1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu phát triển các mô hình tổ chức sản xuất trong nuôi trồng thủy sản huyện hải hậu tỉnh nam định

145 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 8,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhiều công tác tham gia tuyên truyền vận động và phát triển kinh tế hộ gia đình.Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ huyện Mỹ Lộc trong xâydựng NTM: Nhóm yếu tố về cơ chế

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Khắc Quỳnh

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫnkhoa học của TS Nguyễn Khắc Quỳnh Các kết quả nghiên cứu được trình bày trongluận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Đức Luyện

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên củabạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Khắc Quỳnh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức,thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam

đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Mỹ Lộc, tỉnhNam Định, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban chỉ đạo xây dựng Nôngthôn mới huyện, Chi cục Thống kê, Phòng Tài nguyên môi trường, Hội liên hiệp Phụ

nữ huyện, Trạm Khuyến nông, Trung tâm dạy nghề huyện Mỹ Lộc Ban chỉ đạo xâydựng Nông thôn mới xã Mỹ Tân, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh; Hội phụ nữ các xã Mỹ Tân,

Mỹ Thành, Mỹ Thịnh và các hộ gia đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốtquá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôihoàn thành luận văn

Trong quá trình làm đề tài, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn,nhưng do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạnchế nên khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâmđóng góp ý kiến của các Thầy, Cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn.Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Đức Luyện

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục biểu đồ viii

Danh mục sơ đồ viii

Danh mục hộp viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Đóng góp của luận văn 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 5

2.1 Cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ 5

2.1.1 Quan điểm về vai trò của phụ nữ 5

2.1.2 Quan điểm về xây dựng Nông thôn mới 12

2.1.3 Quan điểm của nhà nước Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 13

2.1.4 Nội dung nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 14

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 19 2.2 Cở sở thực tiễn về vai trò của phụ nữ 22

Trang 5

2.2.1 Những kinh nghiệm của một số nước về phát huy vai trò của phụ nữ trong

xây dựng Nông thôn mới 22

2.2.2 Những kinh nghiệm phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới của một số địa phương tiêu biểu ở Việt Nam 28

2.3 Những nghiên cứu có liên quan đến vai trò của phụ nữ nông thôn trong xây dựng cộng đồng 31

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra 46

3.2.2 Phương pháp điều tra thông tin 48

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 50

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 52

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 53

4.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 53

4.1.1 Khái quát kết quả thực hiện xây dựng Nông thôn mới huyện Mỹ Lộc 53

4.1.2 Vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc 57

4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định 81

4.2.1 Yếu tố về cơ chế chính sách 81

4.2.2 Yêu tố thuộc về bản thân người phụ nữ nông thôn 84

4.2.3 Yếu tố liên quan đến tố chức hội phụ nữ 87

4.2.4 Ảnh hưởng của các tổ chức chính quyền địa phương đến phụ nữ nông thôn 87 4.2.5 Đánh giá của phụ nữ về kết quả thực hiện các tiêu chí Nông thôn mới tại thôn xóm 89

4.2.6 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của phụ nữ trong việc tham gia xây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Đinh 90

4.3 Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ Lộc 93

Trang 6

4.3.1 Chính quyền địa phương tăng cường tạo điều kiện cho chị em phụ nữ

được hoàn thiện, phát triển bản thân một cách toàn diện 93

4.3.2 Quan tâm công tác khuyến nông và đào tạo nghề cho phụ nữ 94

4.3.3 Đổi mới, phát triển hình thức sản xuất, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật phát triển kinh tế hộ 94 4.3.4 Nâng cao trình độ học vấn, khả năng nhận thức của phụ nữ 94

4.3.5 Nâng cao vai trò của Hội phụ nữ 95

4.3.6 Tăng cường phối hợp hoạt động giữa Hội phụ nữ và các tổ chức chính trị xã hội khác 96 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97

5.1 Kết luận 97

5.2 Kiến nghị 98

Tài liệu tham khảo 100

Phụ lục 103

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Mỹ Lộc (2012-2016) 37

Bảng 3.2 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế phân theo loại hình kinh tế và phân theo khu vực kinh tế 38

Bảng 3.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế huyện Mỹ Lộc qua 3 năm, 2014-2016 43 Bảng 3.4 Chọn mẫu điều tra, đánh giá 48

Bảng 3.5 Thông tin cần thu thập và phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 49

Bảng 4.1 Mức độ hoàn thành các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Lộc đến hết 2017 53

Bảng 4.2 Đánh giá tình hình xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn Huyện Mỹ Lộc thông qua thực hiện các tiêu chí 54

Bảng 4.3 Mức vốn huy động xây dựng Nông thôn mới năm 2016-2017 57

Bảng 4.4 Thông tin chung của các hộ điều tra 57

Bảng 4.5 Tỉ lệ phụ nữ tham gia Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc 58 Bảng 4.6 Phụ nữ tham gia Ban chủ đạo xây dựng Nông thôn mới tại xã điều tra 59

Bảng 4.7 Công việc triển khai trong các cuộc họp xây dựng Nông thôn mới cấp xã và thôn xóm 60

Bảng 4.8 Mức độ tham gia các cuộc họp của phụ nữ tại các xã điều tra 61

Bảng 4.9 Phụ nữ các xã điều tra đóng góp ý kiến trong quy hoạch lập kế hoạch xây dựng Nông thôn mới 63

Bảng 4.10 Phụ nữ tham gia tuyên truyền xây dựng Nông thôn mới 66

Bảng 4.11 Phụ nữ và gia đình đóng góp bằng tiền để xây dựng Nông thôn mới 68

Bảng 4.12 Phụ nữ và gia đình đóng góp bằng đất để xây dựng Nông thôn mới 69

Bảng 4.13 Phụ nữ và gia đình góp công xây dựng Nông thôn mới 71

Bảng 4.14 Phụ nữ một số xã tham gia trồng hoa hai bên đường giao thông 72

Bảng 4.15 Phụ nữ một số xã tham gia tập huấn Khoa học - Kỹ thuật mới 74

Bảng 4.16 Tổng dư nợ vay vốn qua hội phụ nữ ở một số xã 75

Bảng 4.17 Phụ nữ một số xã tham gia giám sát công trình xây dựng Nông thôn mới77 Bảng 4.18 Trình độ của một số phụ nữ nông thôn tại huyện Mỹ Lộc 84

Bảng 4.19 Sự hài lòng của phụ nữ về kết quả các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới thôn xóm 90

Bảng 4.20 Ma trận SWOT về những thuận lợi, khó khăn cũng như cơ hội và thách thức của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 90

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Khả năng quyết định của phụ nữ huyện Mỹ Lộc về đóng góp tự

nguyện xây dựng nông thôn mới trong gia đình 70

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ VENN ảnh hướng các cơ quan đoản thể đến hoạt động của Hội

phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới88

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Phụ nữ đóng góp ý kiến trong cuộc họp lập kế hoạch 62

Hộp 4.2 Phân loại các ý kiến của người dân 63

Hộp 4.3 Đóng góp xây dựng đường giao thông nông thôn 68

Hộp 4.4 Tập huấn kỹ thuật cho phụ nữ 74

Hộp 4.5 Phụ nữ vay vốn thông qua Hội phụ nữ xã 76

Hộp 4.6 Phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình 77

Hộp 4.7 Đoàn thanh niên hỗ trợ Hội phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới 89

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Vũ Đức Luyện

Tên Luận văn: Đánh giá vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện

Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu: Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về

nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới; Đánh giá thực trạng vaitrò của phụ nữ huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định trong xây dựng Nông thôn mới; Phântích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định trongxây dựng Nông thôn mới; Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữtrong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát thu thập

thông tin, phỏng vấn hộ dân trên địa bàn thuộc 3 xã chọn điểm nghiên cứu và các cán

bộ quản lý trong xây dựng NTM Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê mô tả,thống kê so sánh, các công cụ sơ đồ VENN, ma trận SWOT trong PRA để thống kê vàtổng hợp thông tin cần thiết cho luận văn

Kết quả và kết luận chính:

Tình hình xây dựng NTM tại huyện Mỹ Lộc hiện nay đã có 7/11 xã về đíchNTM, những xã còn lại đang chuẩn bị hoàn thiện các tiêu chí và về đích NTM trongnăm 2018 và năm 2019, tiến tới huyện NTM vào năm 2019

Người phụ nữ huyện Mỹ Lộc đã đóng góp vai trò rất lớn trong công cuộc xâydựng Nông thôn mới: Phụ nữ chiếm 18,2% vào Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới

ở xã Ở ba xã Mỹ Tân, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh điều tra người dân đóng góp 15.215 m2đất, 20,94 tỷ đồng xây dựng NTM, tham gia 14.832 ngày công lao động xây dựng cơ

sở hạ tầng, trồng hoa ha bên đường giao thông được 14.300m, Hội Phụ nữ tổ chức vayvốn đứng ra bảo đảm cho chị em vay vốn để phát triển kinh tế tại cơ sở, tham giatuyên truyền sâu rộng về NTM trên nhiều kênh thông tin đại chúng Đồng thời còn kếthợp với các tổ chức ban ngành đoàn thể tham gia giám sát các hạng mục công trìnhxây dựng NTM

Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế để nâng cao vai trò của phụ nữ trongxây dựng NTM huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Điều kiện kinh tế giữa các xã và nhândân trong xã có sự chênh lệch lớn dẫn đến hạn chế trong khả năng đóng góp nguồn lựcxây dựng NTM, trình độ văn hóa của đa số phụ nữ còn hạn chế nên gây khó khăn trên

Trang 11

nhiều công tác tham gia tuyên truyền vận động và phát triển kinh tế hộ gia đình.Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ huyện Mỹ Lộc trong xâydựng NTM: Nhóm yếu tố về cơ chế chính sách: Đường lối, Chính sách của Đảng vàNhà nước về phát huy vai trò của Phụ nữ; Nhận thức và tạo điều kiện của chính quyềnđịa phương về vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM; Công tác khuyến nông, tậphuấn khoa học kỹ thuật mới phục vụ sản xuất nông nghiệp Yêu tố thuộc về bản thânphụ nữ: Trình độ học vấn, chuyên môn, nhận thức của phụ nữ; Khả năng tiếp nhậnthông tin của phụ nữ; Điều kiện kinh tế hộ gia đình của phụ nữ; Việc ra quyết địnhtrong gia đình của phụ nữ Yếu tố liên quan đến tố chức Hội Phụ nữ.

