Cũng như nhiều địa phương ven biển khác, xã Thái Đô cũng chịu nhiều tácđộng và áp lực của phát triển kinh tế nên đã chuyển toàn bộ vùng đất ven biểnsang nuôi trồng thủy hải sản chủ yếu
Trang 1“Kỹ thuật phục hồi rừng ngập mặn trên đầm tôm hoang hóa tại xã Thái
Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”
Dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Th.S Trần Thị Mai Sen và sự nỗlực của bản thân, sau một thời gian làm việc nghiêm túc đến nay khóa luận củatôi đã được hoàn thành
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáoTh.S Trần Thị Mai Sen, người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trongsuốt thời gian thực tập và viết khóa luận tốt nghiệp vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn tới chú ThS Nguyễn Đắc Hoan trưởng phòngphân tích đất và môi trường - Viện quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp và các
cô chú trong viện đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong việc lựa chọn và phân tíchcác tính chất của đất
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS Nguyễn Hoàng Hương bộ mônKhoa học đất, các thầy cô trong bộ môn Lâm sinh, các thầy cô trong khoa Lâmhọc, cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các chú, các bác trong UBND xã Thái Đô
đã cung cấp nhiều tài liệu và thông tin bổ ích giúp tôi hoàn thành khóa luận tốtnghiệp này
Do năng lực bản thân có hạn và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứucho nên bài khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhậnđược những ý kiến phê bình, đóng góp của các quý thầy cô và các bạn đồngnghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2011
Sinh viên
Tạ Văn Vạn
Trang 2Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng ngập mặn (Mangroves) là một hệ sinh thái đặc biệt, phân bố ở khuvực cửa sông, ven biển vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới gồm nhiều loài cây gỗ,cây bụi và một số cây thân cỏ sống trong môi trường sình lầy mặn ngập triềuđịnh kì Đây là hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học cả về thực vật, động vật
và vi sinh vật, hơn nữa còn có ý nghĩa rất lớn đối với môi trường và cuộc sốngcủa cộng đồng địa phương ven biển
Rừng ngập mặn (RNM) là sinh cảnh tốt, cung cấp chất dinh dưỡng và bảo
vệ cho các động vật hoang dã như các loài: tôm, cá, cua, thân mềm cũng như cácloài chim nước, chim di cư Ngoài tác dụng điều hòa khí hậu, hạn chế sói lở, mởrộng diện tích lục địa, hạn chế sự sâm nhập mặn còn làm giảm tổn thương đốivới các cộng đồng ven biển nhờ khả năng hạn chế tác hại của các hiện tượngthời tiết bất thường như: bão, lũ lụt, sóng thần (Phan Nguyên Hồng, 1991) [5].Huyện Thái Thụy là một huyện ven biển giàu tiềm năng cho phát triển kinh
tế xã hội, đặc biệt là kinh tế ven biển, xong việc đầu tư mở rộng các dự án nhưhiện nay đã tạo ra nhiều ảnh hưởng xấu Sự khai thác và sử dụng tài nguyênRNM với áp lực của phát triển kinh tế đã gây ra rất nhiều tác động tiêu cực đếnmôi trường và chất lượng của RNM
Cũng như nhiều địa phương ven biển khác, xã Thái Đô cũng chịu nhiều tácđộng và áp lực của phát triển kinh tế nên đã chuyển toàn bộ vùng đất ven biểnsang nuôi trồng thủy hải sản (chủ yếu là nuôi tôm sú) nhiều vùng đất đã bị ônhiễm và không thể nuôi trồng được Môi trường ở đây bị ảnh hưởng rất nhiềubởi các chất độc hại từ việc nuôi tôm công nghiệp, RNM cũng chịu những tácđộng không nhỏ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây ngậpmặn trong suốt thời gian qua
Hiện nay, việc nuôi tôm không thành công, môi trường bị ô nhiễm khôngthể cải tạo, diện tích nuôi tôm bỏ hoang ngày một tăng lên nhanh chóng, toàn bộ
Trang 3diện tích nuôi tôm ngoài đê của xã đã bị bỏ hoang với tổng số là 96,4ha Diệntích này vẫn chưa thể phục hồi lại RNM do gặp phải rất nhiều khó khăn.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phục hồi hệ sinh thái RNM, chúng
tôi tiến hành đề tài: “Kỹ thuật phục hồi rừng ngập mặn trên đầm tôm hoang hóa tại xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”
Đề tài tiến hành tìm hiểu đặc điểm một số nhân tố sinh thái và tính chất thểnền trong những đầm tôm hoang hóa, có những khó khăn gì ảnh hưởng đến phụchồi RNM nhằm đề xuất lựa chọn loài cây trồng và kỹ thuật trồng phù hợp trênnhững điều kiện lập địa khó khăn đó Phục hồi được RNM sẽ tạo điều kiện choviệc bảo tồn và phát triển hệ sinh thái này, đồng thời đảm bảo sinh kế cho cộngđồng địa phương ven biển
Trang 4Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về diện tích
RNM dùng để chỉ vùng đất ngập nước chịu tác động của thủy triều, baogồm các RNM, bãi triều, vùng ngập lầy nước mặn và các sinh cảnh khác thuộcvùng ngập triều khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới RNM (RNM) cụ thể là cácrừng ở vùng triều ven biển bao gồm các loài cây gỗ, cây bụi, các cây họ Dừa,thực vật biểu sinh và dương xỉ (P.B Tomlinson,1986) (dẫn theo Vũ Thục Hiền,2006) [8]
Theo ước tính năm 1997, toàn thế giới có khoảng 181.000 Km2 hệ sinh tháiRNM (M.D Spalding et al., 1997) Nhưng theo một ước tính gần đây thì con sốnày giảm xuống dưới 150.000 Km2 (FAO, 2003) RNM phát triển tốt nhất dọc các
bờ biển nhiệt đới ẩm, như các hệ thống đồng bằng bồi đắp bởi các con sông lớnnhư: Cửu Long, bán đảo Cà Mau, đảo Java (Indonesia) (dẫn theo Vũ Thục Hiền,2006) [8]
Trước đây RNM vẫn bị coi là các vùng đất hoang, chưa thực sự được quantâm của con người Tuy nhiên mức độ tác động của con người tới RNM đã tănglên rõ rệt trong những năm gần đây So với 50÷60 năm trước, diện tích RNMcủa nhiều quốc gia giảm khoảng 50÷80% thậm chí hơn nữa Ví dụ: Philipin đãmất khoảng 75% diện tích RNM so với năm 1950 (dẫn theo nguồn Vũ ThụcHiền) [8] Hệ sinh thái RNM đang bị suy thoái hoặc bị chuyển đổi sang sản xuấtnông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, phát triển công nghiệp hoặc đô thị, cảngbiển Sinh kế của nhiều cộng đồng địa phương ven biển đã và đang bị suy giảmhoặc hoàn toàn bị triệt tiêu do việc tàn phá hoặc hủy hoại RNM
Tuy nhiên, gần đây lợi ích của RNM bắt đầu được đánh giá đúng đắn vànhận thức về tầm quan trọng của RNM cũng được nâng cao, người dân nhiềunơi đã nhận thức được mối liên hệ chặt chẽ giữa RNM với sự an toàn của vùng
Trang 5trong việc duy trì hoạt động đánh bắt cá thương mại Chính phủ, các tổ chức phiChính phủ và cộng đồng địa phương trên toàn thế giới nói chung và Việt Namnói riêng đang nỗ lực bảo vệ, phục hồi và quản lý RNM một cách bề vững songkết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế.
