1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu cộng đồng việt kiều ở đông bắc thái lan và quan hệ thái lan

67 668 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan và Quan hệ Thái Lan
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Xã hội học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 209 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các cộng đồng ngời Việt Nam sinh sống ở nớc ngoài, cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan là một cộng đồng có số lợng khá đông đảo, có lịch sử tơng đối dài và có nhiều đóng góp ch

Trang 1

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

1.1 Lịch sử di c của các cộng đồng ngời ra ngoài lãnh thổ mà mình sinh

sống là một hiện tợng tự nhiên trong lịch sử loài ngời Có nhiều nguyên nhân dẫn

đến hiện tợng trên: Sự biến động về chính trị, sự khó khăn về kinh tế, chiếntranh, tôn giáo Vào thế kỷ XVII, lịch sử chứng kiến sự di c của ngời Anh đếnvùng Bắc Mỹ giàu có; sự ra đi của những ngời Hoa đến tất cả các nơi trên thếgiới, cho đến sự di c của hàng loạt ngời Do Thái tránh sự diệt chủng

Việc cộng đồng ngời Việt di c ra nớc ngoài cũng không nằm ngoài quyluật ấy Trải qua những đợt di c lâu dài, cho đến nay cộng đồng ngời Việt Nam ởnớc ngoài có khoảng 2,7 triệu ngời, sinh sống ở gần 90 nớc và vùng lãnh thổ,trong đó hơn 80% sống ở các nớc công nghiệp phát triển [1] Cộng đồng ngờiViệt Nam ở nớc ngoài, có tiềm lực kinh tế nhất định, nhiều trí thức có trình độhọc vấn và chuyên môn cao Mặc dù sống xa tổ quốc đồng bào vẫn nuôi dỡngphát huy tinh thần yêu nớc, giữ gìn truyền thống văn hoá và hớng về cội nguồnbằng những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xơng máu cho sự nghiệp giảiphóng dân tộc Đặc biệt, trong những năm gần đây nhiều Việt kiều đã đóng góptích cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, bằng việc bỏ vốn

đầu t phát triển kinh tế, góp phần vào việc phát triển văn hoá khoa học giáo dục

và đào tạo

Không phải không có ý nghĩa, khi Đảng và Nhà nớc ta coi cộng đồng ngờiViệt Nam ở nớc ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực to lớncủa dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là từ sau khi đấtnớc ta tiến hành sự nghiệp đổi mới Để phát huy tốt hơn nữa nguồn lực tinh thần

và vật chất của kiều bào trong sự nghiệp xây dựng đất nớc, Bộ chính trị Trung

-ơng Đảng cộng sản Việt Nam đã có Nghị quyết số 36NQ/TW ngày 26/3/2004,

về công tác đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài nh sau: “Cộng đồng ngời ViệtNam ở nớc ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanhnghiệp tổ chức kinh tế nớc ngoài và quốc tế, có khả năng tìm kiếm đối tác và làmcầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nớc Nhiều trí thức có trình độ họcvấn và chuyên môn cao, một số ngời giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ

sở nghiên cứu

Trang 2

Mặc dù sống xa tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dỡng, phát huy tinh thần yêunớc tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hoá và hớng về cội nguồn, dòng tộc,gắn bó với gia đình quê hơng Nhiều ngời đã có những đóng góp về tinh thần, vậtchất và cả xơng máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nớc Tuynhiên, ngời Việt Nam ở một số nớc còn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống,cha đợc hởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị Một bộ phận

đồng bào do cha có dịp về thăm đất nớc để tận mắt thấy đợc những thành tựu củacông cuộc đổi mới, hoặc do thành kiến mặc cảm, nên cha hiểu lắm về tình hình

đất nớc Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồngcha cao Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nớc, nhất là về trithức, cha tơng xứng với tiềm năng của cộng đồng ngời Việt Nam ở nớc ngoài

Nguyên nhân trên là do các cấp các ngành, các đoàn thể nhân dân chanhận thức đầy đủ và sâu sắc các quan điểm chỉ đạo sâu sắc của Đảng về công tác

đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài, nhiều cấp uỷ đảng và lãnh đạo chính quyềncác cấp cha quan tâm đúng mức và cha thờng xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thựchiện công tác này

Công tác đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệthống chính trị và của toàn dân Các tổ chức Đảng, nhà nớc, Mặt trận tổ quốcViệt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ơng đến địa ph-

ơng, ở trong nớc và ngoài nớc và toàn thể dân ta cần coi đây là một nhiệm vụquan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc”[1]

Để biến Nghị quyết thành hiện thực, thiết nghĩ một trong những công việcquan trọng là phải nghiên cứu, tìm hiểu các cộng đồng ngời Việt đang sinh sống,làm ăn ở nớc ngoài

1.2 Trong các cộng đồng ngời Việt Nam sinh sống ở nớc ngoài, cộng

đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan là một cộng đồng có số lợng khá đông đảo,

có lịch sử tơng đối dài và có nhiều đóng góp cho đất nớc nhất là trong sự nghiệpgiải phóng dân tộc Những đặc điểm này đợc quy định bởi những lý do của sựchuyển c, của địa bàn c trú, của những điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị củanớc sở tại Đây là một trong những cộng đồng Việt kiều đáng đợc quan tâm tìmhiểu để từ đó đề ra những chính sách cụ thể, sát thực nhằm phát huy tối u nguồnlực này phục vụ cho sự phát triển của đất nớc trong thời kỳ đổi mới

Trang 3

Vì vậy luận văn lựa chọn việc nghiên cứu Tìm hiểu Cộng đồng Việt kiều

ở Đông Bắc Thái Lan làm đề tài, với hi vọng góp phần đạt đợc mục tiêu trên.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Xét trên phạm vi toàn quốc, các công trình nghiên cứu tìm hiểu về cộng

đồng ngời Việt Nam sinh sống ở nớc ngoài đang còn rất hạn chế Do đó, tìm hiểucộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan thực sự là một vấn đề còn hết sức mới

mẻ

Cho đến hiện nay, đã có một số tài liệu đợc viết dới dạng các hồi ký, tự

thuật do những ngời đã từng hoạt động ở Thái Lan nh: Tác phẩm “Cuộc vận

động cứu quốc của Việt kiều ở Thái Lan” xuất bản năm 1961 của Lê Mạnh

Trinh, Nxb Sự thật, Hà Nội; “Hoạt động cách mạng của Việt kiều ở Thái Lan” là công trình tập thể của các lão cán bộ hoạt động ở Thái; “Việt kiều ở Thái Lan

trong sự nghiệp giải phóng dân tộc” của Đông Tùng Các tài liệu này đều đề cập

đến những công lao và đóng góp của Việt kiều ở Thái Lan đối với Tổ quốc

Ngoài ra, gần đây có một số bài viết của các tác giả đăng trên các Tạp chínghiên cứu của Việt Nam cũng đề cập đến một số khía cạnh mà luận văn quan

tâm nh: Thái Lan - địa bàn liên lạc của cách mạng Việt Nam (Nguyễn Văn Khoan, Nghiên cứu ĐNá, 1996, số 2, tr.47-52); Đời sống kinh tế của cộng đồng

ngời Việt ở tỉnh Sacon Nakon - Thái Lan (Nguyễn Hồng Quang, Nghiên cứu

ĐNá, 2004, số 2, tr.60-66)

Cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan cũng đã thu hút sự quan tâmcủa các học giả nớc ngoài, tiêu biểu có một số tài liệu lợc dịch:

Cuốn “Ngời Việt Nam ở Thái Lan (The Vietnamese in Thailand)” của tác

giả Peter A Poole, NXB University Press USA, 1970 (bản dịch của Viện ĐNá)cũng đã làm rõ thái độ và chính sách của chính phủ Thái Lan đối với cộng đồngViệt kiều

Phó giáo s Lea Dilokdhyarat có bài “Ngời Việt sang Thái từ bao giờ” đăng

trên Tạp chí Văn hoá xã hội, số thứ nhất, 9/2000 (Tạp chí của ngời Việt Nam ởThái Lan xuất bản) cũng đã khái quát lịch sử hình thành cộng đồng ngời ViệtNam trên đất Thái Lan

Trên cơ sở những t liệu đã tiếp cận đợc, chúng tôi nhận thấy: Thứ nhất,hầu hết các tài liệu này mới chỉ đề cập đến sự hình thành của cộng đồng ngờiViệt ở Thái Lan mà cha làm rõ những nguyên nhân dẫn đến quá trình hình thành

đó Thứ hai, một số tài liệu đề cập đến những đóng góp của cộng đồng thì chung

Trang 4

chung, sơ lợc, thiếu tính hệ thống và cha bao quát đợc toàn bộ giai đoạn mà đềtài quan tâm

Tuy nhiên, đây là những tài liệu hết sức quý giá giúp tác giả trong việctiếp cận và giải quyết vấn đề

3 Đối tợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu.

- Thời gian: Từ năm 1784 cho đến hiện nay (năm 2004) Tác giả chọn mốc

mở đầu vào năm 1784, là sự kiện Nguyễn ánh cùng với quan quân lánh nạn sangXiêm, một số binh sĩ của ông ta đã ở lại trên đất Xiêm và c trú ở vùng Sảm xểngần Thủ đô Bangkoc, họ trở thành những ngời Việt Nam đầu tiên trên đất Xiêm.Trong khi đó, mốc kết thúc của luận văn là năm 2004, thời điểm hoàn thành luậnvăn của tác giả

- Không gian: Là vùng Đông Bắc Thái Lan –nơi tập trung đông đảo ngời ViệtNam sinh sống

4 Đóng góp của luận văn

- Thông qua luận văn, làm sáng tỏ thêm phần lịch sử Việt Nam với những

đóng góp to lớn của một cộng đồng Việt kiều ở vùng Đông Bắc Thái Lan trongtiến trình lịch sử dân tộc Bổ sung những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đếncách mạng Việt Nam mà phần lịch sử Việt Nam cũng nh phần lịch sử Thế giớicha đề cập tới

- Việc nghiên cứu sâu hơn về cộng đồng Việt kiều với những đặc điểm,truyền thống văn hoá, tâm t nguyện vọng của kiều bào giúp cho Nhà nớc taban hành những chính sách sát thực hơn, qua đó thu hút sự đóng góp về vật chất

và trí tuệ của kiều bào đối với đất nớc ta thời kỳ hiện nay

- Công trình khoa học này có thể góp thêm nguồn t liệu tham khảo chonhững đề tài nghiên cứu có liên quan

Trang 5

- Cuối cùng, đây là công trình nghiên cứu khá chi tiết về cộng đồng Việt kiều

ở Đông Bắc Thái Lan, giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan và hiểu biết hơn về

đời sống của kiều bào chúng ta ở nớc ngoài nói chung và ở Thái Lan nói riêng Từ

đó tăng cờng sự đoàn kết, tơng thân tơng ái giữa đồng bào trong nớc với kiều bào ởnớc ngoài trong sự nghiệp chung xây dựng đất nớc

5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

5.1 Nguồn t liệu:

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản ViệtNam, các Nghị quyết Trung ơng( 08 và 36) của Trung ơng Đảng Cộng sản ViệtNam ( khoá VIII và khoá IX) về công tác đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài

- Các tuyên bố chung, các thông cáo báo chí, các bản tuyên bố của Bộngoại giao Việt Nam về vấn đề Việt kiều ở Thái Lan

- Các bài diễn văn, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của các nhà lãnh đạohai nớc

- Các t liệu viết về các nhân vật lịch sử: Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu,

Đặng Thúc Hứa của các học giả trong nớc

- Các tài liệu sách báo, tranh ảnh, các phóng sự tài liệu, bản đồ

- Các tài liệu của các học giả Thái Lan và nớc ngoài nghiên cứu về cộng

đồng ngời Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan

- T liệu hồi cố: Lời kể của những Việt kiều ở Thái Lan về nớc và nhữngViệt kiều Thái Lan hiện đang công tác, học tập tại Việt Nam

5.2 Phơng pháp nghiên cứu:

Bên cạnh phơng pháp truyền thống là phơng pháp lịch sử và lôgic, chúngtôi còn sử dụng phơng pháp su tầm, tích lũy sao chép t liệu có liên quan đến đềtài tại th viện của các trờng Đại học, các Trung tâm lu trữ quốc gia, các Việnnghiên cứu

Trong xử lý tài liệu, chúng tôi dùng phơng pháp tổng hợp, thống kê, đánhgiá sự kiện lịch sử một cách chân thực khách quan, so sánh thẩm định đối chiếugiữa các nguồn tài liệu

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp hồi cố gặp gỡ những nhânchứng là Việt kiều đã hồi hơng về nớc, những ngời có trách nhiệm nghiên cứu vềViệt kiều trong Uỷ ban về ngời Việt Nam ở nớc ngoài

Trang 6

6 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục nội dungchính của luận văn đợc trình bày gồm hai chơng:

Chơng 1: Quá trình hình thành, đời sống vật chất và tinh thần của cộng

đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan

Chơng 2: Đóng góp của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan đối với Tổ quốc

