bi tráng cuối cùng (2004)
Trên Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 71, tháng 6, năm 2007, chuyên
mục Trò chuyện mỗi tháng, tác giả Hồng Thanh Quang có bài Nhà văn Chu Lai: Sống đúng mình, phải trả giá với nhiều vấn đề xoay quanh đời t, gia đình
và tất nhiên không thể thiếu văn chơng; ở đó độc giả bắt gặp những câu chuyện
“rất máu thịt” với Chu Lai
Cũng trên Báo An ninh thế giới, số 739, thứ 4 ngày 19 tháng 03 năm 2008,
số 740, thứ 7, ngày 22 tháng 03 năm 2008; số 741, thứ 4 ngày 26 tháng 03 năm
2008, trong bài Chu Lai “kẻ ăn mày dĩ vãng , ” nhà văn Phạm Ngọc Tiến đề cập
đến những nội dung xoay quanh chuyện văn, chuyện đời của Chu Lai TheoPhạm Ngọc Tiến, Chu Lai là một nhà văn có đợc thành tựu cả trong đời sốnglẫn sự nghiệp từ những trải nghiệm quân ngũ của mình Không có cách gọi nàokhác, Chu Lai là một “kẻ ăn mày dĩ vãng ”
Ngoài ra một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Chu Lai đã có nhữngthành tựu nhất định, gợi mở khá nhiều nhiều vấn đề cho chúng tôi thực hiện đềtài này Luận văn thạc sĩ của Phạm Thuý Hằng (Đại học S phạm Hà Nội, 2003)với Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Chu Lai đa ra một cái nhìn khái quát
những nét nổi bật của nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về chiếntranh của Chu Lai Lê Thị Luyến trong Sự thể hiện hình tợng ngời lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai (Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2006) đã tìm
hiểu một cách tơng đối toàn diện về các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết củaChu Lai trong việc thể hiện hình tợng ngời lính thời hậu chiến
2.2 Những bài nghiên cứu phong cách tiểu thuyết Chu Lai nói riêng
Nhìn chung cha có một bài viết nào nghiên cứu trực diện về phong cáchtiểu thuyết Chu Lai Tuy nhiên đằng sau những nhận xét về nhân vật, về cảmhứng, ngôn từ , ngời đọc có thể gián tiếp nhận ra những nét phong cách tiểuthuyết của nhà văn quân đội này
Trang 6Tác giả Hồng Diệu với Vấn đề của tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc đã nhận
định: “ở tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc, Chu Lai đa ra một kiểu ngời lính từ chiến
trờng trở về đã bị chiến tranh làm cho tha hoá, làm cho biến chất một cách khó cóthể tởng tợng Chiến tranh có thể làm cho nhân cách con ngời tốt đẹp hơn, cũng cóthể làm cho nhân cách con ngời xấu xa hơn; xuất phát điểm của những trạng thái
ấy là quan điểm sống, là lẽ sống, là lý tởng” [7,107]
Trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 2, năm 1993, trong bài Một đề tài không cạn kiệt, Bùi Việt Thắng đã viết: “Nhân vật Chu Lai đợc thể hiện nh
những con ngời tâm linh Họ sống bởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc bởi
sự sám hối, luôn tìm kiếm sự giải thoát Đó là những con ngời trở về sau chiếntranh bị mất thăng bằng, khó tìm đợc sự yên ổn trong tâm hồn Họ sống trongcảm giác không bình yên đi vào ngõ ngách đời sống tâm linh con ngời ChuLai làm ngời đọc bất ngờ vì những khám phá nghệ thuật của mình: Nhân vậtChu Lai thờng tự soi mình, khám phá một bản ngã hay là một con ngời trongcon ngời” [61,104]
Trong bài Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết (Báo Văn nghệ, số 26, năm 1993) Đỗ
Văn Khang đã đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết ChuLai: “Lối chạm khắc nhân vật trong Ăn mày dĩ vãng cũng có nhiều đóng góp
mới Ngày trớc nhân vật thờng mang một ý phổ quát, tức là có cái gì đó chungcho cả lớp ngời , còn Hai Hùng của Chu Lai có cùng số phận đợc miêu tả nhmột yếu tố cá biệt, độc nhất nhng vẫn mang tính điển hình Nhân vật Hai Hùngcủa Chu Lai tàn tạ về thân xác, nhng vạm vỡ về tâm hồn Hai Hùng của Chu Lai
có bộ khung xuống cấp: vì thơng tật, vì sự huỷ hoại của mọi thứ vớ vẩn thời hậuchiến, nhng vẫn nhất quán một bản lĩnh, một kiểu xông pha gần nh bạt mạng vìkhông chịu chấp nhận một cái gì lập lờ, tráo trở” [19,8]
Tác giả Nguyễn Hơng Giang với bài Ngời lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới (Tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 4 năm 2001)
nhận xét về số phận ngời lính sau chiến tranh qua nhân vật Hai Hùng trong Ăn
Trang 7mày dĩ vãng, nhân vật Lãm trong Phố, Sáu Nguyện trong Ba lần và một lần,
Huấn trong Vòng tròn bội bạc khá sâu sắc, chẳng hạn: “Ngời lính trong tiểu
thuyết chiến tranh của ta trở về cuộc sống đời thờng, dẫu có cảm thấy lạ lẫmgiữa phố phờng xanh đỏ khi ngọn gió rừng hoang dại vẫn thổi mãi trong tâmhồn, vẫn cố gắng hoà nhập với cuộc đời mới, khẳng định vị trí và giá trị ngờilính trong xã hội Trên hành trình ấy không phải ngời lính nào cũng chiếnthắng” [12,110].
Với Cuộc đời dài lắm một tiểu thuyết có sức hấp dẫn – (Tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 1 năm 2002), Nguyễn Thanh Tú cho rằng đây là một tiểu
thuyết thành công của Chu Lai: “Ngòi bút tiểu thuyết Chu Lai vẫn cách xâydựng nhân vật đẩy đến tận cùng của bi kịch Có thể nói một cách khái quát làcon ngời trong tiểu thuyết Chu Lai là con ngời của bi kịch, con ngời của nhữngmâu thuẫn, có khi thật quyết liệt dữ dội; có số phận tận cùng ngang trái, cónhân cách vô cùng cao thợng, lại có loại ngời tận cùng của sự gian xảo”[69,101]
Trong bài Nhà văn Chu Lai hớng đến độc giả trẻ (VnExpress, 2005), một
bạn đọc cảm nhận truyện của Chu Lai là quá nhiều tâm huyết và cảm xúc,
nh-ng cái kết dờnh-ng nh theo một mô típ định trớc
Tác giả Minh Thụy trong bài Viết văn nghề tự ăn óc mình – (Báo Pháp luật chủ nhật, 2005) đã đặt ra vấn đề: Dờng nh bất cứ tác phẩm nào của anh cũng có ngời lính và chiến tranh.
Trên Tạp chí Nhà văn, số 8, năm 2006, Bùi Việt Thắng với bài Nội lực Chu Lai nhận xét: “Đọc tiểu thuyết Chu Lai ngời ta nhận ra một giọng nồng
nhiệt bàn luận, giọng nồng nhiệt và đắm đuối, giọng từng trải và chiêmnghiệm ” [64,65]
Tựu trung lại đã có những đánh giá tơng đối hoàn chỉnh về tiểu thuyết ChuLai cũng nh những vấn đề xoay quanh việc viết văn của tác giả này, nhng nócũng mới chỉ giới hạn ở một phạm vi của một tác phẩm cụ thể nào đó Dù bớc
Trang 8đầu đã có một số công trình nghiên cứu khá đầy đủ về tiểu thuyết Chu Lai nh:
Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Chu Lai (Phạm Thuý Hằng, Luận văn thạc
sĩ, Đại học S phạm Hà Nội, năm 2003); Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai (Tạ Thị Thanh Thùy, Luận văn thạc sĩ, Đại học S phạm Hà Nội, năm
2005); Sự thể hiện hình tợng ngời lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai (Lê Thị Luyến, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, năm 2006) nhng xét một
cách toàn diện, nghiên cứu về phong cách tiểu thuyết Chu Lai vẫn còn thiếumột cái nhìn khái quát mang tính tổng thể
3 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi chọn Phong cách tiểu thuyết Chu Lai làm đối tợng
nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định vị trí văn học của tiểu thuyết Chu Lai trong bối cảnh tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975
- Nhận diện phong cách tiểu thuyết Chu Lai trên phơng diện nội dung vànghệ thuật
Trang 9Ngoµi Më ®Çu, KÕt luËn vµ Tµi liÖu tham kh¶o, luËn v¨n gåm 3 ch¬ng:
Ch¬ng 1 Qu¸ tr×nh h×nh thµnh phong c¸ch tiÓu thuyÕt Chu Lai
Ch¬ng 2 Phong c¸ch tiÓu thuyÕt Chu Lai nh×n tõ ph¬ng diÖn néi dungCh¬ng 3 Phong c¸ch tiÓu thuyÕt Chu Lai nh×n tõ ph¬ng diÖn nghÖ thuËt
Ch¬ng 1 qu¸ tr×nh h×nh thµnh phong c¸ch tiÓu thuyÕt
Trang 10Chu Lai
1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật
Thuật ngữ Phong cách đợc sử dụng trong nhiều ngành khoa học khác
nhau tuỳ theo đặc trng của ngành khoa học đó
Hiện nay ngay trong giới nghiên cứu văn học cũng đang có nhiều quanniệm khác nhau về phong cách Có thể thấy rằng phong cách là một vấn đề kháphức tạp của lý luận văn học Phong cách đợc nhìn nhận ở nhiều góc độ khácnhau Theo M.Khrapchenco trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, có một số lợng lớn những định nghĩa khác nhau về phong cách
văn học Các định nghĩa này “xoè ra nh cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách
là những phạm trù lịch sử - thẩm mỹ rộng nhất,,bao quát nhất và sự nhìn nhận
nó nh những đặc điểm của những tác phẩm văn học riêng lẻ” [46,130] Minhchứng cho điều này ông đã dẫn ra ý kiến Ar.Grigôrian: “Phong cách không thểvô can với phơng pháp, với thế giới quan và bút pháp, với cá nhân nhà nghệ sĩ,với cách hiểu của nghệ sĩ về thời đại, với đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh
ta Phong cách là sự thống nhất cao nhất của tất cả những phạm trù đó”[46,130]
Ngợc lại, ý kiến của của V.Turbin: “Phong cách- đó là ngôn từ đợc xéttrong mối quan hệ của nó với hình tợng, đó là tác động qua lại thờng xuyêngiữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào mộtvăn cảnh nghệ thuật” [46,132] Trong khi nhận định về phong cách của tácphẩm văn học, V.Jirmunxky nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nộidung và những yếu tố hình thức của phong cách cũng có điểm tơng đồng.VKovalev cho rằng: “Phong cách- đó là sự thống nhất chỉnh thể của nhà văn…
đó là liên hệ qua lại giữa những yếu tố trong hệ thống nghệ thuật của nhà văn,
là những quy định lẫn nhau của những yếu tố đó” [46,132]
Trang 11Còn L.Norichenko lại tìm thấy sự gần gũi giữa phong cách và cá tính củanghệ sĩ Ông viết: “Phong cách văn học hiểu theo nghĩa chung nhất là vẻ đặcthù trong những tác phẩm của nhà văn (hoặc của một nhóm nhà văn), vẻ đặc thùnày đợc quy định bởi những quan điểm chung về cuộc sống và thể hiện trongnhững đặc điểm có tính chất đặc trng về nội dung với hình thức của những tácphẩm ấy” [46,133].