Việt Nam có 3260km đường bờ biển, hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, 12 đầm phá
và các eo vịnh Diện tích RNM Việt Nam trước chiến tranh vào khoảng 408.500ha(P Maurand, 1943) Đến năm 1962 diện tích RNM giảm xuống còn 290.000ha(giảm 30%) Năm 1982, sau 20 năm còn 152.000ha (giảm 14% so với năm 1962),năm 1999 sau 17 năm nữa diện tích còn 156.608ha (Theo quyết định số03/2001/QĐ/TTg của thủ tướng chính phủ kí ngày 5/01/2001) Trong đó RNM tựnhiên là 59.732ha chiếm 38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm 61,9%(dẫn theo nguồn Vũ Thục Hiền) [8]
Trong diện tích RNM Việt Nam thì rừng Đước (Rhizophora apiculata) chiếm 80.000ha (82,6%), Trang (Kandelia obovata) 16.876ha, bần chua (Sonneratia caseolaris) và các loài cây ngập mặn khác (17,4%) (Viện điều tra
quy hoạch Rừng, 2001) [18] Theo Đỗ Đình Sâm và cs (2005) [13] tính đến12/2001 diện tích RNM ở Việt Nam vào khoảng 155.290ha đã giảm so với
1999 (Hình 1.1)
Hình 01: Biến động diện tích RNM Việt Nam qua các năm
2.2 Lợi ích từ RNM
Trang 6RNM có giá trị vô cùng to lớn đối với không chỉ môi trường, hệ sinh thái
mà còn cả đối với con người, và ngày càng được nhận thức đúng đắn Đã cónhiều nghiên cứu đánh giá về giá trị của RNM:
Các sản phẩm thực vật:
- Gỗ và vật liệu: loài Đước, Trang, Vẹt, Cóc rất cứng bền và mịn Được
sử dụng trong xây dựng và chế tạo đồ dùng gia đình, làm cọc, cầu Thân được sửdụng làm nhiên liệu được ưa chuộng, than có nhiệt lượng cao lâu tàn(6.375÷6.675 kcal/kg)
- Tanin: vỏ, lá có hàm lượng tanin cao, chất lượng tốt phục vụ một sốngành công nghiệp nhẹ như: Đước, Vẹt, Dù
- Làm bột giấy và các sản phẩm khác: bột giấy chất lượng cao, rễ cây cókhả năng chế tạo nút chai như: Bần chua, Mắm
- Làm thức ăn và đồ uống, ngoài ra có thể làm thuốc chữa bệnh: chứanhiều đạm có thể làm thức ăn cho gia súc, quả Mắm có thể nấu chua, luộc ănđặc biệt còn cho nguyên liệu là mật ong
Các sản phẩm động vật:
- Giá trị lớn nhất của RNM (rừng sát) là nói tới sinh sống của nhiều loàiđộng vật RNM có nhiều bùn, bã hữu cơ, động vật phù du là nguồn thức ănphong phú cho nhiều loài như: tôm, cá, các loài sò và ốc trong rừng và vùngven biển
- Nhiều nghiên cứu cho thấy: 90% loài cá biển khai thác có liên quan đếnthức ăn ở RNM RNM nước ta: có hơn 80 loài giáp xác (cua, còng, tôm, cáy ),
160 loài thân mềm (sò huyết, sò lông, ngao, ngán, các loài ốc ), 250 loài cásống suốt đời hoặc một phần ở RNM Nhiều loài chim sinh sống đặc trưng như:
cò, diệc, hạc cổ trắng, ngoài ra còn có: trăn, các loài rắn, kì đà, cá sấu và rấtnhiều các sản phẩm khác nữa
Trang 7Như vậy, RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinhdưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vậtcửa sông ven biển, đồng thời còn là nơi “ương ấp” những cá thể non của nhiềuloài sinh vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển (Phan Nguyên Hồng,1999) [7].
Đối với kinh tế - xã hội, RNM còn được khai thác dưới dạng du lịch sinhthái như khu RNM Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh, Xuân Thủy - Nam Định và nócòn cung cấp gỗ, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất đốt, thức ăn gia súc, bảo vệcác công trình đê biển, khu sản xuất nông lâm nghiệp và dân cư
Về môi trường, hệ sinh thái RNM có vai trò to lớn trong việc phòng hộ đêbiển, chống xói lở bờ biển, hạn chế tác hại của sóng gió, bão RNM là một tácnhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt, làmtăng khả năng lắng đọng đất góp phần mở rộng diện tích
2.3 Nuôi trồng thủy hải sản và RNM
Nuôi trồng thủy hải sản nói chung và nuôi tôm nói riêng đã có cách đâynhiều thế kỉ, đó là hình thức nuôi thô sơ, dựa trên cơ sở lợi dụng khả năng sinhtrưởng và phát triển tự nhiên của các giống tôm trong môi trường nước lợ Từnăm 1980, khi thế giới đã sản xuất được số lượng lớn loại ấu trùng bằng cáchcho đẻ nhân tạo thì ngành công nghiệp nuôi tôm đã phát triển nhanh chóng (theoNguyễn Trọng Nho, 1994) [11]
2.3.1 Các hình thức nuôi tôm hiện nay
Theo nghiên cứu của các tác giả về nuôi trồng hải sản, (Nguyễn TrọngNho, 1994) [11] Trên thế giới có các hình thức nuôi tôm chính là quảng canh,bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh
* Quảng canh: nuôi tôm quảng canh có lịch sử lâu đời và ít có tác động
của con người Ao nuôi tôm tận dụng hệ sinh thái tự nhiên về nguồn dinh dưỡng
và nguồn giống Đây là hình thức nuôi phổ biến ở Việt Nam Tùy theo mức độtác động của con người có thể chia ra:
Trang 8Quảng canh truyền thống: là hình thức nuôi tôm trong đó con giống, thức
ăn dựa hoàn toàn vào tự nhiên, quản lý ao đơn giản, trong ao nuôi tổng hợpnhiều đối tượng như tôm, cá, cua, rong câu diện tích ao nuôi tôm thường rấtlơn trên 20ha/ao, năng suất thu hoạch dưới 200 kg/ha/năm (theo Phan NguyênHồng, 1995) và tổng hợp các nghiên cứu môi trường của Bộ Thủy sản (1996)(dẫn nguồn Nguyễn Khắc Thành, 2002) [14] Hình thức này bị hạn chế bởi một
sô vấn đề môi trường: chất lượng nước ở những ao quảng canh kém hơn nhữngvùng không phát triển ao nuôi Những nghiên cứu này cho thấy có những thayđổi về chất dinh dưỡng, độ axit vào nồng độ oxy hòa tan ở các khu vực nuôi tômquảng canh truyền thống Chất lượng nước trong nguồn cấp bị ô nhiễm do chấthữu cơ, dầu và thuốc trừ sâu
Quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi tôm dựa trên nền tảng của quảng
canh truyền thống nhưng có bổ sung thêm giống và thức ăn Giống thường làtôm sú hay cua biển Với tôm sú thường nuôi với mật độ 2÷3 con/m2 do phảiđầu tư thêm trong quá trình nuôi tôm nên diện tích ao nuôi thường nhỏ Năngsuất ao nuôi đạt 200÷500 kg/ha/năm (Nguyễn Khắc Thành, 2002)[14], Cho thấyhậu quả của việc mở rộng các ao nuôi tôm quảng canh cải tiến; trong ba nămđầu sau khi xây dựng ao nuôi, năng suất của ao là hợp lý (250÷500 kg/ha/năm),nhưng sau đó năng suất bắt đầu giảm do ao bị mất chất dinh dưỡng hoặc do đất
và nước bị axit hóa trên các vùng đất phèn chua
Các hệ thống nuôi quảng canh cải tiến đã bị nhiễm bệnh và năng suất trungbình của ao nuôi trên cả nước vào khoảng 111 kg/ha/năm Các ao nuôi quá rộnglàm cho việc quản lý môi trường đất và nước trở nên khó khăn, các ao lấy chungnguồn nước và làm hòa lẫn dòng nước vào và ra, dẫn đến lan truyền bệnh lý tômtrên diện rộng, mặt khác ao nuôi quảng canh cải tiến thiếu biện pháp sử lý dòngnước vào làm tăng rủi ro ô nhiễm và dịch bệnh từ nguồn nước cấp
* Bán thâm canh: là hình thức nuôi trồng có áp dụng các tiến bộ khoa học
kĩ thuật trong quá trình sản xuất con giống, sản xuất thức ăn cũng như quản lý
và chăm sóc theo giai đoạn phát triển của tôm Diện tích ao nuôi thường nhỏ
Trang 9(5÷10ha/ao), năng suất biến động lớn (0,5÷5 tấn/ha/năm) Trong hình thức nuôibán thâm canh, con người chưa chủ động được sự điều hòa về khối lượng vàchất lượng nước, các yếu tố môi trường còn phụ thuộc vào thiên nhiên, do chế
độ thay nước thường xuyên Kết quả nghiên cứu khảo sát môi trường cho thấymức độ thiệt hại lớn do ô nhiễm môi trường và dịch bệnh Chất lượng nướctrong ao nuôi bị suy giảm do phù sa bồi lắng, tự gây ô nhiễm trong ao (NguyễnKhắc Thành, 2002) [14]
* Thâm canh: là hình thức nuôi trong đó con người hoàn toàn chủ động về
số lượng, chất lượng giống, dùng thức ăn nhân tạo, mật độ thả giống trên 20con/m2, diện tích ao nuôi thường nhỏ dưới 2 ha/ao, máy móc, thiết bị đầy đủ, kĩthuật viên có trình độ quản lý, năng suất từ 5÷10 tấn/ha/năm Việc áp dụng đồng
bộ các biện pháp kĩ thuật có thể kiểm soát các tác nhân gây ô nhiễm trong aonuôi, tạo điều kiện cho tôm nuôi sinh trưởng tốt, tăng khả năng đề kháng vớibệnh tật Xác định mật độ thả tôm phù hợp với công suất thiết kế có thể giảmthiểu nguy cơ ô nhiễm này Sự kết hợp và rút kinh nghiệm từ nước ngoài (Nhật,Đài Loan, Thái Lan ) có bổ sung cải tiến cho phù hợp với điều kiện Việt Nam;bước đầu đã thu được những thành công đáng kể, môi trường ao nuôi được tácđộng phù hợp với mục tiêu sử dụng
* Siêu thâm canh: là hình thức nuôi hiện đại sử dụng đồng bộ các hệ thống
máy móc, tạo cho đối tượng nuôi có điều kiện sống tối ưu Diện tích ao nhỏ, mặt
độ thả giống cao (50÷100 con/m2), năng suất có thể đạt trên 20 tấn/ha/năm
Trang 102.3.2 Tác hại của nuôi tôm đến sinh thái và môi trường
Ngành công nghiệp nuôi tôm mang lại hiệu quả kinh tế cao, đã thúc đẩyviệc mở rộng diện tích và tăng cường đầu tư cho nuôi tôm đã gây nên những ảnhhưởng không nhỏ tới môi trường và sinh thái Đặc biệt là những nơi thiếu sự quyhoạch và đầu tư về kĩ thuật công nghệ, cùng với sự thiếu kiến thức từ người dân
đã làm ô nhiễm môi trường rất nặng nề, nhiều nơi trên thế giới như ở Thái Lan
đã trở thành những vùng đất chết không thể nuôi tôm, cũng như các hoạt độngkinh tế khác
Nghề nuôi tôm đã gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của môi trường ônhiễm, dịch bệnh, gây ra thiệt hai lớn như: Trung Quốc năm 1991 đạt sản lượng145.000 tấn nhưng đến năm 1993 chỉ đạt có 50.000 tấn, Indonesia từ 140.000tấn năm 1991 xuống còn 50.000 tấn năm 1998; Đài Loan năm 1987, sản lượng90.000 tấn đến năm 1990 chỉ còn 9.000 tấn Nguyên nhân cơ bản là do ao đầmnuôi không được quy hoạch, con giống bị nhiễm bệnh, môi trường nuôi bị ônhiễm trên diện rộng
Việt Nam, đã phát triển nuôi khá lâu, diện tích sử dụng vào nuôi tôm đãtăng rất nhanh nhưng một vài năm trở lại đây đang có xu hướng giảm Hình thứcnuôi tôm chủ yếu là quảng canh, sản lượng tôm được duy trì bằng cách mở rộngthêm diện tích nuôi trồng mới chứ không phải là nâng cao năng suất ao
Nuôi tôm ở Việt Nam gặp khó khăn lớn về môi trường, đặc biệt là chấtlượng nước suy giảm, lượng phù sa bồi lắng lớn, môi trường bị biến động nhiều,nhóm vi khuẩn gây bệnh phát triển Nguyên nhân chủ yếu là từ việc thiếu quyhoạch, chuyển đổi diện tích đất RNM sang nuôi tôm tràn lan đã làm mất môitrường sinh thái, mất khả năng hấp thụ các chất độc hại trong môi trường
Thái Bình là một trong những địa phương cũng có nhiều lợi thế từ các hoạtđộng kinh tế ven biển Nuôi trồng thủy hải sản đặc biệt là nuôi tôm sú đã trởthành một xu hướng mới trong xây dựng và chuyển đổi mô hình kinh tế của
Trang 11mở rộng diện tích nuôi tôm đã thu hẹp một phần đáng kể diện tích RNM, đồngthời đã gây ra tác động xấu đến môi trường.