Việt Nam

Trang 7

nội dung Chơng 1 Quá trình hình thành, đời sống vật chất và tinh thần

của cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan

1.1 Một số nét chính về Vơng quốc Thái Lan và vùng Đông Bắc Thái Lan.

Vơng quốc Thái Lan là một quốc gia Đông Nam á nằm trên bán đảoTrung-ấn Thái Lan còn đợc biết đến nh là một quốc gia Phật giáo, với hàngngàn ngôi chùa cổ kính và tráng lệ, đợc gọi là đất nớc của áo cà sa vàng vì có tới95% ngời dân Thái theo đạo Phật Ngời Thái thờng ví nớc mình giống nh cái rìu

cổ, nhng nhìn trên bản đồ miền Đông Nam á lục địa có lẽ Thái Lan có hìnhdáng đầu một con voi đang cúi xuống, cái vòi dài hút nớc Vịnh Thái Lan [33, 7]

Có diện tích tự nhiên 513.520km2, có vị trí địa lý nằm ở 5,30 tới 26 độ vĩ tuyếnBắc và 97,30 tới 105,30 độ kinh Đông, Thái Lan nằm gọn trong khu nhiệt đớigió mùa, có chung biên giới với Lào ở Đông và Đông Bắc, với Mianma ở phíaBắc và Tây Bắc, Đông Nam giáp Campuchia, phía Tây Nam giáp biển Andaman,phía Nam giáp Malaixia, có Vịnh Thái Lan nằm sâu trong đất liền tạo thành một

địa hình lý tởng rất thuận tiện cho giao thông Địa hình Thái Lan thấp dần từ Bắcxuống Nam từ Tây sang Đông Những dãy núi kéo dài liên tục ở phía Tây và TâyBắc tạo thành xơng sống của đất nớc Thái Lan Với những đặc trng đó, địa hình

đất nớc Thái Lan đợc chia thành bốn khu vực khác nhau: Miền Bắc, vùng ĐôngBắc, vùng Đồng bằng Trung tâm và miền Nam Thái Lan cũng đợc coi là quốcgia láng giềng với Việt Nam với những mối liên hệ đã có trong lịch sử

Trong đó, vùng Đông Bắc Thái Lan hay còn gọi là miền cao nguyên Koratcách thủ đô Bangkoc khoảng 450km, là cao nguyên hình dĩa với dòng sôngMêkông làm ranh giới phía Đông Với diện tích 170.000km2, vùng Đông Bắcchiếm 1/3 diện tích cả nớc Tuy nhiên, đây đợc xem là vùng nghèo nhất và lạchậu nhất của đất nớc Thái Lan Điều này, đợc lý giải bởi vị trí địa lý vùng ĐôngBắc quá phức tạp, địa hình tách biệt rõ ràng với các phần còn lại của Thái Lan.Các dãy núi tạo nên ranh giới vùng với dãy Phetachabun ở phía Tây, Phnom Darek

ở phía Nam là những ngăn cách chính cản trở sự giao lu buôn bán của vùng ĐôngBắc với các trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế khác của cả nớc Sự cách biệt về

Trang 8

địa lý đợc coi là mang tính địa chính trị đã tác động tới tình hình chính trị, kinh tế

và dân tộc ở vùng này trong nhiều thập kỷ

C dân vùng Đông Bắc phần lớn là ngời Lào, hay còn gọi là ngời Thái

Đông Bắc Đó là một bộ phận của ngời Thái cổ, thực chất họ là những ngời Lào,bởi vì vùng Đông Bắc Thái Lan ngày nay chính là phần đất của nớc Lào mới bịThái Lan chiếm vào cuối thế kỷ XIX Đa số c dân trong vùng theo đạo Phật, Thiênchúa giáo đã đợc những ngời truyền giáo Pháp đa đến đây Tuy nhiên, cộng đồngThiên chúa giáo đại diện cho một phần rất nhỏ trong tổng số dân của vùng vàkhông có ảnh hởng gì đến các tín đồ Phật giáo

Vùng Đông Bắc còn đợc biết đến, là nơi có các sản phẩm đợc làm từ tơtằm tốt nhất Thái Lan Thức ăn của ngời dân Đông Bắc nổi tiếng nhờ vị cay Gạonếp là nguyên liệu phổ biến trong các bữa ăn của ngời Đông Bắc

Thông thờng, thì dờng nh những nơi nghèo và lạc hậu, với nhiều cái màchúng ta gọi là hủ tục, lại là những nơi lu giữ đợc giá trị văn hoá, phong tục tậpquán hơn bất nơi nào khác trên đất Thái Con ngời vùng Đông Bắc nổi tiếng làmến khách Đối với nhân dân Việt Nam, vùng Đông Bắc đợc biết đến nh là một

địa danh đã gắn liền với tiến trình lịch sử Việt Nam Nơi đây, là địa bàn c trú và

là căn cứ cách mạng của những nghĩa quân bị thất bại trong các phong trào yêunớc Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nh: Phong trào Cần Vơng,

Đông Du, Duy Tân Hồ Chí Minh đã hoạt động ở đây trong hai năm từ 1928

-1929, và đến những năm 40 của thế kỷ XX, một số nhà lãnh đạo của Đảng Cộngsản Đông Dơng đã từ Lào trốn chạy sang đây và đã nhận đợc sự giúp đỡ củachính quyền và nhân dân Thái

Vùng Đông Bắc cũng là nơi đến làm ăn sinh sống của những ngời dânViệt Nam Và cho đến nay, ở đây đã hình thành nên một cộng đồng ngời Việt

đông đảo bên cạnh các cộng đồng ngoại kiều khác Sự di c của ngời Việt đến

Đông Bắc Thái Lan bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại của Việt Nam nhchiến tranh, đói kém, đàn áp Họ đã đến vùng Đông Bắc Thái Lan trớc hết đểsinh sống, để lánh nạn, và để hoạt động cách mạng Việc vùng Đông Bắc TháiLan trở thành nơi những ngời Việt Nam rời Tổ quốc sang c trú, tự nó đã bao hàmcác yếu tố thuận lợi, đảm bảo cho những mục đích khác nhau của các thành phầnngời di c khác nhau đó là:

Sự gần gũi về mặt địa lý: Thái Lan là nớc láng giềng với các nớc Đông

D-ơng chỉ cần 7 ngày vợt đờng rừng đi bộ là có thể đến đợc vùng Đông Bắc Thái

Trang 9

Lan và nơi đây cũng gần với Trung Quốc, là con đờng cách mạng cho những

ng-ời yêu nớc Việt Nam có thể đi sang Xiêm và ngợc lại

Vị trí địa chính trị: Vùng Đông Bắc tiếp giáp với Lào, là nớc nằm trong sựcai trị của thực dân Pháp, để trốn tránh sự đàn áp, truy lùng nhiều nhà yêu nớcViệt Nam và con cháu của họ đã di c sang đây một cách thuận lợi

Cũng có thể do vùng Đông Bắc là nơi xa xôi hẻo lánh của Thái Lan, có thế

dễ dàng tránh đợc sự chú ý của nhà cầm quyền Thái,và thờng những nơi nh thế

là địa bàn thuận lợi để hoạt động cách mạng đợc bí mật an toàn

Về mặt hành chính, hiện nay vùng Đông Bắc Thái Lan bao gồm 19 tỉnh đó

là các tỉnh Kalasin, Khon Kaen, Chaiya Phum, Nakhon Phanom, NakhonRatchasima, Nongkhai, Nong Bualamphu, Buriram, Maha Sarakham, Mucdahan,Yasothon, Roi Et, Loei, Sisaket, Sakon Nakhon, Surin, Udon Thani, UbonRatchathani và Ammat Charoen Đây là những tỉnh có đông kiều bào sinh sống

1.2 Sự di c của ngời Việt sang Thái Lan.

Trong bài viết “Ngời Việt sang Thái từ bao giờ” của Phó giáo s Lea

Đilokdhyarat, Chủ nhiệm Trung tâm phát triển nhân lực và quản lý, khoa Kinh tếTrờng Đại học Chulalongkorn, đăng trên Tạp chí Văn hoá xã hội (Tạp chí domột số ngời Việt Nam ở Thái Lan xuất bản) cho biết, ngời Việt Nam xuất hiện ởAyuthay từ thế kỷ XVII Nói chính xác hơn, là từ năm 1662 đã có khoảng 100gia đình ngời Việt Nam sinh sống ở Ayuthay làm các nghề buôn bán nhỏ vàphục vụ cho các nhà buôn châu Âu đến Ayuthay, buôn bán và vận chuyển hànghoá

ở thế kỷ sau, quá trình di c của ngời Việt đến Thái Lan ngày một đông.Quá trình đó kéo dài cho đến những năm 40 của thế kỷ XX, nhng xét trên quymô lớn, nguyên nhân lịch sử chuyển c của cộng đồng ngời Việt đến Thái Lan cóthể chia làm ba đợt lớn sau:

1.2.1 Đợt thứ nhất

Thời kỳ những năm cuối thế kỷ XVIII, đây là thời kỳ diễn ra cuộc tranhchấp quyền lực giữa nhà Tây Sơn và quân Nguyễn ánh Cuộc tranh chấp daigiẳng và quyết liệt này, đã ảnh hởng đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội củaViệt Nam ở thế kỷ XVIII

Vào tháng 2/1784, Nguyễn ánh bị quân nhà Tây Sơn đánh bật khỏi SàiGòn - Gia Định, đây là lần thứ 5 Nguyễn ánh bị thất bại tại vùng đất này Đám

Trang 10

tàn quân hộ giá Nguyễn ánh phải chạy thục mạng xuống Hậu Giang, rồi sangCampuchia và bị quân nhà Tây Sơn truy lùng ráo riết Không có cách lựa chọnnào khác, Nguyễn ánh đã nghĩ tới sự cu mang của triều đình Bangkoc Vì theo

ông ta, đất Xiêm là nơi có thể tạm thời nơng thân tốt nhất Xiêm không quá gầnvùng Gia Định, để quân Tây Sơn có thể tới đây truy lùng, nhng cũng không quá

xa, để khi thời cơ tới quan quân Nguyễn ánh có thể cấp tốc quay về lấy lại đấtGia Định làm “căn cứ địa” đánh Tây Sơn [36] Mùa xuân năm Giáp Dần (tháng3/ 1784), Nguyễn ánh sang Xiêm và đợc vua Xiêm Rama I tiếp đón Sau khi đếnBangkok vài tuần, Nguyễn ánh đã cho đón gia quyến cùng đám quan quân còn ởngoài vịnh Xiêm vào Bangkoc Số thuộc hạ của Nguyễn ánh bây giờ có khoảng

200 ngời và thành lập ở đây một làng gọi là làng Gia Long, một làng ở ngoạithành Bangkok Đến giữa năm 1787, đợc tin mật báo quân Tây Sơn vừa rút khỏiGia Định, Nguyễn ánh đã chớp ngay cơ hội, bí mật cùng gia quyến và quanquân rời Bangkok về nớc, đó là vào tháng 8/1787 Nhng với nhiều lý do khácnhau, nên khi Nguyễn ánh quay lại Việt Nam, thì rất nhiều binh sỹ của ông ta

đã lựa chọn việc ở lại Thái Lan Trớc sự kiện này lịch sử thờng có nhiều cách lýgiải khác nhau, nhng có lẽ việc ở lại của họ, có thể họ bị chúa Nguyễn bỏ rơi,hoặc bản thân họ đã mất lòng tin ở ngời lãnh chúa phong kiến của mình Họ trởthành những kiều dân Việt Nam đầu tiên trên đất Xiêm (Thái Lan) [6, 7]

Năm 1786 - 1787, Tổng chỉ huy quân đội triều đình nhà Nguyễn (tớngNguyễn Huân Đức) đa 5.000 quân băng qua Lào sang Bangkok nhằm hợp quânvới Nguyễn ánh để chống lại Tây Sơn, nhng khi đến Bangkok thì Nguyễn ánh

đã về nớc Mục đích hợp quân không thành, vua Rama I khuyên Nguyễn Huân

Đức ở lại phục vụ trong quân đội Xiêm nhng ông ta từ chối Cuối cùng, cũnggiống nh số quan quân của Nguyễn ánh, trong số 5.000 ngời đã có tới 1.000 ng-

ời xin ở lại đất Xiêm, cộng với quân số trớc đây thì những ngời Việt Nam ởBangkok thời kỳ đó có khoảng 3 - 4 nghìn ngời [ 47 ], sinh sống chủ yếu ở vùngSảm xển( Bangkok), Surin và Arrnya Prathet

ở các thế kỷ XVIII, XIX, XX lịch sử Việt Nam đầy biến động Điều đócàng thúc đẩy cho những đợt chuyển c của ngời Việt Nam đến Thái Lan nhiềuhơn

Trớc hết, vào cuối thế kỷ XVIII cho đến thế kỷ XIX với phong trào sát đạocủa các ông vua nhà Nguyễn, kể từ triều đại Minh Mạng (1820 - 1841), ThiệuTrị (1841 - 1847), Tự Đức (1847 - 1883) đến việc xâm lợc Bắc Kỳ của thực dân

