Thực trạng tham gia của doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc thông qua mô hình chuỗi cung ứng .... Vai trò của các tác nhân trong việc hình thành và ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2013-2018 "KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC"
Mã số: KHCN-TB/13-18
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG
PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO VÙNG TÂY BẮC”
Mã số: KHCN-TB.10X/13-18
Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Phát triển doanh nghiệp
Chủ nhiệm đề tài : TS Lương Minh Huân
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2013-2018 "KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC"
Mã số: KHCN-TB/13-18
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG
PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO VÙNG TÂY BẮC”
Mã số: KHCN-TB.10X/13-18
Cơ quan chủ trì đề tài : Viện Phát triển doanh nghiệp
Chủ nhiệm đề tài : TS Lương Minh Huân
Chủ nhiệm đề tài Đại diện CQ chủ trì
TS Lương Minh Huân TS Phạm Thị Thu Hằng
Hà Nội - 2017
Trang 3DVPTKD : Dịch vụ phát triển kinh doanh
FAO : Tổ chức Lương thực Thế giới
GAP : Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
GLOBAL GAP : Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt toàn cầu
GTGT : Giá trị gia tăng
HTXNN : Hợp tác xã nông nghiệp
IFAD : Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế
IFC : Tổ chức Tài chính Quốc tế
M4P : Thị trường cho người nghèo
MNC : Tập đoàn đa quốc gia
Trang 4MNPB : Miền núi phía bắc
NGO : Tổ chức phi chính phủ
NHCSXH : Ngân hàng Chính sách xã hội
NHPT : Ngân hàng phát triển Việt Nam
NHTG : Ngân hàng Thế giới
NHTM : Ngân hàng Thương mại
NLTS : Nông lâm thủy sản
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SNV : Tổ chức Phát triển Hà Lan
SXKD : Sản xuất kinh doanh
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
TDĐT : Tín dụng đầu tư
THX : Công ty Cổ phần Thế Hệ Xanh
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TNGT : Tai nạn giao thông
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TYM : Tổ chức tài chính vi mô tình thương
UBND : Ủy ban nhân dân
USAID : Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
VBCF : Quỹ Thách Thức Doanh Nghiệp Việt
VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Viet GAP : Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam VNPT : Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới
WRI : Viện Tài nguyên Thế giới
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
XNK : Xuất nhập khẩu
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT I MỤC LỤC III DANH MỤC BẢNG VI DANH MỤC HÌNH VII LỜI CẢM ƠN IX
MỞ ĐẦU X CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN
MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC 1 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH THỊ
TRƯỜNG PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO 1 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về thị trường và người nghèo 1 1.1.2 Các loại thị trường phù hợp cho người nghèo 5 1.1.3 Điều kiện hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo
thông qua mô hình thị trường đáy tháp 14 1.1.4 Vai trò của các tác nhân tham gia trong việc hình thành và phát
triển thị trường cho người nghèo thông qua mô hình đáy tháp 27 1.1.5 Điều kiện hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo
thông qua mô hình chuỗi cung ứng 32 1.1.6 Vai trò của các tác nhân tham gia trong việc hình thành và phát
triển thị trường cho người nghèo thông qua mô hình chuỗi cung ứng 37 1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CHO PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG
PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC 44 1.2.1 Cơ sở thực tiễn cho việc phát triển thị trường cho người nghèo
thông qua mô hình thị trường đáy tháp 44 1.2.2 Cơ sở thực tiễn cho việc phát triển thị trường cho người nghèo
thông qua mô hình chuỗi cung ứng 49 1.2.3 Bài học trong việc phát triển thị trường cho người nghèo thông
qua mô hình thị trường đáy tháp 52 1.2.4 Bài học trong việc phát triển thị trường cho người nghèo thông
qua mô hình chuỗi cung ứng 64 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH THỊ
TRƯỜNG PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC 69 2.1 TỔNG QUAN VÙNG TÂY BẮC 69 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng Tây Bắc 69
Trang 62.1.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội vùng Tây Bắc 70
2.1.3 Thực trạng hộ nghèo tại vùng Tây Bắc 75
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC THÔNG QUA MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG ĐÁY THÁP 77
2.2.1 Chân dung người tiêu dùng Tây Bắc 77
2.2.2 Đặc điểm tiêu dùng của người dân vùng Tây Bắc 79
2.2.3 Thực trạng tham gia thị trường Đáy Tháp của doanh nghiệp Tây Bắc 102
2.2.4 Đánh giá các điều kiện hình thành và phát triển thị trường đáy tháp cho người nghèo ở Tây Bắc 113
2.2.5 Vai trò của các tác nhân tham gia hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc thông qua mô hình thị trường đáy tháp 136 2.2.6 Bài học rút ra từ nghiên cứu điển hình phát triển thị trường cho người nghèo vùng Tây Bắc thông qua mô hình đáy tháp 146
2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC THÔNG QUA MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG 152
2.3.1 Đặc điểm các chuỗi cung ứng ở Tây Bắc 152
2.3.2 Thực trạng tham gia của người nghèo trong các chuỗi cung ứng ở Tây Bắc 156
2.3.3 Thực trạng tham gia của doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc thông qua mô hình chuỗi cung ứng 162
2.3.4 Đánh giá các điều kiện hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc thông qua mô hình chuỗi cung ứng 169
2.3.5 Vai trò của các tác nhân trong việc hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc thông qua mô hình chuỗi cung ứng 181
2.3.6 Bài học rút ra từ mô hình chuỗi cung ứng điển hình ở Tây Bắc 191
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC 213
3.1 BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC 213
3.1.1 Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 213
3.1.2 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 215
3.1.3 Thách thức trong việc phát triển thị trường cho người nghèo 217
3.2 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 219
3.2.1 Mục tiêu chính sách 219
Trang 73.2.2 Đối tượng của chính sách khi thiết kế 220 3.3 ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH THỊ
TRƯỜNG CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC THÔNG QUA THỊ
TRƯỜNG ĐÁY THÁP 220 3.3.1 Phát triển và thu hút doanh nghiệp tham gia cung cấp hàng hóa
phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân vùng Tây Bắc 220 3.3.2 Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thị trường, giúp người nghèo
nâng cao nhận thức về nhu cầu về các hàng hóa đáp ứng nhu cầu 222 3.3.3 Phát triển các phương thức phân phối hàng hóa ở khu vực Tây Bắc 223 3.3.4 Chính sách xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thị
trường hàng hóa trên địa bàn vùng Tây Bắc 225 3.4 ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH THỊ
TRƯỜNG CHO NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC THÔNG QUA
CHUỖI CUNG ỨNG Ở TÂY BẮC 227 3.4.1 Đề xuất các chính sách và giải pháp nâng hình thành các chuỗi cung
ứng dựa trên khai thác lợi thế cạnh tranh của khu vực Tây Bắc 227 3.4.2 Đề xuất các chính sách thu hút doanh nghiệp tham gia vào
phát triển chuỗi cung ứng ở Tây Bắc 228 3.4.3 Đề xuất các chính sách quy hoạch phát triển vùng nguyên
liệu phục vụ chuỗi cung ứng 231 3.4.4 Đề xuất các chính sách khuyến khích phát triển các hoạt động
KHCN liên quan đến phát triển các chuỗi cung ứng ở Tây Bắc 232 3.4.5 Đề xuất các chính sách liên quan đến thị trường vốn phục vụ
phát triển các chuỗi cung ứng ở Tây Bắc 234 3.4.6 Đề xuất các chính sách nâng cao năng lực sản xuất và khả năng
tham gia các chuỗi cung ứng của người nghèo ở Tây Bắc 235 3.4.7 Đề xuất chính sách phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm dong riềng 238 3.5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI
NGHÈO THAM GIA THỊ TRƯỜNG CHUỖI CUNG ỨNG Ở TÂY BẮC 239 3.5.1 Đề xuất giải pháp với các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung
ứng ở Tây Bắc 239 3.5.2 Đề xuất giải pháp với người nghèo khi tham gia vào chuỗi cung ứng 240 KẾT LUẬN 243 TÀI LIỆU THAM KHẢO 247 PHỤ LỤC 257 Phụ lục 1: Phiếu khảo sát đặc điểm tiêu dùng của người dân vùng Tây Bắc 257 Phụ lục 2: Phiếu khảo sát doanh nghiệp vùng Tây Bắc 269
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 0.1: Mẫu khảo sát đặc điểm tiêu dùng của người dân vùng Tây Bắc XVIII Bảng 0.2: Mẫu khảo sát đánh giá thực trạng doanh nghiệp tham gia vào
