1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người lính trở về sau chiến tranh trong tiểu thuyết của chu lai

108 856 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người lính trở về sau chiến tranh trong tiểu thuyết của Chu Lai
Tác giả Chu Lai
Trường học Trường Đại Học
Thể loại tiểu thuyết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 415,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với hơn chục cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh, trong đó số phận ngờilính đợc khắc họa trên nhiều phơng diện, Chu Lai thực sự là một hiện tợng vănhọc nổi bật về đề tài ngời lính trong

Trang 1

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Năm 1975, sau Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nớc ta đợc hoàntoàn giải phóng, chiến tranh kết thúc Nhng cũng từ mốc son chói lọi này, ViệtNam bắt đầu bớc sang một trang sử mới, bắt đầu một hiện thực mới Sau sựchoáng ngợp của ánh hào quang chiến thắng là biết bao sự bộn bề của đời sốngcần đợc giải quyết: làm lành dần những vết thơng chiến tranh, xây dựng một thểchế Việt Nam mới, khắc phục dần hậu quả chiến tranh Trong muôn ngàn côngviệc bề bộn, phức tạp và cấp bách ấy có vấn đề về những ngời lính, những ngờitham gia kháng chiến trên các lĩnh vực khác nhau, ngời lành lặn, ngời “để lại mộtphần thân thể/ Gửi cùng hoa lá cỏ cây” (Chính Hữu) Ngời còn cha đến nỗi già,ngời để lại gần nh toàn bộ tuổi thanh xuân nơi chiến trờng Điều này là một thực

tế không thể tránh khỏi bởi, để chiến đấu và chiến thắng một kẻ thù nh đế quốc

Mỹ và các thể chế tay sai của chúng, dân tộc ta đã phải huy động toàn bộ sức ngờisức của ra chiến trờng Nói nh Phạm Tiến Duật:

“Đi giữa Trờng Sơn Câu hỏi lớn nh lá rừng thổi mãi

Rằng dân tộc ta trong những năm tháng ấy

Đa lên rừng mấy chục vạn ngời con ”

Đó là cha kể hàng chục vạn chiến sĩ ở các chiến trờng khác trên khắp miềnNam Họ đã ra đi không tiếc máu xơng vì lẽ tồn vong của dân tộc Nay sự nghiệpgiải phóng dân tộc đã hoàn thành, một bộ phận lớn trong họ đã đợc trở về quê h-

ơng xứ sở Nhng xong giặc rồi, làm gì đây? Bao nhiêu năm ở chiến trờng chỉ cómột “nghề” chủ yếu là cầm súng đánh giặc, giờ đây tuổi đã nhiều, sức gần cạn,tay không có một nghề tinh thông, lại việc ít ngời đông, cha kể sau chiến tranh,bớc vào đời sống hoà bình, cuộc sống không còn vẹn nguyên đơn giản nh trớcnữa bởi đã có rất nhiều sự thay đổi của bậc thang giá trị Số phận những ngời línhnày sẽ ra sao?

Rõ ràng là chúng ta đang đối diện với một hiện thực mới không kém phầnphức tạp và khốc liệt so với hiện thực chiến tranh và vẫn là sự xoay quanh sốphận ngời lính

1.2 Trớc những chuyển biến ấy của đất nớc, văn học Việt Nam đứng trớcmột tình thế mới đầy thử thách mà điểm mấu chốt là hiện thực hôm nay mới mẻhơn, nhiều chiều hơn, không giống với hiện thực ba mơi năm qua mà các nhà văntừng quen phản ánh Hiện thực ấy đòi hỏi các nhà văn phải có sự tìm tòi đổi mớicảm hứng sáng tác của mình Đã có ngời chững lại khi cha tìm ra cho mình mộtmảnh đất mới, có ngời tự cho mình nh “con tằm đã nhả hết tơ cho một thời đãqua khó lòng mang đến cho đời những dòng tơ mới óng ả hơn” [52, 249] Lại cónhững ngời muốn viết mà không nhấc nổi ngọn bút của mình bởi họ tởng rằng lốiviết miêu tả hiện thực hào hùng của cuộc kháng chiến dờng nh không còn phùhợp nữa

Vậy mà, trớc cuộc sống bộn bề ấy đã có những ngời tự tìm cho mình mộtnguồn mạch mới, phản ánh những vấn đề tởng nh quá đỗi bình thờng của cuộc

Trang 2

sống hôm nay bằng một cái nhìn mới Họ cũng viết về chiến tranh nhng khôngphải chỉ để chiêm ngỡng, ngợi ca những thắng lợi vĩ đại, những chiến công hàohùng mà điều quan trọng là để tìm ra những vấn đề sâu xa nhất của đời sống conngời trong mối quan hệ phức tạp, không bình thờng của bản thân đời sống ấy Đó

là quan hệ giữa chiến tranh và số phận con ngời sau chiến tranh mà cụ thể hơn là

số phận của ngời lính Đã có những tác phẩm khẳng định đợc chỗ đứng của mình

trong lòng độc giả: Hai ngời trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn của chiến tranh (Bảo

Ninh), Trong số đó, Chu Lai không phải là ngời mở đầu nhng ông là một trong

số rất ít ngời viết tập trung nhất trong mảng đề tài này

1.3 Chu Lai tuy là một tác giả mới nhng để lại rất nhiều ấn tợng nơi ngời

đọc về những thành công trong sáng tác, nhất là mảng đề tài ngời lính Ông cũng

là ngời quan tâm nhiều nhất đến số phận ngời lính trở về sau chiến tranh qua cáctác phẩm của mình Trong quá trình sáng tác, Chu Lai đã thành công qua nhiềuthể loại nh truyện ngắn, kịch bản sân khấu, kịch bản phim nhng tiểu thuyết làthể loại mà Chu Lai gặt hái đợc nhiều thành tựu nhất và tên tuổi của ông cũng đ-

ợc khẳng định ở thể loại này Là ngời lính từng tham gia chiến đấu, với một bềdày thực tế phong phú và sự chiêm nghiệm từ hiện thực chiến tranh, Chu Laikhông bằng lòng với những gì đã có Với ông, chiến tranh không chỉ là chuyệnsống và chết mà cao hơn đó là giá trị nhân văn, giá trị hiện thực trong cuộc chiến.Những năm tháng chiến tranh vinh quang, hào hùng của dân tộc mà biểu tợngcao nhất của niềm tự hào dân tộc là hình ảnh ngời lính Nhng đâu đó, lẩn khuấttrong cuộc đời, đã xuất hiện nhiều giá trị thiêng liêng đang nguy cơ bị bào mòn,mai một trong cơ chế kinh tế thị trờng của cuộc sống hiện đại Chu Lai, bằng sựnhạy cảm của một tài năng văn học, bằng sự trải nghiệm của ngời lính trở về sauchiến tranh, hoà chung vào tinh thần đổi mới văn học sau 1975 đã phát hiện ravấn đề Ông đã làm mới chính mình để tạo một phong cách riêng độc đáo, sắcsảo khi viết về hình tợng ngời lính trở về sau chiến tranh

Với hơn chục cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh, trong đó số phận ngờilính đợc khắc họa trên nhiều phơng diện, Chu Lai thực sự là một hiện tợng vănhọc nổi bật về đề tài ngời lính trong và sau chiến tranh Trong đó, cái nhìn vềhiện thực đợc nhà văn khai thác ở chiều sâu mới phức tạp hơn, từ điểm nhìn sửthi chuyển sang điểm nhìn thế sự đời t, nhiều vấn đề mới đợc phát hiện và đề cập.Giá trị nhân văn sâu sắc đợc đặt ra đã tạo nên làn sóng tranh luận, đối thoại kháphức tạp trong d luận bạn đọc Những cuốn tiểu thuyết đạt giải cao của Chu Lai

nh một minh chứng thành công cho sự lao động sáng tạo nghệ thuật không mệtmỏi của ông

1.4 Trong cuộc sống hôm nay, do sự tác động nhiều mặt của đời sống,nhiều thế hệ bạn trẻ cha hiểu hết ý nghĩa giá trị của cuộc kháng chiến vĩ đại củadân tộc Họ vô tình không hiểu đợc sự đóng góp lớn lao của những ngời cầmsúng một thời, chính vì vậy, thái độ trân trọng, nâng niu quá khứ cha đợc xuấthiện rõ ràng nh một lời tri ân

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ đem đến những giá trị tinhthần lớn “Uống nớc nhớ nguồn” để cho cuộc sống hôm nay tốt đẹp hơn Đó là

Trang 3

những lý do khiến chúng tôi chọn đề tài Ngời lính trở về sau chiến tranh trong tiểu thuyết của Chu Lai.

2 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tợng:

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là: Ngời lính trở về sau chiến tranh trongtiểu thuyết của Chu Lai

2.2 Phạm vi:

Đề tài ngời lính rộng lớn, phong phú; luận văn xác định giới hạn nghiên cứu

là tìm hiểu số phận ngời lính trở về sau chiến tranh trong bảy cuốn tiểu thuyết

của Chu Lai, bao gồm: Ba lần và một lần, Vòng tròn bội bạc, Sông xa, Gió không thổi từ biển, Bãi bờ hoang lạnh, Phố, Cuộc đời dài lắm.

Ngoài ra, để làm rõ thêm vấn đề, luận văn khảo sát thêm các tác phẩm của

các nhà văn Việt Nam khác, nh: Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn của chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dơng Hớng)

3 ý nghĩa của đề tài

3.1 ý nghĩa khoa học:

Luận văn nhằm làm rõ những nét đặc sắc trong việc xây dựng nhân vật ngờilính trở về hậu phơng sau chiến tranh trong sáng tác văn học Qua đó, nhằm giúpcho ngời đọc có cái nhìn đối chiếu về hình tợng ngời lính cùng số phận trong tiểuthuyết Chu Lai với sáng tác của các nhà văn khác

3.2 ý nghĩa thực tiễn:

Giúp bản thân trong việc khám phá, cảm thụ sâu sắc hơn về một mảng vănhọc, một tác giả mà tất cả các tác phẩm của ông chỉ viết về một hình tợng duynhất là ngời lính Đồng thời qua đó thấy đợc một hiện tợng xã hội đáng quan tâmcủa không chỉ là số phận ngời lính sau chiến tranh

về số phận ngời lính trở về sau chiến tranh và những công trình liên quan đếnsáng tác của Chu Lai

Trang 4

5.1 Những công trình viết về số phận ngời lính trở về sau chiến tranh

Ngời chiến sĩ với những chiến công hiển hách trong chiến tranh trở về hậuphơng, mỗi ngời có một số phận riêng, một đời sống riêng không ai giống ai Bởivậy, mối quan hệ của họ với xã hội bị thay đổi cũng nh quan hệ giữa những ngời

lính với nhau không còn nh trớc nữa Điều này Bùi Việt Thắng trong bài viết Sao

đổi ngôi - một cách tiếp cận mới hiện thực chiến tranh đã lý giải: “Trong hành

trang của ngời lính hôm nay hơi nhiều những t trang, những hiện vật phục vụcuộc sống riêng tây Con mắt của đồng đội nhìn nhau có khác đi khi ba lô củabạn to hơn và đợc giữ gìn hơn Vì thế mà có sự ngộ nhận đố kỵ giữa những ngờihôm qua hiểu nhau đến tận chân tơ kẽ tóc” [70, 288]

Cũng xoay quanh tác phẩm Sao đổi ngôi của Chu Văn, Trần Cơng đã khẳng

định đợc phẩm chất của ngời lính: ngời lính tiếp tục đối diện với cuộc đời dù làtrớ trêu, nghiệt ngã thì họ vẫn giữ đợc phẩm chất của mình nh ánh sáng củanhững vì sao lấp lánh Trần Cơng còn chỉ rõ cuộc đời mà ngời lính phải đối diệnchính là cuộc sống của những tính toán vụn vặt, bon chen Con ngời chịu sự chiphối của sức mạnh đồng tiền và địa vị trong xã hội

Chiến tranh giờ đây chỉ còn là những âm vang dội về trong sâu thẳm ký ứccủa những ngời lính cũng nh trong suy nghĩ của các thế hệ sau chiến tranh trên

nền cuộc sống khác Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong bài viết Chiến tranh đi qua tình ngời ở lại (Văn nghệ quân đội, số 12) vẫn giữ đợc cái nhìn đẹp đẽ về

hình tợng ngời lính sau chiến tranh Ông cho rằng: “Số phận may rủi của ngờilính có khác nhau, nhng hình ảnh của họ vẫn là trung tâm chói sáng và trở thàngtiêu mẫu của con ngời đẹp nhất, để lại trong lòng ngời nỗi xót xa, thông cảm vàlòng biết ơn vô hạn” [25, 94] Cả một thế hệ anh hùng bớc ra từ cuộc chiến vớibiết bao hy sinh gian khổ, mang trên mình đầy thơng tật, với những biến đổi vềhình dạng nhng khi trở về cuộc sống thờng nhật họ vẫn “tiếp tục sống với bảnchất trong sáng và những giá trị tinh thần không thể nào khác đợc” [25, 14].Song song với những ý kiến khẳng định phẩm chất của ngời lính còn cónhững bài viết đề cập đến một số đặc tính khác mà có thể coi là “con ng ời phản

kháng” ở họ Chẳng hạn, ý kiến của Nguyễn Văn Lu về tiểu thuyết Sao đổi ngôi

của Chu Văn: “Bên cạnh những phẩm chất tốt, đẹp, các chiến sĩ hiện lên nh lànhững con ngời ngang ngạnh, bất cần, ngạo mạn, đa sát, hiếu chiến, thích đậpphá” [45,30]

Hình tợng ngời lính chính là một khía cạnh của vấn đề con ngời sau chiến

tranh Nguyễn Thị Bình trong công trình Mấy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt Nam sau 1975 cho rằng: “Nhân vật sau 1975 dần trút bỏ bộ cánh xã hội trở

về với những mối quan hệ nhiều chiều nh nó vốn có ( ) nhân vật có cấu trúcnhân cách phức tạp, không thể phân tuyến một cách rạch ròi” [7, 244] Điều này

cũng đã đợc Khuất Quang Thuỵ trong bài Không phải là vấn đề đề tài đợc đăng trên Văn nghệ Quân đội số 10/ 2004 khẳng định: “Ngời lính hôm nay hay hôm

qua, trong chiến tranh hay trong hoà bình thì cũng chỉ là con ngời trong môi ờng mới mà thôi Vậy thì viết về ngời lính hôm nay cũng chính là viết về nhữngcon ngời trong môi trờng sống hôm nay mà thôi” [64, 102 - 104]

Trang 5

tr-Khi đề cập đến vấn đề Viết về ngời chiến sĩ hôm nay (Văn nghệ Quân đội số

601/2004) Tác giả Hồ Phơng tâm sự: “Viết về ngời chiến sĩ hôm nay nh thế nào

để có những tác phẩm mang chất lợng t tởng - nghệ thuật cao, thật sự đang là mộtcâu hỏi quan thiết đặt ra trớc chúng ta” [55, 98] Hồ Phơng cũng thừa nhận rằng

đây là mảng đề tài khó Tán đồng quan niệm này, Sơng Nguyệt Minh khẳng định

ngay trong tên công trình của mình: Văn xuôi viết về ngời lính hôm nay - một thách đố nhà văn Tác giả không ngần ngại nhận xét rằng: “Ngời lính thời bình

vắng thiếu mờ nhạt” , “các tác phẩm của chúng ta đã viết về ngời lính hôm nay

đều yếu phần truyện, nếu không dàn trải, kể lể thì cũng khiên cỡng, áp đặt” [48,106] Bài viết còn cho thấy hầu hết các nhà văn khi chạm đến vấn đề này thì cũng

đều lúng túng hoặc cũng có một số tác phẩm lôi cuốn đợc ngời đọc nhng đó lại là

do “cái giọng nhà văn thạo nghề”!

Có thể nói công trình của Sơng Nguyệt Minh tuy dù khá khắt khe trong việcghi nhận thành công của văn học sau 1975 viết về ngời lính song qua đó cũngthấy đợc mối quan tâm của tác giả tới mảng đề tài này

Để bác bỏ một số ý kiến cho rằng hình nh nhà văn thời nay (kể cả biên chếtrong quân đội hay ngoài quân đội) không “thuộc” lính bằng nhà văn lớp trớc,Phạm Quang Đẩu lý giải: “Ngời lính thời bình đã “lẩn” vào nhiều gơng mặt khác,

có thể là ngời lính đang tại ngũ, nhng phần nhiều vẫn là ngời lính đã chuyểnngành hoặc phục viên về với đời thờng” [15, 111]

Đề cập đến số phận ngời lính, tác giả Nguyễn Hơng Giang trong Ngời lính hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới [54] viết: “Tiểu thuyết thời

kỳ đổi mới tập trung khai thác và tô đậm số phận ngời lính trong và sau chiếntranh Trong tiểu thuyết giai đoạn này, nhân vật ngời lính đợc đặt ra với t cáchcon ngời cá thể, với tất cả các quan hệ chung với xã hội ”

Cùng quan điểm trên, nhng tác giả Tôn Phơng Lan có những nhận xét cụ

thể hơn, sâu sắc hơn qua bài viết Ngời lính trong văn xuôi viết về chiến tranh của những nhà văn cầm súng: “Sau chiến tranh nhất là những năm gần đây, văn xuôi

viết về chiến tranh không đơn thuần chỉ lấy ngời lính làm nhân vật trung tâm.Ngời lính trong văn học thời kỳ này đợc thể hiện nhiều trong hình ảnh ngời trở về

và bớc vào cuộc chiến đấu mới tơng đối đơn thơng độc mã trong việc duy trìcuộc sống bình thờng cho cá nhân, cho gia đình, cho xã hội” [38]

Tác giả Huỳnh Nh Phơng trong bài viết Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa nền văn hóa đa ra ý kiến: “Nở rộ trong văn xuôi những năm 1980 là

những tác phẩm viết về sự mu cầu hạnh phúc cá nhân và nỗi khát khao tình yêu

đôi lứa các nhà văn không đặt vấn đề phải hi sinh hạnh phúc cá nhân cho sựnghiệp lớn lao mà đặt vấn đề: Khi xây dựng sự nghiệp lớn lao kia, không đợc

bỏ quên hạnh phúc cá nhân, cả trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội, lẫn tráchnhiệm của xã hội đối với số phận và hạnh phúc cá nhân” Tác giả quan niệm:

“Dấu hiệu chủ yếu của việc dân chủ hóa nền văn học là sự dân chủ hóa trongquan niệm về con ngời, trong cách nhìn nhận con ngời bình thờng” và cái nhàvăn quan tâm là “cốt cách tâm lý, thế giới bên trong, những động cơ tiềm ẩn cùngnhững phản ứng trớc những biến đổi thời thế ” trong đó “ý hớng đi vào thế giới

Trang 6

nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con ngời đíchthực là ý hớng có triển vọng của một nền văn học dân chủ” [54].

Nguyễn Văn Long trong bài viết Văn xuôi sau 1975 viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ xác định: “Bên cạnh yêu cầu tái hiện hiện thực chiến tranh, thể

hiện ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến, văn học gần đây đi vào những sốphận, diễn biến tâm lý, tình cảm của con ngời Nhà văn đã xây dựng những tìnhhuống quyết liệt, những xung đột tình cảm, để trình bày những diễn biến và sốphận không đơn giản của con ngời ở nhiều tác phẩm, nhà văn đã đặt nhân vậtvào những chiều không gian, thời gian khác nhau hoặc đan cài giữa quá khứ vàhiện tại” [46]

Chu Lai - một trong những nhà văn thuỷ chung nhất với đề tài ngời lính,

trong bài viết Nhân vật ngời lính trong văn học, yêu cầu: “Ngời lính đòi hỏi văn

học phản ánh họ nh cái vốn có Cứ phản ánh trung thành với trái tim lành lặn,thiện chí nhất” Vì, “Chiến tranh với tất cả những hình thái đặc thù của nó hoàntoàn có thể đẩy nhân vật ngời lính đến tận cùng số phận Và chính với cái ý nghĩatận cùng đó, ngời lính bỗng vỡ vạc ra tất cả ” [43]

5.2 Những công trình trực tiếp (hoặc gián tiếp) hớng vào đối tợng là sáng tác của Chu Lai

Nhìn chung, trong những công trình này đều tập trung đi sâu vào đề tàixuyên suốt và bao trùm trong sáng tác của Chu Lai là đề tài chiến tranh và hình t -ợng trung tâm là ngời lính Chiến tranh và ngời lính trong sáng tác của Chu Lai

đợc phản ánh dới nhiều góc độ khác nhau bằng cái nhìn sử thi và thế sự

Bùi Việt Thắng trong Tạp chí tác phẩm mới chỉ ra rằng: “Viết về chiến

tranh còn có nghĩa là viết về hậu quả của nó - bởi vì một cuộc chiến tranh bachục năm đánh bại mấy đế quốc lớn, dù chiến thắng lẫy lừng, to lớn nhng hậu

quả của nó chắc phải dai dẳng và phức tạp Vòng tròn bội bạc của Chu Lai

xoáy vào những vết thơng của chiến tranh trong lòng ngời và cách thức con ngờichữa trị những vết thơng đó” [58] ở một bài viết khác, khi nhìn nhận ở góc độ

Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975, tác giả (Bùi Việt Thắng) nhận thấy ở hai tác phẩm Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh và ăn mày dĩ vãng của Chu Lai: “Các nhà điện ảnh sẽ rất thuận lợi khi dựa vào các tác

phẩm văn học này để xây dựng những kịch bản điện ảnh tốt” [52, 231] Tác giả

bài viết còn nhấn mạnh Ăn mày dĩ vãng là “nhịp điệu của khách bộ hành tìm về

Trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 2/1993, trong bài Một đề tài không cạn kiệt, Bùi Việt Thắng viết: “Nhân vật Chu Lai đợc thể hiện nh những con ngời

tâm linh Họ sống bởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc bởi sự sám hối, luôntìm kiếm sự giải thoát Đó là những con ngời trở về sau chiến tranh bị mất thăng

Trang 7

bằng, khó tìm đợc sự yên ổn trong tâm hồn Họ sống trong cảm giác không bìnhyên đi vào ngõ ngách đời sống tâm linh con ngời Chu Lai làm ngời đọc bấtngờ vì những khám phá nghệ thuật của mình: Nhân vật Chu Lai thờng tự soi tỏmình, khám phá mình, khám phá một bản ngã hay là một con ngời trong con ng-ời” [60, 104].