* Nuôi trồng thủy hải sản của xã Thái Đô
Với vị trí thuận lợi của mình, Thái Đô bắt đầu chuyển sang nuôi tôm từnăm 2003, ban đầu từ những diện tích bên ngoài đê biển sau chuyển đổi dần cảnhững diện tích trồng lúa kém hiệu quả trong đê sang nuôi tôm cá nước lợ Sangnăm 2004 tổng diện tích chuyển đổi của toàn xã sang diện tích nuôi trồng thủyhải sản đã đạt 275 ha, với hơn 1.455 hộ dân tham gia nuôi trồng
Những năm đầu mới chuyển đổi, môi trường còn trong sạch, các chất thảisau nuôi tôm còn ít, dịch bệnh chưa phát triển, việc nuôi tôm có nhiều thuận lợi
đã đem lại những hiệu quả ban đầu Bình quân cao nhất đạt 39,5÷40,0 triệuđồng/ha năm 2004 và 2005
Những năm trở lại đây môi trường bị ô nhiễm nhiều, dịch bệnh lan tràn,thuốc diệt tạp, khử trùng ao, các chất xử lý môi trường, chất lượng con giốngkém đã làm giảm nhanh chóng sản lượng nuôi tôm Theo thống kê của xã thìnăng suất nuôi tôm cao nhất là năm 2005 với 694,4 kg/ha, trong khi đó hiện nay(năm 2010) chỉ còn có 166,7 kg/ha Như vậy sau 5 năm năng suất đã giảm hơn4,16 lần
Theo báo cáo kết quả nuôi tôm năm 2010 của xã Thái Đô, năm 2010 toàn
xã có 275 ha nuôi tôm trong đó có 32 ha bỏ không nuôi, số hộ không cải tạo aonuôi chiếm trên 60%, nhiều hộ gia đình đã bỏ không nuôi tôm do nuôi tômkhông hiệu quả thậm chí còn gây thua lỗ nhiều nếu như đầu tư thêm
Vùng nuôi tôm ngoài đê của xã (đây là vùng nghiên cứu của đề tài), theo
dự án 1 bắt đầu năm 2002 với tổng diện tích là 96,4ha Sau 5 năm, đến năm
2007 diện tích nuôi tôm chỉ còn 28,5ha chiếm 29,56%, diện tích bỏ hoang là67,9ha chiếm 70,44% Đến năm 2009 thì toàn bộ diện tích đã bỏ hoang khôngthể nuôi tôm được do môi trường đã bị ô nhiễm Còn một số hộ gia đình với
Trang 12diện tích khoảng 12,3ha vẫn còn nuôi cua, lấy nước vào để bắt cá tự nhiên, hiệuquả kinh tế là rất thấp.
Không chỉ dừng lại ở đó, môi trường ven biển của xã đã bị ô nhiễm, hiệnnay rất khó có thể nuôi tôm trở lại Theo như dự đoán thì chỉ một vài năm tớidiện tích nuôi tôm có thể giảm một cách nhanh chóng Việc phục hồi diện tíchRNM này vẫn còn gặp nhiều khó khăn
* RNM của xã
RNM tại xã Thái Đô đã có từ rất lâu, trước đây RNM ở đây chỉ là một sốloài cây ngập mặn mọc tự nhiên rải rác Sau năm 1994 thì được quy hoạch vàtrồng theo chương trương trình 327 thuộc dự án PAM - 3525 do Đan Mạch tàitrợ theo chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ Rừng bắt đầutrồng từ năm 1994 và kết thúc vào năm 2005 với tổng diện tích là 1.025ha, trong
đó chủ yếu là trồng Trang và xen giữa Trang và Bần chua
Với việc mở rộng diện tích nuôi tôm sú đã làm suy giảm nghiêm trọng diệntích RNM, xã đã chuyển 96,4ha diện tích đất ngập mặn ngoài đê biển sang nuôitôm sú, ban đầu có rất nhiều người dân tham gia đấu thầu nuôi thả tôm, nhưng sau
5 năm hầu như tất cả diên tích đầm tôm trên đều bỏ hoang Hiện nay xã đang quyhoạch toàn bộ diện tích này sang trồng phục hồi lại RNM
Viêc phục hồi rừng ngập mặn trên những diện tích đầm tôm hoang hóađang được xã rất quan tâm, đã có nhiều giải pháp được đề ra xong việc phục hồinày đang gặp phải rất nhiều khó khăn
Trang 13Phần 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Về vị trị địa lý
Vùng ven biển Thái Thụy nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình có tọa độđịa lý 20o27’ vĩ Bắc và 106o21’ kinh Đông
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Bảo – Hải Phòng
- Phía Nam giáp huyện Tiền Hải – Thái Bình
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp nội đồng của huyện Thái Thụy
Diện tích tự nhiên 14.618.000 ha thuộc địa bàn 5 xã và 1 thị trấn: ThụyTrường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Đô và thị trấn Diêm Điền
Huyện Thái Thụy có 27 km đường bờ biển và hệ thống sông ngòi chằngchịt với sông chính là sông Hóa, sông Diêm Hộ và sông Trà Lý Sông Hóa chảyqua phía Bắc của huyện, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Thái Thụy và huyệnVĩnh Bảo - Hải Phòng đổ ra biển ở cửa Thái Bình Sông Diêm Hộ chảy từ Tâysang Đông chia huyện thành 2 khu: khu Bắc và khu Nam, đổ ra biển ở cửa DiêmĐiền, sông Tra Lý
Thái Thụy có 1.552,3 ha RNM, tập trung tại các xã ven biển, có tác dụnglớn trong phòng hộ đê biển, điều hoà khí hậu và có giá trị lớn về cảnh quan môitrường, bảo tồn hệ sinh thái ngập nước ven biển, có cồn đen rộng hàng chục ha
là nơi cớ thể phát triển ngành du lịch biển
Thái Đô nằm trên đường bờ biển chung với huyện Tiền Hải, xã TháiThượng, thị trấn Diêm Điền với của sông Diêm Hộ đổ ra cửa sông Diêm Điền
- Phía Bắc giáp xã Thái Thượng
- Phía Tây giáp xã Thái Hòa
- Phía Nam giáp huyện Tiền Hải bị ngăn cách bởi con sông Trà Lý,
Trang 14- Phía Đông giáp Biển Đông.
Xã Thái Đô với 8km đường bờ biển, tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là1.164,95ha và hơn 1.025 ha RNM bao phủ bên ngoài đê biển thuộc quyền bảo
vệ của xã được 2 cửa sông Trà Lý và Diêm Điền hai bên bồi tụ nên RNM ở đâyphát triển đồng đều và tương đối tốt
3.2 Đặc điểm khí hậu
3.2.1 Chế độ gió
Khí hậu Thái Thụy thuộc vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ven biềnBắc bộ, chịu ảnh hưởng của gió mùa và khí hậu đai dương với các đặc trưngsau:
Gió mùa hè: chủ yếu là Đông Nam, nóng ẩm, tốc độ gió trung bình khoảng2÷5m/s Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của áp cao lục địa thổi từ cao nguyên TâyTạng và vùng thượng Lào thổi sang vào tháng 6, tháng 7 hàng năm làm chonhiệt độ tăng cao, oi bức, khó chịu
Gió mùa đông: chủ yếu là Đông và Đông bắc gây ra mưa ẩm và lạnh Xuấtphát từ vùng Siberia của Nga thổi sang tập chung vào tháng 12 và tháng 1 âmlịch Hướng gió này thổi thành hai đợt
Đợt 1 gió thổi mạnh đi qua cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc đây làvùng khí hậu lục đia khô và nóng làm thay đổi tính chất của hướng gió này làmchúng khô và hanh ít lạnh hơn, tập chung vào tháng 12 âm lịch
Đợt 2 gió thổi yếu hơn tập chung vào tháng 1 âm lịch có thể kéo dài đếntháng 2 và đầu tháng 3 Gió này yếu nên không vượt qua được các dãy núi caochúng bị lệch ra phía biển làm thay đổi tính chất của gió làm không khí có độ
ẩm cao, gây ra mưa phùn và rét kéo dài, có thời gian kéo dài hơn một tháng nhưcuối năm 2008 và nhiệt độ xuống thấp
Tốc độ gió trung bình năm là 3,24÷4,57 (m/s) Tốc độ gió cực đại đạt15÷20 (m/s) Vào tháng 7÷9 là tháng xuất hiện nhiều bão, tốc độ gió đạt từ
Trang 1535÷40 (m/s) Một năm có trung bình khoảng 2÷3 cơn bão đổ bộ vào đất liền Cónăm có tới 6 cơn bão Cấp gió trung bình từ cấp 8 đến cấp 11.