phát triển thị trường cho người nghèo vùng Tây Bắc XIX
Bảng 1.1: Dân số, thu nhập và quy mô thị trường đáy tháp BOP 7
Bảng 1.2: Cơ cấu thị trường BOP theo ngành 7
Bảng 1.3: Marketing hỗn hợp - Marketing tại thị trường đáy tháp 20
Bảng 2.1: Quy mô hộ gia đình người dân vùng Tây Bắc 77
Bảng 2.2: Thực phẩm thiết yếu nhất của người Tây Bắc theo thứ tự ưu tiên 80
Bảng 2.3: Tần suất mua và số tiền chi trung bình đối với các mặt hàng thực phẩm thiết yếu không phải là lương thực của người dân vùng Tây Bắc 87
Bảng 2.4: Đánh giá sản phẩm thiết yếu hiện tại 92
Bảng 2.5: Mức độ hài lòng khi mua tư liệu sản xuất của các dân tộc ở Tây Bắc 101
Bảng 2.6: Số lượng doanh nghiệp tại các tỉnh vùng Tây Bắc năm 2014 104
Bảng 2.7: Cơ cấu ngành kinh tế tại các tỉnh Tây Bắc giai đoạn 2007-2014 108
Bảng 2.8: Xếp hạng mức độ "đắt đỏ" giữa các vùng năm 2014-2015 115
Bảng 2.9: Thực trạng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp Tây Bắc 127
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình 12
Hình 1.2: Hỗ trợ của IFAD vào phát triển chuỗi cung ứng chè/cà phê 14
Hình 1.3: Khung phân tích phát triển mô hình thị trường cho người nghèo vùng Tây Bắc 67
Hình 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo tại các tỉnh Tây Bắc năm 2015 76
Hình 2.2: Thu nhập bình quân của hộ gia đình người dân vùng Tây Bắc 78
Hình 2.3: Thu nhập bình quân của hộ gia đình người dân vùng Tây Bắc theo dân tộc 79 Hình 2.4: Tiêu chí khi mua thực phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 81
Hình 2.5: Địa điểm mua thực phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 82
Hình 2.6: Kênh thu thập thông tin về thực phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 82
Hình 2.7: Thời gian trả nợ khi mua hàng chậm trả 84
Hình 2.8: Sự hài lòng của người dân về thực phẩm thiết yếu tại Tây Bắc 84
Hình 2.9: Cảm nhận về giá bán khi mua thực phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 85
Hình 2.10: Khả năng tiếp cận các mặt hàng thiết yếu không phải là thực phẩm của người dân vùng Tây Bắc 86
Hình 2.11: Tiêu chí mua sản phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 87
Hình 2.12: Địa điểm mua sản phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 88
Hình 2.13: Các kênh thu thập thông tin về sản phẩm thiết yếu 89
Hình 2.14: Nguồn tiền trả nợ cho việc thanh toán chậm khi mua sản phẩm thiết yếu ở Tây Bắc 90
Hình 2.15: Mức độ hài lòng khi mua sản phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 91
Hình 2.16: Cảm nhận về giá bán khi mua sản phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 91
Hình 2.17: Tiêu chí khi mua sản phẩm thiết yếu của người dân vùng Tây Bắc 93
Hình 2.18: Địa điểm mua sản phẩm lâu bền của người dân vùng Tây Bắc 94
Hình 2.19: Các kênh thu thập thông tin về sản phẩm lâu bền 95
Hình 2.20: Mức độ hài lòng khi mua sản phẩm lâu bền của người Tây Bắc 96
Hình 2.21: Khả năng tiếp cận các tư liệu sản xuất của người dân vùng Tây Bắc 97
Hình 2.22: Tiêu chí khi mua tư liệu sản xuất của người dân vùng Tây Bắc 98
Hình 2.23: Địa điểm mua tư liệu sản xuất của người dân vùng Tây Bắc 99
Hình 2.24: Nguồn tiền mua sắm tư liệu sản xuất của người Tây Bắc 100
Hình 2.25: Mức độ hài lòng khi mua tư liệu sản xuất của người Tây Bắc 101
Trang 10Hình 2.26: Cảm nhận về giá bán khi mua tư liệu sản xuất của người dân
vùng Tây Bắc 102
Hình 2.27: Số lượng doanh nghiệp tại Tây Bắc giai đoạn 2007-2015 103
Hình 2.28: Phân bổ các doanh nghiệp Tây Bắc theo hình thức sở hữu năm 2014 105
Hình 2.29: Phân bổ các doanh nghiệp Tây Bắc theo quy mô lao động năm 2014 106
Hình 2.30: Phân bổ các doanh nghiệp Tây Bắc theo quy mô vốn năm 2014 106
Hình 2.31: Lý do lựa chọn đầu tư vào Tây Bắc 110
Hình 2.32: Cơ cấu khách hàng của doanh nghiệp 111
Hình 2.33 Yếu tố chính giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Tây Bắc 113
Hình 2.34: Mức độ phù hợp của giá cả và khả năng thanh toán của người nghèo vùng Tây Bắc 114
Hình 2.35: Mức độ hài lòng của người dân vùng Tây Bắc về các hàng hóa 117
Hình 2.36: Địa điểm mua sắm chủ yếu của người dân vùng Tây Bắc 118
Hình 2.37: Kênh phân phối của doanh nghiệp vùng Tây Bắc 119
Hình 2.38: Kênh thu thập thông tin về sản phẩm của người dân Tây Bắc 120
Hình 2.39: Kênh quảng cáo của doanh nghiệp vùng Tây Bắc 121
Hình 2.40: Hình thức khuyến mãi ưa thích của người dân vùng Tây Bắc 122
Hình 2.41: Phân bố chợ tại 12 tỉnh Tây Bắc 2014 125
Hình 2.42: Hiệu quả của các tổ chức hoạt động của tổ chức chính trị - xã hội ở tỉnh trong việc hỗ trợ doanh nghiệp Tây Bắc 146
Hình 2.43: Mô hình kinh doanh bếp xanh ở Tây Bắc 150
Hình 2.44: Phân đoạn thị trường tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay 161
Hình 2.45: Chuỗi cung ứng gà của các thành viên Hợp tác xã Gà Quý Hiền 163
Hình 2.46: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp về nguyên liệu/sản phẩm được cung cấp bởi các cá nhân/hộ nông dân tại Tây Bắc 169
Hình 2.47: Hình thức hỗ trợ của doanh nghiệp đối với các cá nhân/hộ nông dân cung cấp đầu vào tại Tây Bắc 170
Hình 2.48: Hỗ trợ cần thiết để doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng ở Tây Bắc 175
Hình 2.49 Sơ đồ chuỗi cung ứng sản phẩm dong riềng tại Bắc Kạn 192
Trang 11Ban chủ nhiệm đề tài xin gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân các tỉnh Tây Bắc và các tổ chức trong và ngoài nước đã hợp tác và hỗ trợ tích cực đề tài trong suốt giai đoạn vừa qua
Ban chủ nhiệm đề tài xin gửi lời cảm ơn tới Viện Phát triển doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đơn vị chủ trì đề tài đã hỗ trợ đề tài trong quá trình triển khai
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Vùng Tây Bắc - gồm 12 tỉnh (Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang)
và 21 huyện phía tây của hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Đây cũng là địa bàn sinh sống của trên 11,6 triệu người thuộc hơn 30 dân tộc anh em, trong đó khoảng 63% là đồng bào các dân tộc thiểu số Với một vị trí địa chính trị, kinh tế, sinh thái và văn hóa đặc biệt quan trọng, vùng Tây Bắc và đồng bào Tây Bắc luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước quan tâm Tây Bắc có một số lợi thế cạnh tranh như: sự đa dạng, phong phú, độc đáo về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên (rừng, khoáng sản, năng lượng, kỳ quan địa chất, khí hậu ); văn hoá dân tộc phong phú đậm bản sắc và hấp dẫn Tuy nhiên việc phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn do Tây Bắc là vùng lãnh thổ phức tạp về địa hình và nhiều thành phần dân tộc Ở Tây Bắc, sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu của hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu
số Tuy nhiên, tập quán trồng trọt ở mỗi tộc người tại các vùng thung lũng, vùng rẻo giữa và vùng cao vẫn có những nét riêng biệt, bởi những cách làm ăn này đã tồn tại qua hàng nghìn năm canh tác của họ Ngoài ra, họ còn chăn nuôi theo hộ gia đình, làm một số nghề thủ công, thực hiện nhiều hình thức sử dụng các nguồn lợi tự nhiên sẵn có trong rừng quanh khu vực cư trú Nhìn chung, mặc dù nền kinh
tế thị trường đã phổ biến ở đồng bằng và một số khu vực miền núi nhưng về cơ bản, các dân tộc vùng Tây Bắc vẫn duy trì các phương thức sản xuất truyền thống Trình độ văn hoá của cư dân nói chung còn thấp do đó cản trở đến khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật Mức đầu tư kinh phí cho các dự án khuyến nông thấp hình thức hướng dẫn đơn giản mới chỉ tập trung vào thực hiện các điểm trình diễn và tập huấn cho khuynh hướng trên cơ sở Các chính sách về tín dụng đã triển khai tương đối mạnh các dự án về tín dụng cho người nghèo vay vốn từ ngân hàng phục vụ người nghèo, từ chương trình vay vốn giải quyết việc làm Tuy nhiên, vấn đề rất đáng quan tâm là để người nghèo tiếp cận trực tiếp với các dự án tín
Trang 13dụng còn hạn chế do bản thân người nghèo còn e dè, sợ vay mà không trả được - hay vay không đúng mục tiêu, không đầu tư cho sản xuất Cuối cùng, cơ sở hạ tầng kém phát triển hiện đang là rào cản rất lớn trong việc thu hút được các doanh nghiệp đầu từ vào Tây Bắc Những yếu tố này, việc cung cấp sản phẩm thiết yếu cũng như tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho người nghèo ở Tây Bắc hiện đang gặp nhiều khó khăn
Chính tầm quan trọng và những đặc thù riêng, đòi hỏi cần có những chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế ở Tây Bắc Các chương trình này phải gắn với mục đích xóa đói giảm nghèo, giúp cải thiện cuộc sống của người dân vùng Tây Bắc
