Việc nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh thái của Nhông cát ởThanh Hoá là nhằm góp phần làm rõ thêm sự phân hoá các quần thể Nhông cát, đồng thời thấy rõ sự phân ly của chúng trong
Trang 12 - §Æc trng tæng quan vÒ ®iÒu kiÖn tù nhiªn vµ x· héi tØnh Thanh Ho¸ 9
Ch¬ng II: §Þa ®iÓm , thêi gian vµ ph¬ng ph¸p nghiªn cøu
17
4.3 Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu sinh th¸i häc Nh«ng c¸t 20
2 - §Æc ®iÓm sinh th¸i c¸c quÇn thÓ Nh«ng c¸t ë Qu¶ng x¬ng vµ HËu léc
Trang 2cứu, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận đợc nhiều tổ chức, cá nhân quantâm tạo điều kiện giúp đỡ.
Trớc kết quả đạt đợc, không gì vui hơn nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòngkính trọng và biết ơn sâu sắc tới quý thầy cô trong Ban giám hiệu Trờng Đại họcVinh Ban chủ nhiệm khoa Sinh, khoa Sau đại học
Xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh, khoa Sau đại học, phòng thínghiệm động vật, các phòng ban trong trờng và trờng THPT Đặng Thai MaiQuảng Xơng-Thanh Hoá
Cảm kích trớc sự tận tình chu đáo trong hớng dẫn khoa học của thầy giáo,
TS Hoàng Xuân Quang, các giáo s, tiến sĩ, các thầy cô giáo trong và ngoài trờng
đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Cho tôi xin phép đợc gửi lời chúc sức khoẻ, lời cảm ơn sâu sắc tới gia đìnhcác giáo s, tiến sĩ và quý thầy, quý cô
Xin bày tỏ lời cảm ơn tới bạn bè, anh em đồng nghiệp đã giúp tôi hoànthành luận văn này
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn!
Vinh 11/2002
Tác giả
Trang 3Mở đầu
Nhông cát – Leiolepis reevesii (Gray 1831), sống phổ biến ở vùng cát ven
biển nớc ta Ngời ta đã tìm thấy các đại diện của chúng có từ tỉnh Thanh Hoá đếncác tỉnh Thừa Thiên – Huế (Darevsky 1993) [43]
Riêng ở tỉnh Thanh Hoá Nhông cát – Leiolepis reevesii phân bố ở các
huyện ven biển Tĩnh Gia, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Nga Sơn Thanh Hoá là giới hạn
phân bố bắc của Leiolepis reevesii ở Việt Nam.
Các tài liệu trớc đây đã có nói tới loài Nhông cát này: nh Bourret (1937)[53] Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981, 1983)[5,6]; Darevsky(1993)[43]; Hoàng Xuân Quang (1993)[21]; Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc(1996)[28] Các tác giả đã mô tả, xác định đặc điểm phân loại, biến dị địa lý vàvùng phân bố của chúng Cho đến nay cha có nghiên cứu nào về loài này ở ThanhHoá
Việc nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh thái của Nhông cát ởThanh Hoá là nhằm góp phần làm rõ thêm sự phân hoá các quần thể Nhông cát,
đồng thời thấy rõ sự phân ly của chúng trong toàn bộ vùng phân bố các quần thểNhông cát
Sự mở mang các khu du lịch, nghỉ mát, sự phát triển kinh tế vùng ven biển
đã làm mất đi các khu phân bố tự nhiên của Nhông cát Hơn nữa, Nhông cát ờng bị săn bắt để làm thuốc và thực phẩm dẫn đến sự suy giảm về hình thái củaNhông cát trong tự nhiên
th-Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Góp phần nghiên cứu đặc
điểm hình thái và sinh thái của các quần thể Nhông cát - Leiolepis reevesii (Gray 1831) ở vùng cát ven biển Thanh Hoá.”
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh tháiNhông cát, tìm hiểu các đặc trng giới tính, sự sai khác giữa các quần thể ở các
điều kiện địa lý khác nhau và xác định vai trò Nhông cát ở hệ sinh thái vùng cátven biển và bổ sung t liệu cho bộ môn ếch nhái bò sát ở nớc ta
Chơng I - Tổng quan tài liệu
I Lợc sử nghiên cứu
1.1 Lợc sử nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu về ếch nhái bò sát ở Việt Nam bắt đầu từthời kỳ phong kiến nh Lê Quý Đôn (1724 – 1784) Ông thống kê nhiều loài
Trang 419 các nhà khoa học triều Nguyễn đã có thống kê các loài động vật phổ biến vàquý hiếm ở nớc ta.
Tuy nhiên từ khi các nhà khoa học phơng Tây tìm đến nớc ta thì nhữngcông trình nghiên cứu về ếch nhái, bò sát mới đợc tiến hành một cách có hệthống và khoa học Các kết quả nghiên cứu ở thời kỳ này chủ yếu do ngời nớcngoài đảm nhận và tiến hành Các công trình nghiên cứu thờng đợc công bốchung cho vùng Đông Dơng nh Tirant (1885), Boulenger (1903), Mocquard(1906) Đặc biệt là Bourret có nhiều nghiên cứu về ếch nhái bò sát ở Việt Nam.Trên các thông báo nghiên cứu về ếch nhái bò sát Đông Dơng gồm 21 tập (từnăm 1934 đến 1941) [50, 51, 52, 53]
Từ năm 1954, sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, công tác điều tra độngvật trong đó có ếch nhái bò sát đợc tiến hành Nhiều công trình đã đợc công bố.Năm 1960, Giáo s Đào Văn Tiến nghiên cứu khu hệ động vật có xơng sống ởVĩnh Linh đã thống kê nhóm bò sát ếch nhái có 12 loài Tác giả đã bổ sung chovùng nghiên cứu 3 loài và mô tả 1 loài mới cho khoa học
Từ năm 1977 – 1981 Giáo s Đào Văn Tiến [34] đã lần lợt cho công bốcác tài liệu phân loại các nhóm lỡng c bò sát
Tác giả Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) [5] đã thống kêtoàn miền Bắc có 159 loài bò sát thuộc 2 bộ, 19 họ và 69 loài ếch nhái thuộc 3
bộ, 9 họ (kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam)
Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985) [7] báo cáo danh lụckhu hệ ếch nhái bò sát Việt Nam gồm 160 loài bò sát, 90 loài ếch nhái Các tácgiả còn phân tích sự phân bố địa lý, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tếcủa các loài Có thể xem đây là đợt tu chỉnh đầu tiên ở nớc ta về ếch nhái bò sát
Cũng trong thời gian này các chuyên khảo về ếch nhái bò sát ở nớc ta cũng
đợc tiến hành: Đời sống ếch nhái (Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn QuốcThắng, 1977) Đời sống bò sát, Trần Kiên 1983[6]
Từ năm 1990 trở lại đây, việc nghiên cứu ở các địa phơng tiếp tục đợc tiếnhành
Hoàng Xuân Quang (1993) [21] điều tra thống kê danh sách ếch nhái bòsát ở các tỉnh Bắc Trung bộ, kết quả cho biết có 94 loài bò sát xếp trong 59giống, 17 họ và 34 loài ếch nhái xếp trong 14 giống, 7 họ Tác giả đã bổ sungcho khu hệ ếch nhái bò sát ở Bắc Trung bộ 23 loài và phát hiện bổ sung cho vùngphân bố 9 loài Bên cạnh đó đã phân tích phân bố địa hình, sinh cảnh và quan hệvới các khu phân bố ếch nhái bò sát ở nớc ta
Năm 1998, quá trình nghiên cứu tác giả đã bổ sung 12 loài cho khu hệ ếchnhái, bò sát vùng Bắc Trung Bộ trong đó có 1 giống, 1 loài cho khu hệ ếch nháiViệt Nam [22]
Trang 5Ngô Đắc Chứng (1995)[3] nghiên cứu khu hệ bò sát ếch nhái ở vờn Quốcgia Bạch Mã (Thừa Thiên – Huế) đã thống kê 49 loài thuộc 15 họ, 3 bộ.
Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Nguyên Bình(1995) [27] nghiên cứu khu hệ ếch nhái bò sát rừng Ba Vì, Tam Đảo
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc công bố danh lục ếch nhái bòsát Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài ếch nhái (cha kể 14 loài bò sát và 5loài ếch nhái cha xếp vào danh lục) Đây là đợt tu chỉnh thành phần loài ếch nhái,
bò sát ở Việt Nam đợc coi là đầy đủ hơn cả kể từ trớc đến nay[28]
Từ đó đến nay nhiều nghiên cứu về khu hệ ếch nhái, bò sát vẫn đợc tiếptục tiến hành Lê Nguyên Ngật (1995)[15]; Nguyễn Văn Sáng, Hoàng XuânQuang (2000)[29]
Ngoài ra các nghiên cứu về hình thái sinh thái quần thể các loài cũng đợctiến hành
Trần Kiên, Hoàng Nguyên Bình (1988) [8] nghiên cứu đặc điểm sinh học
và sinh thái rắn hổ mang, cạp nong, cạp nia ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam
Ngô Đắc Chứng (1991) [2] nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái
Nhông cát Leiolepis belliana (Gray 1827) ở đồng bằng và vùng cát ven biển
Thừa Thiên – Huế
Ngô Thái Lan, Trần Kiên (2000 – 2001) [12] nghiên cứu đặc điểm hình
thái và sinh thái của Thạch sùng đuôi sần Hemidactylus prenatus ở Vĩnh Phúc.
Trần Kiên, Viền Xay (2001) [10] nghiên cứu sinh thái học của tắc kè
Gekko gecko (Linnaeus 1758) trong điều kiện nuôi.
Hoàng Xuân Quang, Cao Tiến Trung (2000 – 2001) [25, 26] nghiên cứu
đặc điểm hình thái, sinh thái Nhông cát Leiolepis reevesii trong điều kiện tự
nhiên ở Nghệ An và Hà Tĩnh
Nh vậy, song song với việc nghiên cứu khu hệ, việc nghiên cứu sinh tháihọc của các quần thể vẫn đợc tiến hành
1.2 Lợc sử nghiên cứu giống Leiolepis
Những nghiên cứu trớc đây về hình thái Nhông cát ở các công trình:
Terentiev (1961), nghiên cứu về hình thái phân loại và phân bố địa lý xác
nhận có 7 loài thuộc giống Leiolepis trên toàn thế giới phân bố ở Nam á và Bắc
Phi
Bourret (1934) [50] dựa trên sự sai khác về lỗ đùi, thống kê có 3 phân loài
thuộc giống Leiolepis ở Đông Dơng:
- Leiolepis belliana belliana
- Leiolepis belliana guttata
- Leiolepis reevesii reevesii Trong đó ghi nhận ở Việt Nam có 1 loài Leiolepis belliana (mẫu thu ở Hà
Trang 6Sau này những công trình nghiên cứu về ếch nhái, bò sát ở Việt Nam cũng
đề cập đến hình thái của giống Leiolepis.
Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981, 1985) [5], Hoàng Xuân
Quang (1993)[21] Những tài liệu này chỉ xác nhận 1 loài L belliana ở Việt Nam.
Năm 1991, Ngô Đắc Chứng [2] nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái
của L belliana ở Thừa Thiên – Huế Tác giả đã đề cập đến các đặc điểm hình
thái, dinh dỡng, sinh sản, tăng trởng và các đặc trng sinh thái của Nhông cát Tuynhiên, sau này khi có sự tu chỉnh lại, tác giả không đề cập nó thuộc loài nào nhxác nhận sau này
Năm 1993, Darevsky I S và Kupriyanova I S [43] phát hiện có 1 loài
mới trinh sản toàn cái ở miền Trung Việt Nam đó là L guentherpetersi Cùng với
ông, các tác giả nh Bobrov (1995)[39]; Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996)[28] xác nhận ở Việt Nam có 4 loài thuộc giống này:
- Leiolepis belliana
- Leiolepis guttata
- Leiolepis reevesii
- Leiolepis guentherpetersi Trong đó ghi nhận L belliana phân bố ở Kiên Giang, L guentherpetersi phân bố ở Huế - Đà Nẵng, L guttata phân bố ở Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Leiolepis reevesii phân bố ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình
và vùng Hải Nam , Ma Cao của Trung Quốc
Những nghiên cứu về sinh thái của Nhông cát có ở các công trình của Rojchai Strawaha (1984) [47], nghiên cứu về mật độ sự phát tán và đặc điểm dinh d-
ỡng của L belliana rubritaeniata.
Hoàng Xuân Quang, Cao Tiến Trung (2000) [25] nghiên cứu đặc điểm
hình thái và sinh thái của Nhông cát L reevesii ở Nghệ An và Hà Tĩnh Tác giả
đã phân tích các đặc điểm về hình thái các quần thể ở vùng cát ven biển Nghệ An
và Hà Tĩnh, xác định sai khác đực cái, xác định các đặc trng quần thể, hoạt độngngày đêm và mùa, quan hệ giữa nhiệt độ cơ thể và nhiệt độ môi trờng sống, các
đặc điểm dinh dỡng của Nhông cát
Nh vậy, cho đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu về Nhông cát ởcác vùng cát ven biển Thanh Hoá
Trang 72 - Đặc trng tổng quan về điều kiện tự nhiên và xã hội
tỉnh Thanh Hoá
2.1- Vị trí địa lý
Thanh Hoá là một tỉnh Bắc Trung bộ, có diện tích 11.168 km2
Phía bắc giáp 3 tỉnh: Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình với đờng ranh giới
175 km
Phía nam và phía tây giáp với Nghệ An, đờng ranh giới 160 km
Phía tây giáp với tỉnh Hủa Phăn (Lào) với đờng biên giới dài 192 km.Phía đông là bờ biển dài 120 km gồm các huyện Tĩnh Gia, Hoằng Hoá,Hậu Lộc và Nga Sơn
Thanh Hoá có toạ độ địa lý
19023’ 20040’ vĩ độ Bắc
104022’ 106005’ kinh độ ĐôngGiới hạn Bắc: xã Tâm Trung – huyện Quan Hoá
Giới hạn Nam: xã Hải Thợng – huyện Tĩnh Gia
Giới hạn Đông: xã Nga Điền – huyện Nga Sơn
Giới hạn Tây: xã Quang Chiểu – huyện Quan Hoá
Về phía Tây gồm những đồi núi cao trên 1000m đến 1370m, gắn liền vớicác vùng núi thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) Từ đây địa hình thoải và thấp dần vềphía đông tạo nên đồng bằng của tỉnh kéo dài và trải rộng về phía đông nam Đếnngang vùng trung tâm của tỉnh chỉ còn lại các đồi núi cao trên dới 500m so vớimặt nớc biển
Do đặc điểm của địa hình đó nên hầu hết các sông suối đều chảy theo ớng Tây Bắc - Đông Nam, có nhiều thác gềnh với tốc độ dòng chảy rất lớn
Trang 8h-* Miền núi đá chiếm diện tích lớn nhng bị xé nhỏ không liên tục, không rõnét nh ở Bắc bộ Có thể chia miền đồi núi thành 3 bộ phận:
Bản đồ tỉnh thanh Hoá
Các điểm thu mẫu: 1 - Hậu Lộc, 2 - Quảng Xơng
- Miền đồi núi sông Mã: Đây là bộ phận cực đông của khối Tây Bắc nớc
ta, có các đặc điểm:
Trang 9Miền này kéo dài một dải Tây Bắc - Đông Nam, chiếm toàn bộ phía bắcdài hơn 180 km từ biên giới Việt Lào đến ven biển Đông giáp Ninh Bình Vùngnúi này hẹp chiều ngang, nơi rộng nhất chỉ hơn 20 km (Vĩnh Lộc, Thạch Thành).Núi đá vôi ở đây chiếm tỷ lệ lớn, đây là phần cuối của dãy đá vôi lớn nhất nớc ta(400 km) tính từ Thanh Hoá đến Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình chạy qua các huyệnBá Thớc, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Bỉm Sơn, Nga Sơn kéodài đến tận sát nớc biển, dài khoảng 150 km kết thúc là dãy núi Tam Điệp.