3.2.2 Chế độ mưa
Vùng ven biển Thái Thụy có mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm.Tổng lượng mưa trong mùa mưa chiếm 85% tổng lượng mưa trong năm Sốngày mưa trung bình trong năm khoảng 125 ngày Lượng mưa trung bình nămkhoảng 1600÷1800 (mm)
Lượng mưa cao nhất tập chung vào các tháng 7, 8, 9 trung bình đạt250÷300 (mm) Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 chỉ đạt từ 15÷26(mm)
Vào cuối mùa đông do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc gây ra mưaphùn, ẩm ướt, lượng mưa thấp nhưng số ngày mưa trong tháng có thể kéo dài10÷15 ngày (dẫn theo trạm quan trắc khí tượng Thụy Anh, 2010)
3.2.3 Chế độ nhiệt
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và phân bố của cây RNM
Ở miền Bắc nhiệt độ trung bình năm thường thấp, khoảng 20oC, chỉ có một sốloài cây ngập mặn chịu lạnh mới có khả năng tồn tại như: đước vòi, trang, bầnchua, vẹt dù, sú, mắm biển (theo Ngô Đình Quế, 2005) [12]
Nhiệt độ không khí trung bình năm tại đây khoảng 23,6oC Nhiệt độ cao tậptrung vào 3 tháng 6,7 và tháng 8 Nhiệt độ cao nhất vào khoảng tháng 7 là: 39oC
và có những đợt nắng nóng kéo dài, có đợt kéo dài hơn một tuần gây ra nhiềukhó khăn cho người dân
Nhiệt độ thấp tập trung vào tháng 1 và tháng 2, thấp nhất khoảng từ 5÷9oC.Đặc biệt như cuối năm 2010 vừa rồi nhiệt độ xuống dưới 6oC và kéo dài tới gần
10 ngày gây nhiều thiệt hại cho nuôi trồng thủy hải sản xã
Lượng bức sạ trung bình khoảng 110÷150 (calo/cm2) Độ ẩm không khítrung bình khoảng 80÷90%, cực đại 94%, cưc tiểu là 75%, chịu ảnh hưởng của
Trang 16gió nồm Đông Nam tạo ra hiện tượng “toát mồ hôi” trên bề mặt đất, nền nhà.Tổng lượng bốc hơi trung bình năm là: 700÷850 (mm) (dẫn theo trạm quan trắckhí tượng Thụy Anh, 2010).
3.3 Đặc điểm thủy văn
3.3.1 Sông suối
Thái Thụy là nơi hội tụ của ba con sông thuộc hệ thống sông Thái Bình là:Sông Thái Bình, sông Trà Lý và sông Diêm Hộ Về mùa lũ: tháng 7 và tháng 8trong năm lưu lượng lũ cao nhất đo ở cửa sông Thái Bình là: 1800 (m3/s)
Về mùa khô lưu lượng nước của các con sông giảm đi đáng kể Sự phân bố lưulượng nước không đều giữa mùa khô và mùa mưa dẫn đến sự thay đổi đáng kể độmặn của nước trong các ao đầm và vùng cửa sông theo các tháng trong năm
Vùng RNM của xã Thái Đô là vùng bồi tụ của hai con sông lớn hai bên:Sông Diêm Hộ với cửa sông Diêm Điền án ngữ phần phía bắc của khu rừng.Phần phía nam của khu rừng là do sông Trà Lý bồi đắp
Khu RNM trải dài gần 5km trong lưu vực của hai con sông lớn đã ảnhhưởng đến một số đặc điểm làm cho khu rừng này có những tính chất tương đốikhác so với các khu RNM khác ngay trong khu vực Đặc biệt là vào mùa mưakhu vực này do nước nguồn từ hai con sông đổ xuống làm độ mặn giảm gần nhưkhông có hoặc rất thấp
3.3.2 Chế độ thủy triều
Khu vực nghiên cứu có biên độ triều dao động lớn, với chế độ này thời gianngập triều thường kéo dài Theo tài liệu quan trắc mực nước triều trong nhiềunăm tại trạm Hải văn Hòn Dáu Biên độ triều dao động với mực nước lớn nhất
có thể đạt 4,44m và thấp nhất là -0,27m (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002)
[3]
Trang 17Như vậy chế độ triều kéo dài cùng với dòng triều mạnh, đặc biệt là triềucường cộng hưởng với nước dâng trong bão đã ảnh hưởng rất lớn và hạn chếsinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn.
Chế độ thủy triều tại khu RNM chủ yếu lên xuống theo chế độ nhật triều thủy triều lên xuống một lần trong ngày Cá biệt có những ngào thủy triều lênxuống hai lần theo chế độ bán nhật triều, đôi khi thủy triều còn theo chế độ bánnhật triều không đều (Nguyễn Hải Anh, 1998) [1]
-Mực nước triều trung bình năm là: 287÷325 (cm) -Mực nước triều cao nhấtđạt 444 (cm), mực nước triều thấp nhất đạt 48 (cm)
Trong năm, từ tháng 6 đến tháng 12 có mực nước triều lên cao nhất Tháng
có mực nước triều thấp nhất là tháng 1 Một năm có khoảng 178 ngày triềucường lên cao trên 3m
Thủy triều lên xuống chịu tác động của mặt trăng và theo âm lịch, tuynhiên mực nước thủy triều trong ngày lại chịu tác động của rất nhiều yếu tố làmcho mực nước có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với lịch thủy triều, một số nhân
tố ảnh hưởng đến chế độ thủy triều:
- Thủy triều lên vào lúc có gió Đông to (từ cấp 4, cấp 5 trở lên) có thể làmcho thủy triều lên cao hơn so với trong lịch thông báo, và thời gian lên có thể rútngắn xuống
- Thủy triều lên vào lúc có gió Tây hoặc gió Tây-Bắc to sẽ làm cho độ mặntrong nước tăng cao, có thể hơn mức bình thường từ 5÷10‰ Đây là kinhnghiệm từ những người đi biển nhiều năm
- Khi thủy triều lên kèm theo ảnh hưởng của gió bão sẽ làm cho thủy triềuvượt lên trên mực nước thông báo từ 1÷3m Đây là nguyên nhân chính gây ranhiều lần vỡ đê biển, ảnh hưởng rất nhiều tới kinh tế và đời sống của người dântrong vùng
- Ngoài ra, thủy triều còn chịu ảnh hưởng của khí hậu: lúc nước lên màkhông khí bị “mù trời” – gần giống mưa phùn trên mặt biển, lúc này độ ẩm tăng
Trang 18làm cho áp suất khí quyển tăng cao Chính áp suất khí quyển này sẽ có tác độngtới độ cao mực nước thủy triều Những ngày như thế này thì thủy triều khôngcao như trong lịch thông báo.