Trờng hợp khác lại nhìn nhận phong cách là sự tổng hợp, là hệ thống cácphơng tiện miêu tả và biểu đạt; phong cách đợc coi nh là hình thức toàn vẹn cótính chất nội dung Tiêu biểu cho cách hiểu này là V.Đneprôv: “Phong cách làmối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống nhất của nhữngnghệ thuật” Phát triển cách hiểu trên, Ya.Elxberg đã nhấn mạnh rằng phongcách cá nhân nhà văn là khái niệm cơ bản của thi pháp: “Phong cách biểu hiện
sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung đợc hình thành trong sự phát triển,trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật,dới ảnh hởng của đối tợng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan của nhà văn
và của phơng pháp của anh ta vốn thống nhất với thế giới quan…”[46,133].A.Xôkôlôv cũng gần gũi với sự nhận định về phong cách nh là một hệ thốngphức tạp của hình thức, hệ thống này nằm trong mối liên hệ khăng khít với nộidung của tác phẩm văn học với phơng pháp sáng tác của nhà văn
Rõ ràng mỗi ngời có một quan niệm khác nhau về phong cách TheoKhrapchenco, phong cách là “thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tợng đốivới cuộc sống, nh thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả”[46,135]
Trong công trình của mình, M.Khrapchenco cũng đã khái quát: “Phong cách
là một tổng thể toàn vẹn những sự kiện biểu cảm khiến cho lời phát ngôn cómột sắc thái ý nghĩa đặc biệt, bất chấp cấu trúc ngữ nghĩa cơ bản của phát ngôn
ấy Cần coi những “sự kiện biểu cảm” này là những “sự kiện phong cách” sẽ
đ-ợc nghiên cứu không phải trong thi pháp học và từ chơng học mà là trong bộmôn ngữ văn đặc biệt Phong cách học cần nắm bắt những sự kiện này không
Trang 12phải một cách tách biệt mà bao giờ phải nắm bắt trong trong tính toàn bộ củachúng vốn đặc trng của từng tác phẩm, từng tác giả (hoặc từng giai đoạn pháttriển sáng tác của tác giả ấy), từng trờng phái, từng nớc, từng thời đại ”[46,135].
Rõ ràng một nhà văn để có đợc phong cách qua những sáng tác của mình
là không hề đơn giản Dẫu rằng, nhắc đến phong cách là nhấn mạnh đến sự độc
đáo, vẻ riêng rất ít thấy ở tác giả khác nhng không có nghĩa đó là phong cáchcủa nhà văn Mà cái độc đáo về t tởng cũng nh nghệ thuật có phẩm chất thẩm
mĩ biểu hiện trong các sáng tác của nhà văn ấy phải xuất hiện có tính chất thờngxuyên, nhất quán, bền vững Và lẽ đơng nhiên nghệ thuật tối kỵ sự chung chunglặp lại gây sự nhàm chán Vì vậy những tính chất bền vững, nhất quán ấy cũng
đòi hỏi phải có hệ thống và đợc triển khai đa dạng và sáng tạo, đổi mới khôngngừng, đó chính là sự thống nhất trong đa dạng Bởi thế để có phong cách, trớchết nhà văn phải mang lại một tiếng nói mới cho văn học Và cái mới ấy cũngphải đợc chứa đựng trong những đặc tính nhất quán bền vững
Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phơng tiện
độc đáo để thể hiện những t tởng và hình tợng của mình, những biện pháp vànhững phơng tiện cho phép nhà văn đó làm cho những t tởng và những hình t-ợng ấy trở thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả Nh thếnhà văn đã tạo đợc phong cách của mình
Trong giới nghiên cứu văn học của Việt Nam gần đây đã bắt đầu tiếp cậntác giả, tác phẩm từ góc độ phong cách mặc dù vẫn còn nhiều điều đáng bàn khinói đến vấn đề này
Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng phong cách ngôn ngữ và phong cách
nghệ thuật là hai phạm trù khác nhau Trong ngôn ngữ do thực hiện những chứcnăng khác nhau, do đợc sử dụng trong những tập đoàn xã hội hoặc những giớinghề khác nhau, dần dần hình thành những phong cách ngôn ngữ khác nhau.Chẳng hạn phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính,
Trang 13phong cách ngôn ngữ văn học (nghệ thuật ngôn từ) hoặc phong cách ngôn ngữ
điện báo v.v…Những phong cách ngôn ngữ này thuộc phạm trù ngôn ngữ học.Sách Lý luận văn học do Phơng Lựu chủ biên đa ra cách hiểu: “Phong
cách là chỗ độc đáo về t tởng cũng nh nghệ thuật có phẩm chất thẩm mỹ thểhiện trong sáng tác của những nhà văn u tú” [41,482]
Tuy nhiên độc đáo một cách đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới là nhữngtiền đề rất quan trọng nhng cha đủ làm nên phong cách Bởi trong văn học cónhững cái dở đến “độc đáo”, thậm chí đến gàn dở thì đó là quái gở chứ khôngphải là phong cách Độc đáo và bền vững nhng lại cần phải hay nữa Phongcách, do đó phải có phẩm chất thẩm mĩ, nghĩa là nó phải đem lại cho ngời đọcmột sự hởng thụ mĩ cảm dồi dào Chính vì vậy không phải nhà văn nào cũng cóphong cách mặc dù xét đến cùng nhà văn nào cũng có đặc điểm riêng Phongcách không những là dấu hiệu trởng thành của một nhà văn mà hơn thế nữa, khi
nó đã nở rộ thì đó chính là bằng chứng của một nền văn học đã trởng thành.Phong cách phải có phẩm chất thẩm mỹ nhng không phải là vấn đề kỹ thuật,hình thức Cần phân biệt hai vấn đề phạm vi và phẩm chất, từ đó có thể thấymặc dù phong cách phải có phẩm chất thẩm mĩ, có tính nghệ thuật cao nhng nó
có thể biểu hiện chủ yếu ở phạm vi hình thức hay nội dung là tuỳ từng trờnghợp cụ thể Sự thật có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ chophong cách của từng nhà văn thể hiện Phong cách có thể biểu hiện qua cáchchọn đề tài, cũng có thể qua cảm hứng chủ đạo và qua việc xây dựng nhân vật.Phong cách cũng biểu hiện ở thể loại Mỗi nhà văn thờng chỉ viết đợc một thểloại hoặc nếu viết đợc nhiều thể loại thì cũng chỉ thành công đợc ở một thể loạinào đó mà thôi
Trong Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, Nguyễn
Đăng Mạnh cho rằng: “Phong cách nghệ thuật là một khái niệm thuộc phạm trùthẩm mĩ, tức nhà văn phải thực sự có tài năng và đặc biệt phải thực sự sáng tạo
ra đợc những tác phẩm hay có giá trị nghệ thuật cao mới đơc xem là nhà văn có
Trang 14phong cách Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật Mỗi nhà văn có phongcách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật ấy, dùphong phú, đa dạng thế nào cũng có tính thống nhất Cơ sở của tính thống nhấtnày là một nhỡn quan riêng về thế giới và sâu xa hơn nữa là t tởng nghệ thuậtriêng của nhà văn Chừng nào cha nhận ra tính thống nhất ấy, thì chừng đó, chathể xem là đã nắm đợc phong cách của một nhà văn Phong cách bao gồmnhững đặc điểm độc đáo của các tác phẩm của một nhà văn từ nội dung đếnhình thức Nhng phong cách là một cái gì cụ thể, hữu hình có thể và phải mô tả
đợc Cho nên nói đến phong cách dù có đề cập đến nội dung t tởng, cũng phảichỉ ra đợc nội dung ấy đã đợc hình thức hoá nh thế nào” [43,6]
Cũng theo Nguyễn Đăng Mạnh, trong quá trình sáng tác của nhà văn,phong cách nghệ thuật của ông ta luôn biến chuyển từ tác phẩm này đến tácphẩm khác Bởi vì viết văn là một hoạt động sáng tạo Sáng tác thì luôn phải
đổi mới Nhng dù đổi mới thế nào, phong cách vẫn vận động trên một cơ sởthống nhất, khiến cho các tác phẩm của nhà văn dù có những nét rất khác nhauvẫn là tác phẩm của ông ta chứ không phải là của ai khác Phong cách mỗi khi
đã định hình thì thờng có tính bền vững Vì tạo ra phong cách, ngoài thế giớiquan còn rất nhiều nhân tố khác nh truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống, môitrờng thiên nhiên, môi trờng văn hoá, thói quen suy nghĩ, cảm xúc, cái “tạng”riêng của nhà văn Những tác động ấy, những thói quen ấy không dễ gì thay
đổi Có ảnh hởng lớn tới sự hình thành phong cách của một nhà văn thờng lại lànhững ấn tợng của ông ta về môi trờng sống của mình từ tuổi ấu thơ
Nh vậy để phát hiện ra một cách đầy đủ và chính xác phong cách nghệthuật của một nhà văn là điều rất khó Và khó nhất là tìm ra tính thống nhất củaphong cách Bởi phong cách không phải là cái gì đó bất biến, nó đã từng thay
đổi với quá trình phát triển của sự nghiệp văn chơng Chính vì thế cũng cầnphân biệt phong cách với phơng pháp riêng Nếu phong cách là dấu hiệu trởngthành của những nhà văn u tú thì phơng pháp riêng lại là sở hữu tất yếu của bất
Trang 15kỳ văn nghệ sĩ nào Bởi lẽ mỗi khi đã cầm bút, nhà văn vốn đã có một thế giớiquan nhất định, hớng tới một lý tởng xã hội – thẩm mỹ nhất định theo trình độ
t tởng của họ Không thể có sáng tác nào mà không có phơng pháp Và nói chocùng nhà văn nào cũng có đặc điểm thể hiện trong sáng tác, nhng đặc điểm mờnhạt cha đủ làm nên phong cách
Nói chung phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thểnghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật; không phải bất cứ nhà văn nàocũng có phong cách, chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có đợcphong cách riêng độc đáo Cái nét riêng ấy thể hiện ở các tác phẩm và đợc lặplại trong nhiều tác phẩm của nhà văn đó làm cho ta có thể nhận ra sự khác nhaugiữa nhà văn này và nhà văn khác
Tóm lại để có một khái niệm thống nhất gọi là phong cách nghệ thuật làrất khó Tuy nhiên qua đây bớc đầu giúp chúng ta nhận diện rõ hơn dấu ấnriêng, nét độc đáo mang tính ổn định của nhà văn, và hiển nhiên đó là sự ổn
định trong sự phong phú đa dạng, có biến đổi chứ không phải là sự lặp lại giản
đơn, nghèo nàn, đơn điệu
1.2 Quá trình hình thành phong cách tiểu thuyết Chu Lai
1.2.1 Chu Lai - vài nét tiểu sử
Nhà văn Chu Lai tên khai sinh là Chu Ân Lai, sinh ngày 05.02.1946 tại xãHng Đạo, huyện Phù Yên, tỉnh Hng Yên Ông xuất thân trong gia đình cótruyền thống văn học, cha là nhà viết kịch nổi tiếng Học Phi Bản thân Chu Laicũng sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật Đang học năm thứ nhất đại học, cũnggiống nh bao thanh niên khác, hoàn cảnh đất nớc bấy giờ đang chìm trong khóilửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nớc, Chu Lai tình nguyện lên đờngnhập ngũ Có thể nói những năm ở chiến trờng là tiền đề, cơ sở để sau này độcgiả đợc đón nhận hơn chục cuốn tiểu thuyết của ông Những ngày đầu của đờilính, ông đợc điều về làm diễn viên của Đoàn Kịch nói Tổng cục Chính trị Làdiễn viên mặc áo lính, với một khuôn mặt chỉ thích hợp cho những vai phản
Trang 16diện khiến ông không toại nguyện Ông xin trực tiếp ra chiến trờng cầm súngchiến đấu Từ đó Chu Lai trở thành một chiến sĩ đặc công hoạt động ở vùng venSài Gòn trong những ngày tháng ác liệt và gian khổ nhất của cuộc kháng chiếnchống Mĩ Ông đã từng giữ trọng trách đại đội trởng đại đội trinh sát chiến đấucho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nớc Sau đó tốt nghiệp Tr-ờng Viết văn Nguyễn Du, khoá một, ông về công tác tại Tạp chí Văn nghệ quân
đội cho đến khi về hu, cuối năm 2007.