- Miền đồi núi phía Tây: giới hạn vùng núi này phía bắc đến sông Mã,phía nam đến hết lu vực sông Chu Đây là miền đồi núi chiếm diện tích lớn nhấtcả tỉnh, gồm chủ yếu nằm ở các huyện Quan Hoá, Bá Thớc, Cẩm Thuỷ, LangChánh, Ngọc Lạc, Thờng Xuân và lấn xuống huyện Thọ Xuân, Yên Định, TriệuSơn Miền đồi núi này có đặc điểm:
Cấu tạo địa chất các núi đá có nguồn gốc macma chiếm diện tích lớn
Về lịch sử hình thành: đây là bộ phận của hệ thống gọi là cánh cung sôngMã Với đặc điểm trên, đây là vùng có khí hậu mát lạnh nhất của cả tỉnh, với l-ợng ma hàng năm là 2.000mm, có nơi trên 2.500mm
- Miền đồi núi phía nam: giáp với tỉnh Nghệ An, thuộc các huyện NhXuân, Nh Thanh và lấn sang cả vùng Nông Cống, Tĩnh Gia, có các đặc điểm sau:
Là miền núi thấp so với cả tỉnh, địa hình chủ yếu là lợn sóng, ít nhô cao, ít
có đá vôi nổi lên thành khối đồ sộ Theo các nhà nghiên cứu đây là vùng đồi núirìa bộ phận núi chạy từ Lào đến Nghệ An gọi là cung “Pù Hoạt” Phía tây giápNghệ An, gặp đỉnh Bù Kha cao 900m Phía đông gặp đỉnh Bù Đăng giảm độ caocòn 541m, rồi đến núi Lu ở Thanh Lâm 619m, Bù Mụn ở Hoá Quỳ 794m
* Đồng bằng Thanh Hoá mang tính chất của một đồng bằng châu thổ dophù sa các sông bồi đắp Gồm có ở các huyện Nga Sơn, Bỉm Sơn, Hà Trung,Vĩnh Lộc, vợt qua sông Mã chạy rìa qua các huyện Yên Định, Thờng Xuân, NhXuân, vợt qua sông Chu, qua Triệu Sơn, dọc núi Na đi qua Nông Cống về phíanam đến Tĩnh Gia
Đồng bằng ở đây có độ dốc từ 0,28 – 0,33m/km Càng về phía đông địahình càng thấp dần
Vùng đất cát ven biển chạy dọc theo bờ biển là một vùng đất cát mịn, càng
về phía nam càng hẹp dần Tại Nga Sơn rộng 6 – 7 km, nhng đến Tĩnh Gia chỉcòn khoảng 1,5 km Độ cao vùng này lớn hơn hơn hẳn vùng đồng bằng trong đấtliền, trung bình cao từ 3 – 4m, có nơi cao tới 6 – 7 m nh ở Tĩnh Gia, Quảng X-
ơng Vùng cát ven biển tạo nên những dải chắn nớc mặn không cho xâm nhậpvào vùng đất liền ở vùng Nga Sơn có một số nét riêng do phù sa hệ thống sôngHồng đa ra biển qua cửa sông Đáy, sông Ninh từ đó bồi đắp cho Nga Sơn, hìnhthành các dải cát màu mỡ và các vùng đầm lầy trồng cói
Trang 102.2 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn:
2.2.1 Khí hậu:
Khí hậu Thanh Hoá là khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, ít ma,
có sơng giá Mùa hè lợng ma nhiều, có gió Tây Nam khô nóng Với chế độ bứcxạ của miền nhiệt đới và vị trí đặc thù, khí hậu Thanh Hoá bị chi phối bởi sự tơngtác giữa hoàn lu gió mùa và mặt biển tác động vào các khối núi theo các hớngkhác nhau Có 2 mùa gió: gió đông bắc vào mùa đông, gió tây nam vào mùa hè
+ Thời gian chiếu sáng: Độ dài ngày ở Thanh Hoá từ 12 giờ đến 15 giờ 30phút trong thời gian từ giữa mùa xuân đến giữa mùa thu Từ 10 giờ 30 phút đến
12 giờ trong thời gian còn lại Thời gian chiếu sáng dài nhất là tháng VI, cònngắn nhất là tháng XII Tổng chiếu sáng hàng năm là 4.400 giờ
+ Nắng: Số giờ nắng cả tỉnh hàng năm là 1.660 giờ đến 1.760 giờ Trong
đó các tháng có số giờ nắng trên 150 giờ là các tháng mùa hè (tháng VII: 24 giờ,tháng V trên 200 giờ) Số giờ nắng ít vào mùa đông xuân (tháng I đến tháng IV),trong đó số giờ nắng ở tháng II và tháng III xấp xỉ là 50 giờ
+ Tổng xạ (tổng của trực xạ - tán xạ): Trung bình là 100 – 1.200kcal/cm2, thay đổi theo khu vực và theo các tháng trong năm Các tháng mùa hè(tháng V đến tháng X) có tổng xạ cao 10 kcal/cm2, tháng V cao nhất (trên 12,5kcal/cm2) Tháng có tổng xạ thấp là tháng XII năm nay đến tháng IV năm sau.Những tháng này có tổng xạ thấp hơn 8 kcal/cm2 Đặc biệt tháng I và tháng II chỉ
đạt 6 kcal/cm2
+ Chế độ gió:
Về mùa đông: Gió Đông bắc chiếm u thế, có tần suất lớn hơn các thànhphần gió Tây và Nam
Về mùa hè: Gió Tây Nam chiếm tần suất cao hơn các thành phần gió bắc
Về tốc độ gió: Chỉ giao động trong phạm vi 2 – 3m/s và không khác biệtgiữa các tháng trong năm Tuy vậy vùng ven biển phía nam và vùng núi đồi phíatây có sự khác biệt đáng kể Chẳng hạn, ở Tĩnh Gia tháng X và tháng XI đạt2,3m/s, trong khi đó ở phía tây chỉ đạt 1,3m/s
+ Nhiệt độ không khí trung bình 22 – 230C, tuy nhiên không có sự khácbiệt đáng kể giữa đồng bằng và miền núi Biên độ giao động nhiệt độ trong năm
Đặc biệt khí hậu ven biển có những đặc trng sau: nhiệt độ nền cao, ít có
s-ơng muối và giá, mùa hè nóng và khô, lợng ma tăng từ bắc vào nam, độ ẩm lớnvào các tháng I, II, III, có hai thời kỳ khô không ổn định
Trang 11+ Đặc điểm của vùng ven biển:
- Tổng nhiệt: 8.500 – 8.6700C
- t0 theo năm: 11 – 120C
- t0 theo ngày: 6 – 70C
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối: dới 20C
- Nhiệt độ cao tuyệt đối: trên 41,50C
- Tháng có nhiệt độ trung bình dới 200C: từ tháng XII đến tháng III nămsau
- Tháng có nhiệt độ trung bình trên 250C: từ tháng V đến tháng XI
- Lợng ma trung bình/năm: 1.500 – 1.900mm
- Mùa ma từ tháng V đến tháng X, chiếm 86 – 88% lợng ma cả năm
- Độ ẩm trung bình 85 – 86%
- Tốc độ gió trung bình/năm: 1,5 – 1,8m/s Tốc độ mạnh nhất trong bão:
35 – 40m/s Tốc độ gió mùa đông dới 2,5m/s
Một số chỉ số khí hậu tỉnh Thanh Hoá
Ghi chú: T: Nhiệt trung bình hàng tháng U:Độ ẩm trung bình
R: Lợng ma trung bình/tháng S: Số giờ nắng trung bình/ngày
T : Biên độ giao động nhiệt độ các ngày trong tháng.