Chế độ triều kết hợp với sóng biển thay đổi theo mùa, mùa đông hướngsóng chính là Đông và Đông-Bắc, Đông-Nam Mùa hè hướng gió thịnh là Nam
và Tây-Nam với độ cao trung bình là 0,5÷0,6m độ cao nhất ven bờ có thể đạt2÷3m, đặc biệt là khi xuất hiện cùng những cơn bão mở đường cho sóng đánhvào bờ trong các vùng bãi triều Nên địa hình trong các bãi triều thường hơithoải và khá bằng phẳng (Viện khoa học Việt Nam, 1993) (dẫn theo Nguyễn ThịKim Cúc, 2002 [3]
Độ mặn tại khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, có sựkhác nhau rõ rệt và rất lớn giữa các tháng và các mùa trong năm Độ mặn trungbình giao động trong khoảng từ 18÷22‰, cao nhất vào khoảng tháng 4 có nămtới 29÷30‰
Độ mặn thấp nhất vào tháng 7 và tháng 8 có những thời điểm độ mặn cóthể giảm thấp tới 5‰, nguyên nhân chủ yếu là do nước nguồn từ hai con sônghai bên (Sông Diêm Hộ và Sông Trà Lý) đổ ra biển, nước ngọt và mang nhiềuphù sa
Nhìn chung, khu vực nghiên cứu có độ mặn thấp, thay đổi nhiều giữa các
mùa trong năm làm hạn chế sự phát triển của cây ngập mặn Điều kiện độ mặn ởđây thích hợp với những loài cây chịu mặn tương đối thấp (7÷25‰) như: trang,
Trang 19ô rô, cóc kèn và nhóm cây nước lợ điển hình (nơi có độ mặn 5÷15‰) như: bầnchua, na biển (Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002) [3].
3.3.4 Thể nền
Thể nền tại RNM tương đối bằng phẳng, độ cao ở mức trung bình so vớimực nước biển, độ cao thể nền chênh lệch nhau không lớn từ khoảng 0,8 đến3,1m
Dạng thể nền có sự khác nhau từ trong sát đê ra đến ven mép ngoài RNM.Thể nền nghiêng đều từ trong đê ra phía biển nhưng chếch về phía đông bắchướng ra Đồ Sơn - Hải Phòng
Trong sát chân đê dạng thể nền rất cứng, đi lại ít lún chân, ra ra phía biểnkhoảng 200m thì bắt đầu thụt chân, tại đây cành cây khô rụng xuống che lấpnhiều trên bề mặt thể nền
Ra xa hơn nữa thể nền yếu dần và lún chân 10÷15cm, đặc biệt ra hết ngoàikhu vực trồng rừng thể lỏng nhão có thể lún chân tới 30cm rất khó đi lại
Ngoài cùng thì hầu như toàn đất cát và không có các hạt phù sa ngưng tụ,vùng này ngập triều thường xuyên thấp nhất cũng 20÷40cm nước, dễ đi không
có cây cối tái sinh tự nhiên
3.4 Đặc điểm đất đai, Thổ nhưỡng
Do lưu lượng phù sa của các con sông tương đối lớn nên hàng năm ởvùng ven bãi bồi lấn ra biển khá nhanh, trung bình từ 80÷100m Nhìn chung đấttại khu vực được chia làm hai loại chính:
- Đất cát: Phân bố tại các cồn cát, bên ngoài khu RNM – nơi mà sự lắngđọng phù sa chưa tích tụ được vẫn bị thủy triều và các dòng nước cuốn trôi
- Đất thịt: (thường là đất thịt trung bình) đây thường ở những khu đã trồngrừng từ lâu đã có sự lắng đọng phù sa và cứng lại Ngoài ra, còn có một bộ phậnnhỏ là đất cát pha thịt, đó thường là những vùng ven rìa ngoài của RNM - nơi
Trang 20mà các hạt sét bị cuốn trôi đang tích tụ lại Đặc điểm là thể nền còn yếu và đấtthì rất nhão, dễ bị sóng to cuốn đi theo.
Bãi triều rộng và thoải là yếu tố thích hợp cho sinh trưởng và phát triển củacây ngập mặn, tuy nhiên nằm trong khu vực trống trải lại chịu ảnh hưởng nhiềucủa gió bão, khí hậu nên đã hạn chế sự phát triển của RNM ra phía biển cũngnhư tái sinh của các cây ở đây và du nhập từ nơi khác đến do đó đã hạn chế sựphong phú của thảm thực vật ngập mặn
3.5 Điều kiện dân sinh - kinh tế
3.5.1 Dân số
Dân số toàn xã khoảng có 6.235 người với gần 1.500 hộ gia đình, bìnhquân hơn 4 người trên một hộ gia đình Mật độ trung bình là 6235/11,65người/km2, phân bố không đều, tập trung nhiều nhất ở thị trấn
Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trong xã thấp, tỷ lệ sinh tự nhiên giảm từ1,65% xuống còn 1,44% từ năm 2008 đến năm 2010
Ở các vùng trong đê biển hoạt động sản xuất chủ yếu là canh tác nôngnghiệp như trồng lúa trên các diện tích đất ngọt hóa và trồng hoa màu trên cácvùng đất cao Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiêp tính theo đầu người trongvùng rất thấp chỉ khoảng 360m2/ người
Nhìn chung, đời sống của người dân còn nghèo, kinh tế ở đây chưa vượtkhỏi sự chậm phát triển
Trang 213.5.3 Xã hội
Toàn xã đã hoàn thành giáo dục phổ cập cho 2 bậc học: Tiểu học và trung học
cơ sở, hàng năm vẫn đạt 100% trẻ em 6 tuổi được đến trường học, không có emnào bỏ học giữa chừng vì điều kiện khó khăn Tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt99,6%, luôn đứng tốp đầu trong thi đua học tập tốt trong toàn huyện
Trạm y tế xã không ngừng được quan tâm đầu tư mở rộng, trang bị thêmmột số thiết bị y tế thiết yếu, hàng năm đã khám cho khoảng 2.358 lượt người,trẻ em được tiêm vắc xin, uống thuốc và khám chữa bệnh theo đúng quy địnhcủa pháp luật Trạm y tế đã tổ chức khám chữa bệnh định kì tại các nhà trườngcho các em nhỏ theo lịch tiêm chủng và chăm sóc sức khỏe người dân của nhànước
3.6 Thành phần động thực vật trong vùng
- Nhóm thực vật mặn: có khoảng 26 hệ thực vật với 48 chi, 52 loài Sinhkhối của nhón thực vật ngập mặn ở đây không cao nhưng đóng vai trò quantrọng trong quá trình bồi tụ, lắng động phù sa, là môi trường sống của nhiều loàisinh vật biển có giá trị, là tấm lá chắn vững chắc để bảo vệ đê biển
-Nhóm sinh vật phù du: Có 170 loài tảo và khoảng 108 loài động vật phùdu
- Khu hệ cá: Có 37 loài, trong đó có 20 loài có giá trị kinh té cao, như cácloài Ngao đầm, Ngao, Sò Trong số này Ngao là loài có giá rị xuất khẩu cao
-Rong biển: Số lượng và chủng loại đơn điệu nhưng có 2 loài Rong câuchỉ vàng, Rong câu mảnh thuộc nghành Rong câu đỏ có giá trị xuất khẩu cao
Nhìn chung, hệ sinh thái trong vùng khá đa dạng và phong phú, có nhiềuloài sinh vật có giá trị kinh tế và xuất khẩu, đây là một thế mạnh để phát triểnnghề nuôi trồng thủy sản trong vùng