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Vu Duc Luyen

Thesis title: Evaluating roles of women in new rural development in My Loc

district, Nam Dinh province

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives: The study aims to evaluate existing theories and

practices on strengthening roles of women in new rural development; evaluating roles

of women in new rural development in Mỹ Lộc district, Nam Dinh province;analyzing factors effecting roles of women in new rural development and proposingmeasures for strengthening roles of women in new rural development in this district ofNam Dinh province

Materials and Methods: The study conducted structured interviews with

households in 3 communes and local officers involving new rural development program in the selected district The study employed descriptive statistics and comparative statistical method, PRA tools such as VENN diagram, SWOT matrix for data analysis.

Main findings and conclusions

At present, My Loc district has 7 out of 11 communes which met criteria to be “New Rural Commune” and remaining communes are going to meet criteria of new rural communes

by 2018 and 2019 and expected to be recognized at “New rural district in 2019”.

Women in My Loc has contributed significant roles in rural development program Women accounts for 18.2% of new rural area development committees at the communal level In three studied communes: Mỹ Tân, Mỹ Thành, and Mỹ Thịnh communes, local people contributed 15,215 m2 of land, 20,939 million VND for building new rural areas Local people also contributed 14,832 work-days for building infrastructure, growing flowers along 14,3000m of inter village roads and women can get loans from banks for production and business though the women organization Communication about new rural areas has been spreading out through various media facilities Women have also collaborated with different people organizations and parties to monitoring and evaluation

of construction works under new rural development program.

Besides, there are still remaining weaknesses in strengthening roles of women in new rural development in Mỹ Lộc district, Nam Dinh province Differences among communes have led to difficulties in mobilizing resources for new rural development Most women has limited their capacity resulting difficulties in communication program

Trang 13

and propagation activities for household economic development.

The study has identified major factors affecting roles of women in new ruraldevelopment in My Loc: i) Policy mechanism factor group: The VietnameseGovernment’s guidelines and policies for enhancing roles of women; Localauthorities’ awareness and their creation of enabling environments for strengtheningroles of women in new rural development; Extension works and technical transferringfor production development in agriculture ii) The factors belonging to womenthemselves: educational level, professions, and awareness of women; Women’s level

of access to information; Household economic conditions; Decision-making capacity

in their households and iii) Factors belonging to operation of women organizations

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phụ nữ Việt Nam chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và ngày càng thể hiệnđược vị trí và vai trò của mình trong xã hội Trong suốt chặng đường đấu tranh dựngnước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến

to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, pháthuy và nâng cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động sáng tạo, khắc phục mọi khókhăn để vươn lên trong học tập, lao động phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trênmọi lĩnh vực Ngày nay đất nước ta đang đẩy mạnh việc dân chủ và các vấn đề vềquyền của phụ nữ trong gia đình và xã hội Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế vaitrò của phụ nữ không những quan trọng trong gia đình mà họ còn tích cực tham giavào các hoạt động xã hội, luôn là hậu phương vững chắc trong việc phát triển kinh tếtạo ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) là mộtchương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốcphòng do Chính phủ xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc, căn

cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Theo số liệu củaChương trình Nông thôn mới quốc gia kể từ khi Chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt(Ngày 4 tháng 6 năm 2010) đến hết quý 1/2018 cả nước đã có 3.289 xã (36,84%)được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 220 xã (2,47%) so với cuối năm2017; Có 49 đơn vị cấp huyện thuộc 26 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngđược Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựngnông thôn mới (Tăng 6 đơn vị cấp huyện so với cuối năm 2017) (Đoàn Trần,2018) Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM đang ngày càng pháttriển mạnh mẽ và mang lại rất nhiều kết quả tốt đến với người dân Cơ sở hạ tầngnông thôn được cải thiện, phát triển kinh tế xã hội, mang lại những bước chuyểnmình về giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng, vệ sinh môi trường được đảm bảo trên

cả nước Góp phần vào thành công đó thì không thể không nhắc đến vai trò củaphụ nữ trong mọi công tác tổ chức tuyên truyền chỉ đạo đặc biệt là tham gia vàocác phong trào xây dựng NTM từ các cấp Trong các

Trang 15

tiêu chí xây dựng Nông thôn mới năm 2016 đã bổ sung thêm một tiêu chí nhỏtrong tiêu chí về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm là “Tỷ lệ hộ có nhà tiêu,nhà tắm bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh đảm bảo 3 sạch” tiêu chí này là mộttiêu chí trực tiếp có trong cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” doTrung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động Khẳng định thêm vai tròcủa phu nữ trong việc xây dựng NTM.

Nam Định là tỉnh đi đầu trong phong trào xây dựng NTM trong cả nước.Tới nay, toàn tỉnh Nam Định đã có 200/209 xã, thị trấn đạt chuẩn NTM (96%); Có

5 huyện (Bao gồm: Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ)

và thành phố Nam Định có 100% số xã đạt chuẩn NTM Bộ mặt nông thôn củatỉnh khang trang hơn trước, phát triển nhiều mô hình chuỗi sản xuất nông nghiệp -thuỷ hải sản, xử lý rác thải khu vực nông thôn, nâng thu nhập người dân khu vựcnông thôn tăng gấp 3 lần so với khi Nam Định bắt đầu xây dựng NTM, Trung bìnhgấp 2 lần cả nước (BCĐ xây dựng NTM tỉnh Nam Định, 2018)

Huyện Mỹ Lộc là một huyện thuần nông nằm ở của ngõ phía Bắc tỉnh NamĐịnh Huyện được bao bọc bởi sông Hồng phía Đông và sông Châu Giang ở phíaBắc Tổng dân số của huyện là trên 70 nghìn người với trên 91% sống ở nôngthôn Với diện tích đất tự nhiên là 7407 ha trong đó diện tích đất nông nghiệpchiếm 68,5%; lao động nông nghiệp chiếm 54% dân số (Chi cục thống kê huyện

Mỹ Lộc, 2017) Hoạt động sản xuất chủ yếu của người dân là sản xuất nôngnghiệp và chủ yêu lao động chính trong sản xuất nông nghiệp là phụ nữ với đadạng các loại hình trang trại, trồng lúa, trồng màu, trồng hoa v.v

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM trên địa bàn huyện Mỹ Lộccũng đã có những thành công bước đầu với 3/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới đếngiữa năm 2017, cuối năm 2017 có 4 xã tiếp tục về đích NTM tăng số xã đạt chuẩnNTM của huyện Mỹ Lộc lên 7/11 xã GDP bình quân đầu người đạt 32 triệuđồng/năm (BCĐ xây dựng NTM huyện Mỹ Lộc, 2017) Để đạt được những thànhcông đó là sự đóng góp to lớn của chính quyền và nhân dân toàn huyện, trong đó

có sự đóng góp không nhỏ của phụ nữ huyện Mỹ Lộc

Hiện nay tỉ lệ nam giới đi làm ăn ở thành phố hoặc các khu công nghiệpcao, tại huyện Mỹ Lộc theo khảo sát sơ bộ tỉ lệ này lên đến 60 -70 % chính vì vậycông việc sản xuất nông nghiêp, hay chăm lo cho gia đình chủ yếu vẫn do phụ nữđảm nhiệm Đồng thời trong quá trình xây dựng NTM phụ nữ cũng phải thay mặtgia đình đứng ra đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng Nông thôn

Trang 16

mới, đưa ra quyết định trong các buổi họp, quyết định tham gia đóng góp sứcngười sức của để góp phần xây dựng NTM Thể hiện vai trò trong việc ra quyếtđịnh của phụ nữ trong quá trình đóng góp xây dựng NTM là rất lớn.

Với sự đóng góp to lớn của phụ nữ huyện Mỹ Lộc cho xây dựng NTM nhưvậy nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nôngthôn mới tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Để có thể đánh giá sâu hơn về thựctrạng và các yếu tố ảnh hưởng từ đó đưa ra giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữtrong xây dựng NTM tại huyện Mỹ Lộc Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc,

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Các câu hỏi cần giải quyết:

Vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định như thế nào?

Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định?

Các giải pháp nào để nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM tại huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trong thời gian tới?