Hồng Diệu nhận xét: “Chu Lai là nhà văn thuỷ chung với đề tài chiếntranh, anh có nhiều tác phẩm viết về đề tài ngời lính trên cả ba mặt trận: Văn học

- Sân khấu - Điện ảnh” [10, 6]

Viết về ngời lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới,Nguyễn Hơng Giang cho rằng: “Sự thật về chiến tranh hôm nay đợc nhìn lại làmột sự thật đã trải qua những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà vănChu Lai, hơn thế, nó thực sự là những nếm trải của ngời “chịu trận”, ngời trongcuộc” [20]

Lý Hoài Thu cũng khẳng định: “Dù trực tiếp viết về dĩ vãng mịt mù bom

đạn hay chuyển dịch sang tiếp cận những “kênh”, thông tin mới xô bồ của thờihiện tại, bao giờ Chu Lai cũng nghiền ngẫm suy t về hiện thực với sự nhiệt tâm

và lòng trung thực của ngời lính” Trong tập truyện ngắn Phố nhà binh, Lý Hoài

Thu viết: “Nếu nh trớc kia, các nhân vật của anh đợc mô tả chủ yếu ở cốt cáchanh hùng trận mạc thì hiện nay ( ) Chu Lai tập trung khai thác quãng đời thứhai: quãng đời phía sau chiến trận của ngời lính” [63]

Nguyễn Thanh Tú trong bài Cuộc đời dài lắm - một tiểu thuyết có sức hấp dẫn in trong Văn nghệ Quân đội, tháng 01/2002, đặt sự chú ý vào những đổi mới

trong sáng tác của Chu Lai về đề tài ngời lính: “Ngòi bút tiểu thuyết Chu Lai vẫncách xây dựng nhân vật đẩy đến tận cùng của bi kịch, con ngời của những mâuthuẫn, có khi thật quyết liệt dữ dội, có số phận tận cùng ngang trái, có nhân cáchvô cùng cao thợng, lại có loại ngời tận cùng của sự gian xảo” Đáng chú ý hơn,Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh: “Nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai là kiểunhân vật vừa có cả chiều sâu lại vừa có cá tính và dờng nh thân phận của cácnhân vật đó ngoài đời vốn cũng đã đầy những bi kịch Tác giả cũng khẳng định:

“Cuộc đời dài lắm là một tiểu thuyết hay của Chu Lai Nhng thành công hơn cả

là ở cách kể chuyện tuy không mới lạ nhng khá hấp dẫn” [sđd, 103]

Số phận ngời lính trở về sau chiến tranh đợc Chu Lai đặc biệt chú ý trong

tiểu thuyết của mình Chính vì vậy, trong bài viết về tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc, nhà phê bình Hồng Diệu nhận xét: “Tiểu thuyết Chu Lai đề cập đến nhiều

vấn đề Nhng bao trùm lên tất cả là những ngời lính sau chiến tranh, rời chiến ờng trở về, ngời thì tha hóa, ngời thì bớc vào cuộc chiến đấu mới Cuộc chiến đấucủa những ngời lơng thiện chống kẻ bất lơng, mà thật trớ trêu: có những ngời trớckia là đồng đội của nhau bây giờ đứng trên hai mặt trận đối lập nhau” [9]

Chu Lai quan niệm: “Chiến tranh đối với bất cứ dân tộc nào, dù chínhnghĩa hay phi nghĩa cũng không sao tránh khỏi màu sắc bi kịch” [42] Nguyễn

Hơng Giang cũng nhận xét: “Phố của Chu Lai là một cuốn tiểu thuyết trong tiểu

thuyết: Một cuốn về gia đình Thảo - Nam với sự phá vỡ và làm tan nát những giátrị truyền thống, một cuốn khác về cuộc đời Lãm, một ngời lính từ hai bàn taytrắng đi lên, bảo vệ và tha thiết giữ gìn những giá trị ấy Cái chết th ơng tâm của

Trang 8

Thảo, Lãm ở cuối tác phẩm đẩy suy nghĩ của ngời đọc về hai hớng khác nhau

nh-ng đều thấm một nỗi buồn cao cả” [20]

Về phơng diện nghệ thuật của tiểu thuyết Chu Lai, Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới cho rằng, tiểu thuyết Chu Lai

“không chỉ đa dạng trong các phơng thức tiếp cận mà cả trong các biện phápnghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm, “dòng ý thức”, nghệ thuật đồng hiện và cónhững thành công nhất định” [18]

Về tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc, Hồng Diệu đánh giá cao nghệ thuật xây

dựng nhân vật, cách tạo tình huống, những xung đột, đặc biệt là cách nhìn khá

mạnh dạn của Chu Lai Theo Hồng Diệu, Vòng tròn bội bạc của Chu Lai “có

những trang hấp dẫn, ngời đọc đã cầm đến sách là phải theo đuổi câu chuyện đếncùng” [9]

Ăn mày dĩ vãng là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu của Chu Lai Khi

công bố giải thởng về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lợng vũ trang tuyểnchọn trong 3 năm (1991- 1993), nhà văn Xuân Thiều với cơng vị Chủ tịch Hội

đồng xét giải cho rằng: “Để viết tác phẩm này, dờng nh Chu Lai phải vật vã,quặn đau nh ngời trở dạ Cái tâm huyết của tác giả đợc phơi bày ra, y nh ngời đọc

có thể nghe rõ tiếng kêu tha thiết và đau đớn, rằng, hỡi con ngời đơng đại và cảmai sau, hãy tĩnh tâm lại, không đợc bỏ quên quá khứ hào hùng chứa đầy máu vànớc mắt của cả một dân tộc Có thể gọi tác phẩm này đầy chất lính, giọng vănbăm bổ, sôi động, các thứ tình cảm, suy t đều đẩy đến tận cùng Cốt truyện cópha chút ly kỳ bí hiểm kiểu kiếm hiệp, đọc rất cuốn hút Có những chơng, những

đoạn anh viết về chiến tranh hết sức sinh động, nếu không là ngời trong cuộc,

không dựng lại đợc không khí một địa bàn chiến đấu khá đặc biệt này Ăn mày

dĩ vãng còn có chỗ cha hoàn mỹ Chính cái giọng văn băm bổ sôi động ấy, chính

cái cách đẩy tình cảm, t duy đến tận cùng ấy tạo ra mặt trái khác bởi tính tháiquá Đấy là sự cờng điệu trong xử lý tình tiết, sự lộng ngôn trong câu văn Vàcũng vì say sa với cốt truyện, tác giả đã thiếu chặt chẽ trong lý giải tính cáchnhân vật của mình Từ bỏ quá khứ với một ngời đàn bà dũng cảm, trung hậu nh

Ba Sơng, quả thật không phải là điều quá dễ dàng Dù sao đây cũng là cuốn tiểuthuyết sáng giá về chiến tranh và ngời lính; với tầm t tởng đúng đắn, trong sángrất đáng trân trọng, khích lệ”

Bích Thu trong bài viết Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới cũng khẳng định: “Với ăn mày dĩ vãng, nhà văn Chu Lai muốn gửi

đến ngời đọc thông điệp đừng lãng quên quá khứ Nhân vật Hùng với t cách ngời

kể chuyện xng tôi trong tác phẩm đã từ một sự việc cụ thể của hiện tại, gợi lạitrong ký ức của anh những kỷ niệm đã qua Nhân vật chìm trong hồi tởng.Trạngthái cảm xúc, suy nghĩ, liên tởng bất chợt nh những dòng chảy, thay thế nhau,

đan xen nhau một cách lạ lùng, phi logic Đó là dòng chảy tự nhiên của ý thứccon ngời, trong dòng chảy đó bộc lộ những bí mật của nội tâm nhân vật” [52, 590

- 591] ở một chỗ khác, Bích Thu lại đề cập đến một khía cạnh của thi pháptrong tiểu thuyết sau 1975 và trong tiểu thuyết Chu Lai: “Nhiều tiểu thuyết saunhững năm đổi mới đến nay đã sử dụng mô típ giấc mơ, giấc mơ chiêm bao nhmột ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con ngời Thủ

Trang 9

pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh),

Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)” [52, 590] Hoặc tác giả đã lu ý đến một đặc điểm của

ngôn ngữ tiểu thuyết sau năm 1975: “Dấu vết thời đại đã ảnh hởng và quy địnhcách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới đợc hình thành, quan niệm về lời nóicũng đợc bổ sung những sắc thái biểu cảm mới Ngôn ngữ tiểu thuyết gần vớingôn ngữ đời thờng, giàu khẩu ngữ ( ) Ngôn ngữ trong các tiểu thuyết biểu hiện

sự cá tính hoá mạnh mẽ, tính cách nào, lời lẽ ấy Cách nói trần trụi dân dã của

ngời lính (ăn mày dĩ vãng), cách nói thẳng thắn bạo dạn của cánh nhà báo (Dấn thân, Một ngày và một đời)” [52, 588 - 589].

Nhìn chung, hình tợng ngời lính trở về sau chiến tranh trong văn xuôi ViệtNam những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu với ý kiến khácnhau, phong phú và cũng có những ý kiến sâu sắc Tuy nhiên, cha có công trìnhnào đặt vấn đề tìm hiểu hình tợng ngời lính trở về sau chiến tranh trong tiểuthuyết Chu Lai một cách tập trung, hệ thống

Với Chu Lai, nh chúng tôi đã nói ở trên, ông vẫn còn là một nhà văn “mới”sau 1975, sáng tác của ông từ những năm 80 của thế kỷ XX lại nay cũng khá dàydặn, bề thế Sáng tác của ông ở chặng đờng này còn ít đợc nghiên cứu

Nh vậy, có thể nói nghiên cứu về tiểu thuyết Chu Lai còn rất nhiều vấn đề

đang bỏ ngỏ về hình ảnh ngời lính trở về sau chiến tranh với những góc độ riêng

t nhất ý kiến của ngời đi trớc là những gợi ý giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu,nghiên cứu vấn đề ngời lính trở về sau chiến tranh trong tiểu thuyết Chu Lai vớimột cái nhìn tập trung, hệ thống

Chơng 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật ngời lính của Chu Lai

Trang 10

Chơng 1 ngời lính trở lại hậu phơng trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

(một cái nhìn chung)

1.1 Bức tợng đài chiến thắng với cảm hứng miêu tả sử thi

1.1.1 Ngời lính trong và sau chiến tranh luôn là hình tợng sinh động, hấp dẫn trong văn học

Chiến tranh đã qua đi nhng hậu quả mà nó để lại thật khủng khiếp Mỗimột quốc gia, mỗi một dân tộc dù ở thế chủ động hay bị động trong chiến tranhthì đối với quốc gia đó, dân tộc đó, họ đang phải sống trong bi kịch Một năm,hai năm, ba năm sống trong chiến tranh đã là thảm hoạ đối với một dân tộc yêuchuộng hoà bình thì với dân tộc Việt Nam suốt dọc chiều dài lịch sử chìm trongnhững cuộc chiến tranh xâm lợc đó thực sự là một tấn bi kịch Có trải qua chiếntranh, có chứng kiến sự tàn bạo, phi nhân tính của chiến tranh, chúng ta mới thấyhết bộ mặt lạnh lùng tàn ác của nó

Bao nhiêu đau thơng, bao nhiêu mất mát trong những năm tháng dài đằng

đẵng đó, đất nớc Việt Nam đã từng sống trong cảnh đạn bom, máu lửa, Nguyễn

Đinh Thi đã từng tợng hình trong câu thơ “dây thép gai đâm nát trời chiều” Baotrái tim đã chất chứa những căm thù bè lũ cớp nớc, xâm lăng

Đất nớc Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã ca khúc khải hoàn, niềm vui chiếnthắng đã toả rạng trong niềm tự hào dân tộc nhng máu của ngời Việt Nam cũng

đã đổ quá nhiều trên mảnh đất này Có bao nhiêu gia đình chỉ có những đứa con

đi mà không có ngày trở về Có bao nhiêu mối tình hoá đá vọng phu mải ngóngchờ ngời mình yêu dấu Đó là ở hậu phơng Còn nơi tiền tuyến thì có những đơn

vị bộ đội hàng mấy trăm ngời chỉ trong phút chốc bị bom Mỹ huỷ diệt Tuynhiên, bom đạn của quân thù chỉ có thể lấy đi sinh mệnh của hàng trăm con ng ờinhng nó không thể huỷ diệt đợc hàng triệu trái tim, hàng triệu linh hồn con ngời

đang hoà thành một khối ở đó, không có chỗ cho con ngời cá nhân tồn tại màchỉ có một dân tộc đang hừng hực khí thế chống Mỹ cứu nớc

Suốt dọc chiều dài của cuộc chiến tranh để đi đến thắng lợi là một hànhtrình không đơn giản, mà nó đầy cam go và thử thách Lịch sử Việt Nam đã phảitrải qua những sóng gió khủng khiếp của thời đại, để rồi khi sóng gió chiến tranhqua đi thì hình ảnh con ngời Việt Nam, sức mạnh Việt Nam hiển hiện trong ánhhào quang rực rỡ Những năm tháng chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ lànhững năm tháng mà ở đó vận mệnh con ngời, vận mệnh dân tộc thiêng liêng,cao đẹp biết bao

Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh con ng ờiViệt Nam Sau ngày hoà bình lập lại (30/4/1975) đất nớc ta bớc sang một trang

sử mới, với những nhiệm vụ và thách thức mới Không còn tiếng súng trên chiếntrận quân sự nhng tiếng súng của những thách thức mới trong việc xây dựng xãhội mới, con ngời mới đang đợc đặt ra

Trang 11

Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975, do sự quy định của điều kiện lịch sử

- xã hội, là nền văn học theo khuynh hớng sử thi Sáng tác văn xuôi là khu vực

mà khuynh hớng này đợc bộc lộ một cách rõ nét, đầy đủ hơn cả Quan điểm sửthi đã chi phối sự lựa chọn đề tài, chủ đề, tức là phạm vi hiện thực đ ợc văn họcquan tâm, khám phá, thể hiện Trong giai đoạn văn học ấy luôn tồn tại một quanniệm về cái gọi là “hiện thực lớn” Đó là những nơi mũi nhọn của cuộc sốngcách mạng, là “cuộc sống mới, con ngời mới” Sau này, khi nhìn lại văn học thời

đó và quan niệm của chính mình lúc ấy, nhà văn Nguyễn Khải đã nói: bấy giờ,viết về cách mạng, về chiến đấu mới là văn học mới, còn viết về đời sống hàngngày, riêng t thì bị coi là văn học cũ Còn Nguyễn Minh Châu, khi bớc vào thờikì đổi mới, đã dùng hình ảnh “cái hành lang hẹp và thấp” mà mỗi ngời viết phải

tự phạt bớt chiều cao, thu bớt chiều ngang để có thể đi lại dễ dàng trong đó, đểnói về cái hiện thực trong văn học một thời, trớc 1975 Nói cho công bằng, thìtrong nền văn học sử thi, việc tập trung vào những hiện thực lớn của đời sốngcách mạng, việc đề cao một số đề tài u tiên, là lẽ tất yếu, phù hợp với tính chất

và mục đích của nền văn học ấy, của yêu cầu thời đại

Từ khoảng đầu những năm 80, cuộc sống thời bình đã thực sự trở lại, conngời hàng ngày phải đối diện với bao nhiêu vấn đề và thực tiễn của đời th ờng,của các quan hệ thế sự, của đời sống riêng t Các nhà văn có sự mẫn cảm vớicuộc sống đã không thể bỏ qua cái hiện thực đời thờng và họ đã nhìn ra nhiềuvấn đề có ý nghĩa, đáng đợc quan tâm trong đó Từ thể tài lịch sử dân tộc vốn làthể tài chủ đạo và chi phối mọi bình diện của hiện thực, văn học đã chuyển sựquan tâm chủ yếu sang thể tài thế sự đời t Với sự thay đổi trong quan niệm vềhiện thực nh thế, văn xuôi đã vợt qua tình trạng bị lệ thuộc vào đề tài, vào mộtcách nhìn đã đợc định trớc, để mở ra khả năng phong phú, vô tận trong sự khámphá và thể hiện hiện thực đời sống trong tính muôn mặt muôn vẻ của nó Khivăn chơng đợc giải phóng khỏi “chủ nghĩa đề tài” thì điều đó vừa là một thuậnlợi, vừa là một thách thức với nhà văn Đặc biệt từ Đại hội Đảng VI trở đi, với ttởng đổi mới, nền văn học Việt Nam khởi sắc đa dạng hơn Họ có thể viết vềmọi điều, kể cả những điều trớc kia cần phải kiêng kị, nhng cái quan trọng lại là

ở chỗ nhà văn có phát hiện đợc điều gì mới, muốn biểu đạt cái gì của riêngmình trong những cái quen thuộc hay xa lạ với ngời đọc

Một đội ngũ ngời cầm bút trẻ năng động, nhạy bén trớc thời cuộc, tiếp cậnmột cách sáng tạo những tri thức mới ra đời Cùng với đội ngũ nhà văn đã trởngthành qua hai cuộc kháng chiến, những ngời có một vốn sống phong phú, cókinh nghiệm cầm bút, họ đã chắt chiu cho nghề những tác phẩm văn chơng cógiá trị, là thế hệ nhà văn trẻ với sự nhận thức nhạy bén trớc thời cuộc, là t tởng

và phong cách táo bạo, bứt phá, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám chấp nhậnthay đổi đã làm nên diện mạo văn học mới, trong đó có nền văn xuôi với nhữngthành tựu mới mà truyện ngắn và tiểu thuyết là hai thể loại tiêu biểu Nếu nh tr-

ớc đây văn học đi vào cái chung, chỉ có tiếng nói và sức mạnh của tập thể, củacộng đồng thì giờ đây trong cảm quan nghệ thuật của các nhà văn, cái tôi cánhân, cá thể đã xuất hiện Họ bình tĩnh, tĩnh tâm lùi lại đằng sau để nhìn lạinhững gì đã qua của cuộc chiến Lịch sử đã qua với những chiến công hào hùng,

Trang 12

lịch sử đã để lại những trang vàng chói lọi, nhng hình nh văn học thì còn thiếumột cái gì đó thuộc về riêng t, thuộc về cá nhân, cá thể Và giờ đây, trách nhiệmmới của văn học, của những ngời cầm bút là bù đắp những thiếu hụt đó Đây làlúc văn học có điều kiện đi sâu vào khám phá những điều sâu kín nhất thuộc vềthế giới nội tâm của con ngời, thế giới tinh tế và nhạy cảm nhất mà trớc đó vănhọc cha có điều kiện đi sâu phản ánh đợc Đội ngũ những nhà văn nói chung và

đội ngũ những nhà tiểu thuyết nói riêng, không ngừng phấn đấu, nỗ lực để hoàchung vào không khí văn chơng đổi mới kia Những cách thể hiện đề tài mới ra

đời phù hợp với thời đại, với công chúng độc giả Văn học thời kì này, đặc biệt

là tiểu thuyết, thực sự đã có sự khởi sắc, có những thành tựu làm nên diện mạomột thời kỳ mới của văn học Việt Nam

Theo dõi tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ 1945 đến nay, cóthể thấy: Cả hai thời kỳ trớc và sau 1975, hình tợng ngời lính luôn là một trongnhững hình tợng tiêu biểu, đợc đề cập đến nhiều nhất trong văn học nghệ thuật,trong đó thể loại tiểu thuyết chiếm một dung lợng lớn

Giống nh đặc điểm về thời đại và văn học đã đề cập đến ở trên, hình t ợngngời lính trở về trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại cũng mang đầy đủ mọi nétdáng của thời đại và văn học

1.1.2 Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ mang trọn vẹn phẩm chất ngời lính vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Chiến tranh đã qua hơn ba mơi năm nay, nhng quá khứ hào hùng củamột thời đạn bom, máu lửa thì vẫn còn sống mãi trong ký ức và hiện tại củanhững ngời lính đã từng tham gia vào trận chiến để bảo vệ cho quê hơng, đấtnớc Hình tợng ngời lính trở về sau chiến tranh đợc khắc hoạ trên nhiều ph-