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐẦM TÔM HOANG HÓA
Trang 22Hình 02: Đầm tôm bị phá ( nguồn Mice) Hình 03: Ảnh khu vực nghiên cứu
Hình 04: Lúc ngập nước bình thường Hình 05: Vùng ngập sâu trong đầm tôm
Trang 23Phần 4 MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Mục tiêu
Đánh giá được đặc điểm một số nhân tố sinh thái của các đầm tôm hoanghóa tại xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình làm cơ sở đề xuất một sốgiải pháp cho việc phục hồi RNM tại khu vực này
4.2 Phạm vi, đối tượng của đề tài
- Các đầm tôm hoang hóa tại xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
4.3 Nội dung của đề tài
- Xác định đặc điểm một số nhân tố sinh thái trên đầm tôm hoang hóa tạikhu vực nghiên cứu
- Lựa chọn loài cây RNM thích hợp cho đầm tôm hoang hóa tại khu vựcnghiên cứu
- Kỹ thuật trồng rừng trên đầm tôm hoang hóa tại khu vực nghiên cứu
4.4 Phương pháp nghiên cứu
4.4.1 Kế thừa số liệu, kết quả nghiên cứu
- Kế thừa kết quả nghiên cứu tại khu vực, những nghiên cứu cùng lĩnh vực
và những nghiên cứu liên quan
- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiêncứu
Trang 244.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
4.4.2.1 Đo pH, độ mặn
* Độ chua (pH)
Độ chua là chỉ số đánh giá hàm lượng ion [H+]trong dung dịch Độ chua thìkhông có đơn vị đo, độ chua xác định gồm hai loại là độ axit hay độ bazo Tùytheo khả năng hoạt động của ion [H+], ion [H+] càng hoạt động mạnh thì dungdịch càng có pH thấp hay độ axit
Độ chua (pH) của nước biển hầu như không thay đổi và luôn bằng một giátrị, (pH) khoảng 8 Đây là môi trường bazơ, khi nước biển vào ven bờ bị tácđộng trung hòa của thể nền hay của nước từ các con sông chảy ra làm cho pHcủa nước biển thay đổi
* Độ mặn
Độ mặn hay độ muối được kí hiệu S‰ (S viết tắt chữ Salinity – độ mặn) làtổng lượng (tính bằng gram) các chất hòa tan chứa trong 1kg nước Trong hảidương học người ta sử dụng độ muối (salinity) để đặc trưng cho độ khoáng củanước biển, nó được hiểu như tổng lượng tính bằng gram của tất cả các chất rắnhòa tan có trong 1kg nước biển
Vì tổng nồng độ các ion chính (11 ion) chiếm tới 99,99% tổng lượng cácchất khoáng hòa tan nên có thể coi độ muối nước biển chính bằng giá trị này.Điều đó cũng có nghĩa là đối với nước biển khơi, độ muối có thể được tính toánthông qua nồng độ của một ion chính bất kì
Độ muối được kí hiệu S‰ hay độ clo – Clo‰ và mối liên hệ giữa hai đạilượng này là: S‰ = 0,030 +1,8050 Clo‰ (trên cơ sở quy luật Đitmar được một
số nhà khoa học công bố 1902)
Ở đây ‰ hay ppt (phần nghìn) không phải là đơn vị đo độ muối, đó chỉ là
kí hiệu để biểu diễn đơn vị đo nồng độ (g/kg) của các muối hòa tan trong nướcbiển
Trang 25Căn cứ vào độ muối, năm 1934, Zernop đã phân chia giới hạn các loạinước tự nhiên, sau này được A.F.Karpevits bổ sung và chi tiết hóa.
Biểu phân chia các loại nước tự nhiên (tính theo phần nghìn ‰)
TT Phân loại nước Theo
Zernop
Theo A.F.Karpevits
1 Nước ngọt 0,02÷0,5 0,01÷0,5 Sông, hồ chứa
vịnh, cửa sông
4 Nước quá mặn Trên 47 40÷300 Một số hồ, vịnh
Từ biểu trên ta thấy Việt Nam thường sử dụng phân chia các loại nước tựnhiên theo A.F.Karpevits
* Tiến hành xác định độ mặn và độ pH cho một “con nước” mỗi ngày tiếnhành đo 3 lần: lúc nước thủy triểu lên, lúc đỉnh thủy triều trong vòng một đếnhai giờ, lúc thủy triều xuống
Xác định bằng máy đo pH cầm tay (pH Eco-PAL) và máy đo độ mặn cầmtay (khúc xạ kế đo độ mặn TI-SAT28) Sử dụng máy đo: lấy nước tại địa điểmcần đo vào một cái cốc
Đo pH: lấy máy đo ra khỏi hộp, kiểm tra máy đo, mở lắp, lấy nước cất rửaqua đầu tiếp xúc với nước của máy đo sau đó lấy khăn sạch lau khô Khi đo,cắm đầu tiếp xúc với nước của máy ngập vào trong cốc nước cần xác định độ
pH, để vài giây máy sẽ hiện kết quả Chú ý khi đo lần sau hay đo với cốc nướckhác cần rửa qua đầu tiếp xúc với nước của máy bằng nước cất và dùng khăn laukhô
Trang 26Đo độ mặn: lấy máy đo ra khỏi hộp, kiểm tra máy, dùng khăn sạch lau qualăng kính của máy Khi đo, lấy đầu ngón tay (tay sạch) nhúng vào cốc nước rồinhỏ 1÷2 giọt nước vào lăng kính, sau đó đậy tấm chắn của lăng kính xuống.Cầm máy hướng về phía ánh sáng, điều chỉnh thị kính để nhìn rõ nhất Trongmáy sẽ hiện lên hai vùng màu khác nhau, trên thang đo nhìn độ cao của vùngmàu trắng tại vị trí nào thì đọc chỉ số độ mặn tại vị trí đó Chú ý nhìn vào thướcbiểu thị cho độ mặn (kí hiệu là ppt hoặc ‰), cần lau sạch và khô lăng kính khi
đo lần sau
Hình 06: Máy đo độ mặn TI-SAT28 Hình 07: Máy đo pH Eco-PAL
4.4.2.2 Xác định độ cao của thể nền tại khu vực nghiên cứu
- Chọn 3 vị trí đại diện tại khu vực nghiên cứu để xác định độ cao cho thểnền
- Tiến hành cắm 3 cọc để xác định độ cao Chuẩn bị lịch thủy triều, xácđịnh độ cao cực đại cho từng ngày Xác định độ cao cực đại của thủy triều chongày điều tra, thời gian cụ thể
- Sau khi thủy triều rút tiến hành đo độ cao mực nước trên cọc, để tránh sai
số và độ cao của thủy triều có sai lệch chúng ta tiến hành đo 2 ngày để xác định
độ cao trung bình của thể nền tại khu vực nghiên cứu
4.4.2.3 Phương pháp thu mẫu đất
Trang 27- Tại khu vực nghiên cứu, xác định 3 vị trí đại diện để lấy mẫu đất phântích tính chất của đất tại khu vực
- Thu mẫu: tiến hành lấy mẫu vào mùa khô (vào tháng 3/2011) Mẫu đấtđược lấy ở 2 độ sâu khác nhau 0÷20cm so với bề mặt đất và độ sâu 20÷40cm sovới mặt đất
4.4.3 Phương pháp sử lý số liệu, đánh giá kết quả
- Phân tích các chỉ tiêu của mẫu đất
Tiến hành phân tích mẫu đất trong phòng thí nghiệm về tính chất hóa học,đánh giá hàm lượng các chất trong đất dựa vào thang đánh giá sau:
* Hàm lượng mùn có trong đất (OM %)
Thang đánh giá hàm lượng mùn bằng phương pháp của Ti-Urin.