Trang 11

Pháp đã gây ra một đợt chuyển c lớn của ngời Việt Nam đến Thái Lan, nhất làviệc đàn áp giáo dân đạo Thiên Chúa của triều Nguyễn cùng với sự dụ dỗ củacác cố đạo phơng Tây đã có khoảng 5.000 đến 7.000 ngời Nam Kỳ và Trung Kỳsang Thái Lan [40] Những bà con Việt kiều này sống chủ yếu ở ba vùng chínhcủa Thái Lan là tỉnh Chăntabun ở phía Nam, khu Đông Bắc và phía Bắc.Nhândân Thái thờng gọi chung những ngời Việt Nam sang c trú ở Thái Lan trong đợt

này là “Duôn càu” nghĩa là “ngời Việt Nam cũ”

1.2.2 Đợt thứ hai

Diễn ra từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX Vào nhữngnăm cuối thế kỷ XIX, sau hoà ớc Patơnốt, triều đình nhà Nguyễn chính thức thừanhận sự thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam Sự đầu hàng của kẻ thốngtrị không đồng nghĩa với sự đầu hàng của các tầng lớp nhân dân vẫn quyết tâmchống Pháp Một phong trào yêu nớc đấu tranh chống Pháp của nhân dân dớidanh nghĩa Cần Vơng đã bùng nổ và lan rộng ra khắp cả nớc nhng đều thất bại.Một loạt ngời Việt Nam đã vợt Trờng Sơn sang Lào, rồi chuyển sang Xiêm c trú

để tránh sự đàn áp khủng bố truy lùng của thực dân Pháp, trong đó có không ítnhững ngời yêu nớc và con cháu của họ Trong hoàn cảnh nh vậy, Thái Lan đãtrở thành một địa bàn quan trọng của những ngời yêu nớc Việt Nam Ra đi vớihận mất nớc và hoài bão cứu nớc, số Việt kiều này là nòng cốt cho phong tràoyêu nớc của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan về sau

Một bộ phận đông đảo cũng di c trong đợt này là những nông dân lao

động nghèo khổ Họ ra đi vì không chịu đựng nổi sự áp bức đè nén của thực dânphong kiến Hiệp ớc Pháp - Xiêm năm 1893 “cho phép” những ngời thuộc quyềncai trị của Pháp ở Đông Dơng đợc tự do đi lại trong phạm vi 25km từ biên giớivào nội địa Xiêm Họ đợc bán hàng hoá mà không phải nộp thuế cho chính phủXiêm, mặt khác luật pháp nớc Xiêm hồi đó cũng không khắt khe, nh quy địnhbất kể ngời ngoại kiều nào, chỉ cần đóng thuế hàng năm bốn bath (đồng tiềnXiêm) thì đợc tự do đi lại làm ăn, mở cửa hiệu, lập xởng thợ, khai hoang ruộng

đất Hai điều quy định trên đây đã tạo thuận lợi cho những ngời Việt Nam sangThái Lan làm ăn ngày một đông

1.2.3 Đợt thứ ba

Diễn ra từ năm 1930 - 1946

Trang 12

Phong trào cách mạng 1930 - 1931, dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh bị thực dân Pháp dìm trong biểnmáu, mở màn cho những cuộc di c lớn lần thứ ba của ngời Việt sang đất Thái.Chủ yếu trong đợt di c lần này là những ngời thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.Thông báo mật số 2243 của viên mật thám Pháp ở Thái Lan cho biết: Trong cácnăm 1930 và 1931, có khoảng 100 ngời Việt Nam quê ở Nghệ An và Hà Tĩnh đãrời quê hơng sang Xiêm để tránh sự khủng bố - số đồng bọn chạy trốn này đều

đến Lạc Hòn và đợc Cu Ba, ông Phơng và Cai Hải giúp đỡ Nhóm này đợc ôngQuyên anh cả của Nho Nhoan giúp đỡ và bố trí cho ở Bản Mai Một cuộc lạcquyên đợc tổ chức trong các hội viên Hội thân ái để lấy tiền cho nhóm mới đếnnày [61]

Trong sự đùm bọc của cộng đồng Việt kiều cũ, và sự che chở của nhândân Thái, những Đảng viên và quần chúng mới sang đã dần ổn định cuộc sống

và từng bớc gây dựng cơ sở cách mạng Từ đó hình thành nên một tổ chức cáchmạng của Việt kiều dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên vùng

Đông Bắc Thái Lan

Đến năm 1946, bà con Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan lại đợc tiếp nhậnnhững Việt kiều từ Lào chạy trốn sang Xiêm để lánh nạn chiến tranh.Sau khiquay lại xâm lợc Việt Nam, tháng 3 năm 1946 quân xâm lợc Pháp trở lại táichiếm Lào lần thứ hai Sau khi ký hiệp định sơ bộ 6/3 với Việt Nam, thực dânPháp rảnh tay ở Việt Nam và chúng dồn lực lợng tấn công sang Lào Và đối tợng

đầu tiên để thực dân Pháp tấn công là những ngời Việt Nam sống trên đất Lào,

đang cùng với nhân dân nớc bạn tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.Những Việt kiều ở đây chủ yếu đều đến nớc Lào sinh sống trớc năm 1945, họ lànhững nông dân không chịu nổi sự áp bức của chế độ phong kiến, sang Lào làm ănmong kiếm đợc một chút vốn liếng dành dụm rồi sau sẽ trở về nớc Còn những ngờicông nhân thì chủ yếu bị thực dân Pháp bắt đi phu mở những con đờng sang Lào đólà:

- Đờng số 13 từ Sài Gòn đi Krachiê sang Pắc xế

- Đờng số 9 từ Đông Hà sang Savannakhét

- Đờng số 8 từ Vinh sang Thakhek

- Đờng số 7 từ Phú Diễn (Nghệ An) đi Luông Pha Băng

Ngày 12/3/1946 thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào Savannakhet.Tại

đây, chúng đã gây ra một vụ thảm sát đẫm máu với cộng đồng ngời Việt đang

Trang 13

trên đờng lánh nạn sang Thái Lan, mà chủ yếu là Việt kiều ở hai tỉnh Savanakhet

và Thakhek Chỉ trong hai đến ba ngày đã có trên 20 ngàn Việt kiều tỉnhSavanakhet vợt sông Mêkông sang huyện Mucdahan một cách an toàn

Những bà con Việt kiều ở tỉnh Thakhek, tuy lúc này cũng đã nhận đợclệnh của Xứ uỷ và Tổng hội Việt kiều về việc di tản sang Thái Lan lánh nạn Kếhoạch vừa đợc triển khai, thì mờ sáng ngày 21/3/1946, giặc Pháp đợc quân Anhcung cấp trang thiết bị vũ khí hiện đại, xe tăng và máy bay yểm trợ từ h ớng

Đông Bắc tiến công vào đánh chiếm thị xã Thakhek

Lúc này, Hoàng thân Xuphanuvông và quân đội giải phóng Lào cũng đang

đóng tại đó Lực lợng không cân đối, giặc đông và mạnh hơn ta rất nhiều, nên Bộchỉ huy liên quân Lào - Việt quyết định bảo vệ Hoàng thân Xuphanuvông rút lui

an toàn, đồng thời bộ đội ra sức bảo vệ Việt kiều chạy ra bờ sông Mêkông đểxuống thuyền sang lánh nạn tại Nakhon Phanom Việt kiều do không đợc chuẩn

bị trớc, nên hốt hoảng tay bồng tay bế mạnh ai nấy chạy, hàng ngàn ngời chennhau xuống thuyền để sang sông trong không khí hỗn loạn và đau thơng Hàngngàn ngời đã phải bỏ mạng trên dòng sông này bởi làn đạn của súng Pháp.Những nhân chứng còn sống sau sự kiện Thàkhẹk kể lại rằng, trong không khíhỗn loạn của máy bay, xe tăng, xe bọc thép Pháp bắn đuổi, nhiều ngời đã thiệtmạng ngay trên dòng sông này khi chỉ còn vài bớc chân nữa là sang đợc đấtThái Trên bờ thì giặc bắn xuống, trên không thì máy bay oanh tạc, có nhiềuthuyền bị đắm, nhiều ngời khác bị bắt nhốt vào bao tải dìm chết dới lòng sông.Dòng sông Mêkông đục ngàu máu đã trở thành “dòng sông định mệnh” khắc sâulòng căm thù của nhân dân Lào và Việt Nam đối với quân Pháp Sự kiện này đã

đi vào lịch sử với những tên gọi nh “ngày Thakhek thất thủ”, “sự kiện Thakhek”,

“ngày đại tang”

Nhớ ngày hai mốt tháng ba Chồng còn vợ mất nhạt nhoà đau thơng

Từ Kẹng Bà Bầu đến Na mơng Máu hoà với nớc thịt xơng tan tành Dòng sông Cửu chảy uốn quanh

Hy sinh con số ba ngàn đau thơng Mấy đời bánh đúc có xơng Thề không chung sống với phờng xâm lăng [ 46 ]

Trang 14

Những câu thơ trên do Việt kiều sáng tác, để ghi nhớ ngày đau thơng 21/3,cũng nh tạc dạ lòng căm phẫn với thực dân Pháp xâm lợc.

Thế là trên đất Thái, cùng với 4 vạn Việt kiều đã ở từ trớc, nay lại thêm 5vạn Việt kiều từ Lào sang, tạo thành một lực lợng Việt kiều yêu nớc đông đảo,

đoàn kết cùng nhau chống đế quốc xâm lợc

Ra đi dới làn bom đạn của kẻ thù, Việt kiều ở Lào quyết tâm theo lời dạycủa Bác “thà chết không chịu làm nô lệ một lần nữa” Hàng vạn Việt kiều đã vứt

bỏ hết nhà cửa ruộng vờn tài sản sang Thái với hai bàn tay trắng Có thể nói đây

là đợt di c đông nhất của những ngời Việt Nam sang đất Thái (có trên 50.000 ời) Nhân dân Thái gọi những ngời di c trong đợt này là “ngời Việt Nam lánhnạn chiến tranh” hay “dân tản c” Nhân dân Thái Lan, cùng với cộng đồng ngờiThái gốc Việt ở đây từ trớc, đã giúp đỡ cộng đồng ngời Việt Nam tản c một cáchnhiệt tình Nhân dân địa phơng đã chia sẻ khó khăn, nhờng nhà sàn làm nơi ởtạm, thậm chí còn nhờng cơm sẻ áo, thuốc thang đối với ngời bị thơng mong họqua khỏi cơn hoạn nạn Trong những năm đó Chính phủ Thái Lan của Thủ tớngPridi Phanômyông đã thực thi chính sách giúp đỡ trên tinh thần nhân đạo, nhcung cấp quần áo, chăn màn, cấp gạo, lơng thực thực phẩm, cấp thuốc men, đồngthời tạo điều kiện để bà con có đất đai sản xuất kể cả tìm kiếm việc làm, nh mởnhững con đờng giao thông giữa tỉnh Nakhon Phanom với tỉnh Sacon, tỉnh Saconvới tỉnh Udon Thani và một số công việc lao động phổ thông khác để bà con cóthể nuôi sống gia đình, nhanh chóng ổn định cuộc sống [3]

ng-Những nghĩa tình cao cả của nhân dân và Chính phủ Thái Lan, trực tiếp làcá nhân Thủ tớng Pridi Phanômyông đối với bà con Việt kiều đã gây xúc độngcho Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam Sau đó, chính Ngời đã viếtmột lá th cảm ơn tới gia đình Thủ tớng, tới nhân dân Thái Lan đã che chở và

đùm bọc bà con Việt kiều [3] Sau này, gia đình cựu Thủ tớng Pridi Phanômyông

đã sang thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu thị sự cảm

ơn sâu sắc của Ngời đối với cựu Thủ tớng và nhân dân Thái Lan trớc nhữngnghĩa cử hết sức cao đẹp mà nhân dân Thái Lan đã dành cho kiều bào trớc đây,

và cả về sau Cùng với việc đề ra chính sách Thái - Việt thân thiện trong cộng

đồng ngời Việt ở Đông Bắc Thái Lan và việc mời cựu Thủ tớng PridiPhanômyông sang thăm Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngời đã đặt viêngạch đầu tiên xây dựng tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan hôm nay

Trang 15

Nh vậy, cho đến năm 1946, số lợng Việt kiều sinh sống ở vùng Đông Bắcqua ba đợt di c khoảng trên 8 vạn ngời Ra đi với hận mất nớc và lòng căm thùgiặc sâu sắc, 8 vạn Việt kiều đó, đã kết thành một khối, tình dân tộc, nghĩa đồngbào của những con ngời xa quê hơng Chính đây là cơ sở thuận lợi để hình thànhmột xã hội Việt kiều yêu nớc ở Đông Bắc Thái Lan Sự giúp đỡ của chính quyền

và nhân dân Thái đã giúp cho hơn 8 vạn Việt kiều từng bớc ổn định cuộc sống và

có những đóng góp về cho Tổ quốc, quê hơng

Sau năm 1975, những ngời Việt “di tản” rời bỏ đất nớc ra đi sau ngàymiền Nam hoàn toàn giải phóng, hoặc “vợt biên” vào thời kỳ đất nớc khó khănnhất( 1978-1982), họ đến Thái Lan chủ yếu bằng thuyền và bị chính quyền Tháitập trung vào các trại tỵ nạn và cho đi định c ở một nớc thứ 3, một số ít ở lạiThái Theo tài liệu của Cao uỷ Liên hợp quốc, số ngời tỵ nạn trong các trại tỵnạn ở Thái Lan tính đến 30/11/1991 đã đợc tái định c ở nớc thứ 3 là 141 569 ng-

ời, đợc phân loại đến bằng thuyền là 105 686 và đến bằng đờng bộ là 35 885ngời Một số ngời Việt Nam đến Thái theo diện này đã có ngời đợc ra khỏi trại

tỵ nạn và làm ăn sinh sống [47]

Tuy nhiên, đây là những ngời ra đi trái phép, nên đa phần họ vẫn ở trongcác trại tỵ nạn, và hởng quy chế tỵ nạn của Chính phủ Thái Lan Họ không trởthành đại diện cho cộng đồng Việt kiều ở đây (vùng Đông Bắc Thái Lan)

1.3 Đời sống của cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan.