ơng diện, ở nhiều góc độ Trong đó, hình ảnh ngời lính trở về với quá khứhào hùng và một niềm tự hào đầy kiêu hãnh là cảm hứng chủ đạo của dòng

văn học viết về chiến tranh Nguyễn Huy Tởng viết Bốn năm sau vào năm

1959, âm hởng chủ đạo của tác phẩm là một kí ức đầy ắp kỉ niệm hào hùng

đẹp đẽ của nhân vật Doan trong một thời chiến trận và không khí hăng say,khẩn trơng hàn gắn vết thơng chiến tranh: “Doan đứng trên đỉnh đồi, mắt đắcthắng nhìn ra bốn phía Nắng đầu hè chói chang trên toàn cảnh Điện Biên đỏloét Một chiếc máy bay cụt đầu còn bốc cháy ngùn ngụt gần cầu M ờngThanh Trên nền đất đỏ của khu trung tâm chỉ huy của Đờ Cát, đen đặcnhững dây thép gai, những trọng pháo và những xác xe cơ giới ngả ngiênglổng chổng, thấy ùn ùn, la liệt những điểm trắng xoá của những lá cờ hàng.Ngời Doan còn hôi hám, nhng toàn thân rào rạt một niềm vui choáng váng lúc ấy nghe sao mà cảm động vui vầy” Hiện thực chiến tranh, kí ức chiếntranh, những mảng màu đen sẫm của chết chóc giờ đây đang đợc cái màuxanh ngút ngàn của bầu trời hoà bình bao phủ: “ Hai ngôi mộ nằm songsong, đắp cao trên đỉnh đồi bằng phẳng Trên mộ có đặt những vòng hoa,những bó hoa rừng còn tơi Bên cạnh hai ngôi mộ, nằm chết tại chỗ cỗ xetăng mời tám tấn vẫn còn nguyên cả khẩu đại bác dài nòng, phủ phục nh mộtcon voi lớn Cỏ đã mọc chung quanh cái bệ quay, cỏ tua tủa luồn qua kẽnhững mảnh giáp sắt Cỗ xe còn để lại đằng sau một quãng ngắn vệt xích hằn

Trang 13

lên, lõm xuống, nát nhàu ghi lại những lồng lộn điên cuồng của cái xe trớckhi giẫy chết Hai cái vành xích đã lún sâu xuống đất Một cây hoa đơn trồi

ra từ một kẽ xích trật, kệch đất nh miệng một nồi cơm đầy Những cánh hoagầy đỏ hớng vào hai ngôi mộ nh vẫy chào hai ngời chiến sĩ D.K.Z đã hạ cái

xe kiêu kỳ ngay trong những ngày đầu chiến đấu Trớc mặt, những bậcrộng, giát bằng toàn những tấm phên sắt của sân bay dã chiến Mờng Thanh,chạy thăm thẳm xuống tận chân đồi, nối liền với đại lộ chiến sĩ Xa xa, dớicánh đồng, bên con sông Nậm rốm, khu chỉ huy của giặc tắm trong ánh nắngvàng gắt Hầm Đờ Cát, những xác xe tăng, xe thiết giáp, những xác máy bay,trọng pháo, sân bay Mờng Thanh, rối loạn trong những ngày sau chiến thắng,thì nay tất tất đều lút chìm trong một màu xanh mênh mông dày đặc, im lìm,vây kín lấy những khu doanh trại và những bản lơ thơ Trên đỉnh cao hai ngôi

mộ nằm canh gác cho đất lịch sử” Mảnh đất bớc ra từ cuộc chiến tranh với

sự hoang tàn khủng khiếp của chết chóc, đau thơng: “từng mảng thịt, từngmảnh xơng của anh em còn vơng vãi ở đâu, lẫn vào cỏ, vào đất, vào cả quả

đồi huyết chiến, chua xót hơn nữa, lẫn vào với biết bao nhiêu quả mìn bí mật

mà giặc còn gài lại Cây cỏ đã phủ lên nấm mồ lớn một màu xanh hiu quạnh

và che giấu trong âm u những cạm bẫy giết ngời” Trong tác phẩm, hình ảnhngời lính trở về sau chiến tranh đợc khắc hoạ với một niềm vui, một khátvọng dựng xây, đổi mới tràn ngập trong lòng của Doan, Cờng, Ngàn ĐiệnBiên còn hoang vu và bị chiến tranh tàn phá nặng Phải mau chóng làm cho

Điện Biên thành một nơi giàu có nh miền xuôi, có sức mạnh để đập tan mọi

âm mu khiêu khích, quấy rối từ nớc ngoài vào Đồng bào thiểu số ở đây cònlạc hậu và nhiều thiếu thốn, phải gấp rút cải thiện đời sống của họ, đa họ lêncon đờng tiến bộ và hạnh phúc Chiến tranh kết thúc đã bốn năm rồi, khôngthể để cho mảnh đất lịch sử tiêu điều, xơ xác Điện Biên phải huy hoàng đểxứng đáng với chiến thắng lớn lao của dân tộc, xứng đáng với những ngời

bạn của Doan đã hi sinh và đã nằm xuống vĩnh viễn Bốn năm sau của

Nguyễn Huy Tởng đã xây dựng một bức tợng đài chiến thắng với cảm hứngmiêu tả sử thi trong hình ảnh anh bộ đội mang trọn vẹn phẩm chất lính vàocông việc xây dựng nông trờng Điện Biên sau hoà bình

1.1.3 Ngời chiến sĩ trên mặt trận mới: xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nông thôn qua phong trào hợp tác hoá nông nghiệp

ấn tợng sâu sắc và trọn vẹn hình ảnh anh bộ đội trở về ở phơng diện mới

này là hình ảnh Tiệp - chủ nhiệm hợp tác xã Sa Ngoại trong tiểu thuyết Bão Biển của Chu Văn (Nxb Văn học, 1982) Từ chiến trờng trở về, mang đầy đủ

phẩm chất và khí thế của “chất lính”, Tiệp sẵn sàng đơng đầu với nhiệm vụmới đầy khó khăn thử thách Sa Ngoại là một thôn hầu hết là dân theo đạoThiên chúa “Bẩy xóm thôn Sa Ngoại quây quần chung quanh ngôi nhà thờ xứ”[32, 8], “tiếng chuông khua vẫn sang sảng ngân dài, nhng hình nh nó khôngchỉ là giọng hát dịu hiền êm ái, mà trong d âm có lẫn tiếng gầm gừ, hậm hựccủa một sự thèm khát bị kìm hãm” [32, 10] Những ngời nông dân chân chất,hiền lành, tốt bụng này đang bị một bộ phận phản động núp dới danh nghĩathiêng liêng của Chúa để phá hoại phong trào hợp tác xã, phá hoại con đ ờng đi

Trang 14

lên Xã hội chủ nghĩa ở nông thôn theo chủ trơng của Đảng, cản trở con đờngcách mạng và quan hệ sản xuất mà cả miền Bắc đang hăng say thực hiện vớiniềm tin tuyệt đối vào tơng lai:

“Ta nghe rõ mỗi giờ, mỗi phút

Cả đất nớc đang tiến nhanh vùn vụt

Nh cỗ xe tăng mã lực khổng lồ”

( Tố Hữu)

Cuộc chiến hôm nay khác hẳn với cuộc chiến trớc kia Tiệp đã từng đốidiện: trận địa bây giờ không phân ranh giới, kẻ thù chính là những nếp nghĩ,những thói quen lạc hậu, trì trệ đã hằn sâu vào đầu óc con ngời đợc hiển hiện lúchữu hình, khi vô hình Dù là một bộ đội phục viên, vừa về xã, Tiệp đã “bớc ngayvào những công việc hành chính, kinh tế và xã hội” với chức danh là Uỷ viên Uỷban xã Sa Ngọc Nhng “dần dần anh nghiệm ra rằng ở đây không đợc thuần nhkhi làm một quân nhân Anh không phải là ngời chỉ thi hành một nhiệm vụ nhất

định Anh phải tiếp nhận mọi chính sách, mọi đờng lối, rồi vận động cho mọi

ng-ời cùng làm ( ) Cho nên, nhiều khi Tiệp phải làm gấp bốn” [32, 24 - 25] Ngoài

ra Tiệp phải đối diện với nhiều loại kẻ thù mới Bên cạnh những kẻ hiện nguyênhình chống phá cách mạng quyết liệt đến cùng nh cha Khang, Chánh Trơng,Hạp, Thầy già San, mục Quản Lạc là những ngời công giáo hiền lành ngoan

đạo bị lợi dụng đẩy ra trận tuyến trở thành những kẻ hung hăng, mù quáng nh XơKhuyên, Nhân

Tất cả những khó khăn ấy đè nặng lên đôi vai ngời lính Nhng nhờ tấmlòng kiên trung đã qua thử thách của mình, nhờ biết dựa vào những lực lợngthanh niên tơi trẻ nh ái, Vợng Tiệp đã “lao đầu vào công việc với tinh thần kỷluật và mức độ chính xác, tháo vát của một ngời lính” [32, 24 - 25] nên cuối cùnganh đã chiến thắng Thôn Sa Ngoại của Tiệp giờ đây đã đổi mới, mọi ng ời đồngtâm hiệp lực xây dựng hợp tác xã, những con ngời nh ái, Vợng đã tìm ra hạnhphúc trong cuộc đời mới; những phần tử chống đối nh cha Từ, cha Độ, chaHoan, Già San, chánh trơng Hạp đã dần dần lộ mặt phản động trong con mắtcủa giáo dân; những ngời khổ đau, lỡng lự nh chị Nhân đã dần dần ngả về con đ-ờng tiến bộ Hình ảnh toàn dân Sa Ngoại tham gia giờ khắc hàn khẩu con đêtrong chiến dịch quai đê lấn biển mở mang thêm 300 ha biển để cải tạo thànhcánh đồng lúa, thực sự là bức tranh đậm nét của cảm hứng miêu tả sử thi màtrong đó hình ảnh Tiệp là một điểm nhấn nổi bật đợc quay cận cảnh: “Từ hai giờsáng, tiếng súng thúc ầm ầm gọi hàng ngàn ngời ra con đê bãi Mập Đớp Hơn haitrăm quang gánh, tám trăm mai cuốc, bốn mơi chiếc thuyền gỗ lớn nhỏ tụ tập

đông đủ ngay trên quãng đê đang hàn khẩu Đảng uỷ Sa Ngoại, Đảng uỷ XuânBình, Thất và Tiệp đứng cả trên bục bắc ngang dàn giáo giữa sông Ngàn cây

đuốc cháy bùng bùng Tiếng loa rõ mồn một xớng tên từng đội ra nhận nhiệm vụ

đứng vào vị trí Trống đánh, loa thét, ngời nói, muôn ngàn tiếng ầm ĩ hỗn tạpvang động một góc trời ( )

Một phát súng trờng nổ, hiệu lệnh bắt đầu Hàng trăm cánh tay đa ra,quẳng các sọt đất sét xuống lòng sông ầm ầm ” Quả thật, nói nh G.N.Pospelov: “Nhng không chỉ việc đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài mới làm

Trang 15

nảy sinh tính anh hùng Sự giải quyết những xung đột công dân bên trong cầnthiết cho sự phát triển xã hội lại làm nảy sinh chất anh hùng cách mạng Đó làchất anh hùng của sự tự do gánh vác nghĩa vụ công dân, của tinh thần tráchnhiệm cao trớc số phận Tổ quốc, sẵn sàng lao vào cuộc đấu tranh không cân sứcchống lại các thế lực phản động thống trị Nó chẳng những đòi hỏi lòng dũngcảm tính mục đích, sự xả thân, mà còn đòi hỏi một tính độc lập về hệ t tởng caohơn rất nhiều so với cuộc đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài” [53, 144].

Hình tợng nhân vật Tiệp trong tiểu thuyết này của Chu Văn có điểm gì đó

khá gần gũi với hình ảnh Đavdov trong tiểu thuyết Đất vỡ hoang của Mikhain

Solokhov Cũng là một chiến sĩ trởng thành trong chiến tranh vệ quốc, sau chiếntranh anh đợc chuyển sang làm công nhân trong nhà máy búa liềm Khi phongtrào hợp tác hoá nông nghiệp toàn quốc đợc phát động, Đavdov đợc điều lên xâydựng nông trang tập thể ở làng Grêmiatshi Lốc ở đây anh đã phải đơng đầu vớicác thế lực phản động Cô dắc chống phá quyết liệt, với những ngời Cô dắc lầmlạc vẫn cha dứt khoát hoàn toàn đi theo chính quyền Xô Viết, với những thànhkiến, thói tục lỗi thời và cả những giằng xé nội tâm trong quan hệ giữa cáichung với cái riêng trong tình yêu trớ trêu giữa Đavdov với Luska ( nh Tiệp đãtừng phải đấu tranh, vật vã trong mối tình oái oăm giữa mình với cô Nhân) Cuốicùng sức mạnh của ngời chiến sĩ, ngời đảng viên đã giúp Đavdov vợt qua muônvàn khó khăn, ác liệt để thực hiện đợc lý tởng của mình - mang lại sinh khí mớicho nông trang ở làng Grêmiatshi Lốc “lá cây dơng đã dát vàng hai bên bờ conngòi Grêmiatshi mà dòng nớc đã trong vắt và lạnh giá Hai tháng qua bao nhiêunớc đã chảy trôi đi dới lòng con ngòi Grêmiatshi Làng xóm cũng có nhiều sự

đổi thay” (M.Solokhov - Đất vỡ hoang - Nxb Cầu Vồng, bản dịch của Nxb Văn

học, Hà nội, Tập 2, 434) Và, “dần dần, ngày này qua ngày khác, cái mớ bòngbong của vụ âm mu phản cách mạng chuẩn bị gây bạo loạn ở vùng sông Đôn đã

đợc gỡ ra” [Sđd, 438]

Tơng tự nh hình ảnh của Tiệp trong Bão biển là hình ảnh ngời lính trở lại

hậu phơng luôn năng động, nhạy bén đi đầu và sẵn sàng đơng đầu với thách thức

để thực hiện vai trò của mình đợc hiện lên rõ nét qua nhân vật Thanh trong tiểuthuyết của Hoàng Minh Tờng Từ chiến trờng trở về, Thanh đợc bà con và banlãnh đạo xã tín nhiệm cử lên Đội trởng đội sản xuất ở đây, sẵn “chất lính” táobạo dám làm, dám chịu, Thanh đã chỉ đạo xã viên “làm lén” việc “khoán chui” ở

đội Mời “qua mặt Đảng uỷ và ban quản trị hợp tác xã”, “ khiến đồng chí Bí thhuyện uỷ phẫn nộ” “ cảnh báo về một nguy cơ quay lại con đờng t bản chủ nghĩa,

phá hoại chủ nghĩa xã hội”(Đồng sau bão, Nxb Hội nhà văn,17) Phẩm chất ngời

lính trở về đợc Thanh bộc lộ rõ rệt qua hình ảnh sau đây “Bằng một thái độ dũngcảm, dám làm dám chịu, hôm ấy trớc thờng vụ huyện uỷ Giang Thuỷ và thờng vụ

Đảng uỷ xã Thanh Bình, Thanh đã nhận hết trách nhiệm về việc khoán chui ở độiMời là do mình Anh cũng xin phép lãnh đạo huyện và xã báo cáo sự việc này vớiTrung ơng Đảng và chính phủ cho phép anh và xã viên đội Mời tiếp tục thí điểmkhoán quản trong nông nghiệp Nếu sai, Thanh tự nguyện xin ra khỏi Đảng và

chịu những hình phạt cao nhất” [Đồng sau bão,18 - 19] Cũng chính trên cơ sở

này mà Thanh vợt qua đợc muôn vàn thử thách (bản thân bị nhiễm chất độc da

Trang 16

cam khiến Vân đứa con gái đầu lòng “đẹp nh hoa hậu” phải chịu hậu quả nên từgiã cõi đời vào lúc lứa tuổi đẹp nhất, vợ con nheo nhóc, thiếu thốn ) để trở thànhmột Bí th Đảng uỷ xã Thanh Bình

1.1.4 Ngời lính có quá khứ hào hùng nhng trở nên cực đoan đến không bình thờng trong cuộc sống mới

Không giống nh Bão biển của Chu Văn, Đồng sau bão của Hoàng Minh Tờng, Bến không chồng của Dơng Hớng không nhằm dựng lên những anh bộ

đội về làng vừa giữ nguyên hào quang của quá khứ vừa đúng “chất lính” vàocuộc sống mới làm điểm tựa vững chắc cho việc vợt qua thử thách để khẳng định

vị trí của mình trong sứ mệnh mới ở đây, chúng tôi bắt gặp các kiểu thất bại, đổ

vỡ của số phận con ngời từ Vạn, Hạnh đến Nghĩa, Thuỷ Trong đề tài này,chúng tôi quan tâm đến số phận của hai ngời lính trở về trong hai thời kỳ củacuộc chiến là Vạn và Nghĩa

Vạn - ngời chiến sĩ của cuộc kháng chiến chống Pháp phục viên về làngtrong ánh hào quang toả sáng từ chiếc Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên lấp lánh trênngực “Đố ai còn dám coi thờng Nguyễn Vạn: Hãy cứ nhìn những tấm huân ch-

ơng rung rinh lấp lánh trên ngực Vạn ” [5] Anh là ngời anh hùng, là niềm tựhào của cả làng Đông và đặc biệt của dòng họ Nguyễn Và quả thật, với “chấtlính” có trong con ngời của một chiến sĩ Điện Biên, Nguyễn Vạn là trụ cột cáchmạng của làng Đông trong cơng vị là một xã đội trởng và là trụ cột của dòng họNguyễn Anh cũng là con ngời tốt bụng đến mức mộc mạc, chân thành với tất cảmọi ngời Thế nhng, ở trong Vạn có cái gì đó cứng nhắc đến mức cực đoan trongcác quan hệ chung - riêng của con ngời Nguyễn Vạn sẵn sàng vì “cái chung” màphá tan từ đờng họ Nguyễn để lấy gạch xây dựng trụ sở uỷ ban xã, trực tiếp chỉhuy đội du kích xử bắn hai đứa em bà con mình vì có biểu hiện chống lại “cáichung” Nhng với ngời đàn bà anh đã từng thầm yêu trộm nhớ bao tháng nămròng rã và ngời ấy cũng khát khao anh thì Nguyễn Vạn lại không dám bộc lộ vì

sợ ảnh hởng đến uy tín của “cái chung” mà anh đang mang vác Cuộc sống tựkìm nén, tự đấu tranh của mình trong con ngời Vạn có cái gì đó không bình th-ờng dẫn đến những cực đoan này sang cực đoan khác Vì vậy, việc Vạn khôngdám đến với ngời mình yêu nhng lại ngủ với con gái của ngời yêu và việc Vạnnhảy xuống sông tự tử khi Mạnh dẫn con về nhận cha Vạn sẽ là kết cục khôngtránh khỏi của số phận này khi về cuối chuyện Vạn đã không còn là một Vạn anhhùng của ngày đầu tiên về làng “Nguyễn Vạn biết thừa mọi ngời đang làm đồngcũng lố nhố đứng lên nhìn Vạn Hãy nhìn cho kỹ đây Chẳng gì Nguyễn Vạncũng là lính Điện Biên chiến thắng trở về Dấu tích oanh liệt trên chiến tr ờng làvết thơng trên bả vai và một ống chân bị gẫy ” [5, 6], mà là một chú Vạn “hồinày hầu nh không bớc ra khỏi mảnh vờn ơm”, “gơng mặt chú gầy sọm đi, tóc bạctrắng nh một ông lão” [5, 301], “chú Vạn đang ngồi im phắc trên giờng nh mộtlão già, tóc trắng phơ” [5, 305]

Khác với Vạn, Nghĩa cũng là đứa con của họ Nguyễn nhng trong t cách sẽ

là trởng tộc họ trong tơng lai Nhng nếu Vạn là ngời ít học thì Nghĩa lại là conngời đợc học hành tử tế trong xã hội mới Vì đợc học hành nên Nghĩa kiên quyết

đi theo con đờng hoạt động xã hội chứ không chịu trở thành ngời trông coi từ

Trang 17

đ-ờng họ Nguyễn nh ớc muốn của gia đình, dòng họ Vào quân đội, Nghĩa đã trởthành sỹ quan cấp tá và lại là niềm kiêu hãnh của làng Đông, của họ Nguyễn.Cuộc đời Nghĩa lẽ ra sẽ hết sức thuận lợi hanh thông song chiến tranh đã làmthay đổi số phận Nghĩa theo hớng bi kịch Nghĩa bị thơng, bị mất khả năng làm

đàn ông khiến anh không thể có con với Hạnh, ngời vợ yêu quý mà anh và Hạnh

đã vợt qua tất cả éo le, trở ngại, đặc biệt là sự hiềm khích giữa hai dòng họ để

đến với nhau thành vợ thành chồng Cũng bởi vì thế mà dòng họ Nguyễn và dânlàng Đông đổ tội tất cả cho Hạnh đến mức Hạnh không chịu nổi và phải ly dịNghĩa mặc dù cả hai vô cùng đau đớn Nghĩa đến với Thuỷ, cô bạn học ngày x anhng mối tình cũng chẳng đi đến đâu và cuối cùng Nghĩa dờng nh đã mất tất cả

Vạn và Nghĩa, hai ngời lính trở về từ hai thời kỳ kháng chiến khác nhaunhng đều có kết cục giống nhau là sự đổ vỡ của số phận Bức tợng đài chiếnthắng đã xuất hiện những vết nứt dới ngay chân nó, theo thời gian, vết nứt ấy cứlớn dần báo hiệu nguy cơ tợng đài sẽ không còn sừng sững, vững chãi nh xa

1.2 Những binh nhì giữa đời th“ ” ờng trong cái nhìn thế sự - đời t

1.2.1 Hiện thực mới đòi hỏi quan niệm mới về nghệ thuật

Nh trên đã nói, sau năm 1975, đặc biệt là sau năm 1986 với xu thế Đổi mớicủa toàn đất nớc, hiện thực đời sống xã hội Việt Nam đã có nhiều đổi thay đáng

kể Sau những tháng ngày “vui bất tuyệt”, đắm mình trong hào quang của chiếnthắng vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, con ngời dần trở lạivới thực tại của mình: đối diện với cuộc sống mới sau chiến tranh Lần lợt nhữngngời lính rời quân ngũ trở về hậu phơng từ những hoàn cảnh khác nhau, những vịthế khác nhau, những nỗi niềm khác nhau, những chiến công đầy ắp hiển hiệnqua ánh lấp lánh của những chiếc huân chơng, huy chơng đủ loại trớc ngực Ngờilính trở về, lẽ dĩ nhiên đợc đón tiếp trong những vòng tay ôm chặt đầy ngỡng mộ

và họ hoàn toàn có quyền kiêu hãnh đón nhận sự đón tiếp nồng hậu này

Thế nhng, đấy chỉ là một mặt của cuộc sống Con ngời hôm nay còn phải đốidiện với muôn mặt khác nhau của cuộc đời hết sức đa dạng và phức tạp này.Hôm qua trong chiến tranh, “xe cha qua nhà không tiếc”, con ngời sẵn sàng dỡ

bỏ nhà mình, thậm chí lấy cả cỗ ván từng ấp ủ sẽ đóng chiếc áo quan khi mìnhnằm xuống, nay đa hết lát đờng cho xe kịp ra tiền tuyến nhng hôm nay một mảnhtôn, một thanh gỗ đã là “của mình” phải nhặt về, phải giữ lấy để phục vụ cho

“đời sống của mình” Hôm qua trong chiến tranh sẵn sàng bỏ ruộng, bỏ làng đểlàm trận địa đánh giặc nhng hôm nay một tấc đất, một mảnh ruộng là “của mình”

mà nếu mất nó thì sẽ ảnh hởng trực tiếp đời sống của mình”

Ngời lính trở về hậu phơng cũng vậy Sau những giờ phút hân hoan đợc gặplại gia đình, ngời thân, quê hơng xứ sở họ phải đối diện với một sự thật phũphàng: hàng chục năm trong chiến tranh họ chỉ biết một “nghề” duy nhất là cầmsúng đánh giặc; chỉ có một suy nghĩ duy nhất: làm sao mình tồn tại đợc trong

điều kiện sống khắc nghiệt để chiến thắng kẻ thù Giờ đây họ phải trả lời câu hỏi:Làm gì đây để tồn tại giữa đời thờng, để tiếp tục sống cho một tơng lai hãy cònrất dài phía trớc?