(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
* Hàm lượng: đạm, lân, kali tổng số (N, P2O5, K2O) (%)
Thang đánh giá hàm lượng đạm tổng số
Trang 28(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
* Hàm lượng: đạm, lân, kali dễ tiêu (N, P2O5, K2O) (mg/100g đất)
Thang đánh giá hàm lượng đạm dễ tiêu theo phương pháp
(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
Thang đánh giá hàm lượng kali dễ tiêu theo Kiecxanop
Hàm lượng kali dễ tiêu (mg/100g đất) Đánh giá
(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
Thang đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu theo Oniani
Hàm lượng lân dễ tiêu (mg/100g đất) Đánh giá
(Nguồn: Hữu Thành & Cs 2006) [15]
* Hàm lượng một số cation trao đổi trong đất (lđd/100g đất) Ca2+, Mg2+
Thang đánh giá hàm lượng canxi, magie trong đất
Trang 29Rất thấp <2 <0,5
(Nguồn: Hữu Thành & Cs 2006) [15]
4.4.4 Phương pháp tham khảo ý kiến đánh giá lựa chọn loài cây trồng của người dân địa phương
Phương pháp này được tiến hành qua việc phỏng vấn ý kiến của nhữngngười dân có kinh nghiệm và đi biển nhiều năm Kết quả tổng hợp ý kiến đượctổng hợp vào biểu cho điểm và lựa chọn loài cây trồng thích hợp cho đầm tômhoang hóa
Biểu cho điểm và lựa chọn loài cây trồng cho đầm tôm hoang hóa
Tiêu chí
Tổngđiểm
Xếphạng
* Trong đó:
Tiêu chí 1: khả năng sinh trưởng tốt
Tiêu chí 2: thích hợp với độ mặn, độ mặn của khu vực nghiên cứu, chịuđược biên độ muối rộng 5÷30‰
Tiêu chí 3: xuất hiện trước khi có đầm tôm
Tiêu chí 4: khả năng tái sinh nhiều và tốt
Tiêu chí 5: chiếm diện tích lớn ở khu vực lân cận
Tiêu chí 6: không bị sâu bệnh, hà bám
Tiêu chí 7: giá trị kinh tế, sinh thái môi trường (sử dụng cho nuôi ong)Tiêu chí 8: khả năng lấn biển, giữ đất
Tiêu chí 9: mức độ ưa thích và lựa chọn loài cây trồng của người dân
Trang 30Phần 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 5.1 Một số đặc điểm sinh thái khu vực nghiên cứu
5.1.1 Đặc điểm thể nền
Độ cao của thể nền được xác định theo phương pháp cắm cọc Độ cao thểnền được tính bằng độ cao lớn nhất của thủy triều trong ngày trừ đi độ cao lớnnhất của mực nước đo trên cọc trong ngày hôm đó
Qua biểu xác định độ cao thể nền (phụ biểu 01) ta thấy thể nền tại khunghiên cứu - trong những đầm tôm hoang hóa có độ cao trung bình là 1,35m sovới mực nước biển
Với độ cao thể nền là 1,35m thì ước tính một tháng trung bình sẽ có khoảng
từ 20÷25 ngày ngày ngập Theo PGS.TS Ngô Đình Quế, 2005 [12] tại vùng venbiển đồng bằng sông Hồng: tại vùng đất bồi cửa sông có phân bố chủ yếu là bầnchua, sú và trang mật độ 10.000 cây/ha; vùng ngập triều thấp bần chua, sú; vùngngập triều trung bình là bần chua, trang và sú mật độ 10.000 cây/ha; vùng ngậptriều cao hoặc bất thường có giá, cui
Tuy nhiên đất trong đầm tôm hoang hóa lại ngập nước thường xuyên do có
bờ đầm Khi thủy triều lên nước sẽ tràn qua bờ vào trong, khi thủy triều xuống
bờ đầm sẽ ngăn không cho nước trong đầm thoát ra ngoài
5.1.2 Đặc điểm môi trường nước
Nước ven biển của khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của thủy triều trongvùng và nguồn nước từ hai cửa sông Trà Lý và Diêm Hộ, đã tác động nhiều đếnđặc điểm và tính chất nước tại đây đặc biệt là vào các mùa có biến động khítượng lớn
5.1.2.1 Độ mặn
Độ mặn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phân bố củacây ngập mặn, độ mặn của nước biển biến động lớn trong năm ≤4‰ (mùa mưa)
Trang 31đến 20‰ (mùa khô), có rừng bần chua, trang (vùng cửa sông) Độ mặn của nướccao và ít biến động trong năm 12÷31‰, có rừng mắm trắng, mắm biển Độ mặncủa nước biến động 7‰ (mùa mưa) đến 28‰ (mùa khô), có rừng đước, đướcvòi, vẹt (Ngô Đình Quế và cộng tác viên, 2005) [12].
Từ biểu xác định độ mặn theo thủy triều tại xã Thái Đô (phụ biểu 02) trongcuối tháng 2 và đầu tháng 3 ta thấy độ mặn trung bình của thủy triều đạt 19,2‰,khu vực này thuộc vùng nước lợ
Chênh lệch lúc triều lên, triều đỉnh và thủy triều xuống không nhiều dotrong thời gian đo thời tiết thuận lợi, có một số ngày có mưa nhỏ, chiều tối cósương mù dày từ biển thổi vào nhưng chỉ trong thời gian ngắn và không nhiều.Chính vì thế đã ít ảnh hưởng đến độ mặn của thủy triều
Đây là vùng nước phù hợp cho sinh trưởng của một số cây ngập mặn nước
lợ điển hình như: Trang, Bần chua, Đước vòi, Sú, vẹt,…
Biểu 01: Thống kê độ mặn trung bình tháng trong năm 2010
(Nguồn: theo báo cáo của UBND xã Thái Đô năm 2010)
Theo biểu thống kê độ mặn thay đổi rất nhiều giữa các tháng trong năm Độmặn cao nhất có những ngày có thể đạt tới 26‰ vào tháng 4, một số năm cónhững ngày độ mặn lên tới 30‰ và thấp nhất vào khoảng tháng 7 và 8 độ mặn
có thể xuống tới 5‰ đã hạn chế rất nhiều sinh trưởng và phát triển của câyRNM tại nơi đây
5.1.2.2 Độ chua (pH)
Từ biểu xác định độ chua (phụ biểu 02) ta thấy độ chua trong khu vựcnghiên cứu có môi trường hơi kiềm, trong khi pH nước biển là 8 thì pH trungbình xác định được là 7,20 độ pH cao nhất vào lúc thủy triều cường 7,36 Qua
đó chứng tỏ môi trường RNM, thể nền và nguồn nước ngọt từ các con sông chảy
ra đã ảnh hưởng đến pH của nước biển