Đề tài “Nghiên cứu phát triển các mô hình thị trường phù hợp cho người nghèo vùng Tây Bắc”, mã số KHCN-TB.10X/13-18 kỳ vọng sẽ giúp thực hiện được mục đích này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về mô hình phát triển thị trường cho người nghèo
Thị trường cho người nghèo - người nghèo là người mua
Mặc dù người nghèo là những người có thu nhập thấp, sức mua sẽ hạn chế, tuy nhiên, số lượng người nghèo lại lớn, chính vì vậy nếu biết khai thác, đây sẽ là thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp, các tập đoàn đa quốc gia Điều này cũng đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh
Prahalad và Hart (2002) đã chỉ ra rằng phân khúc thị trường đáy tháp (Bottom
of the pyramid) có thể mang đến những cơ hội to lớn cho các công ty đa quốc gia
Việc phát triển thị trường đáy tháp một mặt có thể giúp những công ty này tìm kiếm những cơ hội phát triển, mặt khác có thể mang lại thịnh vượng cho người nghèo Prahalad và Hart (2002) đã chỉ ra 6 bất cập khiến người nghèo chưa thể tiếp cận được với các sản phẩm của các công ty đa quốc gia liên quan đến chi phí, công nghệ, khả năng chi trả, nhận thức về tiềm năng thị trường, trách nhiệm xã hội, người lãnh đạo giỏi Ngoài 6 bất cập này, còn phải kể đến trở ngại trong việc phân phối sản phẩm đến người nghèo, nhất là người nghèo sống ở các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi ở các nước đang phát triển (Shukla và Bairiganjan, 2011)
Trang 14Cũng đề cập đến lợi ích của việc các công ty đa quốc gia hướng đến phân khúc thị trường đáy tháp, Grootveld (2008) cho rằng điều kiện để doanh nghiệp vừa thu được lợi nhuận và cải thiện đời sống của người nghèo phụ thuộc một phần quan trọng vào sự hợp tác giữa các công ty đa quốc gia với các đối tác địa phương tại các nước đang phát triển
Nghiên cứu của Auclair và Jackohango (2008) một lần nữa khẳng định lại vai trò của thị trường đáy tháp trong việc hỗ trợ người nghèo sống ở khu vực thành thị phát triển một cách bền vững Hai tác giả đã chỉ ra rằng, để phát triển thị trường đáy tháp, khu vực tư nhân phải đảm bảo được 3 điều kiện là: tính sẵn có
(availability), có thể tiếp cận (accessibility) và có đủ khả năng (affordability)
Nghiên cứu của Voveryte (2011) đã đi sâu hơn về chiến lược kinh doanh của các tập đoàn đa quốc gia khi xâm nhập thị trường đáy tháp Theo Voveryte, có rất nhiều trở ngại cho các tập đoàn đa quốc gia khi bước chân vào thị trường đáy tháp
ở các nước đang phát triển do việc thiếu thông tin, thiếu lao động có kỹ năng, môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng và hạn chế tiếp cận các dịch vụ tài chính Đây là những trở ngại mà các tập đoàn đa quốc gia chỉ gặp khi kinh doanh ở các nước đang phát triển, không giống như tại các quốc gia phát triển Để vượt qua các khó khăn trở ngại này, Voveryte đã khuyên các tập đoàn đa quốc gia cần phải thực hiện chiến lược liên kết với các đối tác địa phương
Ngoài ra, còn phải kể đến rất nhiều nghiên cứu, nhiều báo cáo đã chỉ ra cách thức, những mô hình tiếp cận thành công thị trường đáy tháp ở các nước trên thế giới (DIBD, 2007; Akula, 2008; Hammond & Kramer, 2007)
Thị trường cho người nghèo – Người nghèo là người bán thông qua việc tham gia chuỗi cung ứng
Jaiswal (2007) đã nhấn mạnh việc tăng cường vai trò của người nghèo trong việc giảm nghèo nhanh chóng bằng cách giúp họ trở thành các nhà sản xuất, tham gia vào các chuỗi cung ứng cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp Quan điểm giúp người nghèo tham gia chuỗi cung ứng tiếp tục được phát triển bởi Karnani (2007) Karnani đã đưa ra lập luận rằng, thay vì tập trung coi người nghèo như người tiêu dùng, chúng ta cần phải xem họ như những nhà sản xuất, có như vậy
Trang 15mới giúp xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập thực tế của người nghèo Hỗ trợ người nghèo nâng cao thu nhập bằng cách giúp họ tham gia vào chuỗi cung ứng
là phương thức thoát nghèo một cách bền vững nhất Phát triển thị trường cho người nghèo qua chuỗi cung ứng mang lại nhiều lợi ích Các lợi ích có thể thấy trực tiếp là: Tạo lập và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho người nghèo;
Gia tăng và cải thiện sản phẩm cho người nghèo; Hỗ trợ việc làm
Thị trường cho người nghèo thông qua mô hình quỹ tính dụng vi mô
Theo công bố tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về quỹ tín dụng vi mô 2011
(Global Microcredit Summit), sau hơn 40 năm hình thành, các tổ chức tín dụng vi
mô đã gặt hái được những thành công không thể phủ nhận Các quỹ tín dụng này
đã trở thành công cụ hữu hiệu để giảm tình trạng nghèo đói, tăng quyền tự chủ cho người phụ nữ, phát triển hệ thống tài chình tổng thể, giúp người dân tự tạo việc làm và liên kết với hệ thống ngân hàng (Mohanty và các tác giả, 2013) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chỉ sự hỗ trợ về tài chính sẽ không đủ để cải thiện cuộc sống của người nghèo Các tổ chức tín dụng phải hỗ trợ hình thành và phát triển các doanh nghiệp siêu nhỏ, các hộ kinh doanh và các hoạt động kinh tế khác Chính những mô hình kinh tế này sẽ mang cải thiện thu nhập, đem lại nguồn tài chính đảm bảo và giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững (Tilakaratna, 2005) Sự phát triển các quỹ tín dụng vi mô đã trở thành một trào lưu trên thế giới Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của các quỹ tín dụng vi mô cũng đang gặp phải một số thách thức mới
Thị trường cho người nghèo thông qua mô hình quỹ bảo hiểm vi mô
Bảo hiểm vi mô được nhanh chóng nổi lên như là một công cụ quan trọng giúp người có thu nhập thấp, những người thường xuyên tiếp xúc với nhiều loại rủi ro nhưng không đủ nguồn lực để tiếp cận với các loại hình bảo hiểm thông thường, tham gia vào nhiều hoạt động tạo thu nhập Với đa phần người nghèo là nông dân, thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào các sản phẩm nông nghiệp Chính vì thế, họ rất cần cung cấp các loại hình bảo hiểm cho thành quả lao động của họ, tránh khỏi các rủi ro từ thiên tai dịch bệnh Một khi có các loại hình bảo hiểm đứng ra đảm bảo cho sản phẩm của họ, không chỉ giúp họ đảm bảo nguồn thu
Trang 16nhập ổn định, mà còn giúp họ có được một tài sản vững chắc, có thể mang đi làm vật thế chấp cho các khoản vay từ các tổ chức tín dụng trên thị trường Đây chính
là những mong đợi của người nghèo để họ có điều kiện thoát nghèo một cách bền vững (World Bank, 2009)
Thị trường cho người nghèo thông qua mô hình Quỹ Tiên Phong
Một trong những phương thức hỗ trợ người nghèo được nhiều nước trên thế giới từng áp dụng đó là thông qua Quỹ Tiên phong (Challenge Fund) Quỹ Tiên phong được ra mắt lần đầu tiên tại Anh năm 2000 và sau đó phổ biến tại một số quốc gia khác nhe Băng-la-đét, Ghana, Ấn Độ,… Ở Việt nam, dự án Quỹ tiên phong Việt Nam, gọi tắt là VNCF, Viện Phát triển doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện dưới sự hỗ trợ của Quỹ Ford (Ford Foundation) Mục tiêu của dự án nhằm đẩy mạnh sự tham gia của khu vực doanh nghiệp vào các mục tiêu phát triển kinh tế trong đó có việc giúp người nghèo tiếp cận thị trường, tăng thêm thu nhập, đảm bảo xóa đói giảm nghèo một cách bền vững Tám dự án nhận được sự tài trợ này đã cho thấy có rất nhiều cách thức khác nhau nhằm xóa đói giảm nghèo Phát triển doanh nghiệp, nâng cao khả năng quản trị doanh nghiệp, cải thiện phương thức sản xuất, cung ứng dịch vụ để góp phần cải thiện khả năng tạo việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và người dân nằm trong vùng hưởng lợi của dự án Một số dự án đã tạo ra lượng việc làm trực tiếp cho người dân địa phương, như dự án trồng rừng kinh tế xen trồng sắn cao sản tại Yên Bái, dự án xây dựng vùng sinh thái chè – rừng – gà và nhà máy chế biến nông sản ở Bắc Giang Trong khi đó, một số dự án khác lại nâng cao khả năng đáp ứng thị trường lao động của người lao động như dự án về cải thiện cơ
sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo nghề của cơ sở Mạnh Hùng Tất cả những điều này đều cho thấy tính đa dạng và sự sáng tạo rất lớn của các dự án được thực hiện - một điểm mạnh của mô hình Quỹ Tiên phong nói chung (VCCI, 2010)
Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo
Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo (Market for the Poor - M4P)
mở ra một phương pháp tiếp cận mới để hỗ trợ tăng trưởng có lợi cho người nghèo, dựa trên những điều học hỏi được từ các vấn đề được nhiều người biết đến về thất
Trang 17bại của cả nhà nước và thị trường M4P có mục đích thúc đẩy tăng trưởng giảm nghèo bằng cách cải thiện những kết quả thị trường có ý nghĩa với người nghèo trong vai trò của họ là các doanh nghiệp, người lao động hay người tiêu dùng M4P tập trung vào việc làm thay đổi cấu trúc và các đặc tính của thị trường để làm tăng sự tham gia của người nghèo vào những lĩnh vực mang lại lợi ích cho