Trong “Đôi dòng tâm sự”, nhà văn Chu Lai có viết: “Ba mơi tháng t! Đứng

giữa Sài Gòn với quân hàm thiếu uý Ngẩn ngơ Hai mơi tám tuổi Để lại đằng

Trang 18

sau mời năm trận mạc Phía trớc là gì nhỉ? Hết giặc rồi Mà đời còn dài quá Làmgì đây?” Chắc chắn nỗi trăn trở này không chỉ của riêng Chu Lai mà còn là nỗikhắc khoải của rất nhiều ngời lính khác.

Trớc tình hình mới của hiện thực tất yếu, đòi hỏi văn học phải có một quanniệm hiện thực mới, đầy đủ hơn Chẳng hạn, trớc đây do điều kiện thực tế củalịch sử (và là điều kiện bất khả kháng) yêu cầu văn học phải phản ánh “chânthực, hùng hồn cuộc sống mới, con ngời mới” Nhng đây chỉ mới là một phần củahiện thực chứ không phải là toàn bộ hiện thực Cũng do quan niệm ấy nên vănhọc trớc hết u tiên mô tả “cuộc sống mới” sau đó mới miêu tả “con ngời mới”nên tính chất u tiên là nghiêng về cái chung Chỉ từ thập niên 80 của thế kỷ XXtrở đi “khi các cuộc chiến tranh đã đi dần vào quá khứ, khi những mục tiêu củacái chung ( ) đã đạt đợc, khi công cuộc xây dựng một xã hội mới bộc lộ nhữngkhiếm khuyết quan trọng và đứng trớc những thử thách nặng nề, vấn đề con ngời,vấn đề cái riêng mới bắt đầu dần dần đợc quan tâm và chú ý” [52, 38]

Nh vậy, văn học (và nghệ thuật) hiện đại Việt Nam “từ mô tả hiện thựccuộc sống chung chung đến hiện thực con ngời, từ phản ánh cuộc sống mới, conngời mới đến nhận thức cuộc sống thông qua nhận thức toàn vẹn về con ngời, vănxuôi những năm gần đây đã muốn bớc sang một chặng đờng mới” [ 52, 38] Từquan niệm về hiện thực và con ngời này, tiểu thuyết Việt Nam đơng đại khi viết

về hình tợng ngời lính trở về, bên cạnh bức tợng đài chiến thắng đã thấp thoánghiện ra hình ảnh những anh “binh nhì” chập chững, ngơ ngác hoà nhập làm quenvới cuộc sống đời thờng phức tạp gấp nhiều lần cuộc sống họ từng trải nghiệm

1.2.2 Chân dung những ''binh nhì" của đời thờng trong một số tiểu thuyết gần đây

1.2.2.1 Ông trung tá về hu, vô lo, vô nghĩ

Đây là nhân vật tiêu biểu cho lối sống buông xuôi, vô trách nhiệm của một

bộ phận ngời lính khi trở về sống trong môi trờng mới

Đông - ngời chiến sĩ, hơn thế, ngời sỹ quan chiến đấu xa nhà thờng xuyên,một thời tung hoành ngang dọc, từng là niềm tự hào đến độ hoang tởng của Lý,cô vợ trẻ xinh đẹp của anh Không chỉ vậy, Đông còn là ngời giờ đây giữ cơng vịanh cả trong một “gia đình rất đáng tự hào về sự hoà mục” [7, 16] - trong gia

đình ông giáo Bằng Đông sẽ là rờng cột thay cha dạy bảo các em Luận, Cừ, ợng vẫn là những con ngời thuần hậu, gia giáo trong một gia đình nền nếp, tôn

Ph-ti trật tự “gia giáo cổ truyền” với “sự kính trọng có sắc thái dè dặt” Thế nhng,

từ ngày trở về, công việc chính của ông trung tá này là ban ngày chỉ ngủ và ngủ

để dành tất cả sức lực vào ban đêm cho các cuộc đánh tổ tôm Đông sống với mộtquan niệm hoàn toàn đơn giản: “Đời có gì phức tạp lắm đâu” trong khi ngaytrong gia đình lớn của mình những mặt trái của hiện thực mới, những sự thay đổi

đến nghiệt ngã các bậc thang giá trị đang diễn ra, những điều tốt đẹp của luân th ờng đạo lý đang bị thử thách và rối tung lên đã dần dần xâm nhập vào cái tếbào cuối cùng của tổ chức xã hội này, làm cho nó “đã trở nên lạc lõng hiếm hoivào những ngày này” [7, 17] Ngay trong gia đình riêng, mối quan hệ của Đông

-và Lý cũng đã bị rạn nứt nghiêm trọng, từ một thoáng nghi ngờ bộc lộ trong câunói tởng nh giễu cợt của Lý “Sao tôi lại phải lấy ông nhỉ?” đến mâu thuẫn ngày

Trang 19

càng căng thẳng, gay gắt dẫn đến kết cục bi đát nhng tất yếu là Lý bỏ vào SàiGòn, trơ trẽn sống với một gã biến chất, ăn chơi trác táng Dù rằng trong Lý ban

đầu manh nha có sự phản ứng, phản kháng mang màu sắc “nổi loạn” giữa mộtcon ngời ở cái tuổi mà “mọi cái đã trở nên không còn thiêng liêng, trong khi mọiniềm khát khao ở đời vẫn còn cha thoả nguyện, ngời đàn bà mà từ dáng điệu,ngôn ngữ, việc làm đều rất hoạt, rất hợp, rất thật với cuộc sống ngày hôm nay”[44, 170], tuy nhiên, trong sự sa ngã của Lý sau này không thể không có sự “xô

đẩy” của Đông Với tính cách và năng lực của Lý, chị không thể chịu đựng đợcmột lối sống buông xuôi, thờ ơ, vô trách nhiệm, coi mọi sự ở đời giản đơn đếnmức bất biết gì cả nh Đông ở nhân vật Đông, ta bắt gặp hình ảnh của một bộphận ngời lính khi trở về dờng nh quá tự hào, tự bằng lòng với những đóng góptrong quá khứ của mình nên tự cho phép mình sống buông thả, hởng thụ, bàngquan với mọi diễn biến phức tạp của cuộc đời Những con ngời này đã tự đánh rơinhuệ khí, “chất lính” trớc đây của mình và do đó cũng đánh mất nốt sự ngỡng mộ

ánh hào quang quá khứ của họ trong mắt con ngời hiện tại

1.2.2.2 Ngời lính trẻ thông minh nhng luôn sống lạc thời

Đó là Giang Minh Sài trong tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu [21] Sài

vốn là một cậu bé thông minh, lại là con của cụ Đồ Khang nên đợc dậy bảo họchành từ nhỏ theo nếp con nhà gia giáo Nhng ở cái làng Hạ Vị rặt lối sống nhàquê, lại mang “đặc điểm” rất riêng “không hiểu từ đời thủa nào làng chỉ quen đilàm thuê Miếng cơm thiên hạ bao giờ cũng ngon ( ) sáng cắp nón đi, tối cắpnón về nói cời rả rích Dờng nh số trời đã định cho làng này chỉ có việc đi làmthuê” [21, 25 - 26], lại sống trong cung cách của một gia đình đồ nho nên Sài đãphải lấy vợ từ năm 14 tuổi và bi kịch bắt đầu từ đây

Từ nhỏ đến lúc kiên quyết không vào học cấp III mà Sài xung phong nhậpngũ “với sự lặng thinh lầm lũi Anh im lặng với tất cả mọi ngời ( ) Anh đi nh sựchui luồn chạy trốn với cả hôm qua, hôm nay và ngày mai mà tự bằng lòng vớiquyết định đợc coi là vô cùng “dũng cảm” của mình: Hãy im lặng và chịu đựng!”[21, 80], Sài luôn luôn sống trong sự lo lắng đùm bọc thái quá của gia đình Ông

bà đồ Khang, vợ chồng anh Tính, chú Hà và cả ngời đợc phân công giúp đỡ Sàivào Đảng là anh Hiểu, đều theo dõi chặt chẽ từng bớc đi của Sài, hồi hộp với mỗithành tích anh đạt đợc, lo đến thắt ruột với mỗi khó khăn hay sự vấp ngã của anh

Có điều, những sự quan tâm ấy lại chỉ đem đến sự bất hạnh cho Sài Đây là nỗibất hạnh của một ngời phải luôn luôn “sống hộ ý định của ngời khác, cốt để cho

đẹp mắt mọi ngời chứ không phải cho hạnh phúc của mình”, là nỗi bất hạnh củamột ngời “nửa đời ngời phải yêu cái ngời khác yêu” [21, 389] Vì thế, dù đợcsống giữa sự quan tâm của mọi ngời Sài vẫn thấy cô đơn, lạc lõng Đúng nh lờichính uỷ Đỗ Mạnh, một ngời rất hiểu, rất thơng Sài và vì thế mà ông đã phải đau

đớn nói thẳng với Sài “Chính bản thân anh chất đầy cách sống của ngời làm thuê.Sẵn cơm thì ăn, sẵn việc thì làm chỉ hong hóng chờ chủ sai bảo chứ không dámquyết đoán định đoạt một việc gì”, “kẻ bị trói buộc không dám tự mình dẫy dụa,chỉ hong hóng chờ đợi, thấp thỏm cầu may” [21, 214], quả đúng, Sài là một “sảnphẩm mang nhãn hiệu của một thời bao cấp, kể cả bao cấp trong suy nghĩ” Nhng khi Sài đợc giải phóng thì sao?

Trang 20

Sau mời bảy năm vào bộ đội, mời một năm ở chiến trờng, mới ba mơi ttuổi “đã mang hàm thợng uý lúc này còn là trẻ, hiếm hoi”, là “một dũng sĩ mớinghe tên đã thuộc từ lâu” [21, 215], Sài đợc về Hà Nội học và anh lập tức “trởthành con ngời ở tất cả mọi lĩnh vực khiến nhiều kẻ phải mơ tởng, thèm khát.

Đảng uỷ viên Nhà trờng Lớp trởng lớp sau đại học”, mối quan hệ với tất cả bạn

bè nhiều đến nỗi giả sử Sài ăn cơm nhà bạn “nếu mỗi tuần chỉ ăn ba bữa vàochiều thứ bảy và ngày chủ nhật Sài tởng phải đến hàng năm mới hết lợt” [21, 215

- 216] Có nghĩa là dờng nh Sài đã có tất cả, đợc đền bù tất cả ở môi trờng mới,anh đã gặp Châu, cô gái Hà thành đẹp đẽ, khoẻ mạnh “còn trẻ mà lơng sáu ba làcao Nhà cửa đàng hoàng ” nh lời nhận xét của anh Tính, anh trai Sài NhngChâu cũng đúng nh dự cảm của anh Tính “chỉ qua hơn một giờ tiếp xúc, rõ ràngChâu sẽ làm chồng, có quyền chi phối mọi tình cảm của Sài Em mình đã bị lép

vế huống hồ là anh chị thì có nghĩa lý gì” [21, 227 - 228] Và, trong con mắt củaHơng, ngời yêu duy nhất của Sài, thì lấy Châu “Anh sẽ không làm đợc việc gìnữa”, “Tại vì anh sẽ không còn là anh nữa”, “Tại vì anh cứ phải cố lên mới theokịp đợc những đòi hỏi của ngời ta, không còn gì để nghĩ đến những chuyện khác”

và “Tại vì anh không đủ sức cỡng lại” [21, 247] Nhng “bất chấp sự gièm pha,can ngăn của Hơng và của những ngời thân, Sài quyết chí yêu Châu” [21, 250]

Hệ quả là suốt đời Sài lại phải luôn “chạy theo những cái mình không có” để dẫn

đến cái kết cục đơng nhiên phải đến: li dị Nhìn cái cảnh anh khoác ba lô ra khỏinhà, trắng tay hoàn toàn “ai cũng muốn kêu to lên với những chàng trai cô gáirằng: Các ngời hãy cứ yêu nhau say đắm và mê mẩn rồi lại cắn xé nhau nh chómèo đi Tất cả đều là quyền của các ngời Nhng đừng kẻ nào dã man tạo ranhững đứa trẻ để lại trút lên cái cơ thể bé bỏng ngây thơ của nó những tội lỗi sinh

ra từ lòng ích kỷ không cùng của các ngời!” [21, 396] Kết cục này có điểm xuấtphát là sự nhầm lẫn của Sài “chạy theo những cái mình không có” bởi Châukhông hề yêu Sài Cái gọi là tình yêu của Châu, cái vội vàng đòi tổ chức lễ cớicủa Châu chỉ là để trốn chạy một tình yêu khác, là để xoá dấu ấn, tung tích mộtbào thai của ngời khác Châu đang mang trong bụng Cái ảo tởng tình yêu mà Sài

cố làm tất cả để có đợc ấy thực chất anh chỉ làm công việc của một anh thợ trángmen!

Rõ ràng, một con ngời thông minh sáng láng nh Sài nhng anh lại là một

ng-ời luôn lạc lõng, lạc thng-ời dù anh rất cố Nhng nói nh Hơng “xoá bỏ sự cọc cạchnày để chắp vá với sự cọc cạch khác là đánh lừa nhau đợc cái gì” [21, 404] Hoá

ra khi trở lại đời thờng, dù là có sự thông minh trong một chàng sĩ quan tài giỏithì Sài vẫn chỉ là một chú “binh nhì” không hơn không kém và vì thế, việc anhkhông thích ứng đợc với hiện thực mới, thời thế mới là điều không có gì không lýgiải đợc

ở Mảnh đất lắm ngời nhiều ma [30], ngời lính trở về đợc hiện lên ở một

phơng diện khác Câu chuyện bắt đầu từ cái xóm Giếng Chùa “xóm vẫn quen

đứng đầu về cái sang cái giàu nhất xã” [30, 5] “Nếu ví cả xã là cái bánh, là bônghoa thì Giếng Chùa là cái nhân đờng, cái nhị mật: nghĩa là nơi có lề thói nhất, cáisang và cả cái gàn của Giếng Chùa cũng là nhất xã” [30, 6] Nhng từ cái xóm nàybiết bao điều quái gở, nhiễu nhơng xẩy ra Dù chỉ là “mảnh đất” nhng mảnh đất

Trang 21

ấy không chỉ “lắm ngời” mà còn “nhiều ma”, ma lấn át ngời Nói nh cô ThốngBiệu là “đừng tởng đất này đã hết ma Ma còn đang đẻ sinh đôi, sinh ba nữa cơ

đấy”, “nhìn chả thấy ngời đâu, toàn ma! Những thân ngời sống ngồi đấy mà cấmcòn nhận ra ai nữa Càng nhìn càng thấy đúng là những ụ mối, những bao bì dựngngợc, cái cao cái thấp lố nhố đầy nhà! Những con ma tham, ma ác từ đấy chui ra.Con nào cũng lành chanh lành chói mồm năm miệng mời, chả còn bùa dấu màyểm cho xuể! Đấy, các ngời đừng có vội tí toét, ma nó vẫn ngủ gà gật ở ngaytrong lòng các ngời” [30, 15] Trong cái xóm nhỏ ấy, nhung nhúc những ma cũ

ma mới, ma sống ma chết hoành hành mà xung đột căng thẳng nhất là sự xung

đột giữa hai dòng họ Vũ Đình và Trịnh Bá Những con ngời đứng đầu của haidòng họ này vốn cũng là những đảng viên (thậm chí là đứng đầu hoặc là uỷ viên

Đảng uỷ xã), những cán bộ địa phơng Nhng họ đã nhân danh Đảng, nhân danhchính quyền, đúng hơn là núp dới danh nghĩa Đảng và chính quyền để tác oai tácquái nhằm bành trớng thế lực dòng họ Trong bối cảnh nh thế, số phận con ngời ởcái xóm Giếng Chùa sẽ nh một con quay đợc ném qua ném lại, đợc tung hứngtuỳ theo sự thắng thế hay thất thế từng lúc của mỗi dòng họ ở đó, chẳng những

bà Son, lão Quềnh, Đào , bị lợi dụng mà ngay cả những “cán bộ Đảng” nh Bí thChi bộ Xuân Tơi cũng không nằm ngoài vòng xoáy ấy Xuân Tơi chỉ là “dân ngục”, và cũng chỉ là anh ba hoa chích choè không lợi, không hại Thế nên cả haiphe Vũ Đình và Trịnh Bá bao lâu nay vẫn tìm mọi cách kết nạp con cháu trong

họ vào Đảng để tạo nên “Chi bộ họ ta” nhằm gây áp lực trong các cuộc bầu cử,nay nhận thấy thế lực đang cân bằng nên ngầm thoả thuận dồn phiếu để Xuân T-

ơi “trúng phiếu cao nhất” bởi “thà thế còn hơn là để rơi vào tay ngời đối chọi vớimình Rồi sẽ lôi kéo hắn dần dần!” [30, 209]

Trong tình hình đó, hai đảng viên một già một trẻ từ quân đội về làng làTrung tá Chỉnh và anh Thợng sĩ Tùng sẽ bị nuốt chửng, bị vô hiệu hoá, bị biếnthành nhân vật để những ngời đứng đầu hai dòng họ lợi dụng cho những mu môriêng của họ “Trung tá Chỉnh, ngời có cấp hiệu cao nhất làng, nhng cũng là ngờivất vả lận đận nhất trong số những ngời về hu của xóm Giếng Chùa” [30, 171] lọtvào làng này với t cách là con rể Là một ngời trung thực, thẳng thắn, từ khi còn ở

bộ đội cho đến ngày về hu ở Giếng Chùa, mọi ngời vẫn gọi ông là “Chỉnh húc”.Nhng do những đặc điểm của một vùng nông thôn với các mối quan hệ giằng dịt,

đan xen, chồng chéo lẫn nhau nên cả hai dòng họ đều cần Chỉnh và cũng ngạiChỉnh Họ đã sử dụng uy tín của ông để tạm thời làm dịu cơn căng thẳng khi mâuthuẫn lên đến đỉnh điểm mà cha có hớng giải quyết và cũng để tỏ ra là những

đảng viên biết lắng nghe, biết trân trọng ý kiến của các đảng viên khác bởi “ôngChỉnh là ngời duy nhất khiến cho cả bên Trịnh Bá lẫn bên Vũ Đình đều nể trọng,vì ông không thuộc ngời của bên nào, tính tình cơng trực đến cứng nhắc ” [30,

319 - 320] Nhng ở xóm Giếng Chùa, vị trung tá về hu này thực tế là bị những kẻcầm đầu mà tiêu biểu là Bí th Đảng uỷ Trịnh Bá Thủ vô hiệu hoá, trớc sau ôngvẫn chỉ là kẻ ngụ c, không bà con thân thích, sống nghèo khổ với cái lò gạch! Còn Tùng, một thanh niên Giếng Chùa hăng hái, có học thức, lại trải quamột thời quân ngũ nay trở về làng vẫn còn sục sôi nhiệt huyết của một ngời lính,một đảng viên trẻ Tùng thẳng thắn, chân thật, dám làm dám chịu lại có cái chất