Trang 123 Đặc điểm sinh giới
(Dipterocarpaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Đậu (Leguminosae).
+ Tầng sinh thái: Gồm các cây gỗ cao từ 20 – 30m, thân thẳng,cành lá giao nhau thành vòm liên tục, gồm đa số các cây thờng xanh, có các họ
chủ yếu: họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Trám (Burceraceae),
họ Mộc lan (Magnoliaceae).
+ Tầng dới tán: Gồm các cây mọc rải rác cao từ 8 – 10m, ngoài ra
còn có cây cá thể Có các họ chủ yếu: họ Bứa (Clesidae), họ Du (Ulmiceae), họ
Na (Anonaceae).
+ Tầng cây bụi thấp: Gồm có các cây bụi cao từ 2 – 8m Có các họ
Cà phê (Rubiaceae), họ Trúc đào (Apocyaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
+ Tầng cỏ quyết: gồm các cây cao không quá 2m Có các họ: họ
Môn (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Hành tỏi (Liliaceae) và các loài
Dơng xỉ dới tán
* Rừng nứa lá rụng nhiệt đới ẩm: có ở vùng Nh Thanh, Nh Xuân Lợng matrung bình hàng năm ở vùng này là 1.500 – 1.800mm, độ ẩm trung bình trên85%
* Rừng rậm nhiệt đới ẩm trên đá vôi: Có ở vùng phía tây bắc Thanh Hoátiếp nối với Sơn La, Hoà Bình Vùng này có lợng ma và độ ẩm thấp hơn so vớicác kiểu rừng trên
* Trảng cây bụi savan nhiệt đới:
Gặp nhiều ở các vùng bán sơn địa các huyện Thạch Thành, Ngọc Lạc, BáThớc, Cẩm Thuỷ
Ưu thế của kiểu sinh thái này là các thảm cỏ, các tầng cây bụi vợt lên mọcrải rác Đây là vùng bị tác động mạnh bởi con ngời Trớc kia nơi đây là vùngrừng rậm, sau đó trở thành những savan, có một số vùng trở thành đồi núi trọc
* Đồng bằng và dải cát ven biển: Thảm thực vật tự nhiên bị thay thế bằngthảm thực vật nhân tác chủ yếu cây nông nghiệp ở vùng thấp gồm các cây nh:Lúa nớc, Khoai, Sắn, Đậu, Lạc ; cây ăn quả nh Cam, Chanh, Chuối; cây lấy gỗ
Trang 13nh Xoan, Phi lao, Bạch đàn, Vùng ven biển thảm thực vật nghèo, gồm các cây u
thế nh Phi lao (Casuarina equisetifolia), cỏ Lông chông, Dứa dại, Cúc dại,
Bò sát ếch nhái có các họ phổ biến: họ ếch (Ranidae), họ Cóc (Bufonidae),
họ Nhái bầu (Microhylidae), họ ếch cây (Rhacophoridae), họ Tắc kè (Gekkonidae), họ Nhông (Agamidae), họ Rắn nớc (Colubridae), họ Rắn hổ (Elapidae).
Côn trùng có đầy đủ các bộ lớn đặc trng ở Việt Nam nh Bộ Cánh cứng
(Coleoptera), Bộ Cánh màng (Hymenoptera), Bộ Cánh nửa (Hemiptera), Bộ Cánh phấn (Lepidoptera), Bộ Cánh thẳng (Orthoptera).
4- Đặc điểm xã hội nhân văn
Thanh Hoá gồm có dân tộc Kinh chiếm chủ yếu (84.7%) ngoài ra còn códân tộc Mờng (8.7%), dân tộc Thái (6%) còn lại là số dân tộc ít ngời Mật độ dân
số bình quân 300 ngời/ km2 ở miền núi bình quân 95 ngời/ km2, ở các huyện
đồng bằng và ven biển bình quân 700 ngời /km2 Đại bộ phận dân c làm nôngnghiệp, quanh năm gắn bó với đồng ruộng, số ít làm nghề thủ công nghiệp, buônbán nhỏ
Hoạt động của con ngời có tác động đến đa dạng động vật, đặc biệt ở vùngven biển có sự mở rộng khu trồng trọt, phủ rừng chắn cát Đồng thời ở Quảng X-
ơng còn mở mang các khu du lịch nên ảnh hởng không nhỏ tới đa dạng động vật
ở khu vực này
Chơng II
Địa điểm, thời gian và phơng pháp nghiên cứu
1- Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu trên các quần thể Nhông cát thuộc hai huyện QuảngXơng và Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá
Các quần thể I (Quảng Xơng): Gồm các xã Quảng Thái, Quảng Lu,nghiên cứu các quần thể theo sinh cảnh
- Quần thể bãi cỏ có cây bụi nhỏ, bãi tha ma có diện tích 4 – 5 ha Thànhphần thực vật chủ yếu là Cỏ gà, Cỏ ba lá và một số cây bụi: Dứa dại, Cúc dại,Chuối và Phi lao cây nhỏ, cách mép nớc biển từ 0,5 – 1,5 km
Trang 14- Sinh cảnh rừng trồng Phi lao từ nhiều năm: Thành phần thực vật chủ yếu
là Phi lao cao từ 5 – 10m, phía dới còn có một số cây bụi nhỏ ở những nơi cónhiều ánh sáng còn có các cây bụi nhỏ
Diện tích khoảng 6 – 7 ha, cách biển khoảng 100 – 150m
Quần thể II (Hậu Lộc): tại xã Hải Lộc
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên các quần thể có trồng Phi lao và bãitha ma sát biển (có trồng Phi lao nhng ít) Đây là khu vực bờ biển đang bị sạt lở
và có xu hớng tiến sâu vào đất liền
2 - Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành từ tháng 6/ 2000 đến tháng 8 / 2002, vào 2 mùahoạt động của Nhông cát
+ Từ tháng 6/2000 – 10/2001: Nghiên cứu sinh thái học và thu thập mẫuvật Nhông cát trên thực địa
+ Từ tháng 11/2001 – 3/2002: Thu thập tài liệu, xử lý số liệu lần thứ nhất
3 - T liệu nghiên cứu và mẫu vật:
3.1 Hình thái mẫu nghiên cứu tại các quần thể.
Bảng 1: Số lợng mẫu vật nghiên cứu tại các quần thể
Đực hậu bị
Cái hậu bị
Cá thể non
Tổng số
3.2 T liệu nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu nghiên cứu về Nhông cát, về điều kiện tự nhiên - xãhội vùng nghiên cứu
Trang 15- Thiết bị nghiên cứu: Kính hiển vi, kính soi nổi, kính lúp cầm, bẫy ống,bẫy kẹp và các dụng cụ bắt mẫu.