Chu Lai là một ngời nhạy bén Tác phẩm của Chu Lai in nhiều, bán chạy.Một số tiểu thuyết của ông đợc chuyển thành phim, đợc dịch ra nhiều tiếng nớcngoài, xuất bản không chỉ ở trong nớc
Hơn ba mơi năm cầm bút, Chu Lai đã “trình làng” một số lợng tác phẩm
t-ơng đối lớn với nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản sân khấu nhngthành công nhất và đợc đánh giá cao nhất vẫn là thể loại tiểu thuyết
1.2.2 Hành trình sáng tác văn học của Chu Lai
Chu Lai sáng tác từ rất sớm Năm 17 tuổi, ông đã có vở kịch ngắn đầu tay
Hũ muối ngời Mơ Nông (năm 1963) tuy nhiên cha thực sự gây đợc tiếng vang.
Phải đến năm 1975 khi truyện ngắn Kỷ niệm vùng ven đợc đăng trên Báo Văn nghệ, tên tuổi Chu Lai mới bắt đầu gây đợc sự chú ý.
Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986 Chu Lai đã cho ra mắt bạn đọc cáctác phẩm nh: Nắng đồng bằng (tiểu thuyết, 1978), Vùng đất xa xăm (tập
truyện, 1983), út Teng (tiểu thuyết, 1983), Gió không thổi từ biển (tiểu thuyết,
1984) ở những tác phẩm này dù đã có nhiều đổi mới nhng ngòi bút Chu Laicơ bản vẫn trợt theo quán tính văn học của giai đoạn trớc, âm hởng chủ đạo vẫn
là âm hởng sử thi, cách miêu tả quen thuộc về con ngời ở văn xuôi trớc 1975vẫn còn Nhng giai đoạn từ năm 1986 đến nay, ngòi bút Chu Lai đã thực sự cónhiều thay đổi và khẳng định đợc vị trí của mình trong chặng đờng văn họcnhiều biến động này Chính thời gian này Chu Lai đã gặt hái đợc khá nhiềuthành công trong sự nghiệp viết văn của mình Nhắc đến Chu Lai là ngời ta
Trang 17nhắc đến dòng tiểu thuyết chiến tranh và ngời lính Ngòi bút Chu Lai hớng đếnnhiều vấn đề của đời sống nhng xoay quanh cuộc sống của ngời lính trở về sauchiến tranh Đó là một loạt tiểu thuyết: Sông xa (1986), Vòng tròn bội bạc
(1987), Bãi bờ hoang lạnh (1990), ăn mày dĩ vãng (1991), Phố (1992), Đời
im lặng (1993), Ba lần và một lần (1999), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc bi tráng cuối cùng (2004) và gần đây nhất là tiểu thuyết Chỉ còn một lần (2006)
Có thể thấy các tác phẩm này đã có nhiều đổi mới trong quan niệm về hiện thực
và con ngời Ngòi bút Chu Lai đã dần dần thoát khỏi cảm hứng sử thi, đi sâukhám phá cuộc sống đời t với những nỗi niềm thật nhất, con ngời nhất, đặc biệt
ông nói nhiều đến số phận những ngời lính trở về sau chiến tranh
Là một trong số những nhà văn trởng thành trong khói lửa chiến tranh,hơn ai hết Chu Lai hiểu rất rõ cuộc sống của ngời lính Đây chính là những kinhnghiệm xơng máu cho một nghiệp viết nghiêm túc mà sau này và bây giờ ChuLai vẫn còn đeo đuổi Chu Lai đã từng tâm sự với độc giả, chính trong khoảngthời gian chiến đấu ở đơn vị đặc công nơi vùng ven Sài Gòn là cội rễ, là ngọnnguồn cho những tác phẩm sau này của mình Phải chăng vì thế mà nhiều ngờinhận xét nhân vật trong truyện của Chu Lai có vẻ giống ông, là những ngời línhphố phờng ra đi kháng chiến, bặm trợn mà hào hoa, gan lì mà can đảm Cuộc
đời trinh sát một thuở vẫn còn ám ảnh Chu Lai rất nhiều Theo Chu Lai, trongnhững năm tháng ác liệt ấy, có những lúc thèm chết hơn thèm sống nhng cũngnhờ vào sự lãng mạn của tâm hồn, sự hào sảng nghìn năm của dân tộc để vừacầm súng chiến đấu, vừa bâng khuâng nghĩ đến ngày về bớc đi giữa phố phờngchớm lạnh, phơ phất lá thu bay và bên tai thoảng tiếng cời của cô bạn cũ
Những năm gần đây, Chu Lai xuất hiện khá nhiều trên báo chí và truyềnhình Những câu chuyện của ông đang thu hút sự chú ý của độc giả một phần từchính những gì đời lính mà ông đã trải qua, chiêm nghiệm, nhng một phần bởi
độc giả đợc tiếp xúc với một ngời nói chuyện có duyên, hóm hỉnh và sâu sắc.Trên báo điện tử gần đây độc giả cũng đã có cơ hội hiểu về Chu Lai và nghiệp
Trang 18viết văn của ông hơn ở đó ông tâm tình cởi mở, gần gũi và thân mật Với ChuLai, viết văn cũng nh thợ cày làm sao đợi hứng đợc, không có thì phải tạo rahứng Trong cuộc trò chuyện trên báo An ninh thế giới, tháng 6 năm 2007, ChuLai đã bộc bạch nhiều điều khá thú vị ở đó chúng ta đã bắt gặp những câuchuyện “rất máu thịt” với ông: “Đời ngời tựu trung chỉ là tập hợp của bốnchuyến đi thôi Thời trẻ đất nớc có biến thì đi vào trận chuyến đi thứ hai làchuyến đi của kẻ cầm bút còn chuyến đi thứ ba chuyến đi bây giờ đây tức làbắt đầu th giãn, không cần mở hết ăngten đón gió cuộc đời và viết lấy đợcnữa chuyến đi này chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng, chuyến đi của bệnhtật chuyến đi về phía cái chết” [71,8] Chu Lai cũng thổ lộ: “nếu ba mơi nămtrớc viết văn thì bây giờ là chơi văn, tức là thích thì viết, còn không thích thìthôi Cái thời viết văn lấy đợc để khẳng định mình đã qua rồi, tức là cái thờiviết cuồn cuộn, viết điên điên, viết mạnh mẽ, viết quằn quại ấy cái thời đó, cứ
mù mịt, nổi cơn tốc độ cực nhanh và không làm cái gì khác ngoài viết, lúc nàocũng bị ám ảnh, lúc nào cũng mê hoảng nên đôi khi một cuốn tiểu thuyết màchỉ viết trong vòng sáu tháng, chín tháng là xong Thậm chí có những cuốn tiểuthuyết đợc viết trong cảm xúc đặc biệt nh Nắng đồng bằng thì chỉ một tháng là
xong Bây giờ đã đến lúc lau kiếm rồi, nhng lau kiếm chứ không phải gáckiếm” [71,8] Thì ra vậy nhà văn không nhất thiết bao giờ cũng phải là ngờiphát ngôn những cái mới, nhng nhà văn nhất thiết phải là ngời làm cho côngchúng của mình nhìn lại những kinh nghiệm, trải nghiệm, thực nghiệm của họtheo một cách mới Chu Lai là thế đó, đôi khi chúng ta phải hiểu ông ở ngoàicâu nói, ở giữa câu nói, ở sau sự tự tin thờng trực, rất nồng nhiệt và rất lính
Đối với nghiệp văn, Chu Lai là một ngời nghiêm túc, thậm chí khắt khe
Ông cho rằng viết văn là nghề khổ luyện, “nghề tự ăn óc mình”, “viết văn lànghề khổ nhất trong đời, là cái nghề hàng ngày anh tự ăn óc mình Nhng đồngthời cũng là nghề tự do đến vô biên Anh có thể “điều hành” một hệ thống xãhội thành một hệ thống nhân vật dới ngòi bút của anh Và nh thể là tự do vô
Trang 19biên nhng để giọng văn của anh "đi", "đi" một cách trầm mặc một cách đúng
đắn thì nên âm thầm nghĩ, âm thầm đi, âm thầm viết và âm thầm ra sách”[67,10] Cũng nói về nghiệp viết, theo Chu Lai “ngời cầm bút sáng tác miệt màingày này qua ngày khác Đấy là thành tích, thành công chứ không phải lànhững gì hào nhoáng, lộng ngôn, lập ngôn, lập danh” [67,10] Chu Lai còn cónhững phát biểu mang tính chính thức trong các hội thảo, thể hiện tâm huyếtcủa nhà văn đối với nghề, với nền văn học chân chính, văn học nói chung là làmcho con ngời thức tỉnh để lao vào cuộc sống “Văn đàn là nơi thể nghiệm, là nơicác nhà văn dồn tâm t, uẩn khúc, báo động cho cuộc đời biết thiện, ác, đốikháng thế nào Anh phải đặt đợc ý tởng để tranh luận, nhng phải là ý tởng nhânvăn chứ không phải bệnh hoạn” [62,7]
Phải thừa nhận, rằng trong quá trình đổi mới văn học, so với các sĩ quanviết văn cùng thời, với sức sáng tạo mạnh mẽ, dồi dào, Chu Lai đã vơn lên thànhmột cây bút tiêu biểu và sáng giá trong số họ Chính những năm tháng binhnghiệp với vốn sống, sự từng trải đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên mộtnhà văn Chu Lai nh hiện nay Có nhiều ngời yêu thích và say mê với đề tàichiến tranh và ngời lính, Chu Lai cũng vậy Ông đã viết, đang viết và sẽ viết.Với Chu Lai, chiến tranh là mảnh đất thân thuộc nhất Theo ông có những mảng
đề tài, có những cái nghiệp chớng mà mình không rời nó đợc Nó nh đánh thứcvào tâm linh trận mạc của ông, đánh thức vào tâm linh sáng tạo của ông và có lẽ
đó là nghiệp chớng Sự sung mãn của ngòi bút Chu Lai về đề tài này khiến ngời
ta có cảm giác ông sinh ra là để viết văn về chiến tranh với bản chất đích thựccủa nó Cuộc chiến qua tâm hồn ngời lính vừa có cái ác liệt, dữ dội vừa có cáinên thơ Thử tởng tợng nếu không có ngót nghét chục năm cầm súng trực tiếp ởvùng ven Sài Gòn thì làm gì có nhà văn Chu Lai với những tiểu thuyết máu lửa,lật giở trang nào cũng sặc mùi khói súng Từ một diễn viên trở thành chiến sĩ
đặc công lăn lộn trên chiến trờng hơn mời năm, Chu Lai đã tích luỹ đợc nhữngkinh nghiệm dạn dày và vốn sống phong phú, để khi trở về với tài năng và thực
Trang 20tế trải nghiệm, “ông trở thành một ngời lao công cặm cụi khổ đau trên cánh
đồng chữ nghĩa” Ông đã cho ra mắt bạn đọc một khối lợng tác phẩm khá đồ sộ
và gặt hái đợc những thành công đáng kể Có lẽ là vậy, Chu Lai có một danhsách tác phẩm đồ sộ Không nhiều nh những nhà thơ, nhà văn “tốp 100” tức cho