Trang 22

say mê của tuổi trẻ Tuy nhiên, đứng giữa hai làn đạn của hai vị đứng đầu haidòng họ lớn nhất Giếng Chùa, Tùng cũng bị biến thành nhân vật để hai kẻ đứng

đầu này lợi dụng Vốn là con cháu dòng họ Vũ Đình nhng Tùng lại yêu tha thiết

Đào, con gái của tộc trởng Trịnh Bá Hàm và mối quan hệ éo le này khiến choTùng ngày trở về nhận công tác ở địa phơng làm những “quan chức” Đảng vàchính quyền này trở nên khó xử Cuối cùng họ đã tính toán xếp cho Tùng cáichức xã đội trởng hữu danh vô thực để mỗi bên lợi dụng nó theo cách của mình.Thủ, Bí th Đảng uỷ xã xếp Tùng vào Đảng uỷ, giữ chức xã đội trởng, nhng nói

nh “bộ tham mu” của dòng họ Vũ Đình là “không bao giờ tay Thủ nó dùng thằngTùng Thì cứ xem từ ngày đợc vào Đảng uỷ, nhng tay Thủ nó cho ngồi chơi xơinớc đấy chứ, có việc gì đâu!” [30, 359] Còn Thủ, trớc cuộc họp kiểm điểm khithực hiện chỉ thị 04 của Đoàn công tác huyện, trong khi trình bày bản tự kiểm

điểm đã khéo léo lôi kéo Tùng “Với Đảng uỷ tôi đã làm hết chức trách của một

Bí th cha? ở đây có đồng chí Tùng gần gũi sẽ cho ý kiến” [30, 382] Chỉ cóTrung tá Chỉnh ở trong cuộc họp này biết rõ “Tùng sẽ bị công kích từ cả haiphía” [30, 388] Chính sự lôi kéo, giành giật nhằm phục vụ cho m u đồ cá nhân,dòng họ đó của cả hai phía khiến Tùng luôn luôn ở trong trạng thái “bỗng thấymiệng đắng ngắt” [30, 364], “nhng trong bụng Tùng thì càng hoang mang” [30,365] và nh lời tâm sự thật của anh: “Cháu không có mong muốn làm gì ở đây.Cháu không phải là ngời ham làm chính trị Cháu còn đang nghĩ không biết nên

ở nhà hay lại ra đi? Lúc nào cũng nghe lình sình thấy chán lắm!” [30, 378] Kết cục số phận hai ngời lính ở xóm Chùa sẽ nh thế nào? Có thể lấy lờiMinh, một cô gái thân với cả Tùng lẫn Đào làm ví dụ minh hoạ: “Anh có biết từchiều đến giờ ngời ta nói giăng giăng cái gì không? ( ) Ngời ta bảo hai anh línhhết thời, Chỉnh - Tùng liên kết với nhau để đảo chính tất cả những ngời đang nắmquyền ở đây! Bất kể anh em , trên dới, lật hết! Vứt xuống sông xuống biển! Chỉ

có ta đây mới đích thị là đảng viên, còn là gia công hết, dởm hết! Sao mà liềulĩnh thế anh tồ ơi! Rồi xem, anh lật ngời ta hay ngời ta lật anh! Hai ngời thì bõbèn gì Không khéo chỉ đêm nay, đêm mai là anh bị ném xuống ao xuống hồ!”[30, 406]

Kết thúc tác phẩm là tâm trạng Tùng thông qua quyết định “Đến nớc này thìanh thấy là mình cần đi khỏi đây! Không phải đi làm vơng làm tớng gì, mà đi lao

động thôi” [30, 408] Thực chất của quyết định này nói nh Minh là: “Còn anh,thế là anh chạy trốn! Đấu tranh tránh đâu mà! Tránh đến mức phải bỏ làng bỏ n-

ớc để thoát lấy thân!” [30, 409]

Số phận ngời lính trở về sau chiến tranh còn đợc biểu hiện từ một phơngdiện khác: Đó là nỗi ám ảnh của chiến tranh khiến cuộc sống họ không bình yên,không bình thờng trong mắt mọi ngời và cả trong chính bản thân họ Đó là trờng

hợp nhân vật Kiên trong Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) Bao trùm toàn bộ

tác phẩm là nỗi buồn, sự ám ảnh của con ngời vừa đi ra khỏi cuộc chiến tranh.Kiên là Trung đội trởng của một đơn vị trinh sát trực tiếp chiến đấu ở chiến trờngTây Nguyên - một chiến địa cực kỳ khốc liệt và gian khổ đặc biệt là giai đoạncuối mùa khô năm 1969

Trang 23

Trải qua những năm tháng chiến trờng, khi trở về địa phơng, nỗi ám ảnh vềnhững ngày tháng chiến tranh: ám ảnh về sự ác liệt, ám ảnh về sự gian khổ, ám

ảnh về tình yêu luôn luôn ập đến và khiến anh trở thành một “nhà văn ph ờng”bất đắc dĩ ngồi chép lại ký ức chiến tranh “có vẻ nh chẳng một trình tự nào hết.Trang nào cũng hầu nh là trang đầu, trang nào cũng có vẻ là trang cuối” [22,228] Để rồi nỗi ám ảnh ấy trở thành nỗi buồn da diết và bởi thế tâm hồn này trởnên vĩ đại vì cái buồn là một phạm trù của cái thẩm mỹ Nói nh Bảo Ninh trongcuốn tiểu thuyết này là “Mỗi ngời trong chúng tôi bị chiến tranh chà nát theomột kiểu riêng ( ) Nhng chúng tôi còn có chung một nỗi buồn, nỗi buồn chiếntranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vợt trên đau khổ.Chính nhờ nỗi buồn mà chúng tôi đã thoát khỏi chiến tranh ( ), để bớc trở lạicon đờng riêng của mỗi cuộc đời có lẽ chẳng sung sớng gì và cũng đầy tội lỗi,nhng vẫn là cuộc đời đẹp đẽ nhất mà chúng tôi có thể hy vọng, bởi vì đấy là đờisống hoà bình” [22, 301- 302]

Suốt cả chiều dài tác phẩm, Bảo Ninh để cho Kiên hồi tởng lại chặng đờngtrong quá khứ mà nổi bật là những cuộc chiến đấu ác liệt với kẻ thù ở truông GọiHồn, Sa Thầy, Ngọc Rinh Rua, Ch Cô Tông, Ga Thanh Hoá và mối tình vừa

đắm say bạo liệt vừa đau khổ mênh mang với Phơng ngời con gái ở trờng phổthông và ở cùng phố

Những kỷ niệm về chiến tranh trong tâm trí Kiên là những trận đánh cụ thể

và trận nào cũng kinh hoàng Đây là trận chiến quyết liệt ở truông Gọi Hồn: “Một trận đánh ghê rợn, độc ác bạo tàn Mùa khô ấy, nắng to gió lớn, rừng bị ớt

đẫm xăng đặc, cuồn cuộn lửa luyện ngục Các đại đội đã tan tác đang cố cụmlại, lại bị đánh tan tác Tất cả bị na - pan (Bom napan, bom lân tinh) tróc khỏicông sự, hoá cuồng không lính không quan gì nữa rùng rùng lao chạy trong l ới

đạn dày đặc, chết dúi ngã dụi vào biển lửa ( ) Máu tung xối, chảy toé, ồng ộc,nhoe nhoét ( ) sau khi bọn Mỹ rút thì ma mùa ập xuống lụt rừng Bãi chiến tr-ờng biến thành đầm lầy, mặt nớc màu nâu thẫm nổi váng đỏ lòm Trên mặt nớclềnh bềnh xác ngời sấp ngửa, xác muôn thú cháy thui, trơng sình trôi lẫn vớicành lá ” [22, 6 - 7] Đây là trận đánh ở sông Sa Thầy “những trận m a cẳngchân, bàn tay rơi lịch bịch lẹt bẹt xuống đồng cỏ voi bên bờ sông Sa Thầy vàolúc rạng mơ sau suốt một đêm B.52 liên tục chần Có thể tận mắt ngắm sờn đồiXáo Thịt sau ba ngày huyết chiến nom y hệt một mái nhà lợp bằng thây ngời ”[22, 100]

Chính vì thế, cái nhìn về chiến tranh của Kiên là cái nhìn mang tính chấtcủa nỗi ám ảnh khác với cái nhìn của Chu Lai trong các tiểu thuyết của mình,mặc dù hai tác giả đều là lính trinh sát, đều cùng ở chiến trờng ác liệt suốt mờinăm, đều cùng viết văn Đối với Kiên “trong chiến tranh, cuộc sống của anh, củabao ngời khác thật kinh khủng, thậm chí khó có thể bảo đấy là cuộc sống nói gì

đến sự tìm kiếm những sắc thái nghệ thuật trong cuộc sống đó” [63] “Sau cuộcchiến tranh ấy chẳng còn gì nữa cả trong đời anh Chỉ còn những mộng mị hãohuyền Sau cuộc chiến tranh ấy anh dờng nh chẳng còn ở trong “một kênh” vớimọi ngời” [22, 92] Còn trong các tiểu thuyết của Chu Lai thì chiến tranh vừa

có mặt bi hùng vừa có mặt lãng mạn Với Phơng, mối tình đầu mãnh liệt thủa

Trang 24

học trò của Kiên cũng trở thành nỗi ám ảnh suốt cuộc đời anh Đầu tiên là những

kỷ niệm đẹp của tuổi thơ với những con đờng Nguyễn Du, hồ Thiền Quang, ờng Bởi in dấu buổi mít tinh mà “anh và Phơng lại không có mặt trong cuộc mít

tr tinh ba sẵn sàng ấy Hai đứa lẩn ra phía sau nhà bát giác ẩn vào lùm cây sátmép Hồ Tây Đằng ra, đờng Cổ Ng đỏ ánh chiều và rực rỡ màu phợng vĩ Ve sầurâm ran” [22, 137] Tiếp đó là kỷ niệm về chuyến tiễn đa của Phơng với nhữngtình huống bất ngờ ngoài dự định từ Hà Nội tới Vinh và ngợc lại trong cảnh bom

Mỹ dội nh ma xuống đoàn tàu hoả ở Ga Thanh Hoá

Sau này, trong những tháng ngày giữa chiến trờng ác liệt, hễ bất chợt cómột chi tiết nào đó là lập tức Kiên liên tởng đến Phơng và nhờ thế nó làm dịu đinhững phút giây nặng nề tởng đến phát điên trong anh, ví nh chặng đờng hànhquân qua Lào, ví nh năm 69 lần bị thơng nằm ở đội Điều trị 8

Nỗi đau đớn nhất của Kiên là sau mời năm trở về, anh đã gặp lại ngời yêuvới một cô Phơng hoàn toàn khác theo hớng biến dạng, méo mó đến khủngkhiếp Từ một nữ sinh xinh đẹp nổi tiếng hồn nhiên và tài hoa của trờng ChuVăn An, giờ đây Phơng là một phụ nữ bất chấp, thả mình trong hoan lạc với mọiloại đàn ông Vốn là một cô gái có cá tính sống quyết liệt là thế, giờ đây Ph ơngchán nản tất cả, chẳng còn gì là thơ mộng, là thiêng liêng nữa Tình yêu trớc

đây trong Phơng bao giờ cũng mãnh liệt và đắm say nay cô sẵn sàng khớc từ nó

Có một cái gì đó nát tan, rã rợi trong cuộc đời và trong tâm hồn Phơng Đỉnh

điểm của nỗi đau là khi Phơng bỏ đi, Kiên thẫn thờ trong đau đớn và thất vọng

“Bây giờ, đâu rồi tất cả? Và từ bấy đến nay, ngọn gió phũ phàng nào đã thổitrên thế giới này?” [22, 257]

Cả hai nỗi ám ảnh trên triền miên trong tâm tởng Kiên khiến anh khôngthể làm gì khác ngoài luôn nhớ “day dứt, trăn trở không nguôi về quá khứ” (LêNgọc Trà) Điểm ấy khiến cho trong mắt của bạn bè, ngời thân, những ngờihàng xóm nhìn Kiên vừa ngỡng mộ trong t cách một “nhà văn phờng” vừa lạlẫm trớc nhân cách của “một anh khùng”, đến nỗi “khi nhà văn phờng của tôi

tự bỏ khu phố này, anh chẳng hề cho ai hay, mà rồi thực ra cũng chẳng ai ngời

ta để ý” [22, 296]

Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh là một tác phẩm thành công trên

nhiều phơng diện mà độc đáo nhất là cách tiếp cận chiến tranh của nhà vănkhông giống bất cứ tác phẩm nào viết cùng đề tài này Nói nh Lê Ngọc Trà: “Thân phận của tình yêu là sự nghiền ngẫm nhớ lại của một ngời về chiến tranhnên cái nhìn về chiến tranh có thể không giống nh khi nó còn đang tiếp diễn vàcũng có thể không giống với cái nhìn của số đông, của ngời khác Nhng có sao

đâu, thậm chí còn đáng trân trọng nữa” (Thách thức của sự sáng tạo, thách thức của văn hoá, Nxb Thanh niên, 46).Bởi vì “nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về

những gì đã qua là dấu hiệu của một thứ văn học trởng thành” [Sđd, 47]

Xét ở góc độ hình tợng ngời lính trở về sau chiến tranh, nhân vật Kiên làmột ngời lính thật sự dũng cảm, lòng dũng cảm của thái độ dám lội ngợc lạichiến tranh theo cách riêng của mình Lòng dũng cảm ấy của Kiên bây giờ rõràng không hề kém lòng can đảm chấp hành mệnh lệnh chỉ huy lao lên tronglửa đạn năm xa Tuy vậy, trong số phận ngời lính này ta vẫn cảm nhận ra một

Trang 25

cái gì đó thơng tật, đổ vỡ trong tâm hồn anh Từ ngày trở về, cuộc sống của anh

là một chuỗi ám ảnh với hồi ức về những đồng đội có kẻ sống, có ngời chết, vềnhững con ma hiện hình ở truông Gọi Hồn, về những cảnh chém giết man rợ,

về lòng dũng cảm, sự hy sinh cũng nh những sự hèn nhát, đốn mạt của con ời Tất cả đó khiến anh trở nên lạc lõng, cô đơn, không bình th ờng trong conmắt ngời đời

ng-Hình tợng ngời lính trở về sau chiến tranh còn đợc đề cập đến khá nhiềutrong các tác phẩm của nhiều thể loại khác nữa Có thể kể đến các tác phẩm

Ông đại tá về hu của Nguyễn Khải; Bớc qua lời nguyền của Tạ Duy Anh; Tớng

về hu của Nguyễn Huy Thiệp; Chim én bay của Nguyễn Trí Huân và đặc biệt

xuất hiện với tần số cao trong các tiểu thuyết của Chu Lai Có thể thấy điểmchung trong các tác phẩm viết về ngời lính sau chiến tranh là dù ở bất cứ hoàncảnh nào, môi trờng nào, về căn bản ngời lính vẫn giữ đợc những phẩm chấtcao cả của họ và mang phẩm chất ấy vào cuộc sống mới, môi trờng mới Tuyvậy, số đông trong họ khi trở về thờng rơi vào tình trạng rất khó hoà nhập thíchnghi với những giá trị mới của đời sống và gặp nhiều thất bại khiến họ rơi vàotình trạng bấp bênh, trớ trêu trong số phận

Hàng loạt tiểu thuyết của Chu Lai viết về đề tài, chủ đề này sẽ làm rõ hơnnhững ngả rẽ trong số phận của họ

Trang 26

Chơng 2 hình tợng ngời lính trở về sau chiến tranh

trong tiểu thuyết của chu lai 2.1 Chu Lai - ngời lính và nhà văn của lính

2.1.1 Ngời chiến sĩ đặc công ngang dọc vùng ven Sài Gòn

Chu Lai tên khai sinh là Chu Ân Lai, họ tên đầy đủ là Chu Văn Lai, sinhngày 05- 02-1946 Quê ông ở thôn Tam Nông, xã Hng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnhHng Yên Xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn học, cha ông là nhàviết kịch nổi tiếng Học Phi Bản thân ông cũng sớm bộc lộ năng khiếu nghệthuật Gia đình ông chuyển lên Hà Nội sinh sống từ những ngày ông còn nhỏ Vìthế, nếu nh mảnh đất Hng Yên ngọt ngào, bình yên đã cho ông ký ức đẹp về quêhơng, làng mạc, thì Thủ đô Hà Nội tạo cho ông cốt cách lịch lãm, tài hoa của ng -

ời con đất kinh thành

Học hết phổ thông, Chu Lai thi đỗ vào đại học Chứng kiến cảnh đất n ớcchìm trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chu Lai tình nguyện lên đ -ờng nhập ngũ khi mới học hết năm thứ nhất đại học Thời kỳ đầu của quân ngũ,Chu Lai đợc điều về làm diễn viên Đoàn Kịch nói Tổng cục Chính trị Khuônmặt đặc biệt thích hợp để đóng những vai phản diện đã khiến chàng trai trẻ mặc

áo lính không toại nguyện Chu Lai xin ra chiến trờng trực tiếp cầm súng chiến

đấu Sau đó, ông chuyển về đơn vị đặc công chiến đấu ở vùng ven Sài Gòn trongnhững ngày gian khổ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ Có lần ôngtâm sự với độc giả rằng, trong khoảng thời gian là ngời chiến sĩ đặc công ngangdọc vùng ven Sài Gòn đó, ông viết văn nh là viết nhật ký, trong ông lúc đó có sự

đam mê, tình yêu thơng, lòng thù hận thôi thúc, để rồi những tác phẩm chắt lọc

từ cuộc chiến đấu đợc bỏ vào thùng đạn đại liên đem dấu xuống đáy sông SàiGòn Có lẽ, những năm tháng vào sinh ra tử ở những vùng ven đô Sài Gòn đã đểlại dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn Chu Lai và cho ông vốn sống phong phú về sốphận con ngời ở nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ là gang tấc Đơngnhiên viết về đề tài chiến tranh sẽ là thế mạnh cho nghiệp viết nghiêm túc mà saunày và bây giờ Chu Lai vẫn đang theo đuổi Mời năm ở đơn vị đặc công, Chu Laigiữ chức đại đội trởng đại đội trinh sát chiến đấu cho đến ngày giải phóng MiềnNam, thống nhất đất nớc Sau 1975, ông về làm trợ lý tuyên huấn Quân khu VII.Cuối năm 1976, ông về trại sáng tác văn học Tổng cục chính trị, sau đó đi họclớp khoá I của trờng viết văn Nguyễn Du Tốt nghiệp trờng viết văn, ông về côngtác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội

Đại tá Chu Lai là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội viên Hội nhàvăn Việt Nam Là nhà văn sống hết mình vì nghệ thuật, vậy mà với Chu Lai thoạt

đầu nghề văn chỉ là một công việc bất đắc dĩ Trong Đôi dòng tâm sự, Chu Lai

bộc bạch: “Ba mơi tháng t! Đứng giữa Sài Gòn với quân hàm thiếu uý Ngẩn ngơ.Hai mơi tám tuổi Bỏ lại đằng sau mời năm trận mạc Phía trớc là gì nhỉ? Hếtgiặc rồi Mà đời còn dài quá Làm gì đây? Viết vậy Viết lại, kể lại những thángngày qua vậy Cái lý do ra đi cầm súng há chẳng phải bắt đầu từ ý niệm này sao!