- Hoá chất: Cồn 900, formon 40%
4 - Phơng pháp nghiên cứu
4.1 phơng pháp Thu mẫu và xử lý mẫu
+Cách thức thu mẫu: Thu thập tất cả các mẫu vật bằng bẫy và đào hang.
Mỗi quần thể thu với số lợng mẫu đủ để nghiên cứu xử lý thống kê (với n 30)
Thu thập các mẫu vật theo các giờ cố định:
+ Xử lý, bảo quản mẫu:
- Mẫu sau khi thu đợc đem cố định trong cồn 900, bảo quản trong bô cannhựa 15 x 40cm
- Mỗi mẫu đợc gắn 1 nhãn ở khớp gối chi sau, kèm theo một phiếu ghi cácchỉ số:
+ Địa điểm thu mẫu: ngày tháng năm thu giờ
+ Sinh cảnh thu mẫu:
+ Thời tiết, nhiệt độ không khí, nhiệt độ nền cát
+ Tên địa phơng+ Tên phổ thông+ Giới tính con vật
+ Cách thu mẫu
+ Ngời thu mẫu
+ Tình trạng con vật lúc thu
4.2 phơng pháp Nghiên cứu hình thái
+ Nghiên cứu màu sắc
Trang 16- Nghiên cứu sự thay đổi màu sắc đặc trng giữa cá thể đực và cá thể cái ởng thành Màu sắc lng bụng, các dải sọc bên lng, các dải sọc ngang bên sờn,màu sắc của đầu và chi.
tr Phân tích sự thay đổi màu sắc ở, cá thể non, cá thể hậu bị, cá thể trởngthành Từ đó xác định sự khác biệt màu sắc giữa các lứa tuổi
+ Nghiên cứu hình thái cơ thể:
Theo các tài liệu của Bourret (1937)[53], Ngô Đắc Chứng (1991)[4]Darevsky (1993)[43], Hoàng Xuân Quang, Cao Tiến Trung (2000)[25] chúng tôitiến hành phân tích các chỉ tiêu:
+ Dài thân (SVL): Chiều dài từ mút mõm đến khe huyệt
+ Dài đuôi (TL): Chiều dài từ khe huyệt đến mút đuôi
+ Đờng kính mắt (EL): Chiều dài giữa hai đuôi mắt (tính theo chiềungang)
+ Dài mõm tai (Se.L): Chiều dài từ mút mõm đến trớc màng nhĩ
+ Rộng đầu (HL): Chiều rộng của đầu tại nơi có số đo lớn nhất
+ Dài chi trớc (FLL): Chiều dài từ gốc chi trớc đến mút ngón tay dài nhất.+ Dài chi sau (HLL): Chiều dài từ gốc đùi đến mút ngón chân dài nhất.+ Dài nách bẹn (AGL): Chiều dài từ nách đến mép trớc của gốc đùi
+ Rộng đuôi (Ta.L): Bề dày của đuôi tại ví trí rộng nhất
+ Dài bụng (VLo): Chiều dài từ nếp gốc cổ đến khe huyệt
+ Số vảy môi trên (SL): Số lợng tấm mép trên ở một bên
+ Số vảy môi dới (SI): Hình thái tấm mép dới ở một bên
+ Vảy thân (VL): Số vảy quanh một vòng bụng tại vị trí lớn nhất
+ Trọng lợng cơ thể (P): Khối lợng cơ thể tính bằng gam, sai số đến 0,01
4.3 Các phơng pháp nghiên cứu sinh thái học Nhông cát
+ Phơng pháp nghiên cứu môi trờng sống, nơi ở, tập tính:
Trang 17- Quan sát, mô tả và chụp ảnh môi trờng sống của Nhông cát Xác định cácthành phần thực vật ở những nơi có Nhông cát sinh sống.
- Đào hang và đo các chỉ tiêu:
+ Chiều dài hang
+ Chiều sâu hang
+ Chiều rộng cửa hang
+ Chiều cao cửa hang
+ Số cá thể/hang
+ Số ngách phụ
+ Hớng cửa hang
+ Khoảng cách cửa hang và lối thoát phụ
+ Phơng pháp nghiên cứu mật độ quần thể.
Bịt tất cả các hang vào buổi sáng, tính số cửa hang bị phá Sau đó đào tấtcả các hang để xác định số cá thể có trong ô tiêu chuẩn 20m x 20m Mật độ cá thể
đợc tính trung bình cho 1m2
+ Phơng pháp nghiên cứu thành phần tuổi:
Thu thập tất cả các mẫu vật theo các tháng trong mùa hoạt động củaNhông cát (từ tháng IV đến tháng X) Sau đó phân tích tỷ lệ thành phần tuổi củaNhông cát theo các lứa tuổi
Cá thể non: Từ lúc mới sinh cho đến khi bắt đầu xuất hiện một số đặc điểmsinh dục phụ
Cá thể hậu bị: Từ lúc xuất hiện các đặc điểm sinh dục phụ đến khi hìnhthành tất cả các đặc điểm sinh dục, có khả năng giao phối
Cá thể trởng thành: Có đầy đủ các đặc điểm sinh dục
Trang 18- S2 m: phân bố rãi rác
- S2 > m: phân bố theo nhóm
+ Phơng pháp nghiên cứu tỷ lệ đực - cái
Thu thập toàn bộ các mẫu vật ngẫu nhiên xác định số cá thể đực và cái ởmỗi quần thể Tính tỷ lệ % cá thể đực cái
+ Phơng pháp nghiên cứu dinh dỡng
Những mẫu sau khi thu, đợc định hình ngay và mổ dạ dày, xác định thànhphần thức ăn có trong dạ dày Phân tích thức ăn trong dạ dày đến bộ, riêng một
Các mẫu thức ăn thu theo từng giờ đợc giữ riêng để phân tích Xác định độ
no theo từng giờ chia thời gian hoạt động thành 8 thời điểm thu mẫu trong ngày
để thấy rõ tốc độ kiếm mồi của Nhông cát
x 100
P
P P J
n n
So sánh sai khác các tính trạng giữa đực và cái trởng thành:
Trong từng quần thể theo phân phối chuẩn χ 2:
2 1 2 1 2
χ mx XX mx
Trong đó: X1 , X2 là các giá trị trung bình các tính trạng của các cá thể
đực và cá thể cái
mx1; mx2 là sai số trung bình giữa x1 và x2
So sánh sai khác giữa các quần thể theo phân phối Test - Student:
Trang 192 1 2
1 X X
Trong đó X1, X2 là giá trị trung bình các tính trạng của quần thể
1; 2 là phơng sai của các giá trị tại X1 và X2
1X
1.1 Giống Leiolepis Cuvier:
Đặc trng: Cơ thể có dạng hơi dẹt, trên cơ thể không có mào, gờ hoặc bờm.Vảy lng nhỏ hơn vảy bụng; Vảy lng có dạng tháp hoặc dạng nón Không có túihọng rõ ràng nhng có một hoặc hai nếp gấp cổ; màng nhĩ rõ, có lỗ đùi Các vảy
Trang 20dới bụng, dới đuôi và mặt dới các chi gần nh đồng dạng nh những dãy vảy ngang.Hai bên thân có nếp gấp có thể bành rộng khi chạy hoặc doạ nạt kẻ thù
1 2 Đặc điểm hình thái cá thể trởng thành:
Leiolepis reevesii reevesii (Gray, 1831).