in ấn hàng trăm đầu sách, tác phẩm Chu Lai dẫu chỉ đếm quanh, đếm quẩn đủ
đốt ngón trên hai bàn tay nhng nó đồ sộ ở sự xuất hiện liên tục trên giá hiệusách, ở tiếng vang trong d luận, ở “tia ra” phát hành (cha kể vô khối kịch bảnsân khấu, điện ảnh, truyền hình đã đợc dàn dựng, sản xuất) Kiểm chứng cho
điều này không khó, có rất ít nhà văn sống đợc bằng nghề và Chu Lai là mộttrong số rất ít ấy
Dù rất khiêm tốn tự nhận mình nh “con tôm nuôi trong hồ nớc lợ” nhngtác phẩm của ông đã thu hút đợc sự quan tâm rộng rãi của công chúng Nhiềutác phẩm đã tạo ra những luồng tranh luận gay gắt trong giới nghiên cứu phêbình văn học và bạn đọc Nó chìm nổi thăng trầm theo thời gian để rồi cuốicùng khẳng định đợc một vị trí xứng đáng trong đời sống văn học với bốn tácphẩm đoạt giải: Ăn mày dĩ vãng (giải A của Hội đồng Văn học về đề tài chiến
tranh cách mạng và lực lợng vũ trang Hội Nhà văn năm 1993, Giải thởng Vănhọc Bộ Quốc phòng năm 1994), Phố (Giải thởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà
Nội – 1993), Ba lần và một lần (Tặng thởng cuộc thi tiểu thuyết do Hội Nhà
văn tổ chức năm 1998 – 2000), Cuộc đời dài lắm (Giải thởng của Hội Nhà văn
Việt Nam, năm 2002) Trong đó có một số tác phẩm đợc chuyển thành kịch bảnphim truyền hình nh Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba lần và một lần Đặc biệt Ăn mày
dĩ vãng là những trang viết đợc nhà văn dành nhiều tâm huyết nhất Cuốn tiểu
thuyết này đạt hai giải thởng văn học, khi chuyển thể thành kịch bản sân khấu
và điện ảnh cũng đạt đợc những giải cao Gần đây nhất, cuối năm 2007 bằngnhững cống hiến của mình, nhà văn Chu Lai đợc nhận Giải thởng Nhà nớc vềVăn học Nghệ thuật
Trang 21Với những thành tựu đạt đợc, Chu Lai đã khẳng định đợc tài năng sángtạo của mình và xứng đáng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền vănxuôi đơng đại Việt Nam.
1.2.3 Vị trí tiểu thuyết Chu Lai trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.2.3.1 Giới thuyết chung về khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết, tiểu loại trọng yếu của văn học Tiểu thuyết, loại hình tiêubiểu, căn bản của văn xuôi ở mỗi thời kỳ văn học, hành trang nhiều khi là chủyếu của các cây bút văn xuôi Tiểu thuyết sở dĩ có vị trí đặc biệt nh vậy là bởi vì
nó, nh Bách khoa toàn th Compton's Mỹ định nghĩa, chính là mảnh lu giữ hìnhbóng cuộc đời Truyện ngắn thoả mãn con ngời bởi những câu chuyện đợc hạn
định bằng vấn đề và số lợng nhân vật Kịch đem lại cho con ngời thởng thứcnhững thời khắc đầy xung đột căng thẳng Còn với tiểu thuyết, ngời ta tìm đến
để có đợc một bức tranh tổng thể về cuộc sống có khả năng lôi cuốn, dẫn độcgiả đi từ khởi đầu đến kết thúc, chứa đựng mọi băn khoăn, tò mò
Xung quanh khái niệm tiểu thuyết có nhiều vấn đề phức tạp, không dễthống nhất Đi tìm một định nghĩa đầy đủ về tiểu thuyết có thể đáp ứng cho mọitrờng hợp trong thực tế văn học là điều khó làm đợc Theo M.Bakhtin: “Tiểuthuyết là thể lọai văn chơng duy nhất đang biến chuyển và cha định hình.Những lực cấu thành thể loại còn đang hoạt động trớc mắt chúng ta, thể loạitiểu thuyết ra đời và trởng thành dới ánh sáng thiên thanh bạch nhật của lịch sử.Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết cha hề rắn lại và chúng ta cha thể dự đoán hếtkhả năng uyển chuyển của nó” [3,21] Vì vậy các nhà lý luận phơng Tây và ph-
ơng Đông (trong đó có Việt Nam) tuỳ theo từng góc độ, khía cạnh khác nhau đểnhấn mạnh đặc điểm này hay đặc điểm kia của tiểu thuyết
ở nớc ngoài, nhìn chung có khá nhiều lời bàn về tiểu thuyết của các nhànghiên cứu Hêghen gọi tiểu thuyết là “sử thi t sản hiện đại” Biêlinxki cho rằngtiểu thuyết là “sự tái hiện hiện thực với sự thực trần trụi của nó”, là “xây dựngmột bức tranh toàn vẹn, sinh động và thống nhất” Turghênhép, nhà tiểu thuyết
Trang 22cự phách của văn học Nga và châu Âu, nhấn mạnh “tiểu thuyết là lịch sử cuộcsống” Từ những năm 70 của thế kỷ XX, ý kiến về tiểu thuyết của M.Bakhtin đ-
ợc giới nghiên cứu văn học nhiều nớc trên thế giới rất chú ý M.Bkhtin đã cónhững quan điểm chính xác về tiểu thuyết: 1, Tiểu thuyết là sản phẩm tinh thầntiêu biểu nhất của thời đại mới Bởi vì tiểu thuyết thể hiện đợc t duy văn họcmới gắn với thời hiện tại T duy này gắn với một thứ triết học mới nhân bản vềcon ngời – nhìn nhận con ngời nh những cá thể độc lập, những con ngời cánhân tồn tại với bản ngã của nó và với sự đối thoại với những bản ngã khác ởphơng diện này tiểu thuyết hiện ra nh một thể loại đặc biệt dân chủ; 2, Tiểuthuyết là thể loại ở thời hiện tại, một thể loại đang vận động và phát triển Tiểuthuyết tồn tại với t cách nh một thể loại chủ đạo của văn học hiện đại, nó giễunhại và thu hút các thể loại khác vào nó Tính tự phê phán là đặc điểm tuyệt vờicủa tiểu thuyết; 3, Ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ có tính đa thanh Các lớpngôn ngữ soi sáng lẫn nhau, bổ sung cho nhau (ngôn ngữ dân tộc, thổ ngữ, ph-
ơng ngữ, từ nghề nghiệp ) do đó mà thiết lập một quan hệ mới giữa ngôn ngữ
và thế giới hiện thực; 4, Sự thay đổi về toạ độ thời gian: Bakhtin thờng đối sánhtiểu thuyết với sử thi (Sử thi: thời gian là quá khứ hoàn thành, Tiểu thuyết: tọa
độ thời gian là thời hiện tại – giữa ngời trần thuật và đối tợng có khoảng cáchrất gần, cho phép ngời trần thuật có thể hiểu đợc nhân vật bằng chính kinhnghiệm sống của mình); 5, Nhân vật tiểu thuyết là kiểu nhân vật “không trùngkhít” với chính nó: con ngời có thể cao hơn thân phận hoặc có thể nhỏ bé hơntính ngời của mình [3,22]
Theo Milan Kundera, một tiểu thuyết gia lớn gốc ngời Séc, định c tại Pari(Pháp): Tiểu thuyết phải khám phá cuộc sống đằng sau tấm màn giả trang bị xérách, tức là tiểu thuyết phải bóc trần tất cả những gì diễn ra đằng sau tấm mànhào nhoáng che phủ thế giới Lẽ dĩ nhiên việc bóc trần này không chỉ đơn giản
là mô tả hiện thực ở những góc khuất tối, tiêu cực Tiểu thuyết hiện đại khôngchủ tâm khai thác bề mặt sự kiện, mà chủ tâm truy tầm những tầng sâu của ý
Trang 23thức con ngời trớc những vấn đề xã hội Thế giới bên trong con ngời không phảichỉ là một cõi nhỏ nhoi và bị khép kín trong những định chế của ý thức hệ vàvăn hoá Ngợc lại, nó có thể là một thế giới cực kỳ phong phú, chứa đựng tất cảnhững mảnh đa sắc của hiện thực thế giới vô biên bên ngoài Hơn thế nữa, nóthờng chủ định đặt những chủ đích t tởng đằng sau tấm màn đa sắc của nghệthuật ngôn từ: “Tiểu thuyết suy xét hiện hữu chứ không phải hiện thực Hiệnhữu không phải là cái gì xảy ra, hiện hữu là thế giới của những khả hữu con ng-
ời, bất cứ cái gì con ngời có thể trở nên, bất cứ cái gì hắn có khả năng làm Tiểuthuyết gia là ngời vẽ bản đồ sự hiện hữu bằng cách khai phá khả hữu này haykhả hữu kia của con ngời” Tiểu thuyết, theo Kundera, thể hiện trong mình
“tinh thần của phức tạp”, “hiền minh của hoài nghi”, nó không đi tìm các câutrả lời mà đặt ra các câu hỏi, nó nghiên cứu “không phải hiện thực mà hiệnsinh”, nghiên cứu chính ngay bản chất sự tồn tại của con ngời, cái ẩn mặt củabản ngã, là cuộc chiêm nghiệm đời sống con ngời trong cái bẫy thế giới này
đang dần dà biến thành
Kundera không thể thoả mãn với quan niệm về tiểu thuyết nh về sự phản
ánh hiện thực Đối với ông, đó trớc hết là “sự tổng hợp trí tuệ lớn”, tự do thunhận vào mình những suy t về bất kỳ đề tài nào Tiểu thuyết không chỉ là mộtthể loại (trong các thể loại văn học), mà là một giai đoạn, một cấp độ mới trong
t duy nghệ thuật của con ngời về thế giới Thế nào là một tiểu thuyết lớn.M.Kundera quan niệm: 1, Nó khai phá một lĩnh vực còn cha đợc biết tới củacon ngời Nó bộc lộ một hiệu quả chân lý mà các con đờng khác không thể đạttới 2, Nó sáng tạo hoặc đổi mới hình thái tự sự 3, Nó làm cho hai phơng diệntrên không sao tách ra đợc [63,432]
Quan điểm của M.Kundera có nhiều điểm tơng đồng với M.Bakhtin khi
ông coi tiểu thuyết là thể loại tiếp xúc với khu vực hiện tại đang diễn ra, cha
định hình, còn nhiều biến đổi, do đó nó phá bỏ khoảng cách sử thi, nó dân chủtrong quan hệ thẩm mĩ với hiện thực, với đối tợng, với độc giả
Trang 24ở nớc ta giai đoạn truớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngời bàn vềtiểu thuyết sớm nhất có lẽ là Phạm Quỳnh trong bài “Khảo về tiểu thuyết” đăngtrên Nam Phong (1921) Theo ông: “Tiểu thuyết là truyện viết bằng văn xuôi