Và viết ( ) viết rất nhanh Viết nh tự thuật Nóng hổi Không h cấu.Không làm văn Vốn sống tràn trề, cảm giác ngổn ngang” [52, 322] Phải chăng,

Trang 27

dòng máu văn chơng đã thấm sâu vào trong máu của ông khi còn trong bụng mẹ,

nó đợc hình thành từ huyết thống gia đình, từ ngời cha nổi tiếng Ngay từ nhỏ,Chu Lai đã nghe say mê chuyện đàm đạo văn chơng giữa cha mình với các cụThế Lữ, Đào Mộng Long Tố chất văn chơng, nghiệp nhà cùng với vốn sống,vốn chiến đấu lăn lộn mời năm ở chiến trờng đã giúp ông tích luỹ đợc nhữngkinh nghiệm dày dạn và vốn sống phong phú Và rồi “cái nghiệp chớng văn ch-

ơng đã khiến ông trở thành một ngời lao công cặm cụi khổ đau trên cánh đồngchữ nghĩa” Dù rất khiêm tốn tự nhận mình nh “con tôm nuôi trong hồ nớc lợ”nhng thực sự tác phẩm của ông là sản phẩm của tài năng và thực tế trải nghiệm

Ông đã cho ra mắt khối lợng tác phẩm khá đồ sộ và gặt hái đợc những thànhcông đáng kể, thu hút sự quan tâm rộng rãi của công chúng Những tác phẩm vănhọc gây tiếng vang trong lòng độc giả với những vị trí xứng đáng trong làng văn

học Nh Ăn mày dĩ vãng (giải A của Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh cách

mạng và lực lợng vũ trang Hội Nhà văn năm 1993, giải thởng văn học Bộ Quốc

phòng năm 1994); Phố (giải thởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội - 1993); Ba lần và một lần (Tặng thởng cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn tổ chức năm

1998 - 2000); Cuộc đời dài lắm (Giải thởng Hội nhà văn, 2001) Chu Lai cũng là nhà văn có nhiều kịch bản sân khấu và kịch bản phim đợc dàn dựng nh Hà Nội

đêm trở gió, Ngời Hà Nội, Ngời mẹ tự cháy, Ăn mày dĩ vãng Điều đó đã một

phần nào chứng minh những thành công trong sự nghiệp viết văn của ngời lính

đặc công ven đô ngày nào

Nh vậy, bằng tài năng, tâm huyết của mình, Chu Lai đã khẳng định đợc vịtrí xứng đáng trong văn học thời kỳ đổi mới nói chung và trong văn xuôi chiếntranh nói riêng Đó là một vinh dự mà không phải nhà văn nào cũng có đợc

Với Chu Lai, “nghệ thuật phải lấy cảm hứng từ niềm tự tôn dân tộc” vàvới những ngời sinh ra trong chiến tranh thì niềm tự tôn đó chính là “ngọn giócủa trận mạc” Vì thế, ông trở thành nhà văn độc đáo khi trong toàn bộ tác phẩmcủa mình ông chỉ lấy duy nhất một nguồn cảm hứng, một đề tài, chủ đề duy nhất

là số phận ngời lính Khi viết về mảng đề tài này, Chu Lai đã “nói ra đ ợc nhiều

điều cần nói về những năm tháng chiến tranh hôm nào mà anh là ngời trongcuộc” Nhà văn đã biết vợt ra khỏi sự mô tả hiện thực thông thờng, vợt lên trênnhững ràng buộc của thời sự và tuyên truyền để đi sâu khám phá chiều sâu hiệnthực, khám phá thế giới nội tâm của ngời lính với tất cả cái “đa sự, đa đoan” của

nó trong chiến tranh và trong đời sống hậu chiến “Sự thật về chiến tranh hômnay đợc nhìn lại là một sự thật đã trải qua những năm tháng day dứt, trăn trởtrong tâm hồn nhà văn, hơn thế, nó thực sự là những nếm trải của những ngời

“chịu trận”, ngời trong cuộc Chu Lai, tác giả của hàng loạt tiểu thuyết viết về

Trang 28

chiến tranh: Phố; Ăn mày dĩ vãng; Vòng tròn bội bạc; Ba lần và một lần đã

từng có những năm tháng “chịu trận” nh thế ở một vùng ven đô Sài Gòn, tuyTrung Đỉnh cũng là một nhà văn có nhiều vốn sống về chiến tranh và TâyNguyên, đặc biệt là cuộc chiến tranh du kích mà nhà văn từng là một trong cuộc

Bùi Bình Thi, tác giả của Hành lang phía đông, mặc dù không phải là ngời lính

nhng đã có nhiều năm lăn lộn với chiến trờng Lê Lựu, Khuất Quang Thuỵ,Nguyễn Trí Huân, Trần Huy Quang cũng không nằm ngoài hai trờng hợp trên.Bởi thế, chiến tranh hiện diện trong tác phẩm của họ không chỉ là sự kiện, nhữngbiến cố lịch sử mà còn là số phận con ngời” [20, 109]

Với t cách là ngời từng tham chiến, vốn sống ở chiến trờng đủ cho Chu Laitái hiện hiện thực chiến tranh với tất cả hình thái đặc thù của nó Trong nhữngtrang tiểu thuyết, không ít lần ông nói lên suy nghĩ của mình:“Chiến tranh làngày nào cũng chôn nhau nhng cha đến lợt chôn mình” Một định nghĩa ngắngọn, giản dị, mộc mạc nhng nó giúp ngời đọc thấy đợc bộ mặt ghê rợn khủngkhiếp của chiến tranh, thấy đợc cái tàn nhẫn, phi nhân tính mà chiến tranh đãgieo rắc trên một dân tộc yêu chuộng hoà bình Chu Lai không chỉ có cơ hộiquan sát mà còn sống đến tận cùng nỗi đau Chiến tranh không phải là “ngày hộilớn của dân tộc” mà là “một luật chơi tàn bạo”; không phải là “mảnh đất bằngphẳng trồng toàn hoa” mà là nơi “xác ngời xấp ngửa, xác muôn thú cháy thui”[42] Không lẩn tránh sự thật, những mất mát đau thơng đợc nhà văn miêu tả đếntận cùng, qua việc khám phá hình tợng ngời lính

Trong một buổi nói chuyện trên truyền hình, Chu Lai tâm sự: Nếu viết tiếptôi sẽ lại tiếp tục viết về chiến tranh, đó là quá khứ hào hùng của lịch sử dân tộc,trong đó không thể thiếu hình ảnh ngời lính trong chiến tranh, một đề tài khôngmới nhng mỗi khi đề cập đến lại thấy nhiều điều đáng viết Hầu nh trong tất cảcác sáng tác của ông: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, kịch bản phim đều chỉ viết

về một đề tài: ngời lính, đều chỉ khám phá một hình tợng nhân vật: ngời lính Cóhàng loạt những nhân vật là ngời lính trong tiểu thuyết Chu Lai: họ đang trở về,

đang sống lại trong sự khắc khoải đau thơng buồn tủi nhiều hơn gấp ngàn lần

niềm vui, hạnh phúc Đó là Hai Hùng trong ăn mày dĩ vãng; là Linh trong Vòng tròn bội bạc; là Sáu Nguyện trong Ba lần và một lần Đề tài ngời lính cứ trở đi

trở lại trong các sáng tác của Chu Lai song mỗi một số phận lại là một trăn trở,một suy t, một chiêm nghiệm riêng của chính tác giả đang hoá thân vào Nhng có

lẽ đóng góp lớn nhất của tiểu thuyết Chu Lai trong việc thể hiện hình t ợng ngờilính trở về sau chiến tranh đó là số phận của họ luôn đợc đẩy đến tận cùng của

sự buồn, vui, đau khổ, bất hạnh hay là sung sớng, hạnh phúc Thu Hồng và Hơng

Lan trong Bản chất cuộc đời là bi tráng (Thanh niên, 2003) đã nhận xét: “Nó

khiến những cuộc chiến tranh của anh không thể đi đến một kết thúc “tròn trịa”

mà day dứt ngời ta mãi khi trang cuối cùng khép lại” [9]

Chu Lai còn có những phát biểu mang tính chính thức trong các hội thảo,thể hiện tâm huyết, năng lực của ông trong sự nghiệp cầm bút: “Văn đàn là nơithể nghiệm, là nơi các nhà văn dồn tâm t, uẩn khúc, báo động cho cuộc đời biếtthiện, ác, đối kháng thế nào Anh phải đặt đợc ý tởng để tranh luận, nhng phải là

ý tởng nhân văn chứ không phải bệnh hoạn” [10, 61]

Trang 29

Những năm gần đây, Chu Lai thờng có những mối quan hệ cộng tác chặtchẽ, thân thiết với báo, đài Không những vậy ông còn xuất hiện trên truyền hình

nh một ngời dẫn chơng trình, một khách mời có duyên, hóm hỉnh, sâu sắc Lốinói chuyện của Chu Lai cũng gắn với ngôn ngữ nhân vật của ông: bụi bặm, sắccạnh, dí dỏm đầy chất lính

Chu Lai sáng tác từ rất sớm, ngay từ khi 17 tuổi nhà văn đã cho ra đời vở

kịch ngắn Hũ muối ngời Mơ Nông (sáng tác 1963) đợc đăng trên tờ báo ngành nhng không mấy tiếng vang Phải đến 1975 với truyện ngắn Kỷ niệm vùng ven đ-

ợc đăng trên báo Văn nghệ - Chu Lai mới chính thức “gõ cửa” làng văn Hànhtrình sáng tác của Chu Lai gồm hai giai đoạn: giai đoạn tiền đổi mới (1975 -1986); giai đoạn đổi mới (1986 - đến nay)

Giai đoạn từ 1975 đến 1986, Chu Lai đã cho ra mắt bạn đọc các tác phẩm

Ngời im lặng (Tập truyện - 1976); Nắng đồng bằng (Tiểu thuyết 1977); Đôi ngả thời gian (Tập truyện - 1975); Đêm tháng hai (Tiểu thuyết - 1982); Vùng đất xa xăm (Tập truyện - 1983); út Teng (Tiểu thuyết - 1983); Gió không thổi từ biển

(Tiểu thuyết - 1985) ở những tác phẩm này mặc dù đã có sự đổi mới nhng ngòibút Chu Lai về cơ bản vẫn trợt theo quán tính văn học của giai đoạn trớc, âm h-ởng chung của các tác phẩm này chủ yếu là âm hởng sử thi Ngời đọc vẫn gặptrong tác phẩm cách miêu tả quen thuộc về con ngời ở văn xuôi trớc 1975 - đó là

sự phân định tính cách rõ ràng của nhiều anh hùng tham gia trận mạc

Giai đoạn từ 1986 đến nay, ngòi bút của Chu Lai đã thực sự đổi mới toàndiện và mạnh mẽ Cùng với những bức xúc, day dứt xung quanh vấn đề ng ời línhtrở về sau chiến tranh, Chu Lai đã cho ra mắt bạn đọc một loạt tiểu thuyết dài hơitạo thành “dòng tiểu thuyết chiến tranh và ngời lính của Chu Lai” góp phần làm

phong phú đời sống văn xuôi những năm 1990 nh Sông xa (Tiểu thuyết - 1986), Bãi bờ hoang lạnh (Tiểu thuyết - 1990), Vòng tròn bội bạc (Tiểu thuyết - 1996),

ăn mày dĩ vãng (Tiểu thuyết - 1994), Phố (Tiểu thuyết - 1993), Ba lần và một lần (Tiểu thuyết - 2000), Cuộc đời dài lắm (Tiểu thuyết - 2002).

Có thể thấy các tác phẩm này đã có những bớc bứt phá để thể hiện nhữngquan niệm mới về hiện thực và con ngời nhằm phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ mớicủa công chúng ngày nay Số phận con ngời đợc quan tâm hơn ở góc độ đời t,

đặc biệt hình ảnh ngời lính trở về sau chiến tranh đã trở thành vấn đề nhức nhốivới một quá khứ ám ảnh mang nặng ký ức chiến tranh, họ sẽ nh thế nào trongcuộc sống hiện tại thời bình? Đó chính là cảm hứng bao trùm trong các sáng táccủa Chu Lai

2.2 Chân dung ngời lính trong tiểu thuyết Chu Lai sau 1975

2 2.1 Ngời lính trở về với chỉ một hành trang duy nhất

30.4.1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nớc bắt đầuchuyển mình từ cuộc sống thời chiến sang cuộc sống thời bình Nh ng những ký

ức về chiến tranh vẫn cha nhạt phai dù tổ quốc đã yên tiếng súng Văn học nghệthuật cũng vậy Hơn ba mơi năm, đề tài chiến tranh đã góp phần quan trọng làmnên diện mạo của nền văn học Việt Nam Sau năm 1975, đề tài này vẫn có sứchút với nhiều nhà văn và giới nghiên cứu, phê bình văn học Văn học viết về

Trang 30

chiến tranh cơ bản vẫn “trợt theo quán tính cũ” (Nguyên Ngọc) Đứng trớc đề tàitởng nh khá quen này, liệu các nhà văn có tiếp tục viết nh trớc đây đợc nữa?Ngay từ những năm 1978, Nguyễn Minh Châu đã trăn trở: “Bao giờ chúng ta mớithực sự có những cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh? Bao giờ những cây bút

đã từng lăn lộn trong chiến tranh sẽ đem lên trang giấy những điều sở đắc nhất,những bài học đờng đời chỉ riêng anh mới khám phá thấy trong hoàn cảnh chiến

tranh và có thể làm bài học cho nhiều hoàn cảnh khác?” [12] Vấn đề mà Nguyễn

Minh Châu trăn trở cũng chính là một thái độ, một cách nhìn không thoả mãn vớilối nghĩ, lối viết công thức trong văn học giai đoạn trớc

Đinh Xuân Dũng cũng có ý kiến xung quanh đề tài chiến tranh trong văn họcViệt Nam sau 1975 “Chiến tranh, dù nó đã đi xa, dù hiện tại và tơng lai có thểcòn nhiều biến động phức tạp mới, vẫn không thể lãng quên, vẫn và sẽ là một đềtài lớn và hấp dẫn, bởi xét cho cùng, mục tiêu sáng tạo không phải là kể tả lạichiến quả để chiêm ngỡng, ngắm nhìn, mà để tìm ra những vấn đề sâu xa nhấtcủa đời sống con ngời trong một quan hệ phức tạp nhất, không bình thờng củabản thân đời sống đó - quan hệ biến cố chiến tranh và số phận con ngời, số phậndân tộc” [13]

Chu Lai cũng có quan điểm, yêu cầu của mình trong việc xây dựng hình tợngngời lính trong văn học, ông cho rằng “Ngời lính đòi hỏi văn học phản ánh họ

nh cái họ vốn có Cứ phản ánh trung thành với trái tim lành lặn, thiện chí nhất”,vì theo ông “chiến tranh với tất cả những hình thái đặc thù của nó hoàn toàn có

thể đẩy nhân vật ngời lính đến tận cùng số phận” [39] Khảo sát các tiểu thuyết

của ông, ta bắt gặp hầu hết các kiểu gơng mặt ngời lính thờng xuất hiện trongvăn học đơng thời Có ngời lính thời chiến, có nhiều hơn là ngời lính thời bình.Trong văn Chu Lai, không ít những ngời lính mang vẻ đẹp vừa anh hùng, vừalãng mạn Cũng không thiếu những ngời t tởng sai lạc, phản bội lời thề thiêngliêng đối với Đảng, với tổ quốc và đồng đội của mình, những ngời đã sát cánhcùng mình trong những trận chiến sinh tử Chính vì thế, Chu Lai từng viết “Chiếntranh không chỉ có hoảng loạn đau đớn khổ ải Nó bao giờ cũng có hai gam: dữdội đến tận cùng và lãng mạn đến tận cùng Tất cả những cuốn sách của tôi đềuchứa đựng cả hai gam này Và tất cả phải dựa trên một cái nền: tình yêu Nóithật, nếu chiến tranh chỉ là những trận đánh kinh hoàng và chết chóc, sẽ không

có ai đọc về chiến tranh đâu” [19, 9] Xuất phát từ cái nhìn về chiến tranh nh vậy,Chu Lai đã xây dựng cho riêng mình một phong cách riêng biệt, không trộn lẫnvào bất cứ một giọng văn nào khác Đọc văn Chu Lai, ngời đọc cảm thấy một lốiviết sắc sảo, thể hiện một cá tính mạnh mẽ bắt buộc ngời đọc phải suy nghĩ, trăntrở với những gì đang diễn ra trong tác phẩm và ngoài cuộc đời Chu Lai đã đónggóp cho văn học sau chiến tranh những trang viết khá đặc sắc, mang đặc điểm thipháp riêng của ông Đó là một cách viết gai góc, bụi bặm tởng chừng nh lạnhlùng, tàn nhẫn nhng thực ra đằng sau nó lại chứa chan cảm xúc Có ý kiến chorằng “Có một cảm giác trong mọi hoàn cảnh Chu Lai luôn “cố thủ” cho mìnhmột cái vẻ lạnh lùng, bất cần, pha chút tếu táo Chỉ khi anh kể những câu chuyệncảm động về tình ngời trong chiến tranh, những câu chuyện nghe xong có thể bật

Trang 31

khóc, ngời ta mới chợt phát hiện ra khi ngời đàn ông này cầm bút viết về chiếntranh, là còn bởi một điều gì đó cao hơn cả nỗi ám ảnh của máu và n ớc mắt” [19,9] Nhng có lẽ, đóng góp lớn nhất của tiểu thuyết Chu Lai trong việc thể hiệnhình tợng ngời lính sau chiến tranh đó là số phận của họ luôn đợc đẩy đến tậncùng của sự buồn, vui, đau khổ, bất hạnh hay là sung sớng, hạnh phúc “Nó khiếnnhững cuộc chiến tranh của anh không thể đi đến một kết thúc tròn trịa mà daydứt ngời ta mãi khi trang cuối cùng khép lại” [19, 9].

Chu Lai thuộc lớp ngời viết văn xuất hiện ở thời kỳ đổi mới của những nămcuối thập niên 80 Có thể nói hiện thực chiến tranh và những năm tháng sốngtrong cuộc chiến hào hùng, vĩ đại mà cũng đầy mất mát, gian khổ, hi sinh đó củadân tộc đã cho Chu Lai vốn sống, sự từng trải để tạo thành một phong cách viếtvăn Những năm tháng binh nghiệp đó là những năm tháng quí nhất mà cuộc đời

đem lại cho ông Những năm tháng chiến trờng ông đã sống để bây giờ quay trởlại hoá thân vào những kỷ niệm thành máu thịt, thành gan ruột, để “phơi bày” ra,chắt lọc ra thành những trang viết

Trong các tác phẩm của Chu Lai, không ít những hình ảnh ngời lính xuấthiện mang vẻ đẹp vừa anh hùng vừa lãng mạn trong chiến trận Hình ảnh đó đãgóp phần làm nên chiến thắng lịch sử cho dân tộc Tuy nhiên, ở giai đoạn vănhọc trớc đó, văn học cha có điều kiện đi vào số phận tận cùng của mỗi cá nhân.Khi đó, chỉ có một hào khí duy nhất là hào khí toàn dân đánh giặc Tất nhiên,chúng ta biết rằng, nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua của dân tộc, đó không hẳn

đơn chiều là cuộc chiến oai hùng, thiêng liêng, oanh liệt Cũng không hẳn mộtchiều là cuộc chiến bi luỵ, thơng tâm Và vì thế, văn học về chiến tranh cũngkhông thể chỉ có cảm hứng ngợi ca với những bản anh hùng ca ngây ngất mensay chiến thắng và cũng không thể chỉ là cảm hứng phê phán đến cực đoan Nhìnnhận cuộc chiến và số phận ngời lính trở về sau chiến tranh bằng cái nhìn nhânbản và biện chứng triết học mới chính là khuynh hớng đúng đắn của văn học hômnay Với chiều sâu triết lý trong giọng điệu, ngôn ngữ và vốn chiêm nghiệm thực

tế sâu rộng, nhà văn Chu Lai đã đi theo hớng này Xuyên suốt trong toàn bộ sángtác của ông là cảm hứng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Đó là cảm hứng bi kịchvới niềm xót xa đến nhức nhối về chiến tranh và số phận ngời lính Những biến

cố lịch sử, những cơn lốc xoáy của cuộc sống đeo bám dai dẳng, tác động mạnh

mẽ đến cả phần “con” lẫn phần “ngời” ở ngời lính là mối quan tâm hàng đầu củaChu Lai khi ông viết về họ Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, cảm hứng bikịch trong văn Chu Lai không đem đến cái nhìn bi quan, tiêu cực mà ngợc lại dẫu

có bị đẩy đến tận cùng của nỗi thống khổ, đau đớn thì bản chất ngời lính khôngcho phép họ khuất phục số phận, sa ngã hay lùi bớc trớc cái ác Nhà văn luôn đặtniềm tin vào giá trị con ngời, giá trị đích thực của cuộc đời Chính Chu Lai đãphát biểu: “Chiến tranh mang đến đau thơng, mất mát, trần trụi, khốc liệt nhngcũng rất hào sảng, lãng mạn Con ngời đợc đẩy đến tận cùng của mọi số phận,mọi buồn vui và từ đó tính cách bật lên Nhân vật của tôi không quá bi thảm, quáyếu đuối, đớn hèn nhng về cuối bao giờ cũng chết” [52, 12]

Trang 32

Nhìn chung, các tác phẩm văn học khi đề cập đến đề tài chiến tranh đềumang một cảm hứng bi kịch Trong tác phẩm của Chu Lai cũng vậy Chiến tranhgây biết bao nhiêu đau thơng, nhức nhối Tất cả đã đợc đẩy đến đỉnh cao của bikịch, của nỗi đau Cảm hứng đó bao trùm, len lỏi trong từng chi tiết khi nhà vănnói về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Cảm hứng đó lại càng sống độnghơn khi nó đợc lấy từ chính những dấu ấn của một đơn vị đặc công đã sống chiến

đấu ở vùng ven Sài Gòn Sự khủng khiếp và khốc liệt của nó thật đậm nét Có lầnnhà văn đã nói chuyện trên truyền hình: Đơn vị của ông đóng quân cách trungtâm thành phố Sài Gòn mời ki-lô-met, thế mà bình quân mời hai tháng trời ròngrã, dù thần tốc đến mấy, ông và đồng đội không vợt quá một nghìn mét đờng bộ.Cuộc chiến tranh với những bi kịch đau đớn in hằn trên những số phận khác nhau

mà Chu Lai đã thể hiện trong tác phẩm của mình

Tháng 7- 2003, Chu Lai đã phát biểu vừa nh là lời tâm sự, đánh giá, vừa

nh là lời tự bạch về những đóng góp của ông cho văn học sau chiến tranh: Hơnnửa cuộc đời chìm trong cánh rừng chữ nghĩa, tuy cha hài lòng nhng tôi đã vắtcùng sức lực để có những giọt ngọt, giọt tinh chất nhất, để lại cho đời một sốtrang sách ruột gan, không dối lòng, không điếm đàng và đến nay có thể nghĩrằng mình là ngời cầm bút tử tế, nói đợc những điều nhức nhối nhất, khát khaocháy bỏng nhất về thân phận con ngời Điều này có điểm khác so với cách viết tr-

ớc 1975, kể cả khi so với cách viết ở Nắng đồng bằng của Chu Lai

Nếu nh, trong một số tác phẩm thuộc thời kỳ văn học Việt Nam 1945

-1975 đi sâu vào khuynh hớng sử thi với cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, với quanniệm về cái gọi là “hiện thực lớn”, đó là những nơi mũi nhọn của cuộc sống cáchmạng, là “cuộc sống mới, con ngời mới”, thì khoảng đầu những năm 80, cuộcsống thời bình đã thực sự trở lại, con ngời hàng ngày phải đối diện với bao nhiêuvấn đề và thực tiễn của đời thờng, của các quan hệ thế sự, của đời sống riêng t.Các nhà văn có sự mẫn cảm với cuộc sống đã không thể bỏ qua cái hiện thực đờithờng đó và họ đã nhìn ra nhiều vấn đề có ý nghĩa, đáng đợc quan tâm trong đó.Khuynh hớng sử thi vẫn còn đợc một số cây bút tiếp tục theo đuổi, nhng chủ yếu

là ở trong khoảng mời năm đầu (1975 - 1985) Có thể kể vào khuynh hớng nàyphần lớn các ký sự, tiểu thuyết viết về chiến tranh ra mắt trong khoảng nửa cuốithập kỷ 70 và một số ở đầu những năm 80 Sau khi chiến tranh đã kết thúc, ng ời

ta có điều kiện để tái hiện cuộc chiến đấu trên cái nhìn bao quát một chiến trờng

theo suốt chiều dài thời gian lịch sử (bộ tiểu thuyết Đất miền Đông của Nam Hà), hoặc đa ra ánh sáng những cuộc chiến đấu thầm lặng trong lòng địch (Ông cố vấn của Hữu Mai), hoặc một mặt trận bí mật nh con đờng mòn Hồ Chí Minh trên biển (Đờng mòn trên biển của Hồ Phơng) Còn Phan Tứ lại dồn tâm sức vào việc

xây dựng một bộ tiểu thuyết tái hiện cả mấy mơi năm lịch sử qua hai cuộc kháng

chiến ở một vùng đất miền Trung trong Ngời cùng quê

Nh vậy, so sánh với khuynh hớng văn học trớc đó qua một số tác phẩm màchúng tôi vừa khảo sát, ta thấy phong cách, quan điểm viết văn của nhà văn Chu

Lai tiêu biểu cho khuynh hớng nhận thức lại Khuynh hớng này đáp ứng yêu cầu

nhìn thẳng vào sự thật, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những

Trang 33

lực lợng, những t tởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên bớc đờngphát triển của xã hội Bên cạnh yêu cầu nhìn thẳng vào mặt trái của vấn đề, ChuLai đã phác họa thành công hình ảnh ngời lính tự hào, kiêu hãnh với một quá khứhào hùng.