Việc phải rời bỏ đất nớc, nơi chôn nhau cắt rốn của mình là một việc làmkhông hề đơn giản đối với bất kỳ một ngời dân Việt Nam nào Song vì cáchmạng, vì sự nghiệp cứu nớc, vì lý do kinh tế mà họ phải ra đi Cuộc sống nơi đấtkhách quê ngời buổi ban đầu vô cùng khó khăn, thiếu thốn Hành trang mà họmang theo chính là tinh thần yêu nớc và lòng căm thù ách thực dân phong kiến

đã gây ra cho họ Đến nơi ở mới họ phải nhanh chóng thích nghi với điều kiệncủa nớc sở tại để làm ăn sinh sống Sự không quá khác xa nhau về điều kiện kinh

tế, về văn hoá, lối sống, phong tục tập quán của đất nớc Thái Lan đã giúp bà conduy trì đợc những ngành nghề mà họ đã làm ở trong nớc Điều đó, đợc thể hiệnqua đời sống kinh tế và đời sống văn hoá của cộng đồng Việt kiều ở Đông BắcThái Lan

1.3.1 Đời sống kinh tế

Trang 16

Những ngày đầu mới sang đến đất Thái, hầu hết bà con ngời Việt phải dựavào nhân dân Thái và bà con Việt kiều sống lâu đời ở đây Nhiều ngời cao tuổi

kể lại rằng, cha ông họ khi xa dắt díu nhau vợt Trờng Sơn đói rét, hiểm nguy, kẻcòn ngời mất, cuối cùng vợt sông qua đợc đất Thái, đợc sự che chở và cu mangcủa nhân dân bạn mà họ đã qua đợc cơn hoạn nạn Vốn siêng năng cần cù kiềubào không quản ngại làm tất cả mọi công việc nh dủi tôm, bắt cá, làm vờn, làmruộng thuê, đốn củi, gánh nớc thuê, chạy hàng xách, thợ may, thợ mộc, làm đ-ờng Nói chung, là đủ thứ nghề để kiếm sống Khoảng 3 năm sau, thì cuộcsống của bà con bắt đầu đi vào ổn định

Tiếp bớc cha ông, thế hệ con cháu Việt kiều ngày nay đang kế thừa vàphát huy, những ngành nghề đó tại nơi ở mới mà cha ông truyền lại cho họ.Chẳng hạn, tại Đông Bắc hình thành những làng nghề làm nón của những bà conquê ở Nam Định, nghề làm giò chả của bà con quê ở Hải Dơng, nghề làm đồ mỹnghệ của bà con quê ở Hà Bắc Đến cả những món ăn rất Việt Nam nh phở HàNội, nem chua xứ Huế cũng đều nổi tiếng ở đây Khi mới sang, bà con Việt kiềuthờng quy tụ lại với nhau thành một làng theo quê hơng của mình giống bên ViệtNam nh bà con quê Quảng Bình, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An đều c trú vớinhau theo đơn vị làng xã Điều này, càng khiến cho việc gìn giữ và phát triển cáclàng nghề truyền thống một cách có hiệu quả hơn Rất ít những bà con Việt kiềulàm ruộng, do đây là nghề mà chính quyền Thái cấm ngời Việt Nam không đợclàm Do đó, những nông dân làm ruộng thì phải đi thuê lại các gia đình Thái, nên bàcon chủ yếu là buôn bán, kinh doanh và sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ Cómột điều kiện thuận lợi là đa số bà con Việt kiều đều tập trung ở các khu trungtâm, thị trấn và các thị xã của vùng Đông Bắc Hiện nay có tới 80% hoạt độngkinh doanh tại vùng Đông Bắc nằm trong tay Việt kiều [58] và báo chí Thái Langọi đó là nhóm thống lĩnh kinh tế vùng Đông Bắc Phạm vi kinh doanh trải khắpcác tỉnh lớn nh Udon Thani, Ubon Ratchathani, Sakon Nakhon, NakhonPhanom, Mucdahan Trên các đờng phố chính là những tấm biển quảng cáobằng hai thứ tiếng Việt, Thái, quảng bá các mặt hàng kinh doanh của Việt kiều.Các ngành nghề kinh doanh của kiều bào cũng hết sức đa dạng, từ việc mở quán

ăn, hiệu sửa chữa ô tô, xe máy, đến quầy bán quần áo, vải vóc, hoa quả và hànghoá tổng hợp Tại tỉnh Sakon Nakhon, gần nh 100% cửa hàng ăn uống đều là của

bà con ngời Việt Đặc biệt là nghề làm giò chả và chế biến thịt chó xuất khẩu làhai nghề “phất” nhất của bà con Việt kiều ở vùng Đông Bắc Một Việt kiều là

Trang 17

chủ cửa hàng làm giò chả ở đờng Meachai tỉnh Nakhon Phanom cho biết, giòchả của ông hàng ngày đợc tiêu thụ trên khắp đất Thái và các thị trờng lớn làKrung Thep (Bangkok) còn Việt kiều ở Tharea (Sakon Nakhon) thì có truyềnthống chế biến thịt chó xuất khẩu, thịt chó ở đây đợc làm theo dạng xúc xích, rồi

đem phơi khô để xuất sang các nớc nh Trung Quốc, Hàn Quốc

Một trong những nghề phổ biến nữa mà bà con ngời Việt có thể kiếmsống, là bán những thức ăn truyền thống của dân tộc Có tới 30 cửa hàng bánthức ăn truyền thống Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom, khách hàng là những ng-

ời Việt, ngời Thái bản địa và cả những ngời Hoa Điều này, không chỉ đem lạinguồn thu nhập cho bà con Việt kiều, mà còn là một phơng thức bảo tồn có hiệuquả nền văn hoá dân tộc, đồng thời khuyếch trơng hình ảnh đất nớc Việt Nam rathế giới bên ngoài Điều đó, càng trở nên quan trọng khi Chính phủ Thái Lan chủtrơng đầu t vùng Đông Bắc thành vùng phát triển du lịch sinh thái của đất nớc

Những bà con vì điều kiện kinh tế không cho phép thì họ vẫn duy trì nghềnghiệp làm ruộng của mình Vùng Đông Bắc Thái Lan không thuận lợi cho việcphát triển nông nghiệp, nhng với bản tính cần cù và chăm chỉ làm lụng, nhữngngời nông dân đã ổn định cuộc sống bằng nghề làm ruộng của mình Một số ng-

ời Việt đã ít nhiều ảnh hởng kiểu canh tác cổ truyền điển hình của ngời Thái Lanbản địa, là canh tác làm ruộng dầm nớc 4, 5 ngày để đất nhão mới cày và bừanhiều lần để đất ruộng nhuyễn nh bùn rồi mới cấy Cuộc sống của những bà conlàm nghề ruộng tuy có phần vất vả hơn các nghề khác, nhng cái chính là bà con

tự đảm bảo đợc cuộc sống của mình mà không phải sống nơng nhờ vào các bạnThái, và dù còn nghèo khó nhng cha bao giờ có bất cứ Việt kiều nào bị sa vàocác tệ nạn xã hội nh trộm cớp, mại dâm

Ngoài nghề kinh doanh buôn bán là chủ yếu, bà con ngời Việt còn làm cácnghề thủ công, thợ may, thợ cắt tóc, thợ mộc đây là những nghề mà với bàn taykhéo léo và tính tỉ mỉ của ngời Việt Nam hơn hẳn những ngời Thái Đông Bắc Vìvậy, những công việc này cũng gần nh là nghề “độc quyền” của Việt kiều, bởi vìchất lợng và uy tín đối với khách hàng Có những xởng mộc của Việt kiều tậptrung đến vài chục công nhân, trong các công xởng, cửa hàng của ngời Việt baogiờ cũng có cả sự tham gia của ngời Thái, và ngợc lại, nhng điều này lại khôngxuất hiện trong các cửa hàng kinh doanh của ngời Hoa ở vùng Đông Bắc này

Tuy nhiên, không phải lúc nào công việc kinh doanh của bà con cũngthuận buồm xuôi gió Điều này, còn phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của nhà cầm

Trang 18

quyền Thái Lan Những chính phủ có xu hớng thân Mỹ ở Thái Lan bao giờ cũnggây nhiều khó khăn cho kiều bào, từ việc bị đàn áp khủng bố đến việc bị o ép vềkinh tế Trong mỗi lần nh vậy, nhà cầm quyền Thái Lan chủ yếu dùng những thủ

đoạn tuyên truyền, vu khống kiều bào Bà con ở đây vẫn không quên vào nhữngnăm 70, thời điểm mà cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta

đang đi vào giai đoạn quyết định, thì nhà cầm quyền Thái đã tuyên truyền, vukhống cho kiều bào là thủ phạm gây ra bệnh “hốt” (bộ phận sinh dục bị co lại)

và cấm nhân dân Thái không nên ăn các món ăn do ngời Việt sản xuất Chínhquyền ra lệnh cho nhân dân Thái không đợc làm ăn buôn bán quan hệ với Việtkiều, hoặc bỏ tiền ra thuê một số thanh niên ngời Thái vào ăn uống tại các cửahàng của ngời Việt rồi kêu la inh ỏi là bị “hốt” rồi

Bệnh “hốt” đợc đồn rất nhanh khiến cho những ngời không hiểu biếthoảng sợ, đã gây ra tổn thất lớn cho công việc kinh doanh của bà con NhữngViệt kiều hiểu ý, biết ngay đây là đòn đánh vào kinh tế của bà con Tr ớc ngời tacòn sợ không dám ăn hàng của ngời Việt Sau để bảo đảm họ cũng hạn chế ănhàng của ngời Hoa và ngời Thái Điều đó, đã gây thiệt hại cho nền kinh tế Thái

Đúng là “gậy ông lại đập lng ông” Sau đó các cơ quan báo chí Thái đã lên án sự

đặt điều vu khống về bệnh “hốt”, nên phong trào vu khống lắng xuống và côngviệc kinh doanh của bà con Việt kiều trở lại bình thờng

Nhớ lại những ngày khó khăn ấy, kiều bào luôn biết ơn sự chia sẻ củanhân dân Thái, họ đã tạo điều kiện tốt nhất cho kiều bào sinh sống, trong nhữngngày chính quyền Thái Lan thi hành chính sách cấm buôn bán với ngời Việt thì

họ vẫn lén lút giao hàng cho ngời Việt, vẫn đến các quán ăn do ngời Việt làm

“Chính họ là một nhân tố đa đến sự thất bại của chính sách vu khống của chínhquyền Thái” (một Việt kiều đã khẳng định nh vậy)

Cho đến nay, bà con Việt kiều và thế hệ con cháu của họ đều có một cuộcsống ổn định Nhiều Việt kiều đã trở thành những nhà doanh nghiệp, chủ kháchsạn lớn, hoặc chủ Công ty (doanh số lên tới hàng triệu đô la) nh công ty đại lý ôtô xe máy của anh Vi ở tỉnh Lôp-bu-li, xí nghiệp sản xuất nớc đá của anh Lý ởKhonkaen, xởng chế biến giò chả của anh Hùng ở Uđon, có hàng chục triệu phúnh: anh Hiển, anh Cao Văn San( Sacon Nakhon), anh Phát, ông Chớc, bà Căn,

ông Trơng Văn Bé( Ubon Ratchathani) anh Trần Văn Tấn, anh Thái (UdonThani) anh Đào Trọng Lí, Đậu Văn Khánh, Vũ Đình Yến, chị Nhung( NakhonPhanom) và nhiều nhà doanh nghiệp trẻ ở Nongkhai, Udon, Mucdahan Thế

Trang 19

lực kinh tế và tài năng kinh doanh của họ có thể sánh với cộng đồng Hoa kiều ở

đây, đợc chính quyền đánh giá là nguồn lực đáng kể để phát triển địa phơng.Năm 2002, tại Đông Bắc Thái Lan, GDP trung bình đầu ngời của Việt kiều đạt49.275 bath bằng 1.200 USD/ 1 năm

Có thể nói, các nhà doanh nghiệp kể trên có tiềm lực không những chỉphát triển kinh doanh ở Thái Lan mà còn làm ăn hợp tác cả với vùng Trung vàHạ Lào Và họ luôn mong muốn đợc về đầu t trong nớc để hội nhập tiểu khu vựctrong cơ chế mở cửa thị trờng hiện nay Đó cũng là mong muốn của những conngời xa quê hơng mong đợc đóng góp về cho Tổ quốc

Dới đây là một số ngành nghề kinh doanh lớn của Việt kiều tại thị xãSakon tỉnh Sakon Nakhon[41]

TT Ngành nghề kinh doanh Số hộ kinh doanh

4 Kinh doanh vật liệu xây dựng 7

(Tài liệu điều tra năm 2002)

Cùng những chủ trơng và chính sách tích cực của Chính phủ Thái Lan,cũng nh sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc ta đối với cộng đồng Việt kiều ở

Đông Bắc Thái Lan, cuộc sống, cũng nh tinh thần của cộng đồng đang thực sựthay đổi Với sự năng động, cần cù và làm ăn lơng thiện, cộng đồng Việt kiều ở

Đông Bắc Thái Lan, không chỉ nhanh chóng ổn định đợc cuộc sống mà chính họcòn là lực lợng làm “thay da đổi thịt” vùng Đông Bắc Cả một vùng Đông Bắc tr-

ớc kia vốn nghèo nàn và thiếu thốn, giờ đây trở thành một vùng kinh tế đangphát triển từng ngày từng giờ với những nhà máy, xí nghiệp, trung tâm buônbán đang mọc lên ngày càng nhiều Tất cả sự đổi mới đó là bàn tay và công sứccủa cộng đồng Việt kiều cùng với nhân dân bạn trong việc góp phần thay đổitổng thể nền kinh tế vùng Đông Bắc, xoá đi hình ảnh một vùng Đông Bắc khôcằn, nghèo nàn và lạc hậu nh trớc đây Những công việc mà cộng đồng đang làmhôm nay cũng chính là những đóng góp của họ đối với đất nớc Thái Lan- quê h-

ơng thứ hai của họ

Trang 20

1.3.2 Đời sống văn hoá.