đặt ra để tả tình tự ngời ta, phong tục xã hội, hay là những sự tích lạ để làm chongời đọc cảm thấy hứng thú” [63,10] Phạm Quỳnh cũng đã chia ra 3 loại tiểuthuyết: một là tiểu thuyết ngôn tình, hai là tiểu thuyết tả thực, ba là tiểu thuyếttruyền kỳ Sau Phạm Quỳnh có Trọng Khiêm, tác giả của Kim Anh lệ sử (1924),
trong lời tựa có so sánh sự khác biệt giữa tiểu thuyết ta và tiểu thuyết Tàu vớitiểu thuyết phơng Tây Bên cạnh đó Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hng trongnhiều bài viết của mình cũng bàn đến tiểu thuyết Thạch Lam quan niệm: “Tiểuthuyết bao giờ cũng là sáng tác của một trí tởng tợng, một câu truyện xếp đặt,nhng với đời sống bên trong một ngày một mạnh mẽ hơn câu chuyện xếp đặt
đó phải phù hợp với lẽ phải và xúc động đến tình cảm của mình” [63,45] ThạchLam a câu này của Maurice Barrès: “Một cuốn tiểu thuyết hay là một tiểuthuyết đã làm cho ta rung động” Vũ Bằng trong Khảo về tiểu thuyết cũng đã
bàn luận về tiểu thuyết với thuật tả chân nhân vật sống: “Bổn phận của nhà tiểuthuyết là tả chân cuộc đời, tả chân t tởng ngời đời” [63,115]
Nhìn chung trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945 các nhà lý luận phêbình dờng nh cha có cái nhìn hệ thống về tiểu thuyết, các ý kiến , lời bàn luận
đều dừng lại ở những suy tởng, ý tởng ban đầu
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, nhiều nhà lý luận, nhàvăn quan tâm và bàn luận đến tiểu thuyết nh: Thanh Lãng, Phan Cự Đệ, Trần
Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đình Thi, Ma Văn Kháng, Tô Hoài Nguyễn Công Hoan hiểu: “Tiểu thuyết là một truyện bịa y nh thật Nhàtiểu thuyết là ngời biết bịa truyện” Còn Nguyễn Đình Thi cho rằng tiểu thuyết
là thể loại mang tính tổng hợp nên nó đòi hỏi phải có sự hiểu biết nhiều ngànhnghệ thuật khác nhau: “Ngời viết tiểu thuyết vẽ lên hình ảnh của sự vật nh mộthoạ sĩ và đi trong tâm hồn của các con ngời mà diễn đạt những tình cảm vô hình
Trang 25nh một nhà thơ hoặc nh một nhạc sĩ Ngời viết tiểu thuyết điều khiển các nhânvật và cho các nhân vật va chạm với nhau nh một ngời viết kịch hoặc một đạodiễn điện ảnh: ngời viết tiểu thuyết kể lại các sự việc nh một phóng viên và tìmhiểu đánh giá sự việc nh một nhà bình luận Có thể nói trong tiểu thuyết có đủcác loại văn, và có cả các ngành nghệ thuật khác nữa” [63,141]
Theo Thanh Lãng: “Tiểu thuyết là một truyện tơng đối dài, bịa đặt do óc ởng tợng nhng đợc xác định theo những bức tranh phong tục là vì tác giả chủ tr-
t-ơng về một trạng thái có thực của cuôc sống loài ngời, đặt câu chuyện vào mộtkhung cảnh xã hội có những đờng nét, màu sắc quen thuộc” [63,306] Phan C
Đệ nói đến tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết sử thi
Nh vậy các ý kiến xung quanh cách hiểu về tiểu thuyết đã góp phần giúpchúng ta có cái nhìn khá đầy đủ hơn về tiểu thuyết Tuy nhiên cho đến nay,
định nghĩa về tiểu thuyết tơng đối chuẩn xác và thờng đợc nhiều ngời sử dụng là
định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ
lớn, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thờigian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của những cuộc đời, những bức tranhphong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiệnnhiều tính cách đa dạng” [15,268]
Dù vậy, qua những ý kiến trên khó có thể đa ra đợc một định nghĩa hoànchỉnh, đầy đủ về tiểu thuyết có thể bao quát mọi thực tế sáng tác
1.2.3.2 Vị trí tiểu thuyết Chu Lai trong tiến trình đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Văn học Việt Nam sau 1975 có sự đổi mới rõ nét trên nhiều phơng diện.Hành trình đổi mới của tiểu thuyết gắn liền với tiến trình vận động của văn họcdân tộc
Theo các nhà nghiên cứu, văn học Việt Nam hơn ba mơi năm qua đã điqua 3 chặng đờng, có sự tiếp nối không đứt đoạn: Từ 1975 đến 1985 là thời kỳchuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến; từ
Trang 261986 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX là thời kỳ văn học đổi mới sôi nổi,mạnh mẽ, gắn liền với chặng đầu của công cuộc đổi mới đất nớc; từ năm 1993
đến nay văn học trở lại với những quy luật bình thờng và hớng sự quan tâmnhiều hơn vào những cách tân nghệ thuật
Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trớc nhu cầu “đổi mới t duytiểu thuyết” Tiểu thuyết những năm tiền đổi mới (1975 - 1985) vẫn “trợt theoquán tính cũ” nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng,cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong t duy nghệ thuật của nhà văn Đềtài chiến tranh và những vấn đề thời sự - chính trị vẫn là mối quan tâm hàng đầucủa văn học và ngời viết vẫn trung thành với cách xử lí chất liệu nh giai đoạn tr-
ớc Tuy nhiên có một số tác phẩm đã mạnh dạn hơn khi chọn những thời điểmkhốc liệt, gay cấn của chiến tranh làm bối cảnh để khám phá tâm lý, tính cáchcon ngời: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang
Thuỵ), Năm 1975 họ đã sống nh thế (Nguyễn Trí Huân), Đất trắng (Nguyễn
Trọng Oánh), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi) Việc chọn bối cảnh
nh vậy giúp nhà văn khắc phục phần nào cái nhìn dễ dãi, giản đơn, có điều kiệnsoi chiếu hiện thực qua những hi sinh, mất mát và nhất là có thể khám phá sâuhơn những va đập của hoàn cảnh vào tâm lý con ngời Mỗi chiến công đều làkết quả của một quá trình nhận thức và lựa chọn không phải bao giờ cũng thanhthản, nhẹ nhõm
Trong thời kỳ này Chu Lai đến với độc giả qua một số tiểu thuyết nh
Nắng đồng bằng (1978), út Teng (1983), Gió không thổi từ biển (1984) Tiểu
thuyết Nắng đồng bằng đợc viết ngay sau những năm đầu hoà bình lập lại Tác
phẩm còn in đậm màu sắc sử thi, gam màu lãng mạn nhiều hơn cái trần trụi củachiến tranh Khi đó vốn sống còn tràn ngập và tơi nguyên cộng với niềm đam
mê của sức trẻ, Chu Lai viết cuốn tiểu thuyết đầu đời này chỉ trong vòng haitháng ở Đà Lạt, trớc khi vào Trờng Viết văn Nguyễn Du Trong tác phẩm cònrất rõ, rất mới dấu ấn của một nhà văn - ngời lính vừa từ chiến trờng ra Hơi văn,
Trang 27chất văn còn nguyên mùi thuốc súng Nhà văn Chu Lai đã bộc bạch: Nắng
đồng bằng tôi viết khi vừa mới ra khỏi cuộc chiến tranh nên cảm xúc còn tơi
xanh, vì thế còn thiếu đi mảng trần trụi mất mát Nhiều ngời cho rằng đây là tácphẩm hay nhất của Chu Lai, dù vậy ngay chính tác giả cũng cha đồng ý với
đánh giá này Tuy nhiên phải thừa nhận rằng chính cái mốc Nắng đồng bằng đã
khẳng định tài năng và phong cách tiểu thuyết Chu Lai sau này
Từ 1986 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX là giai đoạn văn học đổimới, tập trung vào mô tả hiện thực với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” Vănhọc phát triển mạnh khuynh hớng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phêphán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Đáp ứng nhu cầu nhìn thẳng vào sự thật,nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua và thói quen đã lỗi thời,trở thành vật cản trên bớc đờng phát triển của xã hội Tiểu thuyết Thời xa vắng
của Lê Lựu xuất hiện vào thời tiền đổi mới, góp phần khơi dòng cho khuynh ớng văn học này Tiếp đó là hàng loạt tiểu thuyết và truyện ngắn xuất hiện trongnhững năm cuối thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX nh: Bến không chồng (Dơng
h-Hớng), Đám cới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Bớc qua lời nguyền
(Tạ Duy Anh) Chiến tranh cũng đợc nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm của
nó đến tính cách và số phận con ngời Thân phận tình yêu của Bảo Ninh thể
hiện thấm thía nỗi buồn chiến tranh với những thế hệ phải trải qua cuộc chiến
ấy So với những tác phẩm văn học trớc đây, nhiệt tình phê phán của văn họcgiai đoạn này dữ dội hơn rất nhiều Đặc điểm nổi lên trong văn học là khuynhhớng đấu tranh phê phán xã hội, duyệt lại những sai lầm quá khứ, cái mà ngời tagọi là khuynh huớng văn học phơi bày và tố cáo Cố nhiên, cảm hứng phê pháncũng có lúc đẩy tới cực đoan, lệch lạc mà ngời viết bộc lộ một cái nhìn ảm đạm,hoài nghi, thiên lệch Quả thật sự xuất hiện cảm hứng sự thật là một tất yếu nh-
ng cũng là điều tất yếu mà văn học phải vợt qua để tìm đến những chiều sâumới Sự phơi bày kể lể không còn đủ nữa, đã đến lúc ngời đọc đòi hỏi một điều
Trang 28khác hơn Ngời ta chờ nhà văn, qua những vận động xã hội phức tạp đó, đa đếncho ngời ta những tổng kết nhân văn sâu sắc và lâu dài.