1831 – Uromasty reevesii (sic) Gray, in Griffith ano/ fidgen Anion king
- Có 46 – 54 vảy bụng, phân biệt rõ với các vảy nhỏ ở lng
- Có 10 – 13 vảy vợt qua phần giữa mặt dới đốt ống
Có 7 tấm môi trên, 8 tấm môi dới, 46 hàng vảy mặt bụng, có 12 vảy vợtqua mặt dới đốt ống, có 14 lỗ đùi ở mỗi bên
Trang 21Vảy lng có dạng hạt, phân biệt rõ với các vảy bụng sắp xếp theo hàng Mặtdới ống tay, ống chân phủ các vảy lớn nh vảy bụng Mặt trên ống tay, ống chân
có các vảy nhỏ dạng hạt giống với vảy lng
- Vảy dới đuôi lớn hơn vảy bụng có bờ nhọn xếp thành hàng Phía trên của
đuôi cũng có các vảy nhỏ nh vảy lng
Phần đầu, má, cằm có các chấm màu vàng, màu gạch trên nền xám trắng
Từ phía sau màng nhĩ có hai dải sọc gồm các chấm màu vàng gạch viền xám,nền đen Các chấm này đợc phát triển từ 2 dải sọc bên lng của cá thể non, khi tr-ởng thành thờng đứt quãng Giữa 2 dải sọc chấm ở hai bên là các chấm cũng cómàu vàng gạch, viền xám, nền đen nhng nhỏ hơn và không đậm nh hai dải bên
Hai bên sờn có 8 sọc ngang, màu đỏ gạch rất đậm, nền rất đen, sọc ở phíagần nách không phân biệt rõ mà kết nối lại với nhau Mặt trên của ống tay, ốngchân màu xám, xen lẫn có các chấm màu vàng hoặc màu trắng Phía gần gốc tay
và gốc đùi có các chám màu vàng, phía ngoài có màu trắng Mặt dới của cằm,bụng và đuôi có màu trắng xám
Trang 221.4 Khoá định loại các loài thuộc giống Leiolepis ở Việt Nam (theo Cao Tiến
2 - Có 7 – 12 vảy vợt qua mặt dới đốt ống, có 46 – 54 vảy bụng; 29 –
34 bản mỏng dới ngón IV chi sau; 12 – 18 lỗ đùi Vảy bụng có độ lớn gấp 3 –
5 lần vảy lng L reevesii
- Có 13 – 25 vảy vợt qua mặt dới đốt ống, có 36 – 54 vảy bụng; 37 – 45bản mỏng dới ngón IV chi sau; 18 – 26 lỗ đùi Vảy bụng có độ rộng gấp 2 lần
vảy lng L.guttata
3 - Có 7 - 14 vảy vợt qua điểm giữa đốt ống, có 20 - 36 vảy bụng; 32 - 41
bản mỏng dới ngón IV chi sau; 13 - 20 lỗ đùi Bụng màu trắng đục L belliana
- Có 14 - 18 vảy vợt qua điểm giữa đốt ống, có 20 - 40 vảy bụng; 41 - 43bản mỏng dới ngón IV chi sau; 21 - 24 lỗ đùi Bụng màu trắng đục xen lẫn các
chấm màu trắng sáng L guentherpetersi.
Bảng 2 Đặc điểm hình thái Nhông cát Leiolepís reevesii ở hai quần thể
Quảng Xơng và Hậu Lộc.
Đực(n =16) Cái(n = 23) Đực (n = 13) Cái (n = 23)
Trang 23Cơ thể cha xuất hiện màu sắc đặc trng mà chỉ có màu sắc phổ biến là màutrắng nền màu xám xanh Các cá thể non bắt gặp nhiều ở bờ bụi, rất ít khi chúngchui vào hang Chúng tôi quan sát thấy thờng là cá thể non đi kiếm ăn lang thang
ở vùng bãi cỏ có cây bụi nhỏ Không gặp chúng ở sinh cảnh Phi lao trồng từnhiều năm Có thể là do cá thể non đợc sinh ra ở khu vực bãi cỏ có cây bụi nhỏnên chúng tập trung chủ yếu ở khu vực này hoặc đây là nơi tập trung nhiều thức
ăn, có nhiều bụi cây thấp là nơi ẩn nấp phù hợp
Trang 24Nghiên cứu hình thái của 20 cá thể nhông cát ở giai đoạn cá thể non khuvực xã Quảng Thái - huyện Quảng Xơng - tỉnh Thanh Hoá trong tháng 7/2001cho thấy có một số chỉ tiêu hình thái (bảng 3).