họ M4P chú trọng vào những hoạt động của khối doanh nghiệp tư nhân và vì thế củng cố những sức mạnh của hệ thống thị trường chứ không làm tổn hại nó Ở Việt Nam, dự án M4P đã triển khai thông qua việc nghiên cứu về 50 trường hợp kết nối thành công với thị trường, thuộc nhiều lĩnh vực dịch vụ và hàng hóa nông nghiệp cũng như phi nông nghiệp Các doanh nhân được lựa chọn đều khởi đầu
từ hoàn cảnh nghèo khó và thiếu thuận lợi, và nhờ vào lao động hăng say, sự tự học hỏi và cống hiến hết mình cho công việc, họ đã thành công Với điều đó, họ không chỉ làm lợi cho chính bản thân và gia đình mình, mà họ còn tạo ra nhiều công ăn việc làm và hỗ trợ cho cả cộng đồng nơi họ sinh sống (ADB, 2004, 2005)
Các nghiên cứu về phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc
Theo tổng hợp của đề tài, các nghiên cứu về Tây Bắc chủ yếu tập chung vào nghiên cứu về các dân tộc ở Tây Bắc (Đỗ Kim Chung, 2003, 2004; Nguyễn Thị Thanh Nga, 2010; Hà Thị Hồng Vân và Chử Đình Phúc, 2011; Nguyễn Thị Nhung, 2011) Các nghiên cứu này đã cho thấy những khái quát lịch sử tộc người, dân cư, dân số dân tộc, địa bàn cư trú các dân tộc vùng Tây Bắc Về đặc điểm kinh tế, sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu của hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc Nhìn chung, mặc dù nền kinh tế thị trường đã phổ biến ở đồng bằng và một số khu vực miền núi nhưng về cơ bản, các dân tộc vùng Tây Bắc vẫn duy trì các phương thức sản xuất truyền thống
Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã cho thấy có nhiều mô hình phát triển thị trường cho người nghèo, trong đó nổi bật lên hai mô hình là coi người nghèo như khách hàng để tiếp cận thị trường đáy tháp hoặc coi người nghèo như những người bán, hỗ trợ họ tham gia vào chuỗi cung ứng Ở Việt Nam nói chung và Tây Bắc nói riêng, hiện vẫn còn rất ít những nghiên cứu, đề tài dự
án liên quan đến phát triển thị trường cho người nghèo
Trang 183 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các mô hình
phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc, từ đó đề xuất giải pháp để thu hút doanh nghiệp vào phát triển thị trường cho người nghèo ở vùng Tây Bắc
Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng khung phân tích mô hình thị trường phù hợp cho người nghèo vùng Tây Bắc
- Nghiên cứu/khảo sát đặc điểm tiêu dùng của người dân Tây Bắc làm cơ sở
để phát triển thị trường đáy tháp (BOP), thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp tới thị trường Tây Bắc rộng lớn và giàu tiềm năng
- Đánh giá (theo khung phân tích) thực trạng hoạt động các thị trường phù hợp cho người nghèo ở Tây Bắc
- Nghiên cứu một số mô hình tiếp cận thị trường của người nghèo thông qua chuỗi cung ứng
- Đề xuất các mô hình và chính sách đặc thù để phát triển các thị trường phù hợp cho người nghèo ở vùng Tây Bắc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về khung phân mô hình phát triển thị trường cho người nghèo, những vấn đề thực tiễn và các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển các mô hình thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc
4.1 Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu phát triển thị trường cho người nghèo ở 12 tỉnh Tây Bắc là: Bắc Kạn, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hòa Bình, Lào Cai, Lai Châu, Lạng Sơn, Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang, Yên Bái
- Về mặt thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu các điều kiện và các nhân tố tác động đến việc hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo vùng Tây Bắc từ năm 2007 đến nay
Trang 195 Phương pháp nghiên cứu:
Thứ nhất, phương pháp nghiên cứu tại bàn: đề tài tiến hành tổng quan kết
quả các công trình nghiên cứu, tài liệu khoa học đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu, từ đó rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về
mô hình phát triển thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc Ở đây, đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu nhằm phân tích, so sánh các
mô hình phát triển thị trường, phân tích những điều kiện hình thành và phát triển các loại thị trường, vai trò của các tác nhân tham gia, từ đó tìm ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
Thứ hai, phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: đề tài thực hiện kết hợp cả
phương pháp phỏng vấn chuyên sâu và điều tra chọn mẫu:
- Phỏng vấn chuyên sâu: được thực hiện trước khi tiến hành điều tra phỏng vấn 2 mô hình chuỗi cung ứng dong riềng ở Bắc Kạn và rau sạch ở Hà Giang Trong mỗi mô hình, đề tài đã tiến hành phỏng vấn 16 cá nhân (gồm 10 hộ gia đình, 3 doanh nghiệp/HTX, 3 tác nhân hỗ trợ) Mục đích phỏng vấn để có những đánh giá nắm bắt về thực trạng mô hình chuỗi cung ứng với sự tham gia của người nghèo của các tỉnh khu vực Tây Bắc, từ đó xây dựng những đề xuất, chính sách
để có thể nhân rộng, phát huy những ưu điểm của các mô hình này
- Điều tra chọn mẫu: đề tài thực hiện 2 cuộc điều tra từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015 và đã thu thập được 2500 phiếu thông tin từ các hộ gia đình và doanh nghiệp tại 12 tỉnh Tây Bắc Cụ thể:
+ 2000 phiếu khảo sát đặc điểm tiêu dùng của người dân vùng Tây Bắc: Với đặc điểm nổi bật ở Tây Bắc là tính đa dân tộc, khảo sát sẽ dựa theo hai tiêu chí là dân tộc và tỉnh để xây dựng mẫu khảo sát Dựa trên dữ liệu về dân số của Tổng cục Thống kê, việc chọn mẫu dự kiến sẽ được tính toàn dựa trên tỷ lệ dân tộc phân
bổ tại 12 tỉnh Tây Bắc Để mẫu khảo sát có tính đại diện và có ý nghĩa, đề tài sẽ chỉ tập trung vào khảo sát 7 dân tộc chiếm tỷ lệ cao nhất đang sinh sống ở Tây Bắc, đó là: Kinh, Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông và Dao Dựa theo sự phân bổ của 7 dân tộc này trên 12 tỉnh Tây Bắc, đề tài đã xác định được mẫu khảo sát như Bảng 0.1
Trang 20Bảng 0.1 Mẫu khảo sát đặc điểm tiêu dùng của người dân vùng Tây Bắc
Kinh Tày Thái Mường Nùng Mông Dao Tổng cộng
và Hòa Bình xếp hạng thấp Ngoài ra, các tỉnh này cũng có số lượng doanh nghiệp lớn nhất ở Tây Bắc Đề tài đã lựa chọn ra 5 ngành có mối liên hệ nhiều nhất đến việc phát triển thị trường cho người nghèo để khảo sát, đó là: ngành nông lâm nghiệp và thủy sản, ngành công nghiệp chế biến chế tạo, ngành bán buôn bán lẻ, ngành hoạt động tài chính, bảo hiểm và ngân hàng, ngành hoạt động chuyên môn, khoa học Dựa trên số lượng doanh nghiệp trong các ngành này hoạt động tại 4 tỉnh Tây Bắc, đề tài đã xác định mẫu khảo sát như Bảng 0.2
Thứ ba, phương pháp chuyên gia, tổ chức các hội thảo khoa học tại vùng
Tây Bắc để thu thập ý kiến trực tiếp của các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ về thực trạng và kiến nghị
mô hình phát triển thị trường cho người nghèo vùng Tây Bắc
Trang 21Bảng 0.2 Mẫu khảo sát đánh giá thực trạng doanh nghiệp tham gia vào
phát triển thị trường cho người nghèo vùng Tây Bắc
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp chế biến, chế tạo
Bán buôn và bán lẻ
Tài chính, ngân hàng
và bảo hiểm
Hoạt động chuyên môn, KHCN
Tổng cộng DN khảo sát
Về kỹ thuật phân tích, các kỹ thuật chính được sử dụng bao gồm:
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu định tính thông thường trên cơ sở tập hợp các ý chính nổi bật qua các cuộc phỏng vấn theo từng chủ đề
- Kỹ thuật phân tích số liệu điều tra: kỹ thuật phân tích thông thường như thống kê mô tả nhằm nêu ra bức tranh tổng thể và đa chiều về hiện trạng các mô hình phát triển thị trường cho người nghèo vùng Tây Bắc
Về mặt công cụ phân tích và nghiên cứu, các công cụ chính sẽ được sử dụng
là phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục
đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển các mô hình thị trường phù hợp cho người nghèo ở Tây Bắc
Chương 2: Thực trạng phát triển các mô hình thị trường phù hợp cho người nghèo ở Tây Bắc
Chương 3: Nghiên cứu đề xuất chính sách và giải pháp phát triển thị trường phù hợp cho người nghèo ở Tây Bắc
Trang 22CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG PHÙ HỢP CHO
NGƯỜI NGHÈO Ở TÂY BẮC
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG PHÙ HỢP CHO NGƯỜI NGHÈO
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về thị trường và người nghèo
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn,
đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ,
dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”1
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định
Quyết định số 09/2011/QĐ-Ttg ngày 30 tháng 1 năm 2011 ban hành chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