Từ cuối những năm 90 đến nay trong xu thế đi tới sự ổn định của xã hội,văn học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bình thờng, nhngkhông xa rời định hớng đổi mới đã hình thành từ giữa năm 80 Nếu nh trớc đó,
động lực thúc đẩy văn học đổi mới là nhu cầu đổi mới xã hội và khát vọng dânchủ- đó cũng chính là nội dung cốt lõi của văn học trong chặng đầu đổi mới, thìkhoảng 10 năm trở lại đây, văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới củachính nó, mặc dù vẫn không đi ra khỏi xu hớng dân chủ hoá Đây là lúc văn họctrở về với đời sống thờng nhật và vĩnh hằng, đồng thời có ý thức và nhu cầu đổimới về hình thức nghệ thuật, phơng thức thể hiện hơn bao giờ hết
Những thể nghiệm mạnh bạo trong cách tân tiểu thuyết cũng đợc nhiều tácgiả thực hiện qua tác phẩm của mình: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Hồ Quý Ly
(Nguyễn Xuân Khánh), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Cơ hội của Chúa
(Nguyễn Việt Hà), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Cõi ngời rung chuông tận thế (Hồ
Anh Thái)
Tiểu thuyết Chu Lai sau những năm đổi mới cũng đã có nhiều khởi sắc từ
đề tài đến cách thể hiện.Tuy nhiên phải thấy rằng, cùng với sự bức xúc xoayquanh vấn đề nổi cộm trong cuộc sống thời hậu chiến, Chu Lai đã cho ra mắtbạn đọc một loạt tiểu thuyết dài hơi tạo thành “dòng tiểu thuyết chiến tranh vàngời lính của Chu Lai” góp phần làm phong phú đời sống văn xuôi những năm
1990 với Sông xa (1986), Vòng tròn bội bạc (1987), Bãi bờ hoang lạnh (1990),
Đời im lặng (1993), Khúc bi tráng cuối cùng (2004) và gần đây nhất là tiểu
thuyết Chỉ còn một lần (2006) Đặc biệt bốn tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng
(1991), Phố (1992), Ba lần và một lần (1999), Cuộc đời dài lắm (2001) đã tạo
đợc tiếng vang lớn, giúp Chu Lai khẳng định đợc một vị trí xứng đáng trong đờisống văn học đơng đại
Trang 29Với hơn mời cuốn tiểu thuyết xoáy sâu vào một đề tài chủ lực là ngời línhthời bình, mối quan hệ đa chiều của họ với các lĩnh vực phức tạp của cuộc sốnghiện nay, Chu Lai là một trong những ngời ở vị trí hàng đầu trong dòng chảyvăn học Việt Nam đơng đại về đề tài ngời lính thời hậu chiến Hình nh cha cónhà văn Việt Nam nào viết nhiều tiểu thuyết chuyên một đề tài với số lợng lớn
nh Chu Lai Vẫn biết rằng chiến tranh và ngời lính là “một đề tài không cạnkiệt”, và số lợng tác phẩm không phải là yếu tố quyết định vị trí ngời cầm bút,nhng không phải Chu Lai không có những tác phẩm xuất sắc Mỗi tác giả thờngghi lại dấu ấn của mình qua những “đứa con tinh thần” Nhắc đến Lê Lựu, ngời
ta nhớ đến Thời xa vắng; nhắc đến Bảo Ninh, ngời ta nhớ đến Thân phận tình yêu; nhắc đến Nguyễn Khắc Trờng, ngời ta nhớ đến Mảnh đất lắm ngời nhiều
ma Và khi nói đến Chu Lai, không thể không nhắc đến Ăn mày dĩ vãng “ăn mày dĩ vãng đợc xem là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất của văn học
thời kỳ đổi mới Sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết này là tính bi kịch, sự chânthành của ngòi bút và một cảm xúc mãnh liệt của nhà văn khi tái hiện chiếntranh” [64,63] Các tiểu thuyết của Chu Lai tuy tập trung ở một đề tài, song,thông qua đó, rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống đợc khai thác và phản ánh khásâu sắc Với tiểu thuyết Cuộc đời dài lắm, nhà văn Chu Lai tâm sự: “Dữ dội
lắm, khốc liệt lắm, lần đầu tiên viết về đề tài kinh tế thời mở cửa nên phải lănmình vào thực tế để kiếm t liệu Làm giàu, tham nhũng, hối lộ báo chí nóinhiều nhng sa vào sẽ vớng lầy không thoát ra đợc Càng ngẫm càng thấy cái tên
Cuộc đời dài lắm là cả một sự trải nghiệm” [52].
Trong nghiệp viết của một nhà văn thờng có “những dấu son đỏ” nh lànhững cột mốc ghi nhận lộ trình sáng tạo của ngời đó Với Chu Lai, đó là Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba lần và một lần và Cuộc đời dài lắm. Tất cả những điều
này làm nên vị trí văn học của Chu Lai, một hiện tợng văn học khá nổi bật củanhững năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI Vì vậy theo chúng tôi, Chu Lai làmột nhà văn đã có phong cách tơng đối ổn định Hơn mời cuốn tiểu thuyết của
Trang 30ông cha phải là con số cuối cùng, tuy đã vào ngỡng “lục tuần” nhng xem ra ChuLai vẫn trờng sức, trờng vốn trong lĩnh vực tiểu thuyết.
Chơng 2 Phong cách tiểu thuyết Chu Lai nhìn từ
phơng diện nội dung
2.1 Những đề tài chủ yếu trong tiểu thuyết Chu Lai
Đề tài là khái niệm “chỉ các hiện tợng đợc miêu tả, phản ánh trực tiếptrong tác phẩm văn học”, là “phơng diện khách quan của nội dung trong tácphẩm” [15,10]
Tầm quan trọng của đề tài là ở chỗ, nếu cha nhận ra đề tài thì cha bớc vàotiếp nhận hình tợng Tuy nhiên, từ hiện tợng nghệ thuật sinh động nhận ra loạicon ngời và cách sống đợc phản ánh trong tác phẩm không phải là một việc giản
đơn Giới hạn của phạm vi đề tài có thể xác định rộng hẹp khác nhau Có baonhiêu loại hiện tợng đời sống thì có bấy nhiêu đề tài Đề tài tác phẩm văn họcchẳng những gắn với hiện thực khách quan mà còn do lập trờng t tởng và vốnsống nhà văn quy định Việc lựa chọn đề tài đã bớc đầu bộc lộ khuynh hớng và
ý đồ sáng tác của tác giả Thực tế cho thấy, trong hành trình sáng tạo của mình,mỗi nhà văn đều có một vùng đề tài a thích và chỉ có thể viết hấp dẫn về những
đề tài đó mà thôi Nh vậy, việc lựa chọn đề tài là một trong những yếu tố quantrọng trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn, nhng cha đủ; đề tài đó chỉ mới
Trang 31là nguồn t liệu, yếu tố quan trọng, điều cốt yếu hơn là thái độ và cách thức xử lý
đề tài, tức là cách chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống của mỗi nhà văn
Chu Lai là một nhà văn trởng thành trong khói đạn chiến tranh Chínhnhững năm tháng chiến đấu ở vùng ven Sài Gòn, với vốn sống và sự từng trải đãgóp phần làm nên tên tuổi Chu Lai với một số đề tài chủ yếu mà theo chính nhàvăn này “đó là những mảng đề tài ăn sâu vào tiềm thức và tâm linh, có lẽ đó lànghiệp chớng”
2.1.1 Đề tài chiến tranh
Có thể nói rằng đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam có độ dài ngangvới chính độ dài của lịch sử văn học dân tộc Nó là nguồn chủ lực, là nguồnmạch phong phú nhất, không bao giờ vơi cạn của văn học Việt Nam từ khi hìnhthành cho đến nay Trớc 1975, các nhà văn của chúng ta đã miêu tả chiến tranhvới thái độ trân trọng và lòng tự hào về mỗi chiến công trong kháng chiếnchống Pháp cũng nh trong kháng chiến chống Mĩ Trần Đăng với Một lần tới thủ đô đã có đợc bức phác họa đáng chú ý về ngời lính Về chiến thắng của
quân và dân ta trong chiến dịch Đông Xuân 1950 – 1951, Xung kích của
Nguyễn Đình Thi đã tái hiện hiện thực ngay trong không khí nóng bỏng củamặt trận Trung du Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai đã tái hiện lại chiến thắng
vang dội ở Điện Biên Phủ Bùi Đức ái với Một truyện chép ở bệnh viện kể về
chị T Hậu, một cô gái miền Nam nghèo đợc giác ngộ cách mạng Nguyễn MinhChâu với Dấu chân ngời lính cho độc giả thấy cuộc chiến đấu của hai thế hệ
cha con cùng một chiến hào ở chiến trờng Khe Sanh
Sau 1975, dòng văn học viết về chiến tranh giải phóng cha bao giờ đứt
đoạn trong mấy chục năm qua, đợc cổ vũ và thôi thúc bởi cuộc toàn thắng củadân tộc, tiếp tục nảy nở và đạt đợc những thành tựu mới Bởi vậy, hiện thựcchiến tranh vẫn đang là nguồn trữ lợng dồi dào cho khả năng khai thác của nhà
Trang 32văn Tuy nhiên, cách nhìn nhận về chiến tranh, về ngời lính không đơn giản mộtchiều nh trớc.
Quả thực chiến tranh đã lùi xa hơn ba mơi năm nhng dờng nh những ký ức
về cuộc chiến với những thắng lợi dội vang, những niềm vui chiến thắng và cảnhững mất mát hi sinh vẫn còn mãi trong tâm thức mỗi ngời dân Việt Nam, màtrớc hết là những con ngời đã từng vào sinh ra tử, trực tiếp chiến đấu trong mabom bão đạn Và Chu Lai là một trong số những con ngời đó Những năm thángbinh nghiệp là tiền đề, là cội rễ để sau này Chu Lai viết nên một loạt tiểu thuyết,
mà hầu nh tác phẩm nào cũng đề cập hoặc liên quan đến chiến tranh Có thểthấy rằng phần lớn tiểu thuyết Chu Lai viết về đề tài chiến tranh, nhng khôngchỉ có thế mà nhà văn quân đội này còn viết rất thành công Với hơn chục cuốntiểu thuyết trong lĩnh vực này, Chu Lai đã khắc họa một cách đậm nét số phậnngời lính từ thời chiến vắt qua thời bình Từ góc độ này, ông đã đặt ra nhiều vấn
đề mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Chẳng hạn nh vấn đề nhìn lại cuộc chiến,vấn đề đời sống tâm linh của những ngời một thời hiến dâng xơng máu cho Tổquốc…trong bối cảnh đất nớc đang trên đà phát triển Tiểu thuyết Chu Lai, đó lànhững tác phẩm chủ yếu viết sau chiến tranh nhng số phận ngời lính (kể cả ngờilính trong cuộc chiến và sau cuộc chiến) lại là vấn đề cối lõi Chu Lai với đồng
đội, với chiến trận, một sự gắn bó nh định mệnh Những năm tháng chiến tranhdài dặc, khốc liệt đã in đậm trong nếp nghĩ, trong tâm tởng và tình cảm của ChuLai, không dễ lãng quên Cái lãng mạn, hào sảng và nỗi trăn trở nhọc nhằn, cả
điều thiện lẫn điều ác của chiến tranh vẫn mãi mãi là cái nền, là giá đỡ tinh thầncho nhịp thở hôm nay Đề tài chiến tranh và ngời lính trong mỗi trang viết củaChu Lai đều đợc phản ánh với nhiều góc độ, nhiều gam màu khác nhau bằng cáinhìn thế sự
Trong văn học trớc kia, chiến tranh và ngời lính đợc bao bọc trong một vẻ
đẹp tuyệt đối thì bây giờ trong sáng tác của Chu Lai, “bầu không khí vô trùng”bao bọc lấy nhân vật bị phá vỡ, nhân vật hiện lên với tất cả sự thực trần trụi nh
Trang 33nó vốn có Song khi viết về mảng đề tài này, Chu Lai đã sớm ý thức đợc nhucầu đổi mới cho phù hợp với bạn đọc và bắt kịp bớc chuyển mình của lịch sử.