Những năm đầu hoà bình, Chu Lai đã viết tiểu thuyết Nắng đồng bằng Nhìn chung, so với những tác phẩm khác, Nắng đồng bằng in đậm màu sắc sử

thi, tác phẩm bao trùm cảm hứng lãng mạn nhiều hơn cái trần trụi của chiếntranh Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay đợc viết tại Đà Lạt sau chiến tranh với mộtcảm xúc tràn đầy và một tình yêu đam mê của sức trẻ Chính vì vậy, tác phẩm đ-

ợc viết trong một khoảng thời gian nhanh không tởng tợng đợc, chứa đựng dấu ấncủa một nhà văn, một ngời lính vừa từ chiến trờng trở về mang theo cảm xúc vẹn

nguyên mùi thuốc súng Nắng đồng bằng là tác phẩm mang nhiều yếu tố lãng

mạn Tám Linh vốn là một chàng trai Hà Nội tham gia vào một đơn vị đặc công.Cuộc đời của ngời lính ấy gắn với những chiến công đầy tự hào khi anh băngrừng, vợt sông, tìm mọi cách tiếp cận với ấp chiến lợc Sau bao nhiêu tháng ngày

ở rừng, trong một đợt hành quân Linh bị lạc đờng khá lâu Tìm đợc đơn vị, anhsống trong một tâm trạng tràn ngập niềm vui, cái nắng đồng bằng trải ngập tronganh với niềm háo hức, đam mê tởng chừng nh so với những cái thiếu thốn mànhững ngời lính nh anh đều trải qua trong rừng thì cái nắng đồng bằng quả làmón quà quí mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng Da thịt Linh nh đợc ôm ấp,mơn man trớc những cảm xúc đang dâng ngập trong lòng, tâm hồn anh mát dịutrớc kỷ niệm cũ ở Bàu Con Gái “Linh lại đứng trớc Bàu Con Gái Mới gần mộttháng mà nớc đã ngập lênh láng Thảm cỏ may vẫn vật vờ trớc gió, nở bông trắngxoá Bàu rộng ra, tròn hơn lại càng đìu hiu Chỗ suối lấy măng ở bên kia phảikhông? Đằng sau đó là “nhà” rồi! Nửa tiếng lội nớc nữa là đến nơi, là gặp lại tấtcả Linh rng rng” [25, 63] Hiện thực chiến tranh chỉ có thể khiến ngời lính tăngthêm lòng căm thù chứ không thể giết chết tâm hồn đẹp đẽ, lãng mạn của họ.Những cảm xúc rung động trong trái tim khi đứng trớc mảnh đất kỷ niệm củamột thời trận mạc đã xoá nhoà đi cái nặng nề, u ám của chết chóc, đau thơng Và

có lẽ, chính những âm hởng lãng mạn trong tác phẩm đã giúp cho nhũng ngờilính vợt qua sự hi sinh, mất mát khủng khiếp của chiến tranh, nơi mà sự sống vàcái chết luôn cận kề, “ngày nào cũng chôn nhau nhng cha đến lợt chôn mình” Nắng đồng bằng nhiều chất lãng mạn, dù viết sau 1975 nhng nh đã nói ở

trên, thời kỳ này văn học hãy còn mang đậm màu sắc sử thi Chu Lai đã từng tâm

sự “Nắng đồng bằng tôi viết khi ra khỏi cuộc chiến tranh nên cảm xúc còn tơi xanh, vì thế thiếu đi mảng trần trụi mất mát Thế là Ăn mày dĩ vãng lấy lại cái đó nhng vẫn không đánh mất cảm xúc của Nắng đồng bằng Cho đến bây giờ nhiều ngời nói rằng Nắng đồng bằng là tác phẩm hay nhất của tôi, nhng Ăn mày dĩ vãng làm tôi hài lòng hơn vì nó miêu tả đợc hai mặt của cuộc chiến” [61, 7] Nắng đồng bằng là một mảng màu tơi mát chắt ra từ hiện thực chiến tranh, từ

những cảm xúc thật của một ngời đã từng trải qua những năm tháng chiến đấugian khổ và giờ đây thăng hoa thành cảm xúc nghệ thuật, để tạo nguồn chonhững tác phẩm khác ra đời đợc hoà quyện trong cái lãng mạn và cái trần trụi,giữa bi và hùng

Trang 34

Ăn mày dĩ vãng đợc xuất bản sau khi Nắng đồng bằng ra đời, với độ chín

của thời gian và sự chiêm nghiệm suy t tác phẩm thực sự đã gây đợc sự chú ý,hoan nghênh của độc giả Những sự kiện lịch sử và cả những sự kiện đời th ờng đ-

ợc phản chiếu qua tâm hồn ngời lính Góc độ đời t đợc khai thác tối đa trong tácphẩm tạo nên những giá trị hiện thực đến nhức nhối Nhân vật Hai Hùng với mộtquá khứ oai hùng và một hành trình tìm về ký ức với một miền đẹp đẽ, sâu thẳmtrong tình yêu với ngời con gái có cái tên Ba Sơng Hùng là một mẫu ngời đàn

ông lý tởng, lại càng lý tởng hơn nữa khi anh đợc đặt trong bối cảnh của cuộcchiến tranh anh dũng “Hùng đúng là mẫu ngời của chiến tranh sông lạch, thứchiến tranh đòi hỏi sự tinh nhạy, khôn khéo và can tràng đến tột độ Nói về anh,các cô du kích, các cô ở đội nữ pháo binh trong rừng thờng hít hà: Chao ôi! Ngờithế kia mà chết thì uổng quá! Cô khác đắm chìm hơn: Giá nh có một lần sau khi

đi ấp sáng đêm về đợc vùi mặt vào cái tảng ngực kia mà ngủ Ngủ luôn khôngtrở dậy nữa Cũng có cô tỏ ra bặm trợn: Cách chức anh ta đi! Không thèm choanh ta đánh giặc nữa Cứ để cho ảnh sống, ăn uống ngon lành, mỗi đêm đến vớichị em mình một lần, đến từng đứa, hết lợt lại quay lại từ đầu Đồng đội tin cậynơi anh nh đoàn thuỷ thủ hết lòng tin cậy vào ngời thuyền trởng tài ba giữ muôntrùng sóng cả Chỉ nội một cái dáng nghiêng lệch to tát, cái miệng c ời phớt đời

là đủ để thiên hạ có cái gì vừa khó chịu vừa kiêng nể anh rồi, kẻ thù gọi anh làtên sát nhân tài tử, là nghệ sĩ cầm súng ảo thuật Bà con trong ấp chiến l ợc kêuanh bằng mày, bằng thằng với tất cả sự âu yếm, tin cậy ấy vậy mà Hùng lại thậthiền Lắm bận hiền đến dại khờ Nếu nh trong trận mạc, ngời ta không thấy ở anhmột động tác thừa thì trong cuộc sống, đồng đội cũng không hề thấy anh nói dmột câu bao giờ Anh biết nói bằng mắt, biết nghe và cũng biết cời bằng mắt.Một đôi mắt nâu xám, hồn nhiên và hoang dại Ngời lành tâm nhìn vào đó thấytĩnh lặng Kẻ ác lòng nhìn vào thấy nổi cả da gà Trời cho anh cái phong độ thủlĩnh Nỗi hiểm nguy tạo cho anh cái uy trớc bạn bè” [15]

Trên cái nền của những nẻo đờng chiến tranh đầy rẫy sự bất ngờ, trongnhững cánh rừng lẻ khuất không tên gọi, sự run rủi của số phận hay quãng ký ức

đẹp đẽ của chiến tranh đã cho Hùng một tình yêu ngọt ngào, trinh trắng và cũngday dứt, dằn vặt đến mãi sau này Hình ảnh Sơng in đậm trong tâm trí anh, ăm ắpnhững cảm xúc dịu nhẹ, mát lạnh trong những ngày ngột ngạt đầy bi kịch củanhững ngày trở về sau chiến tranh “Trong dòng sông buổi chiều ấy, S ơng đangtắm.Quần kéo lên quá ngực, vai để trần, tóc thả dài trong nớc cô du kích hoáthân thành cô thôn nữ miệt vờn đang tắm táp sau giờ đi bng về Hùng đứng lặng,

để mặc cho muôn vàn vòng tròn sóng từ cái thân thể kia lan ra, thổi tràn vào

ng-ời Thủa còn đi học, anh đã nhiều lần đợc ra sông ra biển, đợc tới những bãi tắm,những bể bơi đông ngời nhng cha bao giờ anh đợc nhìn thấy một nét tắm thanhtao, đẹp đẽ dờng này Nét tắm của một cô gái trong trận mạc, nét tắm tinh khiết,không vẩn đục mảy may, tắm giữa sự điêu tàn, tắm bên cạnh cái chết, nh tắmmột lần cho mãi mãi Vai mảnh, cổ mảnh, nhỏ và gầy trắng xanh, gợi nhắc mộtvóc dáng trẻ thơ đang đùa nghịch ở ao nhà” [15, 75] Hình ảnh trong trẻo ấy củangời con gái trong chiến tranh cùng với tình yêu lãng mạn đó đã theo anh trongsuốt cuộc đời, nh cái ráng chiều rói đỏ mà Ba Sơng giống nh một con chim non

Trang 35

ngỡ ngàng hớp nắng, mặc kệ cho con ngời và chiến tranh tàn phá xơ xác ở haibên, dòng sông ký ức đó vẫn yên ả trôi ngợc trôi xuôi, nh dửng dng, nh ngạomạn, nh không đoái hoài gì tới những dã tâm toan tính lặt vặt, nhất thời, đáng th-

ơng hại của con ngời

Cái hiện thực tàn nhẫn của chiến tranh, hình ảnh của rừng đêm phập phồng,

bí hiểm và xào xạc Nớc sông âm thầm vỗ sóng trễ nải vào bờ nh ngàn năm nay

nó không bao giờ trễ nải nh thế Hoả châu trôi lờ lững trên trời nh những linh hồncô độc không biết đi đâu về đâu, chỉ thỉnh thoảng run rẩy chớp sáng một mình Tất cả nh đối chọi với tình yêu mỏng manh trong suốt nhng cũng vô cùng bềnchặt của họ, khiến cho mùi máu tanh nồng, mùi vải khét lẹt sau trận càn của địchbiến mất chỉ còn lại “một thoáng hơng sả gội tóc lãng đãng” và tiếng cời của ngờicon gái đã xoá đi tất cả những lo lắng, nhọc nhằn còn lại của cuộc chiến

Ăn mày dĩ vãng cũng có những trang viết tuỵêt đẹp về tình đồng đội, đồng

chí trong chiến tranh Hai Hùng đã có những mảng ký ức vẹn nguyên, ấm áp tình

đồng đội thiêng liêng Tình cảm ấy đợc tôi luyện trong lò lửa chiến tranh và vẫnvẹn nguyên trong thời hậu chiến khắc nghiệt Đó là sự gắn bó cùng sẻ chia vuibuồn, đắng cay, gian khổ nh anh em một nhà Trong đơn vị trinh sát bị xoá phiênhiệu không biết bao lần, Hai Hùng đợc đồng đội tin tởng anh nh với ngời thuyềntrởng tài ba giữa biển khơi muôn trùng sóng dữ Còn anh cũng luôn xứng đángvới lòng tin ấy Dù đôi lúc, do hoàn cảnh khắc nghiệt, không kìm chế đợc mình,anh đã nổi nóng với bạn bè nhng không bao giờ bỏ rơi họ trong cơn hoạn nạn.Một đêm đột ấp chiến lợc trở về, đoàn đột ấp trong đó có tốp lính thiện chiến củaHai Hùng làm nòng cốt, bị phục kích, mọi ngời, trong đó có cả phó bí th quận uỷ

Ba Tiến “kinh hoàng mạnh ai nấy chạy” [36, 38], nhng Hùng và những ngời línhcủa anh vẫn “sẵn sàng đánh trả” kẻ thù để cứu nguy cho tất cả Hùng không thểquên sự hy sinh đầy đau đớn của ngời lính trinh sát trẻ Trong lúc tiến sát hang ổ

kẻ thù, ngời lính ấy bật ho một tiếng và anh đã “âm thầm tự nhét đất, nhét cỏ vào

đầy cổ họng mình đến tắc thở để cho tiếng ho thứ hai khỏi phụt ra kéo theo cáichết của bạn bè” [36,187] Chiến tranh là chết chóc, hy sinh, nhng những sự hysinh cao đẹp đó của tình đồng đội, đồng chí thực sự làm ngời đọc cảm động, trântrọng hơn giá trị chiến thắng của dân tộc Và đó cũng là những minh chứngkhẳng định giá trị nhân văn của tình ngời đợc tôi luyện qua chiến tranh

Tám Tính, con cọp đen một thuở ấy cũng trở về cùng một ký ức đẹp đẽ củamột tình yêu thời chiến và những chiến công vang dội bên cạnh những ngời đồng

đội của mình Ngời đàn ông mạnh mẽ gần ba mơi tuổi mang biệt danh “nhậuthần sầu, đánh giặc thần sầu” này còn có một ký ức đẹp nữa đó là tình yêu dữdội, đầy đam mê với Hai Hợi - ngời đàn bà thép có tiếng là ghê tởm, coi thờng

đàn ông - và những cú vồ bản năng mang tính tật bệnh điên rồ Trở về sau chiếntranh, tởng chừng nh mời sáu năm qua anh tạm đánh mất mình trớc gánh nặngcủa cuộc đời sinh nhai, nay bỗng chốc gặp lại bạn bè một thuở, anh bỗng thoắtsống lại những ngày đau thơng lãng mạn xa kia, một cánh rừng, một cây súng,một bầu trời, một mạng sống, một đối tợng, một cánh võng thoáng đãng, nhẹtênh Cuộc sống đã thay đổi, quá khứ cũng dần dần chìm lấp đi trong những lo

Trang 36

toan vụn vặt của cuộc sống đời thờng, cái căn bệnh khiến ngời ta sợ hãi mà lại

đáng thơng kia thực chất là căn bệnh của chiến tranh Đã mời mấy năm trôi qua

mà hình ảnh của Hai Hợi vẫn còn giày vò day dứt trong anh, vẫn còn nóng giãydòng nham thạch ký ức của chiến tranh

Trong Vòng tròn bội bạc, mỗi khi đối diện với sự trống vắng, lạnh lẽo đến

nao lòng của những ngày đầu hoà bình, Linh lại trở về với rừng trong nỗi nhớ cáithênh thang, rộng mở “Đúng vậy! Gần đây hay sinh tật nhớ rừng Nhớ thànhbệnh, thành nuối tiếc Đời lẩn quẩn: từ rừng khao khát trở về thành phố Có thànhphố rồi, lại thèm cháy lòng đợc trở về rừng Trở lại những năm tháng thênhthang Thênh thang sống và cả thênh thang chết Một ba lô, một súng toòng tengchả bận bịu gì Nhẹ tênh và thanh thản Phải chăng hạnh phúc cuối cùng củacuộc sống là sự yên hàn và thanh thản?

Một tia nắng, một cơn ma, một dáng hình con gái mặc áo đen rộng taycũng đẩy anh nhớ ngợc về những ngày năm xa ấy Nhớ bàng hoàng nh không baogiờ có lại đợc nữa Nhớ đến ứa nớc mắt, nhất là vào những tra mùa đông giậtmình tỉnh dậy, nhà cửa vắng tanh, xung quanh lặng tờ, bầu trời u ám cứ tởng nh

bị bỏ rơi vào một khoảng không hoang mạc.” [13, 16 - 17] Ký ức về những ngày

ở rừng trong Linh là khoảnh không gian rộng mở, là tình đồng chí, đồng đội, làmột thời oanh liệt, oai hùng, là những tấm huân chơng, huy chơng lấp lánh Lẽnào tất cả chỉ còn trong dĩ vãng Lẽ nào giờ đây nó trở nên vô nghĩa và vĩnh viễnngủ yên dới đáy ba lô của một thời trận mạc khi cuộc đời của họ bớc ra khỏicuộc chiến tranh! Cuộc đời nghiệt ngã với bao thất vọng, đau đớn, chỉ có trời đấtbao la nhuốm một vẻ đẹp h ảo là cho anh những giây phút ý nghĩa của quá khứmột thời “Lâu lắm rồi anh mới có dịp đợc hoà toàn thân vào thiên nhiên nh thếnày Khắp nơi ma bay mù mịt Gió ràn rạt thổi dọc hai bên đờng Bầu trời mônglung một màu trắng bạc Cảnh sắc h ảo, khoáng đạt gợi lên cái vẻ hồng hoangnguyên thuỷ của hành tinh, của loài ngời Tất cả chỉ có thiên nhiên Không cócon ngời Tất cả nhẹ nhõm biết bao Anh xao xuyến nhớ lại những chiều ma baycủa một vùng bng biền vắng lặng bên sông Sài Gòn Cũng những hạt ma rơichênh chếch, cũng quạnh quẽ đìu hiu, cũng bầu trời nhiều gió, chỉ khác có lẫnvào chút mùi bom, mùi pháo Ngày ấy ” [13,153] Quá khứ hào hùng nhng cũng

đầy bi thơng trở thành nỗi ám ảnh trong anh, trở thành những hoài niệm khônnguôi về một thời gian khổ “Con đờng mòn trong vờn cao su đẫn anh đến mộtbến sông Đây chính là một cái cứ lõm, nơi đơn vị anh đã đóng quân hàng nămtrời ròng rã Lớp quân này thay lớp quân khác đã đến đây và không ít ngời đãnằm lại trên mảnh đất này, Linh vẫn còn nhớ rõ vị trí những ngôi mộ tự tay anh

đã chôn cất cho đồng đội ở khu vực quanh đây Không biết những ngôi mộ ấy cócòn nguyên vẹn không sau bao nhiêu đợt bom pháo chà xát dữ dội từ trớc chiếndịch xuân 1975? ( ) Linh thấy cổ mình nghẹn đắng Mắt anh tối sầm lại Anhnhìn nh thôi miên vào hàng xích sắt của chiếc máy cày đang tuôn ra những lớp

đất đỏ bầm nh máu Mà máu thật Xơng thịt của đồng đội anh đã gửi gắm nơi

đây, máu của đồng đội anh đã đổ xuống mảnh đất này đâu phải là ít Cả anh nữa,ngay đỉnh dốc kia, chỗ có ngôi nhà hai tầng quét ve xám với hàng rào gai baoquanh, căn hầm của anh đã bị trúng hẳn một trái pháo đổ sập, nếu thằng Lang

Trang 37

không kịp bới đất ra nhanh thì anh cũng đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây rồi” [13,262].