Tuy nhiên, việc sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân Đánh giá nghèo cần được
1 Tuyên bố Liên Hợp quốc, tháng 6/2008
Trang 23tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập, đó chính là cách tiếp cận nghèo đa chiều (Đặng Nguyên Anh, 2015) Chuẩn nghèo đa chiều
có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập Khái niệm này cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
Nhận thức được điều này, Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo đa chiều Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-Ttg ngày 19/11/ 2015, chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều
áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 như sau:
- Các tiêu chí về thu nhập:
+ Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
- Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản:
+ Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch
và vệ sinh; thông tin;
+ Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Căn cứ vào các tiêu chí trên, hộ nghèo được xác định như sau:
- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
Trang 24+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Trong khuôn khổ của này, với thời gian bắt đầu triển khai từ năm 2014, chính
vì vậy cơ sở để đề tài tiến hành nghiên cứu, nhất là khi triển khai các hoạt động khảo sát nhu cầu tiêu dùng người nghèo ở Tây Bắc và đánh giá tiềm năng thị trường đáy tháp ở Tây Bắc là dựa vào tiêu chí nghèo đơn chiều theo Quyết định
số 09/2011/QĐ-Ttg ngày 30 tháng 1 năm 2011, vì Quyết định này ban hành chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 Tuy nhiên, đối với các đề xuất và định hướng các chính sách để phát triển thị trường cho người nghèo
ở Tây Bắc, đề tài sẽ phải mở rộng thêm cách tiếp cận về người nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-Ttg ngày 19 tháng 11 năm 2015, về việc đưa ra chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020
1.1.1.2 Khái niệm về thị trường
Theo cách hiểu cổ điển, thị trường là một địa điểm cụ thể, là nơi diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán, nơi mà các người mua và bán đến với nhau để mua, bán các sản phẩm và dịch vụ
Theo quan điểm kinh tế học, thị trường bao hàm mọi người mua và người bán trao đổi nhau các hàng hóa hay dịch vụ Nhà kinh tế quan tâm đến cấu trúc, tiến trình hoạt động và kết quả hoạt động của mỗi thị trường
Theo quan điểm marketing, thị trường là tập hợp những người hiện đang mua
và những người sẽ mua một loại sản phẩm nhất định Một thị trường là tập hợp những người mua và một ngành sản xuất là tập hợp những người bán Thị trường thể hiện đặc tính riêng có của nền kinh tế sản xuất hàng hóa; không thể coi thị trường chỉ là các chợ, các cửa hàng Thị trường chứa tổng số cung, tổng số cầu về
Trang 25một loại hàng hóa hoặc về một nhóm hàng nào đó Thị trường là môi trường của kinh doanh, là tấm gương soi để các cơ sở kinh doanh nhận biết nhu cầu xã hội
và để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Thị trường còn là đối tượng, là căn cứ của kế hoạch hóa, là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết
vĩ mô của nền kinh tế của Nhà nước
Từ cách tiếp cận khái niệm thị trường theo quan điểm marketing có thể hiểu
mô hình thị trường là khung cấu trúc hình thức thể hiện những đặc điểm cơ bản của hệ thống thị trường bằng một số quan hệ cơ bản gồm một bên là người bán và một bên là người mua, các dòng chảy cơ bản của thị trường (dòng sản phẩm/dịch
vụ, dòng thanh toán, dòng thông tin truyền thông, ) và các tác nhân hỗ trợ tham gia, tạo điều kiện hình thành phát triển thị trường (nhà nước, khoa học công nghệ,
cơ sở hạ tầng, tác tổ chức cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh, mạng lưới phi chính thức, )
1.1.1.3 Phân loại thị trường
Theo Philip Kotler (2007), thị trường có thể phân thành các loại dựa theo các tiêu chí khác nhau Nếu dựa theo tiêu chí khách hàng, các nhà nghiên cứu có thể phân ra 5 loại thị trường khách hàng là:
- Thị trường người tiêu dùng: bao gồm tất cả các cá nhân, các hộ tiêu dùng
và các nhóm tập thể mua sắm hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân
- Thị trường các doanh nghiệp sản xuất: bao gồm tất cả các cá nhân và tổ chức mua sắm hàng hóa và dịch vụ để sử dụng vào việc sản xuất ra những hàng hóa hay dịch vụ khác, để bán, cho thuê hay cung ứng cho những người khác (thị trường hàng tư liệu sản xuất)
- Thị trường các doanh nghiệp thương mại: bao gồm tất cả các cá nhân và tổ chức mua hàng hóa để bán lại hoặc cho thuê nhằm mục đích kiếm lời, nói một cách cụ thể hơn họ chính là những người bán sỉ và bán lẻ các loại hàng hóa và dịch vụ
- Thị trường các tổ chức nhà nước bao gồm những tổ chức của Chính phủ và các cơ quan địa phương, mua hay thuê những mặt hàng cần thiết để thực hiện
Trang 26- Thị trường quốc tế: những người mua hàng ở ngoài nước bao gồm những người tiêu dùng, sản xuất bán trung gian và các cơ quan nhà nước ở nước ngoài Ngoài cách phân loại dựa theo khách hàng, thị trường có thể được phân loại dựa theo vùng địa lý (thị trường nội địa, thị trường quốc tế), hoặc theo sự cạnh tranh trên thị trường (thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh độc quyền, thị trường độc quyền nhóm người bán, thị trường độc quyền tuyệt đối)
1.1.2 Các loại thị trường phù hợp cho người nghèo
Dựa theo các cách phân loại thị trường nêu trên, đối với nghiên cứu về thị trường cho người nghèo, các nhà nghiên cứu thường xử dụng cách phân loại theo khách hàng (SDC và DFID, 2008; ADB, 2005) Theo các nghiên cứu này, người nghèo khi tham gia vào thị trường có thể là người mua các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, nhất là các sản phẩm thiết yếu, hoặc với tư cách người bán, bán các sản phẩm do họ sản xuất ra cho các doanh nghiệp thu mua Như vậy, nói đến thị trường cho người nghèo có thể đề cập đến thị trường người tiêu dùng (người nghèo
là người mua) và thị trường các doanh nghiệp sản xuất (người nghèo là người bán cho các doanh nghiệp sản xuất) hoặc thị trường các doanh nghiệp thương mại (người nghèo là người bán cho các doanh nghiệp thương mại)
Tiêu chí để đánh giá một mô hình thị trường được coi là phù hợp cho người nghèo có thể được đánh giá trên 3 khía cạnh: (1) mức độ chấp nhận và sẵn sàng tham gia của người nghèo; (2) Mức độ hỗ trợ và tạo điều kiện để người nghèo tham gia; (3) Mức độ lợi ích có được khi người nghèo tham gia
Dựa trên 3 tiêu chí trên, quá trình tổng quan các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, việc phát triển thị trường cho người nghèo chủ yếu được thực hiện theo hai phương thức chính Phương thức thứ nhất là coi người nghèo như những người tiêu dùng, từ đó khuyến khích các công ty, nhất là các tập đoàn đa quốc gia khai thác phân khúc thị trường này, phân khúc thị trường người có thu nhập thấp,
còn được biết đến dưới cái tên “thị trường đáy tháp” (Bottom of Pyramid - BOP)
Theo phương thức này, cùng với sự phát triển về nhận thức của người nghèo và những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc cung cấp hàng hóa cho thị trường đáy tháp, nhu cầu tiêu dùng của người nghèo sẽ được dần được thỏa mãn Việc áp
Trang 27dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự tham gia của các tổ chức xã hội, của nhà nước sẽ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp hàng hóa cho người nghèo ở thị trường đáy tháp
Phương thức thứ hai, coi người nghèo như những người bán, nhà cung cấp,
từ đó hỗ trợ giúp đỡ họ tham gia vào chuỗi cung ứng, nâng cao thu nhập cho người nghèo Phương thức này được coi là giải pháp giúp xóa nghèo một cách bền vững hơn cả Với đặc điểm các hoạt động sản xuất của người nghèo chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, việc tham gia vào chuỗi cung ứng sẽ dễ dàng hơn với người nghèo Hơn nữa, việc tham gia vào chuỗi cung ứng sẽ giúp người nghèo có thu nhập cao hơn và nhất là ổn định hơn, nhờ có sự cam kết của doanh nghiệp thu mua, sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội trong việc nâng cao năng lực sản xuất và tham gia chuỗi cung ứng của người nghèo Với cách tiếp cận này, đề tài sẽ tập trung vào nghiên cứu các cơ sở lý luận cho việc phát triển hai mô hình thị trường cho người nghèo ở Tây Bắc là thị trường đáy tháp và chuỗi cung ứng
1.1.2.1 Thị trường cho người nghèo thông qua mô hình thị trường đáy tháp
1.1.1.2.1 Khái niệm về thị trường đáy tháp
Thị trường đáy tháp “Bottom of Pyramid” là khái niệm kinh tế xã hội học được C K Prahalad và Stuart Hart lần đầu tiên giới thiệu trong bài báo “Sự thịnh vượng tại phân khúc đáy tháp” (The Fortune at the Bottom of the Pyramid) năm