Sống nơi đất khách quê ngời, Việt kiều phải thích nghi và hoà nhập với

đời sống văn hoá của ngời Thái Thế nhng kiều bào vẫn gìn giữ và tiếp nối nhữngtruyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

1.3.2.1 Đời sống văn hoá vật chất

Về nhà ở: Mặc dù bây giờ đời sống kinh tế đã khá giả hơn trớc, và đa số

bà con đã xây dựng những ngôi nhà cao tầng theo kiến trúc hiện đại phơng Tâyhoặc theo kiến trúc ngời Thái, đảm bảo cho thoáng mát phù hợp với khí hậu khônóng của vùng Đông Bắc Còn những gia đình không có điều kiện thì vẫn xâynhà trệt bằng gạch giống nh ngày mới sang, kiểu nhà này hoàn toàn giống nh khi

họ ở trong nớc Bên trong nhà, vị trí trang trọng đợc đặt bàn thờ tổ tiên và bànthờ Bác Hồ, những ngày lễ tết thì không quên thắp hơng cho gia tiên

Về trang phục: Sống ở Thái Lan đã lâu, có ngời đã vào quốc tịch Thái

nh-ng dễ đã manh-ng tronh-ng mình giònh-ng máu Việt thì họ luôn nhớ đến nh-nguồn gốc dântộc của mình Điều đó dễ nhận thấy qua trang phục mặc trong ngày lễ, tết của

họ Tà áo dài truyền thống là niềm hãnh diện của các thiéu nữ Việt kiều Đối với

họ, chiếc áo dài nó không còn đơn thuần là một bộ trang phục thông thờng nữa,

mà là một cái gì đó rất thiêng liêng Các thiếu nữ Việt kiều ai cũng có hai bộ áodài để mặc trong những ngày lễ tết của dân tộc, nh ngày Quốc khánh, ngày Tết

âm lịch Có ngời nh cô Nuôn Chăn (Mặt Trăng của đêm) - Việt kiều ở SakonNakhon, có tới 6 bộ áo dài truyền thống, các bạn Thái cũng rất thích mặc nótrong những ngày lễ tết của Việt kiều áo dài cũng nh phở và nem đã trở thànhmột danh từ để nguyên, nhiều khi không còn dịch nữa

Văn hoá ẩm thực: Đợc bà con lu giữ gần nh nguyên vẹn trong đời sống củamình Bữa ăn thờng là các món ăn đơn giản, và chủ yếu là những món luộc chứkhông chế biến cầu kỳ Để giữ gìn văn hoá của dân tộc, hàng năm bà con Việt kiềuthờng tổ chức lễ hội văn hoá ẩm thực Lễ hội bao gồm các món ăn cổ truyền ViệtNam nh nem, cuốn giò, bánh cuốn, bánh chng, giả cầy, xôi vò, xôi đậu, da món,bánh ngào, chả thịt lợn, bánh đa qua đó giúp cho các thế hệ con cháu Việt kiềunhớ về quê hơng - dân tộc Việt Nam

Bà con Việt kiều thờng tâm sự rằng, tình yêu quê hơng trở thành một nhucầu tình cảm, đôi khi kín đáo, đôi khi mãnh liệt Đã trở thành một niềm ám ảnhtâm hồn họ trong từng bữa ăn, từng giấc ngủ, nhất là trong lúc nghĩ về quê hơng,

Trang 21

một quê hơng còn nghèo khó bao giờ cũng mãnh liệt hơn về một quê hơng giàu

có và đầy đủ Do đó mà có câu ca:

Món ăn thì cũng là thờng Nặng lòng vẫn nhớ quê hơng giống nòi

Có lẽ là ngời Việt Nam, thì ở đâu cách ăn uống cũng đạm bạc và giản dị,

bà con Việt kiều ở vùng Đông Bắc Thái Lan cũng vậy Những món ăn hàng ngày

là những sản phẩm mà bà con làm ra Bữa ăn vẫn chủ yếu từ lúa gạo và dùng gạo

tẻ để chế biến thành nhiều loại bánh nh bánh đúc, bánh cuốn, bánh đa, bún,phở điều này, khác hẳn với ngời Thái chỉ quen ăn gạo nếp, tức là xôi Thóiquen dùng bát đĩa và dùng đũa để gắp thức ăn trong các bữa ăn hàng ngày của bàcon vẫn đợc lu giữ mà không bị ảnh hởng bởi cách thức ăn của ngời Thái là dùngtay bốc và xé đồ ăn

1.3.2.2 Đời sống văn hoá tinh thần

Nếu nh văn hoá vật chất là cái gì hiện hữu và lu giữ nó có phần dễ dàng,thì trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, việc lu giữ nó là việc không hề đơn giản đốivới cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan Vì cùng một lúc, họ phải tiếpnhận cả hai nền văn hoá, văn hoá dân tộc và văn hoá nơi họ đến Trong khi tiếpthu, thích nghi với văn hoá nớc sở tại, Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan vẫn còngiữ đợc nhiều nét đẹp của truyền thống và văn hoá Việt Nam Đó là truyền thống

đoàn kết, tinh thần yêu nớc, thái độ lễ phép, kính trọng ngời già

Cho đến ngày nay, những ngời già trong gia đình ngời Việt ở Đông Bắcvẫn luôn đợc kính trọng, sự kết nối truyền thống bền chặt và keo sơn trong cácgia đình Việt kiều là sợi dây tình nghĩa, con cái phải vâng lời cha mẹ ngay khi

họ đã lập gia đình Truyền thống gia đình, đợc xem là sức mạnh để giáo dục concái, con cái phải kính trên, nhờng dới và phải kính trọng tổ tiên dòng họ Truyềnthống dân tộc, truyền thống gia đình đã giúp cho các thế hệ Việt kiều dù sống và

đợc sinh ra trên đất Thái Lan, vẫn cảm thấy mình thật gần gũi với đất nớc ViệtNam Đó chính là sức mạnh của truyền thống dân tộc Việt Nam, của cội nguồndân tộc Việt Nam

Do vậy, không ngạc nhiên khi trong các gia đình Việt kiều có những đứatrẻ mới lớn lên và cha một lần về thăm quê hơng xứ sở, nhng lại hát thật hay, thật

rõ bài hát “Nh có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”

Trang 22

Ngoài ra, việc lu giữ các phong tục tập quán của dân tộc rất đợc kiều bàocoi trọng, nhất là những Việt kiều thế hệ thứ nhất, vì đa số họ vẫn giữ nguyênnhững nét văn hoá tại nơi họ sinh ra ở Việt Nam

Trong tục ma chay, cộng đồng ngời Việt còn giữ gần nh nguyên vẹnnhững phong tục nh trong nớc, kể từ khâu khâm liệm đến mai táng Khi thànhviên trong gia đình qua đời, ngời chết cũng đợc rửa ráy, mặc áo quần và đặttrong quan tài Thi hài đợc phủ một mảnh vải đỏ và một bộ quần áo táng để làmvừa lòng vong linh của ngời đã khuất, thi hài đợc giữ lại tại nhà để làm các nghithức giống nh bên Việt Nam, sau đó mới đi chôn cất ngoài nghĩa trang Ba hômsau ngày chôn cất diễn ra lễ vĩnh biệt giữa con cháu họ hàng với ngời qúa cố dongời con trai trởng đứng chủ lễ gọi là cúng 3 ngày, sau đó có cúng 49 ngày và

100 ngày phong tục này, khác hoàn toàn với phong tục của ngời Thái, là đemthi hài lên chùa rồi làm lễ hoả táng

Nếu trong tục ma chay đợc giữ gìn gần nh nguyên vẹn thì phong tục cớixin trong thế hệ trẻ Việt kiều có xu hớng “Thái hoá” hoặc “phơng Tây hoá” Các

đám cới đều đợc tổ chức tại các khách sạn và nhà hàng lớn, có mời các quanchức địa phơng ngời Thái đến dự Những nghi lễ tổ chức theo phong tục Thái,chẳng hạn đám cới chỉ đợc tổ chức vào buổi sáng sớm, hoặc buổi tối Trong ngàycới, các vị s đợc mời đến để chúc mừng hạnh phúc lứa đôi và làm lễ cầu phúccho đôi vợ chồng

Việc lu giữ văn hoá dân tộc cũng bao hàm cả việc giữ gìn tiếng mẹ đẻtrong con cháu Việt kiều Thế nhng điều đáng tiếc là việc nói và học tiếng Việtkhông đợc thế hệ trẻ quan tâm, lí do có thể là: Thứ nhất là tiếng Việt ít khi đợcdùng đến, thứ hai là để tập trung cho con em học chữ Thái và học kiến thức cùngvới học thêm tiếng Anh sẽ thuận lợi hơn cho các em trong việc tìm kiếm công

ăn việc làm

Bên cạnh việc lu giữ văn hoá dân tộc, kiều bào cũng thích nghi với vănhoá bản địa Kiều bào tích cực tham gia các lễ hội lớn của ngời Thái, nh lễ hộingày Makha Busa đợc tổ chức vào ngày rằm tháng 3 âm lịch hàng năm, lễ hộingày vua Charki (ngày 6/4), hội té nớc, ngày vua Chulalongkorn (23/10) Vàodịp tết năm mới của ngời Thái gọi là Xongkhram diễn ra từ ngày 12- 14 tháng Tdơng lịch Ngời Việt hoà vào dòng ngời Thái đi chùa lễ Phật và tởng niệm bathời điểm quan trọng của cuộc đời Đức phật, là giáng sinh, thành đạo và nhậpNiết bàn Rằm tháng Giêng là một ngày lễ quan trọng của ngời Thái gọi là

Trang 23

Makha Pucha, đồng thời là Tết Nguyên tiêu của ngời Việt Cả hai dân tộc Việt Thái cùng tham gia hội Thuyết pháp và thực hiện nghi thức rớc nến quanh chùa.

-Sự hoà đồng văn hoá đó càng làm cho đời sống của kiều bào phong phú, thânthiết hơn

Việc đợc thừa hởng truyền thống hiéu học của dân tộc đã giúp cho con emViệt kiều học hành thành đạt Có nhiều ngời đã đạt những học hàm, học vị cao nh

GS Trần Văn Chun giảng viên khoa tiếng Việt, trờng đại học Khonkaen, PTS cầu

đờng Phạm Văn Tâm, kỹ s nông học Nguyễn Văn Cu, bác sỹ Trần Thị Chim, Chủtịch Hội đồng kinh tế tỉnh Nakhon Phanom cũng là ngời gốc Việt và nhiều ngờitrở thành luật s, giáo viên ở Thái Điều này, cũng đang đợc phát huy trong thế hệcon em Việt kiều, các em luôn là những ngời học trội hơn so với các bạn Thái Saukhi học xong trung học các em thờng chọn thi tại các trờng Đại học lớn ởKhonkaen, Chiềng Mai, Bangkoc Nhiều gia đình khá giả đã gửi con em họ sang

Mỹ học tiếp lên Thạc sĩ, tiến sĩ Hoặc có gia đình gửi con em về trong nớc họcThạc sĩ, nh học viên Cao học ngành Ngôn ngữ Vũ Đình Phú- con em một Việtkiều ở tỉnh Nakhon Phanom, hiện anh đang học tại trờng Đại học Vinh Thậm chí,tại Sacon Nakhon có gia đình hai ngời con đều đã thi vào học tại trờng phổ thông

“ Suan Ku Larp”( Vờn Hoa Hồng), một trờng phổ thông nổi tiếng nhất ở BăngCốc và ở Thái Lan Có rất nhiều gia đình Việt kiều có từ 2 đến 4 ng ời con thì tấtcả đều đang học Đại học hoặc đã học xong Thạc sĩ, nh gia đình ông Tô VănThung (Khonkaen) có 8 ngời con đều là Tiến sĩ Mỗi tỉnh ở vùng Đông Bắc đều cókhoảng 20 em tốt nghiệp Đại học Theo báo cáo của Sứ quán Việt Nam, năm 2001tại Sakon Nakhon có 10 Tiến sĩ Khi nói về việc học hành của con em ngời Việt,ngời Thái thờng có câu cửa miệng “Khôn duôn xã lạt”( ngời Việt thông minh)

Trên cơ sở của một truyền thống cách mạng đã có, cùng với những thànhcông đáng kể trên phơng diện kinh tế và tri thức, kiều bào sẽ có những đónggóp đáng kể về cho đất nớc

Trang 24

Chơng 2

Đóng góp của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan đối với

Tổ quốc Việt Nam.

Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan có truyền thống cách mạng và tinh thầnyêu nớc cao, và đã có những đóng góp to lớn về cho Tổ quốc Trong suốt quátrình đấu tranh giải phóng dân tộc, cộng đồng Việt kiều ở đây đã đóng một vaitrò to lớn, làm chỗ dựa cho các nhà yêu nớc Việt Nam đợc tiếp tục hoạt độngcách mạng, làm cơ sở liên lạc với cách mạng trong nớc Quá trình đó đợc xuyênsuốt từ khi hình thành phong trào Việt kiều những năm cuối thế kỷ XIX cho đếnnhững năm 70 của thế kỷ XX Trong suốt quá trình đó cách mạng Việt Nam đều

có dấu ấn đóng góp của cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan

2.1 Hoạt động cứu nớc của Việt kiều từ đầu thế kỷ XX cho

đến năm 1930.

2.1.1 Những hoạt động cứu nớc của các nhà cách mạng Việt Nam trên

đất Xiêm sau sự thất bại của các phong trào yêu nớc Việt Nam.

Phong trào Cần Vơng bùng nổ năm 1885, và nhanh chóng lan rộng khắpcả nớc Lúc này triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Phápxâm lợc, chúng thẳng tay đàn áp các phong trào kháng Pháp của nhân dân ta.Phong trào Cần Vơng cũng nhanh chóng bị thất bại, những nghĩa quân còn sótlại trong phong trào này và các con cháu của họ vợt núi băng rừng lánh nạn sangXiêm, để tiếp tục sự nghiệp cứu nớc Vùng Đông Bắc Thái Lan lúc này trở thànhnơi nơng tựa cho các nghĩa quân cách mạng, đồng thời là cửa ngõ để ra nớcngoài tìm đờng cứu nớc của các nhà yêu nớc Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du và Duy Tân ở Việt Nam do các Vănthân sĩ phu yêu nớc khởi xớng, một lần nữa bị thất bại Những chí sĩ cách mạngViệt Nam đã quyết định lựa chọn Thái Lan là nơi nơng tựa để tiếp tục sự nghiệpcứu nớc Đông Bắc Thái Lan giờ đây đã hình thành nên một đội ngũ những nhàyêu nớc trong cộng đồng Việt kiều ở đây Chính họ đã đặt nền móng cho phongtrào Việt kiều yêu nớc ở Đông Bắc Thái Lan qua hơn một thế kỷ qua Những ng-

ời Việt Nam yêu nớc sang Thái Lan trong thời kỳ này tiêu biểu có cụ Phan BộiChâu, Ngô Quảng, Đặng Tử Kính, Đặng Thúc Hứa, có những ngời trong số đó

đã trọn đời với phong trào yêu nớc ở vùng Đông Bắc này

Trang 25

Những cơ sở cách mạng đầu tiên đã đợc xây dựng bởi lòng yêu nớc và chícăm thù của họ, nh cơ sở cách mạng ở Ubon, Koiet, Xixa Khệt, Am Phơ Bùng,Mucdahan, Uthon, Noỏng Bua, Noỏng ổn để chống Pháp Từ các cơ sở này trởthành những nơi huấn luyện quân sự, chiêu mộ những anh em Việt kiều yêu nớc

và những thanh niên có chí hớng cách mạng từ trong nớc sang để tiếp tục hoạt

động, sau đó trở về khôi phục lại nền độc lập của Tổ quốc Chính trên mảnh đấtnày, những thế hệ thanh niên yêu nớc đã sang đây, đợc kiều bào chăm sóc nuôinấng, họ đã trở thành những nhà cách mạng xuất sắc của Việt Nam nh: PhạmHồng Thái, Hồ Tùng Mậu, Lý Tự Trọng

Tháng 2 năm 1909, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi nớc Nhật, đồng nghĩavới việc phong trào Đông Du bị thất bại Cụ cùng với những đồng chí của mình,quyết định đến Xiêm để tiếp tục sự nghiệp cách mạng Đợc sự giúp đỡ của nhândân Thái cùng đông đảo bà con Việt kiều, Cụ đã nhanh chóng tập hợp nhữngViệt kiều yêu nớc ở đây, để tham gia vào phong trào yêu nớc của Việt kiều Cụ

đã tập hợp đợc ở Bạn Thầm khoảng 50 ngời, trong đó có Đặng Tử Mẫn, NguyễnQuỳnh Lâm, Đặng Hồng Phấn, Đặng Quỳnh Anh cùng nhau học tập, huấn luyện

để chờ đợi thời cơ cứu nớc[25]

Trong những năm này, phong trào Việt kiều yêu nớc dới sự chỉ đạo của CụPhan Bội Châu đã có những hoạt động hỗ trợ cho phong trào cách mạng ở trongnớc Nguyễn Văn Ngôn (biệt hiệu Tùng Nham) đã vợt Trờng Sơn về Việt Namgiúp Đề Thám ở Yên Thế Sau đó Phan Bội Châu lại cử Bùi Chính Lộ về ViệtNam tìm cách gây cơ sở hoạt động ở Nam Bộ Hồi đó Udon, Bạn Thầm lànhững địa điểm tiếp nhận anh chị em thanh niên lớp này đến lớp khác từ trong n-

(1) Cụ Đặng Thúc Hứa ngời huyện Thanh Chơng tỉnh Nghệ An, cùng anh là Đặng Nguyên Cẩn tham gia phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân Khi Đặng Nguyên Cẩn bị đa đi đày thì Đặng Thúc Hứa bị truy nã Năm

1908 cụ trốn qua Trung Quốc rồi sang Thái Lan tiếp tục hoạt động cách mạng bằng cách xây dựng các cơ sở cách mạng để huấn luyện thanh niên từ trong nớc sang.

Trang 26

Các cơ sở mới này liên kết với nhau thành một địa bàn rộng lớn, và đã tiếp nhận

và nuôi dỡng đến hàng nghìn ngời từ trong nớc sang và trong cả kiều bào Cho

đến cả sau này, Bạn Thầm vẫn là cơ sở cách mạng quan trọng cho những nhà yêunớc Việt Nam sang đây hoạt động Từ những năm 1922, nhiều thanh niên tríthức Việt Nam yêu nớc đi ra nớc ngoài để tìm con đờng cứu nớc chân chính, ng-

ời sang Pháp, ngời qua Trung Quốc Họ đi ra ngoài bằng con đờng Thái Lan, vừathuận tiện lại vừa an toàn Bắt đầu là các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê HồngPhong, Phạm Hồng Thái, Đặng Thái Thuyên [64, 22]

Bà con Việt kiều ở Đông Bắc còn mãi kể cho nhau nghe chuyện các nhàcách mạng lớp trớc nh Phan Bội Châu, Đặng Thúc Hứa và rất nhiều các cụ cáchmạng khác, đã có công lao gieo rắc mầm mống cách mạng, xây dựng những tổchức cách mạng trong khối cộng đồng để cho cộng đồng luôn hớng về Tổ quốc

Đặc biệt là vai trò của cụ Đặng Thúc Hứa đối với việc xây dựng các cơ sở cáchmạng ở vùng Đông Bắc Thái Lan Cụ đã đi bộ khắp vùng Đông Bắc, để tuyêntruyền và vận động kiều bào làm cách mạng Cụ đã từng nói: “Chúng ta đi xanhà, xa nớc cũng chỉ vì nớc mất nhà tan Chừng nào chúng ta cha giành lại đợcnớc thì còn phải đi, đi trọn đời” [44] Chính vì Cụ đi nhiều nh vậy, nên kiều bào

ở Thái Lan gọi cụ là “Cố Đi”, “Thầy Đi”, Cụ thờng đi bộ và hầu nh chỉ đi bộ đểtiện dừng chân trên những xóm Việt kiều hẻo lánh ở rải rác khắp vùng Đông BắcThái Lan Đi tới đâu “Cố Đi” cũng đều khuyên nhủ: “Kiều bào đoàn kết thơngyêu đùm bọc lẫn nhau và nhớ lấy cái nhục mất nớc, và phải thấy cái nhục đó ởbất cứ đâu cũng cảm thấy đau, thấy buồn”[44] Do vậy, không chỉ ở Trại Cày,Bạn Thầm mà còn rất nhiều những nơi khác trên khắp vùng Đông Bắc đều có cáccơ sở cách mạng do Cụ “Cố Đi” lập ra Sự phát triển của các cơ sở cách mạng ở

Đông Bắc Thái Lan là cơ sở để “sau mỗi lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu,Nguyễn ái Quốc đều phái từ một đến hai đồng chí làm công tác vận động Việtkiều”[25] và đến năm 1926, chi bộ Việt Nam Thanh Niên cách mạng đồng chíhội, trực thuộc Tổng bộ Quảng Châu đã đợc thành lập ở Phichịt

Tâm huyết và sức lực của Cụ đối với phong rào cách mạng đã có kết quả.Phong trào cách mạng trong kiều bào sôi nổi hẳn lên, mỗi gia đình đều tựnguyện nuôi những nhà cách mạng từ trong nớc mới sang, họ động viên chồngcon mình tham gia và hởng ứng các phong trào mà cụ Đặng Thúc Hứa phát

động, những thanh niên yêu nớc tham gia cách mạng ngày càng đông dần lên

Cụ đi đến đâu cũng để lại những tình cảm và sức thuyết phục trong kiều bào ấn

Trang 27

tợng tốt đẹp về một con ngời đầy nhiệt tình cách mạng, không chỉ khiến cho bàcon Việt kiều xúc động, mà đôi khi còn đối với cả nhân dân Thái Có lần, mậtthám Pháp yêu cầu nhà cầm quyền địa phơng giao nộp Tú Ngọ cho Pháp Chínhquyền địa phơng không dám từ chối nhng bố trí cho Cố Đi ngồi chung với các

ông già địa phơng để mật thám Pháp nhận diện, nếu đúng là Tú Ngọ thì sẵn sànggiao nộp cho nhà cầm quyền Pháp Vì nớc da ngăm đen và cái vẻ bề ngoài của

Cố Đi rất giống ngời Xiêm, nên bọn mật thám Pháp đã không thể nhận ra Mộtlần nữa, Cố Đi lại thoát nạn nhờ vào sự đùm bọc và che chở của chính quyền vànhân dân Thái

Những thanh niên yêu nớc từ Việt Nam sang Xiêm, đã đợc các cơ sở cáchmạng của Việt kiều đón tiếp và đa vào Phichịt sinh hoạt trong Trại Cày của Cố

Đi, để bồi dỡng, sau đó đợc cấp tiền lộ phí và ngời đa đờng sang Trung Quốctiếp tục hoạt động Trong bản báo cáo của mật thám Pháp ở Viêng Chăn ngày12/5/1927, viết “Tú Hứa tức là Ngọ Sinh - Đặng Thúc Hứa, hiện ở Xiêm trongmột đồn điền cũ của Đề Đạt cách sông Mêkông năm ngày đờng, hiện đang phụtrách phong trào thanh niên Nghệ - Tĩnh ra nớc ngoài Trên đất Xiêm gần Làocách sông Mêkông 2km, Hứa đã bố trí một trong những ngời đồng đảng của nótên là Hữu Vân quê ở Quảng Bình để theo dõi và báo cáo cho rõ việc này” [59]

Có thể nói, trong khi cách mạng ở trong nớc đang gặp khó khăn, do bịthực dân Pháp khủng bố, thì các cơ sở cách mạng của cộng đồng Việt kiều ở

Đông Bắc Thái Lan đã trở thành nơi bồi dỡng, đào tạo những chiến sĩ trung kiêncho cách mạng Việt Nam

Nh vậy, những hoạt động yêu nớc của Việt kiều giai đoạn trớc khi có

Đảng, chủ yếu là làm địa bàn liên lạc cho các nhà cách mạng Việt Nam, nơi bồidỡng và huấn luyện các lớp thanh niên từ trong nớc sang để tiếp tục đi sang nớcthứ ba tìm đờng cứu nớc Có đợc những đóng góp to lớn nh vậy là công sức vàtâm huyết của những vị tiền bối cách mạng thời kỳ hoạt động ở Xiêm nh PhanBội Châu, Đặng Thúc Hứa đặc biệt là Đặng Thúc Hứa Cụ đã giành trọn cuộc

đời của mình cho sự nghiệp cách mạng của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan.Những ngày cuối đời dù phải vắt kiệt sức lực cho cách mạng, Cụ vẫn còn muốn

đi và đi thật nhiều để cho khắp vùng Đông Bắc này, ở đâu cũng có cách mạng, ở

đâu cũng có những ngời yêu nớc Vì vậy, mà “khi mình đã nằm xuống mà lòngvẫn còn đi, nhắn gọi đồng chí đi nữa, đi cho tới đích” [44]

Trang 28

Đó cũng chính là nguyện vọng duy nhất của Cụ cho tới cuối đời Song đócũng chính là mong muốn của kiều bào đợc đóng góp công sức nhỏ bé của mìnhvào sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

2.1.2 Nguyễn ái Quốc thời kỳ hoạt động cách mạng ở Xiêm (1928 1929), và tình cảm của Việt kiều với Nguyễn ái Quốc- Hồ Chí Minh.