Trang 17

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữtrong xây dựng Nông thôn mới

Đối tượng khảo sát: Cán bộ chính quyền, cán bộ quản lý hội phụ nữ, các hộiviên phụ nữ và nam giới trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung đánh giá thực trạng tham gia xây dựng

Nông thôn mới của phụ nữ và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của ngườiphụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao vaitrò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Mỹ Lộc, tỉnh

Nam Định

Phạm vi thời gian: + Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 9/2017 – 10/2018

+ Đề tài thu thập số liệu trong các năm 2015-2018

1.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Hệ thống hóa cơ lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong xây dựngNông thôn mới tại huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định

Đánh giá thực trạng xây dựng NTM tại huyện Mỹ Lộc, vai trò của phụ nữtrong xây dựng NTM trên địa bàn với các vai trò: Vai trò của phụ nữ trong việctham gia Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới; Vai trò của phụ nữ trong quyhoạch tổng thể và lập kế hoạch xây dựng NTM; Vai trò của phụ nữ trong xây dựngđời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; Vai trò của phụ nữ trongđóng góp nguồn lực cho xây dựng Nông thôn mới; Vai trò của phụ nữ trong việctiếp cận khoa học kĩ thuật mới trong sản xuất kinh tế hộ gia đình; Vai trò của phụ

nữ trong việc ra quyết định về phát triển kinh tế hộ và xây dựng Nông thôn mới;Vai trò của phụ nữ trong việc kiểm tra giám sát, Sử dụng các công trình xây dựngNông thôn mới, từ đó đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trongxây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Lộc

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựngNông thôn mới trên địa bàn huyện Mỹ Lộc

Trang 18

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA

PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

2.1.1 Quan điểm về vai trò của phụ nữ

2.1.1.1 Quan điểm về vai trò của phụ nữ

a Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” gọi tắt là WID (Women in Development)

và “Giới và phát triển” gọi tắt là GAD (Gender and Development)

Trong nghiên cứu phụ nữ xuất hiện lý luận của nhà nữ quyền và nội dungcủa hai quản điểm nổi tiếng ở hai giai đoạn khác nhau đó là “Phụ nữ trong pháttriển” gọi tắt là WID (Women in Development) và “Giới và phát triển” gọi tắt làGAD (Gender and Development) Đây chính là nguồn lý luận cơ bản hình thànhnên lý thuyết về giới Vấn đề bình quyền được hình thành từ các phong trào củahiệp hội đấu tranh đòi quyền lợi và sự công bằng của phụ nữ Anh, sau đó lan rộng

và trở thành làn sóng chính trị quan trọng ở Hoa Kỳ và các nước khác, thì cuộctranh luận WID và GAD lại bắt nguồn từ thực tế tiếp cận giải quyết vấn đề nghèođói ở các nước đang phát triển Tiếp cận WID và GAD được đặt trong những khíacạnh khác nhau trong mối quan hệ giữa vai trò của phụ nữ trong sự phát triển Tiếpcận giới đưa ra những câu trả lời về vai trò của phụ nữ trong phát triển Tuy nhiên,các câu trả lời này không giống nhau và không có tranh cãi về vai trò của phụ nữtrong sự phát triển cộng đồng (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Quan điểm “Phụ nữ và phát triển”(WID)

Sau chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống Liên hiệp quốc được hình thànhvới các hoạt động điều phối hỗ trợ phát triển ngày càng được mở rộng Tuy nhiên,thời gian đầu chưa có bất cứ một luận điểm nào chú ý hoặc đề cập đến phụ nữ bởiquan niệm bất kỳ sự phát triển kinh tế xã hội nào cũng đem lại đổi thay cho mọingười, trong đó có phụ nữ Sự thay đổi được xuất hiện trong Chiến lược phát triểnquốc tế cho thập kỷ thứ hai do Đại hội đồng Liên hiệp quốc nhấn mạnh: Khuyếnkhích sự hòa nhập của phụ nữ và nỗ lực phát triển một cách đầy đủ và vấn đề củaphụ nữ và vấn đề phát triển Thuật ngữ “Phụ nữ trong phát triển” được ra đời từ đó(Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Trang 19

Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” được chú trọng vào phụ nữ, vào cácvấn đề nảy sinh đối với phụ nữ trong phát triển như cơ hội được học hành, có việclàm, được bình đẳng trong gia đình và tham gia các hoạt động xã hội, được hưởngcác dịch vụ về chăm sóc sức khỏe và trong đời sống Cách tiếp cận WID đòi hỏicông bằng xã hội và quyền lợi cho phụ nữ

Các quan niệm trước đây chỉ nhìn nhận phụ nữ trong vai trò người mẹ,người vợ nên chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn ở phúc lợi xã hội và sinh đẻ.Với quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương đưaphụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có việc làmtrong sản xuất và tham gia công tác xã hội là biện pháp nâng cao vai trò, địa vị củaphụ nữ Quan điểm này khẳng định, việc không thừa nhận và sử dụng vai trò sảnxuất của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội là những sai lầm dẫn đến việc sửdụng kém hiệu quả các nguồn lực (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Cách tiếp cận WID dựa vào cơ sở nổi bật là các quá trình phát triển sẽ đượctiến hành tốt hơn nếu phụ nữ được coi là trọng tâm trong nghiên cứu và trongchuyển giao các nguồn lực của dự án Cách tiếp cận này cũng thách thức quanđiểm trước đây cho rằng: những lợi ích thu được từ dự án phát triển sẽ tự động làmlợi cho phụ nữ và người yếu thế khác trong các quốc gia phát triển và hiện đại hóa

sẽ tự động làm tăng sự bình đẳng giới

Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” đã nhấn mạnh vai trò của phụ nữtrong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, coi trọng vai trò củaphụ nữ với tư cách là người hưởng thụ thành quả của sự phát triển, nắm giữ đượccác nguồn lực như chìa khóa mở đường giúp cho phụ nữ thoát khỏi sự lệ thuộc.Tuy nhiên, cách tiếp cận này mới chủ đặt phụ nữ trong khuôn khổ phát triển đãđược định sẵn chứ chưa coi phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế xãhội, do đó không chỉ hạn chế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ

nữ mà có thể làm giảm hiệu quả của các quá trình kinh tế Hơn nữa, cách tiếp cậnWID còn xem xét vấn đề phụ nữ một cách tách biệt, quá nhấn mạnh đến khía cạnhsản xuất trong công việc và lao động của phụ nữ, nhất là việc tạo ra thu nhập, trongkhi đó đã bỏ qua khía cạnh tái sản xuất (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng,2000)

Quan điểm “Giới và phát triển” (GAD)

Trang 20

Tiếp cận “Giới và phát triển” ra đời sau tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển”nên có được kinh nghiệm từ những thất bại của nhiều chương trình phát triển.Phương pháp tiếp cận “Giới và phát triển” quan tâm đến mối tương quan giữa phụ

nữ và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tiếp cận giới vàphát triển quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng giới và cácchương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu cả nam và nữ Tức là GAD tạo sựchuyển biến trong suy nghĩ, cũng như nhìn nhận về vai trò, trách nhiệm, các quyềntiếp cận, kiểm soát nguồn lực kinh tế của phụ nữ và nam giới, điểu chỉnh các yếu

tố cơ cấu tác động ảnh hưởng nhằm cải thiện tình trạng, vai trò của phụ nữ và cânbằng các quan hệ giới (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Theo phương pháp tiếp cận này, phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá như là nhữngnhân tố tích cực chứ không phải là những người thừa hưởng thành quả của sự pháttriển Mục tiêu phát triển theo phương pháp này là sự tự lực, sức mạnh của bản thânphụ nữ, tức là phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình và có điều kiện pháttriển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với nam giới Sự tham gia của phụ nữ

và phát huy hết tiềm năng, kinh nghiệm của họ trong hoạt động kinh tế, xã hội hayquản lý cộng đồng có ý nghĩa chính trị-xã hội tích cực, vừa tăng cường năng lực cánhân, vừa tạo quyền cho chính họ, vừa thúc đẩy tốc độ phát triển chung của xã hội.Phương pháp tiếp cận này cho rằng, mỗi nam và nữ giới sẽ thường được đảm nhận cácvai trò quyền lực khác nhau, nên họ có nhu cầu thực tế khác nhau Chính vì vậy, phântích theo quan điểm GAD đã đề xuất được các hướng giải quyết không chỉ nhằm giảiquyết những vấn đề trước mắt mà cả những nguyên nhân sâu xa của vấn đề nghiêncứu Đây là một phương pháp tiếp cận được ưa chuộng và được đánh giá là phươngpháp có hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong thời gian hiệnnay (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ

nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng xãhội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau Cần đánh giá những đóng góp của phụ

nữ đối với cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, tạo điều kiện để phụ nữ pháthuy được năng lực của mình, chủ động cùng nam giới tham gia các hoạt động pháttriển kinh tế gia đình và cộng đồng, các hoạt động văn hóa, chính trị, chăm sóc sứckhỏe, sinh sản … Quan trọng là hình thành được thói quen, các chuẩn mực và giátrị mới về vai trò phụ nữ trong cộng đồng ở giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập

và phát triển (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)

Trang 21

GAD quan niệm, phụ nữ và nam giới cùng có vai trò trong xây dựng và duytrì xã hội, cùng quyết định phân công lao động xã hội Tuy nhiên, họ lại khôngbình đẳng trong việc hưởng thụ lợi ích và trong việc đối mặt với những khó khăn,điều này là do phụ nữ là nhóm yếu thế, vì vậy, cần phải tập trung sự quan tâm dànhcho phụ nữ Mặc dù giữa phụ nữ và nam giới có mối quan hệ nương tựa vào nhau,tuy nhiên phương thức và phạm vi hoạt động của họ trong xã hội lại không giốngnhau, có những vai trò khác nhau trong những lĩnh vực xã hội khác nhau Vì vậy,mỗi giới đều có những vấn đề ưu tiên riêng, có cách nhìn nhận sự vật riêng Trongquan hệ vai trò giới, nam giới có thể hạn chế hoặc mở rộng những khó khăn củaphụ nữ Phát triển có ảnh hưởng khác nhau tới phụ nữ và nam giới, đồng thời, namgiới và phụ nữ cũng có những ảnh hưởng khác nhau đối với các dự án sản xuất, đểthúc đẩy lợi ích và phúc lợi của xã hội, phụ nữ và nam giới phải có cùng cách nhìnnhận về các vấn đề và cùng tìm ra phương thức để giải quyết các vấn đề đó.Phương pháp tiếp cận GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò củaphụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồngtrên các lĩnh vực hoạt động khác nhau GAD xem phụ nữ như là chủ thể của quátrình biến đổi chứ không coi phụ nữ như nhóm đối tượng thụ hưởng bị động.Phương thức thực hiện là thông qua trao quyền, tăng cường sức mạnh nội tại củaphụ nữ, thực hiện năng lực cải tạo xã hội của phụ nữ Để thực hiện trao quyền, nộidung căn bản nhất là lập kế hoạch giới, GAD nhấn mạnh trong thực hiện các dự ánphát triển quốc tế, phát triển đất nước, phát triển khu vực cần phải thực hiện tổnghợp yếu tố giới Vấn đề công bằng phải được thể hiện trong thực tiễn chứ khôngphải chỉ trên khẩu hiệu (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000).

b Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ trong xã hội

Tư tưởng nhất quán xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ

là nhằm mục đích cao nhất giải phóng con người và ra sức tranh đấu để đòi lạinhững quyền thiêng liêng của con người Trong đó, Người đặc biệt quan tâm đến

sự nghiệp giải phóng phụ nữ và đấu tranh bảo vệ quyền bình đẳng cho họ Những

tư tưởng của Người về vấn đề giải phóng phụ nữ vẫn còn nguyên giá trị Trong tưtưởng của Người về phụ nữ được xuất phát từ tình cảm đặc biệt đối với nhữngngười phụ nữ nói chung và từ thực trạng bất bình đẳng của phụ nữ dưới chế độphong kiến, sự cai trị thâm độc của thực dân Pháp đối với nước ta cuối thế kỷ XIX,đầu thế kỷ XX Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò to lớn của phụ nữ Việt

Trang 22

Nam và cho chúng ta thấy những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa họcđánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội Với họ, việc giải phóng phụ nữ, thựchiện nam nữ bình đẳng là một mục tiêu lớn của cách mạng do đảng cách mạnglãnh đạo Điều này có thể lý giải tại sao từ năm 1910 thế giới tiến bộ lấy ngày 08tháng 3 là “Ngày đàn bà và con gái”, sau đổi là Ngày Phụ nữ quốc tế, nhằm đoànkết phụ nữ các nước đấu tranh để giải phóng giới mình, giành các quyền bình đẳng

về kinh tế, chính trị và xã hội cho họ; cũng vì vậy mà khi thành lập Quốc tế Cộngsản (3/1919) hay Quốc tế III đã tổ chức phụ nữ quốc tế vì những mục tiêu đó(Khuất Minh Phương, 2014)

Cũng như Mác và Lênin, từ lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, Bác Hồ thấy rõvai trò của phụ nữ thế giới nói chung, phụ nữ nói riêng Người nhận xét: “Nonsông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốtđẹp, rực rỡ” Người cũng rút ra kết luận “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng cólần nào là không có đàn bà tham gia”, rồi Người khẳng định: “An Nam cách mệnhcũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” (Khuất Minh Phương, 2014)

Với cách nhìn toàn diện, Bác Hồ nhấn mạnh rằng phụ nữ chiếm một nửanhân loại; “Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội”, cũng tương tự “Phụ nữViệt Nam chiếm một nửa tổng số nhân dân ta”; Người còn chỉ rõ: “Phụ nữ là mộtlực lượng lao động rất quan trọng” Vì vậy, theo Người, “Nếu phụ nữ chưa đượcgiải phóng thì xã hội chưa được giải phóng”, “Nếu không giải phóng phụ nữ là xâydựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Bác Hồ phân tích có lý, có tình, rằng: Muốnxây dựng chủ nghĩa xã hội, “Nhất định phải sản xuất thật nhiều Muốn sản xuấtnhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn nhiều sức lao động thì phải giải phónglao động của phụ nữ” Tuy Bác Hồ không viết những tác phẩm lớn về vấn đề giảiphóng phụ nữ, nhưng từng nơi, từng lúc những câu nói của Người về bình đẳngnam nữ thật giản dị và dễ hiểu Người nói: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc

dễ chỉ: Hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm,rửa bát thế là bình đẳng, bình quyền Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng to vàkhó” (Khuất Minh Phương, 2014)

Quyền bình đẳng thực sự của người phụ nữ theo Bác là “người phụ nữ ViệtNam đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân” Vấn đề bìnhđẳng nam nữ được Bác đề cập trên nhiều lĩnh vực, nhưng nổi rõ nhất trên hai lĩnhvực sau:

Trang 23

Một là, lĩnh vực quyền và lợi ích: Trong lời kêu gọi chống nạn thất học, Bácviết “Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm Đây là lúc các chị

em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước,

có quyền bầu cử và ứng cử” Hay “Phụ nữ phải tham gia vào các cấp chính quyền,vào bộ máy lãnh đạo các ngành từ cơ sở đến trung ương, vào ban quan trị” Cómột vấn đề rất tế nhị trong việc phân công lao động cần căn cứ vào những khácbiệt về đặc tính giới mà Bác Hồ thẳng thắn khuyên bảo Bác nói: “Con gái có kinhchẳng hạn, trong lúc có kinh lội nước, dầm mưa, sau này sức khỏe không tốt, chonên phân phối công tác cho phụ nữ phải thích hợp” (Khuất Minh Phương, 2014)

Hai là, lĩnh vực gia đình: Người phụ nữ phải vất vả nhiều trong công việcgia đình, như Lênin chỉ rõ: “Mặc dù có mọi luật lệ giải phóng phụ nữ, nhưng phụ

nữ vẫn cứ là nô lệ trong gia đình vì công việc nội trợ linh tinh cứ đè nặng lên vai

họ, làm cho họ nghẹt thở mụ mẫm, nhọc nhằn, ràng buộc họ vào bếp núc, vàobuồng con cái, lãng phí sức lực của họ vào một công việc cực kỳ tủn mủn, làm cho

họ nhọc nhằn, gò bó” Và theo Bác Hồ thì việc giải phóng sức lao động của phụ nữchính là giải phóng phụ nữ khỏi những công việc không tên của gia đình Bácthường nói “Nên cố gắng tổ chức những nhà ăn công cộng để giải phóng phụ nữ rakhỏi bếp núc” Bác Hồ phê phán mạnh mẽ vấn đề bạo hành trong gia đình, nhất làhiện tượng chồng đánh vợ Bác viết “Khinh rẻ phụ nữ, và dã man nhất là thói đánhvợ… Những thói dã man đánh vợ và ép con cần phải chấm dứt Lợi quyền của phụ

nữ cần được thực sự bảo đảm” (Khuất Minh Phương, 2014)

Từ những phân tích về sự bất bình đẳng nam nữ, Bác Hồ cũng nêu lên cáccon đường có thể giải phóng phụ nữ và gợi ý từng đối tượng cụ thể Đối với cán bộlãnh đạo, Bác phê phán những tư tưởng mang nặng định kiến giới, coi thường phụ

nữ Bác khuyên “Phải thông cảm sâu sắc với quần chúng, và ra sức giúp đỡ chị emgiải quyết những thắc mắc khó khăn” Đối với các đoàn thể phải có trách nhiệmtuyên truyền, giáo dục pháp luật để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Đối với chínhbản thân người phụ nữ, phải tự đấu tranh vì quyền lợi của mình, không có tư tưởngtrông chờ, ỷ lại Bác khuyên chị em phụ nữ cố gắng học tập văn hóa, chính trị,nghề nghiệp Nếu không học thì không tiến bộ Trong công tác và cuộc sống hàngngày, Bác Hồ rất coi trọng đào tạo đội ngũ cán bộ và quan tâm, chăm sóc đến cuộcsống của người phụ nữ (Khuất Minh Phương, 2014)

Trong Di chúc, Người biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh và căn dặn

Trang 24

toàn dân phải quan tâm, chăm sóc phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước,phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất.Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp

đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữphải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật

sự cho phụ nữ” (Khuất Minh Phương, 2014)

c Các quan điểm về vai trò của phụ nữ của các nhà quản lý hiện nay

Trong cuộc tọa đàm do Ngân hàng thế giới tại Việt Nam tổ chức ngày06/3/2014 về Thách thức và giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của phụ nữ, cácnhà khoa học, nhà quản lý đã nên nhiều quan điểm của mình về vai trò của ngườiphụ nữ Là người đứng đầu tổ chức lớn nhất Việt Nam về phát huy quyền phụ nữ,

bà Nguyễn Thị Thanh Hòa cho rằng chính phủ cần có chính sách hỗ trợ phụ nữ và

phụ nữ cũng cần tích cực làm chủ cuộc sống riêng của mình.“Mọi người cần nhận

thức rằng công việc gia đình là việc chung của tất cả các thành viên chứ không phải riêng của phụ nữ, bản thân phụ nữ cũng cần biết cách huy động chồng con tham gia các công việc gia đình” (Vũ Lan Hương, 2014).

Bà Shoko Ishikawa, Trưởng đại diện cơ quan Liên Hiệp Quốc về Bình đẳnggiới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) tại Việt Nam cho rằng nhiều người có

quan điểm phụ nữ phải lo công việc gia đình và “Chúng ta cần thay đổi quan điểm đó

và khuyến khích phụ nữ thực hiện vai trò lãnh đạo trong đời sống chính trị, kinh doanh và trong xã hội.” Bà cũng nói rằng ta nên quan tâm tới việc thể hiện vấn đề này trong nhà trường và trên phương tiện thông tin đại chúng như thế nào: “Chúng ta cần nêu bật và nhấn mạnh những gương điển hình và hình ảnh tích cực của các lãnh đạo

nữ, và nhấn mạnh vai trò lãnh đạo nữ trong các lĩnh vực phi truyền thống như lãnh đạo doanh nghiệp, nhà khoa học, kiến trúc sư để có thể thay đổi quan niệm về những công việc mà phụ nữ có thể đảm nhận” (Vũ Lan Hương, 2014).

Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam

nói:“Doanh nghiệp, chính phủ và khu vực công cần có các hành động thiết thực,

cần có các chính sách và cơ chế tạo cơ hội và khuyến khích tăng quyền cho phụ nữ” (Vũ Lan Hương, 2014).

Có thể nhận thấy rằng, theo các quan điểm hiện đại về vai trò của phụ nữ,phụ nữ cần thích ứng với sự phát triển của xã hội để có thể đảm nhận được nhiềuvai trò hơn nữa, và cần có sự chia sẻ của các tổ chức chính quyền, xã hội, cộng

Trang 25

đồng dân cư và đặc biệt là nam giới trong gia đình (Vũ Lan Hương, 2014).