2002, theo đó thị trường đáy tháp (BOP) được định nghĩa như thị trường của 4 tỷ người dân nghèo nhất thế giới, những người có thu nhập ít hơn 2USD ngày và sinh sống chủ yếu ở Châu Phi, Đông Âu, châu Mỹ La Tinh và châu Á
Theo nghiên cứu của Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) quy mô thị trường đáy tháp ước tính vào khoảng 4 tỷ người với tổng thu nhập hộ gia đình hàng năm 5000 tỷ USD PPP Những người có thu nhập bình quân nằm trong khoảng từ 1,500 USD đến 3,000 USD/năm hay từ 1 USD đến 4 USD/ngày thuộc thị trường BOP Thị trường BOP chủ yếu nằm ở khu vực các nước châu Á và Trung Đông với số dân khoảng 2,86 tỷ người tương ứng mức
Trang 28thu nhập 3,47 nghìn tỷ USD Tại Đông Âu, thị trường BOP tổng cộng là 458 tỷ USD với 254 triệu người, bằng 64% dân số khu vực với 36% tổng số sức mua của thị trường Tại châu Mỹ Latinh, thị trường này dự tính là 509 tỷ USD và 360 triệu người, chiếm 70% dân số khu vực và chỉ 28% tổng số sức mua Tại châu Phi, thị trường BOP thấp hơn 429 tỷ USD với 71% tổng số sức mua của khu vực
Bảng 1.1 Dân số, thu nhập và quy mô thị trường đáy tháp BOP
Khu vực Dân số
(triệu người)
Dân số (tỷ lệ
% trong tổng dân số)
Thu nhập (tỷ USD)
Thị phần BOP trong tổng thị trường
Nguồn: Viện Tài nguyên thế giới (WRI)
Về cơ cấu thị trường đáy tháp: 20 tỷ USD được chi cho nước, 51 tỷ USD cho công nghệ kỹ thuật, 158 tỷ USD cho chăm sóc sức khoẻ, 433 tỷ USD cho tiêu thụ năng lượng và khoản chi tiêu lớn nhất là dành cho thức ăn với 2,89 nghìn tỷ USD Ngoài ra, hơn một nửa chi phí chăm sóc sức khoẻ của người nghèo là cho thuốc men Khi thu nhập tăng lên thì phần chi phí dành cho thức ăn lại giảm, trong khi phần chi phí dành cho giao thông đi lại, viễn thông lại tăng mạnh
Bảng 1.2 Cơ cấu thị trường BOP theo ngành
Trang 291.1.1.2.2 Nghiên cứu phát triển thị trường cho người nghèo thông qua mô hình thị trường đáy tháp
Prahalad và Hart (2002) đã chỉ ra rằng phân khúc thị trường đáy tháp (BOP)
có thể mang đến những cơ hội to lớn cho các công ty đa quốc gia Việc phát triển thị trường đáy tháp một mặt có thể giúp những công ty này tìm kiếm những cơ hội phát triển, mặt khác có thể mang lại thịnh vượng cho người nghèo Trên thực
tế, phân khúc thị trường này dường như bị bỏ quên bởi các công ty đa quốc gia Với một thế giới ngày càng phân cực, khoảng cách giữa những người giàu và những người nghèo ngày càng cách xa, đã khiến cho những người nghèo ngày càng khó tiếp cận được với thị trường hàng hóa toàn cầu, mặc dù họ là những người chiếm số đông trên thế giới Prahalad và Hart (2002) đã chỉ ra 6 bất cập khiến người nghèo chưa thể tiếp cận được với các sản phẩm của các công ty đa quốc gia :
- Với cấu trúc chi phí của các sản phẩm hiện tại, các công ty đa quốc gia không cạnh tranh trên phân khúc thị trường đáy tháp, do đó thị trường này chưa phải là đích đến của họ;
- Người nghèo không đủ khả năng và không có nhu cầu sử dụng các các sản phẩm và dịch vụ mà các công ty này bán ở các thị trường phát triển;
- Chỉ duy nhất thị trường phát triển mới đánh giá cao và sẵn sàng chi trả cho các công nghệ mới, còn người nghèo chỉ có thể sử dụng các công nghệ cũ;
- Phân khúc đáy của kim tự tháp không quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển dài hạn của các tập đoàn đa quốc gia Các tập đoàn đa quốc gia có thể nhường lại phân khúc này cho chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận;
- Các nhà lãnh đạo trong các công ty đa quốc gia không bị lôi cuốn bởi các thách thức có tính chất nhân đạo;
- Các nhà quản trị giỏi thường tập trung ở các thị trường phát triển, rất khó tìm được các nhà quản trị giỏi có nguyện vọng làm việc ở các thị trường đáy kim
tự tháp
Ngoài 6 bất cập này, còn phải kể đến trở ngại trong việc phân phối sản phẩm đến người nghèo, nhất là người nghèo sống ở các vùng sâu, vùng xa, vùng miền
Trang 30núi ở các nước đang phát triển (Shukla và Bairiganjan, 2011) Chính những bất cập này đã che mất giá trị tiềm năng của thị trường đáy tháp, ước tính khoảng 20
tỷ USD (tại thời điểm đầu thế kỷ 21) Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc tiếp cận phân khúc thị trường đáy tháp ngày càng trở nên khả thi và các công ty, tập đoàn đa quốc gia cũng đã nhận ra điều này Trở ngại lớn nhất đối với các công ty, tập đoàn đa quốc gia là làm sao kết hợp hài hóa giữa các yếu tố : chi phí sản xuất thấp, chất lượng tốt, sự bền vững và lợi nhuận để có thể trinh phục khúc thị trường này Hơn nữa, chính thị trường đáy tháp sẽ là nguồn đổi mới mang tính đột phá Khi kinh doanh trên thị trường này, thông qua việc tập quản lý vào việc tạo ra nhận thức, khả năng tiếp cận, khả năng chi trả và tính sẵn có, các nhà quản lý có thể tạo ra một môi trường thú vị cho sự đổi mới Chính các trở ngại bên ngoài khi xâm nhập thị trường này sẽ được sử dụng để làm cơ sở cho việc đổi mới mà trong đó, một sản phẩm mới hay một mô hình kinh doanh mới có thể được tạo ra Thực tế trên thế giới đã có rất nhiều dẫn chứng cho nguyên
lý này (Prahalad, 2012) Hiện nay, các công ty đa quốc gia cũng đang nhận ra khả năng áp dụng các sáng kiến đổi mới trong việc trinh phục thị trường đáy tháp Jaiswal (2007) với thực tiễn ở Ấn Độ, một quốc gia có dân số lớn thứ 2 trên thế giới, với tỷ lệ người nghèo chiếm đa số, đã thấy rằng thị trường đáy tháp nổi lên như một ý tưởng chủ đạo trong kinh doanh tại quốc gia này Tác giả cũng chỉ
ra cách thức mà các tập đoàn, các công ty lớn có thể thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở đáy tháp và vẫn thu về lợi nhuận Theo Jaiswal, để tiếp cận thành công thị trường đáy tháp, các công ty đa quốc gia phải tạo điều kiện thuận lợi để người nghèo trở thành người tiêu dùng lựa chọn Tác giả đưa ra bốn tiêu chí để đánh giá xem chiến lược của công ty đa quốc gia có phù hợp với thị trường đáy tháp hay không, đó là : (1) sản phẩm của công ty có thể đáp ứng nhu cầu cơ bản như y tế, dinh dưỡng, giáo dục, nhà ở, ? (2) Công ty có tiếp thị, truyền thông hay giáo dục
để củng cố nguyện vọng người thu nhập thấp tiêu thụ hàng hóa mà họ không có nhu cầu? (3) Khi phát triển sản phẩm, công ty có hướng tới các nhu cầu riêng biệt của người tiêu dùng ở đáy tháp? (4) Các sản phẩm này có nâng cao phúc lợi của người tiêu dùng không?
Trang 31Cũng đề cập đến lợi ích kép của việc các công ty đa quốc gia hướng đến phân khúc thị trường đáy tháp, Grootveld (2008) cho rằng điều kiện để doanh nghiệp vừa thu được lợi nhuận và cải thiện đời sống của người nghèo phụ thuộc một phần quan trọng vào sự hợp tác giữa các công ty đa quốc gia với các đối tác địa phương tại các nước đang phát triển Tuy nhiên, do sự khác biệt lớn giữa những công ty
đa quốc gia ở các nước phát triển và các đối tác địa phương, thường ở các vùng sâu vùng xa, vì thế để sự hợp tác thành công, đòi hỏi phải có sự tin tưởng Grootveld đã chỉ ra cách thức để các công ty đa quốc gia xây dựng được lòng tin đối với cộng đồng địa phương ở các nước đang phát trển Theo tác giả, cần có 5 yếu tố để tạo dựng được sự tin tưởng, đó là : những ấn tượng ban đầu, sự quan hệ tương hỗ, sự nhất quán, tính thích ứng với khuôn khổ thể chế và truyền thông Nghiên cứu của Auclair và Jackohango (2008) một lần nữa khẳng định lại vai trò của thị trường đáy tháp trong việc hỗ trợ người nghèo sống ở khu vực thành thị phát triển một cách bền vững Dựa trên khái niệm thị trường đáy tháp của Prahalad, hai tác giả đã chỉ ra rằng, để phát triển thị trường đáy tháp, khu vực tư nhân phải đảm bảo được 3 điều kiện là : tính sẵn có (availability), có thể tiếp cận (accessibility) và có đủ khả năng (affordability) Cụ thể, các doanh nghiệp phải trả lời được 3 câu hỏi: Những hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp trên thị trường có dành cho người nghèo không? Làm thế nào để người nghèo có thể tiếp cận và sở hữu được các hàng hóa và dịch vụ đó? Người nghèo có đủ khả năng thanh toán cho các hàng hóa và dịch vụ dành cho họ trên thị trường không? Nghiên cứu của Voveryte (2011) đã đi sâu hơn về chiến lược kinh doanh của các tập đoàn đa quốc gia khi xâm nhập thị trường đáy tháp Theo Voveryte, có rất nhiều trở ngại cho các tập đoàn đa quốc gia khi bước chân vào thị trường đáy tháp
ở các nước đang phát triển do việc thiếu thông tin, thiếu lao động có kỹ năng, môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng và hạn chế tiếp cận các dịch vụ tài chính Đây là những trở ngại mà các tập đoàn đa quốc gia chỉ gặp khi kinh doanh ở các nước đang phát triển, không giống như tại các quốc gia phát triển Hơn nữa, khả năng chi trả thấp, yêu cầu về tính sẵn có và khả năng tiếp cận khó khăn là những thách thức chính mà các tập đoàn phải đối mặt khi xâm nhập vào thị trường đáy tháp