Ông đã nhanh chóng tìm đợc tiếng nói hòa nhập chung vào sự đổi mới của vănhọc Chu Lai cho rằng: “Chiến tranh là một siêu đề tài Càng khám phá càngthấy những độ rung không mòn nhẵn miễn là ngời viết biết tìm ra một lối điriêng”[25,24]
Viết về hiện thực chiến tranh nhng Chu Lai không hề sa vào chủ nghĩa tựnhiên khiến cho ngời đọc kinh sợ, cho dù chiến tranh là dữ dội nhng “nhữngcánh rừng bom đạn không phải bao giờ cũng chỉ là chết chóc, đau buồn Đànhrằng nó là giai điệu chủ đạo, song vẫn có một giai điệu thứ hai song song tồntại, lúc xen kẽ, lúc trồi lên, lúc lại lắng xuống mà không tan biến, mà nếu không
có nó thì cái giai điệu kia sẽ trở thành đơn lẻ và giả tạo” [34,97] Đó là giai điệucủa tình yêu, tình bạn, tình đồng chí Viết về chiến tranh với những mất và đợcthông qua đời sống, số phận con ngời, Chu Lai để cho nhân vật của mình ngậmngùi một chút rồi sau đó chính tình đồng đội, tình yêu làm cho ngời lính vơi đinỗi đau thơng do chiến tranh gây ra ở mỗi trang viết của mình, Chu Lai đềucho ngời đọc tìm thấy những cung bậc khác nhau trong tâm hồn con ngời từngtrải qua chiến tranh Nhà văn đã tớc bỏ những ánh hào quang văn chơng để sự
hi sinh và chiến công hiện ra trong ánh sáng đích thực của nó
Hiện thực chiến tranh đợc nhìn nhận và xem xét ở cả chiều sâu lẫn bề rộnggiúp cho ngời đọc thấy đợc những điều khuất lấp, vô lý của chiến tranh Đó lànơi con ngời ta phải chấp nhận những rủi ro, những cái chết vô lý nh Toàn(Nắng đồng bằng), Khiển, Bảo (Ăn mày dĩ vãng) Ngời lính ở ngoài mặt trận
không phải chỉ đối mặt với cái chết từ phía kẻ thù mà phải chịu biết bao tổn thấtkhông lờng trớc đợc do “tai nạn” chiến tranh đem lại Bằng lối viết chuyển độnglinh hoạt và dữ dội, Chu Lai đã chuyển đến cho ngời đọc cái cảm giác hồi hộp
đến “nóng mặt”, “lạnh lng” của ngời dự trận Trang viết của ông là sự hồi tởng
về hiện thực, quá khứ, thông qua sáng tạo nghệ thuật để chiêm nghiệm, suy
Trang 34nghĩ lại những gì đã trải qua Đó là lý giải về sự sống và cái chết, về thực trạng
đau thơng đang diễn ra trên chiến trờng Những day dứt, trăn trở về sự hi sinh,mất mát và những niềm vui hạnh phúc mà ngời lính có đợc trong chiến tranhluôn là chủ đề t tởng quán xuyến xuyên suốt sáng tác của ông
Tiểu thuyết Nắng đồng bằng đợc viết ngay những năm đầu hòa bình lặp
lại ở tác phẩm, gam màu lãng mạn nhiều hơn cái trần trụi của chiến tranh Tácgiả nh hiện thân vào Linh, nhân vật chính của truyện sau bao nhiêu tháng ngày
ở rừng, sau một cuộc hành quân rồi bị lạc đờng khá lâu, Linh vui sớng vì tìm lại
đợc đơn vị Anh tận hởng cái nắng đồng bằng một cách háo hức và đam mê
Đời lính là vậy, thiếu thốn đủ thứ, thiếu cả những thứ bất tận, bất cùng màkhông một ai phải có tiền để mua đó là không gian
Với t cách là ngời từng tham chiến, vốn sống ở chiến trờng đủ để Chu Laitái hiện hiện thực chiến tranh với tất cả hình thái đặc thù của nó Trong nhữngtrang tiểu thuyết, không ít lần Chu Lai nói lên suy nghĩ của mình “chiến tranh
là ngày nào cũng chôn nhau nhng cha đến lợt chôn mình” Một định nghĩa ngắngọn, giản dị, mộc mạc nhng nó giúp ngời đọc thấy khuôn mặt ghê sợ của chiếntranh, thấy cái giá mà dân tộc phải trả cho ngày chiến thắng, thống nhất đất nớc.Mời năm thanh xuân trên chiến trờng nhìn thấy cái chết nhiều hơn sự sống, ChuLai không chỉ có cơ hội quan sát mà còn sống đến tận cùng nỗi đau Chiếntranh không phải là “ngày hội lớn của dân tộc” mà là “một luật chơi tàn bạo”.Chiến trờng không phải là “mảnh đất bằng phẳng trồng toàn hoa” mà là nơi
“xác ngời sấp ngửa, xác muôn thú cháy thui” Không né tránh sự thật, nhữngmất mát đau thơng đợc nhà văn miêu tả đến cùng ở Ăn mày dĩ vãng, qua dòng
hồi tởng của nhân vật, ngời đọc cảm nhận đợc mặt trái của hiện thực chiếntranh: “Chiến tranh là cái mất này nối liền cái mất khác, sự thành bại khôngngớt đuổi theo nhau” [34,77] Trên chiến trờng mức độ khủng khiếp của chiếntranh gây ám ảnh cho ngời còn sống: “Hầu nh không một căn hầm nào không bị
Trang 35chà nát, không một thân cây nào không bị xích sắt nghiến gục Rừng đã biếnthành bãi trống… lần trong cái tan hoang tơi tả, ngập ngụa khói xanh, khóivàng… là những thân ngời cả bên này lẫn bên kia nằm ngồi hỗn độn, chồng đèlên nhau” [34,65] Qua các trang viết của Chu Lai, ngời đọc nhận thấy sinhmệnh con ngời thật nhỏ nhoi trong khói lửa của chiến tranh Cái chết khôngtránh chừa bất kỳ ai, dù ngời đó ở chiến tuyến nào Ngời lính ngoài chiến trờngphải đón nhận cái chết dới muôn nghìn dạng thái khác nhau Toàn trong Nắng
đồng bằng bị thơng nặng không muốn trở thành gánh nặng của đồng đội đã tự
tìm đến cái chết Cái chết đau thơng của Bảo lại do Tuấn xạ thủ B41 để cớp cò,cái chết ngớ ngẩn của Khiển là do bất cẩn khi đút trái đạn đã rút chốt vào túi áo(Ăn mày dĩ vãng) Bảo- cậu con trai mời chín tuổi trắng trẻo, xinh xắn nh con
gái đang mồ hôi mồ kê nhễ nhại chuẩn bị cho bữa cơm chiều, bỗng nhiên mộttiếng nổ vang lên dữ dội, khi Hai Hùng quay lại thì “Bảo đang nằm ngửa, đầungoẹo lên lng anh, mắt chỉ còn độc lòng trắng trợn ngợc, miệng sùi máu đangthở hắt ra Và ở phần bụng thật quái dị, có một vật thể gì đó dài và nhọn đang
đội xếch vạt áo của cậu ta lên, rung rung… Từ cái bụng toang hoác đỏ lòm củaBảo, cái chuôi đạn B41 xanh lè, dài gần hai gang tay đang lòi ra theo một góc
độ chênh chếch” [34,86] Cái miệng của Bảo “há ra ngáp ngáp để lộ cả hàmrăng nhuộm máu Máu đang phì bọt ở đờng mũi, máu ớt đẫm hai vạt áo, máuchảy loang xuống đùi, máu vọt cả vào bể nớc” [34,87] Chu Lai đã đề cập đếnvùng nhạy cảm, khuất lấp của hiện thực chiến tranh khi lý giải cái chết của Bảokhông phải là từ phía kẻ thù Bảo chết bởi ngời xạ thủ B41 để cớp cò, quả đạnkhông hủy diệt đơn vị nhng cái chuôi thon nhỏ của nó đã cắm phập vào bụnganh Tác giả đã phân tích nguyên nhân dẫn đến cái chết của Bảo bằng một cáinhìn khách quan trong một điểm nhìn nhân bản khi thủ phạm là Tuấn “Lần đầu
đợc phân công đảm trách cây hỏa lực hạng nặng thay cho Bảo bị sốt rét, khôngbiết táy máy thế nào cậu ta để cớp cò Cớp cò đối với bất cứ một loại vũ khí gìcũng có nghĩa là chết chóc, cớp cò B41 lại khủng khiếp gấp ngàn lần hơn” [34,
Trang 3687] Qua Ăn mày dĩ vãng, độc giả thấy nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh liên quan
đến đề tài chiến tranh Phải thừa nhận rằng tác phẩm này đánh dấu tài năng củaChu Lai khi viết về đề tài chiến tranh Chiến tranh, qua Ăn mày dĩ vãng, có
những chiến công có những niềm vui nhng cũng chứa đầy nỗi buồn, sự mất mát
hi sinh Đây là một cái nhìn hiện thực toàn diện, chủ động, không cắt xén tô vẽ.Tất cả đều đợc thể hiện một cách trực diện không né tránh Mời lăm năm saukhi Nắng đồng bằng ra đời, Chu Lai xuất bản Ăn mày dĩ vãng Nếu Nắng đồng bằng trớc đó gam màu lãng mạn nhiều hơn cái trần trụi của chiến tranh (tất
nhiên cái lãng mạn ấy là sự lãng mạn xuất phát từ thực tế) thì đến Ăn mày dĩ vãng, cuộc chiến đợc soi ngắm qua nhiều góc độ khác nhau ở đó sự sống và
cái chết luôn cận kề trong gang tấc Chiến tranh không phải một trò đùa nhng
sự khốc liệt của nó là có thật; mỗi ngời phải gồng mình lên để chịu những thửthách Chiến tranh đối với bất cứ dân tộc nào cũng là điều bất đắc dĩ, chiếntranh không chỉ có cái hùng mà còn có cả những cái bi Sự cảm nhận về chiếntranh nh một hiện thực đầy rẫy những bi kịch đợc các nhà văn phản ánh khá rõnét
Bằng cách riêng của mình, Chu Lai đã phơi bày một thực trạng về sự hủyhoại con ngời Vẫn là hình ảnh của lớp lớp ngời lên đờng chiến đấu để giành lấyhòa bình, nhng không còn cái không khí hào hùng rộn ràng đã có trong tiểuthuyết trớc 1975 mà có cái gì đó thật ngậm ngùi buồn đau đôi khi còn là sự xót
xa chua chát Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng tâm sự: “Còn đơn vị tôi, không
biết đã bị xóa phiên hiệu đi, xóa phiên hiệu lại đến lần thứ mấy nữa Bi kịch đợclập đi lập lại nhiều lần nó cũng trở thành nhàm, thậm chí trở thành hài kịch SauHiệp định Pari, thực sự những kẻ cầm súng trực tiếp nh chúng tôi sống trongmàn bi hài kịch đẫm máu Mỗi lần bị xóa là mỗi lần mấy đứa còn lại lủi thủitheo giao liên ngợc lên rừng già nhận thêm quân ở ngoài kia mới vào Có quân
là có việc làm có mục tiêu để nổ súng và để lại tiếp tục ngã xuống, ngã xuống