Vậy qua các quan điểm về vai trò của phụ nữ theo quan điểm WID, quanđiểm GAD, quan điểm của Hồ Chí Minh, quan điểm của các nhà quản lý là phụ nữhiện đại, chúng tôi thấy rằng: “Vai trò của phụ nữ trong một lĩnh vực nào đó tươngđương với vị thế mà họ nắm giữ là tất cả những gì họ thực hiện để giữ vị thế củamình có giá trị, là những hành vi mà xã hội mong chờ họ để thực hiện phù hợp với

vị thế và vai trò của họ Khi xét về vai trò của phụ nữ, cần xét trong mối tươngquan của họ với cộng đồng, nam giới và cần có sự chia sẻ của cộng đồng, củaChính phủ, chính quyền các cấp đặc biệt là nam giới để phụ nữ thích ứng với sựphát triển của xã hội để có thể đảm đương tốt một hay nhiều vai trò của mình trongcác lĩnh vực khác nhau trong đời sống

2.1.2 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới

2.1.2.1 Thế nào là xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chươngtrình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng Vớimục tiêu toàn diện: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từng bướchiện đại; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắnnông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thônvới đô thị theo quy hoạch; xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dântộc; bảo vệ môi trường sinh thái; giữ vững an ninh - trật tự; tăng cường hệ thốngchính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân (Ban biên tập cổng thông tin điện tử huyện Phú Ninh,2015)

2.1.2.2 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Ngày 17 tháng 10 năm 2016 chính phủ đã ban hành Quyết định số1980/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về việc ban hành bộ chỉ tiêu quốc gia vềxây dựng xã Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 thay thế cho quyết định số491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của thủ tướng chính phủ về việc ban hành

bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới (Xem phụ lục 1)

Mục tiêu tổng quát:

Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần chongười dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hìnhthức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch

Trang 26

vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổnđịnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng

và an ninh, trật tự được giữ vững

Mục tiêu cụ thể:

Đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50% (trong đó,mục tiêu phấn đấu của từng vùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 28,0%; Đồng bằngsông Hồng: 80%; Bắc Trung Bộ: 59%; Duyên hải Nam Trung Bộ: 60%; TâyNguyên 43%; Đông Nam Bộ: 80%; Đồng bằng sông Cửu Long: 51%); Khuyếnkhích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất 01 huyện đạtchuẩn nông thôn mới;

Bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã (trong đó, mục tiêu phấn đấu của từngvùng, miền là: Miền núi phía Bắc: 13,8; Đồng bằng sông Hồng: 18,0; Bắc TrungBộ: 16,5; Duyên hải Nam Trung Bộ: 16,5; Tây Nguyên: 15,2; Đông Nam Bộ: 17,5;Đồng bằng sông Cửu Long: 16,6); cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí;

Cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sảnxuất và đời sống của cư dân nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trườnghọc, trạm y tế xã;

Nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hìnhsản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần sovới năm 2015

2.1.3 Quan điểm của nhà nước Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

Vai trò và vị trí của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và xâydựng đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao và đã được thểchế hóa thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm lợi íchchính đáng của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực

Từ trước đến nay, tất cả các chính sách, đặc biệt chính sách liên quan đếngiới, đều chú trọng bình đẳng giới, tôn trọng và đề cao vai trò của phụ nữ Để thúcđẩy các cơ hội cho phụ nữ phát triển và thụ hưởng từ các thành quả của mình, LuậtBình đẳng giới đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệulực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007; ngày 27 tháng 4 năm 2007, Bộ Chínhtrị đã có Nghị quyết số11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết nêu rõ “ phải tăng cường sự

Trang 27

lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ để phụ nữ tham gia ngày càngnhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp càng lớn hơn cho sự phát triển các gia đình,cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới” ( Bộ chính trị, 2007).

Vì vậy, với quan điểm đó, khi xây dựng Nông thôn mới, vai trò của phụ nữcùng được đề cao trong quyết định 1600/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trìnhmục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 thay thế choquyết định số 800/QĐ-TTg về quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốcgia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010-2015, thông qua 11 nội dung củachương trình và các giải pháp, cách thức thực hiện chương trình, chương trình nàyyêu cầu toàn bộ các Ban ngành, các cấp chính quyền cũng như toàn thể người dântham gia tích cực Vị trí cũng như yêu cầu, nhiệm vụ của người dân được nêu ra rất

rõ ràng: đóng góp ngân sách xây dựng Nông thôn mới theo tinh thần tự nguyện,xây dựng cơ sở hạ tầng cho làng, xã, tham gia giám sát thi công xây dựng Nôngthôn mới, bảo vệ môi trường nông thôn, phát triển kinh tế tham gia xây dựng Nôngthôn mới, tham gia các hoạt động các đoàn thể để có các biện pháp nâng cao đờisống vật chất tinh thần tại khu vực nông thôn Đặc biệt trong những tiêu chí mớitrong chương trình xây dựng Nông thôn mới đã có một số thay đổi và theo quyđịnh Làm cho vai trò của phụ nữ trong quá trình xây dựng Nông thôn mới càngtăng được chú ý hơn (Thủ tướng chính phủ, 2016)

2.1.4 Nội dung nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới

2.1.4.1 Vai trò của phụ nữ trong việc tham gia Ban chỉ đạo xây dựng NTM

Việc quan tâm, đề cao vai trò của phụ nữ trong công tác quản lý xây dựngNông thôn mới là rất quan trọng Công tác bổ sung, điều chỉnh cán bộ nữ trongBan quản lý xây dựng Nông thôn mới, Cơ quan điều phối xây dựng Nông thônmới, chính quyền các cấp để nâng cao tiếng nói, vị thế của người phụ nữ, cũng nhưđóng góp của họ trong tất cả các lĩnh vực (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Khi phụ nữ được tham gia quản lý, điều hành, họ có cơ hội được mở mangnhận thức hơn, tầm hiểu biết rộng hơn, qua đó có khả năng lãnh đạo, tuyên truyềnvận động chị em phụ nữ tham gia tích cực hơn trong xây dựng Nông thôn mới

2.1.4.2 Vai trò của phụ nữ trong quy hoạch tổng thể và lập kế hoạch xây dựng NTM

Vai trò của phụ nữ trong quy hoạch xây dựng Nông thôn mới được thể hiệnở:

Trang 28

Nội dung 1: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sảnxuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;

Nội dung 2: Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế xã hội – môi trường; pháttriển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn

Sự tham gia quy hoạch xây dựng Nông thôn mới được thể hiện qua sự thamgia đóng góp ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng Nông thôn mới; quyết địnhlựa chọn, góp ý nên xây dựng công trình nào, bố trí sản xuất cây con gì, bố trí xâydựng, bố trí sản xuất ở đâu; quy mô cỡ nào; nên thực hiện lúc nào; thông qua hìnhthức họp, bàn, lấy ý kiến, biểu quyết theo tỷ lệ để lựa chọn các phương án Sựtham gia các lớp tập huấn phát triển sản xuất trên địa bàn…(Cao Thị Kim Dung,2015)

Việc lập kế hoạch xây dựng Nông thôn mới là việc hoàn thiện từng chi tiếttheo từng giai đoạn cho quy hoạch tổng thể xây dựng Nông thôn mới Đây là nộidung quan trọng nhất và xuyên suốt quá trình xây dựng Nông thôn mới Được coinhư nhân tố quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận pháttriển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong xây dựng thí điểm mô hình.Việc đóng góp ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng Nông thôn mới của phụ

nữ thể hiện sự hiểu biết, bàn bạc, hành động, quyết định của phụ nữ (Cao Thị KimDung, 2015)

Người phụ nữ tham gia Hội họp, tham gia các diễn đàn về xây dựng Nôngthôn mới được tổ chức Sau khi đã họp, thảo luận, bàn bạc, khi triển khai, phụ nữcùng người dân quyết định cái gì làm trước, cái gì làm sau, phù hợp với nguồn lựccủa chính họ, phù hợp với nguồn lực của địa phương và của Trung ương hỗ trợ cho

họ để đạt hiệu quả nhất (Cao Thị Kim Dung, 2015)

2.1.4.3 Vai trò của phụ nữ trong công tác thông tin tuyên truyền xây dựng NTM

Công tác thông tin tuyên truyền xây dựng nông thôn mới khơi dậy quyếttâm, tinh thần tự giác, tự nguyện, ý thức trách nhiệm cao trong nhân dân tham giahưởng ứng Chương trình xây dựng Nông thôn mới, nâng cao nhận thức người dân

về vai trò chủ thể của mình (Được biết, được bàn, được làm, được giám sát, đượcthụ hưởng) để tích cực tham gia, hưởng ứng Chương trình xây dựng Nông thônmới Nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, cán bộ,đảng viên làm công tác xây dựng Nông thôn mới; phòng, chống những tiêu cựctrong thực hiện các chương trình, dự án xây dựng Nông thôn mới (Cao Thị

Trang 29

Kim Dung, 2015).