Trang 32Để vượt qua các khó khăn trở ngại này, Voveryte đã khuyên các tập đoàn đa quốc gia cần phải thực hiện chiến lược liên kết với các đối tác địa phương Chính việc lựa chọn thành công một đối tác địa phương sẽ góp phần quyết định đến sự thành công khi xâm nhập thị trường này Voveryte cũng cho thấy việc áp dụng chiến lược kinh doanh theo quy mô ở các thị trường này là rất khó Các thị trường đáy tháp thường có những đặc điểm riêng biệt ở mỗi vùng, mỗi quốc gia, vì thế khi áp dụng chiến lược kinh doanh theo quy mô, các tập đoàn đa quốc gia sẽ khó có thể thành công Thay vào đó, Voveryte lại khuyên các tập đoàn đa quốc gia cần mở rộng kinh doanh theo hướng nhân rộng và dựa vào các đối tác kinh doanh địa phương Hơn nữa, các tập đoàn cũng phải tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin truyền thông và các công nghệ mới để làm sao hạ giá thành, xây dựng hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng vùng đáy tháp
1.1.2.2 Thị trường cho người nghèo thông qua mô hình chuỗi cung ứng
Để góp phần nâng cao mức sống và thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo
đa chiều, ngoài việc khuyến khích các doanh cung cấp hàng hóa cho thị trường đáy tháp, coi họ như người mua, một cách thức khác là coi họ là người bán Jaiswal (2007) chỉ ra việc tăng cường vai trò của người nghèo trong việc giảm nghèo nhanh chóng bằng cách giúp họ trở thành các nhà sản xuất, tham gia vào các chuỗi cung ứng cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp Quan điểm giúp người nghèo tham gia chuỗi cung ứng tiếp tục được phát triển bởi các nhà khoa học khác như Karnani (2007) Theo Karnani, thay vì tập trung coi người nghèo như người tiêu dùng, chúng ta cần phải xem họ như những nhà sản xuất, có như vậy mới giúp xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập thực tế của người nghèo
1.1.2.2.1 Khái niệm về chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại toàn cầu, khái niệm chuỗi cung ứng không còn xa lạ trong phân tích hiệu quả kinh tế Chuỗi cung ứng đóng vai trò lớn trong việc hình thành và đưa sản phẩm ra thị trường Tuy nhiên,
có nhiều định nghĩa khác nhau trong các nghiên cứu về chuỗi cung ứng:
- Theo Ganesham và Harrison (1995), chuỗi cung ứng là một mạng lưới các
Trang 33lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm và phân phối cho khách hàng
- Theo Chopra Sunil và Peter Meindl (2001), chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng
Tại Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra khái niệm về chuỗi cung ứng Theo Nguyễn Công Bình (2008), chuỗi cung ứng bao gồm các công ty và hoạt động kinh doanh cần để thiết kế, sản xuất, phân phối và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phụ thuộc vào chuỗi cung ứng sẽ cung cấp những gì doanh nghiệp cần để tồn tại và phát triển
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng
Hình 1.1: Chuỗi cung ứng điển hình
Nguồn: William J.O’Brien, T.Formoso, Vrijhoef, & A.London,
“Construction Supply Chain Management, NXB Taylor & Francis Group, LLC, 2009
Trang 34Theo Nguyễn Kim Anh (2006), chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những vấn
đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp mà còn liên quan đến vận chuyển, lưu kho, nhà bán lẻ và khách hàng
Có thể thấy, với việc xem xét chuỗi cung ứng theo thành phần tham gia, người nghèo có thể tham gia vào tất cả các khâu của quá trình, có thể đóng vai trò người sản xuất và cũng có thể đóng vai trò khách hàng hoặc tham gia các vị trí trung gian
1.1.2.2.2 Nghiên cứu phát triển thị trường cho người nghèo thông qua mô hình chuỗi cung ứng
Phát triển thị trường cho người nghèo qua chuỗi cung ứng mang lại nhiều lợi ích Các lợi ích có thể thấy trực tiếp là:
- Tạo lập và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho người nghèo;
- Gia tăng và cải thiện sản phẩm cho người nghèo: Prahalad và Hammond (2002) lập luận rằng, người tiêu dùng ở tầng đáy phải chi trả cao hơn nhiều đối với hầu hết các mặt hàng so với người ở tầng trung Nguyên nhân là vì người nghèo thiếu khả năng tiếp cận với các kênh bán hàng rẻ hơn với sản phẩm tốt hơn Xây dựng năng lực tiếp cận cho phép người nông dân và các doanh nghiệp vừa
và nhỏ tham gia vào chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia, không chỉ trở thành thành viên trong kênh phân phối các sản phẩm mà còn có thể đóng vai trò khai phá thị trường địa phương;
- Hỗ trợ việc làm: Phát triển thị trường cho người nghèo dựa trên chuỗi cung ứng lấy cơ sở là tạo ra những kết nối kinh doanh làm cho những người trong chuỗi (nông dân, người chế biến, người bán lẻ, người xuất khẩu hay tiêu dùng cuối cùng) làm việc cùng nhau, trên cơ sở có sự phối hợp tốt của các quyết định và việc quản
lý có hiệu quả Những thành viên trong chuỗi cung ứng đạt được lợi ích theo mức
độ mà họ tham gia mà người nghèo là một trong số đó
Rất nhiều các dự án nghiên cứu và thực tiến đã cho thấy vai trò và ý nghĩa của việc phát triển chuỗi cung ứng với việc giúp phát triển thị trường cho người nghèo Trong giai đoạn từ năm 2002-2012, Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp
Trang 35(IFAD) đã thực hiện 6 dự án về phát triển chuỗi cung ứng chè ở 4 quốc gia là Trung Quốc, Papua New Guinea, Rwanda và Sri Lanka; và 18 dự án phát triển chuỗi chè và cà phê ở 15 quốc gia trong đó có Việt Nam Phạm vi đầu tư mở rộng
từ tiếp cận hỗ trợ trang thiết bị, đào tạo và xây dựng năng lực cho các nhà sản xuất chè quy mô nhỏ Thêm vào đó, IFAD còn hỗ trợ cải thiện khả năng tiếp cận tới dịch vụ tài chính nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng địa phương, mở rộng các dịch
vụ cộng đồng và phát triển cơ sở marketing Với sự hỗ trợ này, các hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ đã có thể vượt qua các thách thức như tiếp cận nguồn đầu vào; khó khăn trong việc nắm bắt các tiêu chuẩn chứng chỉ hữu cơ; thiếu phương thức vận chuyển sản phẩm thiếu sự đào tạo nâng cao kỹ năng sấy lá trà và quản
lý mùa vụ, tiếp cận với máy kỹ thuật
Hình 1.2: Hỗ trợ của IFAD vào phát triển chuỗi cung ứng chè/cà phê
Nguồn: IFAD
1.1.3 Điều kiện hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo thông
qua mô hình thị trường đáy tháp
1.1.3.1 Điều kiện cơ bản hình thành và phát triển thị trường cho người nghèo thông qua mô hình thị trường đáy tháp
Trang 36Theo nguyên lý makerting, một thị trường tồn tại khi cung và cầu gặp được nhau Đây là nguyên lý cơ bản để hình thành nên bất kỳ loại thị trường nào, và thị trường cho người nghèo cũng không phải là ngoại lệ
1.1.3.1.1 Đặc điểm nhu cầu ở thị trường đáy tháp
Một đặc điểm quan trọng dùng để xác định phân khúc thị trường này là người dân không tiếp cận được các dịch vụ và sản phẩm của thế giới tư bản (ví dụ họ không có tài khoản ở ngân hàng hay tiếp cận những dịch vụ tài chính hiện đại, thiếu các điều kiện nước sạch, điện và dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản), hay nói cách khác BOP là tầng lớp kinh tế xã hội không hòa nhập được vào nền kinh tế chính thức do đó họ không hưởng lợi được từ các thành quả và sự tiến bộ của nền kinh
tế này Người tiêu dùng của thị trường đáy tháp có chung những đặc điểm sau đây (IFC và WRI, 2007):
- Nhiều nhu cầu không được đáp ứng: Phần lớn người tiêu dùng BOP không
có tài khoản ở ngân hàng và không tiếp cận được các dịch vụ tài chính hiện đại
Họ không có điện thoại, nhà ở, không tiếp cận được nguồn nước sạch và các dịch
vụ vệ sinh dịch tễ, năng lượng và các dịch vụ y tế cơ bản
- Phụ thuộc vào sinh kế tự túc: Phần lớn dân cư sống ở đáy tháp không tiếp
cận được thị trường để bán sức lao động, các sản phẩm họ tự làm ra như nông sản,
đồ thủ công mỹ nghệ do đó bắt buộc họ phải bán những sản phẩm đó cho các doanh nghiệp địa phương hoặc các trung gian Hậu quả là các nông dân và ngư dân là những người dễ bị tổn thương nhất bởi sự hủy hoại của nguồn tài nguyên thiên nhiên mà họ phụ thuộc vào nhưng lại không đủ khả năng bảo vệ
- Trả giá cao hơn cho sản phẩm và dịch vụ so với các phân khúc khác do các rào cản của thị trường Phần lớn người tiêu dùng BOP phải trả phí cao hơn,
tốn nhiều công sức hơn để có được các dịch vụ và sản phẩm tương đương ở phân khúc cao hơn nhưng lại nhận được chất lượng thấp hơn Chi phí cao của sự nghèo đói thể hiện ở nhiều khía cạnh ví dụ như người nghèo phải chi nhiều hơn để có thể đến được các bệnh viện nằm xa nơi họ sinh sống, hoặc họ phải trả những phí quá mức cho việc chuyển tiền hoặc nhận tiền của người thân đi làm xa gửi về
Trang 37- Thu nhập thấp và mức biến động lớn: Mức thu nhập của người dân ở thị