đến ngời chót cùng” [34,170] Trong Ba lần và một lần nói đến cái chết nhiều
Trang 37lúc do sự vô trách nhiệm, tính nhu nhợc vị kỷ của ngời chỉ huy, Năm Thành vìnóng vội và vì một chút kiêu hãnh, tự phụ cá nhân đã quyết định tung cả đại độivào một trận đánh mà cha trinh sát cụ thể sơ đồ đóng quân của kẻ thù khiến cho
ba chục con ngời “chỉ sau một đêm ngủ dậy, bỗng dng chẳng còn ai nữa” [35,53]
Không hề né tránh sự thực, luôn miêu tả đến tận cùng sự mất mát hi sinh,Chu Lai cho chúng ta thấy cái mà chúng ta phải trả cho mỗi chiến công, chotừng tấc đất là máu và nớc mắt: “Cứ tới mùa khô, mùa đốt rừng tận diệt của bọn
nó, chúng tôi lại một lần “trắng tay”…Mảnh đất thật khắc nghiệt và cũng thậtthân yêu đã nhận vào lòng nó bao chiến sĩ vô danh” [35, 66]
ở ăn mày dĩ vãng, Viên cùng đồng đội đột nhập ấp chiến lợc để lấy đồ
tiếp tế cho đơn vị Trên đờng trở về, vào lúc ít ngờ nhất thì cả đoàn bị đánh úp
“Viên bị mìn Clây mo hất văng vào bụi chuối… mình mẩy nát tơm” [34,41].Thật xót xa bởi cái giá đồng đội anh phải trả là “mời chín bồng gạo đổi lấy mộtmạng ngời mời chín tuổi” Nhng trong những cánh rừng và trên những dòngsông thời chiến còn có biết bao cái chết hoàn toàn vô nghĩa khác mà đành phảichịu
Hiện thực chiến tranh hiện lên có cả những điều phi lý mà bình thờngkhông ai ngờ đợc Ví nh cảnh Chiến trong Vòng tròn bội bạc chứng kiến trung
đoàn trởng của mình bị thơng nặng ở hai chân rồi bị Huấn- chiến sĩ cùng trung
đoàn bắn chết Dù rất kinh hoàng nhng Chiến vẫn im lặng cho đến gần mời nămsau anh mới kể cho đồng đội nghe câu chuyện khủng khiếp đó
Tuy đứng giữa cơn lốc chiến tranh, từng chịu đựng những dữ dội khốc liệtcủa nó, ngòi bút Chu Lai dấn sâu đến tận cùng hiện thực chiến tranh, tái hiện lạikhuôn mặt chiến tranh đúng nh nó vốn có, nh “đang cựa quậy, ngổn ngang, trầntrụi [7] Cuộc sống chiến tranh không phải là tấm gơng phản chiếu bằng phẳng
mà có những khoảng lồi lõm, trồi sụt, có cả những mặt khuất lấp, những cảnhngộ đáng thơng tâm
Trang 38Đọc Vòng tròn bội bạc, chúng ta có thể nhận thấy “chiến tranh có thể làm
cho nhân cách con ngời tốt đẹp hơn, cũng có thể làm cho nhân cách con ngờixấu xa hơn; xuất phát điểm của những trạng thái ấy là quan niệm sống, là lẽsống, là lý tởng” [28,107] Bốn ngời lính cùng đơn vị trải qua bao gian khổ, ácliệt của chiến tranh còn sống sót trở về nhng rồi số phận đun đẩy mỗi ngời cómột cuộc sống khác nhau
Có thể thấy rằng sự thật về chiến tranh hôm nay đợc nhìn lại là một sự thật
đã trải qua những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà văn Chu Lai,hơn thế nó thực sự là những nếm trải của ngời “chịu trận”, ngời trong cuộc.Chính bởi vì thế mà tiểu thuyết Chu Lai gợi lên nhiều vấn đề đáng quan tâmtrên đề tài chiến tranh với ý nghĩa nh đề tài lịch sử, nó xuyên suốt các chặng đ-ờng sáng tác của ông Trong chiến tranh, mặt tốt, mặt xấu, kể cả những góckhuất khó nhận biết nhất vẫn đợc Chu Lai viết với những điều sâu sắc, chânthực nhất Và cũng nh chính Chu Lai tâm niệm: “Hễ động đến chiến tranh vàngời lính là động đến những tình cảm sâu xa mang tính trầm tích của xã hội”[53] Vì vậy đối với nhà văn, chiến tranh với tất cả chất nhân bản muôn đời của
nó đã và sẽ là cảm hứng chủ đạo trong sáng tác Chu Lai
Điều này không riêng gì Chu Lai, Trung Trung Đỉnh cũng là một nhà văn
có nhiều vốn sống về chiến tranh và Tây Nguyên, đặc biệt là cuộc chiến tranh
du kích mà nhà văn từng là ngời trong cuộc Bùi Bình Thi, tác giả của Hành lang phía Đông mặc dù không phải là ngời lính nhng đã có nhiều năm lặn lội
với chiến trờng Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trí Huân, Trần HuyQuang cũng không nằm ngoài hai trờng hợp trên Bởi thế chiến tranh hiện diệntrong tác phẩm của họ không chỉ là sự kiện, những biến cố lịch sử mà còn là sốphận con ngời
2.1.2 Đề tài xây dựng kinh tế thời mở cửa
Với Chu Lai đề tài chiến tranh là chủ yếu, là “máu thịt”, là mạch nguồntrong các sáng tác của ông Nhng đó cha phải là tất cả Bên cạnh ngòi bút lâu
Trang 39nay hay viết về chiến tranh và đợc xem là sở trờng của Chu Lai thì ở ông cũng
có một đề tài khá thành công và gây đợc sự chú ý cho độc giả: đề tài xây dựng kinh tế thời mở cửa.
Thực vậy, sau đổi mới, đất nớc đã có nhiều thay đổi Cuộc sống thời bìnhngày càng thay da đổi thịt, nền kinh tế mở với cơ chế thị trờng đã tác độngkhông nhỏ đến đời sống con ngời Và có một hiện thực phải đợc thừa nhận,kinh tế đã phát triển hơn trớc, các mối quan hệ xã hội cũng đợc mở rộng Nhngcũng chính từ đây cơ chế thị trờng đã làm đảo lộn nhiều giá trị Cái mới, cái cũ,hiện đại và truyền thống đan xen… tất cả không còn rạch ròi nh trớc Có thể nóiChu Lai đã dũng cảm khi chọn một đề tài rất “hóc” là vấn đề đổi mới cơ chế thịtrờng Với đề tài này, cha nói đến nội dung, chỉ nói riêng việc đủ vốn sống, lòng
đam mê, sự nhiệt tình đã khiến nhiều ngời cảm phục Và thành công nhất ởmảng đề tài này chính là Cuộc đời dài lắm Tuy nhiên trớc đó, chúng ta cũng
đã có dịp tìm hiểu một số tác phẩm đề cập đến vấn đề “hóc búa” này, dù ít, dùnhiều nh: Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần, Phố, và kể cả cuốn tiểu thuyết
gần đây nhất Chỉ còn một lần Với Chu Lai, hiện thực đợc phản ánh trong tác
phẩm là một hiện thực đa chiều mà nhà văn khám phá, nghiền ngẫm Tiểuthuyết Chu Lai đã đào xới vào biết bao vấn đề phức tạp của hiện thực, phản ánhmột bức tranh rộng lớn của đời sống nhân sinh thế sự ở thời bình- thời kỳ “hậuchiến tranh”
Những nhân vật của Chu Lai, mà chủ yếu là những ngời lính trở về sauchiến tranh, họ mang trên mình những thơng tích, những bệnh tật từ rừng về,giờ đây họ lại đảm nhận những công việc mới, những chức vụ mới Tuy nhiên
đó là công việc không phải dễ dàng, không phải quen thuộc nh những ngày cònchiến tranh, sống với rừng Không phải ngẫu nhiên Chu Lai cho rằng: “Nhữngngời lính đi từ trong rừng ra lúc còn nhuốm màu khói súng, họ chỉ thạo có mộtnghề là đánh giặc, không ai trong số họ chuẩn bị cho mình hành trang cần thiết
để bớc vào cuộc sống đời thờng nên họ va đâu vỡ đấy” Sống giữa hòa bình,
Trang 40giữa cơ chế thị trờng, họ luôn cảm thấy mình “bị bắn ra khỏi lề đờng, bị mắckẹt lại trên cõi đời” này.Trở về với đời thờng, không ít ngời lính của Chu Laingỡ ngàng, và gặp phải những bi kịch Phải chăng cuộc sống đời thờng sauchiến tranh với nhiều điều xoay quanh hạnh phúc gia đình với những cơm áogạo tiền của hiện thực mới khiến nhiều nhân vật của Chu Lai sống khó khăn.Trong bức tranh của những ngày đất nớc chuyển mình từ cơ chế bao cấp sangcơ chế thị trờng, tiểu thuyết Chu Lai còn xoáy vào một hiện thực đau lòng khác.
Đó là nhiều ngời trí thức, nhiều ngời lính trở về phải kiếm kế sinh nhai nhọcnhằn vất vả Trong Phố là vị tớng đã nghỉ hu bán cà phê, bà giáo s Đại học Pháp
lý bán nớc, Thảo phải đi lao động ở nớc ngoài, vợ chồng Lãm phải làm đủ thứnghề
Phố là tiểu thuyết về cơn lốc chuyển mình của một dân tộc, sự chuyển
mình ấy có chiều thuận và chiều nghịch Chu Lai chú ý nhiều hơn đến nhữngnghịch cảnh oái ăm mà trong đó ngời lính là chủ thể của sự việc Chu Lai đãquan sát và miêu tả tỉ mỉ sự cựa quậy của phố lính nói riêng và của đất nớc nóichung Trớc đây phố nhà binh trầm t, tĩnh lặng Vậy mà hôm nay, “sau vài đêmhối hả, đục tờng, trổ cửa, nới mái… phắp một cái, các căn hộ đã bắt đầu rùngrùng chuyển động, ngỡ ngàng quay mặt lại với cuộc đời… Các cửa hàng, các ki
ốt thấp cao, to nhỏ lác đác ra đời, cho dù mới chỉ ở dạng hình hài Tiệm mỹphẩm bên cạnh tiệm uốn sấy tóc, quầy dép da nằm đối diện hiệu photocopy, rồicửa hàng điện lạnh, cửa hàng cho thuê ghi băng hình video, rồi cà phê, bún phở,
xe đạp, xe máy, đồng hồ và giữa phố hình nh bắt đầu xuất hiện vài cái đại diệnsang trọng của cơ quan giao dịch của Mex này, Tex kia ” [24, 10 –11]
Gia đình Nam- Thảo trong Phố là một gia đình hạnh phúc, êm ấm nhng
rồi cuộc sống đời thờng với những lo toan, tính toán để cuối cùng gia đình ấytan vỡ Nam là ngời tốt bụng, hiền lành, đơn giản, tự cho phép mình đứng ngoàinhững biến động của cuộc sống; vì thế anh dần dần trở nên xa lạ, lạc lõng vớichính ngời vợ của mình Nam không quen với sự phức tạp của cuộc sống, khó