-Cho đến năm 1925, cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan tuy đã đợcgiác ngộ về tinh thần yêu nớc, căm thù giặc Pháp và ủng hộ cách mạng trong n-

ớc, nhng vẫn còn sống rời rạc và cha tự giác, địa phơng nào biết địa phơng ấy

Có nhiều nơi, họ sống biết lập cơ hồ nh không ai biết đến ai nữa, cách sinh sốngkiểu ấy đang có nguy cơ làm cho kiều bào quên dần hết tiếng mẹ đẻ, quên hếttập quán, phong tục tốt đẹp của tổ tiên

Trớc tình hình đó, sau khi nghe báo cáo tình hình Nguyễn ái Quốc đã cử

Hồ Tùng Mậu sang Xiêm năm 1925, lập ra Chi hội thanh niên cách mạng đồngchí Hội trực thuộc Tổng bộ Quảng Châu, từ thời điểm này những cơ sở liên lạccách mạng của Việt kiều ở Xiêm và phong trào hoạt động của Việt kiều mới thực

sự đi vào tổ chức với chất lợng mới [25] Cách mạng của Việt kiều giờ đây nhtìm thấy lối ra Bây giờ thật là sung sớng, có tổ chức, có phơng hớng, có kếhoạch lại có ngời tham gia ý kiến cho mà làm [44]

Phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng, nếu nh lúc đầu chỉ có mộtchi bộ ở Phichịt thì đến cuối năm 1927 đầu năm 1928, đã có 4 chi bộ của tổ chứcViệt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội (Phichịt, Udon, Sacon, Nakhon),với nhiều hoạt động nhằm đa phong trào yêu nớc của Việt kiều vào một tổ chứcchặt chẽ, đoàn kết và có hiệu quả hơn Đồng thời Việt kiều tổ chức ra các hội

“Hội Việt kiều thân ái”, “Hội hợp tác”, mở trờng dạy tiếng Việt, ra báo Đồngthanh, tiếp nhận báo “Thanh niên” ở Quảng Châu và các tài liệu, sách báoMácxít từ Thợng Hải về Xiêm rồi lại chuyển về trong nớc Thực tế đó, đã chothấy vị trí quan trọng của vùng Đông Bắc Thái Lan với cách mạng Việt Nam Đókhông chỉ là trung tâm liên lạc cho cách mạng mà đó còn là cơ sở bồi dỡng tinhthần yêu nớc cho kiều bào, để từ đó kiều bào tham gia ngày một đông đủ và tựgiác hơn Những hoạt động yêu nớc của kiều bào ngày càng đợc tổ chức mộtcách khoa học và có chiều sâu, không chỉ đấu tranh chống thực dân Pháp, màkiều bào còn đợc bồi dỡng lý luận chính trị, lòng yêu nớc, tinh thần đoàn kếttrong kiều bào cũng nh tranh thủ sự ủng hộ của các bạn Thái để làm cách mạng

Trang 29

Những hoạt động rất thiết thực khích lệ lòng yêu nớc của kiều bào đợc tổ chứcthờng xuyên, nh cứ đến ngày 19/6 dơng lịch hàng năm tổ chức kỷ niệm ngày liệt

sĩ Phạm Hồng Thái hy sinh Ngoài ra, Việt kiều còn tổ chức các buổi diễn kịch

về các đề tài yêu nớc, yêu cách mạng, các buổi diễn giải về các vấn đề chính trị,giai cấp, cách mạng, giúp đỡ nhau trong sản xuất và sinh hoạt

Đó là những lý do, mà Nguyễn ái Quốc quyết định chọn Xiêm là nơi hoạt

động cách mạng của mình trong thời gian từ 1928 - 1929, với cái tên Thầu Chín.Lúc này, để tránh con mắt rình mò của mật thám Pháp, nên Ngời chỉ ở lại đómột thời gian ngắn và không xuất hiện công khai Song kể từ đây, phong tràoViệt kiều yêu nớc đã phát triển một cách mạnh mẽ

Tháng 7/1928 Nguyễn ái Quốc đặt chân đến Xiêm, điều khiến Nguyễn áiQuốc chọn Xiêm là nơi hoạt động cách mạng của mình, trớc hết vì ở đây có mộtlực lợng đông đảo Việt kiều yêu nớc, đồng thời Xiêm lại là nớc có quan hệ gắn

bó với Việt Nam trong lịch sử Nơi đầu tiên Nguyễn ái Quốc đặt chân đến làhuyện Phichịt tỉnh Phitxanulốc, miền Trung nớc Xiêm Cụ tự giới thiệu là Thu,biệt hiệu là Nam Sơn [27, 50] Nguyễn ái Quốc tìm đến các gia đình Việt kiềutại Phichịt, rồi bắt liên lạc với một số đồng chí ở đó để tuyên truyền giác ngộcách mạng và xây dựng cơ sở ở Bản Đông Thời bấy giờ ở Bản Đông có khoảng

20 gia đình Việt kiều đang c trú, họ chủ yếu là những du kích của Cụ Phan ĐìnhPhùng, của Cụ Hoàng Hoa Thám trớc kia, lánh nạn sang Thái để tránh sự truylùng của thực dân Pháp và chờ đợi thời cơ Khi đến, Ngời lần lợt thăm hỏi cácgia đình, hỏi han công việc làm ăn, tối tối Ngời tổ chức nói chuyện về tình hìnhtrong nớc và thế giới, đọc báo, giảng giải cặn kẽ cho mọi ngời hiểu

ở Phichịt một thời gian, Ngời đi bộ đến Udon hết 15 ngày ròng rã, đến

đây Cụ đổi tên là “Thầu Chín” Cụ đến nghỉ ở bản Noọng Bua và bản Noọng ổn

ở đây, các tổ chức cách mạng yêu nớc nh Việt Nam thanh niên cách mạng đồngchí Hội đã đợc thành lập và hoạt động, điều này rất thuận lợi cho công việc củaNguyễn ái Quốc là bồi dỡng tinh thần yêu nớc cho số thanh niên Việt kiều, giáodục cán bộ, nhân dân chịu đựng gian khổ kiên trì đấu tranh giải phóng dân tộc.Công việc mặc dù bận rộn và vất vả, nhng Thầu Chín vẫn dành nhiều thì giờ đểdịch sách lý luận và làm tài liệu tuyên truyền huấn luyện cho cán bộ Việt Namhoạt động tại đây Theo Cụ, cán bộ muốn thành công thì phải đi sát quần chúng,phải cùng lao động, cùng chịu đựng gian khổ cùng chia sẻ những vớng mắctrong cuộc sống Chính Cụ đã gơng mẫu thực hiện nh cùng làm ruộng ở tổ hợp

Trang 30

tác, tham gia xây dựng trờng học cho các con em Việt kiều Sau này ghi nhớcông ơn của Bác, Việt kiều ở Udon đã đặt tên trờng là Minh Lập (trờng do HồChí Minh xây dựng), ngoài ra Cụ cùng với thanh niên mang hàng đến các bản xa

để bán lấy tiền, lấy lơng thực góp vào quỹ Việt kiều, cùng tham gia diễn kịch vớikiều bào ở đây

Không bao lâu, “Thầu Chín” lại rời Noọng Bua đến bản Noọng ổn để tiếptục công việc của một nhà cách mạng yêu nớc Tại đây, Cụ nghỉ tại nhà ông bà

Cu Ngoéc, một gia đình cách mạng quê ở Nghệ Tĩnh trốn sang Xiêm để tránh sựkhủng bố của thực dân Pháp hồi đầu thế kỷ XX Để có tiền bỏ vào quỹ chungphục vụ cách mạng, Cụ đã thành lập hai tổ: tổ nam giới làm nghề ca xẻ gỗ, và tổnữ giới làm nghề đổi hàng Sau này, tất cả các thành viên trong tổ đều là nhữngngời có đóng góp rất nhiều về cho cách mạng, cho Tổ quốc Gia đình cụ CuNgoéc đã nuôi dỡng và che chở cho “Thầu Chín” trong suốt thời gian Cụ hoạt

động tại đây Thầu Chín cùng với gia đình cụ Cu Ngoéc làm vờn trồng nhữngcây tre xung quanh vờn, vì theo “Thầu Chín” là ngời Việt Nam thì sống ở đâuphải có tre ở đó, tre giữ làng, tre giữ nớc và tre là nét riêng của dân tộc ViệtNam Năm 1961, Việt kiều ở tỉnh Udon hồi hơng, anh chị em cán bộ Udon đãxin gia đình cụ Cu Ngoéc bứng một số gốc tre và xin tháo gỡ chuồng gà mà trớckia Bác đã chăn nuôi và đóng gói cẩn thận mang về Hà Nội trao tận tay cho đồngchí Vũ Kỳ- Th ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đầu năm 1929, Thầu Chín rời Udon tới Sacon, nơi có đông Việt kiều hơn

ở Udon ở đây các tổ chức cách mạng cũng đã có từ lâu, Đến đây, Thầu Chíncủng cố và xây dựng các cơ sở cách mạng, huấn luyện cán bộ và giáo dục quầnchúng Cụ cũng không quên chỉ bảo kiều bào cách c xử đối với nhân dân địa ph-

ơng, đó là phải tôn trọng luật pháp nớc sở tại, sinh hoạt theo văn hoá Thái Lan,theo phơng châm “đi dân nhớ, ở dân thơng” Một phần không ít những Việt kiềutuy ở Thái Lan đã lâu mà không chịu học tiếng Thái, điều này dễ dẫn đến nguycơ của một lối sống biệt lập, phân biệt và kỳ thị Nhiều ngời vẫn nghĩ rằng,không cần học tiếng Thái và cả chữ Thái, vì sống ở đây chỉ là tạm bợ rồi đâychắc sẽ đi sang Trung Quốc hoặc sẽ về nớc Do vậy, họ không học tiếng Thái,chữ Thái và thậm chí không tiếp xúc với ngời Thái Trớc tình hình đó, Nguyễn

ái Quốc chủ trơng mở rộng phong trào học tiếng Việt và khuyến khích Việt kiềuhọc tiếng Thái Thầu Chín đề nghị xin phép Chính phủ Thái mở trờng học chotrẻ em Việt kiều Khi Chính phủ Thái chấp nhận, Thầu Chín còn trực tiếp làm

Trang 31

giáo viên dạy của một trờng học ở Udon Và Cụ làm gơng trong việc học tiếngThái, mỗi ngày chỉ học 10 chữ và học đều đặn trong ba tháng, kết quả là Cụ đã

đọc đợc sách báo Thái

“Liên hiệp” là phơng pháp của Nguyễn ái Quốc trong công tác cáchmạng, cũng nh đoàn kết - đại đoàn kết là phơng châm cơ bản của Nguyễn áiQuốc trong đờng lối vận động toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên đánh giặccứu nớc Điều đó đợc xuyên suốt trong hành trình đi tìm đờng cứu nớc của Ngời,

để có đợc sự “liên hiệp và đoàn kết” ấy nên ở đâu Nguyễn ái Quốc cũng hoàmình vào cuộc sống của nhân dân lao động Trên mỗi chặng đờng đi Cụ đều tìmhiểu tập quán nớc sở tại để hoà nhập vào xã hội nớc họ một cách nhanh nhất,tranh thủ những tình cảm của ngời dân địa phơng Trên cơ sở đó, Thầu Chín đã

đề ra chủ trơng “Thái - Việt thân thiện” gồm có 4 chủ trơng sau:

- Tôn trọng pháp luật Thái

- Học tiếng Thái

- Quan hệ hữu nghị với nhân dân Thái

- Đoàn kết nội bộ Việt kiều để làm cách mạng cứu nớc

Đây chính là gốc rễ của mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nớc Việt Nam - TháiLan sau này Chính sự liên hiệp và đoàn kết đã giúp cho Nguyễn ái Quốc không

ít lần tránh đợc sự truy lùng của mật thám Pháp Có lần Thầu Chín bị lực lợngmật thám lùng sục, Cụ đã đợc sự che chở của nhà s trụ trì chùa Avát, bằng cáchgiải thích với bọn mật thám rằng nhà chùa đang sửa chữa nên không có ngời ở

đó Tấm lòng của các nhà s còn cu mang Thầu Chín trong những ngày Cụ phải đi

bộ ròng rã từ nơi này đến nơi khác để vận động bà con làm cách mạng “Đi quacác làng, đến bữa chúng tôi kéo nhau vào chùa xin nghỉ ngơi đợi s sãi ăn xongthì xin ăn Các vị s ở Thái sẵn sàng làm phúc, cho ngời mang thức ăn ra, có khicho một mâm, có khi là hai mâm, ba mâm có xôi, có món chay chúng tôi tha hồ

ăn, còn thừa lại xin nốt mang theo để ăn tiếp Nhng phải chấp hành một kỷ luậtrất nghiêm là vào chùa không đợc đội mũ, phải ngồi không đợc đứng, và nói

“khó khọp khun” (xin cảm ơn) theo phong tục Thái”[27]

Khi đến Sacon, Việt kiều ở đây có tục lệ thờ “Đức thánh Trần” (tức vị anhhùng dân tộc Trần Hng Đạo), Thầu Chín đã viết bài ca Trần Hng Đạo kể rõ sựtích đánh giặc cứu nớc của vị anh hùng dân tộc nhằm giáo dục lòng yêu nớc choViệt kiều:

Diên Hồng thờ trớc Thánh minh

Trang 32

Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành Nếu ai muốn đến giành đất Việt

Đa dân ta ra giết sạch trơn Một ngời Việt hãy đơng còn Thì non sông Việt vẫn non sông nhà [27].