Việc tuyên truyền khiến các tầng lớp nhân dân các nhà đầu tư hiểu đầy đủhơn về Chương trình xây dựng Nông thôn mới để tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ,phối hợp, tạo điều kiện của các cấp, các ngành, các đoàn thể, doanh nghiệp… nhiệttình tham gia, đóng góp tích cực cho Chương trình, phát huy sức mạnh tổng hợpnhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra) (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Phụ nữ là người quán xuyến, lo lắng mọi việc trong gia đình, chăm sóc concái, phụng dưỡng cha mẹ, để ý việc đối nội, đối ngoại trong gia đình Vì vậy, phụ

nữ có vai trò rất lớn trong việc tuyên truyền vận động gia đình về các nội dung xâydựng Nông thôn mới, cách thức hành động cũng như ý thức của từng cá nhân trongxây dựng Nông thôn mới ngay trong chính gia đình mình (Cao Thị Kim Dung,2015)

Bên cạnh đó, các sinh hoạt cộng đồng đặc biệt hoạt động của Hội phụ nữcũng gắn kết thêm phụ nữ với nhau, phụ nữ với cộng đồng, họ có nhiều cơ hội đểvận động mọi người cùng tham gia xây dựng Nông thôn mới, cổ vũ, động viên các

cá thể, cá nhân phụ nữ điển hình tiên tiến có thành tích xuất sắc trong phong tràoxây dựng Nông thôn mới (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Hình thức mà chị em phụ nữ sử dụng để thông tin tuyên truyền xây dựngNông thôn mới vô cùng phong phú đa dạng Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn linhhoạt giữa các hình thức: Kết hợp tổ chức tuyên truyền Chương trình xây dựngNông thôn mới tạo các hội nghị báo cáo viên - tuyên truyền viên các cấp Xâydựng và nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến về xây dựng Nông thôn mới Tổchức hội nghị tuyên dương khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong xâydựng Nông thôn mới Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng: Báo,Tạp chí, Đài Phát thanh - Truyền hình; Cổng thông tin - Giao tiếp điện tử; hệ thốngĐài phát thanh, truyền thanh các tỉnh, huyện, thành, thị, các xã, phường, thị trấn vàcác thôn Tuyên truyền trên Bản tin sinh hoạt chi bộ, Bản tin Khoa giáo của BanTuyên giáo Tỉnh ủy và bản tin, trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, đoànthể, các huyện, thành, thị Biên soạn và phát hành các tài liệu tuyên truyền, tờ rơi,

tờ gấp, đề cương tuyên truyền về Chương trình xây dựng Nông thôn mới Tăngcường tuyên truyền bằng các hình thức khác như: khẩu hiệu, pano, áp phích, vănhóa, văn nghệ, giao lưu, tọa đàm v.v (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Trang 30

2.1.4.4 Vai trò của phụ nữ trong đóng góp nguồn lực cho xây dựng NTM

Phương châm xây dựng Nông thôn mới là “Nhân dân làm, Nhà nước hỗtrợ”, nhằm để thực hiện thành công xây dựng Nông thôn mới, các địa phương cầnlàm tốt công tác huy động nguồn lực, đặc biệt nguồn lực từ cộng đồng dân cư.Nguồn lực xây dựng Nông thôn mới bao gồm: nguồn vốn tiền mặt, hiện vật (vậtliệu xây dựng), hiến đất…vốn tài trợ khác (tranh thủ sự ủng hộ của con em thànhđạt hướng về quê hương) để thực hiện các hoạt động xây dựng Nông thôn mới.Đây là sự thể hiện ở phạm trù vật chất lẫn phạm trù nhận thức về quyền sở hữu vàtính trách nhiệm, tự giác của thanh niên (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Trong xây dựng Nông thôn mới, công trình nào mà toàn dân làm được thì

để toàn dân làm, không phải tất cả các công trình đều phải thuê Làm như vậy để

họ có thể đóng góp sức lực cho công cuộc xây dựng Nông thôn mới thông qua việcxây dựng, cải tạo nâng cấp công trình đó Đồng thời, để phụ nữ phải thực sự hiểuđược, thấy được là họ làm cho chính mình, thực hiện theo chủ trương của Đảng vànhà nước, tự đóng góp, đầu tư nâng cao hiệu quả các công trình, các hoạt độngtrong xây dựng Nông thôn mới để từng bước nâng cao đời sống của chính gia đìnhmình và làm giàu chính đáng

2.1.4.5 Vai trò của phụ nữ trong việc tiếp cận khoa học kĩ thuật mới trong sản xuất kinh tế hộ gia đình

Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sáchbáo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận vànắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn.Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít thời gian dành chonghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hóa tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức

xã hội mà họ phải dành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy,phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội Phụ nữ ở độ tuổilao động thường có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn nam giới Phụ nữ bịhạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp nhiều khó khăn trongviệc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, khó khăntrong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống(Cao Thị Kim Dung, 2015)

Vì vậy, việc phụ nữ cần tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới làrất cần thiết nhằm nâng cao được kiến thức, kỹ năng của bản thân trong lĩnh

Trang 31

vực sản xuất nông nghiệp cũng là tăng năng suất trong việc nâng cao kinh tế của

đó so với việc đàn ông quyết định và phụ nữ bắt buộc phải nghe theo (Cao ThịKim Dung, 2015)

2.1.4.7 Vai trò của phụ nữ trong việc kiểm tra giám sát, sử dụng các công trình xây dựng Nông thôn mới

Vai trò của phụ nữ trong kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai thực hiệnxây dựng Nông thôn mới thể hiện: kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, quản

lý và sử dụng các nguồn đầu tư, nguồn thu từ cộng đồng, các dự án đầu tư vào cộngđồng, các công trình nhân dân đóng góp kinh phí; hay sự tham gia lao động trực tiếp,

số ngày công kiểm tra thực tế vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạtđộng của tổ, nhóm khuyến nông… thông qua hoạt động của các ban thanh tra nhândân hay bán giám sát cộng đồng Thông qua việc kiểm tra và giám sát thể hiện vai tròcủa phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới đồng thời đảm bảo đươc chất lượng cáccông trình, các hoạt động xây dựng Nông thôn mới từ đó nâng cao chất lượng phục vụcủa các công trình xây dựng Nông thôn mới, nâng cao thời gian hưởng lợi của cáccộng đồng dân cư (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Nghiệm thu có nghiệm thu từng phần, từng giai đoạn và nghiệm thu tổngthể; được thể hiện qua biên bản có sự kết hợp của các thành phần tham gia, trong

đó có sự tham gia của phụ nữ Số lần nghiệm thu ở các hoạt động khác nhau cũngkhác nhau, để tham gia nghiệm thu đòi hỏi cả quá trình tham gia lao động của phụ

nữ Sau nghiệm thu tổng thể phụ nữ tiếp nhận quản lý và khai thác sử dụng chochính nhu cầu cầu của họ Vừa khai thác vừa quản lý đồng thời nâng cao vai tròcủa phụ nữ, để họ thấy rằng mình thực sự rất quan trọng trong các hoạt động

Trang 32

phát triển của địa phương, từ đó tăng tính trách nhiệm của phụ nữ mà lại nâng caotuổi thọ cho các công trình (Cao Thị Kim Dung, 2015).

Có thể nói sự tham gia của phụ nữ là phương tiện hữu hiệu để huy động sứcmạnh tổng hợp của địa phương, tổ chức và vận dụng năng lực, sự khôn ngoan, tínhsáng tạo của quần chúng vào hoạt động xây dựng Nông thôn mới Giúp xác địnhđược nhu cầu ưu tiên của cộng đồng và tiến hành những hoạt động phát triển đểđáp ứng nhu cầu này Giúp cho việc xây dựng Nông thôn mới được thừa nhận,khuyến khích thanh niên và nhân dân đóng góp nguồn lực thực hiện và đảm bảokhả năng bền vững (Cao Thị Kim Dung, 2015)

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng NTM

Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và trong nông nghiệp,nông thôn, phong trào nông thôn mới nói riêng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tớivai trò của phụ nữ Các yếu tố đó có thể là do những yếu tố bên ngoài tác động nhưcác cơ chế chính sách và tác động của tổ chức đoàn thể, cũng có thể là những yếu

tố từ chính bản thân người phụ nữ tác động đến vị trí, vai trò của phụ nữ trong xâydựng Nông thôn mới Dưới đây là một số những tác nhân chủ yếu tác động đến vaitrò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

2.1.5.1 Yếu tố về cơ chế chính sách

a Đường lối, Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy vai trò của Phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

Đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy vai trò của phụ

nữ có ảnh hưởng rất lớn đến vai trò của họ trong xây dựng Nông thôn mới Khipháp luật nhà nước, các chính sách, cơ chế xã hội bảo vệ quyền lợi người phụ nữ,các chính sách đều đi theo hướng khuyến khích thúc đẩy bình đẳng giới thì phụ nữ

có cơ hội tạo được một chỗ đứng trong xã hội, có tiếng nói riêng của mình tronggia đình và xã hội Bên cạnh đó, các chính sách của Nhà nước tạo cơ chế mở rộng

về quyền sở hữu đất đai, vay vốn, tạo việc làm, kế hoạch hóa gia đình…giúp chophụ nữ thì họ có cơ hội được đóng góp sức mình cho công cuộc chung của đấtnước (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Do ở Việt Nam vẫn còn tồn tại một số tư tưởng trọng nam – khinh nữ trongkhi đó bản thân thể chất người phụ nữ lại chân yếu tay mềm, không được khỏemạnh như nam giới, nên họ gặp hạn chế trong việc thể hiện bản thân Nếu các cơchế chính sách tác đông tốt đến phụ nữ được, họ sẽ thể hiện vai trò của

Trang 33

mình tốt hơn trên mọi phương diện nói chung và xây dựng Nông thôn mới nóiriêng (Cao Thị Kim Dung, 2015).

b Nhận thức và tạo điều kiện của chính quyền địa phương về vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới

Phụ nữ luôn là những người thiệt thòi hơn so với nam giới, nên trong tất cảcác lĩnh vực nam giới đều được ưu tiên hơn trong giải quyết các vấn đề tại địaphương Chính vì vậy cần có sự nhận thức đúng đắn hơn trong việc giúp vai tròcủa phụ nữ được nâng cao từ các cấp chính quyền địa phương, mở rộng cơ chế chophụ nữ thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực Đặc biệt với những khu vựcvùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số hay những nơi có nhiều tôn giáo khác nhau thìđiều đó lại càng khó khăn hơn trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ Vì vậy, nhậnthức và việc tạo điều kiện cho phụ nữ làm việc của chính quyền địa phương ảnhhưởng rất lớn đến vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới (Cao Thị KimDung, 2015)

c Công tác khuyến nông, tập huấn khoa học kỹ thuật mới phục vụ sản xuất nông nghiệp

Trước đây, trình độ học vấn của phụ nữ thường không được coi trọng, nêntrình độ và sự hiểu biết của phụ nữ chỉ dừng lại ở việc học hỏi những kinh nghiệm

từ xưa để lại hoặc làm việc theo thói quen Trong quá trình sản xuất nông nghiệpngày nay, nếu chỉ áp dụng những kĩ thuật cũ và lạc hậu vào sản xuất sẽ rất tốncông sức và không đạt được hiểu quả cao Chính vì vậy việc tăng cường công táckhuyến nông, tập huấn kĩ thuật mới phục vụ sản xuất nông nghiệp cho người dânđặc biệt là phụ nữ là rất quan trọng vì chủ yếu ở vùng nông thôn phụ nữ là người ởnhà tham gia sản xuất nông nghiệp là chính Tăng cường công tác khuyến nôngcho phụ nữ cũng giúp phụ nữ hiểu biết hơn về các cơ chế chính sách của nhà nước

về các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp xây dựng Nông thôn mới, giúp phụ nữ hiểubiết hơn nâng cao trình độ của bản thân (Cao Thị Kim Dung, 2015)

2.1.5.2 Yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ

a Trình độ học vấn, chuyên môn, nhận thức của phụ nữ

Theo đánh giá của hầu hết các nghiên cứu về phụ nữ thì trình độ của phụ nữhầu hết thấp hơn nam giới Thực trạng này khiến cho công tác xã hội hóa hoạtđộng giáo dục, môi trường, dân số rất khó triển khai ở các vùng nông thôn và

Trang 34

kém hiệu quả ở khu vực thành thị Muốn nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo thìphải trang bị những kiến thức cơ bản cho người dân đặc biệt là phụ nữ, để họ thayđổi nếp nghĩ, tiếp thu cái mới, để thay đổi nếp cũ, từ đó tự khẳng định vai trò củamình trong gia đình – xã hội (Cao Thị Kim Dung, 2015).