Các tính trạng: Số vảy môi trên, số vảy môi dới, vảy thân và số lỗ đùi ít có
sự sai khác so với cá thể trởng thành Các tính trạng khác có sự sai khác nhiềuhơn Có thể xem đây là những tính trạng ít có biến dị theo lứa tuổi ở Nhông cát
Xét hệ số biến dị (CV) các tính trạng cá thể non quần thể Quảng Xơngthấy rõ các tính trạng đờng kính mắt (11,8), rộng đầu (10,12), rộng đuôi (10,88),dài bụng (11,14), số bản mỏng dới ngón I chi trớc (17,82) và số bản mỏng dớingón IV chi sau (17,28), có biên độ dao động lớn Nh vậy kết quả nghiên cứu về
hệ số, thấy rõ những tính trạng này biến đổi nhiều theo lứa tuổi
Bảng 3: Đặc điểm hình thái cá thể non quần thể Quảng Xơng
Trang 252.2 Cá thể hậu bị
Giai đoạn hậu bị của Nhông cát đợc tính từ lúc xuất hiện các đặc điểm sinhdục phụ (từ tuần thứ 6) cho đến lúc bắt đầu thành thục sinh dục Giai đoạn này đãphân biệt khá rõ cá thể đực và cá thể cái Đặc điểm về màu sắc phân biệt ở thời
kỳ hậu bị là sự xuất hiện màu đỏ ở hai bên hông của cá thể đực ở cá thể cái cócác đốm màu vàng nhạt ở vùng đầu, vùng má và vùng cổ Hai dải sọc bên đứtquãng, tạo thành các chấm oval Các đốm ở lng bắt đầu xuất hiện vòng viền xámbao quanh Cuối giai đoạn hậu bị đã hoàn thiện các đặc điểm về màu sắc và hìnhdạng bên ngoài, nhng kích thớc nhỏ hơn so với cá thể trởng thành
Nghiên cứu hình thái cá thể đực và cái giai đoạn hậu bị khu vực xã QuảngThái - huyện Quảng Xơng và khu vực xã Hải Lộc - huyện Hậu Lộc - tỉnh ThanhHoá đợc thể hiện ở bảng 4 và bảng 5
Qua nghiên cứu ở hai quần thể cho thấy ở cá thể đực hậu bị (bảng 5) cáctính trạng ít có sự sai khác so với cá thể trởng thành là: Số vảy môi trên (7,45 và8,17), số vảy môi dới (8,47 và 8,54), vảy thân (40,90 và 39,50), số lỗ đùi (13,70
và 13,64), số vảy dới đốt ống (11,03 và 10, 58), số bản mỏng dới ngón I chi trớc(9,43 và 9,58), số bản mỏng dới ngón IV chi sau (30,43 và 29,42) Các tính trạng
ở cá thể cái của hai quần thể ít có sai khác so với cá thể trởng thành là: Số vảymôi trên (7,62 và 8,00), số vảy môi dới (8,35 và 8,50), số vảy thân (41,15 và39,00), số lỗ đùi (14,00 và 13,50), số bản mỏng dới ngón I chi trớc (10,12 và11,40), số bản mỏng dới ngón IV chi sau (31,08 và 31,0), đờng kính mắt (5,09 và4,55) Nh vậy nghiên cứu trên cho thấy các tính trạng đếm đợc ít có sự thay đổigiữa các lứa tuổi cá thể non, cá thể hậu bị và cá thể trởng thành
Các tính trạng ở cá thể hậu bị có sai số trung bình lớn chứng tỏ ở đây cha
có sự ổn định về hình thái ở giai đoạn này
Xét mức độ biến dị cá thể cái hậu bị(bảng 4) ở quần thể Quảng Xơngkhẳng định chúng có nhiều tính trạng cha ổn định đó là: dài thân (16,75), dàimõm tai (14,76), rộng đầu (16,9), dài chi trớc (20,81), dài chi sau (16,47), dài
Trang 26nách bẹn (19,44), rộng đuôi (17.05), dài bụng (18,55), rộng bụng (21,34) Cáccá thể cái hậu bị quần thể Hậu Lộc (bảng 4) có sự sai khác ít hơn ở các tính trạng
đòng kính mắt (10,77), rộng đuôi (23,1), số vảy thân (10,87) và số bản mỏng dớingón I chi trớc (12,7)
Cá thể đực hậu bị ở quần thể Quảng Xơng (bảng 5) có sự sai khác, mức độbiến dị cao ở các tính trạng dài thân (11.88), dài đuôi (18,26), dài mõm tai(14,68), dài chi trớc (17,74), dài chi sau (14,11), dài nách bẹn (21,56), rộng đuôi(14,71), dài bụng (21,98), rộng bụng (20,3), số lỗ đùi (10,56), số vảy dới đốt ống(10,88) và số bản mỏng dới ngón I chi trớc (11,13)
Các cá thể đực hậu bị ở quần thể Hậu Lộc (bảng 5) có mức độ biến dị cao
ở các tính trạng: Đờng kính mắt (10,68), rộng đầu (13,03), dài chi sau (12,55), sốvảy môi trên (11,51), vảy thân (11,65) và số vảy dới đốt ống (21,46)
Xét hệ số biến dị trên hai quần thể Hậu Lộc và quần thể Quảng Xơng chothấy ở quần thể Quảng Xơng các cá thể hậu bị có nhiều tính trạng biến dị cao (9tính trạng ở cá thể cái và 12 tính trạng ở cá thể đực) so với quần thể Hậu Lộc (4tính trạng ở cá thể cái và 6 tính trạng ở cá thể đực)
Bảng 4: Đặc điểm hình thái cá thể cái hậu bị ở Quảng Xơng và Hậu Lộc
Trang 27Ghi chú
Bảng 5: Đặc điểm hình thái cá thể đực hậu bị ở Quảng Xơng và Hậu Lộc
Trang 28Mức độ biến dị quần thể cao ở cá thể cái quần thể Quảng Xơng có 3 tính trạng: Dài đuôi (16,35), dài mõm tai (11,3), rộng đuôi (10,42) Cá thể cái quần thể Hậu Lộc thể hiện mức độ biến dị cao ở 7 tính trạng đó là: Rộng đuôi (10.64), dài bụng (14,3), số vảy môi trên (10,24), số vảy môi dới (10,24), số vảy dới đốt ống (25,04), số bản mỏng dới ngón I chi trớc (20,43) và số bản mỏng dới ngón IV chi sau (11,52) Theo Mayr, (1970) các tính trạng có hệ số biến dị cao thể hiện ở các quần thể ngoại biên Quần thể Quảng Xơng, quần thể Hậu Lộc là những quần thể ở giới hạn phân bố gián đoạn cuối
Trang 29cùng của Leiolepis reevesii có thể xem là vùng phân bố ngoại biên chính vì vậy có hệ
số biến dị cao phù hợp với điều kiện tự nhiên ở các vùng này.
Quần thể Hậu Lộc có sự sai khác ở 12 tính trạng đó là: Dài thân (15,3), dài
đuôi (17,88), rộng đầu (15,52), dài chi sau (12,12), dài nách bẹn (15,23), rộng
đuôi (11,14), dài bụng (17,93), rộng bụng (13,72), số vảy môi trên (11,34), sốvảy môi dới (14,14), vảy thân (11,56), vảy dới đốt ống (13,27)
Nh vậy quần thể Hậu Lộc có số tính trạng biến dị cao (12 tính trạng) nhiềuhơn so với quần thể Quảng Xơng (5 tính trạng) Mặt khác các tính trạng ở cá thể
đực quần thể Hậu Lộc có biên độ giao động cao hơn các tính trạng ở cá thể đựcquần thể Quảng Xơng
Bảng 6: Đặc điểm hình thái cá thể cái trởng thành ở Quảng Xơng và Hậu Lộc
TT Tính trạng Quảng Xơng (n = 23) Hậu Lộc (n = 23) Ghi
16.Vảy dới đốt ống 10,90 0,89 8,17 0,19 11,70 2,93 25,04 0,60 17.Số bản mỏng dới ngón I chi trớc 10,00 0,56 5,6 0,12 9,30 1,90 20,43 0,39 18.Số bản mỏng dới ngón IV chi sau 31,00 2,08 6,71 0,43 29,60 3,41 11,52 0,70
Trang 30Bảng 7: Đặc điểm hình thái cá thể đực trởng thành ở Quảng Xơng và Hậu Lộc
Hình thái cá thể trởng thành khi chúng tôi nghiên cứu thì thấy kết quả gần
nh tơng đơng với kết quả nghiên cứu ở Nghệ An và Hà Tĩnh của các tác giảHoàng Xuân Quang, Cao Tiến Trung (2001) [35]
3 Phân biệt giới tính:
3.1 Màu sắc
Nghiên cứu hình thái bên ngoài có thể phân biệt rõ ràng cá thể đực và cái
về màu sắc đặc trng và hình dạng các chấm oval trên lng, thể hiện ở bảng 8:
Trang 31sáng hoặc trắng xanh.