Nhân ngày kỷ niệm liệt sĩ Phạm Hồng Thái hy sinh, Thầu Chín đã soạnhai vở kịch về Phạm Hồng Thái và Hoàng Hoa Thám để động viên và cổ vũ tinhthần yêu nớc của kiều bào, viết hai vở kịch đả kích những tên bán nớc nh LêHoan và Hoàng Cao Khải cũng nh không quên bồi dỡng cán bộ thanh niên cáchmạng đồng chí Hội về kiến thức, cũng nh đạo đức cách mạng và phơng phápcông tác, chỉnh đốn tờ báo “Đồng thanh” và đổi là báo “Thân ái” [49]

Rời Sacon, “Thầu Chín” về ở tỉnh Nakhon Phanom Việt kiều ở đây khá

đông, hầu hết đều căm thù thực dân Pháp và có tình yêu nớc cao Đến NakhonPhanom “Thầu Chín” ở làng Bản Mạy (làng mới) Tại đây Cụ đã dạy dỗ thanhniên về tình yêu Tổ quốc, cách sống và sinh hoạt của kiều bào sao cho đúng vớiphong tục tập quán của nớc bạn, đừng để cho ngời ta phải phật lòng Cụ đã cùngvới Việt kiều xây cất một ngôi trờng để dạy học cho con em, đồng thời dùng nhàtrờng làm nơi hội họp, tuyên truyền cách mạng Trong ngôi nhà đơn sơ của gia

đình cụ Võ Trọng Ngoét (đã quá cố),Thầu Chín đã dạy dân làng cách trồng lúa,trồng ngô, khoai sắn và cây ăn quả sao cho có năng xuất Những điều đó làm chokiều bào ở Bản Mạy thấy ấm áp thân tình nh đang ở trên quê hơng mình Năm

1962, trong dịp hồi hơng Việt kiều ở tỉnh Nakhon Phanom đã mang một quả dừa

đã ơm ở vờn Bác Hồ tại Bản Mạy về nớc và trồng ở khu lăng Bác, đến nay câydừa đó đã lên cao và cho quả Còn cây khế Bác trồng ở Bản Mạy hiện vẫn đangcòn, cành lá sum xuê và có nhiều quả, quả tuy hơi nhỏ nhng rất ngọt, ngời ViệtNam từ trong nớc sang ai cũng lấy vài qủa để làm kỷ niệm

Hơn 70 năm đã trôi qua, kể từ ngày Thầu Chín rời Bản Mạy ra đi, để tiếptục cuộc hành trình đi tìm đờng cứu nớc, nhng những kỷ vật, hiện vật về nhữngngày Bác sống và làm việc ở đây vẫn đợc bà con Việt kiều lu giữ cẩn thận và gần

nh còn nguyện vẹn Căn nhà trớc kia Bác đã sống với gia đình cụ Võ TrọngNgoét (Võ Trọng Đạt), một lão thành cách mạng, là hội viên của Hội Việt Namthanh niên cách mạng đồng chí đợc thành lập ở Thái Lan từ 1925 Cụ Võ TrọngTiêu năm nay 80 tuổi là con trai cụ Võ Trọng Ngoét đã thay cha chăm sóc, giữgìn nhà cửa trông nom vờn tợc của Bác để lại Thời gian đã lâu nhng cụ vẫn giữ

Trang 33

gìn gần nh nguyên vẹn những kỷ vật trong ngôi nhà Bác, từ chiếc bàn gỗ mà ờng ngày Bác làm việc cho đến những viên gạch lát nền mà Bác đã cùng với cácnhà cách mạng trong làng tự làm và nung, đến những cây ăn quả mà Bác đãtrồng trớc đây Tất cả vẫn còn nguyện vẹn và ấm áp nh xa khi Ngời đã ở.

th-Nh vậy, Nguyễn ái Quốc ở Thái Lan chỉ có hơn một năm, khoảng tháng 9năm 1929, sau khi đợc tin ở trong nớc đã hình thành hai nhóm Cộng sản là ĐôngDơng Cộng sản và An Nam Cộng sản Đảng, Nguyễn ái Quốc rời Thái Lan đigặp Quốc tế để chuẩn bị cho việc hợp nhất các nhóm, lập ra Đảng Cộng sản ViệtNam đầu năm 1930 [6] Tuy chỉ ở một thời gian ngắn, nhng những lời nói vàviệc làm của Bác đã ảnh hởng đến công tác Việt kiều một cách sâu sắc: nếp sốngcủa kiều bào thay đổi hẳn, tác phong công tác của cán bộ đợc chỉnh đốn, cơ sởquần chúng đợc mở rộng và củng cố vững chắc Nhất là việc Bác khuyên mọingời phải học tiếng Xiêm, chữ Xiêm, tôn trọng phong tục tập quán của nhân dânbạn, ngay thẳng thật thà trong khi quan hệ với mọi ngời

Sau khi đã hoàn thành xong việc hợp nhất các tổ chức Đảng ở trong nớc vàthành lập Đảng cộng sản Việt Nam, tháng 8 năm 1930, đồng chí Nguyễn áiQuốc với t cách là Đại biểu Quốc tế Cộng sản, đến Xiêm để thống nhất cácnhóm Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Xiêm [6, 41] Theo Nghị quyết củaQuốc tế Cộng sản thì ngời Cộng sản ở nớc nào phải làm cách mạng và gia nhập

Đảng Cộng sản ở nớc đó Trong lúc này cha có ngời Xiêm là Cộng sản mà chỉ cóhai nhóm Cộng sản là Hoa kiều và Việt kiều Nh vậy, nghĩa là ngời Cộng sảnViệt Nam ở Xiêm phải làm cách mạng ở Xiêm

Ngày 20 tháng 4 năm 1930, tại một địa điểm ở Hủa Lămphông giữa thủ

đô Băng Cốc, Nguyễn ái Quốc đã triệu tập một cuộc Hội nghị có đại biểu củaHoa kiều và Việt kiều để bàn về việc hợp nhất hai nhóm thành Đảng Cộng sảnXiêm Nh vậy, những ngời Cộng sản Việt kiều ở Thái Lan lúc này không chỉ làmột cộng đồng yêu nớc, và làm cách mạng cho đất nớc mình mà còn có nghĩa vụgiúp đỡ cách mạng Xiêm Tuy nhiên, trong khi thực hiện nghĩa vụ quốc tế, ngờiCộng sản Việt kiều không làm thay theo kiểu “xuất khẩu cách mạng” mà phảidựa vào sự giác ngộ của ngời bản địa theo tinh thần “cách mạng Xiêm do nhândân Xiêm quyết định” Theo Ngời đó là tôn trọng quyền tự quyết của mỗi dântộc Nguyễn ái Quốc nói: “Các đồng chí Hoa kiều cũng nh Việt kiều cần phảinâng cao tinh thần quốc tế vô sản, đi sâu vào nhân dân quần chúng Xiêm để giác

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), số 36 NQ/TW, Nghị quyết của Bộ chính trị về công tác đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài, Hà Nội, ngày 26/3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ chính trị về công tác đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài
Tác giả: Ban chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
2. Ban cán sự Việt kiều ở Thái (1977), Sơ lợc về phong trào cứu nớc của Việt kiều ở Thái, Tài liệu hồi ký Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lợc về phong trào cứu nớc của Việt kiều ở Thái
Tác giả: Ban cán sự Việt kiều ở Thái
Năm: 1977
3. Ngô Vĩnh Bao (2004), Hồ Chí Minh ngời đặt viên gạch xây dựng tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan hôm nay, Tạp chí Xa & Nay, số 217, tháng 8/2004, tr.4-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh ngời đặt viên gạch xây dựng tình hữu nghị Việt Nam - Thái Lan hôm nay
Tác giả: Ngô Vĩnh Bao
Năm: 2004
4. Đỗ Thanh Bình - Nguyễn Am (1994), Quan hệ Đại Nam - Xiêm nửa cuối thế kỷ XIX, Tạp chí Nghiên cứu ĐNá, số tháng 2/1994, tr.45-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Đại Nam - Xiêm nửa cuối thế kỷ XIX
Tác giả: Đỗ Thanh Bình - Nguyễn Am
Năm: 1994
7. Dơng Xuân Cơng (1991), Hình ảnh ngời Việt trong Nirat Phu Khảu Thong của nhà thơ Thái Lan Xủn Thên Phu, Tạp chí Nghiên cứu ĐNá, số 2/1991, tr.49-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh ngời Việt trong Nirat Phu Khảu Thong của nhà thơ Thái Lan Xủn Thên Phu
Tác giả: Dơng Xuân Cơng
Năm: 1991
8. Đặng Văn Chơng (1997), Quan hệ Việt - Xiêm thời Gia Long - sự kiện và bài học lịch sử cho một Đông Nam á hoà bình, ổn định và hợp tác, Tạp chí Nghiên cứu ĐNá, số 2/1997, tr.105-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt - Xiêm thời Gia Long - sự kiện và bài học lịch sử cho một Đông Nam á hoà bình, ổn định và hợp tác
Tác giả: Đặng Văn Chơng
Năm: 1997
9. Đặng Văn Chơng (2002), Quan hệ giữa triều đình Charki với chính quyền Nguyễn từ 1782 đến 1842, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trờng Đại học S phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa triều đình Charki với chính quyền Nguyễn từ 1782 đến 1842
Tác giả: Đặng Văn Chơng
Năm: 2002
10. D.G.Hall (1997), Lịch sử Đông Nam á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam á
Tác giả: D.G.Hall
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
11. Trần Ngọc Danh (Hà Lam Danh), Bác Hồ ở Thái Lan, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ ở Thái Lan
Nhà XB: Nxb Trẻ
12. Ngô Văn Doanh - Quế Lai (1991), Tìm hiểu văn hoá Thái Lan, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hoá Thái Lan
Tác giả: Ngô Văn Doanh - Quế Lai
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1991
13. Luận Thuỳ Dơng (1999), Cơ sở và triển vọng mở rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan trong thế kỷ XXI, Nghiên cứu quốc tế, số 40, tr.10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở và triển vọng mở rộng quan hệ hợp tác Việt Nam - Thái Lan trong thế kỷ XXI
Tác giả: Luận Thuỳ Dơng
Năm: 1999
14. Đặc san kỷ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan (1976 - 2001), Hà Nội: Hội hữu nghị Việt Nam - Thái Lan, 7/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san kỷ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan (1976 - 2001)
15. Trần Trọng Đăng Đàn (1997), Ngời Việt Nam ở nớc ngoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời Việt Nam ở nớc ngoài
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
16. Thanh Đạm (1993), Hồ Chí Minh với vấn đề hợp tác khu vực Đông Nam á - Châu á, Hội thảo khoa Sử - Trờng ĐHSP Hà Nội, 4/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với vấn đề hợp tác khu vực Đông Nam á - Châu á
Tác giả: Thanh Đạm
Năm: 1993
17. Thanh Đạm (1995), Phơng pháp luận Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt - Thái, Bản tham luận trong Hội thảo Hữu nghị Việt - Thái do Viện Hồ Chí Minh tổ chức, tháng 5/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp luận Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt - Thái
Tác giả: Thanh Đạm
Năm: 1995
19. Nguyễn Ngọc Hà (1990), Về ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
20. Phan Viết Hồ (1997), Vài kỷ niệm về ông tôi (cụ Phan Bội Châu), Tạp chí Nghiên cứu ĐNá, số 4/1997, tr.73-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài kỷ niệm về ông tôi (cụ Phan Bội Châu)
Tác giả: Phan Viết Hồ
Năm: 1997
21. Trơng Duy Hoà (1996), Quan hệ đầu t Thái Lan - Đông Dơng, Tạp chí Nghiên cứu ĐNá, số 1/1996, tr.80-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đầu t Thái Lan - Đông Dơng
Tác giả: Trơng Duy Hoà
Năm: 1996
22. Vũ Xuân Hồng (2001), 25 năm tình hữu nghị Việt - Thái, Đặc san Hội hữu nghị Việt- Thái, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm tình hữu nghị Việt - Thái
Tác giả: Vũ Xuân Hồng
Năm: 2001
23. Nguyễn Diệu Hùng (2001), Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ đầu thập kỷ 90 (thế kỷ XX) tới nay, Tạp chí Nghiên cứu ĐNá, số 4/2001, tr.52-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ đầu thập kỷ 90 (thế kỷ XX) tới nay
Tác giả: Nguyễn Diệu Hùng
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w