Phụ nữ bị hạn chế về trình độ kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên đãgây cho họ không ít khó khăn cho việc nắm bắt các thể chế pháp luật, tìm nguồnvốn, tìm thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng khoa học kỹ thuật mớihay các phương tiện hiện đại vào sản xuất và đời sống, do vậy hiệu quả của côngviệc và năng suất lao động còn thấp cho nên vai trò đóng góp của phụ nữ cho pháttriển kinh tế hộ gia đình bị hạn chế (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Vì vậy, khả năng nhận thức của phụ nữ càng cao thì vai trò của họ đóng gópcủa họ trên mọi lĩnh vực nói chung và xây dựng Nông thôn mới càng cao

b Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ

Muốn theo kịp được sự phát triển của xã hội chúng ta phải có thông tin.Đây có lẽ là một nguyên lý hiển nhiên trong xã hội Nhưng những nguyên lý,những điều tưởng chừng hiển nhiên đó lại rất xa vời đối với khu vực nông thôn đặcbiệt là đối với phụ nữ Sự thờ ơ đối với thông tin mới đang xảy ra phổ biến ở khuvực nông thôn cụ thể là ở phụ nữ Điều này dẫn đến một kết quả tất yếu là sự thiếuhụt thông tin ở người phụ nữ, làm cho khả năng tiếp cận những tiến bộ khoa học

kỹ thuật nói chung và những đổi mới trong ngành nông nghiệp nói riêng bị hạnchế, làm ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm Từ đó hạn chế đóng gópcủa phụ nữ vào thu nhập của gia đình khiến vai trò của người phụ nữ trong kinh tế

hộ không cao (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Mọi sự cố gắng của Đảng, Nhà nước, xã hội và nam giới không có hiệu quảkhi mà bản thân người phụ nữ không nhận thức được, không tự ý thức thoát khỏi

tư tưởng cũ, mà vươn lên khẳng định vị trí của bản thân trong gia đình – xã hội.Chính vì thế việc động viên làm cho phụ nữ làm thay đổi tư duy, đó là việc làmcần thiết trong công việc phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế cũngnhư xã hội (Cao Thị Kim Dung, 2015)

c Điều kiện kinh tế hộ gia đình của phụ nữ.

Điều kiện kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống của phụ nữ,khi kinh tế vững mạnh, người phụ nữ có cơ hội được học tập, vui chơi, nghỉ ngơi,theo ý muốn (Cao Thị Kim Dung, 2015)

Trang 35

Việc đóng góp về tiền bạc, vật chất cũng như mọi mặt của người phụ nữcho công cuộc xây dựng Nông thôn mới được tăng lên.

Chính vì vậy, việc ưu tiên phát triển kinh tế hộ là rất quan trọng, chính điềunày tạo những cơ hội cho phụ nữ được phát triển đời sống tinh thần, vật chất, nângcao sức khỏe, để phụ nữ thể hiện tốt hơn vai trò trên mọi lĩnh vực

d Việc ra quyết định trong gia đình của phụ nữ

Hiện nay, việc ra quyết định trong gia đình vẫn chủ yếu là do đàn ông, phụ

nữ chỉ góp phần nhỏ trong việc ra quyết định đó Ngày nay, việc nâng cao vai tròcủa phụ nữ trong gia đình để thực hiện mục tiêu “bình đẳng giới” rất được quantâm chính vì vậy ngay từ việc ra quyết định trong mỗi gia đình cũng cần có sựđóng góp ý kiến của phụ nữ mà không phải chỉ mình đàn ông tự quyết định Trongquá trình xây dựng Nông thôn mới cần rất nhiều sự chung tay đóng góp của ngườidân, nếu phụ nữ không được đưa ra ý kiến của mình thì sẽ làm giảm tính thốngnhất trong người dân và mất một lực lượng lớn lao động có thể đóng góp sức mìnhtrong quá trình xây dựng Nông thôn mới (Cao Thị Kim Dung, 2015)

2.1.5.3 Yếu tố liên quan đến tố chức hội phụ nữ

Theo những tiêu chí mới về xã đạt chuẩn Nông thôn mới bắt đầu từ năm

2016 thì vai trò của Hội phụ nữ ngày càng được nâng cao khi có 1 tiêu chí liênquan trực tiếp đến chương trình của hội phụ nữ đó là chương trình “5 không 3sạch” được trung ương hội liên hiệp phụ nữ phát động từ trước đó Chính vì vậyviệc huy động sự tham gia của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới cũng nhưviệc phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng Nông thôn mới ngày nay được cáccấp hội phụ nữ rất quan tâm Các cấp hội phụ nữ cũng đã có nhiều thành tích caotrong quá trình xây dựng Nông thôn mới và cần được phát huy nhân rộng trong cảnước (Cao Thị Kim Dung, 2015)

2.2 CỞ SỞ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

2.2.1 Những kinh nghiệm của một số nước về phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng nông thôn mới

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong phát huy vai trò của phụ nữ trong phong trào Seamaul Undong

Hàn Quốc vào những năm đầu thập niên 60 vẫn là một nước chậm pháttriển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu

Trang 36

vực nông thôn Trong khi đó khắp đất nước liên tiếp bị lũ lụt, hạn hán xảy rathường xuyên Xã hội Hàn Quốc thời đó là một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng.Nỗi lo lớn nhất của Chính phủ là làm cách nào để thoát khỏi đói nghèo Các sảnphẩm xuất khẩu lúc đó trở thành mục tiêu chính để tăng trưởng kinh tế Tổngthống Park Chung-hee nhận ra rằng việc hỗ trợ của Chính phủ cũng sẽ là vô nghĩanếu người dân không nghĩ cách tự cứu giúp chính mình Hơn nữa khuyến khíchngười dân hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn.Những ý tưởng này chính là nền tảng của Phong trào Làng mới (Đinh Quang Hải,2014).

Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trởnên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần cù,sáng tạo, độc lập và cộng đồng Tổng thống Hàn Quốc Park Jeong-hee phát biểu:

“Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó

khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Seamaul Undong đó

là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới” Như vậy, phong trào làng mới nhấn

mạnh đến yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh

thần của người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và

qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân (Đinh Quang Hải, 2014)

Lập ra “Ủy ban Phát triển Làng mới” có 5-10 người, đầy đủ nam và nữ.Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là bầu ra

một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Ủy ban Phát triển Làng mới”, Ủy ban này có

khoảng 5-10 người, có đầy đủ nam và nữa, những người này là đại diện cho cộngđồng ở làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự án phát triểnnông thôn cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện cũng được thành lập

Ủy ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho Ủy ban Phát triểnlàng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Chương trình này do Tổngthống trực tiếp đứng ra lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan làm việc (Đinh Quang Hải,2014)

Đội ngũ lãnh đạo thôn gồm 2 người, một nam và một nữ làm nòng cốt chochương trình phát triển Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam

và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Việc bầu ra một nam một

Trang 37

nữ đã tạo quyền bình đẳng cũng như phát huy tinh thần tự chủ, năng nổ với cáccông việc chung của chị em phụ nữ Những người này độc lập với hệ thống chínhtrị và hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào Nguồntinh thần chính cho những người này là sự kính trọng của cộng đồng và sự vậnđộng tinh thần kịp thời từ Chính phủ, những người lãnh đạo tinh thần này không bịmột sức ép bào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế, mà chỉ chịu sự phán xét củanông dân và được cộng động tin yêu (Đinh Quang Hải, 2014).

Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, chú trọng đào tạo cán bộ nữ, gắn

cả nước với phong trào phát triển nông thôn Để giảm khoảng cách giữa dânthường và quan chức Chính phủ, cần gắn bó thực sự cán bộ nhà nước với nhândân Các quan chức Trung ương được đưa về và sống cùng với nông dân, lãnh đạocác cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân; Chính phủ mở các khóa đào tạongắn ngày khoảng từ một đến hai tuần, nội dung tùy theo nhu cầu từng giai đoạncủa sự phát triển, đào tạo chủ yếu là học theo các mô hình, rút kinh nghiệm từ các

mô hình Các chị em phụ nữ được cán bộ hướng dẫn học tập các mô hình đặc biệt,

có hiệu quả của phụ nữ trong cả nước (Đinh Quang Hải, 2014)

Phát huy dân chủ, mọi người đều được tham gia vào quá trình ra quyếtđịnh, không phân biệt giới tính nam hay nữ Để tập hợp hay huy động nhanh,thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, các làng đã xây dựng hội trường làng củamình Nông dân đều tự ra quyết định lựa chọn thứ tự ưu tiên cho mỗi hoạt động,

họ tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi và quản lý, giám sát côngtrình Các ý kiến phù hợp, hiệu quả sẽ được đem ra thảo luận và tổ chức thực hiện.Người phụ nữ luôn được khuyến khích thể hiện và đóng góp ý kiến của mình trongcông việc chung của cộng đồng (Đinh Quang Hải, 2014)

Phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nôngthôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vựcnông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự pháttriển Phong trào “Làng mới”, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa HànQuốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có Trong vòng 6 năm thunhập bình quân của các nông hộ tăng gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuấtnông nghiệp tăng, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường làng, nhà xưởng, hộ thốngcấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ tích lũy vốn, đào tạo nhân lực,bảo vệ môi trường, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình đều được cải thiện (ĐinhQuang Hải, 2014)

Trang 38

2.2.1.2 Kinh nghiệm về phát huy vai trò của phụ nữ trong phong trào “ Mỗi làng, một sản phẩm” của Nhật Bản

a Xuất xứ phong trào “ mỗi làng, một sản phẩm”

Sau những hệ lụy về công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcNhật Bản, diện tích các thành phố chiếm 20% tổng diện tích cả nước nhưng nhữngvùng này chiếm đến 80% dân số, các căn nhà bị bỏ không do không có người ở,nông nghiệp bị đình đốn do thiếu người làm Nhiều vùng nông thôn chỉ còn lạingười già và trẻ nhỏ, cuộc sống của người dân nông thôn vì thế mà ngày càng trởlên nghèo khổ hơn, trong khi những cơ hội tìm việc làm ở khu vực thành phố cứhẹp dần lại theo thời gian Ông Morihiko Hiramalsu, người đứng đầu chính quyềntỉnh Oita, đã đề xuất thực hiện Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” trên địa bàntỉnh Mục tiêu ban đầu của Phong trào này là khuyến khích người dân nông thônlàm sống lại các giá trị tốt đẹp của quê hương mình, qua đó tăng thu nhập và cảithiện bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, mục tiêu sâu xa hơn chính là thông qua cáchoạt đồng này, tạo sức quyến rũ của khu vực nông thôn, hạn chế sự di dân tự do racác thành phố và khu công nghiệp lớn trong cả nước, xây dựng nguồn nhân lực đủmạnh thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực này trong tươnglai, đồng thời tạo ra sự chuyển dịch để đạt đến sự cân bằng về kinh tế cũng như về

xã hội giữa vùng nông thôn của địa phương với các thành phố lớn, giảm sự phụthuộc về kinh tế vào ngân sách vào chính quyền trung ương (Vũ Hồng Thư, 2013)

b Nội dung phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm”

Mỗi địa phương (làng, xã, huyện), “mỗi làng” tùy theo điều kiện và hoàncảnh lịch sử của mình lựa chọn ra sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng củađịa phương để phát triển Các sản phẩm này có thể là những sản phẩm tiêu dùng cụthể như rau, quả, đồ gỗ nhưng cũng có thể là các sản phẩm văn hóa, du lịch Điều quan trọng đối với các sản phẩm được lựa chọn là mặc dù chúng phải mangnét đặc trưng, kết hợp được các yếu tốt địa lý, văn hóa, truyền thống của địaphương đó, nhưng phải được thị trường Nhật Bản và thế giới chấp nhận (Vũ HồngThư, 2013)

c Vai trò của phụ nữ Nhật Bản trong phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm”

Trong hoàn cảnh dân số tụt giảm hằng năm, nguồn nhân công khan hiếm,cách tốt nhất có thể sản xuất ra những sản phẩm của địa phương như Phong trào

Trang 39

mong muốn, làm sống lại niềm tự hào của người dân trong vùng là tổ chức nhữngnhóm phụ nữ (theo truyền thống thường không tham gia công việc xã hội) làmcông tác chế biến nông sản Các nhóm này, ban đầu được chính quyền trợ cấp mộtphần kinh tế để xây dựng cơ sở sản xuất, tư vấn công nghệ chế biến, nơi tiêu thụsản phẩm, còn người sản xuất tiến hành mua sắm thiết bị, tổ chức sản xuất và tiêudùng sản phẩm Ở xưởng sản xuất nước cà chua cô đặc tại thị trấn Ogi, 2-3 nhómphụ nữ chung nhau một khu nhà sản xuất do chính quyền trợ giúp để tiến hành sảnxuất sản phẩm của mình Điều quan trọng là Phong trào đã thổi được lòng tin,niềm tự hào và ý nghĩa của công việc sản xuất vào các nhóm này để họ ngày càngnâng cao chất lượng, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình (Vũ HồngThư, 2013).

Trải qua hơn 20 năm tiến hành Phong trào, đã có 339 nhóm phụ nữ chế biếnnông sản được thành lập và đi vào hoạt động Những khẩu hiệu như “Nước ép càchua Ogi đi lên Hockaido” hay “Karinto (một loại bánh vùng Amagase) tiến vàoHoa Kỳ” đã song hành cùng họ nhiều năm qua tạo ra một niềm kiêu hãnh và tựtin để vượt qua những khó khăn trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.Ngoài ra các mô hình như Điểm dừng xe ven đường trong Phong trào “Mỗi làng,một sản phẩm”, Thị trấn Oyama: “Đưa cây mận (Ume) và hạt dẻ tiến vào”Himeshima; Nơi sản xuất tôm lớn nhất Nhật Bản, Kitsuki: Trồng quýt bằng nềncông nghiệp công nghệ cao, Yufuin: Phát triển quê hương băng du lịch phongcảnh, Nakatsue; Mang vỏ vàng vào cuộc sống, Showa; Khôi phục thị trấn từ truyềnthống văn hóa và lịch sử, Ajimu: Đưa khách du lịch vào tận nhà người dân,Saganoseki; Thương hiệu làm lên sự thành công đều có sự đóng góp rất lớn củachị em phụ nữ Nhật Bản (Vũ Hồng Thư, 2013)

Phụ nữ Nhật Bản đóng góp rất lớn vào công cuộc chung, góp phần tạo ra sốlượng sản phẩm thủ công được làm và bán ra tăng từ 143 loại sản phẩm, thu nhập35,9 tỷ yên khi phong trào mới bắt đầu lên 336 loại sản phẩm và cho thu nhập 141

tỷ yên vào năm 2001 Các mặt hàng nông sản phổ biến của địa phương từ chỗ ítđược biết đến ngay trên thị trường nội địa như nấm khô, rượu cất sochu từ lúamạch, cam, chanh đã trở lên phổ biến và có giá trị khá cao như nấm khô Shiitake

từ 1% tăng lên 32%, rượu sochu từ 1% lên 30,7% thị phần của thị trường nội địa,chanh Kabosu từ Oita đã có mặt hàng ngày ở Hockaido (Vũ Hồng Thư, 2013)

Người phụ nữ Nhật ở vùng này từ chỗ chỉ quen với công việc nội trợ, sống

Trang 40

phụ thuộc vào chồng, đến nay đã rất quen thuộc với công việc chế biến nông sản.

Họ tự tạo được thu nhập cho bản thân, tạo thêm thu nhập cho gia đình và đóng gópcho xã hội Với tiêu biểu có 339 nhóm phụ nữ tự quản làm công tác chế biến nôngsản đã tiếp thêm sức mạnh cho chị em phụ nữ trong cả nước, họ muốn thể hiệnmình hơn trong công tác khác ngoài việc nội trợ gia đình, như vậy người phụ nữcũng coi trọng hơn, tự khẳng định mình, có chỗ đứng trong xã hội, đời sống tinhthần được nâng cao do tiếp thu môi trường mới, công việc mới, ý thức về bìnhđẳng giới của phụ nữ Nhật Bản cũng cao hơn (Vũ Hồng Thư, 2013)

Với truyền thống Á Đông, người phụ nữ chính là người “giữ lửa” trong giađình, các gia đình Nhật Bản cũng không ngoại lệ Người phụ nữ chính là người lotoan, quán xuyến việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, phụng dưỡng bố mẹ, làngười bạn tâm giao tri kỉ để chia sẻ mọi việc với người chồng của mình Chính vì

sự gần gũi như vậy, những tư tưởng sống của người phụ nữ Nhật Bản đã góp phầnkhơi dậy niềm tin cho lớp trẻ - những người vốn đã có mặc cảm về sự yếu kémkinh tế của địa phương, về sự phát triển kinh tế nông thôn nơi họ đã sinh ra và lớnlên Chính vì vậy, các thế hệ sau của các gia đình Nhật bản lại càng hoàn thiệnhơn, có tinh thần, nghị lực làm việc hơn, chính họ là những người tìm ra nhữnggiải pháp khả thi để phát triển quê hương họ (Vũ Hồng Thư, 2013)

Trải qua 20 năm phát triển, Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” đã đạtđược những thành công vang dội trong quá trình phát triển nông thôn, thu hẹpkhoảng cách giữa nông thôn và thành thị về cả kinh tế, văn hóa và lối sống trong

đó có đóng góp rất lớn của chị em phụ nữ Nhật Bản Phụ nữ Nhật Bản tích cựctham gia các hoạt động triển lãm về sản phẩm của bản thân, tổ nhóm, của địaphương và luôn tích cực nâng tầm các hoạt động triển lãm này tại Tokyo và cácthành phố lớn khác của Nhật Bản thành những sự kiện phổ biến và có ảnh hưởngtốt trong dân cư các thành phố lớn Ở quận Oita, nơi khởi thủy của phong trào

“Mỗi làng, một sản phẩm” cơ sở hạ tầng và du lịch phát triển mạnh, tạo điều kiệnthu hút đầu tư từ các công ty lớn như Toyota, Canon tạo ra khu công nghiệp rấtlớn ở địa phương Không những thế, nhờ sự nổi tiếng của phong trào mà nhiều sựkiện văn hóa, thể thao lớn của thế giới và nước Nhật Bản như Vòng chung kết giảibóng đá thế giới năm 2002, Cuộc đua xe đạp quốc tế người tàn tật hàng năm cũng đã được tổ chức tại đây (Vũ Hồng Thư, 2013)

Qua đó, các chính sách của nhà nước Nhật bản hợp lý cũng như sự quan

Ngày đăng: 14/07/2021, 14:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w