- Dải sọc
Phát triển từ cá thể non,kéo từ mắt đến mút đuôithành các chấm oval giữa
có màu vàng gạch, viềnxám, nền đen, xếp theohàng Đậm hơn các ở vùnglng
Dải sọc vẫn giữ nguyên
Nhỏ hơn cá thể đực Chỉ
có một số chấm màuvàng xanh, nền xám
ở cá thể đực vùng chẩm, vùng má và vùng dới cằm có các chấm màu vànggạch hoặc đỏ gạch, nền có màu xám sáng hoặc trắng xanh Nhng ở cá thể cái chỉ
có các chấm màu vàng nhạt nền xám
Hai dải sọc bên lng phát triển từ thời kỳ cá thể non kéo từ sau mắt đến mút đuôi
ở cá thể đực biến đổi thành các chấm oval giữa có màu vàng gạch viền xám, nền
đen nhng vẫn xếp theo hàng Các chấm này đậm hơn các chấm oval ở giữa lng Đốivới cá thể cái hai dải sọc này vẫn giữ nguyên có màu trắng xám, không đứt quãng
Vùng hai bên hông của Nhông cát có nếp da lng chỉ xoè ra khi chạy hoặckhi doạ nạt con mồi ở cá thể đực nếp da này lớn hơn nếp da cá thể cái
ở cá thể đực trên 2 nếp da này có tới 6 – 12 dải sọc màu đỏ thẫm nền đen.Nhng ở cá thể cái chỉ có một số chấm màu vàng xanh, nền xám
Vùng sau màng nhĩ và vùng giữa lng ở cá thể đực có các chấm oval màuvàng gạch viền xám, nền đen Nhng ở cá thể cái không có các chấm màu vàng
mà chỉ có các viền oval màu xám
Mặt trên và gốc chi trớc, chi sau, gốc đuôi ở cá thể đực có các chấm màu vàngnhạt trên nền xám đen, nhng ở cá thể cái có một ít chấm trắng trên nền xám
3.2.Những đặc điểm hình thái khác
Kết quả nghiên cứu sự sai khác giới tính giữa đực và cái ở quần thể QuảngXơng và quần thể Hậu Lộc thể hiện ở bảng 9 và bảng 10:
Trang 32Sử dụng hệ số Student để so sánh cá thể đực và cái cho thấy ở cả hai quầnthể trên, giữa đực và cái đều có sự sai khác, tuy nhiên chỉ có tính trạng dài thân(quần thể Hậu Lộc t =2,43) và tính trạng dài đuôi (quần thể Quảng Xơng t=3,3)
là có ý nghĩa về mặt thống kê
Nghiên cứu sự khác nhau giữa đực và cái ở quần thể Hậu Lộc,(bảng 9) cáctính trạng dài nách bẹn (t= 1,45), dài bụng (t= 1,66) có sự khác biệt cũng khácao Các tính trạng còn lại ít có sai khác hơn quần thể Quảng Xơng(bảng 10)cũng có tính trạng dài nách bẹn (t= 1,45) có cự sai khác khá cao giữa đực và cái.Các tính trạng còn lại ít có sự sai khác giữa đực và cái
Chúng tôi cũng hoàn toàn đồng ý với kết quả nghiên cứu của Hoàng Xuân
Quang (2001)[35] ở Nghệ An và Hà Tĩnh loài Leiolepis reevesii cá thể đực lớn hơn cá
thể cái về các tính trạng liên quan đến kích thớc Điều này đã đợc các tác giả trên giải thích, chúng liên quan đến đặc điểm sinh lý và là yếu tố đặc trng cho loài Tuy nhiên xét sự sai khác giữa đực và cái ở Thanh Hoá với Nghệ An và Hà Tĩnh các quần
thể Nhông cát ở Nghệ an và Hà Tĩnh có sự phân biệt giới tính rõ hơn đặc biệt ở Quần thể Quỳnh Lu sai khác đực cái ở 7 tính trạng; Quần thể Nghi Xuân sai khác đực cái ở 2 tính trạng
Bảng 9: So sánh các tính trạng hình thái giữa cá thể đực và cái ở
Trang 33Ghi chó: (*): TÝnh tr¹ng cã sù sai kh¸c thèng kª
Trang 34Bảng 10: So sánh các tính trạg hình thái giữa cá thể đực và cái ở quần thể
4 đặc điểm các tính trạng ở những quần thể nghiên cứu:
4.1 So sánh tính trạng hình thái cá thể hậu bị đực và cái giữa hai quần thể Quảng Xơng và Hậu Lộc:
- Cá thể đực hậu bị
Qua 18 chỉ tiêu nghiên cứu (thể hiện ở bảng 11) chúng tôi thấy: Sai khác về mặt thống kê ở các tính trạng dài duôi, dài mõm tai, dài chi trớc, dài chi sau, dài nách bẹn, dài bụng và vảy thân.
Bảng 11: Đặc điểm các tính trạng của cá thể đực hậu bị quần thể
Quảng Xơng và quần thể Hậu Lộc.
Trang 35B¶ng 12: So s¸nh c¸c tÝnh tr¹ng h×nh th¸i cña c¸ thÓ c¸i hËu bÞ ë
quÇn thÓ HËu Léc vµ Qu¶ng X¬ng.
Trang 364.2 So sánh các tính trạng hình thái của cá thể trởng thành giữa đực và cái
ở hai quần thể Quảng Xơng và Hậu Lộc.
4.2.1 Cá thể đực trởng thành
Qua số liệu ở bảng 13 cho thấy: Các cá thể đực giữa hai quần thể Hậu Lộc
và Quảng Xơng có sự khác nhau Chính sự khác nhau đó nó có ý nghĩa về mặtthống kê ở 6 tính trạng hình thái (bảng 13) Đó là đờng kính mắt (5,8 và 5,0), dàichi trớc (37,1 và 39,7), dài chi sau (66,4 và 68,8), vảy dới đốt ống (10,9 và 9,8 )
và số bản mỏng dới ngón IV chi sau (31,3 và 22,9) Các tính trạng còn lại có sựsai khác rất ít giữa hai quần thể này là dài mõm tai, rộng đầu, rộng đuôi, số vảymôi dới, môi trên, số lỗ đùi và số bản mỏng dới ngón I chi trớc
Kết quả này cho thấy có sự phân hoá về mức độ sai khác các tính trạng ởcá thể đực Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với các tác giả Darevsky (1993) HoàngXuân Quang và Cao Tiến Trung (2001) khi sự dụng các tính trạng có sự sai khác
ít nh dài mõm tai, số vảy môi dới, số vảy môi trên, số lỗ đùi, số bản mỏng dới
ngón I chi trớc nh các tính trạng đặc trng cho Leiolepis Những nghiên cứu của
chúng tôi cũng cho thấy các tính trạng này ở cá thể đực tại quần thể Quảng Xơng
và quần thể Hậu Lộc cũng có biên độ rất hẹp
Các tính trạng kích thuớc ở các cá thể đực lớn hơn so với kết quả chung(về cả cá thể đực và cá thể cái) mà các tác giả trên đã nghiên cứu Sở dĩ có hiện t-ợng này là do việc xử lý số liệu của chúng tôi tách rõ cá thể đực và cái Trong khi
đó các tác giả trớc tính trung bình cho cả hai giới đực và cái
Theo Trần Kiên (1976) việc tách các cá thể đực và cái riêng rẽ để so sánhgiữa các quần thể nhằm tránh đợc sự khác biệt do số liệu giới tính chi phối