Sáu Nguỵên trong Ba lần và một lần cũng trở về sau chiến tranh với một

hành trang là quá khứ hào hùng của một chiến sĩ quân báo Trong khoảng gầnbốn trăm trang sách, Chu Lai đã thể hiện rõ nét từng trang đời của ngời lính quânbáo đánh giặc quên chết này Sáu Nguyện vốn là ngời Bắc, vào Nam bám rừng,sống với rừng, ăn ngủ với rừng, yêu thơng, khổ đau quằn quại cùng với rừng.Cảm giác ở rừng vừa nh đợc bao bọc, chở che và nh bị vây hãm bởi cái âm u,thiếu nắng, thiếu gió, thiếu một chút phong trần của cuộc đời Sáu Nguyện gầy,

đen, khuôn mặt ít biểu lộ cảm xúc Anh gầy guộc không hẳn vì thiếu ăn, thiếungủ hay ở rừng lâu ngày mà có lẽ là do thịt da anh quắt lại, sắt lại rắn rỏi nhnhững đòn đánh của anh vào sào huyệt kẻ thù Hình dáng ấy dờng nh cũng dễthích nghi với công việc luồn rừng, lách khe, vào ấp, ra rừng mà cả cuộc đời SáuNguyện gắn bó Quan trọng hơn ngời ta còn khám phá đợc đằng sau cái bộ mặtkhó gần thậm chí là hơi dữ của anh là một con ngời sâu nặng nghĩa tình, thậm chí

có phần yếu đuối Ký ức của anh còn có một tình yêu đẹp nhng cũng đầy day dứtvới T Chao, ngời con gái không đẹp rực rỡ, nhng lại có cái duyên thầm và mộtgiọng nói ngọt ngào khiến ngời ta mê mẩn khi tiếp chuyện Đó chính là sứcmạnh, là động lực giúp anh đứng vững trớc những thách thức của cuộc đời và đấutranh tìm lẽ phải của cuộc sống Chu Lai đã xây dựng nhân vật Sáu Nguyện kháthành công ở phơng diện nghệ thuật Khác hẳn với Hai Hùng “kẻ ăn mày dĩvãng”, Sáu Nguyện không quên quá khứ và cũng không lảng tránh thực tại Từrừng anh về thành phố mà chẳng cảm thấy lạ lẫm với trận địa mới Nh một ngờilính quen trận mạc, Sáu Nguyện không hề bi quan mặc dù anh không đợc hoannghênh ở nơi này “Trờng hợp đồng chí đến đây không phải là ít Là cán bộ, là

Đảng viên đã từng qua chiến đấu, chúng tôi trân trọng lắm, muốn nhận lắm nhngnói để đồng chí thông cảm giùm, ở đây, không chỉ nhà máy này mà tất cả cácnhà máy khác đều rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ, nên chỉ lo giảm ng ời đi chứkhông thể nhận thêm ngời về, trừ trờng hợp có bằng cấp chuyên môn và có sựbảo lãnh của lãnh đạo cấp trên dội xuống ” [17, 33] Trở về từ cuộc chiến tranh,những ngời lính nh Sáu Nguyện đâu dễ nguôi ngoai đợc những kỷ niệm chiếntranh “Bởi lẽ dù muốn hay không, những năm tháng chiến tranh dặc dài và khốcliệt đã trót in đậm trong nếp nghĩ, trong tâm tởng và tình cảm mỗi con ngời mấtrồi, đâu dễ mỗi lúc lãng quên, dứt ra cho đợc Cái lãng mạn, cái hào sảng, cả nỗitrở trăn nhọc nhằn, cả điều thiện lẫn điều ác của chiến tranh vẫn mãi là cái nền,cái giá đỡ tinh thần cho nhịp thở hôm nay Màu đỏ của máu và màu xanh củanhững cánh rừng trận mạc tựa hồ vẫn còn phảng phất đâu đó ” Quá khứ hàohùng của Sáu Nguyện vẫn vẹn nguyên trong anh Những trận đánh oanh liệt đãlàm nên một hình ảnh thật đẹp của ngời anh hùng xông pha nơi trận mạc, khuônmặt ám đen khói súng khiến cái cời bừng sáng, ánh lên vẻ kiêu hãnh kỳ lạ trongbom đạn, chết chóc của chiến tranh mà cô bé út Thêm đã đợc chứng kiến: “Cứvậy, trớc mỗi tiếng nổ chát chúa, thân hình chú lại tung lên, loé sáng nh đangmúa một điệu múa man dại có nhạc đệm của ma quỷ Bỗng một tiếng cóc vanglên Chú ngẩn ngời cha kịp hiểu đấy là tiếng động gì thì một trái M 79 ở đâu

Trang 38

không biết bay đến đã nhằm vai chú chụp xuống Ngã sấp mặt xuống đất rồi màcái miệng có chiếc răng hô của chú vẫn nhe ra “Mẹ nó! Nhanh thật! Xểnh ra tíchút đã bị rồi út, để đó đã! Băng cho tao chút coi!” Tởng phen này chú chắcchết, cô đã định oà lên khóc nhng nghe giọng chú tỉnh bơ, cô lấy làm lạ, không

rõ tại sao cả, vội quýnh quáng xé tung vai áo chú ra Chỉ thấy cả một bờ vai

x-ơng xẩu găm lỗ chỗ những miểng nhỏ li ti, cái trồi ra, cái lặn thụt vào trong, ròngròng máu “Cứ xé băng, băng đại lại Không sao đâu, loại này chỉ gây ngứa ngáy,khó chịu thôi” Chú nói, mắt vẫn không quên nhìn về hớng suối” [17, 56 - 57].Vết thơng của thân thể trong chiến tranh đối với ngời lính can trờng nh SáuNguyện cũng không làm anh phải bận tâm, cái bận tâm của anh là trận chiến quá

đỗi nặng nề đã im tiếng súng cha, số chết và số thơng vong là bao nhiêu? Nỗi đaucủa cuộc chiến, sự tàn phá của bom đạn và chết chóc đã khiến cho đầu óc củacon ngời trống rỗng, thản nhiên với chính nỗi đau của mình Chỉ đến khi nhữnggiọt nớc mắt của út Thêm nhỏ xuống chỗ da thịt dập nát mới khiến anh giật nảylên nh phải bỏng “ánh sáng trắng xanh nh đốm lửa ma trơi của cây đèn soi rõnhững vết đau đã sng tấy, nóng rực, có chỗ nổi u lên, có chỗ tẹt xuống, chuyểnmàu xám ngoét Bàn tay cô chợt run lên “Miểng nào nó lặn sâu vào thịt rồi, bỏluôn Miểng nào trồi lên, lấy cặp tóc bứt đại ra!” Cô mím chặt môi làm theo lờichú, nhng chao ôi, những ngón tay của cô sao lại vụng về đờ đẫn thế này, khôngcòn cách nào nắm chắc đợc chiếc cặp tóc trơn láng nữa! Nhìn tấm lng để trần củangời đàn ông cha đến ba mơi tuổi mà nhăn nhúm, hốc hõm nh tấm lng của ngờigià, tự dng mắt cô nhoà đi trong một cảm xúc nôn nao, xa xót, lạ lắm ” [17, 65]

Cũng nh Linh trong Vòng tròn bội bạc, Sáu Nguyện trong Ba lần và một lần,

Vũ Nguyên trong Cuộc đời dài lắm đã góp thêm một gơng mặt nữa vào hàng ngũ

những ngời lính kiên trung, anh dũng ngay trong cả thời bình Đại đội trởng trinhsát Vũ Nguyên trở về với vùng rừng cao su trong cơng vị giám đốc nông trờng.Trong những tháng ngày đánh vật với cây cao su đầy nhọc nhằn, nếu không cóbản lĩnh của một ngời lính từng tham gia chiến trận thì rồi không hiểu cái đầuquá sức nhạy cảm, rất dễ tổn thơng của anh sẽ biến dạng mng mủ thế nào trớc sựoái ăm của cuộc đời Ngay cả giấc ngủ của anh thời ở chiến trờng cũng là độnglực để anh vợt qua những khổ đau vặt vãnh, những ham hố lăn tăn không cầnthiết “Hồi hành quân đi B, có những đêm vừa đi anh có thể vừa ngủ mà vẫnkhông lỡ bớc Lệnh hạ ba-lô một cái là ngáy luôn, lệnh lên ba lô là mở mắt đitiếp Thậm chí có lần đã nằm trong hàng rào địch, chỉ cách họng súng đại liên

đối phơng không đầy năm mét, cha đến giờ nổ súng, thế mà, vùi nhẹ mặt xuống

cỏ đầm sơng, anh vẫn làm đợc một giấc ngắn ngon lành Và rồi cho đến cả nhữngnăm tháng chuyển sang làm kinh tế sau này, bao đận lao đao đến muốn vỡ đầu,ngời khác có thể thần kinh đến bị suy sụp hẳn, ở anh cũng muốn mê sảng, cũngmuốn chửi muốn thét, thậm chí muốn đánh muốn giết một ai nhng đêm về, đặtmình cái là lại ngáy bình thờng để rồi sáng mai tỉnh dậy có đau có giận gì rồi thì

đau thì giận tiếp Chính bạn bè anh và ngời bí th cà răng thân thiết đã phải thốtlên: “Mày đúng là thằng có bộ thần kinh bằng thép Giả sử với tất thảy những

điều may rủi ấy mà mày không ngủ đợc dù chỉ một đêm thôi, chắc chắn mày đãtreo cổ trốn thoát nợ đời rồi” Anh cời khì khà, bảo đó là bảo bối ông già truyền

Trang 39

cho Tha hồ cho cuộc đời làm tình làm tội, chỉ cần ngáy lên một chập thật ròn làmọi sự lại đợc xoá băng đi”

Cuộc chiến không tiếng súng khó khăn hơn rất nhiều những ngày đánh

Mỹ Những cựu chiến binh đã một thời oai hùng ấy vẫn giữ đợc phong độ ổn

định Cơn hỗn mang của cơ chế mới có thể thử thách lòng trung thành, sức chiến

đấu bền bỉ của họ, để rồi họ vẫn khẳng định vị trí, vai trò của ngời lính TrờngSơn đã trải qua khói lửa của một thời đánh Mỹ thì không dễ gì bản chất kiên c -ờng đó gục ngã trong đời thờng Số phận ngời lính sau chiến tranh sẽ vẫn cònnhững bi kịch nhng cái thiện rồi sẽ lên ngôi Cuộc sống, số phận của họ rõ ràng

là không hạnh phúc, không may mắn Nhng với bản lĩnh vốn có, với đức hi sinhcao cả, những con ngời ấy là biểu tợng của sự hiến dâng và suốt đời chiến đấukhông mệt mỏi vì hạnh phúc, vì lẽ phải trong cuộc sống Suy cho đến cùng đóchính là biểu tợng của lòng yêu nớc, của niềm tự hào dân tộc thiêng liêng và caocả Tình yêu ấy vẫn vẹn nguyên chảy theo chiều dài lịch sử dân tộc, cả khi đất n -

ớc có chiến tranh cho đến ngày hoà bình

2.2.2 Sự phân hoá sâu sắc số phận ngời lính khi trở về hậu phơng

2.2.2.1 Những số phận gặp đợc may mắn trong cuộc sống mới

Cuộc sống đang trong cơn lốc cựa mình dữ dội của nền kinh tế chuyển từcơ chế bao cấp sang cơ chế thị trờng Bánh xe lịch sử đang vận hành cuốn theo cảnhững điều tốt, xấu Ngời lính trở về sau chiến tranh không thể đủ vốn sống để

theo kịp guồng quay lịch sử đó Chẳng hạn nhân vật Linh trong Vòng tròn bội bạc Linh trở về sau những ngày vui vẻ vì đợc đoàn tụ cùng gia đình, ngời thân là

thực tế phũ phàng xuất hiện Trớc mắt Linh, đầy rẫy những khó khăn, chồng chấtcủa cuộc sống gia đình, xã hội Sự xuất hiện của đủ các hạng ngời khác nhautrong gia đình anh, hàng xóm của anh và cả tòa soạn báo nơi anh làm việc nữa đãkhiến anh rơi vào tình trạng bế tắc, ngột ngạt “Lần đầu tiên cái mặc cảm chorằng thằng lính chiến thắng trở về, bản thân nó đã mang lại niềm vui, niềm tự hàocho gia đình, nó có quyền coi nó là trung tâm cảm xúc, trung tâm yêu th ơngbỗng vỡ vụn” [13, 60] Cuộc sống của anh chơi vơi, vô định đầy những tiếng thởdài chán nản Cơ quan, nơi ngày ngày Linh đến làm việc còn ngột ngạt khó thởhơn gấp trăm lần Cái bế tắc, ngột ngạt đã có lúc dồn anh đến bớc đờng cùng

“Hay là lại xách ba lô đi? Nhng đi đâu? Làm gì còn đại đội nữa mà về! ĐếnTòa soạn nằm ? Không ổn! Chật chội thế, nằm ở đâu? Cha nói đến sự khinh thịcủa mọi ngời Hay đến tạm trú nhà bạn bè? Cũng không ổn nốt Biết mỗi nhàthằng Khâm, nhng bản thân nó ở đã không xong còn nói chi đến chuyện chứathêm mình, thuê một chỗ cốt để có nơi mà chui ra chui vào vậy? Ngớ ngẩn nốt

Hà Nội chật hẹp, những đôi vợ chồng mới cới còn cha có chỗ hởng tuần trăngmật với nhau kia kìa, trong khi toàn bộ tài sản vốn liếng mình chỉ có chiếc xe đạp

bó lốp đến kẻ trộm cũng chê Vậy là tận đờng rồi chăng [13, 59] Nhng số phậnLinh trong “cái vòng tròn bội bạc” ấy không chỉ dừng lại ở cuộc sống quẩnquanh, nhàm chán Cuộc đời ngời lính trở về sau chiến tranh đó mang theo mộttrọng trách lớn lao, một vận mệnh lớn lao mà dân tộc đã tin tởng giao phó choanh trong việc thanh lọc cái xấu xa, phản trắc của những kẻ tha hóa trong hàngngũ những ngời lính trở về mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau của luận văn

Trang 40

Chiến trong Vòng tròn bội bạc cũng là hình ảnh ngời lính trở về với số

phận may mắn Lúc bắt tay vào làm kinh tế, anh đã gặp biết bao bỡ ngỡ, thất bại,trắng tay Nhng cuối cùng Chiến đã trở thành “ông chủ của một vùng hồ rộngmênh mông, chiều dài trên trăm ki-lô-mét, chiều rộng cũng chừng năm chục cây

số với gần ba ngàn hòn đảo và đủ mọi loại ngời tứ chiếng từ khắp nơi tụ họp về.Anh đã đem về cuộc sống và tiền của cho cả một tiểu đoàn làm kinh tế vùng hồTháp Bà Ngời lính trở về sau chiến tranh ấy đã thực sự xứng đáng với phẩm chất

và niềm tự hào của lính đặc công đã từng vùng vẫy trên sông Sài Gòn năm xa

Không phải trong tiểu thuyết của Chu Lai không có hình tợng ngời lính trở

về với số phận đầy bất hạnh, đầy bi kịch mà nhiều hơn nữa là khác Bởi dù trongquá khứ họ là những anh hùng đánh giặc “thần sầu”, thì khi trở về với cuộc sốnghòa bình họ vẫn là những ngời không may mắn, thua thiệt Nhng nếu chỉ phản

ánh một mặt nh vậy, thì chân dung ngời lính trở về trong tiểu thuyết Chu Lai sẽkém đi phần phong phú, đa dạng Chúng ta phải nhìn nhận một thực tế rằng cókhông ít những ngời lính họ đã thành công trong hiện thực mới, cuộc sống mớichính bằng năng lực, phẩm chất của họ Họ có thể là giám đốc, ông chủ, sánhngang cùng các triệu phú, tỷ phú trong lĩnh vực kinh tế Nếu nh Chiến là “Ông

vua hồ”, “Chúa đảo” thì Ba Đẩu trong Ba lần và một lần lại là một ông chủ đồn

điền thời hiện đại của những “gốc cà phê sắp đến kỳ bói quả, những gốc điềucành lá xum xuê và cả những thân bạch đàn, thân cao su thẳng thớm, tròn cănghứa hẹn một sức lớn dữ dội mai này” [17, 197] Hai Tính cũng kịp hòa mình vàodòng chảy của nền kinh tế thị trờng “với dáng vẻ cao lớn, ăn vận rất sang, mặtmày đỏ đắn, ria mép xén gọn, tóc chải điệu đà” Anh là ông chủ của hai cơ sởkinh doanh lớn đang ăn nên làm ra và có vị trí đáng nể trong giới làm ăn kinh tế.Ngày xa, Hai Tính chặt đầu dây võng khiến Sáu Nguyện chết hụt khi làm nhânviên coi kho đạn dợc trong rừng sâu Bây giờ, nhờ vết sẹo oái ăm màu cá chép đó

mà kẻ hại bạn nhận ra ngời hại bạn Kỷ niệm buồn giờ đợc biến thành tình nghĩathủy chung thực sự “Ông sẽ vào biên chế của gia đình tôi ( ) Tôi lúc này còn haicơ sở kinh doanh nữa Một là cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy ở phố bên, hai

là khu nuôi tôm rộng năm héc - ta miệt ngoại thành, cả hai cơ sở này đều thiếungời tin cẩn trông coi cả, để tùy ông chọn một trong hai cái đó Cho nó sòngphẳng, cứ tạm coi nh ông làm công ăn lơng cho tôi nhng đồng lơng tôi sẽ trả theonghĩa tình bạn bè, tức là chí ít cũng gấp mời lần tiền nhà nớc trả cho ông Đợc

không?” [17, 157] Quân trong Ăn mày dĩ vãng, là một ông phó chủ tịch huyện

sang trọng đi xe Lada, “đạo mạo, phơng phi, ngực nở, bụng nở, mông nở và ngaycả cái miệng cũng hết sức nở nang [15, 8] và quan trọng hơn anh vẫn rất kínhtrọng những ngời bạn từng chiến đấu với mình ở chiến trờng xa Tuấn, một doanhnhân thành đạt “trẻ trung, sang trọng hệt một chuyên gia Nhật Bản, Hồng Kônghoặc Đài Loan [15, 25] Anh đã thật sự xúc động khi gặp lại Hai Hùng “từ từ tiến

đến rồi bất ngờ dang hai cánh tay béo trắng ôm ghì lấy cái thân hình bầm dập,hôi hám của ngời thủ trởng năm xa Điều đáng ca ngợi ở anh không phải chỉ là sựthành đạt mà lớn hơn là tình đồng đội đợc anh trân trọng, giữ gìn trong suốt baonhiêu năm chẳng phai mờ Cuộc gặp gỡ giữa một “Đại phú gia” và một kẻ “Ănmày dĩ vãng”, không gợn chút mặc cảm xa cách Đó chính là nền tảng giá trị

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Vũ Tuấn Anh (1995), “Văn học đổi mới và phát triển”, Tạp chí Văn học soá 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đổi mới và phát triển”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2- Lại Nguyên Ân (1986), “Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua”, Tạp chí Văn học số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua”, Tạp chí"Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
3- Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ Văn hoá thông tin và Trường viết v¨¨n NguyƠn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Năm: 1992
4- Ngô Vĩnh Bình (1989), “Chu Lai với dòng sông xa”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Lai với dòng sông xa”, Tạp chí" Vaờn ngheọQuân đội
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 1989
5- Ngô Vĩnh Bình (2003), “Để có thêm những tác phẩm viết về quá khứ hào hùng của dân tộc”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để có thêm những tác phẩm viết về quá khứ hàohùng của dân tộc”, Tạp chí" Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 2003
6- Nguyễn Thị Bình (2001), “Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975”, Tạp chí Văn học số 03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975”,Tạp chí" Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2001
7- Nguyễn Thị Bình (1996), “Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975”, Luận ỏn tiến sĩ , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật ViệtNam sau 1975”
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
8- Nguyễn Minh Châu (1979), “Các nhà văn quân đội và đề tài chiến tranh”, Báo Nhân dân ra ngày 08 / 02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn quân đội và đề tài chiếntranh”, Báo "Nhân dân
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1979
9- Hồng Diệu (1991), “Vấn ®ề của tiểu thuyết “Vòng tròn bội bạc"”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn ®ề của tiểu thuyết “Vòng tròn bội bạc
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 1991
10- Hồng Diệu (1994), “Chiến tranh và người lính qua một số truyện ngắn”, Tạp chí Tác phẩm mới số 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh và người lính qua một số truyện ngắn”,Tạp chí" Tác phẩm mới
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 1994
11- Đinh Xuân Dũng (1990), “Đổi mới văn xuôi chiến tranh”, Báo Văn nghệ soá 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn xuôi chiến tranh”, Báo" Văn nghệ
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 1990
12- Đinh Xuân Dũng (1990), “Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học”, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1990
13- Đinh Xuân Dũng (1995), “Văn học Việt Nam về chiến tranh - Hai giai đoạn của sự phát triển”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam về chiến tranh - Hai giaiđoạn của sự phát triển”, Tạp chí "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 1995
14- Đặng Anh Đào (2002), “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại”, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiệnđại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
15- Phạm Quang Đẩu (2003), “Chờ đợi và hy vọng”, Văn nghệ Quân đội số 610 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quang Đẩu (2003), “Chờ đợi và hy vọng”, "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Phạm Quang Đẩu
Năm: 2003
16- Trần Bạch Đằng (1991), “Văn học Việt Nam và vấn đề con người trong chiến tranh”, Tạp chí Văn nghệ quân đội số 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam và vấn đề con người trongchiến tranh”, Tạp chí "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Trần Bạch Đằng
Năm: 1991
17- Phan Cự §Ư (1974, 1975), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1+2 ), Nxb§ại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb§ại học và trung học chuyên nghiệp
18- Phan Cự Đệ (2001), “Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Văn nghệ quân đội số 03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổimới”, Tạp chí" Văn nghệ quân đội
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2001
19- Hà Minh Đức (chủ biên), (1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
20- Nguyễn Hương Giang (2001), “Người lính sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lính sau hoà bình trong tiểu thuyếtchiến tranh thời kỳ đổi mới”, Tạp chí" Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Nguyễn Hương Giang
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w