trường đáy tháp là rất thấp Khoản thu nhập thấp này phải ưu tiên dành cho việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và và các khoản đầu tư cần thiết để tái sản xuất sức lao động Chính vì vậy họ sẽ quản lý chặt chẽ các khoản thu nhập
và chi tiêu và không chấp nhận mạo hiểm để chi cho các sản phẩm và dịch vụ mới Hơn nữa, do thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp nên bị ảnh hưởng bởi tính chất mùa vụ và không ổn định Chính vì thế cần phát triển các dịch vụ tín dụng vi mô để đáp ứng những lúc họ thiếu hụt khả năng thanh toán đối với các sản phẩm không phải là thiết yếu Còn việc mua sắm các sản phẩm thiết yếu, như thuốc hay các sản phẩm đáp ứng nhu cầu cấp thiết khác, thì ít bị phụ thuộc vào khả năng cung cấp tín dụng
- Mô hình tiết kiệm tự túc: Ở thị trường BOP, do sự thiếu vắng các tổ chức
cung cấp các dịch vụ tài chính, các hộ gia đình vẫn có thói quen tiết kiệm ở mức tối thiểu (nhằm phục vụ các sự kiện quan trọng trong cuộc sống như đám cưới, đi học,…), và một số ít tài sản có tính thanh khoản (như đất, vàng và động vật) Chính vì vậy, họ có rất ít khả năng để vượt qua những cú sốc của nền kinh tế
- Ngôn ngữ và văn hóa cản trở các công cụ tiếp thị hiện đại: Sự khác biệt về
ngôn ngữ giữa các vùng miền và trình độ dân trí thấp chính là rào cản cho sự sáng tạo và áp dụng các công tiếp thị quảng cáo hiệu quả với chi phí thấp như tiêu chuẩn, chẳng hạn như các ấn phẩm thiết kế, bảng hiệu, tờ rơi, quảng cáo truyền hình Chính sự thiếu hụt về các công cụ tiếp thị phù hợp và hiệu quả đã dẫn đến thiếu thông tin và tốn nhiều thời gian cho việc giới thiệu sản phẩm mới
- Ít di chuyển và cách thức di chuyển lạc hậu: Người nghèo, nhất là người
nghèo ở vùng sâu vùng xa thường chỉ sống tại thôn bản và rất ít di chuyển, cộng thêm việc đi lại khó khăn Chính vì thế, họ chậm tiếp nhận các kiến thức mới và thường bảo thủ, chậm tiếp nhận được các kinh nghiệm từ các người khác sống ngoài cộng đồng của họ
- Sở thích của khách hàng đa dạng, phụ thuộc nhiều vào văn hóa thiểu số:
Do đặc điểm về tín ngưỡng văn hóa, các định kiến hoặc từ kinh nghiệp từ các lần mua sắm trước, người tiêu dùng ở thị trường đáy tháp thường đòi sự thay đổi lớn
Trang 38của sản phẩm để thích hợp với họ hơn là họ tự thay đổi các thói quen tiêu dùng của mình Chính điều này đã làm giảm sự hấp dẫn của thị trường BOP cho việc thương mại hóa các sản phẩm của các doanh nghiệp so với các thị trường khác
1.1.3.1.2 Đặc điểm nguồn cung trên thị trường đáy tháp
Chìa khóa để nhắm đến thành công trên thị trường BOP là “tạo ra năng lực tiêu thụ” - nói cách khác là phải đảm bảo những người tiêu dùng nghèo có khả năng và sẵn sàng mua hàng hoá và sản phẩm Prahalad (2010) xem các chiến lược marketing hỗn hợp là không thích hợp đối với các thị trường BOP Ông cho rằng chiến lược marketing hỗn hợp quá “phương tây” mà không tính đến sự độc đáo của thị trường BOP và sự đa dạng cao của nó Prahalad cho rằng cần có sự đổi mới với những thay đổi sáng tạo trong các chiến lược tiếp thị, tức là thay vì áp dụng mô hình marketing 4P truyền thống, các doanh nghiệp cần áp dụng mô hình marketing 4A2 khi tiếp cận thị trường đáy tháp
Giá – Khả năng thanh toán
Các công ty phải thay đổi chiến lược xây dựng giá truyền thống để thành công tại thị trường BOP Họ cần đảm bảo rằng sản phẩm và dịch vụ của họ có giá
cả phải chăng đối với phân khúc mục tiêu Lý do là các công ty thường xác định giá bán dựa trên giá thành sản xuất mà không tính đến lợi nhuận cao dự kiến Phương pháp này không tính đến khả năng thanh toán của người tiêu dùng BOP cho một sản phẩm nhất định Do đó, áp dụng chiến lược truyền thống không cung cấp được các sản phẩm giá cả phải chăng cho người tiêu dùng BOP Các sản phẩm trong trường hợp này thường vượt khả năng tài chính của người tiêu dùng BOP (Prahalad, 2010)
Có một phương pháp khác có thể làm giảm giá thành sản phẩm đó là giảm chất lượng, sản phẩm chỉ tập trung vào các tính năng đơn giản nhất để có thể có thể tiêu thụ được (Karnani, 2007) Garrette và Karnani (2010, trang 45) cho rằng
“có vẻ như người tiêu dùng BOP thích những sản phẩm chất lượng thấp và rẻ”
2 “4 chữ A” là viết tắt của Affordability (Khả năng thanh toán), Access (Tiếp cận), Availibility (Tính sẵn có), Awareness (Nhận thức)
Trang 39Lý do đằng sau đó là họ không thể chi trả cho các sản phẩm cùng chất lượng như những người giàu có Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy những người tiêu dùng BOP quan tâm đến chất lượng bên cạnh giá cả Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng BOP ở Braxin cho thấy, khi đối diện với các khả năng lựa chọn họ sẽ phấn đấu để thể hiện hành vi mua sắm mà có thể làm họ tách biệt họ khỏi địa vị
xã hội của mình (Barki và Parente, 2010)
Anderson (2006) trong nghiên cứu các thị trường Châu Á, cũng khẳng định một quan điểm rằng do người tiêu dùng BOP có thu nhập thấp, các sản phẩm có thể cần phải phù hợp với dòng tiền của những khách hàng mà thường có thu nhập theo ngày thay vì theo tuần hay theo tháng Chiến lược gói giá rẻ cho các nhu cầu hàng ngày (hạ giá bằng cách thay đổi kích thước sản phẩm), mặc dù điều này không giúp hạ giá thành mỗi lần sử dụng nhưng có thể đáp ứng nhu cầu phân khúc BOP về giá mua thấp Đây cũng là trường hợp của Unilever và Procter & Gamble cho ví dụ các gói nhỏ dầu gội đầu và kem chăm sóc da (Prahalad, 2010)
Như vậy, chiến lược giá theo suy nghĩ truyền thống nên được thay đổi và thay vào đó các công ty nên tập trung vào khả năng chi trả Thông điệp cốt lõi của khả năng thanh toán không phải là tìm kiếm một giá cố định đặc biệt nào mà là khả năng cung cấp loại sản phẩm cho phân khúc có thể chi trả Đây là một giải pháp tài chính, giúp thích ứng với nguồn thu nhập không đều đặn Giá thấp là quan trọng nhưng nó không đủ để đáp ứng các nhu cầu ngân sách hạn hẹp của BOP bởi vì khả năng chi trả quá xa giá thành sản phẩm
Quảng bá – Nhận thức
Trong thị trường BOP, thách thức đối với việc quảng bá liên quan đến sự khó khăn trong việc tiếp cận những người tiêu dùng do mức độ mù chữ cao và sự tiếp cận của họ đối với đài phát thanh, TV và Internet còn khá hạn chế (Chikweche
và Fletcher, 2012) Vì không tiếp cận được các kênh truyền thông đó nên các doanh nghiệp phải tìm kiếm những kênh truyền thông khác để có thể nâng cao và xây dựng nhận thức về sản phẩm cho người tiêu dùng đáy tháp Anderson (2006) cho rằng tham gia vào mạng lưới cộng đồng chính thức và không chính thức là một cách tiếp cận sáng tạo đã được sử dụng thành công bởi nhiều nhà cung cấp
Trang 40điện thoại di dộng Sự hợp tác với các doanh nghiệp siêu nhỏ ở địa phương và thu hút sự tham gia của liên đại diện cộng đồng giúp thúc đẩy các sản phẩm của doanh nghiệp và tác động tích cực lên doanh số bán hàng
Các nhà nghiên cứu thị trường BOP nhấn mạnh rằng các phương pháp truyền thông sáng tạo và có chi phí hiệu quả là cần thiết trong việc giao tiếp với người tiêu dùng tiềm năng Việc sử dụng các mạng lưới xã hội như hội phụ nữ (Chikweche và Fletcher, 2012) cho việc tiếp thị trực tiếp ví dụ như giới thiệu sản phẩm của một công ty không chỉ xây dựng nhận thức của người tiêu dùng tiềm năng mà còn giúp doanh nghiệp nhận được thông tin phản hồi từ khách hàng
Vì vậy điều quan trọng ở đây là người tiêu dùng cần phải nhận thức về sản phẩm và dịch vụ mới đang được mời chào cung cấp cho họ Các doanh nghiệp nên tìm những phương thức mới để giao tiếp với người tiêu dùng tại thị trường đáy tháp bởi vì các kênh truyền thống như TV và đài phát thanh không áp dụng được trong thị trường này do các vấn đề về phạm vi bao phủ, cơ sở hạ tầng cũng như bị hạn chế bởi cách truyền thông một chiều Trong khi đó, các kênh phi truyền thống, ví dụ như hội phụ nữ và các mạng lưới xã hội giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhận thức tại thị trường này thay vì quảng bá
Sản phẩm – khả năng tiếp cận
Các sản phẩm bán cho BOP cần xem xét mức độ thiết yếu và những giá trị gia tăng của sản phẩm mang lại cho khách hàng Mức độ thiết yếu ở đây được xem xét ở góc độ đặc tính chủ yếu của sản phẩm Doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào đặc tính cốt lõi và không nên tích hợp thêm những giá trị gia tăng khác có thể làm tăng giá thành và do đó làm giảm khả năng tiếp cận của khách hàng BOP Doanh nghiệp cần tỉm hiểu hết các rào cản của phân khúc này để tăng cường khả năng tiếp cận sản phẩm Theo Prahalad (2010) các doanh nghiệp cần phát triển những sản phẩm có thể vượt qua được những rào cản thị trường đáy tháp như việc thiếu điện nước…, thay vì chú trọng tới chất lượng sản phẩm Ví dụ điển hình là việc sản xuất ra loại bơ không cần bảo quản lạnh đã giải quyết được vấn đề thiếu điện ở thị trường BOP